ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

Lê Tuấn Linh


NGHIÊN CỨU KHUẾCH ĐẠI RAMAN
CƯỠNG BỨC ỨNG DỤNG TRONG
KHUẾCH ĐẠI QUANG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY

Ngành: Vật lý kỹ thuật
HÀ NỘI - 2011

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ

Lê Tuấn Linh
NGHIÊN CỨU KHUẾCH ĐẠI RAMAN
CƯỠNG BỨC ỨNG DỤNG TRONG
KHUẾCH ĐẠI QUANG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC HỆ CHÍNH QUY

Ngành: Vật lý kỹ thuật
Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS. Phạm Văn Hội
Cán bộ đồng hướng dẫn: TS.Bùi Huy

HÀ NỘI - 2011
Lời cảm ơn
Khoá luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu trong nhiều tháng nỗ lực của bản
thân em dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của rất nhiều người
Qua bản khoá luận này cho phép em bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc nhất
đến PGS.TS Phạm Văn Hội và TS. Bùi Huy đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn
thành khoá luận tốt nghiệp.
Em cũng rất biết ơn các cán bộ và anh chị hiện đang công tác tại phòng Vật liệu
và Ứng dụng Quang sợi, viện Khoa học vật liệu: anh Thế Anh, anh Thanh Hải …đã
quan tâm, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất cũng như thiết bị cho việc
nghiên cứu và hoàn thành khoá luận này.
Em cũng xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô cùng các cán bộ công tác
tại khoa Vật lý kỹ thuật và công nghệ nano đã đào tạo cho em không chỉ về kiến thức
chuyên môn mà cả về kỹ năng sống, học tập và làm việc.
Khoá luận này cũng là một lời cảm ơn sâu sắc tới những người thân của em-
những người luôn ở bên cạnh quan tâm em giúp đỡ em hoàn thành khoá luận.
Hà Nội 20/05/11
Sinh viên
Lê Tuấn Linh



Tóm tắt nội dung
Tán xạ Raman là quá trình tán xạ không đàn hồi, xảy ra do sự tương tác của ánh
sáng với môi trường vật chất trong sợi quang.
Tán xạ Raman bao gồm tán xạ Raman tự phát và tán xạ Raman kích thích SRS.
Một mặt tán xạ Raman gây ảnh hưởng xấu đến quá trình truyền tín hiệu trong sợi
quang, làm tăng nhiễu trong hệ thống thông tin quang nhưng mặt khác tán xạ Raman
cũng có những ảnh hưởng tích cực, nổi bật nhất là khả năng khuếch đại tín hiệu quang.
Bởi vậy, ngay từ khi mới được phát hiện, tán xạ Raman đã thu hút được rất nhiều sự
quan tâm, nghiên cứu. Tán xạ Raman kích thích(SRS) chính là cơ sở để phát triển các
bộ khuếch đại quang Raman. Các bộ khuếch đại quang Raman có rất nhiều ưu điểm so
với những loại khuếch đại quang đã được sử dụng trước đó và rất phù hợp với các hệ
thống WDM đang được triển khai hiện nay. Các bộ khuếch đại quang Raman được coi
là lời giải cho bài toán khuếch đại quang trong các hệ thống truyền dẫn quang dung
lượng lớn, cự ly dài và rất dài. Nhận thức được tầm quan trọng cũng như ý nghĩa to
lớn của bộ khuếch đại quang Raman, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Phạm Văn Hội
và TS. Bùi Huy, em đã tập trung nghiên đề tài “tán xạ Raman và ứng dụng trong
khuếch đại thông tin quang”. Những kết quả trong khoá luận là những kết quả bước
đầu để tiến tới những nghiên cứu sâu hơn nhằm đưa đến những ứng dụng trong thực
tế.

5
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan nội dung trong bản đồ án tốt nghiệp này là kết quả trong công trình
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Hội và TS. Bùi
Huy. Tất cả các số liệu được công bố là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công
bố tại các tài liệu, ấn phẩm nào khác. Các số liệu tham khảo khác đều có chỉ dẫn rõ
ràng về nguồn gốc xuất xứ và được nêu trong phần phụ lục cuối khoá luận.
Hà Nội ngày 20 tháng 5 năm 2011
Lê Tuấn Linh

Mục lục
Lê Tuấn Linh...............................................................................................................................1
HÀ NỘI - 2011...............................................................1
Lê Tuấn Linh...............................................................................................................................2
HÀ NỘI - 2011........................................................................................................................2
HÀ NỘI - 2010........................................................................................................................2
Lời cảm ơn..................................................................................................................................3
Tóm tắt nội dung ........................................................................................................................4
Mục lục........................................................................................................................................7
1.1 Vài nét về hệ thống thông tin quang................................................................................8
1.1.1 Lịch sử phát triển của hệ thống thông tin quang............................................................8
1.1.2 Các thành phần cơ bản của hệ thống thông tin quang....................................................9
1.1.3 Ưu điểm của hệ thống thông tin quang........................................................................10
1.2 Tổng quan về khuyếch đại quang....................................................................................11
1.2.2 Ứng dụng của khuyếch đại quang................................................................................14
1.3 Phân loại khuếch đại quang............................................................................................19
1.3.1 Khuyếch đại quang bán dẫn.........................................................................................19
1.3.2Khuếch đại quang sợi OFA (EDFA).............................................................................20
2.1 Hiệu ứng tán xạ Raman...................................................................................................22
2.2 Hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức (SRS)......................................................................25
2.3 Khuếch đại quang Raman .............................................................................................27
2.3.1 Khuếch đại quang Raman............................................................................................27
2.3.2 Độ lợi băng thông gr của phổ Raman trong sợi thủy tinh Silica tinh khiết và trong sợi
nhạy quang , sợi bù tán sắc DCF...........................................................................................29
...................................................................................................................................36
Chương 3 Kết quả và thảo luận.........................................................................36
3.1 Các thiết bị và linh kiện sử dụng trong thực nghiệm......................................................36
3.2 Sơ đồ thiết lập cho thực nghiệm .....................................................................................39
3.3 Các kết quả thực nghiệm và thảo luận............................................................................40
...................................................................................................................................................43
...............................................................................................................................44
Hình 3.10. Hệ số khuếch đại khi có tán xạ Raman cưỡng bức theo..........................44
chiều dài sợi quang....................................................................................................................44
Nhìn vào đồ thị ta có thể rút ra nhận xét :nguồn tín hiệu rõ ràng là được khuếch đại và hệ số
khuếch đại này có giá trị tăng dần đến 26 km nó đạt giá trị lớn nhất nhưng hệ số khuếch đại G
nhỏ, không đạt được giá trị lớn như mong đợi. Điều này có thể giải thích như sau:................44
Khi công suất quang của Laser bơm không đổi, các photon của laser bơm chỉ có thể truyền
cho một số lượng phân tử nhất định để chúng dao động và tạo ra hiệu ứng Raman cưỡng bức.
Khi tăng chiều dài sợi quang, đồng thời giữ nguyên giá trị công suất bơm, tức là chúng ta đã
tăng số lượng các phân tử trong môi trường tán xạ trong khi không tăng năng lượng kích
thích, do vậy mà cường độ của tán xạ Raman cưỡng bức giảm xuống dẫn đến hệ số khuếch
đại giảm. Mặt khác do hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức yêu cầu nguồn bơm công suất cao
thì mới đạt được giá trị tối ưu trong khi nguồn laser bơm tối đa chỉ đạt 200mW vẫn là nhỏ để
có thể đạt giá trị G cao hơn. Một điểm quan trọng khác là tán xạ Raman cưỡng bức sẽ xảy ra
mạnh nhất với ∆λ=80-100nm, do vậy khảo sát với laser đơn mốt sẽ có hiện tượng chênh bước
sóng giữa bước sóng được khuếch đại với bước sóng cần được khuếch đại. Điều này có thể
giảm thiểu bằng cách khảo sát với nguồn tín hiệu là laser đa mốt ở phần dưới đây.................44

Tài liệu tham khảo.....................................................................................................................49
..................................................................................................................................................50
Chương 1. Tổng quan về khuếch đại quang
1.1 Vài nét về hệ thống thông tin quang
1.1.1 Lịch sử phát triển của hệ thống thông tin quang
Thông tin quang có tổ chức hệ thống cũng như các hệ thống thông tin khác, thành
phần cơ bản nhất của hệ thống thông tin quang luôn tuân thủ theo một hệ thống thông
tin chung. Đây là nguyên lý mà loài người đã sử dụng ngay từ thời kỳ khai sinh ra các
hình thức thông tin.
Tín hiệu cần truyền được phát vào môi trường truyền dẫn tương ứng và đầu thu
sẽ thu lại tín hiệu cần truyền. Đối với hệ thống thông tin quang thì môi trường truyền
dẫn ở đây chính là sợi quang. Sợi quang thực hiện truyền ánh sáng mang tín hiệu thông
tin từ phía phát tới phía thu.
Vào năm 1960, việc phát minh ra laser làm nguồn phát quang đã mở ra một thời
kỳ mới có ý nghĩa to lớn trong lịch sử của kỹ thuật thông tin sử dụng dải tần ánh sáng.
Thông tin bằng tia laser xuyên qua không trung xuất hiện nhưng chịu ảnh hưởng của
thời tiết, máy phát và phải nhìn thấy nhau, tia laser nguy hiểm cho mắt người…nên
việc sử dụng bị hạn chế.
Laser bán dẫn xuất hiện vào năm 1962 cùng với sợi quang giá thành hạ lần đầu
tiên được chế tạo vào năm 1970 làm cho thông tin quang trở thành hiện thực. Ánh
sáng được ghép từ laser bán dẫn vào sợi quang và truyền trong sợi quang theo nguyên
lý phản xạ nội toàn phần nên khắc phục được các nhược điểm của thông tin bằng tia
laser. Trong những năm 1970 laser bán dẫn GaAs/GaAlAs phát ở vùng hồng ngoại gần
0.8μm đã được chế tạo và sử dụng cho thông tin quang sợi. Năm 1980 các hệ thống
thông tin quang sợi thế hệ đầu tiên được đưa vào hoạt động (tốc độ 45Mb/s và khoảng
cách lặp 10km).
Đầu những năm 80, hệ thống thông tin quang thế hệ thứ hai sử dụng laser
1310nm bắt đầu được sử dụng. Thời gian đầu, tốc độ bít chỉ đạt 100Mb/s do tán sắc
sợi đa mode. Khi sợi đơn mode được đưa vào sử dụng, tốc độ bít đã được tăng lên rất
cao. Năm 1987, hệ thống thông tin quang 1310nm có tốc độ bít 1.7Gb/s với khoảng
cách lặp 50km đã có mặt trên thị trường.
Thế hệ thứ ba của các hệ thống thông tin quang sợi hoạt động ở vùng sóng
1.55μm với tốc độ bít 2.5Gb/s và khoảng cách lặp 60 ÷ 70km. Khi sử dụng các loại sợi
quang bù tán sắc và làm phẳng tán sắc, khoảng cách lặp sẽ tăng lên.
Thế hệ thứ tư của thông tin cáp quang là sử dụng khuyếch đại quang để tăng
khoảng cách lặp và ghép nhiều bước sóng trong một sợi quang để tăng tốc độ bít trong
sợi quang. Khuyếch đại quang sợi pha tạp Erbium (EDFA) có khả năng bù công suất
cho suy hao quang trong các khoảng cách lớn hơn 100km. Năm 1991 lần đầu tiên hệ
thống thông tin quang có EDFA được thử nghiệm truyền tín hiệu số tốc độ 2.5Gb/s
trên khoảng cách 21000km và 5Gb/s trên khoảng cách 14300km. Năm 1996 hệ thống
thông tin quang quốc tế dưới biển đã được lặp đặt, năm 1997 đường cáp quang vòng
8
quanh thê giới dưới biển dài 27300km đã được đưa vào hoạt động kết nối nhiều nước
ở châu Âu, châu Á với tốc độ 5Gb/s và ở vài nơi tới 10Gb/s.
Sử dụng công nghệ ghép nhiều bước sóng trên một sợi quang (WDM) làm tăng
dung lượng thông tin quang một cách đáng kể. Trong năm 1996 đã thử nghiệm tuyến
truyền dẫn 20 bước sóng quang với tốc độ bít của từng bước sóng là 5Gb/s trên
khoảng cách 9100km, tốc độ bít của tuyến đã đạt 100Gb/s. Năm 2000 hệ thống TPC-6
xuyên Đại Tây Dương có tốc độ bít 100Gb/s đã được đưa vào hoạt động.
Thế hệ thứ năm của hệ thống thông tin quang dựa trên cơ sở giải quyết vấn đề tán
sắc trong sợi quang. Khuyếch đại quang đã giải quyết rất hoàn hảo sự suy hao trong
sợi nhưng không giải quyết được vấn đề tán sắc. Giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn
đề tán sắc là sử dụng hiệu ứng Soliton quang. Hiệu ứng Soliton quang là hiệu ứng phi
tuyến trong sợi quang. Chúng dựa trên cơ sở tương tác bù trừ tán sắc của các thành
phần quang trong một xung quang cực ngắn được truyền trong sợi quang không có
suy hao.
Năm 1994 hệ Soliton thử nghiệm truyền tín hiệu 10Gb/s trên khoảng cách
35000km và 15Gb/s trên khoảng cách 24000km. Năm 1996 hệ thống WDM có 7 bước
sóng truyền Soliton trên khoảng cách 9400km với tốc độ bít 70Gb/s.
Ngày nay, các mạng thông tin hoàn toàn quang đang được nghiên cứu mạnh mẽ
nhằm tăng hơn nữa tốc độ thông tin. Các hệ thống thông tin quang đã được ứng dụng
rộng rãi trên thế giới. Chúng đáp ứng được cả tín hiệu tương tự và số. Chúng cho phép
truyền dẫn tất cả các tín hiệu dịch vụ băng hẹp và băng rộng, đáp ứng mọi nhu cầu của
mạng số hoá liên kết đa dịch vụ (ISDN). Số lượng cáp quang hiện nay được lắp đặt
trên thế giới với số lượng lớn, đủ mọi tốc độ truyền dẫn với các cự ly khác nhau, các
cấu trúc mạng đa dạng. Nhiều nước lấy cáp quang làm môi trường truyền dẫn chính
cho mạng viễn thông. Các hệ thống thông tin quang sẽ là mũi đột phá về tốc độ, cự ly
truyền dẫn và cấu trúc linh hoạt cho dịch vụ viễn thông cấp cao.
1.1.2 Các thành phần cơ bản của hệ thống thông tin quang
Hệ thống thông tin quang sợi cũng giống như hệ thống thông tin quang khác bao
gồm bốn thành phần cơ bản là máy phát quang, máy thu quang, môi trường truyền và
tín hiệu thông tin (tín hiệu lối vào, tín hiệu lối ra như trên hình 1.1).
Hình 1.1. Các thành phần cơ bản của một hệ thống thông tin quang
Vai trò của bộ phát quang là biến đổi tín hiệu điện thành tín hiệu quang và đưa
tín hiệu quang vào sợi quang. Linh kiện chính của bộ phát quang là nguồn phát quang:
hệ thống thông tin quang sợi thường sử dụng các bộ nguồn phát quang bán dẫn là diốt
phát quang (LED) và laser bán dẫn. Môi trường truyền dẫn quang chia làm hai loại:
truyền trong sợi quang và truyền trong không gian. Để tăng khoảng cách truyền bị giới
hạn bởi sự suy hao trong sợi quang người ta có thể sử dụng các bộ lặp hoặc các bộ
9
Máy phát
quang
Môi trường
truyền
Máy thu
quang
Tín hiệu
lối vào
Tín hiệu
lối ra
khuyếch đại quang sợi. Bộ lặp có nhiệm vụ thu tín hiệu quang, biến đổi quang - điện
(O/E), sửa lại xung điện, khuyếch đại tín hiệu và biến đổi điện - quang (E/O) trở lại.
Những hệ thống thông tin quang hiện đại chủ yếu sử dụng các bộ khuyếch đại quang
sợi pha Erbium (EDFA),bộ khuếch đại Raman.. các bộ khuyếch đại Raman khuyếch
đại trực tiếp tín hiệu quang và có nhiều ưu việt so với các bộ lặp. Tín hiệu quang ở đầu
phía bên kia của hệ thống được thu bởi máy thu quang. Vai trò của bộ thu quang là
chuyển đổi tín hiệu quang thành tín hiệu điện và phục hồi các số liệu đã truyền qua hệ
thông thông tin quang. Linh kiện chủ yếu trong bộ thu quang là các photodiode có cấu
trúc và vật liệu chế tạo thích hợp cho băng tần và bước sóng cần thu.
1.1.3 Ưu điểm của hệ thống thông tin quang
• Dung lượng lớn: Các sợi quang có khả năng truyền những lượng lớn thông
tin. Với công nghệ hiện nay trên hai sợi quang có thể truyền được đồng thời 60.000
cuộc đàm thoại. Một cáp sợi quang (có đường kính ngoài 2 cm) có thể chứa được
khoảng 200 sợi quang, sẽ tăng được dung lượng đường truyền lên 6.000.000 cuộc đàm
thoại. So với các phương tiện truyền dẫn bằng dây thông thường, một cáp lớn gồm
nhiều đôi dây có thể truyền được 500 cuộc đàm thoại. Một cáp đồng trục có khả năng
với 10.000 cuộc đàm thoại và một tuyến viba hay vệ tinh có thể mang được 2000 cuộc
gọi đồng thời.
• Kích thước và trọng lượng nhỏ: So với một cáp đông có cùng dung lượng,
cáp sợi quang có đường kính nhỏ hơn và khối lượng nhẹ hơn nhiều. Do đó dễ lắp đặt
hơn, đặc biệt ở những vị trí có sẵn dành cho cáp.
• Không bị nhiễu điện: Truyền dẫn bằng sợi quang không bị ảnh hưởng bởi
nhiễu điện từ (EMI) hay nhiễu tần số vô tuyến (RFI) và nó không tạo ra bất kỳ sự
nhiễu nội tại nào. Sợi quang có thể cung cấp một đường truyền “sạch” ở những môi
trường khắc nghiệt nhất. Các công ty điện lực sử dụng cáp quang, dọc theo các đường
dây điện cao thế để cung cấp đường thông tin rõ ràng giữa các trạm biến áp. Cáp sợi
quang cũng không bị xuyên âm. Thậm chí dù ánh sáng bị bức xạ ra từ một sợi quang
thì nó không thể thâm nhập vào sợi quang khác được.
• Tính cách điện: Sợi quang là một vật cách điện. Sợi thủy tinh này loại bỏ
nhu cầu về các dòng điện cho đường thông tin. Cáp sợi quang làm bằng chất điện môi
thích hợp không chứa vật dẫn điện và có thể cho phép cách điện hoàn toàn cho nhiều
ứng dụng. Nó có thể loại bỏ được nhiễu gây bởi các dòng điện chạy vòng dưới đất hay
những trường hợp nguy hiểm gây bởi sự phóng điện trên các đường dây thông tin như
sét hay những trục trặc về điện. Đây thực sự là một phương tiện an toàn thường được
dùng ở nơi cần cách điện.
• Tính bảo mật: Sợi quang cung cấp độ bảo mật thông tin cao. Một sợi quang
không thể bị trích để lấy trộm thông tin bằng các phương tiện điện thông thường như
sự dẫn điện trên bề mặt hay cảm ứng điện từ, và rất khó trích để lấy thông tin ở dạng
tín hiệu quang. Các tia sáng truyền lan ở tâm sợi quang và rất ít hoặc không có tia nào
thoát khỏi sợi quang đó. Thậm chí nếu đã trích vào sợi quang được rồi thì nó có thể bị
phát hiện nhờ kiểm tra công suất ánh sáng thu được tại đầu cuối. Trong khi các tín hiệu
thông tin vệ tinh và viba có thể dễ dàng thu để giải mã được.
10
• Độ tin cậy cao và dễ bảo dưỡng: Sợi quang là một phương tiện truyền dẫn
đồng nhất và không gây ra hiện tượng pha-đinh. Những tuyến cáp quang được thiết kế
thích hợp có thể chịu đựng được những điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm khắc nghiệt và
thậm chí có thể hoạt động ở dưới nước. Sợi quang có thời gian hoạt động lâu, khoảng
20 – 30 năm. Yêu cầu về bảo dưỡng đối với một hệ thống cáp quang là ít hơn so với
yêu cầu của một hệ thống thông thường do cần ít bộ lặp điện hơn trong một tuyến
thông tin.
• Tính linh hoạt: Các hệ thống thông tin quang đều khả dụng cho hầu hết các
dạng thông tin số liệu, thoại và video. Các hệ thống này đều có thể tương thích với các
chuẩn RS.232, RS422, V.35, Ethernet, FDDI, T1, T2, T3, Sonet, thoại 2/4 dây, tín hiệu
E/M, video tổng hợp và còn nhiều nữa.
• Tính mở rộng: Các hệ thống sợi quang được thiết kế thích hợp có thể dễ
dàng được mở rộng khi cần thiết. Một hệ thống dùng cho tốc độ số liệu thấp, ví dụ T1
(I 544 Mb/s) có thể được nâng cấp trở thành một hệ thống tốc độ số liệu cao hơn, OC-
12 (622 Mb/s), bằng cách thay đổi các thiết bị điện tử. Hệ thống cáp sợi quang có thế
vẫn được giữ nguyên như cũ.
• Sự tái tạo tín hiệu: Công nghệ ngày nay cho phép thực hiện những đường
truyền thông bằng cáp quang dài trên 70 km trước khi cần tái tạo tín hiệu, khoảng cách
này còn có thể tăng lên tới 150 km nhờ sử dụng các bộ khuếch đại laze. Trong tương
lai, công nghệ có thể mở rộng khoảng cách này lên tới 200 km và có thể 1000 km. Chi
phí tiết kiệm được do sử dụng ít các bộ lắp trung gian và việc bảo dưỡng chúng có thể
là khá lớn. Ngược lại, các hệ thống cáp điện thông thường cứ vài km có thể đã cần có
một bộ lặp.
Suy hao thấp: sự phát triển của sợi quang qua nhiều năm đã đạt đươck kết quả
trong việc chế tạo sợi quang có độ suy hao rất thấp. Sợi quang được chế tạo với độ suy
hao 0.2dB/km và đặc tính này trở thành lợi thế chính của thông tin quang. Điều này
thuận lợi cho việc đặt bộ khuyếch đại cho mỗi khoảng cách trên đường truyền mà
không cần chuyển sang tín hiệu điện ở bước trung gian, do đó giảm được giá thành và
cả độ phức tạp của hệ thống.
1.2 Tổng quan về khuyếch đại quang
Đối với tín hiệu quang, khi khoảng cách truyền dẫn lớn, sự suy giảm tín hiệu là
không thể tránh khỏi. Suy hao của sợi quang là nguyên nhân giới hạn cự ly truyền của
các hệ thống thông tin quang. Giới hạn về suy hao được khắc phục bằng cách sử dụng
các trạm lặp quang điện (optoelectronic repeater). Trong các trạm lặp quang điện này,
quá trình khuyếch đại tín hiệu quang được thực hiện qua nhiều bước. Đầu tiên tín hiệu
quang sẽ được biến đổi thành dòng điện bởi các bộ thu quang (optical receiver) sử
dụng linh kiện tách sóng quang như PIN hay PAD. Dòng quang điện thu được sẽ được
tái tạo lại dạng xung, định thời và khuyếch đại bởi các mạch phục hồi tín hiệu và mạch
khuyếch đại. Sau đó, tín hiệu điện sẽ được biến đổi thành tín hiệu quang thông qua các
nguồn quang trong bộ phát quang (optical transmitter) và được truyền đi trong sợi
quang. Như vậy, quá trình khuyếch đại tín hiệu được thực hiện trên miền điện.
11
Hình 1.2. Bộ lặp quang điện
Các trạm lặp quang điện đã được sử dụng phổ biến trong các hệ thống truyền
dẫn quang một bước sóng như hệ thống truyền dẫn quang SDH. Tuy nhiên, khi sử
dụng cho các hệ thống truyền dẫn đa bước song như hệ thống WDM, rất nhiều trạm
lặp quang điện cần được sử dụng để khuyếch đại và tái tạo các kênh quang có bước
sóng khác nhau. Điều này làm tăng độ phức tạp cũng như tăng giá thành của hệ thống
truyền dẫn quang WDM.
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, người ta thực hiện được quá
trình khuyếch đại trực tiếp tín hiệu quang mà không cần phải thông qua quá trình biến
đổi về tín hiệu điện, đó gọi là kỹ thuật khuyếch đại quang (Optical Amplifier). Kỹ
thuật khuyếch đại quang ra đời đã khắc phục được nhiều hạn chế của trạm lặp. So với
các trạm lặp, các bộ khuyếch đại quang có các ưu điểm sau:
- Khuyếch đại trực tiếp tín hiệu quang, không có mạch tái tạo thời gian hay
mạch phục hồi (các bộ biến đổi E/O hoặc O/E). Do đó khuyếch đại quang sẽ trở nên
linh hoạt hơn.
- Không phụ thuộc vào tốc độ bít và phương pháp điều chế tín hiệu nên nâng
cấp hệ thống đơn giản hơn.
- Khuyếch đại nhiều tín hiệu có bước sóng khác nhau cùng truyền trên một
sợi quang.
Việc nghiên cứu khuyếch đại quang ngày càng phát triển và được ứng dụng
rộng rãi. Có nhiều xu hướng nghiên cứu về bộ khuyếch đại quang, và trong thời gian
qua các nghiên cứu thành công chủ yếu tập trung vào hai loại chính:
- Khuyếch đại quang bán dẫn SOA (Optical Semiconductor Amplifier)
- Khuyếch đại quang sợi pha tạp Erbium (Erbium Doped Fiber Amplifier)
Tuy nhiên, do yêu cầu nâng cấp mạng thông tin quang DWDM lên hàng trăm
kênh, việc nghiên cứu phát triển các loại khuếch đại quang khác đã được đẩy mạnh,
trong đó khuếch đại quang trên cơ sở hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức (ROA) được
đặc biệt quan tâm trên thế giới.
1.2.1 Nguyên lý bộ khuếch đại quang
Nguyên lý khuếch đại quang dựa trên nguyên lý phát xạ kích thích và không có
cộng hưởng trong khuếch đại.
12
Hiện tượng phát xạ kích thích là một trong ba hiện tượng biến đổi quang điện
được ứng dụng trong thông tin quang.Các hiện tượng này được minh hoạ trong hình:

Hình 1.3. Các hiện tượng biến đổi quang điện
Hiện tượng hấp thụ xảy ra khi có ánh sáng tới có năng lượng E
v
=hf
12
tác động
vào vật liệu có độ rộng vùng cấm E
g
=E
2
-E
1
bằng nhauE
v
=E
g
). Khi đó, điện tử sẽ nhận
năng lượng và được nhẩy lên mức năng lượng cao hơn. Đây chính là nguyên nhân
chính gây ra hiện tượng suy hao cho tín hiệu quang.
Hiện tượng phát xạ tự phát xảy ra khi một điện tử ở mức năng lượng cao
chuyển xuống mức năng lượng thấp, đồng thời phát ra một photon có mức năng lượng
E
v
bằng độ lớn dải cấm E
g
. Mỗi một vật liệu sẽ có một thời gian sống khác nhau, khi
hết thời gian sống nó sẽ thực hiện bức xạ tự phát. Đây chính là nguyên nhân gây ra
nhiễu của bộ khuếch đại.
Hiện tượng phát xạ kích thích xảy ra khi có một ánh sáng có năng lượng photon
E
v
chính bằng năng lượng dải cấm E
g
. Khi đó, một điện tử ở mức năng lượng cao sẽ bị
chuyển xuống mức năng lượng thấp hơn và phát ra photon có cùng pha với ánh sáng
kích thích. Đây chính là nguyên lý khuếch đại của bộ khuếch đại quang.
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng, hiện tượng bức xạ tự phát có thể xảy ra bất ký
lúc nào, và sẽ gây ra nhiễu cho bộ khuếch đại, được gọi là nhiễu tự phát(ASE). Hiện
tượng hấp thụ thì sẽ gây ra suy yếu bộ khuếch đại. Như vậy, nếu mật độ năng lượng
trong vật liệu khuếch đại là thấp sẽ gây ra hiện tượng hấp thụ lớn. Điều đó dẫn đến,
nếu muốn khuếch đại lớn chúng ta phải thực hiện đảo mật độ hạt.
13
1.2.2 Ứng dụng của khuyếch đại quang

Hình 1.4. Các ứng dụng khuếch đại
a) Khuếch đại công suất(Booster Amplifier)
b) Khuếch đại trên tuyến (in-line amplifỉer)
c) Bộ tiền khuếch đại(Preamplifier)
Khuếch đại quang được ứng dụng trong các hệ thống truyền dẫn quang như các
bộ khuếch đại nhằm làm tăng công suất của tín hiệu quang trên đường truyền, khắc
phục suy hao do sợi quang và các mối hàn, nối xảy ra trên đường truyền. Tuỳ theo vị
trí lắp đặt, các bộ khuếch đại trên tuyến truyền dẫn quang được chia làm ba loại:
Khuếch đại công suất (Booster Amplifier): là bộ khuếch đại quang được đặt
ngay sau thiết bị phát nhằm mục đích làm tăng công suất quang đến mức cao nhất để
làm cho khoảng cách truyền cực đại. Yêu cầu của các bộ khuếch đại công suất là tạo ra
công suất đầu ra cực đại chứ không phải độ lợi cực đại vì công suất tín hiệu ngõ
vào lớn.
Khuếch đại trên tuyến (In-line Amplifier): là bộ khuếch đại quang được đặt
ngay trên tuyến quang nhằm mục đích bù mất mát công suất gây ra bởi suy hao sợi,
suy hao do kết nối và suy hao do việc phân phối tín hiệu quang trong mạng. Các bộ
khuếch đại đường dây có thể được lắp đặt nối tiếp nhau trên đường truyền để làm gia
tăng khoảng cách lắp đặt. Tuy nhiên, việc lắp đặt nối tiếp các bộ khuếch đại quang sẽ
làm giảm hệ số SNR ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống truyền dẫn quang.
Tiền khuếch đại (Preamplifier): là các bộ khuếch đại quang được đặt ngay trước
thiết bị thu quang nhằm khuếch đại tín hiệu ngay trước khi tin hiệu được đưa vào thiết
bị. Điều này làm giảm yêu cầu nghiêm ngặt của bộ nhạy thiết bị thu và cho phép hệ
thống truyền dẫn quang hoạt động với tốc độ bit cao hơn. Do vị trí lắp đặt, các bộ tiền
khuếch đại hoạt động với công suất tín hiệu vào yếu và mức nhiễu ở đầu thu cao. Do
14
vậy, yêu cầu của bộ tiền khuếch đại là độ nhạy lớn, hệ số G trung bình nhưng thông số
nhiễu phải rất thấp. Khuếch đại quang Raman có thông số nhiễu nhỏ, vì vậy chúng
luôn được sử dụng cho tiền khuếch quang.
Tuy nhiên khuyếch đại quang chỉ bù được công suất quang đã bị suy hao trong
tuyến truyền dẫn. Do khuyếch đại quang không cải thiện được các tạp âm, tán sắc và
các hiệu ứng quang phi tuyến, cho nên tuyến thông tin quang sử dụng khuyếch đại
quang vẫn bị hạn chế về khoảng cách do các hiệu ứng nêu trên tạo ra.
Sử dụng khuyếch đại quang trong hệ thống thông tin quang đa bước sóng
WDM có ý nghĩa công nghệ quan trọng vì khuyếch đại quang có thể khuyếch đại tất
cả các bước sóng tới trong băng tần khuyếch đại.
1.2.3 Các thông số chính của sợi quang
1.2.3.1 Hệ số độ lợi, hệ số khuếch đại
Hầu hết các bộ khuếch đại quang đều được thực hiện thông qua hiệu ứng bức xạ
kích thích. Khuếch đại đạt được khi bộ khuếch đại quang thực hiện bơm quang, hay
bơm điện để đảo lộn mật độ. Nhìn chung khuếch đại quang không chỉ phụ thuộc vào
bước sóng truyền mà còn phụ thuộc vào cường độ bơm,mật độ hạt có trong vật liệu.
Chúng ta coi vật liệu là đồng nhất, ta có được phương trình sau:
(1.1)
Trong đó g
0
là giá trị đỉnh của độ lợi, ω là tần số của tín hiệu quang tới, ω
0
là tần
số truyền trung tâm, P là công suất của tín hiệu được khuếch đại P
s
là công suất bão
hoà . Công suất bão hoà P
s
phụ thuộc vào các tham số của môi trường khuếch đại. Hệ
số T
2
trong phương trình 1.1 được gọi là thời gian hồi phục phân cực, thường nhỏ hơn
1 ps. Phương trình 1.1 có thể dùng mô tả các đặc tính quan trọng của bộ khuếch đại
như là băng tần độ lợi, hệ số khuếch đại và công suất đầu ra bão hoà.
Ở chế dộ chưa bão hoà, coi P/P
s
<<1, khi đó phương trình 1.1 trở thành:
(1.2)
Từ phương trình này có thể nhận thấy, hệ số độ lợi lớn nhất khi tần số khuếch đại
ω=ω
0
tần số trung tâm.
Nếu gọi P
in
, P
out
lần lượt là công suất đầu vào và đầu ra của bộ khuếch
đại.Vậy thì hệ số khuếch đại là :
G= (1.3)
Hệ số khuếch đại là một thông số quan trọng của bộ khuyếch đại. Nó đặc trưng
cho khả năng khuyếch đại công suất ánh sáng của bộ khuyếch đại. Tuy nhiên, hệ số
15
khuếch đại của một bộ khuyếch đại bị giới hạn bởi các cơ chế bão hoà khuếch đại.
Điều này làm giới hạn công suất quang ra cực đại của bộ khuyếch đại.
Mặt khác ta lại có công thức sau
(1.4)
Suy ra:
P(z) = P
in
exp(gz) (1.5)
Với P(z) là công suất tín hiệu tại vị trí z so với đầu vào.
Giả sử khoảng rộng của bộ khuếch đại là L, khi đó P
out
=P(L). Suy ra hệ số
khuếch đại của tín hiệu quang có độ dài L là:
G(ω)= = = (1.6)
Dễ dàng nhận thấy rằng, g(ω) đạt giá trị lớn nhất tại ω=ω
0
nên G(ω) cũng đạt giá
trị lớn nhất tại ω
0
. Và giá trị hai hệ số này cũng đều giảm khi (ω-ω
0
) tăng, Ta có biểu
đồ sau:

Hình 1.5. Mối tương quan hệ số khuếch đại và hệ số độ lợi
1.2.3.2Băng thông độ lợi
Băng thông độ lợi được định nghĩa là =2/T
2
hay là:
(1.7)
Như vậy, nếu với bộ khuếch đại quang bán dẫn có T
2
=60fs. Bộ
khuếch đại băng rộng thích hợp với các hệ thống viễn thông thông tin quang, vì độ lợi
của cả băng tần gần như là hằng số, thậm chí cả khi đó là tín hiệu đa kênh. Băng tần
khuếch đại được định nghĩa là một FWHM(full width at half maximum-độ rộng
xung tại nửa giá trị cực đại), và liên quan với theo công thức sau:
16
(1.8)
Với G
0
= exp(g
0
L).
Dễ dàng nhận thấy, băng tần khuếch đại nhỏ hơn băng tần độ lợi, và sự khác
biệt này còn tuỳ thuộc vào độ lợi khuếch đại.
1.2.3.3 Công suất ngõ ra bão hoà
Độ lợi bão hoà
Độ bão hoà của độ lợi phụ thuộc vào giá trị g(ω) trong phương trình 1.1. Dễ
dàng nhận thấy rằng, khi P tiến tới P
s
thì giá trị g giảm dần, đồng thời hệ số khuếch đại
G cũng giảm theo độ tăng của công suất tín hiệu. Chúng ta coi giá trị đỉnh xảy ra khi
ω=ω
0
. Theo 1.1 và 1.4, chúng ta có:
(1.9)
Xét phương trình với chiều dài bộ khuếch đại là L, và coi P
0
=P
in

P(L)=GP
in
=P
out
, từ đó ta có phương trình:
G=G
0
exp ( ) (1.10)
Dễ dàng nhận thấy, G bắt đầu giảm dần từ giá trị đỉnh G
0
khi giá trị P
out
đạt
gần tới giá trị công suất bão hoà P
s
mô tả trong hình 1.4.
Hình 1.6. Sự phụ thuộc của công suất ra (theo P
s
) theo G(theo G
0
)

Công suất ngõ ra bão hoà (Saturation Output Power)
17
Khi hoạt động ở chế độ tín hiệu nhỏ, công suất quang ở ngõ ta sẽ tăng tuyến
tính với công suất quang ở ngõ vào theo hệ số G: P
out
= G.P
in
. Tuy nhiên, công suất ngõ
ra không thể tăng mãi được. Bằng thực nghiệm, người ta thấy rằng trong tất cả các bộ
khuyếch đại quang, khi công suất ngõ vào P
in
tăng đến một mức nào đó, hệ số G bắt
đầu giảm. Kết quả là công suất ở ngõ ra không còn tăng tuyến tính với tín hiệu ngõ ra
nữa mà đạt trạng thái bão hoà.
Công suất ra bão hoà của một bộ khuyếch đại quang cho biết công suất
ngõ ra lớn nhất mà bộ khuyếch đại đó có thể hoạt động được. Thông thường, một bộ
khuyếch đại quang có khuếch đại cao sẽ có công suất ra bão hoà cao bởi vì sự nghịch
đảo nồng độ cao có thể được duy trì trong một dải công suất vào và ra rộng.
Từ công thức 1.10, chúng ta xem xét đến công suất ngõ ra bão hoà,là công suất
lớn nhất tạo được ở cổng ra, ký hiệu là . Có thể nhận thấy rằng, giá trị độ lợi này
đạt được khi độ lợi khuếch đại giảm từ 2 đến 3 dB, tương ứng với giá trị G=G
0
/2. Khi
đó, ta có công thức:
= (1.11)
1.2.3.4 Hệ số nhiễu
Cũng giống như các hệ thống thông tin quang khác, bộ khuếch đại này cũng có
nhiễu. Nguyên lý của bộ khuếch đại là dựa trên nguyên lý bức xạ kích thích. Nhưng
trong quá trình khuếch đại, có rất nhiều các điện tử hết thời gian sống, chuyển đổi từ
mức năng lượng cao xuống mức năng lượng thấp, hay từ dải dẫn sang dải hoá trị, đây
chính là bức xạ tự phát. Bức xạ này, khi có phương cùng luồng điện tử, sẽ gây ảnh
hưởng lên biên độ và pha của tín hiệu. Hiện tượng này được gọi là hiện tưọng nhiễu xạ
tự phát ASE. Do vậy, công suất cửa ra gồm có công suất vào khuếch đại và công suất
bức xạ tự phát:
P
out
=G.P
in
+P
ASE
(1.12)
Ảnh hưởng nhiễu đối với bộ khuếch đại quang được biểu diễn bởi hệ số nhiễu
NF, mô tả sự suy giảm tỷ số tín hiệu trên tạp tại đầu ra và đầu vào:

SNFout
SNRin
NF ·

Hay NF=SNR
in
(dB)-SNF
out
(dB) (1.13)
Người ta cũng chứng minh được rằng, giá trị hằng số nhiễu tính cụ thể theo
công thức sau:
NF=2n
sp
2n
sp
(1.14)
Hệ số nhiễu NF của bộ khuếch đại càng nhỏ càng tốt,và giá trị nhỏ nhất có thể
đạt được là 3dB. Tại giá trị này,chúng ta gọi là giá trị lượng tử.
18
1.3 Phân loại khuếch đại quang
Trong một bộ khuếch đại quang ,quá trình khuếch dại ánh sáng được thực hiện
trong vùng tích cực. Các tín hiệu quang được khuếch đại trong vùng tích cực với độ
lớn hay nhỏ thì phụ thuộc vào năng lượng được cung cấp từ nguồn bơm bên ngoài.
Tuỳ theo cấu tạo của vùng tích cực, có thể chia khuếch đại quang thành hai loại chính
là: Khuếch đại quang bán dẫn SOA và khuếch đại quang sợi OFA.
Trong khuếch đại quang bán dẫn SOA, vùng tích cực được cấu tạo bằng vật liệu
bán dẫn. Nguồn cung cấp năng lượng để khuếch đại tín hiệu là dòng điện.
Trong khuếch đại sợi quang OFA, vùng tích cực là sợi quang được pha đất
hiếm. Nguồn cung cấp năng lượng là laser có bước sóng phát quang nhỏ hơn bước
sóng của tín hiệu cần khuếch đại .
Một trong những loại OFA tiêu biểu là EDFA. EDFA có nhiều ưu điểm về đặc
tính ký thuật so với SOA. Ta sẽ chủ yếu tập trung nghiên cứu vào EDFA ở phần tới.
Ngoài ra, còn có một loại khuếch đại được sử dụng nhiều trong các hệ thống
WDM hiện nay là khuếch đại Raman. Khuếch đại Raman cũng sử dụng sợi quang làm
vùng tích cực để khuếch đại ánh sáng.
SOA và EDFA đều hoạt động dựa trên phát xạ kích thích còn khuếch đại
Raman dựa trên ảnh hưởng phi tuyến của sợi quang(hiện tượng tán xạ Raman kích
thích SRS) hơn là hiện tượng phát xạ kích thích.
1.3.1 Khuyếch đại quang bán dẫn.
Hình 1.7. Sơ đồ khối một SOA
Khuếch đại quang bán dẫn (Semiconductor Optical Amplifier - SOA) là hệ
khuếch đại tín hiệu quang với môi trường khuếch đại sử dụng vật liệu bán dẫn. Hệ
khuếch đại này có cấu trúc tương tự như những diode laser Fabry-Perot, nhưng được
trang bị thêm các lớp chống phản xạ ở hai gương của môi trường khuếch đại (hệ số
phản xạ nhỏ hơn 0.001%) để tránh cộng hưởng tạo nên hiệu ứng laser.
Hoạt động của SOA dựa vào nguyên lý khuếch đại sóng chạy (traveling-wave)
trong vùng điện tích không gian nằm giữa 2 vùng bán dẫn loại p và loại n. Khi có dòng
điện bơm cho SOA, các điện tử sẽ được bơm vào vùng dẫn (bán dẫn loại n) và lỗ trống
19
bơm vào vùng hóa trị (bán dẫn loại p). Photon đến có bước sóng thích hợp sẽ kích
thích điện tử và lỗ trống tái hợp trong miền điện tích không gian và sẽ phát xạ thêm
một photon nữa có cùng tần số và pha với photon đến, như vậy tín hiệu quang đã được
khuếch đại.
Các hệ khuếch đại quang bán dẫn được làm từ hợp chất bán dẫn như
GaAs/AlGaAs, InP/InGaAs, InP/InGaAsP, các vật liệu này có thể khuếch đại quang
trong vùng bước sóng từ 0.85 µm đến 1.6 µm. Bước sóng khuếch đại của SOA phụ
thuộc vào độ rộng vùng cấm và có thể thay đổi tùy theo loại vật liệu bán dẫn. Các loại
khuếch đại quang bán dẫn dùng trong thông tin quang sợi là loại có phổ khuếch đại
trong vùng bước sóng 1310 nm và 1550 nm.
Những ưu điểm của SOA:
- Băng tần khuếch đại khá rộng 40 nm – 80 nm.
- Kích thước nhỏ gọn và dễ bảo trì.
Nhược điểm của SOA:
- Đặc điểm của SOA là vùng không gian khuếch đại dẫn sóng có chiều dài khá
bé (cỡ mm) nên khó đạt được hệ số khuếch đại cao (G < 16 dB).
- Công suất tín hiệu quang lối ra thấp (P < 10 dBm).
- Hệ số tạp âm NF khá cao (NF ~ 7 - 10 dB ).
- Nhạy cảm với phân cực ánh sáng của tín hiệu quang, nên công suất quang lối
ra không ổn định.
- Các hiệu ứng phi tuyến như hiện tượng xuyên kênh, trộn 4 sóng xảy ra khá
mạnh.
Hình 1.8. Các ứng dụng cơ bản của SOA
Các ứng dụng cơ bản của SOA trong các hệ thống thông tin quang có thể phân
thành ba loại: khuếch đại công suất để tăng công suất phát của laser, khuếch đại đường
truyền để bù suy hao truyền dẫn của sợi quang và tiền khuếch đại để cải thiện độ nhậy
thu.
1.3.2 Khuếch đại quang sợi OFA (EDFA)
Nguyên lý khuếch đại quang của thủy tinh pha tạp Er
3+
, có thể tóm tắt như sau:
20
- Ion Er
3+
có sơ đồ các mức năng lượng như hình 1.9, quá trình khuếch đại quang
của thủy tinh pha tạp Er
3+
chủ yếu liên quan đến 3 mức năng lượng bên dưới của ion
Er
3+
, đó là các mức
4
I
15/2
,
4
I
13/2
,
4
I
11/2
.

Hình 1.9. Sơ đồ các mức năng lượng của ion Er
3+
tự do
- Đặc điểm rất quan trọng là mức năng lượng
4
I
13/2
có thời gian sống rất lớn (τ ~
10 ms) so với thời gian sống của các mức
4
I
11/2

4
I
9/2
(τ ~ μs). Khi kích thích thủy tinh
pha tạp erbium bằng laser có bước sóng 980 nm hoặc 810 nm, các ion Er
3+
sẽ chuyển
dời từ mức cơ bản
4
I
15/2
lên mức năng lượng
4
I
11/2
hoặc
4
I
9/2
, vì thời gian sống của ion
Er
3+
ở trạng thái mức năng lượng
4
I
11/2

4
I
9/2
rất bé nên các ion Er
3+
sẽ nhanh chóng
chuyển dời không phát xạ về mức kích thích
4
I
13/2
.
- Thời gian sống của ion Er
3+
ở mức
4
I
13/2
lớn hơn hàng ngàn lần so với các mức
bên trên, nên khi bơm với mật độ năng lượng đủ lớn chúng ta dễ dàng tạo được trạng
thái nghịch đảo mật độ phân bố giữa mức
4
I
13/2
và mức cơ bản
4
I
15/2
.
- Khi một photon có bước sóng trong vùng 1550 nm đi vào vùng dẫn sóng thủy
tinh pha tạp Er
3+
có nghịch đảo mật độ trạng thái giữa hai mức
4
I
13/2

4
I
15/2
, hiện tượng
phát xạ cưỡng bức sẽ xảy ra. Photon tới sẽ kích thích ion Er
3+
chuyển dời từ mức
4
I
13/2
về mức cơ bản
4
I
15/2
, chuyển dời này phát xạ thêm một photon nữa có cùng bước sóng
và pha với photon tới, đây chính là nguyên lý khuếch đại quang của thủy tinh pha tạp
Er
3+
.
Khuếch đại quang của thủy tinh pha tạp ion Er
3+
đã góp phần rất lớn trong phát
triển thông tin quang sợi vì vùng bước sóng khuếch đại phù hợp với cửa sổ thông tin
thứ 3 (1530 nm – 1610 nm) đang được sử dụng, hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu
cơ bản về tính chất quang của thủy tinh pha tạp Er
3+
nhằm chế tạo được các hệ khuếch
đại quang có chất lượng ngày càng hoàn thiện.
- Khuếch đại quang Raman (Raman Optical Amplifier:ROA): dựa trên cơ sở
tán xạ Raman cưỡng bức trong môi trường có tán xạ Raman mạnh. Môi trường tán xạ
21
Raman là sợi quang có pha tạp Ge với nồng độ cao và có cấu trúc dẫn sóng phức tạp
(sợi quang bù tán sắc –DCF). Khác với khuếch đại quang sợi pha tạp Erbium, yêu cầu
đối với ROA là nguồn bơm có công suất cao (vài trăm miliwatt trở lên) và sợi quang
có độ dài từ vài kilômét đến vài chục kilômét. Khuếch đại quang Raman sử dụng trong
hệ thống thông tin quang chủ yếu dựa vào sóng Stoke phát ra từ tán xạ Raman trên các
phân tử trong sợi quang. Do sóng Stoke từ tán xạ Raman yếu, vì vậy sợi quang cần
phải có độ dài lớn (hàng chục kilômét) để tích luỹ sóng Stoke dọc theo sợi quang. Đây
là điều khác biệt rất cơ bản giữa ROA và EDFA.
Kết luận chương I
Chương này đã giới thiệu tổng quan về khuếch đại quang.Nguyên lý hoạt động
của bộ khuếch đại quang.Một số thông số của bộ khuếch đại quang. Ứng dụng của bộ
khuếch đại quang.Các khảo sát về tán xạ Raman và khuếch đại quang Raman được
trình bày chi tiết trong chương 2 và một số kết quả thực nghiệm về hiệu ứng Raman
trong sợi quang có pha tạp Ge cao (sợi nhạy quang) kết hợp sợi quang tiêu chuẩn sẽ
trình bày trong chương 3 của khoá luận này.
Chương 2. Hiệu ứng tán xạ Raman và bộ khuếch đại
quang sợi Raman
2.1 Hiệu ứng tán xạ Raman
Hiện tượng tán xạ Raman được nhà khoa học Raman phát hiện ra vào năm 1928.
Khi hội tụ chùm sáng vào môi trường vật chất (chất lỏng) ông phát hiện ra rằng, trong
chùm sáng thứ cấp sau khi đi qua môi trường, ngoài thành phần có tần số bằng tần số
ánh sáng tới còn có hai thành phần ánh sáng có tần số lớn hơn và nhỏ hơn.
Hiệu tần số của các thành phần chính bằng tần số dịch chuyển giữa các mức năng
lượng dao động hoặc quay của phân tử môi trường. Như vậy khi chiếu một chùm ánh
22
sáng có tần số ν
0
vào một môi trường gồm các phân tử sẽ xảy ra hiện tượng sau: Tán xạ
Rayleigh tự phát, là ánh sáng thứ cấp, tần số bức xạ của nó bằng tần số ánh sáng chiếu
vào ν
0;
Hình 2.1. Hiện tượng tán xạ Raman
Tán xạ Raman tự phát: là kết quả tương tác của ánh sáng tới với những kiểu dao
động hoặc quay của phần tử môi trường. Tán xạ Raman bao gồm hai thành phần
Stokes và đối Stokes. Thành phần Stokes ứng với tần số nhỏ hơn tần số ánh sáng tới ν
S
= ν
0
– ν
R
, thành phần đối Stokes có tần số lớn hơn tần số của ánh sáng tới ν
A
= ν
0
+ ν
R

23
J
Mức trung gian
bơm stokes đối stokes
b
j
b
E
b
- E
a
= hν
R
a
j
a
Hình 2.2. Sơ đồ các mức năng lượng và các chuyển dịch trong tán xạ Raman a,b:
các mức dao động; a
j
,

b
j
: các mức quay; J: là các mức điện tử kích thích cao
Hiện tượng tán xạ Raman tự phát được giải thích dựa trên sơ đồ lượng tử các
mức năng lượng của phân tử trình bày trong hình 2.1. Các mức năng lượng của điện
tử bao gồm các mức điện tử được đánh số a,b… trong đó J là các mức điện tử kích
thích cao. Trong mức điện tử cơ bản chứa nhiều mức dao động. Các mức dao động này
cách nhau một khoảng bằng nhau ứng với tần số ω
d
nằm trong vùng hồng ngoại
trung.Trong mỗi mức năng lượng dao động này lại có nhiều mức quay. Các mức quay
này cách nhau một khoảng bằng nhau ứng với tần số ω
q
nằm trong vùng hồng ngoại
xa. Đối với môi trường tán xạ Raman các mức kích thích cao J được gọi là các mức
cộng hưởng xa khi có điều kiện ν
0
<< (E
j
–E
a
)/h; và gọi là kích thích
ν
S
ν
S
ν
0
ν
A
ν
A
24
ν
Hình 2.3. Các quá trình tán xạ
Nguốn sáng chiếu vào môi trường có tần số ν
0,
là tập hợp các photon có năng
lượng hν
0.
Sau khi hấp thụ photon, các phân tử đang ở trạng thái a hoặc b sẽ chuyển dời
lên một mức năng lượng trung gian nào đó (E
tg
<E
j
). Nguyên tử hay phân tử tồn tại ở
trạng thái trung gian một thời gian nhất định rồi chuyển dời về trạng thái có mức năng
lượng a hoặc b và tái bức xạ ra photon. Phụ thuộc vào trạng thái ban đầu và trạng thái
cuối của các dịch chuyển mà có thể bức xạ thứ cấp Rayleigh, Stokes hay đối Stokes.
Nếu trạng thái ban đầu và trạng thái cuối đều là a hoặc đều là b (cùng mức năng
lượng) ta có tán xạ Rayleigh. Nếu trạng thái ban đầu có mức năng lượng thấp hơn mức
năng lượng của trạng thái cuối thì ta có tán xạ Raman Stokes. Ngược lại nếu trạng thái
ban đầu có mức năng lượng lớn hơn trạng thái cuối ta có đối Stokes. Cường độ ánh
sáng tán xạ khác nhau đối với tần số khác nhau. Trong đó mạnh nhất là tán xạ
Rayleigh với tần số ν
0
.
Điều này có thể giải thích trong trạng thái cân bằng nhiệt: phần lớn các phân tử
nằm ở trạng thái năng lượng thấp nhất a tuân theo phân bố Boltzmann. Số phân tử nằm
ở trạng thái dao động kích thích b là rất nhỏ. Do đó khi các photon tới tác động vào
môi trường thì số lượng phân tử có năng lượng thấp sẽ hấp thụ nhiều photon hơn. Từ
nguyên tắc này người ta luôn nhận được cường độ ánh sáng Stokes lớn hơn cường độ
đối Stokes. Chúng ta chỉ quan sát được sóng đối Stokes khi kích thich bằng ánh sáng
không đơn sắc có cường độ rất cao.
2.2 Hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức (SRS)
Tán xạ Raman được trình bày tổng quát ở trên là loại tán xạ tự phát đặc trưng cho
một quá trình tán xạ Raman phổ rộng có cường độ yếu và hiệu suất không lớn, thậm
chí đối với những chất ngưng tụ mạnh (mật độ cao) thì tiết diện tán xạ trong một đơn
vị thể tích đối với tán xạ Raman Stokes cũng chỉ đạt 10
-6
cm
-1
, có nghĩa là nếu có 10
6
hạt đi qua 1 cm môi trường thì chỉ có một hạt được tham gia tán xạ. Dưới sự kích thích
bởi chùm laser với mật độ photon rất lớn hiệu suất tán xạ Raman trong môi trường sẽ
được nâng cao lên rất nhiều ( có thể đạt đến 20-30 %). Tán xạ Raman cưỡng bức tiêu
biểu cho một quá trình tán xạ mạnh với tác dụng của trường laser và vật chất.
Hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức (Stimulated Raman effect) là hiện tượng xảy
ra khi đưa vào môi trường dẫn sóng hai nguồn ánh sáng là nguồn laser bơm có tần số ν
và tín hiệu quang ở tần số Stokes (ν– ν
d
). Trong mô hình bơm quang này các photon
tín hiệu có tần số (ν– ν
d
) sẽ cưỡng bức các phân tử cùng dao động và làm phát sinh
thêm một photon nữa có cùng tần số và pha với photon đến. Quá trình tán xạ cưỡng
bức sẽ được tiếp tục nhân lên bên trong lõi sợi quang.
Bản chất của hiện tượng tán xạ Raman cưỡng bức là các nguyên tử của sợi
quang hấp thụ năng lượng từ các photon phát ra từ nguồn bơm có bước sóng nhỏ hơn
bước sóng tín hiệu. Khi đó, các nguyên tử sẽ nhảy từ trạng thái có mức năng lượng
thấp sang trạng thái có mức năng lượng cao hơn (mức năng lượng trung gian). Khi có
photon của tín hiệu đến thì nó sẽ kích thích các nguyên tử đang ở trạng thái có mức
năng lượng cao. Kết quả là các nguyên tử nhảy xuống mức thấp hơn phát phát ra
photon mới có cùng bước sóng và pha với photon tín hiệu đến.
25

Hình 2.4. Mô tả quá trình tán xạ Raman cưỡng bức
Hình 2.4 mô tả hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức trong môi trường có 3 mức
năng lượng, trong đó:
E
1
: mức năng lượng nền.
E
2
: mức năng lượng dao động.
E
3
: mức năng lượng trung gian.
Nhiều kết quả nghiên cứu tán xạ Raman trong thuỷ tinh SiO
2
:GeO
2
để chế tạo sợi
quang cho thấy: độ dịch chuyển Raman Δλ ~ 80nm - 100 nm, phụ thuộc vào nồng độ
và cấu trúc sợi quang. Nếu ta dùng bước sóng bơm λ
p
= 1450 nm thì tín hiệu quang có
bước sóng λ
s
= λ
p
+ Δλ =1550 nm (trùng với vạch Stokes) sẽ được khuếch đại.
Khi cường độ ánh sáng kích thích hay cường độ laser bơm mạnh hơn một giá trị
ngưỡng xác định thì ánh sáng Stokes phát ra được khuếch đại theo hàm mũ. Quá trình
này gọi là tán xạ Raman cưỡng bức.
Biểu thức thể hiện sự thay đổi công suất sóng bơm và sóng tín hiệu theo khoảng
cách z.
(2.1)
α
s
, α
p
: độ hao phí của sóng tín hiệu, sóng bơm khi truyền trong sợi quang.

r
: hệ số khuếch đại Raman trong sợi quang.
Nếu chúng ta bỏ qua số hạng thứ nhất bên vế phải của phương trình (2.1) (số
hạng thể hiện sự suy giảm của sóng bơm ), ta được.
(2.2)
26
Laser bơm
h ν
E
3
E
2
Tín hiệu
ћ (ν – ν
d
)
E
1
P P S P R
S
P P
S S S P R
S
P P P g
dz
dP
P P P g
dz
dP
α
ω
ω
α
− − ·
− ·
P
P
eff
S eff
eff
R S S
L
L
L L
A
P
g P L P
α
α
α
) exp( 1
exp ) 0 ( ) (
0
− −
·

,
_

¸
¸
− ·
A
eff
:tiết diện hiệu dụng cho sự tăng cường Raman.
L
eff
: Chiều dài hiệu dụng đối với sóng bơm.
Hệ số khuếch đại Raman đối với sóng tín hiệu:
(2.3)
Hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức không những có ưu điểm về mặt cường độ
mà còn có ưu điểm về mặt cấu trúc chùm tia phát xạ. Nhờ hiệu ứng phát xạ cưỡng bức
mà các photon phát xạ sẽ cùng pha và cùng hướng với photon kích thích.
2.3 Khuếch đại quang Raman
2.3.1 Khuếch đại quang Raman.
Thiết bị khuếch đại quang Raman (Raman Optical Amplifier) sử dụng trong hệ
thống thông tin quang dựa trên nguyên lý tán xạ Raman cưỡng bức trong sợi quang với
các loại sợi có cấu trúc dẫn sóng đặc biệt (sợi DCF) hoặc sợi pha tạp Ge nồng độ cao
(sợi nhạy quang).
Mô hình lý thuyết để giải thích hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức sử dụng trong
khuếch đại quang dựa trên hệ thống các cặp phương trình vi phân mô tả sự tiến triển
của công suất nguồn bơm, công suất phát xạ ngẫu nhiên và công suất tín hiệu khuếch
đại dọc theo trục sợi quang (trục z). Các hệ phương trình này có thể áp dụng cho kiểu
bơm một hoặc bơm nhiều bước sóng cho khuếch đại Raman, đồng thời cũng chỉ ra sự
ảnh hưởng của bơm tới bơm, bơm tới tín hiệu, tín hiệu tới tín hiệu và sự ảnh hưởng
của nhiệt độ tới bức xạ Raman tự phát được khuếch đại (ASE)


,
,
1
,
,
1
( )
( )
( )
4 ( )
N
r j k
k
k j ASE j
j k
j efc p
N
r j k
k
k k i k
j k
j efc p
g
p p p
A k
g
p h T
A k
ν
ν
ν
ν
ν
ν νη
ν
t t +
· +
t
· +

− + +

− ∆


27
1
1
]
1

¸

− · L
KA
P
L g G
S
eff
eff R
α
0
34 , 4

,
, ,
1
,
, ,
1
1
,
, ,
1
( )
( )
( )
4 ( )
( )
2 ( ) ( )
N
r j k
k
ASE k j ASE j
j k
j efc p
N
r j k
k
ASE k k i k
j k
j efc p
k
r j k
k j ASE j i k
j
efc p
g
P p p
A k
g
p h T
A k
g
h p p T
A k
ν
ν
ν
ν
ν
ν νη
ν
ν
ν ν η
+ t t
· +
+
· +

t +
·

− + +

− ∆ +

+ ∆ +



(2.4)
Trong đó
k
P là công suất của bơm hoặc tín hiệu ở giá trị k,
ASE,k
P
là công suất
của nhiễu ASE dọc theo hướng lan truyền t Ζ , h là hằng số Planck,
p
P
là phân cực
của ánh sáng tín hiệu, A
efc
là diện tích hiệu dụng của sợi quang, η(T) là hệ số giam giữ
phonon.
Với việc lựa chon các giá trị α = 0.2 dB/Km; k
p
= 2; η(300K) = 0.1226 và
A
efc
= 80 μm
2
.Tính được hệ số khuếch đại G
on/off
và chỉ số tạp âm.

(2.5)
Trong đó P
S
là công suất tín hiệu; P
ASE
là công suất ASE thuận; Δν là băng thông;
ν là tần số của tín hiệu.
Hệ số khuếch đại Raman thay đổi theo độ chênh lệch bước sóng giữa tín hiệu và
nguồn bơm được biểu diễn bởi hình 2.5. Hệ số khuếch đại Raman tăng hầu như tuyến
tính với độ chênh lệch bước sóng giữa tín hiệu và nguồn bơm (wavelength offset) và
đạt giá trị đỉnh tại 100 nm và giảm nhanh chóng sau đó.
28
Băng thông khuếch đại này có thể đạt từ 45-50 nm tính từ hệ số khuếch đại
cực đại.

Hình 2.5. Sự phụ thuộc hệ số khuếch đại Raman theo độ chênh lệch bước sóng
giữa tín hiệu và nguồn bơm theo đơn vị bước sóng
2.3.2 Độ lợi băng thông g
r
của phổ Raman trong sợi thủy tinh Silica tinh khiết và
trong sợi nhạy quang , sợi bù tán sắc DCF
Quá trình chuyển đổi năng lượng giữa nguồn bơm và Stokes được đặc trưng bởi
một thông số được gọi là hệ số độ lợi Raman
R
g
. Giá trị này phụ thuộc chủ yếu vào
cấu trúc vật liệu của lõi sợi quang và thành phần pha tạp trong đó. Đồ thị biểu diễn độ
lợi băng thông đối với thủy tinh silica tinh khiết có một vùng chính và nhiều vùng nhỏ
cực đại xung quanh. Nếu tính đến các đỉnh nhỏ trong phổ thì hệ số độ lợi Raman đạt
băng thông rộng đến khoảng 40 Thz. Hệ số độ lợi cực đại gần như là không đổi trong
vùng băng tần từ 9Thz đến 16 Thz. Nó có nghĩa là vùng hệ số khuếch đại cao này dịch
chuyển xung quanh 13 Thz (tại bước sóng 1550 nm thì ứng với độ dịch bước sóng lân
cận khoảng
112 nm λ ∆ ·
). Giá trị hệ số độ lợi băng thông Raman cực đại trong thủy
tinh nguyên chất là
13
max
1.9 10 m/W
R
g

· ×
.

29
45- 50

Hình 2.6. Độ lợi băng thông Raman được chuẩn hóa ứng với độ dịch
tần số tính từ tần số ánh sáng nguồn bơm
Độ lợi băng thông Raman tỷ lệ nghịch với bước sóng nguồn bơm và phụ thuộc
vào trạng thái phân cực của sóng. Độ lợi này đối với quá trình phân cực song song
(ánh sáng nguồn bơm và ánh sáng tín hiệu có cùng cực) thì cao hơn nhiều so với
trường hợp phân cực trực giao (ví dụ như khi ánh sáng nguồn bơm phân cực trực giao
với sóng Stokes ).
Tuy nhiên trong sợi quang thì do hiện tượng lưỡng chiết mà các trạng thái phân
cực của nguồn bơm và sóng Stokes thay đổi liên tục và nếu sợi quang đủ dài thì hệ số
khuếch đại Raman hiệu dụng là giá trị trung bình của các hệ số khuếch đại song song
và trực giao.
Khi pha tạp thêm GeO
2
vào sợi quang Silica khi đó chiết suất của lõi sợi tăng
lên. Với việc pha GeO
2
sẽ tạo ra sợi nhạy quang hoặc sợi bù tán sắc với nồng độ pha
GeO
2
khác nhau. Khi bơm chùm laser có bước sóng thích hợp vào 2 loại sợi này,
chúng ta nhận được đỉnh của độ lợi băng thông Raman cao hơn, đồng thời độ dịch
bước sóng cũng ngắn hơn so với sợi thủy tinh Silica thuần.
Chúng ta nhận thấy rằng độ chênh lệch giữa chiết suất lõi và vỏ càng cao thì thu
được đỉnh độ lợi Raman càng lớn. Trong sợi nhạy quang và bù tán sắc có độ lệch chiết
suất tỷ đối ∆ lớn hơn so với sợi thường khoảng một bậc (10 lần).
30
0
10 20 30 40
Độ dịch tần (THz)
Độ lợi băng
thông Raman
đã được
chuẩn hóa
0
0.5
1.0
BW

Hình 2.7. Phân bố độ lợi Raman khi pha tạp germanium vào sơi quang, khi được
bơm bằng nguồn laser có bước sóng 1.24 µm.∆n = n
2
– n
1,
trong đó n
2
, n
1
là chiết suất
lõi và vỏ của sợi quang
2.3.3 Mô hình của bộ khuếch đại quang Raman
Cấu trúc tiêu biểu của một bộ khuếch đại Raman như sau:
Tín hiệu vào Isolater
Sợi nhạy quang
hoặc sợi DCF

Hình 2.8. Sơ đồ bộ khuếch đại quang Raman điển hình
Bộ khuếch đại quang Raman bao gồm các linh kiện quang tử và quang – điện tử
sau:
- Nguồn laser bơm bán dẫn có công suất cao (có thể 1 hoặc nhiều laser bán dẫn ghép
nối kiểu cộng công suất) dùng để bơm quang vào sợi tạo hiệu ứng Raman
tự phát.
- Môi trường khuếch đại quang trên cơ sở tán xạ Raman có thể sử dụng sợi nhạy quang
hoặc sợi DCF có độ dài thích hợp.
31
Đ


l

i

R
a
m
a
n
Bước sóng [µm]
WDM
Laser bơm
- Linh kiện cách ly quang (Isolater)dùng để cho ánh sáng chỉ đi theo một chiều trong
sợi và ngăn ánh sáng phản xạ chiều ngược vào môi trường khuếh đại để
tránh gây nhiễu cho bộ khuếch đại.
- Linh kiện WDM dùng để kết hợp nguồn bơm và tín hiệu để tạo hiệu ứng Raman
cưỡng bức cũng như dùng để đưa tín hiệu vào bộ khuếch đại.
Có một số cấu hình bơm phổ biến cho khuếch đại quang Raman như: Có thể
dùng cách bơm đồng hướng tức là bơm cùng chiều với chiều tín hiệu. Cũng có thể
bơm ngược hướng tức là bơm ngược với hướng truyền tín hiệu. Ngoài ra còn cách
bơm song công tức là bơm từ cả 2 hướng. Mỗi cấu hình bơm có những ưu nhược điểm
khác nhau.


Hình 2.9. Cấu hình bơm đồng hướng cho khuếch đại quang Raman phân bố
Hình 2.10. Cấu hình bơm ngược hướng cho khuếch đại quang Raman phân bố.
2.3.3 Khuếch đại dải rộng của khuếch đại Raman
Khuếch đại Raman với một nguồn bơm có băng thông vào khoảng 7THz (xấp
xỉ 60 nm). Cửa sổ truyền qua của sợi quang vào khoảng 400 nm(1200 nm tới 1600).
Khuếch đại băng thông rộng do vậy là rất phù hợp.
Sử dụng nhiều nguồn bơm,khuếch đại dải rộng với độ lợi thăng giáng nhỏ là
có thể thiết kế được. Tuy nhiên cần nhớ rằng trong cấu hình nhiều nguồn bơm, có sự
chuyển đổi năng lượng giữa các nguồn bơm do hiệu ứng Raman.
32
Pump
Fiber
rr
Signal
Pump
pp
Coupler
Pump
Fiber
Isolator
rrr
Signal
2.4 Ảnh hưởng của tán xạ raman trong hệ thống WDM
Nếu chỉ có một kênh truyền trong sợi quang, hiệu ứng Raman chỉ có thể quan
sát được nếu như công suất của kênh truyền lớn hơn ngưỡng nhất định. Do vậy nếu
như mức ngưỡng quá cao, hiệu ứng SRS sẽ không quan sát được trong hệ thống đơn
kênh
Mọi chuyện sẽ khác trong hệ thống WDM.Tại đó sóng Stokes ban đầu không
phải được sinh ra bởi quá trình tự phát bởi các sóng có tần số nhỏ hơn vốn đã tự có
trong hệ thống. Hơn nữa công suất đầu vào của sóng Stoke là lớn hay nhỏ nh ư công
suất của nguồn bơm(kênh truyền mà có bước sóng ngắn hơn đóng vai trò là nguồn
bơm cho kênh truyền có bước sóng dài hơn).
Với đỉnh độ lợi Raman dịch chuyển xung quanh 13Thz,các kênh cách nhau
100nm sẽ ảnh hưởng lẫn nhau mạnh nhất. Nói cách khác, các kênh từ các băng L, C
ảnh hưởng lẫn nhau nhiều hơn. Tuy nhiên, các kênh trong một băng cũng ảnh hưởng
lẫn nhau dù cho ở một mức độ nhỏ hơn.
Với hệ thống DWDM ,tương tác Raman là vô cùng phức tạp. Mỗi một bước
sóng vừa đóng vai trò là một nguồn bơm với bước sóng nào dài hơn nó, vừa đóng vai
trò là sóng Stoke với bước sóng ngắn hơn nó. Do hiện tượng tán xạ Raman, mỗi kênh
đều nhận năng lượng cũng như mất đi năng lượng. Có một sự chuyển đổi công suất từ
các kênh có tần số cao hơn đến các kênh có tần số thấp hơn. Nếu như tất cả các kênh
có cùng công suất như nhau, thì cuối cùng ta có phổ như sau:

Hình 2.11. Các kênh trong WDM không có tán xạ Raman
33
1530nm 1540nm
WDM Channels with out Raman Scattering
Hình 2.12. Các kênh trong WDM khi có tán xạ Raman
Sự suy giảm công suất của các kênh truyền là một vấn đề trong hệ thống WDM
khi mà điều đó làm giảm SNR và làm tăng BER.
Sự suy giảm công suất của một kênh có thể tính toán khi giả thiết phổ của độ lợi
Raman từ 0 đến 15 Thz. Nếu sự suy giảm công suất chấp nhận được của một kênh là
1dB, ta có mối liên hệ công suất-băng thông:
(nP)(n-1)∆f<500 (W-GHz) (2.6)
Với n là số kênh trong DWDM,P là công suất của kênh, ∆f là khoảng cách giữa
các kênh.
Nếu số lượng các kênh là nhỏ,công suất tối đa trên một kênh giảm theo 1/n, nếu
số lượng kênh là lớn, công suất giảm theo 1/n
2
. Biểu đồ của công suất tối đa trên một
kênh là một hàm của số kênh được chỉ ra theo hình:
34
1530nm 1540nm
WDM Channels with Raman Scattering
Hình 2.13. Công suất tối đa trên một kênh và số lượng các kênh
Trong một hệ thống truyền tải xa với các bộ khuếch đại được sắp xếp tuần
hoàn, SNR do sự xuất hiện của tán xạ Raman có thể tính toán được. Nếu sự suy giảm
của SNR trong kênh với bước sóng nhỏ nhất là 0,5 dB, số lượng các kênh truyền n có
thể được tính theo công thức:
15
8.7 10
( 1)
eff
n n
P f L ∆
×
− ·
(2.7)
Với L
eff
là chiều dài tương tác hiệu dụng của hệ thống với bộ khuếch đại.
Nhiễu công suất của hệ thống do khuếch đại:
0
2 ( 1)
sp
N m h n B G ν · −
(2.8)
Với m là số bộ khuếch đại(m=L/L
A
, L là chiều dài liên kết và L
A
khoảng cách
giữa các bộ khuếch đại), hv là năng lượng photon,n
sp
là hệ số nhiễu của khuếch đại, B
0
là băng thông quang học của bộ thu, và G là hệ số khuếch đại của mỗi bộ khuếch đại.
Nếu SNR đòi hỏi là R, công suất đầu vào trung bình của mỗi kênh là:

0
2( ) ( 1) /
A sp
P L L h n B G R ν · −
(2.9)
35
1 10
100
1000
mW
0.01
0.1
1
10
100
Maximum power per channel vs Number of channels
offachacchannels ccccccchannels
n
mW
Nếu như số lượng các kênh là lớn, khả năng truyền tải có thể nhận được:


14
1.8 10
2( ) ( 1) /
A
sp
eff
C
L L h n L G R ν
×
<

(2.10)
Với giả thiết khoảng cách giữa các kênh gấp 6 lần tốc độ dữ liệu và và băng
thông bộ lọc 4 lần lớn hơn tốc độ dữ liệu.
Với những chiều dài liên kết vào khoảng vài nghìn Km, khả năng truyền tải
<100Gbps ngay cả với hệ thống DWDM.
Công thức trên đây không đúng đối với trường hợp có hiệu ứng tán sắc hay
phân bố tuỳ tiện của các bit là các kênh khác nhau. Một số trường hợp, kết quả nhận
được là rất kém.
Độ lợi Raman đạt được lớn nhất khi các xung của các kênh khác nhau xuất hiện trong
cùng thời điểm.Trong hệ thống WDM, nếu các kênh khác nhau là không đồng bộ, và
các bít dữ liệu phân bố ngẫu nhiên giữa mức 0 và 1, các mức 1 trong tất cả các kênh
sẽ không xuất hiện cùng lúc, mức trung bình của mức 1 trong bất kỳ kênh nào sẽ xuất
hiện với mức 1 ở các kênh khác. Tương tác Raman, do đó sẽ bị suy giảm.
Hơn nữa,do sợi quang là vật liệu tán sắc, do đó có sự khác biệt về vận tốc nhóm
trong các kênh khác nhau. Xung dữ liệu của các kênh khác nhau sẽ xuống tương ứng
với mỗi xung giảm, điều đó làm giảm tương tác Raman .

Chương 3 Kết quả và thảo luận
3.1 Các thiết bị và linh kiện sử dụng
trong thực nghiệm
Nguồn laser bơm công suất cao
36
Hình 3.1. Nguồn laser bơm phát xạ trong vùng 1420 -1480 nm công suất đến 200 mW
Bộ nguồn bơm là một laser bán dẫn có bước sóng λ = 1420-1460 nm có công
suất cực đại là 200 mW, phát xạ đơn mốt, nhiệt độ làm việc luôn luôn được đặt ở 25
0
C.
Laser được hàn trên mạch điện tử cung cấp dòng bơm đến 700 mA, độ chính xác +/-
1%.
Laser bơm phát xạ tại bước sóng 1460 nm với độ rộng phổ khá hẹp đã cho công
suất phát xạ tổng đạt đến 22, 75 dBm (gần 200 mW) tại dòng bơm 660 mA.

37
Hình 3.2. Phổ phát xạ của mô-đun laser bơm…khi dòng bơm đạt 660
mA, nhiệt độ đế laser 25
0
C
Máy đo phổ quang (OSA)

Hình 3.3. Máy đo phổ quang (OSA) với băng tần từ 600 nm đến 1700 nm,
độ phân giải phổ 0,01 nm
Để đo phổ phát xạ laser và phổ tán xạ Raman xảy ra trong sợi quang chúng tôi sử
dụng phân tích phổ quang. Thiết bị đo phổ Advantest Q8384 là máy phân tích phổ
chuyên dụng cho sợi quang sử dụng cách tử nhiễu xạ. Thiết bị Q8384 có độ phân giải
phổ theo bước sóng 10pm, độ chính xác của bước sóng đo ±20pm, vùng bước sóng
hoạt động từ 600nm đến 1700nm, vùng công suất quang đo được từ -87dBm đến
23dBm (tương đương từ 1 pW đến 200 mW). Số liệu đo đạc được lấy ra bằng ổ đĩa
mềm 3.5 inch hoặc đồ thị qua máy in nội.
Sợi nhạy quang (Photoensitive fiber)

Hình 3.4. Sợi nhạy quang với nồng độ pha tạp Ge đến 18 mol% sử dụng trong thực
nghiệm
38
Sợi nhạy quang có nồng độ pha tạp Ge cao được chế tạo nhằm mục đích sử dụng
trong một số linh kiện quang sợi đặc biệt như: cách tử Bragg trong sợi quang(FBG), bộ
trễ quang… Các nghiên cứu gần đây cho thấy sợi nhạy quang sử dụng nồng độ Ge pha
tạp từ 14 mol% trở lên có thể dùng để tạo môi trường tán xạ Raman mạnh cho bộ
khuếch đại Raman. Cần lưu ý rằng, các bộ khuếch đại Raman đang sử dụng trên tuyến
thực tế luôn luôn có cấu trúc sợi quang tiêu chuẩn + sợi quang đặc biệt (DCF hoặc
nhạy quang), vì vậy chúng tôi cũng tiến hành nghiên cứu theo cấu trúc này.
Bộ ghép đa bước sóng (WDM)
Bộ ghép kênh theo bước sóng, cho phép ghép các bước sóng trong khoảng 1420
nm - 1490 nm được sử dụng để khảo sát cấu hình bơm – tín hiệu và các cấu trúc bơm
đa bước sóng cho bộ khuếch đại ROA.


Hình 3.5. Bộ ghép kênh theo
bước sóng WDM 1480/1550 nm.
3.2 Sơ đồ thiết lập cho thực nghiệm
Sơ đồ khảo sát hiệu ứng laser cưỡng bức

Sợi nhạy quang

Hình 3.6. Sơ đồ khảo sát hiệu ứng Raman cưỡng bức.
Sơ đồ để khảo sát hiệu ứng Raman cưỡng bức với nguồn tín hiệu là laser đơn mốt
và laser đa mốt cơ bản giống nhau. Quá trình thực nghiệm để khảo sát hiệu ứng tán xạ
Raman cưỡng bức được thực hiện như sau:
39
WDM
Laser
tín
hiệu
OSA
Laser
bơm
Hàn lối ra của 2 mô-đun laser tín hiệu và laser bơm với 2 đầu vào của bộ ghếp
kênh theo bước sóng (WDM), đầu ra còn lại của bộ WDM được hàn với một đầu của
sợi nhạy quang + sợi quang tiêu chuẩn SMF-28, đầu ra của cuộn sợi đựoc hàn với
conector quang và nối với thiết bị phân tích phổ quang Advantest Q8384.
Thay đổi chiều dài sợi quang với chiều dài tăng dần từ 14 km cho tới 28km với
mỗi sự thay đổi của chiều dài sợi quang, phổ phát xạ qua sợi quang được ghi lại bằng
thiết bị phân tích phổ.
3.3 Các kết quả thực nghiệm và thảo luận
3.3.1. Kết quả thực nghiệm
Khảo sát hiệu ứng Raman cưỡng bức với nguồn tín hiệu là Laser đơn mốt.
Bộ nguồn tín hiệu

Hình 3.7. Bộ nguồn tín hiệu quang laser đơn mốt phát xạ tại bước sóng 1552 nm
a)Nguồn tín hiệu là một laser đơn mốt.
Nguồn tín hiệu quang là một laser DFB phát xạ đơn mốt có bước sóng 1552 nm.
Công suất của tín hiệu quang qua khuếch đại EDFA có thể đạt đến 16.85 dBm (tương
đương ~ 50 mW). Nguồn tín hiệu quang với công suất quang thay đổi được từ -6 dBm
đến +17 dBm rất thích hợp để khảo sát hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức trong sợi
quang Tuy nhiên tại các vùng sóng chung quanh phổ tín hiệu có các đỉnh phổ nhỏ, vì
vậy các phổ này có thể ảnh hưởng đến thông số tạp âm của tín hiệu đã khuếch đại.
40

Hình 3.8. Phổ phát xạ của tín hiệu quang từ laser DFB đã được khuếch đại
Hệ khảo sát sự phụ thuộc công suất của nguồn tín hiệu đã được khuếch đại dọc
theo sợi quang nhờ hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức theo sơ đồ 3.10.Laser bơm có
bước sóng 1460 nm hoạt động ổn định ở 25
0
C, nguồn tín hiệu là laser đơn mốt có đỉnh
là 1552,9 nm, hoạt động ổn định ở 25
0
C. Tiến hành khảo sát thí nghiệm lần lượt với
các sợi quang có chiều dài khác nhau theo thứ tự:khảo sát laser tín hiệu mà không có
laser bơm , giá trị công suất của nguồn tín hiệu được ghi lại, sau đó tiến hành khảo sát
laser tín hiệu có nguồn bơm. Giá trị đo được như sau:
Bảng 3.1. Khảo sát công suất tại đỉnh của laser đơn mốt
41


Băng thông khuếch đại:∆λ=0,580 nm.
Dưạ vào bảng số liệu ta có sơ đồ phụ thuộc của hệ số khuếch đại vào chiều dài
sợi quang cũng như sự thay đổi của công suất ra khi có và không có laser bơm.
42
Chiều dài
sợi(km)
Công suất tín hiệu ra P
out
(dBm) Hệ số
khuếch đại
G(dB)
Không có laser bơm Có laser bơm
10 -12,58 -12,14 0,44
14 -13,43 -12,97 0,46
18 -14,62 -14,15 0,47
20 -15,60 -15,01 0,59
24 -17,34 -16,64 0,7
26 -18,52 -17,70 0,82
28 -19 -18,42 0,58
Hình 3.9. Sự phụ thuộc của công suất ra khi có và không có laser bơm
43

Hình 3.10. Hệ số khuếch đại khi có tán xạ Raman cưỡng bức theo
chiều dài sợi quang
Nhìn vào đồ thị ta có thể rút ra nhận xét :nguồn tín hiệu rõ ràng là được khuếch đại
và hệ số khuếch đại này có giá trị tăng dần đến 26 km nó đạt giá trị lớn nhất nhưng
hệ số khuếch đại G nhỏ, không đạt được giá trị lớn như mong đợi. Điều này có thể
giải thích như sau:
Khi công suất quang của Laser bơm không đổi, các photon của laser bơm chỉ có
thể truyền cho một số lượng phân tử nhất định để chúng dao động và tạo ra hiệu
ứng Raman cưỡng bức. Khi tăng chiều dài sợi quang, đồng thời giữ nguyên giá trị
công suất bơm, tức là chúng ta đã tăng số lượng các phân tử trong môi trường tán
xạ trong khi không tăng năng lượng kích thích, do vậy mà cường độ của tán xạ
Raman cưỡng bức giảm xuống dẫn đến hệ số khuếch đại giảm. Mặt khác do hiệu
ứng tán xạ Raman cưỡng bức yêu cầu nguồn bơm công suất cao thì mới đạt được
giá trị tối ưu trong khi nguồn laser bơm tối đa chỉ đạt 200mW vẫn là nhỏ để có thể
đạt giá trị G cao hơn. Một điểm quan trọng khác là tán xạ Raman cưỡng bức sẽ
xảy ra mạnh nhất với ∆λ=80-100nm, do vậy khảo sát với laser đơn mốt sẽ có hiện
tượng chênh bước sóng giữa bước sóng được khuếch đại với bước sóng cần được
khuếch đại. Điều này có thể giảm thiểu bằng cách khảo sát với nguồn tín hiệu là
laser đa mốt ở phần dưới đây.
Khảo sát hiệu ứng tán xạ Raman cưỡng bức với nguồn tín hiệu là một laser đa mốt.
b)Nguồn tín hiệu là một laser đa mốt.
Nguồn tín hiệu là một laser đa mốt, trong đó các mốt chính được khảo sát có
đỉnh là 1542,28 nm;1546,6 nm;1545,52 nm. Laser đa mốt có dòng nuôi tối đa là tới 30
mA ,ngưỡng phát là 9,7 mA và được tiến hành thí nghiệm trong điều kiện nhiệt độ ổn
định là 25
0
C.
44

Hình 3.11. Bộ nguồn tín hiệu là laser đa mốt và phổ của nó
Cấu hình khảo sát,cách tiến hành giống như khảo sát hiệu ứng tán xạ Raman
cưỡng bức với nguồn tín hiệu là laser đa mốt,chỉ khác một điều là nguồn tín hiệu là
laser đa mốt. Kết quả khảo sát thu được được trình bày ở dưới đây:
Khảo sát tín hiệu khi qua sợi quang với các chiều dài khác nhau ta lần lượt thu
được phổ của nguồn tín hiệu được khuếch đại bởi nguồn bơm như sau

(a) (b)
45
(c) (d)

(e)
Hình 3.12 Phổ của tín hiệu tại các chiều dài khác nhau:
a)14 Km ; b)16 Km ; c) 22 Km; d)26 Km; e)28 Km
Kết quả khảo sát tại một số đỉnh như sau:
Bảng 3.2. Khảo sát công suất tại 3 đỉnh của laser đa mốt
Chiều
dài
sợi
quang
(km)
Côngsuất(dBm)
tại 1542,28 nm
Công suất (dBm)
tại 1545,52 nm
G
(dB)
Công suất (dBm)
tại 1546,6 nm
Không có
laser bơm
Có laser
bơm
Không có
laser bơm
Có laser
bơm
Không có
laser bơm
Có laser
bơm
14 -25,57 -16,51 -11,71 -9,82 1,89 -22,65 -22,44
16 -21,60 -20,8 -15,69 -14,86 0,83 -37,92 -35,15
18 -25,84 -21,32 -15,23 -14,34 0,89 -33,99 -33,27
46
22 -25,63 -25,15 -19,89 -18,88 1,01 -34,35 -32,56
26 -25,53 -25,48 -21,36 -20,17 1,19 -35,53 -32,99
28 -36,97 -36,49 -30,35 -30,15 0,20 -36,93 -36,38
Nhận xét:tại cả ba đỉnh ta đều nhận thấy hiện tượng khuếch đại khi có sự xuất
hiện của sóng bơm. Xét cụ thể tại bước sóng 1545,52 nm, ta có đồ thị biểu diễn sự phụ
thuộc của hệ số khuếch đại theo chiều dài sợi quang như sau:

Hình 3.13. Hệ số khuếch đại G thay đổi theo chiều dài sợi quang.
Ta thấy hệ số khuếch đại G tăng dần khi sợi quang có chiều dài thay đổi từ 16
km đến 26 km, khi sợi quang có chiều dài 26 km thì G đạt giá trị lớn nhất sau đó nó
giảm dần khi chiều dài sợi quang tiếp tục tăng, nguyên nhân về cơ bản là giống với
trường hợp nguồn tín hiệu là laser đơn mốt, nhưng đối với riêng trường hợp laser đa
mốt ta tránh được hiện tượng chênh bước sóng. Mặt khác, khi nguồn tín hiệu là laser
đa mốt thì các mốt có bước sóng nhỏ hơn cũng đóng vai trò là nguồn bơm (sóng
Stokes), do đó hệ số khuếch đại sẽ lớn hơn đối với trường hợp là laser đơn mốt
47
Kết luận
Tóm lại ,những kết quả nổi bật mà chúng tôi đã thu được khi tiến hành khảo sát
phổ tán xạ Raman trên sợi quang là như sau:
Trong trường hợp nguồn tín hiệu là laser đơn mốt hay đa mốt, phổ tán xạ Raman
trong sợi quang silica pha tạp Ge nồng độ cao đều dịch về phía sóng dài so với bước
sóng bơm là 80-100 nm. Tuy nhiên hệ số khuếch đại thu được tại
một số mốt xác định của laser đa mốt là tốt hơn rất nhiều so với trường hợp của laser
đơn mốt do hiện tượng chênh bước sóng giữa tín hiệu được khuếch đại và tín hiệu
được nghiên cứu.
Cường độ tán xạ Raman trong sợi phụ thuộc vào chiều dài của sợi quang, đối với
nguồn bơm bước sóng 1460 nm có công suất 200 mW chiều dài sợi quang 26 km cho
hệ số khuếch đại là lớn nhất.
Trên cơ sở những kết quả thực nghiệm đã thu được tôi đề xuất hướng phát triển
của đề tài như sau:
Tiến hành khảo sát sự phụ thuộc công suất vào nguồn bơm ở các sợi nhạy quang
khác với chiều dài lớn hơn nữa: 40 km, 50 km hoặc hơn nữa.
48
Nâng công suất bơm lên đến bậc 1 watt và khảo sát hiệu ứng Raman với công
suất bơm lớn.
Ghép thêm tín hiệu vào thông qua WDM để kháo sát hiệu ứng Raman cưỡng bức
đồng thời khảo sát hệ số khuếch đại tín hiệu cũng như chỉ số nhiễu.
Trên cơ sở những kết quả thu được chế tạo thử nghiệm bộ khuếch đại quang sợi
Raman.
Tài liệu tham khảo
Tiếng Việt
[1] Đỗ Văn Việt Em “Kỹ thuật thông tin quang 2”.
[2] PGS.TS Phạm Văn Hội “Giáo trình thông tin quang sợi”.
[3] PGS.TS Vũ Doãn Miên “Cơ sở thông tin quang sợi” ,2001.
Tiếng Anh
[1] A.M. Rocha, B. Neto, M. Facao, P.S. Andre, “Low cost incoherent pump
solution for Raman fiber amplifier”, J.Opt. Applicata, v.XXXIX, No.2, pp.
287-293 (2009)
[2] P.C.Beker, N.A.Olssonm, J.R.Simpson “Erbium Doped Fiber Amplifiers:
Fundamentals and Technology”, Academic Press, 1998.
[3] Govind P.Agrawal “Fiber Optics Communication Systems” Rochester, NY
1997.
[4] S.A. Varshney, K. Saitoh, M. Koshiba, P.J. Roberts, “Analysis of a realistic
and idealized dispersion compensating photonic crystal fiber Raman
amplifier”, Opt. Fiber Techno., 13, pp. 174-179, (2007).
49

50

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful