You are on page 1of 99

Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 1 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên

MỤC LỤC
MỤC LỤC................................................................................................................ 1
DANH MỤC BẢNG................................................................................................ 3
DANH MỤC HÌNH.................................................................................................. 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT................................................................................8
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN........10
1.1 Tổng quan.................................................................................................... 10
1.1.1 Giới thiệu................................................................................................ 10
Hình 1.1: Hai đường giá mỗi đường đều thỏa mãn quy tắc Hotelling.....................16
1.1.3 Kinh tế tài nguyên tái tạo........................................................................17
1.2 Tài nguyên tái tạo điển hình........................................................................19
1.2.1 Tài nguyên rừng......................................................................................20
1.2.2 Tài nguyên đàn cá sự thu nhỏ của tài nguyên thủy sản...........................22
1.2.3 Tiếp cận ban đầu để xây dựng mô hình từ nền tảng kinh tế học tài nguyên
thiên nhiên....................................................................................................... 22
2.4 Lợi ích trong khi giảm thiểu những rủi ro từ vấn đề tiêu thụ các sản phẩm
thủy sản............................................................................................................... 40
3.1 Giới Thiệu................................................................................................... 48
3.2 Đặc điểm tự nhiên........................................................................................ 49
3.2.1 Vị trí địa lý.............................................................................................. 49
3.2.2 Khí hậu và Địa hình................................................................................49
3.3 Điều kiện Kinh tế - Xã hội...........................................................................49
3.3.1 Dân số, lao động.....................................................................................49
3.3.2 Tình hình kinh tế..................................................................................... 50
3.4 Tình hình quản lý, nuôi trồng thủy sản tại khu vực trong những năm vừa qua
............................................................................................................................. 50
3.5 Một số mô hình nuôi trồng thủy sản tại hồ thủy điện...................................53
3.6 Nhận xét và Kết luận...................................................................................54
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 2 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH HÓA CÁC TIÊU ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU VỀ THỦY
SẢN VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN....................................................................55
4.1 Giới thiệu..................................................................................................... 55
4.2 Các khía cạnh khác nhau trong việc sử dụng tài nguyên nước ở hồ Núi Cốc
............................................................................................................................. 56
4.2.1 Vai trò chính của hồ Núi Cốc..................................................................56
4.2.2 Sản phẩm từ nuôi trồng thủy sản là sản phẩm thứ cấp............................57
4.2.3 Tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên nước tại khu vực hồ Núi Cốc ........58
Bảng 4.1: Các thông số kỹ thuật hồ Núi Cốc..........................................................59
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp của vùng khi chưa có dự án
62
Bảng 4.3: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp của vùng khi có dự án......62
Bảng 4.4: Bảng tính toán thu nhập từ cấp nước của hồ Núi Cốc............................63
4.3 Công nghệ nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản..................................................66
4.3.1 Công nghệ sản xuất, nuôi trồng thủy sản tại hồ Núi Cốc........................66
Bảng 4.7: Cỡ cá giống loại 30 g/con, mật độ 300 con/ha........................................72
Hình 4.1: Cung, cầu thủy sản cho Thành phố Thái Nguyên trong 1 năm...............84
Hình 4.2: Tác động của gia tăng trong cầu đối với tài nguyên................................85
4.4 Thiết lập bài toán......................................................................................... 85
4.4.1 Mô hình nuôi trồng thủy sản quay vòng đơn..........................................88
4.4.2 Mô hình nuôi trồng thủy sản quay vòng vô hạn......................................90
4.4.3 Bài toán đánh bắt có chọn lọc.................................................................91
4.4.4 Xây dựng bài toán động trong nuôi trồng thủy sản.................................92
4.5 Phân tích động học so sánh..........................................................................92
4.5.1 Thay đổi tỷ lệ lãi suất..............................................................................92
Hình 4.3: Mô tả sự thay đổi tỷ lệ lãi suất................................................................93
4.5.2 Thay đổi chi phí thả giống......................................................................93
Hình 4.4: Sự thay đổi của giá ròng và giá thô.........................................................94
Hình 4.5: Sự thay đổi khối lượng khai thác và thời gian T.....................................95
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 3 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
4.5.3 Thay đổi của giá lúa gạo.........................................................................95
4.6 Nhận xét và Kết luận ..................................................................................96
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 97
DANH MỤC BẢNG
MỤC LỤC................................................................................................................ 1
DANH MỤC BẢNG................................................................................................ 3
DANH MỤC HÌNH.................................................................................................. 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT................................................................................8
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN........10
1.1 Tổng quan.................................................................................................... 10
1.1.1 Giới thiệu................................................................................................ 10
Hình 1.1: Hai đường giá mỗi đường đều thỏa mãn quy tắc Hotelling.....................16
1.1.3 Kinh tế tài nguyên tái tạo........................................................................17
1.2 Tài nguyên tái tạo điển hình........................................................................19
1.2.1 Tài nguyên rừng......................................................................................20
1.2.2 Tài nguyên đàn cá sự thu nhỏ của tài nguyên thủy sản...........................22
1.2.3 Tiếp cận ban đầu để xây dựng mô hình từ nền tảng kinh tế học tài nguyên
thiên nhiên....................................................................................................... 22
2.4 Lợi ích trong khi giảm thiểu những rủi ro từ vấn đề tiêu thụ các sản phẩm
thủy sản............................................................................................................... 40
3.1 Giới Thiệu................................................................................................... 48
3.2 Đặc điểm tự nhiên........................................................................................ 49
3.2.1 Vị trí địa lý.............................................................................................. 49
3.2.2 Khí hậu và Địa hình................................................................................49
3.3 Điều kiện Kinh tế - Xã hội...........................................................................49
3.3.1 Dân số, lao động.....................................................................................49
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 4 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
3.3.2 Tình hình kinh tế..................................................................................... 50
3.4 Tình hình quản lý, nuôi trồng thủy sản tại khu vực trong những năm vừa qua
............................................................................................................................. 50
3.5 Một số mô hình nuôi trồng thủy sản tại hồ thủy điện...................................53
3.6 Nhận xét và Kết luận...................................................................................54
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH HÓA CÁC TIÊU ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU VỀ THỦY
SẢN VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN....................................................................55
4.1 Giới thiệu..................................................................................................... 55
4.2 Các khía cạnh khác nhau trong việc sử dụng tài nguyên nước ở hồ Núi Cốc
............................................................................................................................. 56
4.2.1 Vai trò chính của hồ Núi Cốc..................................................................56
4.2.2 Sản phẩm từ nuôi trồng thủy sản là sản phẩm thứ cấp............................57
4.2.3 Tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên nước tại khu vực hồ Núi Cốc ........58
Bảng 4.1: Các thông số kỹ thuật hồ Núi Cốc..........................................................59
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp của vùng khi chưa có dự án
62
Bảng 4.3: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp của vùng khi có dự án......62
Bảng 4.4: Bảng tính toán thu nhập từ cấp nước của hồ Núi Cốc............................63
4.3 Công nghệ nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản..................................................66
4.3.1 Công nghệ sản xuất, nuôi trồng thủy sản tại hồ Núi Cốc........................66
Bảng 4.7: Cỡ cá giống loại 30 g/con, mật độ 300 con/ha........................................72
Hình 4.1: Cung, cầu thủy sản cho Thành phố Thái Nguyên trong 1 năm...............84
Hình 4.2: Tác động của gia tăng trong cầu đối với tài nguyên................................85
4.4 Thiết lập bài toán......................................................................................... 85
4.4.1 Mô hình nuôi trồng thủy sản quay vòng đơn..........................................88
4.4.2 Mô hình nuôi trồng thủy sản quay vòng vô hạn......................................90
4.4.3 Bài toán đánh bắt có chọn lọc.................................................................91
4.4.4 Xây dựng bài toán động trong nuôi trồng thủy sản.................................92
4.5 Phân tích động học so sánh..........................................................................92
4.5.1 Thay đổi tỷ lệ lãi suất..............................................................................92
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 5 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Hình 4.3: Mô tả sự thay đổi tỷ lệ lãi suất................................................................93
4.5.2 Thay đổi chi phí thả giống......................................................................93
Hình 4.4: Sự thay đổi của giá ròng và giá thô.........................................................94
Hình 4.5: Sự thay đổi khối lượng khai thác và thời gian T.....................................95
4.5.3 Thay đổi của giá lúa gạo.........................................................................95
4.6 Nhận xét và Kết luận ..................................................................................96
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 97
DANH MỤC HÌNH
MỤC LỤC................................................................................................................ 1
DANH MỤC BẢNG................................................................................................ 3
DANH MỤC HÌNH.................................................................................................. 5
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT................................................................................8
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN........10
1.1 Tổng quan.................................................................................................... 10
1.1.1 Giới thiệu................................................................................................ 10
Hình 1.1: Hai đường giá mỗi đường đều thỏa mãn quy tắc Hotelling.....................16
1.1.3 Kinh tế tài nguyên tái tạo........................................................................17
1.2 Tài nguyên tái tạo điển hình........................................................................19
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 6 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
1.2.1 Tài nguyên rừng......................................................................................20
1.2.2 Tài nguyên đàn cá sự thu nhỏ của tài nguyên thủy sản...........................22
1.2.3 Tiếp cận ban đầu để xây dựng mô hình từ nền tảng kinh tế học tài nguyên
thiên nhiên....................................................................................................... 22
2.4 Lợi ích trong khi giảm thiểu những rủi ro từ vấn đề tiêu thụ các sản phẩm
thủy sản............................................................................................................... 40
3.1 Giới Thiệu................................................................................................... 48
3.2 Đặc điểm tự nhiên........................................................................................ 49
3.2.1 Vị trí địa lý.............................................................................................. 49
3.2.2 Khí hậu và Địa hình................................................................................49
3.3 Điều kiện Kinh tế - Xã hội...........................................................................49
3.3.1 Dân số, lao động.....................................................................................49
3.3.2 Tình hình kinh tế..................................................................................... 50
3.4 Tình hình quản lý, nuôi trồng thủy sản tại khu vực trong những năm vừa qua
............................................................................................................................. 50
3.5 Một số mô hình nuôi trồng thủy sản tại hồ thủy điện...................................53
3.6 Nhận xét và Kết luận...................................................................................54
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH HÓA CÁC TIÊU ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU VỀ THỦY
SẢN VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN....................................................................55
4.1 Giới thiệu..................................................................................................... 55
4.2 Các khía cạnh khác nhau trong việc sử dụng tài nguyên nước ở hồ Núi Cốc
............................................................................................................................. 56
4.2.1 Vai trò chính của hồ Núi Cốc..................................................................56
4.2.2 Sản phẩm từ nuôi trồng thủy sản là sản phẩm thứ cấp............................57
4.2.3 Tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên nước tại khu vực hồ Núi Cốc ........58
Bảng 4.1: Các thông số kỹ thuật hồ Núi Cốc..........................................................59
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp của vùng khi chưa có dự án
62
Bảng 4.3: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp của vùng khi có dự án......62
Bảng 4.4: Bảng tính toán thu nhập từ cấp nước của hồ Núi Cốc............................63
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 7 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
4.3 Công nghệ nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản..................................................66
4.3.1 Công nghệ sản xuất, nuôi trồng thủy sản tại hồ Núi Cốc........................66
Bảng 4.7: Cỡ cá giống loại 30 g/con, mật độ 300 con/ha........................................72
Hình 4.1: Cung, cầu thủy sản cho Thành phố Thái Nguyên trong 1 năm...............84
Hình 4.2: Tác động của gia tăng trong cầu đối với tài nguyên................................85
4.4 Thiết lập bài toán......................................................................................... 85
4.4.1 Mô hình nuôi trồng thủy sản quay vòng đơn..........................................88
4.4.2 Mô hình nuôi trồng thủy sản quay vòng vô hạn......................................90
4.4.3 Bài toán đánh bắt có chọn lọc.................................................................91
4.4.4 Xây dựng bài toán động trong nuôi trồng thủy sản.................................92
4.5 Phân tích động học so sánh..........................................................................92
4.5.1 Thay đổi tỷ lệ lãi suất..............................................................................92
Hình 4.3: Mô tả sự thay đổi tỷ lệ lãi suất................................................................93
4.5.2 Thay đổi chi phí thả giống......................................................................93
Hình 4.4: Sự thay đổi của giá ròng và giá thô.........................................................94
Hình 4.5: Sự thay đổi khối lượng khai thác và thời gian T.....................................95
4.5.3 Thay đổi của giá lúa gạo.........................................................................95
4.6 Nhận xét và Kết luận ..................................................................................96
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................... 97
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 8 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH: Biến đổi khí hậu
CBD: Công ước quốc tế về đa dạng sinh học
CITES: Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã
CHD: Bệnh tim mạch vành
DHA: Docosa Hexaenoic Acid, một acid béo thuộc nhóm omega - 3
EU: European Union (Liên minh Châu Âu)
FAO: Tổ chức lương thực và nông nghiệp của Liên Hợp Quốc
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
MNC: Mực nước chết
MNDBT: Mực nước dâng bình thường
MNL: Mực nước lũ
Nt: Như thế
PH: Độ chua của nước
P: Giá
Q: Sản lượng
Q
D
: Hàm cầu
Q
S
: Hàm cung
SBS: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thường Tín
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
TP: Thành phố
TW: Trung ương
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 9 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
UNDP: Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc
USD: United States dollar (đồng đô la Mỹ)
WHO: Tổ chức y tế thế giới
LỜI MỞ ĐẦU
Tài nguyên thiên nhiên rất phong phú, đa dạng và thậm chí là vô tận, nhưng
nếu không biết sử dụng chúng một cách hợp lý thì đến một lúc nào đó sẽ vượt quá
khả năng tự phục hồi và tái tạo của các nguồn tài nguyên phục hồi và sự cạn kiệt
tăng nhanh của các nguồn tài nguyên không phục hồi. Thực tế đã cho thấy tài
nguyên ngày càng cạn kiệt nhanh chóng bởi sự tiêu thụ quá mức của con người. Vì
vậy, cả toàn cầu giờ đang lo lắng cho sự sống của mình, quan tâm nhiều hơn trước
tiên là tài nguyên cạn kiệt, cần có sự đầu tư phát triển những khám phá, phát minh,
nghiên cứu để duy trì cho loại tài nguyên còn tồn tại lâu dài cùng con người đến
khi nó hết thì con người còn kịp tìm ra năng lượng thay thế. Theo thời gian nhìn
thấy những nguy cơ của tài nguyên cạn kiệt, tài nguyên tái tạo cũng có nguy cơ
cạn kiệt. Đó là các mảng chính về tài nguyên mà các tài liệu về kinh tế tài nguyên
đang quan tâm, và đề cập đến rất nhiều. Chính những tài liệu đó là cơ sở để con
người nhìn nhận sự quan trọng của lĩnh vực này, lĩnh vực Kinh tế tài nguyên.
Là một sinh viên chuyên ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên thuộc khoa
Kinh tế và Quản lý, với tinh thần học hỏi, tiếp cận với các vấn đề của tài nguyên
thiên nhiên bằng một số mô tình toán và đặc biệt là tài nguyên tái tạo, đề tài mà
em thực sự tâm huyết, trong thời gian làm đồ án tốt nghiệp dưới sự hướng dẫn của
Thầy giáo ThS. Đào Văn Khiêm, em đã được phân công làm đồ án tốt nghiệp với
đề tài: “Xây dựng mô hình tối ưu hóa động cho chăn nuôi thủy sản ở hồ Núi
Cốc, tỉnh Thái Nguyên”. Đồ án của em gồm những phần chính sau:
• Chương 1: Tổng quan về kinh tế tài nguyên thiên nhiên
• Chương 2: Các vấn đề được lựa chọn về thủy sản và nuôi trồng thủy sản
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 10 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
• Chương 3: Giới thiệu về khu vực nuôi trồng thủy sản, và tình hình nuôi
trồng thủy sản tại hồ Núi Cốc, Thái Nguyên
• Chương 4: Mô hình hóa các tiêu điểm của nghiên cứu về thủy sản và nuôi
trồng thủy sản
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ TÀI NGUYÊN THIÊN
NHIÊN
1.1 Tổng quan
1.1.1 Giới thiệu
Cuộc sống của con người tồn tại luôn đồng hành cùng môi trường và tài
nguyên thiên nhiên. Là cơ sở nền tảng cho sự tồn tại, phát triển, tiến hóa của loài
người.
Môi trường sống của con người, là tất cả hoàn cảnh bao quanh con người,
có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của con người, đến chất lượng sống của
con người, là không gian sống của con người, là nguồn cung cấp tài nguyên, là nơi
chứa đựng tất cả các phế thải mà con người tạo ra. Con người là sinh vật, nhưng là
sinh vật đặc biệt, do con người có thể chế tạo được các công cụ lao động, nhờ thế
con người tác động vào tự nhiên một cách có ý thức, làm biến đổi tự nhiên ở quy
mô ngày càng lớn và sâu sắc. Ngày nay, hầu như không còn nơi nào trên Trái Đất
không chịu tác động của con người. Chính vì thế, mà đã có 2 loại môi trường xuất
hiện xung quanh cuộc sống của con người. Thứ nhất, là môi trường tự nhiên xuất
hiện trên bề mặt Trái Đất không phụ thuộc vào con người, con người tác động vào
tự nhiên, làm cho nó bị thay đổi, nhưng các thành phần của tự nhiên vẫn phát triển
theo quy luật riêng của nó. Thứ hai, là môi trường nhân tạo là kết quả lao động của
con người, nó tồn tại hoàn toàn phụ thuộc vào con người. Nếu không có bàn tay
chăm sóc của con người, thì các thành phần của môi trường nhân tạo sẽ bị hủy
hoại. Mặc dù môi trường tự nhiên có vai trò quan trọng đối với xã hội loài người,
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 11 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
nhưng nó không có vai trò quyết định đến sự phát triển của xã hội. Sự phát triển
của môi trường tự nhiên bao giờ cũng diễn ra chậm hơn sự phát triển của xã hội
loài người. Nó có sự thay đổi đáng kể phải trải qua thời gian hàng nghìn, hàng vạn
năm thậm chí hàng triệu năm. Vì vậy, nó không thể quyết định sự phát triển của xã
hội. Vai trò quyết định sự phát triển thuộc về phương thức sản xuất, bao gồm cả
sức sản xuất và quan hệ sản xuất. Con người có thể làm nâng cao chất lượng môi
trường hay làm suy thoái chất lượng môi trường. Điều này sẽ có ảnh hưởng sâu
sắc đến sự phát triển của xã hội loài người.
Tài nguyên thiên nhiên là các thành phần của tự nhiên mà ở trình độ nhất
định của sự phát triển lực lượng sản xuất chúng có thể được sử dụng làm phương
tiện sản xuất và làm đối tượng tiêu dùng. Theo thuộc tính tự nhiên tài nguyên thiên
nhiên có thể được chia ra là: Tài nguyên đất, nước, khí hậu, sinh vật, khoáng sản.
Theo công dụng kinh tế: Tài nguyên nông nghiệp, công nghiệp, du lịch… Theo
khả năng có thể bị cạn kiệt trong quá trình sử dụng của con người: Tài nguyên cạn
kiệt, tài nguyên tái tạo, tài nguyên vô hạn.
Môi trường và tài nguyên thiên nhiên thực sự rất quan trọng đối với cuộc
sống của con người. Trong toàn bộ thời gian qua con người đã tác động, sử dụng,
khai thác một cách triệt để mà không quan tâm tới tình trạng của nó ra sao. Chính
vì vậy, môi trường sống ngày càng bị đe dọa nghiêm trọng, ô nhiễm, dịch bệnh, tai
họa cứ bùng phát một cách nhanh chóng. Tài nguyên ngày càng cạn kiệt, sử dụng
không hợp lý, con người đã từng nhầm tưởng rằng tất cả các loại tài nguyên đều là
vô hạn. Và giờ đây, cả xã hội đang nhìn nhận lại những gì mà chính xã hội đã tàn
phá môi trường, tàn phá tài nguyên như thế nào, tìm cách bảo vệ môi trường, bảo
vệ tài nguyên, bảo vệ cuộc sống hiện tại và phát triển bền vững trong tương lai.
Để thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi
trường, bảo vệ sự sống của nhân loài con người đã sử dụng hai khía cạnh đặc
trưng, chủ yếu để nghiên cứu, ứng dụng và thực thi nhiệm vụ này.
 Thứ nhất, Khoa học về tài nguyên và môi trường: Khía cạnh này tập hợp các
phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi
các nguồn lực thành sản phẩm. Phát triển và ứng dụng của các dụng cụ, máy móc,
nguyên liệu và quy trình để giúp đỡ giải quyết những vấn đề của con người. Với tư
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 12 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
cách là hoạt động con người, nó thể hiện kiến thức của con người trong giải quyết
các vấn đề thực tế để tạo ra các dụng cụ, máy móc, nguyên liệu hoặc quy trình tiêu
chuẩn. Việc tiêu chuẩn hóa như vậy rất đặc trưng. Cơ sở của khoa học, kỹ thuật,
công nghệ về quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách
kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và
phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi trường,
các công cụ thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý
môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành
khoa học môi trường. Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm
do hoạt động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng
tránh, ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường
như kỹ thuật viễn thám, tin học được phát triển ở nhiều nước phát triển thế giới.
Nói chung, quản lý môi trường và bảo vệ tài nguyên là cầu nối giữa khoa học môi
trường với hệ thống tự nhiên, con người – xã hội đã được phát triển.
 Thứ hai: Kinh tế - Xã hội: Phát triển kinh tế - xã hội là quan tâm đến các yếu tố xã
hội, nhân văn, các quy luật cộng đồng, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, sự phát triển bền vững, tạo sự chuyển biến mạnh về nhận thức,
hành vi của cả cộng đồng. Tập trung nhiều vào phát triển nguồn nhân lực. Xây
dựng các mô hình bảo vệ tài nguyên và môi trường. Và một trong những đóng góp
cho sự hình thành, phát triển khía cạnh kinh tế - xã hội là lĩnh vực kinh tế môi
trường. Trong lĩnh vực này có sự đóng góp rất nhiều của những chuyên gia, những
nhà kinh tế, quan tâm đến tài nguyên, môi trường, đến sự phát triển của loài người
trong tương lai. Trong đó có công cụ gọi là tối ưu hóa động, dùng phương pháp
toán học để phân tích kinh tế trên quan điểm kinh tế, xét đến cả góc độ phân tích
tĩnh và phân tích động. Phân tích tĩnh không quan tâm nhiều đến yếu tố thời gian
hay bỏ qua yếu tố thời gian còn phân tích động cần phải xem xét những vấn đề mà
yếu tố thời gian đóng vai trò quan trọng. Trong khía cạnh kinh tế - xã hội, đồ án
của em đi sâu vào bài toàn kinh tế tài nguyên môi trường và cũng là chuyên ngành
chính mà em đang theo học ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên, trong đó nghiên
cứu điển hình kinh tế khai thác tài nguyên cạn kiệt và kinh tế khai thác tài nguyên
tái tạo.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 13 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
1.1.2 Kinh tế khai thác tài nguyên cạn kiệt
Tài nguyên cạn kiệt là những loại tài nguyên được hình thành bởi các quá
trình địa chất trong suốt hàng triệu năm, tồn tại những kho tài nguyên cố định, nếu
đã được con người phát hiện và khai thác thì khó có thể tái tạo hay nói cách khác
muốn tái tạo được lại phải mất bằng đó khoảng thời gian hình thành khối lượng tài
nguyên mà con người đã khai thác hết. Các loại tài nguyên cạn kiệt điển hình như
dầu mỏ, than, khoáng sản.
Các tài nguyên cạn kiệt rất đa dạng về thành phần hóa học và vật lý như:
Dầu, khí, uranium, than đá, và một số phần loại khác của mỗi loại này. Có một ưu
điểm đó là các tài nguyên này về khía cạnh nào đó có chung một vai trò, một công
dụng và có thể thay thế cho nhau trong quá trình sử dụng của con người như: Chất
đốt có thể dùng khí gas, dùng dầu, dùng than đá. Một câu hỏi đặt ra là tại sao có
thể thay thế cho nhau, cái này hết có thể dùng đến cái khác để thay thế. Vậy mà,
theo nhu cầu sử dụng của con người, nguồn tài nguyên này ngày càng cạn kiệt,
con người đã không chấp nhận việc sử dụng một cách lần lượt, chờ thời gian để
phục hồi loại này thì vẫn có loại khác để dùng. Con người chọn cách tiêu thụ hết,
theo ý muốn của mình, tiêu dùng một cách thỏa mãn sự phong phú, đa dạng,
không cần quan tâm nó cạn kiệt ra sao, tiết kiệm ra sao, hậu quả ra sao. Để đến khi
nhìn lại đã thấy kho dự trữ tài nguyên cũng đã sắp hết, thậm chí nhiều nơi đã cạn
kiệt hoàn toàn.
Tiêu thụ quá mức tài nguyên cạn kiệt đã gây ra hậu vô cũng nghiêm trọng
đến môi trường sống, đến bầu khí quyển, đến nguồn nước… Điển hình là tình hình
biến đổi khí hậu diễn biến nghiêm trọng, mà hậu quả chủ yếu chính là sự phát thải
khí CO
2
của con người ra ngoài môi trường thông qua tiêu thụ tài nguyên.
Với lượng tài nguyên còn lại, xã hội phải tính toán làm sao cho khoảng thời
gian là tối ưu nhất, tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế, xử lý, cải thiện những
hậu quả đã gây ra cho môi trường. Kéo dài sự tồn tại của tài nguyên, nghiên cứu ra
những quá trình mà con người chưa phát kiến ra được. Còn với những năng lượng
thay thế lại phải tính toán một cách hiệu quả, tối ưu về chi phí sản xuất và hình
thức quản lý. Với những năng lượng sạch sẽ tính toán chi phí tối ưu, còn với năng
lượng như hạt nhân thì lại phải lo quản lý ô nhiễm bên trong nhà máy tránh phát
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 14 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
thải, nguy cơ rủi ro cũng là rất lớn. Cụ thể một số loại năng lượng thay thế mà con
người đã nghiên cứu và thử nghiệm, cùng với những khó khăn khi sử dụng chúng
(theo tạp chí LiveScience bình chọn 10 nghiên cứu khả thi nhất).
Khai thác quang năng tại gia: Hệ thống này sẽ trực tiếp khai thác quang
năng tại chính căn hộ mà chúng ta sinh sống. Nhưng chi phí cho hệ thống cần tới
30.000 USD.
Năng lượng hạt nhân: Hiệu quả mang lại rất cao, nhưng lo ngại nếu nhà
máy điện hạt nhân xảy ra sự cố. Bên cạnh đó, xử lý chất thải phóng xạ cũng là vấn
đề hết sức quan trọng.
Năng lượng mặt trời: Dùng thiết bị thu sáng để đun sôi nước, hơi nước vận
hành turbin để tạo điện. Hoặc có thể thu thẳng ánh sáng mặt trời qua các tế bào
quang năng rồi chuyển dần thành điện năng. Vấn đề là phải có bộ phận dự trữ vào
ban đêm, và năng lượng thu được là rất thấp.
Cánh đồng gió: Loại năng lượng này cũng rất là khả quan, nhưng vấn đề
cần tính toán hợp lý tránh làm tổn hại môi trường sinh thái của các loài chim.
Địa nhiệt: Năng lượng cực lớn trong lòng đất. Để khai thác nguồn địa nhiệt
cần kinh phí đầu tư rất lớn.
Năng lượng từ sóng nước: Lợi dụng dòng chảy của sông, suối, dòng hải lưu
đều có thể xoay turbin để tạo thành điện năng và không tạo ra chất thải làm hại
môi trường. Vấn đề động cơ dùng trong môi trường nước khó đảm bảo, hiện đang
tìm thiết bị bền vững hơn.
Xe chạy bằng điện không thải khí độc hại, nhưng để tìm được khối pin dự
trữ vẫn là thách thức lớn.
Nhiên liệu hydro cho xe hơi: Hydro sẽ phản ứng với oxy để tạo ra điện
năng cung cấp cho máy xe hoạt động. Ống xả của xe không thải ra khí gây ô
nhiễm mà chỉ thải ra nước. Nhược điểm là hydro thường được lấy từ methan trong
tự nhiên và quá trình chiết xuất này lại thải ra một lượng lớn carbon dioxide.
Phong điện tại gia: Với những tháp cao chừng 24 m và đường kính cánh
quạt 3 – 8 m thì những turbin nhỏ với đường kính chỉ 117 cm, sản xuất 400 watt
dùng cho hộ gia đình là điều khá hợp lý. Điều quan tâm là không phải lúc nào các
turbin cũng làm việc một cách hoàn toàn.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 15 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Nhiệt năng chuyển đổi của đại dương: Nước gần bề mặt của đại dương
được sưởi ấm nhờ ánh mặt trời, trong khi ở vùng sâu thì khá lạnh. Như vậy, nếu sử
dụng một loại chất lỏng có độ sôi thấp (như amoniac) cho luân chuyển từ vùng
nước lạnh đến vùng nước ấm, thì có thể tận thu được khoảng chênh lệch tạo điện
năng. Ước tính chỉ cần thu được 1% tổng năng lượng mặt trời trong lòng đại
dương đã đủ cung cấp hơn 20 lần toàn bộ nhu cầu dùng điện của nước Mỹ trong
ngày. Tuy nhiên đòi hỏi thiết bị phức tạp, cồng kềnh và khoản đầu tư rất lớn.
Trước tình hình tìm kiếm nguồn năng lượng mới luôn gặp phải những khó
khăn về công nghệ, về vốn đầu tư, và nguy cơ rủi ro gặp phải. Xã hội vẫn phải tính
toán thời gian tiêu thụ lượng tài nguyên còn lại hợp lý. Khoảng thời gian này có
thể áp dụng theo quy tắc Hotelling (Roger Perman, 2003). như một điều kiện hiệu
quả. Nhưng quy tắc yêu cầu tỷ lệ tăng trưởng của giá tài nguyên phải bằng với tỷ
lệ chiết khấu xã hội không tạo ra đường giá duy nhất. Có rất nhiều đường giá thỏa
mãn quy tắc Hotelling, và do vậy chúng đều là những đường hiệu quả. Nhưng chỉ
có một đường là tối ưu, nên chỉ sử dụng quy tắc Hotelling như một điều kiện cần.
Quy tắc Hotelling cho khoan hút tài nguyên không tái tạo thường được biểu diễn
dưới dạng:
ρ ·
P
P
t
t
.

Hay còn được biểu diễn dưới dạng:
P
P
t
t
ρ
·
.
Lấy tích phân ta được:
e P P
t
t
ρ
0
·
t
P
là giá không được chiết khấu củ a tài nguyên thiên nhiên. Giá chiết khấu có
được bằng cá ch chiết khấu t
P
theo tỷ lệ chiết khấu lợi ích xã hội
ρ
. Ký hiệu giá
tài nguyên chiết khấu là
*
t
P
, chúng ta có:
P e P
P
t
t
t
0
*
·

·
ρ
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 16 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Quy tắc Hotteling phát biểu giá trị chiết khấu của tài nguyên cần phải như nhau tại
tất cả các thời điểm. Đây chỉ là một trường hợp đặc biệt. Trong hình 1.1 với 2
đường giá khác nhau, hai giá khởi đầu khác nhau, tăng theo thời gian với cùng một
tỉ lệ chiết khấu. Nếu giả sử ρ bằng 5% mỗi một trong những đường này và có vô số
những đường giá như vậy đều thỏa mãn quy tắc Hotelling.
Hình 1.1: Hai đường giá mỗi đường đều thỏa mãn quy tắc Hotelling
Đường giá thỏa mãn quy tắc Hotelling đều là những đường giá thỏa mãn
điều kiện cần. Còn điều kiện đủ thì sao, vấn đề đặt ra ở đây là các điều kiện khởi
đầu và cuối cùng cho tài nguyên thiên nhiên cần phải được thỏa mãn. Sẽ có một
kho tài nguyên ở mức khởi đầu nào đó, theo thời gian sử dụng và nền kinh tế tiếp
cận tới cuối kỳ kế hoạch. Nếu giá khởi đầu là “quá thấp”, thì khối lượng sử dụng
tài nguyên là “quá nhiều” trong mỗi giai đoạn, và toàn bộ kho tài nguyên sẽ trở
nên cạn kiệt trong khoảng thời gian ngắn, không thể thỏa mãn khoảng thời gian dự
định của con người, để khám phá ra năng lượng thay thế và sử dụng một cách hiệu
quả, tối ưu. Ngược lại, nếu giá khởi đầu là “quá cao”, khối lượng sử dụng tài
nguyên “quá nhỏ” trong mỗi giai đoạn, và kho tài nguyên sẽ chưa bị cạn kiệt, nó
sẽ còn rất nhiều, thời gian rất dài. Điều này cho thấy con người đang lãng phí tài
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
t
P
t
0
P
A
0
P
B
0
e P P
t B B
t
ρ
0
·
e P P
t A A
t
ρ
0
·
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 17 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
nguyên mà thiên nhiên ban tặng, khó có thể phát triển xã hội khi mà con người
không nhận ra được điều đó. Vì vậy, nhận thấy rằng sẽ có một mức giá khởi đầu
tối ưu, với một khối lượng khai thác tối ưu, dẫn tới một đường giá tối ưu nhất
trong tất cả những đường giá thỏa mãn quy tắc Hotelling. Tóm lại, để có lời giải
cho bài toán tối ưu tạo ra đường giá tối ưu là nhiệm vụ của toàn xã hội trong
những nghiên cứu về giá khởi đầu, khối lượng khoan hút tối ưu.
1.1.3 Kinh tế tài nguyên tái tạo
Tài nguyên tái tạo là tài nguyên có khả năng tái sản xuất và tăng trưởng bởi
các quá trình vật lý, hóa học và sinh học. Các tài nguyên tái tạo rất phong phú. Nó
có thể bao gồm: Sự tăng trưởng của đàn cá hay nói chung là tài nguyên thủy sản,
khu rừng có khả năng tăng trưởng tự nhiên, các hệ thống nước và bầu khí quyển,
những hệ thống được tái sản xuất bởi các quá trình vật lý, hóa học. Và cũng có thể
là độ phì nhiêu có thể tái tạo một cách tự nhiên…
Đối với tài nguyên tái tạo có một điều rất quan trọng phải phân biệt giữa
các kho và luồng của tài nguyên tái tạo. Kho là thước đo lường khối lượng tài
nguyên hiện đang tồn tại tại một thời điểm, được đo hoặc bằng khối lượng tổng
hợp của nguyên liệu sinh học (sinh khối), hoặc theo nghĩa các thành viên của tổng
thể. Luồng là thay đổi của kho trong suốt một khoảng thời gian, trong đó thay đổi
được gây ra bởi các nhân tố sinh học, như “bổ sung” lượng cá mới vào tổng thể
thông qua sinh đẻ hoặc “ra khỏi” do chết tự nhiên, hoặc được gây ra bởi hoạt động
thu hoạch (Roger Perman, 2003).
Có một sự tương tự giữa tài nguyên tái tạo và tài nguyên cạn kiệt là cả hai
đều có khả năng bị cạn kiệt hoàn toàn nếu khối lượng khai thác quá nhiều vượt
quá mức và kéo dài. Đối với tài nguyên cạn kiệt khả năng cạn kiệt là hậu quả của
tính hữu hạn của kho. Còn tài nguyên tái tạo, tuy kho của nó có thể tăng trưởng,
tái sản xuất, nó vẫn có thể tiến dần tới giá trị cuối cùng là bằng không. Lý do, là
bởi vì với các điều kiện hiện hành dân số ngày càng gia tăng, bùng nổ một cách
chóng mặt, cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế đòi hỏi khối lượng tài nguyên
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 18 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
khổng lồ, tất cả đều ảnh hưởng tới năng lực tái sản xuất của tài nguyên tái tạo, tỷ
lệ khai thác tiếp tục vượt quá tăng trưởng tự nhiên ròng.
Không chỉ có sử dụng tài nguyên cạn kiệt là gây ra ô nhiễm, mà việc sử
dụng tài nguyên tái tạo ngày nay cũng gây ra ô nhiễm rất nghiêm trọng. Trong
nông nghiệp, nhu cầu xã hội ngày càng phát triển cao đòi hỏi con người ngày càng
phải sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để tăng năng suất sản lượng sản phẩm.
Những hoạt động nhằm mục đích kinh tế của con người là nguyên nhân cơ bản
làm ô nhiễm môi trường. Việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp nhiều và không
hợp lý đã làm cho môi trường đất ngày càng xấu đi. Sự tích tụ cao các chất độc
hại, các kim loại nặng trong đất sẽ làm tăng khả năng hấp thụ các nguyên tố có hại
cho cây trồng, vật nuôi và gián tiếp gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người.
Việc mở rộng quy mô nuôi trồng thủy sản, cũng gây ra ô nhiễm nghiêm trọng từ
nguồn thức ăn, một phần được hấp thụ vào tăng trưởng và phần còn lại dư thừa sẽ
không được hấp thụ và nguồn phân mà thủy sản thải ra cũng phát tán ra ngoài môi
trường một lượng lớn, phân bố trong nguồn nước và gây ô nhiễm cục bộ. Trong
sản xuất, sử dụng tài nguyên nếu con người có tinh thần trách nhiệm, không vì lợi
ích trước mắt mà không làm cho thiên nhiên nghèo đi, môi trường sống của cả
cộng đồng đã không bị ô nhiễm.
Trong tài nguyên cạn kiệt đường giá thỏa mãn quy tắc Hotelling, đường giá
tối ưu được quan tâm nhiều. Còn với tài nguyên tái tạo sẽ chú ý, dành quan tâm
nhiều đến thu hoạch trạng thái ổn định. Trạng thái ổn định là một trạng thái lý
tưởng, trong một giai đoạn khối lượng kho tài nguyên được thu hoạch bằng với
khối lượng tăng trưởng tự nhiên ròng của tài nguyên. Lý tưởng khi mà trạng thái
này vẫn cố định trong các giai đoạn kế tiếp sau đó. Thu hoạch trong trạng thái này
là trạng thái ổn định, khối lượng được thu hoạch là năng suất ổn định có nghĩa là
hàm tăng trưởng của nó đạt cực đại.
Đa số các tài liệu nghiên cứu kinh tế học tài nguyên tái tạo nói về hai điều:
Thu hoạch các giống loài động vật (săn bắt và đánh cá) và kinh tế học lâm nghiệp.
Nông nghiệp có thể cũng được nghĩ như một ngành của thu hoạch tài nguyên tái
tạo. Nhưng nông nghiệp khác biệt hẳn một cách căn bản so với các dạng khai thác
tài nguyên tái tạo khác ở chỗ các phương tiện môi trường của nó được thiết kế và
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 19 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
kiểm soát, không có đặc thù khó khăn là phải phụ thuộc vào sự tăng trưởng của tự
nhiên. Các phương tiện tăng trưởng được vận hành thông qua sử dụng các đầu vào
như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, nhiệt độ là có thể kiểm soát được, thậm
chí còn có một loạt các nghiên cứu về biến đổi gen. Với kinh tế học lâm nghiệp và
kinh tế học của đàn cá sẽ được trình bày rõ ràng hơn ở các phần sau.
1.2 Tài nguyên tái tạo điển hình
Tài nguyên tái tạo điển hình được miêu tả chủ yếu ở đây là tài nguyên rừng
và tài nguyên cá, hai loại tài nguyên này có những đặc điểm giống và khác nhau
xét về khía cạnh đánh giá toàn diện.
Các khu rừng là đa chức năng khi chúng cung cấp trực tiếp gỗ, gỗ - nhiên
liệu, thực phẩm, nước uống và tưới, các kho tài nguyên gen, và các sản phẩm rừng
khác. Hơn nữa, như các hệ sinh thái, các khu rừng cũng cung cấp vô số dịch vụ, kể
cả loại bỏ ô nhiễm không khí, điều chỉnh chất lượng bầu khí quyển, chu trình dinh
dưỡng, tạo ra thổ nhưỡng, chỗ cư trú cho con người và cuộc sống hoang dã, các
thiết bị giải trí, cảnh đẹp và các tiện nghi khác. Trong khi các đàn cá điển hình chỉ
cung cấp một dịch vụ đơn nhất.
Cũng như tài nguyên rừng đất trồng cây là các tài sản vốn sinh lợi một cách
bẩm sinh, thì nước nuôi cá cũng tương tự như vậy.
Cây cối một cách điển hình thể hiện các độ trễ rất lớn giữa ngày mà tại đó
chúng được trồng và ngày mà chúng đạt được độ trưởng thành về mặt sinh học.
Vòng đời chu kỳ của một cái cây có thể kéo dài hàng chục năm hoặc lâu hơn nữa.
Điều này lâu hơn một cách đáng kể so với đa số các giống loài của cá. Vòng đời
chu kỳ của 1 con cá ít chỉ có thể diễn ra vài tháng và thường lâu hơn là 1 đến 2
năm là thu được sản lượng cá thịt.
Không giống như những đàn cá, thu hoạch cây không liên quan tới thu
hoạch thường kỳ tăng trưởng gia tăng. Các khu rừng, hoặc các bộ phận của các
khu rừng, thường được đốn chặt toàn bộ cùng một lúc. Còn đối với đánh cá
thương mại trong đó cá trưởng thành được đánh bắt trước, để lại những con cá nhỏ
hơn, chưa trưởng thành không bị thu hoạch cho những lần đánh bắt sau. Nếu khai
thác rừng có chọn lọc theo độ lớn của cây như vậy việc khai thác cũng gây khó dễ
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 20 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
về nhiệm vụ vận chuyển, đánh cá thì đơn giản hơn, đánh cá chọn lọc theo mắt
lưới, đánh cá là có thể thỏa mãn nhu cầu của sự đánh bắt.
1.2.1 Tài nguyên rừng
Tài nguyên rừng có thể được chia làm ba loại: Rừng tự nhiên, rừng bán tự
nhiên, rừng trồng. Mỗi loại có một đặc tính, sự khác biệt lớn với các dịch vụ mà
chúng cung cấp. Rừng bán tự nhiên là một dạng lai ghép nên sẽ có chung đặc tính
của rừng tự nhiên và rừng trồng.
Nói đến tài nguyên rừng là nhấn mạng vào gỗ được tạo ra bởi rừng, khoảng
thời gian dài hạn để cây cối có thể đạt được độ chín muồi có nghĩa là tuổi của nó
mà tại đó các cây đừng bị cắt và sau đó lại tiếp tục một vòng đời, một vòng quay
mới cho đến khi được khai thác ở những lần tiếp theo. Tất cả các khu rừng tự
nhiên lẫn rừng trồng cung cấp vô vàn lợi ích từ gỗ và phi gỗ. Các khu rừng tự
nhiên là đa dạng nhất về mặt sinh học và thực hiện dải rộng lớn các dịch vụ sinh
thái, tiện nghi và giá trị kinh tế khác so với rừng trồng.
Rừng là một hệ sinh thái mà quần xã cây rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối
quan hệ tương tác giữa sinh vật với môi trường. Rừng có vai trò rất quan trọng đối
với cuộc sống của con người. Đặc biệt đối với rừng tự nhiên lợi ích của rừng là
khó tính đến và có thể ước lượng chính xác giá trị lợi ích của nó là bao nhiêu tiền
hay vàng: Rừng cung cấp gỗ, củi, điều hòa, tạo ra oxy, điều hòa nước, là nơi cư trú
của động thực vật và tàng trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió
bão, chống xói mòn đất, đảm bảo sự sống, bảo vệ sức khỏe con người… Vì vậy, tỷ
lệ đất có rừng che phủ của một quốc gia là một chỉ tiêu an ninh môi trường quan
trọng. Sự quan hệ của rừng và cuộc sống đã trở thành một mối quan hệ hữu cơ.
Tuy nhiên, ngày nay, nhiều nơi con người đã không bảo vệ được rừng, còn chặt
phá bừa bãi làm cho tài nguyên rừng khó được phục hồi và ngày càng bị cạn kiệt,
nhiều nơi không còn có thể tái sinh, đất trở thành đồi trọc, sa mạc, nước mưa tạo
thành những dòng lũ rửa trôi chất dinh dưỡng, gây lũ lụt, sạt lở cho vùng đồng
bằng gây thiệt hại nhiều về tài sản, tính mạng con người. Vai trò của rừng trong
việc bảo vệ môi trường đang trở thành vấn đề thời sự và thu hút sự quan tâm của
toàn thế giới.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 21 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Sự kiện các cây cối có thể tăng trưởng và tái sản xuất là hoàn toàn có thể.
Nhưng khi có sự tác động vào các khu rừng, sẽ có sự xáo trộn tạo ra những thay
đổi không thuận nghịch. Có điều này khi coi các khu rừng tự nhiên như là tồn tại
những khối lượng cố định nhiều hay ít và một khi “được khai mỏ” sẽ bị mất không
thể đảo nghịch như những khu rừng nguyên sinh ban đầu. Mặc dù cây cối có thể
tiếp tục mọc lên trên những vùng đã từng bị xâm hại, cấu trúc của cái tạo thành
rừng tự nhiên không thể thay thế trừ phi phải có những khoảng thời gian rất dài.
Đối với rừng nhân tạo hay là rừng trồng lợi ích thu được chủ yếu là giá trị
về gỗ. Mô hình rừng trồng này chỉ quan tâm đến địa điểm trồng rừng, những điều
kiện thuận lợi và khó khăn tại khu vực này, chăm sóc, khai thác, vận chuyển có dễ
dàng hay không. Thời gian đốn chặt của khu rừng là bao lâu, và ngay sau đó lập
tức được trồng lại cho chu trình tiếp theo. Rừng tự nhiên một cách điển hình
không được quản lý hoàn toàn, và nơi nào được quản lý, thì mục tiêu hàng đầu
không phải là lấy gỗ, trong khi rừng trồng là các tài nguyên được vận hành vì mục
đích thương mại, được quản lý chủ yếu vì doanh thu gỗ. Trong khi tỷ phần của các
rừng trồng là tương đối nhỏ, nhưng rừng trồng tăng trưởng nhanh, tầm quan trọng
của chúng trong việc cung cấp gỗ thực sự là lớn hơn. Hơn nữa mở rộng rừng trồng
có các tác động quan trọng lên khả năng sẵn có gỗ nhiên liệu, làm giảm áp lực
rừng tự nhiên trong việc cung cấp tài nguyên này.
Khi đã biết tài nguyên rừng được phân bổ một cách không hiệu quả và
được khai thác một cách không bền vững. Cuối cùng, sự tập trung sự chú ý vào
vấn đề này. Nhiều giá trị phi gỗ của tài nguyên rừng được rút ra bởi mọi người
sống không chỉ bên ngoài diện tích rừng mà còn ở bên trong. Tìm hiểu về tài
nguyên rừng cũng cho thấy được có rất nhiều khía cạnh, nhiều mặt của vấn đề tài
nguyên tái tạo. Do đồ án của em không đi sâu và kinh tế lâm nghiệp, nên bài toán
về tài nguyên rừng xin dừng ở đây để tiếp tục nghiên cứu và phân tích, xây dựng
bài toán nuôi trồng thủy sản. Đối với bài toán mô hình tài nguyên rừng nếu có cơ
hội em xin được tập trung vào nghiên cứu ở những đề tài sau.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 22 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
1.2.2 Tài nguyên đàn cá sự thu nhỏ của tài nguyên thủy sản
Tài nguyên đàn cá có thể chia làm hai loại chính là: Đàn cá tự nhiên và đàn
cá nuôi. Trong đó bài toán chính cần quan tâm đó là bài toán về đàn cá nuôi. Từ
hoạt động của con người tác động nhiều lên các tài nguyên sinh học theo vô số
cách thức, tác động trực tiếp lên các giống loài hoặc tổng thể có liên quan bị phụ
thuộc vào nhiều hoặc có quan hệ qua lại với các mục tiêu, tác động tới gián tiếp,
phân bổ rộng rãi hơn lên các hệ thống tài nguyên sinh học, phần lớn gây ra những
đổ vỡ của các hệ sinh thái. Phần lớn của tác động lên các tài nguyên, điển hình là
sinh học của đàn cá được xếp vào dạng giảm sút độ đa dạng sinh học. Chính vì
vậy, các đàn cá tự nhiên, đàn cá biển được khai thác là chủ yếu ngày càng giảm sút
không những về sự đa dạng khía cạnh sinh học mà khối lượng khai thác được ngày
càng khan hiếm, không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ của toàn cầu. Cho nên, bài
toán mới phải được sinh ra để bù đắp phần nào thiệt hại trong quá khứ, bài toán
nuôi trồng thủy sản. Những nỗ lực nuôi trồng thủy sản hiện tại là sự cố gắng
không ngừng để bù đắp phần thiếu hụt lượng tài nguyên còn thiếu, cũng nhu cầu
của con người ngày càng gia tăng. Dân số toàn cầu tăng đến mức chóng mặt, kèm
theo vào đó là sự phát triển nhanh chóng, mà tài nguyên thiên nhiên thì chỉ có ở
mức độ nhất định. Con người không phát kiến ra nhiều giải pháp, nhiều nghiên
cứu thì sẽ không có nhiều cơ hội, thời gian vô hạn để tiếp tục sự sống này nữa.
Để xây dựng được bài toán tốt, tiêu biểu về tài nguyên tái tạo, tài nguyên
thủy sản nói chung và tài nguyên đàn cá nói riêng phải có một góc nhìn toàn diện
về loại tài nguyên này. Vì vậy, trong những phần tiếp theo đồ án của mình em đi
sâu vào tìm hiểu mọi khía cạnh của bài toán thủy sản, đặc biệt là thủy sản nước
ngọt, từ những khó khăn và những thuận lợi cùng với thách thức của thủy sản nói
chung. Qua đó, tạo cơ sở, nền tảng để xây dựng bài toán nuôi trồng thủy sản theo
mô hình tối ưu hóa động có nền tảng từ lĩnh vực kinh tế tài nguyên và môi trường.
1.2.3 Tiếp cận ban đầu để xây dựng mô hình từ nền tảng kinh tế học tài nguyên
thiên nhiên
Kinh tế học tài nguyên và môi trường, đã nghiên cứu xây dựng rất nhiều
mô hình về các loại tài nguyên tối ưu lợi ích sử dụng của các loại tài nguyên, xây
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 23 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
dựng các bài toán, với các điều kiện rằng buộc và đưa ra các lời giải, phân tích kết
quả thu được trên góc độc của nhà kinh tế cho một số loại tài nguyên, trong đó có
cả tài nguyên cạn kiệt và tài nguyên tái tạo.
 Bài toán điển hình cho mô hình tài nguyên cạn kiệt
Bài toán được xây dựng lên là bài toán tối ưu hóa có ràng buộc. Mục tiêu là
tối đa hàm phúc lợi xã hội của nền kinh tế tùy thuộc vào ràng buộc kho – luồng tài
nguyên cạn kiệt hay tài nguyên không tái tạo và đồng nhất thức thu nhập quốc dân.
Viết điều này bằng toán học, do vậy bài toán được trình bày ra sau đây:
Chọn cá c giá trị cho các biến lựa chọn t
C
và t
R
với
∞ · ,..., 0 t
sao cho tối đa
phiếm hàm lợi ích.
Lợi ích là một hàm củ a mức tiêu dùng:
U
t
=U(C
t
)
Hàm mục tiêu cần phải cự c đại là:
dt W
e C U
t
t
t
t
ρ −
∞ ·
·

· ) (
0
tùy thuộc vào các ràng buộc:
R S t
t
− ·
.
và
) , ( ) , (
.
S R C R K
Q
K t t t t t
t
Γ
− − ·
Có hai biến trạng thái trong bài toán này: t
S
, kho tài nguyên tại thời điểm t, và t
K
, kho vốn tại thời điểm t. Gắn với mỗi biến trạng thái này là một giá bóng
ρ
(cho
kho tài nguyên) và
ω
(cho kho vốn). Có hai biến điều khiển trong bài toán này:
t
C
(tiêu dùng) và t
R
(tỷ lệ khoan hút tài nguyên). Đây là hai biến mà giá trị của
chúng được chọn bởi người làm quyết định để hình thành nên đường đi thời gian
làm cực đại hàm mục tiêu.
Lời giải đầy đủ cho bài toán tối ưu hóa có ràng buộc này sử dụng nguyên tắc
cực đại của bài toán điều khiển tối ưu. Khi so sánh bài toán này với mô tả của bài
toán tối ưu cho mô hình đơn giản, một khác biệt đã phát sinh. Phương trình vi phân
cho K

bây giờ bao hàm các chi phí khoan hút như một thành phần bổ sung. Đầu ra
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 24 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
được sản xuất ra thông qua hàm sản xuất
) , ( R K Q
bây giờ cần phải được coi là
đầu ra thô. Cá c chi phí khoan hút gây ra một ảnh hưởng lên đầu ra thô, và đầu ra
ròng (sau khi trừ chi phí khoan hút) là đầu ra thô trừ đi chi phí khoan hút (tức là
Γ − Q
).
Hamilton giá trị-hiện tại là:
) , ( ) , ( ( ( (
) )
S R C R K
Q
R P
C
U H t t t t t
t
t
t
C
t
Γ
+
− − − + ·
ω
Từ điểm này trở đi, chúng ta sẽ bỏ qua cá c chỉ số thời gian cho đơn giản trong việc
ký hiệu trừ phi việc sử dụng này là cần thiết trong một hoàn cảnh đặc biệt. Các điều
kiện cầ n cho tối ưu phúc lợi xã hội bây giờ trở thành bao gồm 4 phương trình sau:
) 4 (
) 2 (
) 1 (
.
.
) 3 (
ω
ω ω
ω
ρω ω
ω ρ
Q
P P
Q
U
K
S
P
R
R
C
− ·
Γ
+ ·
Γ


− ·
·
Các thành phần
) / ( K Q Q
K
∂ ∂ ·
và
R
Q ) / ( R Q ∂ ∂ ·
là các đạo hàm riêng
của đầu ra theo vốn và tài nguyên không tái tạo. Theo cá c thuật ngữ kinh tế, chúng
là cá c sản phẩm cận biên của vốn và tài nguyên một cá ch tương ứng. Cá c chỉ số thời
gian bên dưới được gán vào những sản phẩm cận biên này để làm rõ sự kiện các giá
trị của chúng sẽ thay đổi theo thời gian trong lời giải tối ưu.
Các thành phần
Pt
và t
ω
là cá c mức giá bóng củ a hai đầu vào sản xuất,
tài nguyên thiên nhiên và vốn. Hai biến này có chứa các chỉ số thời gian phía dưới
vì giá bóng sẽ thay đổi theo thời gian. Cá c giá trị lời giải của
Pt
và t
ω
, với
∞ · ,..., 1 , 0 t
xác định các đường đi thời gian tối ưu cho giá của tài nguyên thiên
nhiên và vốn.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 25 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Phân tích những kết quả thu được từ bài toán tối ưu trên. Thứ nhất, cần thiết
phải phân biệt giữa hai loại giá: giá thô và giá ròng. Phân biệt này suy ra từ việc
chúng ta vừa phân biệt giữa đầu ra thô và đầu ra ròng. Hai thước đo giá tài nguyên
này được liên hệ bởi việc giá ròng bằng với giá thô trừ đi chi phí cận biên. Do đó,
phương trình dưới có thể được thấy là:
Γ
− ·
R t
R
t t
Q
P ω ω
(Giá ròng = Giá thô – Chi phí cận biên)
Thành phần R t
Γ ω
là giá trị của chi phí khoan hút cận biên, là tích của tác
động lên đầu ra của thay đổi cận biên trong khoan hút tài nguyên và giá của vốn (là
đại lượng, như chúng ta đã thấy trước đây, cũng là giá trị củ a một đơn vị đầu ra).
Phương trình có thể được giải thích theo cách khác. Tức là , giá trị củ a sản phẩm cận
biên ròng củ a tài nguyên thiên nhiên (
R R
Q Γ −ω ω
, sản phẩm cận biên thô trừ chi
phí khoan hút cận biên) phải bằng với giá trị cận biên (hoặc giá bóng ròng) của một
đơn vị kho tài nguyên thiên nhiên P .
Nếu cá c công ty tối đa-lợi nhuận trong nền kinh tế cạnh tranh khoan hút tài
nguyên, chi phí cận biên này sẽ là chi phí nội củ a công ty và giá thị trường sẽ giống
hệt như giá thô. Lưu ý mức giá ròng (và thô) chỉ bị tác động bởi tác động của tỷ lệ
khoan hút R lên chi phí. Tác động kho không tham gia vào phương trình (2).
Tuy nhiên, tác động kho lên chi phí tham gia vào phương trình( 3) vì tỷ lệ
thay đổi của giá ròng của tài nguyên. Biểu thức này là quy tắ c Hotelling, nhưng bây
giờ được tổng quát hóa để tính tới chi phí khoan hút. Quy tắc Hotelling đã được
biến đổi (phương trình 3) là:
ω ρ
Γ
+ ·
S P P
.
Khi đã biết
ω ρ
Γ
+ ·
S P P
.
là âm (khoan hút tài nguyên sẽ tốn kém hơn khi kho
còn lại nhỏ hơn), khoan hút hiệu quả theo thời gian hàm ý tỷ lệ gia tăng của giá tài
nguyên ròng cần phải thấp hơn ở những nơi mà chi phí khoan hút phụ thuộc vào
kích thước kho tài nguyên. Một lần nữa, chúng ta làm việc với lời giải thích đã được
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 26 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
đưa ra trước đây. Chia phương trình (3) cho giá ròng của tài nguyên, chúng ta nhận
được:
P P
P S
ω
ρ
Γ
− ·
•.
là biểu thức nói rằng, dọ c theo đường giá hiệu quả, tỷ lệ chiết khấu xã hội cần phải
bằng với tỷ lệ giao hoàn từ việc giữ tài nguyên lại (là đại lượng được cho bởi tỷ lệ
tăng giá trị của vốn, cộng với giá trị hiện thời của gia tăng chi phí khoan hút không
phải bỏ ra do không khoan hút thêm một đơn vị của kho,
P
S
/ ω Γ −
).
Vẫn còn một lời giải thích khác có thể cho phương trình 3. Để có được điều này,
đầu tiên hãy sắp xếp lại phương trình để tạo ra công thức:
ω ρ
Γ

·
s
P
P
.
Vế trái của phương trình là chi phí cận biên của việc không khoan hút thêm
một đơn vị tài nguyên; vế phải là lợi ích cận biên từ việc không khoan hút thêm một
đơn vị tài nguyên. Tại một tỷ lệ sử dụng tài nguyên hiệu quả (và tại tỷ lệ sử dụng tài
nguyên tối ưu), chi phí và lợi ích cậ n biên của sử dụng tài nguyên được cân bằng tại
mỗi thời điểm. Lời giải thích này đạt được như thế nào? Đầu tiên hãy nhìn vào vế
trái. Giá ròng củ a tài nguyên P là giá trị nhẽ ra đạt được bởi chủ sở hữu tài nguyên
khi anh ta hoặc chị ta khoan hút và bán tài nguyên ở giai đoạn hiện thời. Với
ρ
là
tỷ lệ chiết khấu lợi ích xã hội,
P ρ
là giao hoàn lợi ích bị từ bỏ do không khoan hút
một đơn vị tài nguyên ngay bây giờ, mà trì hoãn khoan hút này thêm một giai đoạn.
Điều này đôi khi được biết là chi phí giữ lại của kho tài nguyên. Vế phải có chứa hai
thành phần P

là gia tăng giá trị của vốn củ a một đơn vị tài nguyên không bị khoan
hút; thành phần thứ hai
ω
S
Γ −
là giao hoàn dưới dạng trì hoãn gia tăng chi phí nhẽ
ra sẽ xảy ra nếu một đơn vị tài nguyên thêm vào được khoan hút.
Cuối cùng, lưu ý trong khi điều kiện hiệu quả tĩnh (2) chỉ bị ảnh hưởng bởi tỷ
lệ khoan hút hiện thời R , điều kiện hiệu quả động (quy tắ c Hotelling 3) chỉ bị ảnh
hưởng bởi tác động kho lên chi phí.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 27 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Tóm lại, sự hiện hữu củ a chi phí liên quan tới mức khoan hút tài nguyên làm
tăng giá thô của tài nguyên trên mức giá ròng, nhưng không có tác động lên tỷ lệ
tăng trưởng của giá ròng tài nguyên. Lưu ý giá ròng là cái mà chúng ta đã coi là tô
kinh tế thuần túy đôi khi cũng được coi là tiền thuê mỏ. Ngược lại, tác động kích
thước kho tài nguyên tới chi phí khoan hút sẽ làm chậm tỷ lệ tăng trưởng của giá
ròng tài nguyên. Trong đa số tình huống, điều này hàm ý giá ròng tài nguyên ban
đầu phải cao hơn (nhưng cuối cùng thấp hơn) so với khi không có tác động kho này.
Như một kết quả của giá khởi đầu cao hơn, tỷ lệ khoan hút sẽ bị chậm lại trong giai
đoạn đầu củ a khoảng thời gian, và khối lượng của kho tài nguyên sẽ được bảo tồn
(được khoan hút sau này) sẽ lớn hơn.
 Bài toán tối đa lợi ích khai thác đàn cá biển
Mô hình khai thác đàn cá biển trong bài toán này được xây dựng thành mô
hình ngành cá tối đa giá trị hiện thời tổng quát hóa mô hình ngành cá sở hữu-tư
nhân tĩnh. Khi làm như vậy nó hình thành một mô hình có cơ sở lý thuyết đúng đắn
hơn và tạo ra một tập các kết quả phong phú hơn. Thực chất củ a mô hình này là một
ngành cá sở hữu-tư nhân hợp lý sẽ tổ chức hoạt động thu hoạ ch của nó sao cho tối
đa giá trị của ngành. Mô hình ngành cá được phân tích bằng cách sử dụng một
khung tối ưu hóa giữa cá c khoảng thời gian. Khởi đầu sẽ phát triển các kết quả sử
dụng các dạng hàm tổng quát. Tiếp đó các lời giải sẽ đạt được cho cá c hàm đặc biệt
và các giá trị tham số cơ sở được giả thiết. Giả thiết giá thị trường củ a cá là một con
số cố định, được cho một cá ch ngoại sinh. Hơn nữa, thị trường được coi là cạnh
tranh.
Sẽ là thuận tiện nếu coi các mức thu hoạ ch (H) như biến công cụ (kiểm soát).
Để tạo điều kiện thuận lợi cho điều này, chi phí đánh cá được chỉ ra như một hàm số
của khối lượng thu hoạch và kích thước của kho cá. Hơn nữa, chúng ta giả thiết chi
phí phụ thuộc dương vào khối lượng thu hoạ ch và phụ thuộ c âm vào kích thước củ a
kho. Tức là:
C
t
= C(H
t
, S
t
) trong đó C
H
>0, C
S
<0
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 28 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Tổng thể khởi đầu của cá là 0
S
, tăng trưởng tự nhiên của nó được xác định bởi
hàm
) (S G
. Các chủ sở hữu ngành cá lựa chọn một tỷ lệ thu hoạch cho mỗi giai
đoạn trong khoảng thời gian thích hợp (ở đây được lấy là vô hạn) để tối đa giá trị
hiện thời (hoặc củ a cải) của ngành cá , khi đã cho một tỷ lệ lãi suất
i
. Về mặt đại
số, chúng ta biểu diễn điều này là:
Max
dt
e S H C H P
it
t t t




)) , ( (
0
tùy thuộc vào
H S
G
dt
dS
t
t
− ·
) (
và mức kho khởi đầu 0
) 0 ( S S ·
. Các điều kiện cần cho củ a cải tối đa bao gồm:
H
S H
C
P
p
t
t


− ·
) ,
(
(1)
S
C H
C
dS
S dG
p ip
dt
dp
t t
t t
t


+ − ·
) ,
(
) (
(2)
Một điều rất quan trọng là phải phân biệt giữa chữ hoa P và chữ thường
p

trong phương trình (1), và trong nhiều phương trình sau đó . P là giá thị trường
hoặc giá cập cảng của cá; do vậy, nó là khối lượng quan sát được. Khi giá thị trường
được xử lý ở đây như một con số cố định cho trước một cách ngoại sinh, không có
chỉ số thời gian nào được yêu cầu cho
P
. Ngược lại, chữ thường

là giá bóng, là
đại lượng đo lường đóng góp cho củ a cải được thực hiện bởi một đơn vị kho cá tăng
thêm tại tối ưu tối đa củ a cải. Chúng ta gọi nó là giá ròng củ a cá. Hai thuộc tính của
giá ròng này đáng được nhắ c tới. Thứ nhất, một cách điển hình đây là khối lượng
không quan sát được. Thứ hai, giống như tất cả các giá bóng, nó sẽ thay đổi theo
thời gian (trừ phi ngành cá nằm ở cân bằng trạng thái ổn định). Do vậy, nói chung,
cần phải gán nhãn thời gian cho giá ròng này.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 29 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Phương trình (1) xác định giá ròng củ a tài nguyên ( t
p
) như khác biệt giữa
giá thị trường và chi phí cận biên củ a một đơn vị tăng thêm củ a cá thu hoạ ch được.
Phương trình (2) cho thấy hành vi theo thời gian củ a giá ròng, và ẩ n ý xác định ra tỷ
lệ thu hoạch trong mỗi giai đoạn. Phương trình này được giải thích khi đưa bài toán
về cân bằng trạng thái ổn định trong ngành cá tối đa giá trị hiện thời. Trong một
trạng thái ổn định tất cả các biến không thay đổi theo thời gian, do vậy dp/dt=0.
Điều kiện là G(S)=H. Phương trình (2) trở thành có dạng:
S
C H
C
dS
S dG
p ip


+ ·
) ,
(
) (
(3)
Lựa chọn không thu hoạ ch một số cá nào đó tương đương với một đầu tư
vốn. Cá không bị đánh bắt sẽ ở đó trong giai đoạn sau; hơn nữa, tăng trưởng sinh
họ c sẽ có nghĩa là có một gia tăng bổ sung vào kho trong giai đoạn sau (lớn hơn
khối lượng cá được để lại không thu hoạ ch). Điều này rốt cuộ c là nói rằng tài sản
trong trường hợp này là đàn cá là sinh lời. Một quyết định về việ c liệu có trì hoãn
một phần thu hoạch nào đó cho tới giai đoạn tiếp theo hay không được thực hiện
bằng cách so sánh cá c chi phí cận biên và lợi ích cận biên của việc thêm một đơn vị
bổ sung vào kho tài nguyên. Bằ ng cách chọn không thu hoạch một đơn vị gia tăng,
người đánh cá gánh chịu một chi phí cơ hội trong việc giữ cho kho cá không bị thu
hoạch. Việc giữ những đơn vị này hy sinh một giao hoàn sẵn có. Chi phí cận biên
của đầu tư là
ip
. Làm thế nào để đạt được điều này? Việc bán cá thu hoạ ch được sẽ
dẫn tới doanh thu là khối lượng có thể được đầu tư tại tỷ lệ giao hoàn đang thịnh
hành cho vốn
i
. Doanh thu bị từ bỏ bằng với giá ròng của tài nguyên

. Lưu ý đây
thực sự là doanh thu ròng vì
H
C P p − · , trong đó
P
là giá thị trường và
H
C =

là
chi phí cận biên của một đơn vị tài nguyên được thu hoạch. Tuy nhiên, vì chúng ta
đang xem xét một quyết định để trì hoãn doanh thu này một giai đoạn, giá trị hiện
thời của giao hoàn bị hy sinh này là
ip
.
Chủ sở hữu so sánh chi phí cậ n biên này với lợi ích cận biên đạt được bằng
cách đầu tư tài nguyên (không thu hoạch đơn vị gia tăng). Có hai phân loại lợi ích:
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 30 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Như hậu quả của một đơn vị tăng thêm của kho được thêm vào, tổng chi phí thu
hoạch sẽ được làm giảm bởi khối lượng
S C C
S
∂ ∂ · /
(nhận xét rằng 0 / < ∂ ∂ S C ).
Đơn vị tăng thêm củ a kho sẽ tăng trưởng bởi một lượng dS dG/ . Giá trị của tăng
trưởng tăng thêm này là lượng tăng trưởng được tính giá trị tại giá ròng củ a tài
nguyên. Chủ sở hữu tối đa-giá trị-hiện thời sẽ bổ sung cá c đơn vị tài nguyên vào
kho miễn là chi phí cận biên của việc làm như vậy nhỏ hơn lợi ích cận biên. Tức là:
S
C H
C
p
dS
S dG
ip


+ <
) ,
(
) (
(4)
Chia cả hai vế củ a phương trình (2) cho giá ròng
p
, ta nhận được:
p
S
C
dS
S dG
ip


− ·
) (
(5)
Phương trình (5) là một phiên bản (trạng thái ổn định) củ a cái mà đôi khi được gọi
là ‘phương trình căn bản’ của tài nguyên tái tạo. Vế trái là tỷ lệ giao hoàn có thể đạt
được bằng cá ch đầu tư vào cá c tài sả n ở nơi khá c nào đó trong nền kinh tế. Vế phải
là tỷ lệ giao hoàn đạt được tài nguyên tái tạo.
Các mô hình đưa ra đều cho thấy được những lý lẽ thích đáng, tối đa các
phiếm hàm cùng với các điều kiện ràng buộc, bài toán được xây dựng và được giải
ra trên khung mô hình bài toán tối ưu, có sử dụng nguyên lý cực đại. Hai bài toán
tiêu biểu được đưa ra là bài toán khung mô hình tài nguyên cạn kiệt và đàn cá biển.
Đại diện cho hai loại tài nguyên cạn kiệt và tài nguyên tái tạo. Chúng đều có những
khác biệt căn bản với bài toán nuôi trồng thủy sản mà mục tiêu chính là đàn cá nuôi
trong hồ thủy lợi. Đàn cá nuôi là tài nguyên tái tạo nên những đặc điểm của nó cũng
khác hoàn toàn so với tài nguyên cạn kiệt, khác về phiếm hàm và các điều kiện ràng
buộc. Đối với bài toán đàn cá biển, một số chi tiết cũng giống với đàn cá nuôi đó là:
Đều có hàm tăng trưởng sinh học của đàn cá và tỷ lệ tăng trưởng tự nhiên, đến khi
được khai thác là đều chịu sự tác động của con người trong công cuộc khai thác.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 31 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Những đầu ra về sản lượng cá đều được mang ra bán trên thị trường, chế biến, và
tiêu thụ. Có lưu ý khác biệt là nó không thuộc sở hữu của riêng một cá nhân nào,
không mất công thả giống, chăm sóc, nuôi dưỡng, tác động của con người trong quá
trình sinh trưởng của nó, nó thuộc về tự nhiên. Với đàn cá nuôi, từ lúc nhỏ cho đến
khi được thu hoạch đều chịu sự tác động của con người, thả giống, chăm sóc, phòng
trừ dịch bệnh, vệ sinh môi trường chăn thả. Vì vậy, đối với bài toán đàn cá nuôi sẽ
có những khác biệt so với bài toán đàn cá biển.
1.3 Nhận xét và Kết luận
Cơ sở nền tảng kinh tế học tài nguyên và môi trường là một chuyên ngành
đi sâu vào tìm hiểu những vấn đề xung quanh các loại tài nguyên mà chủ yếu ở
đây là hai loại tài nguyên chính tài nguyên cạn kiệt và tài nguyên tái tạo. Những
thể hiện mà những gì kinh tế học tài nguyên và môi trường đạt được thể hiện sự
quan tâm, lo lắng của con người về mối nguy trong tương lai đứng trước tình hình
tài nguyên ngày càng cạn kiệt, dân số gia tăng nhanh hay nói cách khác là bùng nổ
dân số toàn cầu. Có một vấn đề nổi cộm trên thế giới là hầu hết những quốc gia
giàu tài nguyên trên thế giới như khu vực các nước Châu Phi, Trung Đông, và Việt
Nam đất nước chúng ta, đều là những quốc gia giàu về tài nguyên thiên nhiên,
nhưng lại nghèo nàn, chậm về phát triển kinh tế. Lý do chính, là các quốc gia này
đều bị những quốc gia lớn mạnh trên thế giới xâm chiếm, mục đích chủ yếu là vì
tài nguyên. Qua đó cho thấy con người cần tài nguyên đến mức nào, khao khát tài
nguyên dẫn đến chiến tranh bùng nổ, một kết cục thật tồi tệ. Nếu con người không
khám phá ra năng lượng thay thế trong tương lai thì có thể trái đất này sẽ dần suy
vong vì tài nguyên. Nhìn thấy cục diện trước mắt của toàn cầu, sự tranh chấp gay
gắt, các nhà kinh tế cũng phải đau đầu khi tìm kiếm mọi giải pháp. Vì vậy, quan
tâm về an ninh lương thực ngay từ bây giờ, sử dụng hợp lý đồng thời duy trì, nuôi
dưỡng các loại tài nguyên, thực phẩm thiết yếu cho con người. Đặc biệt là mặt
hàng thủy sản hiện nay được coi là mặt hàng tiêu thụ thiết yếu, có giá trị xóa đói
giảm nghèo, an ninh lương thực cao. Phát triển nuôi trồng thủy sản, không có
nghĩa là phải gia sức nuôi trồng, bỏ ra thật nhiều chi phí để nuôi, mà đồng thời
phải tính toán sao cho hiệu quả cân đối các loại chi phí trong quá trình nuôi trồng.
Xây dựng mô hình nuôi trồng cũng phải làm như vậy, lựa chọn các tham số, các
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 32 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
ràng buộc cũng phải phù hợp với hoàn cảnh nuôi trồng và chi phí của nhà đầu tư.
Có như vậy, mỗi dự án mới thật sự cho thấy hiệu quả của nó.
CHƯƠNG 2: CÁC VẤN ĐỀ ĐƯỢC LỰA CHỌN VỀ THỦY SẢN VÀ NUÔI
TRỒNG THỦY SẢN
2.1 Giới thiệu
Thủy sản đóng vai trò cung cấp nguồn protein lớn trong thực phẩm của con
người và một số loài động vật khác, đặc biệt là protein từ cá là chủ yếu đối với con
người. Hiện nay, thị trường thủy sản đang trở thành một thị trường lớn mạnh trên
toàn thế giới, tầm quan trọng của nó không chỉ ở việc cung cấp thực phẩm thiết
yếu và các sản phẩm tiêu dùng cho toàn cầu mà nó còn là sinh kế của các công ty,
doanh nghiệp và cả những nông dân sống phụ thuộc vào nó. Vì vậy, khi nghiên
cứu các vấn đề được lựa chọn về thủy sản và nuôi trồng thủy sản đề tài đã chọn lọc
ra một số vấn đề là trọng điểm như: Nguồn giống cung cấp, an toàn sinh học trong
nuôi trồng thủy sản, nguồn thức ăn: Lợi ích trong khi giảm thiểu những rủi ro, chế
biến và tiêu thụ thủy sản, vấn đề biến đổi khí hậu tác động tới nuôi trồng thủy sản.
Đây là những vấn đề liên quan thiết yếu từ yếu tố đầu vào đến yếu tố đầu ra.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 33 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Hình 2.1: Quá trình từ yếu tố đầu vào tới yếu tố đầu ra của nuôi trồng thủy
sản quy mô công nghiệp
Làm sao để cân bằng và tối ưu hai yếu tố trên là một bài toán khó đặt ra cho
tất cả các bên liên quan. Chính vì thế, những giải pháp, những quan điểm, định
hướng cần được đưa ra để tối ưu bài toán thủy sản.
2.2 Nguồn giống
2.2.1 Tình hình nguồn giống thủy sản
Thủy sản là mặt hàng thực phẩm tiêu thụ mạnh. Theo số liệu của FAO từ
nay đến năm 2015, tiêu thụ thủy sản tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng
trưởng khoảng 0,8%/năm, tổng nhu cầu thủy sản và các sản phẩm thủy sản sẽ tăng
khoảng 2,1%/năm. Như vậy có thể thấy nhu cầu thủy sản ngày càng tăng là một
điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thủy sản thế giới nói chung và doanh
nghiệp thủy sản Việt Nam nói riêng tiếp tục đẩy mạnh.
Nhu cầu ngày càng tăng cao nhưng nguồn cung lại gặp phải những khó
khăn. Thực tế cho thấy ngành thủy sản Nhật Bản bị đe dọa sau thảm họa kép động
đất, sóng thần. Còn Việt Nam và Thái Lan thiệt hại nặng nề do lũ lụt và dịch bệnh,
theo dự báo của một số chuyên gia trong năm 2012, nguồn cung thủy sản thế giới
có khả năng tiếp tục thiếu.
Khó khăn đầu tiên mà nguồn cung thủy sản gặp phải đó là vấn đề con
giống, trước những thảm họa trên, việc sản xuất con giống cũng gặp phải những
bất lợi không thể tránh khỏi. Thêm vào đó, trong quá trình sản xuất con giống từ
giai đoạn còn trong trứng đến giai đoạn cá giống đã tiêu hao đi một tỷ lệ đáng kể,
ví dụ như tỷ lệ tiêu hao cá tra từ trứng đến cá giống đã tiêu hao đi chỉ còn khoảng
40 – 50% (SBS). Tỷ lệ tiêu hao như vậy đã tiêu tốn rất nhiều chi phí và công sức
thêm vào đó là rủi ro không đáng có của nhiên nhiên, cộng thêm vào đó là tác
động của con người. Điều này sẽ gây khó khăn cho nguồn cung giống thủy sản thế
giới.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 34 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Với tình Việt Nam mặc dù đã hơn 10 năm phát triển ngành thủy sản và thị
trường thủy sản Việt Nam đã có tiếng trên tầm thế giới. Nhưng đối với vấn đề
nguồn giống thủy sản vẫn chưa được chú trọng đầu tư, khả năng chủ động và kiểm
soát chất lượng còn thấp. Một số loài còn phải nhập khẩu từ nước ngoài. Tổng
năng lực cung cấp con giống hiện tại chỉ đáp ứng từ 50 – 80% nhu cầu. Nguyên
nhân chủ yếu với thị trường con giống thủy sản Việt Nam là do chất lượng giống
không đảm bảo, kéo theo tỷ lệ tiêu hao khá lớn. Sự khan hiếm con giống bố mẹ ở
cả hai nguồn đánh bắt tự nhiên và sinh sản nhân tạo so với nhu cầu thị trường kéo
theo tình trạng nhiều trại giống sử dụng các hóa chất kích thích đẩy nhanh thời
gian thành thục và tần suất sinh sản. Điều này làm con giống nhanh chóng bị thoái
hóa, tỷ lệ nuôi bị nhiễm cao. Hoạt động kiểm dịch còn bất cập. Các cơ quan cũng
đã ra tay lập đoàn kiểm tra nhưng do quá trình mất nhiều thời gian và không đem
lại hiệu quả, nên nhiều trại giống không đảm bảo chất lượng vẫn tiếp tục phát
triển. Với một số dự án lớn có kế hoạch chi tiết và được trình bày cụ thể, được
thông qua sẽ được lấy giống từ trại giống quốc gia, về lâu dài mô hình này sẽ được
phát triển. Tuy nhiên, trong ngắn hạn rủi ro về con giống vẫn ở mức cao.
2.2.2 Giải pháp về sản xuất con giống
Giải quyết vấn đề con giống không tốt thì nuôi trồng thủy sản không thể
thành công, ngoài việc đảm bảo chất lượng con giống không những đạt tiêu chuẩn
ở hiện tại mà tương lai chất lượng giống cũng phải được đảm bảo, duy trì trong
ngắn hạn và phát triển trong dài hạn.
Trên thực tế, cũng như đã nói ở phần trên là đã có một số dự án với kế hoạch quy
mô, nguồn giống được lấy trực tiếp từ trại giống quốc gia. Nhưng số lượng chỉ ở
mức nhất định, chỉ tập trung ở những điểm xung quanh vì việc vận chuyển con
giống cũng gặp rất nhiều bất cập.
Mỗi khu nuôi trồng thủy sản ở quy mô mẹ nên tự thành lập trại giống, đầu
tư thuê các chuyên gia hàng đầu có kinh nghiệm, và có thể học hỏi ở nhiều các trại
giống khác để có thể tự sản xuất giống, làm như vậy sẽ giảm được chi phí vận
chuyển, giảm hao hụt trong quá trình vận chuyển và đảm bảo chất lượng giống tốt.
Nếu có rủi ro xảy ra có thể giải quyết được ngay, và tìm hiểu nguyên nhân cũng dễ
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 35 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
dàng hơn. Trong quá trình nghiên cứu đưa vào sản xuất cần phải có những thử
nghiệm phụ thuộc vào điều kiện từng khu vực, sao cho phù hợp với loài con
giống, kích cỡ.
Với nguồn giống tự nhiên cần phải có những biện pháp đánh bắt phù hợp,
ngăn cấm đánh bắt bừa bãi. Đánh bắt theo mùa vụ của loài tại khu vực. Ngăn cấm
những trại giống tự phát, với chất lượng giống không đảm bảo, sản xuất con giống
kém chất lượng trong thời gian ngắn chỉ vì mục đích lợi nhuận mà không lường
được kết quả về sau.
Việc sản xuất con giống ngoài việc phải đảm bảo yếu tố chất lượng còn
phải đảm bảo chi phí sản xuất tối ưu cho người tham gia nuôi trồng. Vì vậy, các cơ
quan, chính quyền cần phải có những chiến lược, quản lý phù hợp, kế hoạch cụ
thể, nên tham khảo những mô hình đã thành công tương tự để học hỏi và định
hướng bước đi cho mình.
2.3 Duy trì an toàn sinh học trong nuôi trồng thủy sản
2.3.1 Những rủi ro trong an toàn sinh học
Trong khi nuôi trồng thủy sản đóng vai trò quan trọng cung cấp, cứu trợ cho
an ninh lương thực thế giới với tình hình dân số thế giới ngày càng tăng. Một vấn đề
khó đó là cùng với sự tăng dân số mà ngành thủy sản phải đáp ứng đủ, thì thêm vào
đó một cuộc xung đột lại diễn ra giữa môi trường và lợi ích. Môi trường sống của
thủy sản bị đe dọa bởi những người sử dụng nước. Vì vậy, cần phải có một cấu trúc
tốt, được sử dụng rộng rãi để giảm nhẹ cuộc xung đột gay gắt đó và chương trình an
toàn sinh học được áp dụng.
Như đã biết thủy sản mang lại rất nhiều lợi ích, nhiều mô hình nuôi trồng
thủy sản thành công mang lại nhiều lợi nhuận, và điều này đã thúc đẩy sự mở rộng
nuôi trồng thủy sản về diện tích và phạm vi địa lý. Nuôi trồng thủy sản cần phải có
phương pháp thích hợp, cần được tìm hiểu kĩ lưỡng, thực hiện một cách đồng nhất,
nếu thực hiện một cách lộn xộn phong trào nuôi trồng thủy sản có thể là một trong
nhiều lý do là nguồn gốc của các mối đe dọa sinh học đến môi trường sống của con
người và hệ sinh thái, tăng sự nguy hiểm sinh học sẽ có nguy cơ để lại hậu quả
nghiêm trọng. Một trong số mối nguy hiểm đó là bệnh truyền nhiễm, sâu bệnh, biến
đổi gen và các rủi ro an toàn sinh học được gây ra bởi biển đổi khí hậu.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 36 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Các mối nguy hiểm có thể bắt đầu từ rất nhiều nguyên nhân, và một trong
những nguyên nhân chính là:
 Thứ nhất, việc vận chuyển thủy sản xuyên biên giới, dịch bệnh bùng phát tại một
khu vực thông qua công tác vận chuyển sẽ làm lây lan sang nhiều khu vực khác.
Những dịch bệnh dễ lây lan và lây lan rất nhanh gây ra thiệt hại nghiêm trọng. Hậu
quả như vậy làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của ngành thủy sản ngoài ra
nó còn tác động xấu đến một số ngành liên quan như: y tế, giao thông, tài chính…
 Thứ hai, việc sử dụng các sản phẩm thuốc thú ý được sử dụng trong quá trình sản
xuất và chế biến để điều trị hoặc ngăn ngừa bệnh, khôi phục, sửa chữa hoặc sửa đổi
các chức năng sinh lý của thủy sản. Nhìn chung, thuốc thú y có tác dụng làm tăng
hiệu quả sản xuất trong nuôi trồng thủy sản công nghiệp, với những hiểu biết tốt
hơn về quản lý sức khỏe và an toàn sinh học ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản.
Những lợi ích được công nhận từ thuốc thú ý là không thể phủ nhận vào quá trình
phát triển của ngành thủy sản. Tuy nhiên, có vài mối quan tâm ngày càng tăng về
sản phẩm thuốc thú y, những hạn chế và tác hại tiềm năng có thể gây ra trong quá
trình sử dụng. Đây là những liên quan đến kháng vi khuẩn, dư lượng chất kháng
sinh trong mô của các sản phẩm thực phẩm, chi phí khắc phục tác động ngoài ý
muốn, và độ tin cậy hiệu quả của chúng trong môi trường thủy sản là khác nhau.
Cùng với đó là việc sử dụng rộng rãi, vô trách nhiệm của con người, lạm dụng và
chuẩn đoán không chính xác. Thực tế này cũng cho thấy rằng, vẫn không có sản
phẩm đủ mức độ được phê duyệt cho một phạm vi của các loài và dịch bệch trong
nuôi trồng thủy sản.
 Thứ ba, cuộc xâm lăng sinh học, đây là một thuật ngữ rộng có liên quan tới sự hỗ
trợ giới thiệu của con người và làm mở rộng phạm vi tài nguyên, đây cũng là một
trong số những nguyên nhân chính gây mất đa dạng sinh học toàn cầu. Một ví dụ
điển hình là ốc bươu vàng, nó đã trở thành một loại sâu hại trong ruộng lúa và hệ
sinh thái bản địa ở các nước châu Á. Nuôi trồng thủy sản có thể là một rủi ro từ các
cuộc xâm lăng sinh học trong một số khía cạnh khác nhau, đưa vào vùng canh tác
những loài không rõ nguồn gốc, và phạm vi sinh học của chúng. Đây có thể có ảnh
hưởng xấu đến đa dạng sinh học, bao gồm cả sự suy giảm hoặc loại bỏ các loài bản
địa thông qua cạnh tranh, ăn thịt, hoặc truyền các mầm bệnh và sự gián đoạn hệ sinh
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 37 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
thái địa phương và các chức năng hệ sinh thái. Cũng là một ví dụ điển hình như loài
ốc bươu vàng là loài tảo độc hại trong nước đã có một ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt
động nuôi trồng thủy sản, khiến các trang trại phải đóng cửa trong quá trình nở hoa
của tảo. Chính vì vậy, quyết định khi du nhập hay vận chuyển sinh vật lạ từ khu vực
này đến khu vực khác phải có một hiểu biết sâu sắc và sự chuẩn bị khảo sát ban đầu
là phải có, làm sao giảm rủi ro sinh học ở mức tối thiểu.
 Thứ tư, biến đổi khí hậu ảnh hưởng đến an toàn sinh học. Thật vậy, với tình trạng
mực nước biển dâng thực sự ảnh hưởng rất nhiều đến hệ thống nuôi trồng thủy sản
ven sông, ven biển, những người nông dân tại những khu vực này sẽ phải chịu sự
tổn thương đầu tiên. Tỷ lệ dâng bão, các sự kiện thời tiết khắc nghiệt dẫn đến ngập
lụt, hạn hán và nhiễu loạn như nhiệt độ tăng lên, băng tan là mối đe dọa tiềm tàng.
Đánh giá về tác động biến đổi khí hậu nói chung đều đồng tình rằng sự nóng lên
toàn cầu có thể tăng phạm vi của sâu hại và tác nhân gây bệnh, hoặc tăng cường sự
xuất hiện của động vật lạ. Gia tăng trong phạm vi của bệnh sẽ lớn hơn dẫn tới
những rủi ro sinh thái khó chống đỡ.
Số lượng ngày càng gia tăng, phức tạp và mức độ nghiêm trọng của những
rủi ro này đã thúc đẩy sự phát triển các khái niệm về an toàn sinh học và ứng dụng
của nó ngày càng tăng. Các chiến lược để quản lý an toàn sinh học, rủi ro môi
trường và xã hội nếu được thực hiện tốt hơn sẽ thúc đẩy tăng trưởng bền vững của
vấn đề nuôi trồng thủy sản.
An toàn sinh học có thể được hiểu là việc quản lý các rủi ro sinh học trong
một tổng thể và có hệ thống, là cách để bảo vệ sức khỏe của động vật, thực vật và
con người, duy trì các chức năng và dịch vụ của hệ sinh thái. Thông qua hệ tổng thể
và phương pháp tiếp cận toàn diện, an toàn sinh học có thể bảo vệ động vật và sức
khỏe con người, bảo vệ đa dạng sinh học, thúc đẩy môi trường bền vững, đảm bảo
an toàn thực phẩm. Nó có thể kích thích gia tăng cung cấp thị trường và đầu tư tư
nhân bằng cách tạo điều kiện cho nông dân sản xuất các sản phẩm lành mạnh có thể
cạnh tranh trên thị trường. Nó làm cho mọi người liên quan có trách nhiệm. Thông
qua an toàn sinh học, quốc gia có thể phát triển nhiều hơn thức ăn một cách hiệu
quả, tăng thu nhập của họ và do đó, cải thiện khả năng phục hồi của họ, làm giảm
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 38 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
tính dễ tổn thương và tăng cường khả năng đối ứng với tác động của giá lương thực
cao hơn và các mối đe dọa an ninh lương thực.
2.3.2 Giải pháp giảm rủi ro về an toàn sinh học
Trước tình hình rủi ro về an toàn sinh học cả thế giới đã lên tiếng đưa ra
Công ước về đa dạng sinh học (CBD); Công ước về buôn bán quốc tế các loài
động vật, thực vật hoang dã (CITES); Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
(UNDP), chính phủ thành viên và ngành công nghiệp vận chuyển nhằm mục đích
hỗ trợ các quốc gia dễ bị tổn thương và phát triển khu vực thực hiện cơ chế bền
vững.
Giảm rủi ro an toàn sinh học thực sự cần được quan tâm chú trọng hàng đầu
trong ngành thủy sản để tránh những hậu quả xấu ở hiện tại và tương lai. Việc
nghiên cứu lựa chọn các chính sách bao gồm các khuôn khổ pháp lý và quá trình
thực hiện. Ngành thủy sản đã sinh ra một tập hợp đa dạng của các khuôn khổ pháp
lý quốc tế, khu vực, quốc gia và địa phương. Một số điều ước quốc tế, tổ chức,
chương trình còn lỏng lẻo trong quá trình thực hiện khung an toàn sinh học, phản
ánh lịch sử cách tiếp cận quy định trong lĩnh vực này. Hành động trước mắt có thể
bao gồm: Xác định một cơ quan có thẩm quyền và cơ quan giám sát, đồng ý về
trách nhiệm phối hợp liên ngành; một yếu tố an toàn sinh học của quốc gia nuôi
trồng thủy sản các chương trình phát triển; thành lập quá trình điều tiết và cơ sở hạ
tầng thích hợp để thi hành chúng và tăng cường tuân thủ các điều ước quốc tế, khu
vực, các công cụ thực hiện phải thông qua các chiến lược quốc gia và chính sách
quốc gia.
Để tiếp cận về an toàn sinh học cần phải phân tích rủi ro. Thiết lập một công
cụ quản lý hiệu quả, mặc dù thông tin hạn chế, nó có thể cung cấp một sự cân bằng
giữa môi trường cạnh tranh và lợi ích kinh tế - xã hội. Ứng dụng của nó có thể cải
thiện khả năng nuôi trồng thủy sản quản lý trong việc xác định rủi ro và quyết định
giảm thiểu hoặc quản lý chiến lược xử lý rủi ro. Tuy nhiên, công cụ này cần được
nghiên cứu, cơ sở dữ liệu và các nguồn quan trọng khác, tìm kiếm thông tin và kiến
thức để nó có hiệu quả có thể hỗ trợ đánh giá an toàn sinh học giám sát, chẩn đoán,
cảnh báo sớm, khẩn cấp chuẩn bị và dự phòng lập kế hoạch. Đây là việc làm thực
sự cần thiết để xác định, hiểu và phân tích rủi ro, mô tả các bước quan trọng dẫn đến
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 39 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
việc giới thiệu và xây dựng các biện pháp giảm thiểu rủi ro hiệu quả. Ngoài ra,
thông tin từ việc phân tích rủi ro và lựa chọn để giảm thiểu rủi ro được truyền đạt rõ
ràng, cẩn thận, và nhanh chóng. Xây dựng năng lực đối phó với rủi ro an toàn sinh
học là một trách nhiệm phổ biến mà cần được chia sẻ giữa cơ quan liên quan và các
bên liên quan dọc theo chuỗi giá trị nuôi trồng thủy sản. Vì vậy, xây dựng năng lực
trong phân tích rủi ro và quản lý cần được thích nghi ở mọi cấp độ, sự giám sát của
các cơ quan, khu vực công và tư nhân là một phần của tổng thể chương trình. Nông
dân nuôi cá cần có những thông tin đáng tin cậy, kịp thời và công cụ hiệu quả. Hoạt
động của các cơ quan giám sát để đáp ứng hiệu quả trường hợp khẩn cấp an toàn
sinh học cần được duy trì. Đầu tư xây dựng năng lực thiết kế và thực hiện chương
trình giám sát và chuẩn bị đối phó với các trường hợp khẩn cấp. Nó sẽ ít tốn kém để
phát hiện, xác định ngăn chặn sự xuất hiện hay lan truyền của dịch bệnh và sâu
bệnh. Chi phí ít hơn và giảm thiểu sự tổn thương cho con người.
2.3.3 Triển vọng về giảm thiểu rủi ro trong tương lai
Cuộc khủng hoảng giá lương thực toàn cầu gần đây đã gây áp lực trên cả hai
chính phủ và cộng đồng quốc tế, để đảm bảo cung cấp đầy đủ thức ăn cho dân số
ngày càng gia tăng. Nhiều thách thức phía trước trong điều kiện toàn cầu hóa
thương mại tiếp tục tăng cường và đa dạng hóa các hoạt động canh tác, tiếp tục tiến
bộ trong đổi mới công nghệ sản xuất thực phẩm, thay đổi hành vi của con người và
hệ sinh thái, nâng cao nhận thức cho bảo vệ đa dạng sinh học cao, nhu cầu lớn hơn
về y tế công cộng và bảo vệ môi trường và mối quan tâm ngày càng tăng và tác
động của biến đổi khí hậu. Những thách thức này sẽ dẫn đến sự chú ý lớn hơn và
cam kết về cải thiện an toàn sinh học và ứng dụng rộng lớn hơn của phân tích rủi ro
và quản lý thích ứng các công cụ ra quyết định là có giá trị. Trong trường hợp
không thích hợp và thực hiện hiệu quả các biện pháp an toàn sinh học, rủi ro từ sinh
học mối nguy hiểm sẽ tiếp tục đe dọa khu vực nuôi trồng thủy sản, gây thiệt hại và
yêu cầu nhiều nguồn lực để giảm thiểu chúng. Việc sử dụng, ứng dụng hiệu quả của
phân tích rủi ro sẽ yêu cầu cho phép cấu trúc và cơ chế, chẳng hạn như quy hoạch
xây dựng năng lực hiệu quả và quản lý nhà nước, tổ chức phối hợp tốt hơn, một
chương trình để giải quyết các vấn đề liên kết với toàn cầu hóa và thương mại, một
chương trình để quản lý việc sử dụng các giới hạn tài nguyên thiên nhiên và một
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 40 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
chiến lược cấp quốc gia để đối phó với xã hội và sinh học tác động của biến đổi khí
hậu
2.4 Lợi ích trong khi giảm thiểu những rủi ro từ vấn đề tiêu thụ các sản phẩm
thủy sản
2.4.1 Vấn đề
Trong khi việc tiêu thụ thủy sản cũng đã thành lập các lợi ích dinh dưỡng và
sức khỏe, một số loài cá có thể gây hại khi chúng tích lũy chất gây ô nhiễm. Câu hỏi
đặt ra là làm thế nào để tối đa hóa những hậu quả tích cực tiêu thụ thủy sản trong
khi giảm thiểu đồng thời hậu quả tiêu cực. Những rủi ro của các loài thực phẩm tiêu
thụ có khả năng bị ô nhiễm có truyền thống nhận được sự chú ý lớn hơn. Tuy nhiên,
bây giờ cần tập trung vào những rủi ro của một số loại thực phẩm không tiêu thụ, và
trong số các sản phẩm đó, có những thành phần nào mang lại lợi ích tiềm năng.
Trong cá có rất nhiều lợi ích về dinh dưỡng, tiêu thụ cá giúp ngăn ngừa các bệnh về
tim mạch, làm tăng lượng DHA và i-ốt cần thiết cho sự phát triển sớm của não và
hệ thần kinh. Những chất dinh dưỡng gần như độc quyền tìm thấy trong thực phẩm
từ thủy sản. Vai trò của cá trong giảm thiểu các rối loạn tâm thần, như trầm cảm và
sa sút trí tuệ, cũng nhận được sự quan tâm ngày càng gia tăng từ các nhà khoa học.
Tuy nhiên, sự hiện diện của chất gây ô nhiễm trong một số sản phẩm cá và các thực
phẩm là mối quan tâm ngày càng tăng cho người tiêu dùng. Nói chung, người ta tin
rằng mức độ chất gây ô nhiễm trong thủy sản dưới mức tối đa cho lượng an toàn.
Tuy nhiên, lượng cá đánh bắt ở vùng nước ô nhiễm là lớn, các loài cá ăn thịt sống
lâu, mức độ chất gây ô nhiễm có thể vượt quá mức được coi là an toàn cho tiêu
dùng. Các loài mà ăn phải thủy ngân có thể có một tác động tiêu cực đến phát triển
hệ thống thần kinh của trẻ em và một số loài cá có thể là nguồn chính tích lũy thủy
ngân. Cá cũng có thể là một nguồn dioxin trong cá nhân tiêu thụ ít hay nhiều cá. Vì
vậy, việc giảm thiểu tiêu thụ cá có thể giảm tiếp xúc với thủy ngân trong khẩu phần
ăn của con người, nhưng tiếp xúc với dioxin có thể sẽ là tương tự cho các cá nhân
ngay cả khi họ làm giảm lượng tiêu thụ cá đáng kể.
Hiện nay, các cơ quan y tế công cộng thường xuyên tổ chức tư vấn về hạn
chế tiêu thụ cá cho các nhóm dễ bị tổn thương như trẻ em và phụ nữ mang thai.
Trong khi mục đích chỉ là hạn chế tiêu thụ các sản phẩm có mức độ cao các chất
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 41 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
gây ô nhiễm, kết quả đạt được trong một số trường hợp đã giảm được đáng kể việc
tiêu thụ. Tuy nhiên, giảm tiêu thụ thủy sản lại có thể dẫn đến một chế độ ăn uống
không đảm bảo một lượng chất dinh dưỡng thiết yếu. Cả trẻ em và người lớn đều có
nguy cơ này. Vì vậy, cần có một chiến lược làm sao cân bằng được hai vấn đề trên
là giảm bớt sự tiếp xúc với các sản phẩm cá chứa chất độc hại đồng thời thúc đẩy
các sản phẩm thủy sản an toàn.
2.4.2 Giải pháp
Giải quyết vấn đề cân bằng giữa hai bên tiêu cực và tích cực của việc tiêu thụ
thủy sản có giá trị dinh dưỡng cao nhưng đó cũng là một nguồn chất gây ô nhiễm
quả thực là một bài toán khó đối với các nhà nghiên cứu và các bên liên quan cũng
như mối quan tâm chung của toàn xã hội đến vấn đề sức khỏe của mình, vấn đề
phức tạp đòi hỏi nhiệm vụ: đánh giá những rủi ro sức khỏe liên quan với việc tiêu
thụ sản phẩm thủy sản, đánh giá những lợi ích sức khỏe liên quan với tiêu thụ sản
phẩm thủy sản, so sánh những rủi ro và lợi ích của sức khỏe. Các nghiên cứu đều cố
gắng hết sức để cân bằng hai vấn đề trên. Trước tình hình này FAO và WHO cũng
lên tiếng tổ chức một cuộc hội thảo tham khảo ý kiến chuyên gia. Các chuyên gia tư
vấn về rủi ro và lợi ích của tiêu thụ cá đã được tổ chức vào ngày 25 đến 29 tháng 1
năm 2010 tại Trụ sở chính của FAO, Roma, Italy (FAO, 2010) họ đã cùng thảo luận
về vấn đề bất cập trên. Họ đồng ý rằng tiêu thụ cung cấp năng lượng, protein và một
loạt các chất dinh dưỡng cần thiết, và ăn cá là một phần của truyền thống văn hóa
của nhiều dân tộc. Trong một số quần thể, cá và các sản phẩm thủy sản là một
nguồn chính thực phẩm và chất dinh dưỡng cần thiết, và có thể không có thực phẩm
thay thế và giá cả phải chăng cho các chất dinh dưỡng đó.
Để giảm thiểu rủi ro, các chuyên gia tư vấn khuyến nghị cần phải có mô hình
chế độ ăn uống lành mạnh bao gồm cá được thành lập sớm trong cuộc sống ảnh
hưởng của chế độ ăn uống thói quen và sức khỏe trong cuộc sống của người lớn,
tiêu thụ cá làm giảm CHD tử vong trong dân số trưởng thành, cải thiện phát triển
thần kinh của bào thai và trẻ sơ sinh, góp phần quan trọng với phụ nữ độ tuổi sinh
đẻ, phụ nữ mang thai và cho con bú. Quản lý rủi ro và chiến lược truyền thông
nhằm mục đích giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi ích từ việc ăn cá nên được duy trì
và phát triển.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 42 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
2.5 Chế biến và tiêu thụ thủy sản
2.5.1 Sử dụng và chế biến thủy sản
Sản xuất thủy sản khá đa dạng về các loài và các hình thức sản phẩm có liên
quan. Là một mặt hàng khó bảo quản nên đòi hỏi phải có cách xử lý. Thực phẩm
thủy sản là mặt hàng rất phong phú về thể loại phân phối sản phẩm bán ra ngoài thị
trường như tươi sống, ướp lạnh, đông lạnh, xử lý nhiệt, lên men, sấy khô, hun khói,
muối, ngâm, luộc, chiên, đông khô, băm nhỏ, bột hoặc đóng hộp hoặc là kết hợp
nhiều cách thức. Sản phẩm được bảo quản bằng rất nhiều phương pháp. Số liệu
thống kê bởi (FAO, 2010), trong năm 2008, gần 81% sản lượng cá thế giới dành
cho nhu cầu thực phẩm của con người, và phần còn lại được sử dụng không dành
cho mục đích thực phẩm. Thủy sản được sử dụng với mục đích trang trí, dược phẩm
cũng như là nguyên liệu trực tiếp trong chăn nuôi thủy sản, gia súc và động vật lấy
lông.
Việc sử dụng thủy sản và phương pháp chế biến khác nhau tùy thuộc chủ yếu
vào châu lục, quốc gia, khu vực, và ngay cả ở các địa phương khác nhau. Vấn đề là
phải tuân theo quy định y tế nghiêm ngặt và tiêu chuẩn chất lượng, có thể là dễ dàng
tại một số khu vực nhưng với thị trường lớn như EU thì vấn đề truy xuất nguồn gốc
là cực kỳ nghiêm ngặt.
Quy trình để đảm bảo chất lượng trong quá trình vận chuyển cũng là một vấn
đề với việc phải làm lạnh và làm nước đá. Để đảm bảo được chất lượng thì vấn đề
kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, vệ sinh khu chứa hàng, điện, nước sạch, giao thông, chuối
cung ứng nước đá.
Cải thiện công nghệ chế biến cho phép năng suất cao hơn. Các sản phẩm
tươi, đông lạnh, tẩm bột, đóng hộp. Đòi hỏi những yêu cầu sản xuất tinh vi về thiết
bị, phương pháp, do đó phải tiếp cận với nguồn vốn lớn. Ở các nước phát triển lợi
thế là lao động rẻ, chế biến tập trung vào sản phẩm ít phức tạp phương pháp và dây
chuyền khó tiếp cận với một số sản phẩm điển hình đòi hỏi công nghệ như ướp
muối, đóng hộp, sấy khô và lên men.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 43 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Ở một số nước phát triển công nghệ chế biến được cải tiến rất tốt sử dụng
thủy sản như từ vỏ tôm và cua chiết xuất chitin và chitosan sử dụng làm mỹ phẩm,
vệ sinh, thực phẩm và đồ uống, hóa chất nông nghiệp và dược phẩm. Cá da (Cá
tuyết, cá mập…) được sử dụng làm quần áo, giày dép, túi xách, ví, thắt lưng, và các
mặt hàng khác. Sụn, vi cá mập được sử dụng trong nhiều chế phẩm dược phẩm ở
dạng bột, kem và viên nang…
Sử dụng và chế biến thủy sản ngày càng đa dạng, phát triển đến nhanh chóng
nghiên cứu khoa học chiết xuất từ nguồn gốc thủy sản cho thấy tầm quan trọng của
nó ngày càng đứng vững.
2.5.2 Mức tiêu thụ thủy sản
Ngành thủy sản đóng một vai trò quan trọng trong an ninh lương thực toàn
cầu, mang lại cho con người thực phẩm, dịch vụ. Mặt hàng tiêu thụ chủ yếu trên thị
trường thủy sản là cá, là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng thiết yếu với vitamin,
khoáng chất. Hàm lượng chất béo bão hòa trong cá ít, carbohydrate và cholesterol.
Dễ chế biến và sử dụng với giá cả phải chăng ở một số mặt hàng được tiêu
thụ nhiều. Cá trở thành một loại thực phẩm phổ biến và thiết yếu trên thị trường thế
giới. Trong điều kiện sống ở mức trung bình, với đa dạng các mặt hàng thực phẩm
ngoài cá (Thủy sản) là sản phẩm từ động vật như: thịt bò, thịt gia cầm, thịt lợn, thịt
cừu… Sự đóng góp lượng calo của cá là tương đối thấp chỉ có 30,5 calo mỗi ngày
bình quân đầu người (2007). Tuy nhiên, nó có thể đạt tới 170 calo mỗi ngày bình
quân đầu người ở các nơi thiếu thực phẩm thay thế cá. Vì vậy, sự ưu tiên cho cá
được phát triển và duy trì (Ví dụ như: Iceland, Nhật Bản và một số các quốc đảo
nhỏ).
Vấn đề là tiêu điểm từ trước đến nay là sự khác biệt về tiêu thụ cá tồn tại ở
giữa các nước phát triển và kém phát triển. Ở các nước phát triển mức tiêu thụ cao
và sản phẩm cũng rất đa dạng họ đòi hỏi sản phẩm chất lượng cao, lý do cho những
yêu cầu về tiêu thụ của họ không chỉ có nhiều tiến bộ vượt bậc về kỹ thuật đánh bắt,
kỹ thuật nuôi trồng, kỹ thuật chế biến, bên cạnh đó cho thấy tại một số thị trường
tiêu thụ lớn như Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU hầu hết nhập khẩu rất nhiều sản phẩm thủy
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 44 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
sản của các nước đang phát triển. Vấn đề ở các nước đang phát triển là cố gắng sản
xuất, đánh bắt, nuôi trồng nhiều thủy sản, chủ yếu là dành cho mục đích phát triển
kinh tế, với mức thu nhập tại một số quốc gia này thì việc tiêu thụ những sản phẩm
cao cấp là không cao.
Các thị trường lương thực thế giới đã trở nên linh hoạt hơn khi gia tăng cung
cấp các sản phẩm mới. Trong quá trình phát triển đô thị hóa là một trong những yếu
tố thay đổi mô hình tiêu thụ thực phẩm, trong đó cũng đã có một số tác động đến
nhu cầu đối với sản phẩm thủy sản. Người dân sống ở thành thị có xu hướng ăn ở
bên ngoài thường xuyên hơn, tiết kiệm thời gian họ thường xuyên tiêu thụ các sản
phẩm chế biến sẵn, đóng hộp. Hàng loạt các siêu thị được mọc lên ở các nước phát
triển và đang phát triển cung cấp cho người dân nhiều sự lựa chọn rộng lớn, các sản
phẩm theo mùa, thực phẩm an toàn, sản phẩm cho người tiêu dùng có thu nhập cao,
trung bình, thu nhập thấp đều có. Đó cũng là một lợi thế lớn của các nhà phân phối
nhưng cũng là một chiến lược công bằng với người dân toàn cầu.
Tiêu thụ thủy sản trong tương lai phụ thuộc vào dân số, vị trí, tỷ lệ tăng
trưởng kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề chính vẫn là nguồn tài nguyên thủy sản khai thác
sao cho hợp lý với nhu cầu gia tăng, các mô hình nuôi trồng cũng cần được tăng lên
và phù hợp với xu hướng và sự ưa chuộng. Vì vậy, ngành thủy sản phải đối mặt với
nhiều vấn đề lớn liên quan đến tiêu thụ đễ giữ vững mức ổn định và hướng tới sự
phát triển bền vững là mục tiêu chung của toàn cầu ở hiện tại và tương lai.
2.6Biến đổi khí hậu tác động đến nuôi trồng thủy sản
2.6.1 Tác động của biến đổi khí hậu lên thủy sản và nuôi trồng thủy sản
Biến đổi khí hậu là vấn đề mà cả thế giới quan tâm sâu sắc, nghiên cứu,
quan sát, tìm hiểu tới từng sự thay đổi nhỏ những tác động mà nó gây ra. Sự thay
đổi của khí hậu có nguyên nhân chính là hoạt động của con người gây ra trực tiếp
hoặc gián tiếp. Những biểu hiện của nó ngày càng rõ rệt và tăng lên như: băng tan,
mực nước biển dâng, thiên tai, lũ lụt, mùa màng hạn hán dẫn đến nghèo đói.
Những biểu hiện này thật đáng sợ đe dọa trực tiếp đến sự sống của con người. Con
người đã gây ra và tác động làm biến đổi khí hậu, và kết quả mà chính con người
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 45 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
nhận được là thảm họa lớn của tự nhiên. Đối với các loại tài nguyên thiên nhiên
chịu ảnh hưởng lớn từ tác động của biến đổi khí hậu (Hình 2.2). Nó tác động đến
môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội, gây ra nhiều rủi ro và tổn thương lớn: Nhiều
vùng ngập nước sẽ bị đe dọa ảnh hưởng, sự bền vững trở nên mỏng manh hơn,
một số sinh vật có thể bị tiêu diệt, nhưng cũng sẽ có một số côn trùng (Như muỗi)
sẽ gia tăng số lượng. Diện tích canh tác nông nghiệp như lúa, màu, cây ăn quả, và
nuôi trồng thủy sản sẽ bị thu hẹp, năng suất và sản lượng sẽ suy giảm. Điều này có
thể đe dọa an ninh lương thực quốc gia. Các vùng tài nguyên rừng, đất, nước, sinh
vật hoang dã, khoáng sản (than bùn, cát đá xây dựng,…) sẽ bị xâm lấn, khai thác
và hủy hoại. Nông dân, ngư dân và thị dân nghèo sẽ là đối tượng chịu nhiều tổn
thương nặng nề do thiếu nguồn dinh dưỡng tối thiểu, thiếu sự sở hữu tài nguyên,
thiếu khả năng tài chính, thiếu điều kiện tiếp cận thông tin để có thể đối phó kịp
thời với sự thay đổi thời tiết, khí hậu. Tiếp theo đó, là sự dịch chuyển dòng dân cư
của nông dân ở các vùng ven biển bị tác động sâu sắc do biến đổi khí hậu và nước
biển dâng lên các đô thị. Điều này khiến các quy hoạch, trật tự xã hội, môi trường
đô thị bị xấu đi do sự gia tăng cơ học về dân số.
Hình 2.2: Tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên thiên nhiên
Cụ thể với tình hình tác động của biến đổi khí hậu tới thủy sản và nuôi
trồng thủy sản. Nó tác động cả trực tiếp và gián tiếp đến nuôi trồng thủy sản, tác
động trực tiếp đến tình trạng sinh học của loài thủy sản do điều kiện môi trường
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 46 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
thay đổi, làm suy giảm diện tích nuôi trồng thủy sản, giảm nguồn thức ăn, giảm
khả năng nuôi trồng của nông dân… Dẫn đến suy giảm năng suất nuôi trồng. Điều
này quả thật là một trở ngại lớn đến ngành thủy sản. Dưới đây là chuỗi dây chuyền
đơn giản miêu tả tác động của biến đổi khí hậu tới nuôi trồng thủy sản và kết quả
của nó.
Hình 2.3: Chuỗi dây chuyền đơn giản miêu tả tác động của biến đổi khí hậu tới
nuôi trồng thủy sản, kết quả.
2.6.2 Hành động của các bên liên quan
Hiện tượng biến đổi khí hậu đã được nhiều nhà nghiên cứu xác nhận mặc
dù số liệu vẫn tiếp tục được phân tích. Hậu quả mà nó gây ra khiến con người phải
nhận thức được tầm quan trọng của nó. Đối với ngành thủy sản cũng đã thấy được
hậu quả, sự tổn thương lớn mà con người phải gánh chịu sẽ khó có phương án thay
thế hoặc không có phương án thay thế để tránh được hoàn toàn sự tổn thương mà
chỉ có cách là tất cả hãy ra tay để giảm sự tổn thương đó. Đây là vấn đề nghiêm
trọng mà các quan chức hoạch định chính sách, các chuyên gia quy hoạch, các nhà
nghiên cứu, các cán bộ địa phương và người dân phải nhận thức được. Tiếp đến là
cần phải có các chủ trương ủng hộ việc chia sẻ thông tin tìm cách giảm nhẹ và
thích ứng. Sự do dự, nghi ngờ và thiếu trách nhiệm chỉ dẫn đến hậu quả xấu hơn
cho thế hệ mai sau. Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu phải được
khẩn trương ban hành. Tiếp đến, cần triển khai các biện pháp thực hành thích nghi
đối với ngành thủy sản nói riêng.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 47 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Các bên liên quan cần hành động ngay để ứng phó với biến đổi khí hậu,
đưa ngành thủy sản vào tình trạng tối thiểu là an toàn: Mô phỏng các diễn biến khí
hậu cho các giai đoạn khác nhau đối với các ngành khác nhau, để kịp thời nhận
thức. Đánh giá tác động biến đổi khí hậu lên mọi mặt sinh thái, môi trường, sản
xuất tại khu vực nông thôn, đô thị, y tế, xã hội, tình hình sinh kế. Cụ thể trong
ngành thủy sản cũng đánh giá từng chi tiết cụ thể tình hình nuôi trồng, quy mô,
nguồn giống, sinh học, phát triển tiêu thụ… Xác định các đối tượng chịu tổn
thương, đánh giá mức độ tổn thương của từng đối tượng. Tăng cường tuyên truyền
sự nhận thức của những cá nhân chưa nắm rõ được vấn đề, kiểm soát hành vi và
giảm thiểu các tác nhân làm khí hậu xấu hơn, có biện pháp xử lý thích đáng. Tìm
các nguồn giống mới có khả năng chịu đựng với điều kiện môi trường, thời tiết
khắc nghiệt hơn. Tăng cường dự báo, thu thập thông tin chính xác tình hình thay
đổi của khí hậu để kịp thời ứng phó.
2.7 Nhận xét và Kết luận
Theo tổ chức FAO dự báo: Nuôi trồng thủy sản sẽ chiếm 50% tiêu thụ cá
của thế giới vào năm 2012 và trong tương lai nó sẽ còn đóng vai trò quan trọng
hơn nữa trên thị trường tiêu thụ. Vì vậy, việc chú trọng vào những vấn đề chủ chốt
của thủy sản và nuôi trồng thủy sản là rất quan trọng, đảm bảo được sản lượng ở
mức an toàn và có thể là hơn, phụ thuộc vào những nỗ lực của nhà đầu tư nuôi
trồng. Nguồn giống phải được cung cấp đầy đủ, kịp thời, đảm bảo chất lượng và
trọng lượng của con giống mang đi thả. Hình thức tự sản xuất con giống cũng là
một hình thức rút gọn được khâu vận chuyển và làm tăng lợi nhuận cũng như kinh
nghiệm nuôi trồng, không chỉ chăn nuôi lấy thịt mà còn phát triển kĩ thuật sản xuất
con giống có chất lượng hơn. Bên cạnh đó là giảm thiểu tất cả những rủi ro sinh
học và rủi ro do tình hình biến đổi khí hậu. Chống chịu với những rủi ro không
phải đơn giản nên việc phòng tránh trước cũng cần phải quan tâm thấu đáo, đồng
thời là tìm những biện pháp để xử lý những tác động xấu. Lên kế hoạch cho tất cả
những vấn đề cần quan tâm giải quyết và xử lý. Các vấn đề được lựa chọn về thủy
sản và nuôi trồng thủy sản sẽ trở nên tối ưu trước những hành động tích cực của
con người.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 48 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU VỀ KHU VỰC NUÔI TRỒNG THỦY SẢN, VÀ
TÌNH HÌNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI HỒ NÚI CỐC, THÁI
NGUYÊN
3.1 Giới Thiệu
Hồ Núi Cốc là hệ thống Thủy nông lớn của tỉnh Thái Nguyên được xây dựng
từ năm 1972, hoàn thành năm 1978 công trình được đưa vào sử dụng. Năm 1983
công trình được hoàn tất cả đầu mối và hệ thống kênh mương đã chính thức đưa vào
hoạt động khai thác vận hành cho đến nay. Hồ có đập chính là đập có chiều cao lớn
nhất 27m và chiều dài 480m, và thêm 7 đập phụ. Với mục tiêu cung cấp nước tưới
phục vụ nông nghiệp cho các huyện thành gồm: Thành phố Thái Nguyên, huyện
Phú Bình, Phổ Yên, Thị xã Sông Công và một phần tỉnh Bắc Giang, cấp nước sinh
hoạt cho Thành phố Thái Nguyên kết hợp nuôi trồng thủy sản tạo môi trường và
cảnh quan cho ngành Du lịch của Tỉnh kết hợp với phát điện. Hồ có chiều dài trung
bình khoảng 14km, rộng khoảng 2km ven hồ tiếp giáp với 7 xã của 2 huyện: Đại
Từ, Phổ Yên và Thành phố Thái Nguyên.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 49 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
3.2 Đặc điểm tự nhiên
3.2.1 Vị trí địa lý
Hồ Núi Cốc nằm ở thượng nguồn sông Công, công trình được xây dựng sau
khi chặn dòng ở khu vực huyện Đại Từ tạo thành hồ Núi Cốc.
Khu vực hồ có tọa độ địa lý 21
0
34’ vĩ độ Bắc và 105
0
46’ kinh độ Đông, phía
bắc giáp huyện Đại Từ, phía đông và nam giáp huyện Phổ Yên, phía tây giáp dãy
núi Tam Đảo. Độ cao bình quân lưu vực là 280m, độ dốc bình quân lưu vực là
41,3%, độ dốc lòng sông là 1,62%.
3.2.2 Khí hậu và Địa hình
Vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, được chia làm bốn mùa rõ rệt:
Xuân - Hạ - Thu - Đông. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 đến 2.500
mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1.
Vùng lưu vực hồ Núi Cốc có độ dốc tương đối lớn, khu vực chiếm một phần
chiều dài của sông Công. Trong lưu vực có nhiều thung lũng, các thung lũng lớn tập
trung ở vùng thượng thượng lưu như: Thung lũng Phú Nghĩa, Đại Từ, Vạn Yên.
Càng về phía hạ lưu núi và thung lũng ít hơn, có độ dốc thấp hơn và hẹp hơn so với
phía thượng lưu. Mặt hồ rộng, có hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ trên khu vực lòng hồ.
Xung quanh hồ là các dãy đồi đất liên tiếp có cao trình từ +40 đến +100m, các vách
núi dựng đứng và kéo dài theo hướng tây bắc – đông nam. Địa hình khu vực mang
cả hai hình thái của địa hình trung du và miền núi.
3.3 Điều kiện Kinh tế - Xã hội
3.3.1 Dân số, lao động
Dân số trên khu vực hồ Núi Cốc ước tính đến năm 2009 là 795.260 người
(theo niên giám thống kê tỉnh năm 2009), mật độ trung bình đạt 532,8 người/km
2
,
hơn 1,66 lần so với bình quân chung của tỉnh Thái Nguyên là 320 người/km
2
(theo
niên giám thống kê tỉnh năm 2009). Đây là khu vực có dân cư, kinh tế - xã hội khá
phát triển so với mặt bằng trung của tỉnh từ nhiều năm về trước và cho đến bây giờ.
Với tình hình kinh tế khá phát triển khu vực cũng thu hút khá nhiều lao động làm
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 50 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
việc trong các ngành nghề, nhất là khu vực du lịch hồ Núi Cốc cũng đã tạo điền
kiện cho rất nhiều lao động trong và ngoài khu vực trên địa bàn tỉnh tạo công ăn
việc làm với thu nhập tương đối cao.
3.3.2 Tình hình kinh tế
Thái nguyên là một tỉnh có kinh tế khá phát triển so với các tỉnh trong cả nước
và đặc biệt khu vực hồ Núi Cốc là phát triển vượt trội so với các khu vực khác trong
toàn tỉnh. Nhìn chung đời sống nhân dân tương đối đồng đều và ổn định. GDP bình
quân đầu người năm 2011 ước đạt 22,3 triệu đồng/năm, vượt kế hoạch và tăng 4,8
triệu đồng/người so với năm 2010. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng
tích cực: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 21,28%; khu vực
công nghiệp và xây dựng chiếm 41,77%; khu vực dịch vụ chiếm 36,95% (năm 2010
có cơ cấu tương ứng: 21,76%-41,32%-36,92%).
Tỉnh Thái Nguyên đã ban hành cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư trong nước
và khuyến khích ưu đãi đầu tư ngoài nước vào tỉnh Thái Nguyên.Với tiềm năng và
cơ hội đầu tư còn rất lớn, điều kiện đầu tư càng ngày càng thuận lợi hơn. Tỉnh Thái
Nguyên nói chung và khu vực hồ Núi Cốc nói riêng sẽ có nhiều cơ hội được hợp tác
với các nhà đầu tư trong và ngoài nước trên tất cả các lĩnh vực và đáng lưu ý ở đây
là khu vực du lịch có tiềm năng rất lớn với những lợi thế mà khu vực được ban tặng
từ thiên nhiên, góp phần phát triển đưa tỉnh Thái Nguyên thành một tỉnh giàu đẹp,
tương xứng với vị trí là tỉnh cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô Hà Nội.
3.4 Tình hình quản lý, nuôi trồng thủy sản tại khu vực trong những năm vừa
qua
Tình hình quản lý về khía cạnh nuôi trồng thủy sản của hồ Núi Cốc đã được
qua rất nhiều hình thức quản lý: Đầu tiên là Quốc doanh cá hồ Núi Cốc đến xí
nghiệp thủy sản Núi Cốc, trạm thủy sản Núi Cốc trực thuộc Trung tâm thủy sản
Thái Nguyên quản lý tiếp đến tháng 3 năm 2011 bàn giao lại cho Công ty TNHH
một thành viên khai thác thủy lợi Thái Nguyên. Do thay đổi tổ chức và con người,
nên đã làm cho hiệu quả kinh tế của hồ không cao. Việc khai thác nuôi trồng thủy
sản trong những năm đầu từ năm 1978 đem lại hiệu quả khá cao, do tập trung vào
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 51 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
đầu tư và thả con giống đều đặn, nguồn cá thương phẩm tiêu thụ trên thị trường
thực phẩm Thái Nguyên chủ yếu do hồ Núi Cốc cung cấp. Tuy nhiên, trong khoảng
10 năm sau đó số lượng con giống được thả đi ít hơn hẳn, sản lượng cũng sụt giảm
đáng kể và có năm không thả giống (1991, 1992 Bảng 3.2). Từ năm 1990 tình hình
quản lý có phẩn lỏng lẻo hơn khi đơn vị quản lý giao khoán cho người dân xung
quanh nuôi thủy sản tại một số eo ngách, người dân lạm dụng khai thác một cách
tùy ý làm mất mỹ quan, ảnh hưởng đến cả môi trường và an toàn hồ chứa. Từ tất cả
sự hành động của đơn vị quản lý và người dân xung quanh được giao khoán nuôi
trồng đã làm cho năng suất và hiệu quả chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của
hồ chứa, gây ra sự lãng phí rất lớn về tiềm năng của nguồn lợi thủy sản mà hồ chứa
có thể tạo ra.
3.4.1 Tình hình nuôi thả trong các năm qua
Theo số liệu báo cáo của Trạm Thủy sản Núi Cốc thì các năm đầu lượng cá
giống thả nhiều và đều hơn các năm sau. Từ năm 2004 đến nay còn phát triển thêm
hình thức nuôi cá lồng và nuôi cá trong các eo ngách. Nhìn chung, tình hình nuôi
thả trong các năm vừa qua không có gì nổi bật về sản lượng, chủng loại và chất
lượng của sản phẩm thủy sản.
3.4.2 Tình hình khai thác cá trong những năm qua
Từ khi hồ đi vào nuôi thả cá đến nay việc khai thác thủy sản trên hồ chia làm
2 giai đoạn:
 Từ năm 1978 đến năm 1990: Sản phẩm thủy sản do đơn vị quản lý tổ chức
khai thác. Đội khai thác của đơn vị quản lý gồm 60 người chia làm 2 bộ phận: Tổ
khai thác lưới vét và tổ khai thác lưới liên hợp (Rê, chắn, chuồng).
 Từ năm 1990 đến nay: Do qui mô thu nhỏ, đơn vị đã hợp đồng với ngư dân
để khai thác. Thời gian đầu ký hợp đồng với ngư dân các tỉnh Hà Tây, Thanh Hóa,
xã Huống Thượng thuộc huyện Đồng Hỷ. Từ năm 1999 đến nay thì hoàn toàn hợp
đồng với ngư dân vùng ven hồ. Tỷ lệ phân phối sản phẩm:
- Đơn vị quản lý (Trạm Thủy sản Núi Cốc) lấy 25% sản lượng.
- Ngư dân lấy 75% sản lượng khai thác:
Bảng 3.1: Tương quan số lượng cá thả và sản lượng khai thác Từ năm 1978 đến
năm 2010
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 52 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Năm
Số lượng cá
giống thả hàng
năm (triệu con)
Sản lượng cá
thu được hàng
năm (tấn/năm)
Ghi chú
1978 1,885 47
1979 1,998 112
1980 0,930 95
1981 2,227 118
1982 2,958 110
1983 2,500 122
1984 2,000 100
1985 1,000 90
1986 0,650 95
1987 0,630 97
1988 0,325 56
1989 0,204 30
1990 0,150 12 Khoán thu 25% sản
lượng
1991 Không thả giống 8,6 Nt
1992 Không thả giống 14 Nt
1993 0,245 20 Nt
1994 Không thả giống 9,5 Nt
1995 0,068 28,2 Nt
1996 0,225 20,0 Nt
1997 Không thả giống 24,3 Nt
1998 0,101 22,0 Nt
1999 Không thả giống 15,2 Nt
2000 0,118 18,8 Nt
2001 0,204 21,7 Nt
2002 0,401 28,0 Nt
2003 0,200 17,3 Nt
2004 Không thả giống 28,7 Nt
2005 Không thả giống 25,1 Nt
2006 Không thả giống 25,1 Nt
2007 0,046 26,01 Nt
2008 0,122 25,0 Nt
2009 0,208 27,41 Nt
2010 Không thả giống 28,05 Nt
Nguồn: Báo cáo của Trạm Thủy Sản Núi Cốc - 2010
Về sản lượng cá thu của đơn vị quản lý hàng năm là quá thấp. Năm cao nhất
mới được 122 tấn (1983), năm thấp nhất chỉ được 8,6 tấn (1991). Sự chênh lệch
đáng kể về sản lượng nuôi trồng đã cho thấy nguyên nhân chính là do công tác tổ
chức quản lý của hồ luôn thay đổi, vốn đầu tư sản xuất của hồ hạn chế không được
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 53 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
chú trọng nên nhiều năm không có kinh phí để thả giống. Khi thả giống thì không
đảm bảo về số lượng, kích cỡ cá thả giống và chất lượng cá giống. Mặt khác, đơn vị
quản lý không quan tâm vào đầu tư sản xuất mà còn để kệ người dân khai thác tùy
tiện giao khoán với tỷ lệ đơn vị quản lý 25% và ngư dân là 75%. Việc điều tiết nước
trong hồ lại do đơn vị khác quản lý, nên thiết sự nhất quán gây trở ngại cho sản xuất
thủy sản lượng cá thất thoát ra ngoài là rất lớn đồng thời ảnh hưởng đến an toàn hồ
chứa.
3.5 Một số mô hình nuôi trồng thủy sản tại hồ thủy điện
Với những kết quả đạt được của thị trường thủy sản Việt Nam trên tầm quốc
tế cho thấy ngành thủy sản nước nhà đang trên đà phát triển. Kết hợp mọi hình thức
đánh bắt thủy sản biển, nuôi trồng và chăn thả lồng bè, khai thác triệt để khu vực
ngập nước là môi trường chăn nuôi. Hiện nay, một mô hình nuôi trồng thủy sản mới
được áp dụng tại các hồ thủy điện cũng cho thấy sự tận dụng tối đa nguồn tài
nguyên hỗ trợ để phát triển và mở rộng thị trường thủy sản thêm phong phú về các
mặt hàng, sánh bước với thị trường đa dạng trên thế giới.
3.5.1 Nuôi trồng Thủy sản thí điểm ở hồ thủy điện
Mô hình nuôi trồng thủy sản thí điểm ở hồ thủy điện hiện nay trở nên rất phổ
biến, nhiều nhà đầu tư lớn đã tận dụng tài nguyên sẵn có ở hồ thủy điện để lập mô
hình chăn nuôi thủy sản với quy mô lớn và một số dự án đã đạt được những thành
tựu đáng kể. Đây thực sự là một hướng phát triển kinh tế đầy triển vọng. Hiện nay
tại một số hồ thủy điện trên cả nước đã phát triển mô hình nuôi thủy sản mang lại
nhiều kết quả khả quan.
3.5.2 Nuôi cá có giá trị kinh tế cao trong lòng hồ thủy điện
Cá lăng đuôi đỏ là loài thủy sản đặc sản trên dòng Sê rê pok (Đak Lak), đây
là loài cá giàu dinh dưỡng có hương vị thơm ngon được ưa chuộng.
Cá tầm là một loại cá thịt ngon, có giá trị cao. Cá có thịt trắng, dai, vị béo
ngậy có thành phần dinh dưỡng cao, dễ hấp thụ và dễ tiêu hóa. Thịt cá chứa nhiều
vitamin A, phốt pho, selen và vitamin B6, B12 ngoài ra còn chứa nhiều omega 3 và
omega 6. Chính vì nguồn dinh dưỡng cao nên giá trị cá tầm trên thị trường dao
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 54 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
động từ 250 – 300 ngàn đồng/kg, trứng cá tầm từ 1000USD/kg trở lên (Báo Bình
Định, 2012).
Cá tầm là loại sống ở vùng nước lạnh ở Nga có giá trị dinh dưỡng và kinh tế
cao, trên thị trường thế giới vẫn luôn trong tình trạng “khan” hàng. Năm 2007, Tập
đoàn cá tầm Việt Nam đã đầu tư nuôi cá tầm Nga tại một số hồ thủy điện ở các tỉnh
Đak Lak (có điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng, hệ sinh thái môi trường tốt), Lâm
Đồng, Bình Thuận, Bình Định và Bắc Giang, cho kết quả khả quan. Tiến tới loài cá
này còn được nuôi thử nghiệm ở hồ thủy điện Sơn La, các nhà nghiên cứu đang
trông chờ một tương lai mới cho khu vực này.
Mỗi hồ thủy điện có một điều kiện địa hình, tự nhiên, khí hậu khác nhau thể
hiện thế mạnh của từng khu vực. Với hồ Núi Cốc khi bắt đầu đưa dự án nuôi trồng
thủy sản vào, rút kinh nghiệm từ những mô hình thí điểm tại hồ thủy điện khác, cho
thấy một tiềm năng lớn cần được khai thác kịp thời và hợp lý.
3.6 Nhận xét và Kết luận
Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế, xã hội tại tỉnh Thái Nguyên nói
chung và khu vực hồ Núi Cốc nói riêng cho thấy đây là một nơi có tiềm năng lớn về
nuôi trồng thủy sản cũng như tiêu thụ thủy sản. Từ một số mô hình nuôi trồng thủy
sản tại hồ thủy điện đã thành công bước đầu đã cho thấy dấu hiệu khả quan khi nuôi
trồng thủy sản có quy mô. Với tình hình nuôi trồng thủy sản qua các năm về trước
chỉ ở mức độ tự cung, tự cấp, giao khoán cho người dân tại khu vực với sự quản lý
không chặt chẽ nên lợi nhuận mang lại là tương đối thấp so với giá trị thực tiềm
năng của hồ Núi Cốc. Tuy nhiên, với vị trí thuận lợi, và điều kiện sống của con
người nơi đây cần đáp ứng đầy đủ đối với sản phẩm thủy sản, sau đó là phát triển ở
quy mô công nghiệp, trước mắt dự án trong quá trình mới thành lập chỉ đưa một số
loài thủy sản được thị trường khu vực ưa chuộng, sau sẽ phát triển rộng hơn, phong
phú hơn đưa thêm một số loài thủy sản có giá trị kinh tế vào nuôi trồng, vừa đáp
ứng tiêu thụ tại địa bàn tỉnh mở rộng ra cả nước và lớn hơn nữa là hướng tới thị
trường xuất khẩu thủy sản nước ngọt đầy tiềm năng này.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 55 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH HÓA CÁC TIÊU ĐIỂM CỦA NGHIÊN CỨU
VỀ THỦY SẢN VÀ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
4.1 Giới thiệu
Từ chương 1 bài toán kinh tế tài nguyên tập trung vào những yếu tố tổng
quan xung quanh tài nguyên thiên nhiên, việc nắm vững những cơ sở nền tảng của
kinh tế học môi trường là kiến thức bắt buộc cần phải có phục vụ xây dựng bài
toán nuôi trồng sao cho tối ưu và hợp lý nhất, đúng với tài nguyên, đúng với môi
trường mà tài nguyên đó tồn tại.
Với chương 2 nghiên cứu về những vấn đề được lựa chọn trong nuôi trồng
thủy sản như nguồn giống, an toàn sinh học, giảm thiểu rủi ro có được từ thực
phẩm, chế biến, tiêu thụ và tác động của biến đổi khí hậu đến thủy sản và nuôi
trồng thủy sản sẽ giúp cho quá trình xây dựng bài toán từ các biến được chọn chi
tiết hơn.
Đến chương 3 tìm hiểu về toàn cảnh khu vực dự án, điều kiện nuôi trồng có
phù hợp với loại thủy sản được nuôi thả, qua nghiên cứu cho thấy hồ Núi Cốc là
một khu vực rất phù hợp để nuôi trồng thủy sản ở quy mô lớn, quy mô công
nghiệp.
Bài toán kinh tế tài nguyên thiên nhiên được xây dựng trên mô hình tối ưu
hóa động áp dụng cho thủy sản và nuôi trồng thủy sản ở hồ Núi Cốc Thái Nguyên
có nội dung chủ yếu là xây dựng và tính toán để tìm ra lời giải sử dụng và khai
thác tài nguyên tối ưu dựa vào các quan sát thị trường, thủy văn, và các điều kiện
tự nhiên khác, cùng với các quan sát về hành vi kinh tế của nhà chăn nuôi thủy sản
và người tiêu dùng thủy sản trong khu vực cũng như ngoài khu vực. Trong việc
xây dựng các mô hình tài nguyên, một cấu phần quan trọng đặc biệt là xây dựng
các mô hình trong đó có mô tả hành vi con người, con người tác động, thúc đẩy ra
sao tới tài nguyên làm cho tài nguyên hiệu quả và tối ưu.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 56 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
4.2 Các khía cạnh khác nhau trong việc sử dụng tài nguyên nước ở hồ Núi Cốc
4.2.1 Vai trò chính của hồ Núi Cốc
Hệ thống công trình thủy nông Núi Cốc là một trong những công trình
trọng điểm của tỉnh Thái Nguyên. Nó có nhiệm vụ cung cấp nước cho nông nghiệp
(theo thiết kế cung cấp nước tưới cho 12.000 ha lúa 2 vụ), công nghiệp (7,2 m
3
/s),
nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt (cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái
Nguyên là 0,1 m
3
/s), phòng lũ cho hạ du sông cầu, tạo môi trường sinh thái, khí
hậu trong lành để phát triển ngành du lịch (hàng ngày có từ 6.000 đến 6.500 khách
đến du lịch, thăm quan, nghỉ mát tại khu vực hồ) và phục vụ cho các ngành khác.
Trên thực tế công trình hồ Núi Cốc hoạt động vượt chỉ tiêu và đạt hiệu quả
cao. Với nhiệm vụ quan trọng là tưới, công trình đã đảm bảo cung cấp nước tưới
cho 13100 ha diện tích đất nông nghiệp, 4.500 ha hoa màu, 2.000 ha chè. Mặt
khác, công trình còn tăng thêm 2.500 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản kết hợp
phát triển du lịch, tiếp nước cho hệ thống sông cầu là 50 triệu m
3
/năm, cấp nước
cho sinh hoạt và công nghiệp là 13,14 triệu m
3
/năm, cấp nước tạo nguồn cho Bắc
Giang 10 triệu m
3
/năm, cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã
Sông Công là 28.000 m
3
/ngày đêm (Tất cả những số liệu đều được lấy từ nguồn
số liệu Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên).
Đối với những hồ chứa cung cấp ít nước tưới hay nói cách khác là nếu
ngành nông nghiệp không lấy nước tưới từ hồ thì có thể lấy từ một nguồn khác.
Lúc đó vai trò của hồ chứa về tưới, tiêu sẽ không phải là vai trò chủ đạo, toàn bộ
khối lượng nước trong hồ có thể dùng cho nuôi cá, có phân bổ nhưng lượng đó
cũng không là đáng kể. Hồ chứa được coi như một hồ nuôi trồng thủy sản bình
thường, sẽ không có ràng buộc gây tác động đến nuôi thủy sản trong hồ. Bên cạnh
đó, còn những hồ chứa nhiệm vụ chính là tưới tiêu, hồ đóng vai trò rất quan trọng,
những khu vực canh tác, sản xuất nông nghiệp xung quanh khu vực hồ đều phụ
thuộc nguồn nước từ hồ. Vào mùa khô, hồ có thể xả nước cạn kiệt, có thể xuống
đến mực nước chết, để đảm bảo cho cứu lúa, cứu lấy ngành nông nghiệp. Điều này
đòi hỏi đặt ra nếu hồ có nuôi trồng thủy sản thì sẽ phải khai thác hết thủy sản trước
khi xả nước, chu kỳ này có thể diễn ra 1 năm 1 lần, hoặc 1 năm 2 lần. Nuôi thủy
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 57 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
sản không còn đảm bảo hiệu quả nữa, chủ yếu đáp ứng tự cung tự cấp là chính,
doanh thu sẽ khó đảm bảo bù đắp lại khoản chi phí đưa ra, chứ chưa nói đến là có
lợi nhuận mang lại. Qua tìm hiểu về vai trò chính công trình thủy lợi hồ Núi Cốc
cho thấy nhiệm vụ chủ đạo của hồ là phục vụ cho tưới tiêu trong nông nghiệp. Có
một điểm lưu ý là hồ chưa bao giờ xả nước cho tưới tiêu nông nghiệp đến mực
nước chết, luôn có một mực nước trên mực nước chết (Bảng 4.1 và 4.6). Đưa dự
án nuôi trồng thủy sản với quy mô lớn tầm công nghiệp là một bước đi hết sức táo
bạo, nhưng cũng có những khó khăn, lợi thế riêng và đặc biệt là tận dụng được hết
những giá trị sẵn có của tài nguyên nơi đây. Nuôi thủy sản ở hồ Núi Cốc sẽ phải
có những khác biệt với bài toán nuôi trồng thủy sản đơn thuần, cũng như bài toán
quay vòng 1 năm 1 hoặc 2 lần. Bài toán này sẽ có ràng buộc về khối lượng nước
trong hồ, để đảm bảo nhiệm vụ chính mà tiền thân là nhiệm vụ hàng đầu của hồ,
đồng thời phát triển nuôi trồng thủy sản một cách hiệu quả nhất.
4.2.2 Sản phẩm từ nuôi trồng thủy sản là sản phẩm thứ cấp
Với tất cả những nhiệm vụ đặt ra cho công trình, cung cấp nước tưới cho
nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, phòng lũ cho hạ du, tạo môi trường cảnh
quan sinh thái phục vụ du lịch và nuôi trồng thủy sản đều có một điểm chung là sử
dụng và phát huy công suất của nước, khai thác nước từ việc đầu tư xây dựng vào
công trình.
Những sản phẩm mà công trình tạo ra có sản phẩm từ tưới tiêu nông nghiệp
là sản phẩm chủ đạo, với sản phẩm thủy sản chỉ là sản phẩm thứ cấp. Vì đây
không phải là sản phẩm chủ đạo, là mục tiêu chính được quan tâm nhất khi công
trình được đầu tư xây dựng. Nhà quản lý đã biết tận dụng tất cả những lợi thế của
công tình nhằm mang lại hiệu quả tối ưu cho khu vực dự án cũng như tầm quan
trọng của toàn khu vực của tỉnh Thái Nguyên. Kết hợp nuôi trồng thủy sản trong
lòng hồ thủy điện để đạt được tầm quy mô lớn, song bên cạnh đó quá trình nuôi
trồng cũng phải chịu nhiều ảnh hưởng khi sản phẩm chủ đạo có tác động, đó là vì
quá trình tích nước phục vụ hay xả nước khi cần, mực nước thay đổi lên xuống bất
thường theo mùa vụ, sức ép từ khối lượng nước, chất lượng nước theo mùa vụ
cũng thực sự ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của thủy sản. Vì
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 58 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
vậy, khi lập ra dự án đầu tư nuôi trồng thủy sản tại lòng hồ thủy điện nhà đầu tư
cũng đã phải tính toán hết tất cả các phương án, các điều kiện thuận lợi và không
thuận lợi trong quá trình nuôi trồng nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất và sản phẩm
đảm bảo đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của thị trường tiêu thụ.
4.2.3 Tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên nước tại khu vực hồ Núi Cốc
Từ khi đưa công trình vào quản lý vận hành khai thác cho thấy việc đánh
giá hiệu quả của công trình từ những giai đoạn ban đầu như thiết kế rồi tiếp đến là
khai thác trên thực tế cho thấy xây dựng hồ chứa đã mang lại nhiều lợi ích cho sự
phát triển kinh tế trong toàn vùng dự án đảm bảo nhiệm vụ cung cấp nước và các
nhiệm vụ khác. Tạo ra hồ chứa nhằm khống chế sự thay đổi tự nhiên của dòng
chảy sông ngòi cho phù hợp với các yêu cầu về nước của con người. Hồ chứa là
biện pháp quan trọng nhất trong hệ thống các công trình điều tiết nó có khả năng
làm thay đổi sâu sắc chế độ dòng chảy sông ngòi theo thời gian và không gian.
Ngoài ra, hồ chứa còn làm thay đổi thế năng và động năng ở những vị trí cục bộ.
Sự tích lũy năng lượng hồ chứa để chuyển thành năng lượng điện do động năng
sinh ra khi xây dựng các nhà máy thủy điện. Xây dựng hồ chứa với mục đích
chính là khai thác tài nguyên nước theo yêu cầu sử dụng của con người. Về khía
cạnh năng lực thiết kế hồ Núi Cốc đã phát huy hết năng lực thiết kế và đạt được
một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, trên thực tế kể đến tất cả các nhiệm vụ, hoạt
động mà hồ Núi Cốc mang lại thì hiệu quả đã thực sự là tối ưu. Đó cũng là vấn đề
mà các nhà đầu tư, quản lý vận hành phải quan tâm hàng đầu sao cho lợi nhuận
thu được là tối đa.
Trong quá trình hoạt động những thu nhập chính mà công trình hỗ trợ mang
lại bao gồm: Thu nhập từ tưới, tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp, cấp nước phục
vụ công nghiệp, sinh hoạt dân sinh, lợi ích nhận từ thủy điện, thu nhập từ nhiệm
vụ phòng lũ, thu nhập từ nuôi trồng thủy sản và phát triển thăm quan du lịch
không kể đến một số thu nhập phụ khác.
Thu nhập từ tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp chính là: Thu nhập
thuần túy tăng thêm khi có dự án so với khi không có dự án. Thu nhập có được từ
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 59 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
tăng diện tích canh tác, tăng vụ gieo trồng, tăng năng suất cây trồng, chi phí tiết
kiệm được do hạn chế được úng ngập khi có dự án so với khi không có dự án và
chi phí tiết kiệm được khi xử lý tình trạng thiếu nước trong các mùa vụ do tác
động của yếu tố thời tiết. Và sau đó sẽ tính toán hiệu ích thủy lợi của dự án. Thu
nhập từ nhiệm vụ phòng lũ chính là thu nhập từ thiệt hại phòng tránh được khi có
dự án so với khi không có dự án.
Thu nhập từ phát điện chính là thu nhập từ bán điện được tính từ thanh cái
đến nhà máy điện. Thu nhập từ việc bán nước cho các khu công nghiệp và khu dân
sinh, đặc biệt tỉnh Thái Nguyên có khu công nghiệp gang thép lớn đòi hỏi tiêu thụ
một lượng nước lớn. Ngoài ra không kể đến những xí nghiệp công nghiệp nhỏ.
Với khu dân sinh, dân cư tại tỉnh Thái Nguyên cũng cần nhu cầu một lượng nước
sinh hoạt lớn, vì đây còn là tỉnh có rất nhiều trường Đại Học, Cao Đẳng và Trung
Cấp nên tập trung một lượng sinh viên lớn từ các tỉnh đổ vào, tiêu thụ một lượng
nước sinh hoạt khá lớn.
Thu nhập từ nuôi trồng thủy sản là lợi ích thu được từ sản phẩm thủy sản
mang lại. Tổng sản lượng của thủy sản sau khi đánh bắt trừ đi những khoản chi phí
bỏ ra đầu tư vào công tác chăn nuôi thủy sản. Với thu nhập từ dịch vụ du lịch cũng
khá là khả quan khi lượng khách đến thăm quan, nghỉ mát tại khu du lịch rất đông
đảo. Đó cũng là tiềm năng lớn và là lợi thế của Núi Cốc.
Sử dụng tài nguyên nước sao cho hiệu quả và phù hợp với lưu lượng của hồ
chứa là cần phải quan tâm. Mực nước của hồ dao động liên tục theo các tháng
trong năm nên khi muốn tối ưu hóa giá trị của tài nguyên nước thì cần phải xem
xét tình hình mực nước, các thông số kỹ thuật của hồ.
Bảng 4.1: Các thông số kỹ thuật hồ Núi Cốc
Chỉ
tiêu
Thông số
MNC MNDBT MNL (P=0,5%)
Diện tích
mặt Hồ
3,5 km
2
25,0 km
2
32,0km
2
Cao độ 34,0 m 46,2 m 48,25 m
Dung tích 7,4 x 10
6
m
3
175,5 x 10
6
m
3
405,5 x 10
6
m
3
(Dung tích hữu ích 168 x 10
6
m
3
. Dung tích phòng lũ: 230 x 10
6
m
3
)
Nguồn: Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 60 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
 Dung tích chết
Dung tích chết: Là phần dung tích không tham gia vào quá trình điều tiết
dòng chảy. Đó là phần dung tích nằm ở phần dưới cùng của hồ chứa nên còn gọi là
dung tích lót đáy. Mực nước chết là mực nước tương ứng với dung tích chết.
Nhiệm vụ của dung tích chết là phần bùn cát lắng đọng trong hồ chứa trong thời
gian hoạt động của công trình.
Đối với hồ chứa có nhiệm vụ tưới tự chảy, mực nước chết không được nhỏ
hơn cao trình mực nước tối thiểu để đảm bảo tưới tự chảy.
Đối với nhà máy thủy điện, mực nước chết và dung tích chết phải được lựa
chọn sao cho công suất đảm bảo của nhà máy là lớn nhất và có cột nước tối thiểu
để phát điện.
Đối với giao thông thủy ở thượng lưu hồ, mực nước chết phải là mực nước
tối thiểu cho phép tàu bè đi lại bình thường theo nhiệm vụ giao thông thủy.
Đối với thủy sản, mực nước chết và dung tích chết phải đảm bảo có quy mô
cần thiết cho nuôi trồng thủy sản.
Đối với du lịch và bảo vệ môi trường, mực nước chết và dung tích chết đảm
bảo yêu cầu tối thiểu cho du lịch và yêu cầu vệ sinh môi trường ở thượng, hạ lưu
của hồ chứa.
 Dung tích hiệu dụng
Dung tích hiệu dụng: Là phần dung tích nằm trên phần dung tích chết. Dung
tích hiệu dụng có nhiệm vụ điều tiết cấp nước cho các đối tượng dùng nước. Đối với
hồ chứa phát điện, dung tích hiệu dụng vừa có nhiệm vụ điều tiết vừa có nhiệm vụ
tạo đầu nước phát điện. Về mùa lũ, nước được tích vào phần dung tích hiệu dụng để
bổ sung nước cho thời lượng mùa kiệt.khi nước đến không đủ cấp cho các hộ dùng
nước. Mực nước dâng bình thường là mực nước ứng với dung tích hiệu dụng.
Dung tích hiệu dụng được xác định theo kết quả tính toán điều tiết dòng chảy.
Nhưng việc lựa chọn dung tích hiệu dụng và mực nước dâng bình thường còn phải
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 61 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
xuất phát từ điều kiện rằng buộc về địa hành, địa chất và giới hạn cho phép ngập lụt
vùng thương lưu hồ.
 Dung tích siêu cao
Dung tích siêu cao hay dung tích gia cường: Là phần dung tích nằm phía trên
phần dung tích hiệu dụng. Dung tích này có nhiệm vụ tích một phần nước lũ để giảm
lưu lượng tháo xuống hạ lưu nhằm giảm quy mô kích thước của công trình tháo lũ.
Đối với hồ chứa có nhiệm vụ phòng lũ, phần dung tích này còn có nhiệm vụ làm
giảm mực nước sông và vùng hạ lưu. Dung tích chỉ tích nước tạm thời khi có lũ,
lượng nước này phải được tháo hết khi lũ kết thúc. Mực nước gia cường là mực
nước khống chế toàn bộ phần dung tích hồ chứa.
 Dung tích điều tiết lũ
Dung tích điều tiết lũ: Là phần dung tích làm nhiệm vụ điều tiết chống lũ cho
bản thân công trình hoặc điều tiết theo khu vực phòng lũ cho hạ lưu. Phần dung tích
trữ lại một phần lượng lũ giảm quy mô kích thước của công trình tháo lũ, làm giảm
lưu lượng tháo lũ xuống hạ lưu khi có nhiệm vụ phòng lũ cho hạ lưu. Quy mô dung
tích chống lũ được xác định theo lũ thiết kế tại tuyến công trình. Một phần dung tích
điều tiết lũ nằm dưới mực nước dâng bình thường, phần còn lại nằm phía trên mực
nước dâng bình thường, phần dung tích phía trên lớn hơn dung tích hiệu dụng, phần
dung tích phía dưới thấp hơn dung tích kết hợp.
 Dung tích kết hợp
Dung tích kết hợp: Việc bố trí dung tích kết hợp nhằm giảm dung tích ngập
lụt cho vùng thượng lưu hồ. Đây là hình thức được áp dụng phổ biến đối với những
hồ chứa vừa và lớn. Việc lựa chọn dung tích kết hợp và mực nước trước lũ được
thực hiện đồng thời với việc chọn mực nước dâng bình thường và mực nước siêu
cao sao cho đảm bảo tiêu chí đủ dung tích điều tiết lũ theo nhiệm vụ chống lũ cho
công trình. Giảm thiệt hại cho thượng lưu do bị ngập lụt. Đảm bảo an toàn về mặt
tích nước vào hồ nếu chọn dung tích kết hợp lớn sẽ giảm được mực nước siêu cao
lớn và giảm đáng kể dung tích ngập lụt thượng lưu nhưng có thể không đảm bảo tích
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 62 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
nước đầy hồ ở cuối mùa lũ và do đó sẽ không có đủ lượng nước cấp cho thời kỳ kiệt
theo nhiệm vụ cấp nước đặt ra.
Với hồ Núi Cốc là công trình hồ chứa vừa có nhiệm vụ tưới, tiêu chính còn
có nhiệm vụ cung cấp nước tạo nguồn và nước sinh hoạt, phát điện, phục vụ du lịch
và phòng chống lũ. Dưới đây là những tính toán về thu nhập từ tưới tiêu, phát điện,
cung cấp nước tạo nguồn, sinh hoạt và du lịch.
Thu nhập từ tưới, tiêu cho nông nghiệp được tính toán qua số liệu trong bảng
4.2 và 4.3. Kết quả tính thu nhập thuần túy tăng thêm khi có dự án so với khi không
có dự án là : 261.866.225.000 đồng (Phụ lục 4.1, 4.2, 4.3). Nguồn thu nhập thuần
túy tăng thêm do thủy lợi mang lại với hiệu ích là 20% là: 52.373.245.000 đồng.
Bảng 4.2: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp của vùng khi chưa có
dự án
Loại cây trồng
Diện tích
(ha)
Năng suất
(T/ha)
Giá bán
(10
3
đ/T)
Sản lượng
(T)
Lúa mùa 6.200 3,5 5.000 21.700
lúa chiêm 6.200 3 5.000 18.600
hoa màu 2.000 2,8 3.800 5.600
chè 500 4 3.200 2.000
Nguồn: Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên.
Bảng 4.3: Diện tích, năng suất, sản lượng nông nghiệp của vùng khi có dự
án
Loại cây trồng
Diện tích
(ha)
Năng suất
(T/ha)
Giá bán
(10
3
đ/T)
Sản lượng
(T)
Lúa mùa 13.100 5,8 5.000 75.980
lúa chiêm 13.100 5,3 5.000 69.430
hoa màu 4.500 5 3.800 22.500
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 63 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
chè 2.000 6 3.200 12.000
Nguồn: Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên.
Thu nhập từ phát điện: Theo số liệu của nhà máy thủy điện hồ Núi Cốc, công suất
phát điện là 7,9.10
6
KW/năm. Giá điện bình quân hiện nay là 1.304 đồng/KW. Mỗi
năm, nhà máy phải chi trả 600 triệu cho công tác quản lý vận hành. Thu nhập thực
tế hàng năm từ phát điện là: 7,9 × 10
6
× 1304 – 600 × 10
6
= 9,701 × 10
9
đồng.
Thu nhập từ du lịch theo nguồn số liệu Công ty cổ phần du lịch thương mại Thái
Nguyên, trung bình mỗi năm dịch vụ du lịch hồ Núi Cốc thu được 8 tỷ đồng.
Thu nhập từ bán nước sinh hoạt, tạo nguồn từ bảng 4.4 là: 7.843.200.000 đồng
Bảng 4.4: Bảng tính toán thu nhập từ cấp nước của hồ Núi Cốc
Thu nhập từ cung cấp nước
Nội dung Đơn giá
(đ/m
3
)
Sản lượng
(10
6
m
3
/năm)
Thành tiền
(đ)
Tiếp nguồn cho Bắc
Giang 32,17 10,00 321.700.000
Sinh hoạt và công
nghiệp 450,00 13,14 5.913.000.000
Hệ thống nông giang
sông Cầu 32,17 50,00 1.608.500.000
Tổng 7.843.200.000
Nguồn: Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên.
Tổng thu nhập mà công trình hồ chứa mang lại trong 1 năm là: 77.918.045.000
đồng (chưa kể đến thu nhập từ nuôi trồng thủy sản và phòng lũ).
Đánh giá lợi nhuận từ nuôi trồng thủy sản: Nếu cắt nước tưới, cắt nước sinh
hoạt, công nghiệp, tạo nguồn. Hồ chứa chỉ đơn thuần là hồ nuôi trồng thủy sản. Nó
sẽ không phải chịu tác động khi mực nước thường xuyên lên xuống theo các mùa,
các tháng trong năm, nhất là vào mùa mưa lũ nước bị đục nên cá thường xuyên
mắc bệnh chết. Một trong những bệnh mà cá ở vùng lòng hồ hay mắc là bệnh xuất
huyết đốm đỏ, mốc vảy và bị hỏng đường ruột rồi chết dần. Bệnh này rất khó chữa
do điều kiện sống trên hồ diện tích lớn.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 64 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Chỉ tập trung vào nuôi thủy sản trong lòng hồ, việc nuôi trồng cũng chưa làm
ảnh hưởng đến môi trường lòng hồ và xung quanh, cả chất lượng nước cũng chưa bị
ảnh hưởng trước mắt. Nhưng về lâu dài lượng ô nhiễm cũng tích tụ lại thành kho ô
nhiễm. Vì vậy, phải có biện pháp xử lý ngay lúc đầu để tránh hậu quả về sau. Xử lý
ô nhiễm khu vực nuôi trồng thủy sản quan trọng là xử lý nước trong quá trình nuôi
trồng. Xử lý nước trong nuôi cá dùng một số phương pháp xử lý cao phân tử (pp
Purolite tốc độ cao), các chất ô nhiễm lơ lửng hay hòa tan trong nước sau khi được
xử lý sẽ lắng xuống đáy và được loại ra ngoài. Ở những nơi có mặt bằng có thể áp
dụng phương pháp xử lý lọc nước thải qua khu đất ngập nước chảy ngầm kiến tạo
và một phương pháp được khuyến cáo trong việc xử lý môi trường nước trong nuôi
cá có hiệu quả là sử dụng chế phẩm sinh học như sử dụng chế phẩm Navet –
Biozym (nguồn). Sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản được coi là
một tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra sự an toàn về môi trường, cũng như trong thực
phẩm cho người tiêu dùng. Đây là một bước quan trọng góp phần nâng cao chất
lượng môi trường nước vì khi đưa chế phẩm sinh học vào nước nuôi cá các vi sinh
vật có lợi sẽ sinh sôi, phát triển nhanh chóng, việc này sẽ có tác dụng như sau: Phân
hủy các chất hữu cơ trong nước, giảm các chất độc trong nước (khí NH
3
, H
2
S) làm
giảm mùi hôi trong nước, giúp tôm, cá phát triển tốt, nâng cao khả năng miễn dịch.
Việc sử dụng chế phẩm sinh học sẽ có ý nghĩa nhiều mặt trong việc nâng cao hiệu
quả kinh tế trong nuôi trồng thủy sản như: Tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, cá mau
lớn, rút ngắn thời gian nuôi, tăng tỷ lệ sống, tăng năng suất, giảm chi phí thay nước,
giảm chi phí sử dụng kháng sinh, hóa chất. Do đó việc sử dụng chế phẩm sinh học
để cải thiện chất lượng nước và phòng bệnh cho cá, là một việc thiết thực cần được
áp dụng thường xuyên nhằm giúp cho các sản phẩm thủy sản đạt được tiêu chuẩn an
toàn, vệ sinh thực phẩm khi đưa ra thị trường phục vụ cho người tiêu dùng.
Để giải quyết thức ăn cho cá trong 2.500 ha mặt nước hồ với lượng thức ăn
xanh là 4000 tấn kéo dài suốt từ tháng 7 đến tháng 8, 9, 10. Trung bình mỗi ha có
1,5 tấn cây lá xanh thì không ảnh hưởng gì tới ô nhiễm môi trường nước hồ. Với 48
ha nuôi cá giống thâm canh (chỉ chiếm 1,9% của diện tích hồ) cũng không làm ảnh
hưởng xấu đến chất lượng nước hồ. Hai khả năng giải quyết thức ăn cho hồ này, chỉ
làm cho nước hồ ngày càng giàu dinh dưỡng, làm cho hệ sinh thái của hồ ngày càng
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 65 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
phong phú, làm cho năng suất cá thịt của hồ ngày càng cao. Có 2 nguyên nhân chính
làm ô nhiễm nước hồ hiện tại: Một là, việc khai thác của các mỏ kim loại ở đầu
nguồn, đến mùa mưa, toàn bộ các phế phụ phẩm sẽ dồn về hồ. Hai là, lượng nước
thải từ các khách sạn, nhà hàng, khu du lịch Núi Cốc, nếu không có các quy định cụ
thể, nước thải không qua các bể xử lý mà đưa thẳng xuống hồ thì trong vài năm tới
nước hồ sẽ bị ô nhiễm, không những ảnh hưởng tới nguồn thủy sản trong hồ, mà còn
ảnh hưởng tới toàn bộ môi trường nước và không khí của khu du lịch Hồ Núi Cốc.
Trong 1 năm thu nhập từ nuôi trồng thủy sản sẽ là tổng doanh thu có được
từ việc bán tổng sản lượng thủy sản của hồ trừ đi tổng các khoản chi phí như: Chi
công lao động, chi giống, chi cho chăm sóc trong quá trình nuôi trồng, chi dụng cụ
đánh bắt. Vì đây là con số ước tính nên trong phần chi phí sẽ không tính đến chi
phí xây dựng ban đầu mà chỉ tính đến những khoản chi phí như trên.
Chi phí cho hoạt động của xí nghiệp: Chi lương cho cán bộ công nhân viên.
Các khoản phải nộp như: Công đoàn phí, bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp. Công
tác phí, bảo hộ lao động, ăn ca, tiền điện văn phòng, tiền điện thoại, tiền văn
phòng phẩm, xa công tác, khoán bảo vệ, tiếp khách, hội họp, học tập tính ra là:
726.305.000 đồng. Chi phí nuôi thả bao gồm: mua cá giống, dụng cụ đánh bắt,
mua thức ăn bổ sung: 2.043.000.000 đồng (Nguồn: Công ty TNHH một thành viên
khai thác Thủy lợi Thái Nguyên). Tổng các khoản chi là: 2.769.305.000 đồng.
Tổng doanh thu theo như bảng 4.5 là: 16.050.000.000 đồng. Lợi nhuận thu được
là: 13.280.695.000 đồng.
Bảng 4.5: Sản lượng cá trong hồ sau 1 năm nuôi thả
Loài cá Khối lượng
cá sau
Sản
lượng đạt
được
(kg)
Đơn giá bán
buôn (10
3
đ/kg)
Thành tiền
(10
3
đ)
1 năm thả
(kg/con)
Mè 1,5 281.250 30 8.437.500
Trôi 0,6 78.750 45 3.543.750
Chép 0,5 18.750 60 1.125.000
Trắm 1,7 31.875 60 1.912.500
Cá lưu 1,1 20.625 50 1.031.250
∑ 410.625 16.050.000
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 66 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Nguồn: Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên
Sản lượng thủy sản trong hồ sẽ đạt được lợi nhuận tối đa nếu không có
những yếu tố tác động từ hoạt động khác. Tuy nhiên con số này chỉ là ước tính và
không thể phủ nhận vai trò chính của công trình hồ chứa phục vụ chính cho mục
đích tưới, tiêu, sản phẩm chủ đạo mà công trình tạo ra. Kết quả chỉ đưa ra lợi
nhuận từ nuôi trồng thủy sản không có thiệt hại trong quá trình nuôi trồng, thiệt
hại mang tính chất tự nhiên chứ không chịu ảnh hưởng của hoạt động nhân tạo.
Nếu đưa một số loài thủy sản có giá trị kinh tế cao như cá chiên một loại cá mang
lại giá trị kinh tế cao, dễ thích nghi với môi trường sống đã được nuôi trồng ở hồ
Sông Đà mang lại lợi nhuận về giá trị dinh dưỡng, thơm ngon và còn một số loài
thủy sản khác. Hồ Núi Cốc dần đi vào ổn định về nhiệm vụ nuôi trồng sẽ cần phải
phát triển rộng ra với những loài có giá trị cao, được người tiêu dùng ưa chuộng.
Con số ước tính này là rất lý tưởng khi nuôi thủy sản trong lòng hồ chứa. Dự định
của nhà đầu tư nuôi trồng thủy sản là con số 1.000 tấn/năm khi dự án mang lại
hiệu quả thực sự, nhận thấy tăng quy mô nuôi trồng thủy sản tại lòng hồ thì lợi
nhuận mà thủy sản mang lại quả thực là lớn.
4.3 Công nghệ nuôi trồng và tiêu thụ thủy sản
4.3.1 Công nghệ sản xuất, nuôi trồng thủy sản tại hồ Núi Cốc
 Diện tích và dung tích của hồ
Hồ có diện tích và dung tích nước hàng năm thay đổi theo quy trình điều tiết,
diện tích mặt nước dao động từ 3.100ha với dung tích 220.000.000m
3
nước ở cao
trình 48m, xuống 1.000ha với dung tích 50.000.000m
3
ở cao trình 39,5m. Chính vì
vậy đã tạo thành vùng bán ngập có diện tích khoảng 1000ha ở cao trình 40 – 46m.
Trong hồ có trên 100 hòn đảo lớn nhỏ và ven hồ có nhiều eo ngách nhỏ, khoảng
60% diện tích lòng hồ là khu vực nước sâu, 40% diện tích lòng hồ là khu vực nước
nông. Diện tích hứng nước của hồ (diện tích lưu vực) là 535km
2
gấp 21 lần diện tích
hồ (535km
2
/25km
2
= 21 lần).
Bảng 4.6: Tương quan giữa mực nước hồ với diện tích và dung tích hồ
Mực nước 39,5 40 42 44 46 48
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 67 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
(m)
Diện tích
(ha)
1.000 1.100 1.650 2.030 2.460 3.100
Dung tích
(m
3
)
50x10
6
50,5x10
6
70,5x10
6
110,5x10
6
150x10
6
220x10
6
Nguồn: Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên
 Các đặc điểm thủy lý, thủy hóa, thủy sinh vật học của hồ
Nhiệt độ: Mùa đông nhiệt độ dao động từ 18 – 20
0
C. Mùa hè từ 33 – 34
0
C
đối với bề mặt. Sự khác biệt nhiệt độ giữa bề mặt và tầng đáy không nhiều, khoảng
1 – 2
0
C. Đó là nhiệt độ tương đối thích hợp với nhiều loài cá nuôi
Độ trong và màu sắc nước: Độ trong phụ thuộc vào từng khu vực và mùa
vụ trong năm. Khu vực giữa hồ trong hơn các khu vực khác, mùa khô trong hơn
mùa mưa. Độ trong của hồ giao động từ 0,7 – 0,9 m, mùa đông thì xanh, mùa hè thì
đục.
Độ PH: Trị số PH trong lòng hồ cũng ảnh hưởng bởi độ sâu và mùa vụ trong
năm, độ PH giao động từ 6,6 – 7,3 rất thích hợp với nhiều loài cá nuôi.
Lượng oxy hòa tan: Oxy hòa tan phụ thuộc vào tầng nước và mùa vụ trong
năm, ở tầng mặt cao hơn tầng đáy, về mùa đông cao hơn mùa hè, giao động từ 2,6
mg/lít đến 7,7 mg/lít cũng phù hợp với đời sống các loài cá nuôi.
Động vật phù du: Rất phong phú, chủ yếu là các họ: Allodiatomus,
Mesoeyllops, Keratells chiếm ưu thế. Mật độ giống loài phụ thuộc vào mùa vụ, độ
sâu và từng vùng khác nhau. Trung bình là 50.000
ct
/lít đến 140.000
ct
/lít
Thực vật phù du: Chủ yếu là các họ: Trachedomonas, Chloralla trung bình
là 340.000
ct
/lít
Các số liệu về thủy lý, thủy hóa, thủy sinh là do Viện nghiên cứu nuôi trồng
thủy sản I (Từ Sơn – Bắc Ninh) nghiên cứu năm 2008 cung cấp tới thời điểm hiện
tại do tác động của môi trường cũng có thay đổi ít nhiều.
Chất lượng nước của hồ đảm bảo phù hợp với điều kiện sống cho nhiều loài
thủy sản đặc biệt là các loài cá. Hơn thế nữa, tiềm năng để nuôi trồng một số loài
thủy sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao như cá anh vũ, cá chiên…
 Đàn cá nuôi
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 68 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Căn cứ vào điều kiện tự nhiên của hồ, chất lượng nước, dung tích và diện
tích của hồ cùng môi trường khu vực xung quanh hồ, lượng thức ăn trong hồ để xác
định cơ cấu đàn cá hợp lý. Hồ Núi Cốc là hồ chứa loại vừa, hàng năm có vùng bán
ngập hàng nghìn ha, lượng sinh vật phù du khá phong phú. Trước mắt dự án chỉ thả
một số loài cá phổ biến đã từng được người dân nuôi thả trong hồ vì đã quen với
điều kiện tự nhiên của hồ và được tiêu thụ nhiều tại thị trường địa phương, giá cả
của các loại cá này là phù hợp với thu nhập của người dân, sau đó khi đi vào ổn
định sẽ thả thêm các giống mới có chất lượng kinh tế cao hơn và mở rộng thị trường
hướng tới những khách hàng tiêu dùng có mức sống cao đòi hỏi chất lượng sản
phẩm cao hơn và phong phú hơn. Thả giống cá phải đảm bảo đủ số lượng cá giống,
với chất lượng tốt, đúng kích cỡ cá giống, đúng tỷ lệ nuôi thả và đúng thời vụ thả
cá. Tỷ lệ nuôi ghép các loài cá trong hồ quy định theo dự án như sau: Mè hoa và mè
trắng (50% lượng giống), Trôi Mrigal, rô hu (35%), Chép (10%), Trắm cỏ, trắm đen
(5%), trong hồ vẫn còn một lượng cá lưu tồn lại.
Cá chép: Cá chép phân bố rộng khắp các vùng trên toàn thế giới. Ở Việt
Nam cá phân bố rộng trong sông ngòi, ao hồ, ruộng ở hầu hết các tỉnh phía Bắc
Việt Nam.
Về đặc điểm sinh học của cá chép: Cá chép sống ở tầng đáy cá vực nước,
nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, thức ăn đáy và cỏ nước. Cá có thể sống được trong
điều kiện khó khăn khắc nghiệt, chịu đựng được nhiệt độ từ 0 - 40
0
C, thích hợp ở
20 - 27
0
C. Cá chép ăn tạp, thiên về ăn động vật không xương sống ở đáy. Thức ăn
của cá khá đa dạng như mảnh vụn thực vật, rễ cây, các loài giáp xác, ấu trùng
muỗi, ấu trùng côn trùng, thân mềm. Tùy theo kích cỡ cá và mùa vụ dinh dưỡng
mà thành phần thức ăn có sự thay đổi nhất định. Ngoài thức ăn tự nhiên có trong
thủy vực thì cá còn ăn thức ăn nhân tạo như cám nổi.
Về đặc điểm sinh trưởng: Cá chép là loài có kích cỡ trung bình, lớn nhất có
thể đạt tới 15 - 20kg. Cấu trúc thành phần tuổi của cá chép có tới 7 nhóm tuổi.
Sinh trưởng hàng năm của cá chép như: 1 tuổi là 17,3cm, 2 tuổi là 20,6cm, 3 tuổi
là 30,2cm, 4 tuổi là 35,4cm, 5 tuổi là 41,5cm và 6 tuổi là 47,5cm (Nguyễn Văn
Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001). Tốc độ tăng trưởng giảm dần theo chiều dài nhưng lại
tăng theo trọng lượng.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 69 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Cá chép ở Việt Nam là loài cá có nhiều hình dạng khác nhau, tuy nhiên cá
lưu giữ là loài cá chép trắng. Cá chép là đối tượng nuôi quan trọng trong ao hồ,
được nghiên cứu rất nhiều nhằm tạo giống lai kinh tế, tạo ra các dòng cá có giá trị
kinh tế cao.
Cá chép là loài có giá trị kinh tế, thịt cá thơm ngon nhất là sau mùa cá được
vỗ béo, được nhiều người nuôi và người tiêu dùng ưa thích. Đây là đối tượng nuôi
quan trọng trong ao, hồ, đầm, ruộng, lồng bè. Cá có thể được nuôi đơn hoặc nuôi
ghép đều cho năng suất và hiệu quả rất cao. Loài cá này được nuôi để diệt ấu trùng
muỗi.
Sản lượng cá chép tự nhiên đã và đang giảm sút hết sức nghiêm trọng do
khai thác quá mức. Mặt khác do việc nhập giống, lai tạo, cá ra các vùng nước tự
nhiên và lai tạp làm mất nguồn gen quý hiếm, bản địa của đàn cá chép trắng Việt
Nam.
Cá trôi: Ở Việt Nam cá trôi được phân bố ở sông suối, đầm hồ của các tỉnh
phía Bắc. Cá được nuôi phổ biến trong các ao, đầm, hồ tự nhiên và hồ chứa. Cá có
chất lượng thịt ngon, sản lượng cá tự nhiên cao.
Đặc điểm sinh học: Cá trôi Việt Nam ăn đáy và gặm thực vật trên giá thể.
Thức ăn chính của cá là các mảnh vụn hữu cơ, các loài tảo bàm như tảo silic, tảo
lục, tảo lam. Ngoài ra chúng còn ăn ấu trùng côn trùng, giáp xác sống đáy. Tùy
theo điều kiện sống, tỷ lệ thành phần thức ăn thường biến đổi nhưng cặn vẩn hữu
cơ vẫn là thức ăn chủ yếu, sau là tảo silic, tảo lục. Do vậy chiều dài ruột gấp 3 đến
7 lần chiều dài thân nhất là ở cá trưởng thành. Cá dinh dưỡng tích cực trong những
tháng xuân, hè khi nguồn thức ăn thực vật phong phú.
Đặc điểm sinh trưởng: Cá trôi Việt Nam thuộc loài có kích cỡ trung bình,
tối đa đạt 5kg. Cá khai thác thường có kích cỡ 300 – 1.000g, trung bình 500g.
Năm đầu cá lớn nhanh, chiều dài từ 20,6 đến 24,3cm; sau đó giảm dần năm thứ hai
dài 31,9 đến 38,7cm; năm thứ ba từ 41,7 đến 45,7cm; năm thứ tư là 50,5cm với
tốc độ tăng trưởng tương ứng trung bình là 100%, 61%, 40% và 22% (Nguyễn
Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001).
Loài cá này đặc trưng cho miền Bắc Việt Nam. Đây là loài cá kinh tế cho
thịt ngon và chắc được người tiêu dùng ưa thích. Cá trôi Việt Nam trên các con
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 70 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
sông lớn và một số hồ chứa đang giảm sút nghiêm trọng đến mức báo động. Vì
vậy việc khôi phục nguồn lợi cá trôi trên các sông trên là rất cần thiết
Cá mè: Cá mè cũng là một loại cá phổ biến trên thị trường tiêu thụ cá.
Đặc điểm sinh học: Cá mè hoa sống ở tầng trên và tầng giữa. Ở mức nước
thấp hơn so với cá mè trắng. Cá mè hoa không nhảy hoặc vùng quẫy nhiều, chúng
thường bơi thành đàn, hoạt động chậm chạp nên dễ đánh bắt. Cá mè hoa ưa sống
trong nước màu mỡ, có nhiều động vật phù du. Chúng ưa sống trong nước có hàm
lượng oxy hòa tan trên 2 - 3 mg/l. Cá giảm ăn khi hàm lượng oxy giảm dưới
1,6mg/l; cá không ăn khi hàm lượng oxy dưới 1,1mg/l và cá chết khi hàm lượng
oxy khoảng 0,2 - 0,3 mg/l (Trần Văn Vỹ, 1999). Ở giai đoạn cá bột, cá hương
chúng chủ yếu ăn động vật phù du, ngoài ra còn có thể ăn thức ăn nhân tạo như
cám gạo, bã đậu, bột mì, khô lạc giã nhỏ. Ở giai đoạn trưởng thành cá mè hoa ăn
động vật phù du là chính, cộng thêm với một phần thực vật phù du. Cường độ dinh
dưỡng của cá mạnh vào mùa xuân và mùa thu, yếu vào mùa hạ. Trong những ngày
lạnh giá của mùa đông cá giảm ăn.
Đặc điểm sinh trưởng: Cá ưa nhiệt độ cao nên sinh trưởng nhanh từ tháng 6
- 9, cá chậm lớn vào tháng 10 - 3 năm sau. Cá mè hoa 12 ngày tuổi dài 1,52cm,
nặng 0,134g. Nuôi trong ao với mật độ thưa sau 1 năm cá đạt 1 đến 1,5kg, cá 2
năm nặng 4kg, cá 3 năm nặng tới 6kg. Kích cỡ lớn tối đa của cá là 57kg (Trần Văn
Vỹ, 1999).
Cá mè hợp với điều kiện sông ngòi, ao hồ Việt Nam nên sinh trưởng thuận
lợi, lớn nhanh và tự sinh sản trong điều kiện tự nhiên nhờ thế đã bổ sung nguồn lợi
tự nhiên cho sông.
Cá trắm: Cá trắm cỏ chủ yếu chỉ được sử dụng trong chọn giống có chất
lượng cao và nuôi làm cá thương phẩm.
Đặc điểm sinh học: Cá Trắm cỏ là loại cá có khả năng thích ứng rộng với
điều kiện môi trường, sống được trong môi trường nước tĩnh, nước chảy, sinh
trưởng và phát triển bình thường trong môi trường có nồng độ muối từ 0 - 8
0
/00.
Thích ứng với nhiệt độ từ 13 - 32
0
C nhưng nhiệt độ tối ưu là 22 - 28
0
C, khoảng pH
thích hợp từ 5 - 6; ngưỡng oxy thấp từ 0,5 đến 1mg/l. Cá sau khi nở 3 ngày dài
khoảng 7mm, chúng bắt đầu ăn luân trùng, ấu trùng không đốt và tảo hạ đẳng. Khi
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 71 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
cá dài 2 - 3cm chúng bắt đầu ăn một ít mầm non thực vật, tỷ lệ luân trùng trong
khẩu phần ăn của chúng giảm dần nhưng loài giáp xác phù du vẫn chiếm chủ yếu.
Cá dài 3 - 10cm có thể nghiền nát thực vật thượng đẳng và chuyển sang ăn thức ăn
thực vật thủy sinh non. Thức ăn tự nhiên chủ yếu của cá là thực vật thượng đẳng
(cả dưới nước và trên cạn). Sức tiêu thụ của cá rất lớn 22,1 - 27,8% khối lượng cá
trong ngày. Trung bình cứ 40kg thực vật sẽ cho tăng trọng 1kg cá. Cá trắm cỏ
cũng sử dụng tốt thức ăn nhân tạo, nhưng nếu sử dụng nhiều tinh bột trong khẩu
phần thì cá sẽ bị béo và chậm lớn (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001).
Cá trắm cỏ thích sống ở tầng giữa và tầng dưới, nơi gần bờ có nhiều cỏ
nước, bơi lội nhanh nhẹn. Thức ăn chính của cá là các loài cỏ nước, thực vật
thượng đẳng như các loại rong mái chèo, rong đuôi chó, rong tôm, bèo tầm, bèo
hoa dâu. Chúng ăn cả rau và cỏ trên cạn. Ở giai đoạn nhỏ cá thường ăn tảo, chất
vẩn, protozoa. Khi cá lớn cỡ 8 - 10cm thì chuyển sang thức ăn thực vật bậc cao,
nhất là cỏ. Cá trắm cỏ nuôi trong ao ngoài ăn cỏ chúng còn được cung cấp thức ăn
tinh như cám gạo, ngô, sắn. Cá phàm ăn và tính lựa chọn thức ăn không cao.
Đặc điểm sinh trưởng: Cá trắm cỏ có kích thước lớn, nặng nhất đạt tới 35 -
40kg, cỡ thương phẩm trung bình là 3 - 5kg. So với các loài cá khác có cùng kích
thước thì trong điều kiện tối ưu, cá trắm cỏ thể hiện tốc độ sinh trưởng lớn hơn các
loài cá khác, cá nuôi trong ao sau 1 năm đầu đạt 1kg và các năm sau đó đạt 2 - 3
kg ở vĩ độ ôn đới, hay 4 - 5kg mỗi năm ở vĩ độ nhiệt đới (Nguyễn Văn Hảo và
Ngô Sỹ Vân, 2001).
Cá trắm cỏ là loài ăn thực vật điển hình, được sử dụng làm đối tượng nuôi
có hiệu quả kinh tế cao. Thức ăn nuôi cá trắm cỏ đơn giản, dễ kiếm, rẻ tiền, lớn
nhanh, sức sinh sản lớn, thịt ngon, dễ nuôi. Cá được nuôi phổ biến ở trong các ao
hồ ruộng trũng và đặc biệt phát triển trong các ao hồ miền núi và nuôi trong các
lồng bè trên sông, hồ, suối và các đầm nước lợ có độ muối thấp. Cá trắm cỏ ở tự
nhiên sản lượng thấp do khai thác quá mức; sản lượng cá nuôi hiện nay chủ yếu là
từ ao, lồng ở các tỉnh miền núi. Việc nuôi cá trắm cỏ có hạn chế do cá dễ bị bệnh
đốm đỏ gây chết hàng loạt.
Mật độ cá thả: Với hồ Núi Cốc tùy thuộc vào điều kiện của hồ cùng với
nguồn vốn đầu tư nên dự án đã quyết định chọn công thức nuôi thả cỡ cá giống là:
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 72 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
- Cỡ cá từ 10 - 12 cm ≈ 30 g/con = 30 con/kg.
- Mật độ thả 300 con/ha x 2.500 ha = 750.000 con x 30 g = 22.500 kg
Cỡ của cá giống còn quyết định đến tỷ lệ hao hụt cá trong hồ và chất lượng đàn cá
thịt khi thu hoạch, cụ thể như với cỡ cá được chọn ở trên thì có:
- Thả mật độ 300 con/ha cỡ 30 g/con hao hụt 50%.
- Số cá còn lại trong lòng hồ: 750.000 con x 50% = 375.000 con
Như vậy việc chọn cỡ cá giống thả cho hồ sẽ quyết định chất lượng đàn cá
nuôi và hiệu quả kinh tế của hồ. Dưới đây là bảng tổng hợp số lượng cá giống 4
năm liền thả ra hồ:
Bảng 4.7: Cỡ cá giống loại 30 g/con, mật độ 300 con/ha
Loại

Cỡ cá Tỷ lệ
loại

Số lượng cá thả hàng năm (con)
(g/con) (%) 2011 2012 2013 2014
Mè 30 50 375.000 375.000 375.000 375.000
Trôi 30 35 262.500 262.500 262.500 262.500
Chép 30 10 75.000 75.000 75.000 75.000
Trắm 30 5 37.500 37.500 37.500 37.500
∑ lượng giống 750.000 750.000 750.000 750.000
Nguồn: Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên
Thả cá giống có thể thả làm 2 đợt trong năm: (1)Thả cá tháng 10 - 11 hàng năm với
cá giống trong năm (ươm từ tháng 5 – tháng 9), đẻ tháng 4,5. (2) Thả cá tháng 2 - 3
hàng năm với cá giống lưu, nuôi qua mùa đông sau một năm nuôi thả ở hồ, cá cũng
có cỡ lớn khác nhau khi cỡ lớn con giống khác nhau: Cỡ cá giống 30 g/con sau 1
năm nuôi thả cá Mè được 1,4 - 1,5 kg/con. Trôi, Chép được 0,5 - 0,6 kg/con. Trắm
cỏ được 1,5 - 1,7 kg/con.
Số lượng cá sống hàng năm theo lý thuyết
Bảng 4.8: Cỡ cá giống 30 g/con, mật độ 300 con/ha
Loài cá Tỷ lệ sống (%) 2012 (con) 2013 (con) 2014 (con)
Mè 50 187.500 187.500 187.500
Trôi 50 131.250 131.250 131.250
Chép 50 37.500 37.500 37.500
Trắm 50 18.750 18.750 18.750
∑ lượng giống còn trong hồ 375.000 375.000 375.000
Nguồn: Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 73 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Sau 1 năm nuôi thả, sản lượng trong hồ tăng lên theo lý thuyết
Bảng 4.9: Sản lượng cá trong hồ theo lý thuyết Cỡ cá giống 30 g/con, mật độ
300 con/ha
Loài cá Khối lượng cá sau 2012
(kg)
2013
(kg)
2014
(kg)
1 năm thả (kg/con)
Mè 1,5 281.250 281.250 281.250
Trôi 0,6 78.750 78.750 78.750
Chép 0,5 18.750 18.750 18.750
Trắm 1,7 31.875 31.875 31.875
∑ Sản lượng theo lý thuyết 410.625 410.625 410.625
Nguồn: Công ty TNHH một thành viên khai thác Thủy lợi Thái Nguyên
Ngoài sản lượng được tính trên lý thuyết còn có một sản lượng cá lưu tồn tại
trong hồ từ những vụ nuôi trồng trước còn lưu lại, số lượng cá lưu này đã thích nghi
và dần quen với môi trường này nên lượng thức ăn của chúng có thể được khai thác
nhiều từ tự nhiên và thức ăn thừa mà cá thả còn sót lại. Vì vậy, vấn đề thức ăn
không cần phải tính đến chỉ chiếm một lượng rất nhỏ.
- Số lượng cá lưu trong hồ Núi Cốc ước tính chiếm 5% tổng lượng thả giống là:
5% * 750.000 con = 37.500 con
- Số lượng cá sống hàng năm theo lý thuyết: 37.500 con * 50% = 18.750 con
- Trung bình 1 năm nuôi khối lượng của 1 con cá lưu là: 1,1 kg/con
- Tổng sản lượng cá lưu là: 1,1 * 18.750 = 20.625 kg
- Tổng sản lượng cá nuôi và cá lưu trong 1 năm là: 410.625 + 20.625 = 431.250 kg
 Vấn đề con giống
Con giống là vấn đề đầu tiên căn bản mà người nuôi trồng cần phải quan
tâm, con giống tốt là phải đảm bảo chất lượng tốt, kích cỡ phù hợp để khi thả ra có
thể sống khỏe mạnh thích nghi được với môi trường mới. Nuôi trồng thủy sản mà
có thể sản xuất được giống ngay tại khu vực nuôi trồng là một lợi thế lớn tiết kiệm
được một khoản chi phí khá lớn, về công tác vận chuyển từ điểm thu mua giống đến
tận môi trường chăn thả, nhiều loại giống khi thu mua về còn phải xử lý đảm bảo
đúng tiêu chuẩn mới cho thả vào khu vực nuôi trồng và tỷ lệ sống sót của con giống
cũng cao hơn, đồng thời tự sản xuất có thể chủ động về mùa vụ thả giống, nâng cao
kinh nghiệm chăm sóc từ nhỏ đến khi trưởng thành của loài nuôi.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 74 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Hiện nay trại cá giống phục vụ cho hồ Núi Cốc vẫn do Trung tâm Thủy sản
quản lý với tình hình hoạt động hiệu quả không cao. Nếu công ty TNHH một thành
viên khai thác thủy lợi Thái Nguyên đứng ra quản lý luôn trại cá giống. Khi đó trại
giống không chỉ cung cấp giống cho hồ Núi Cốc mà còn cung cấp cá giống cho hơn
30 hồ chứa của tỉnh đang có nhu cầu được cấp cá giống, hiệu quả kinh tế so với mô
hình hoạt động hiện tại sẽ đảm bảo ổn định và cao hơn trước.
 Vấn đề thức ăn và chế độ chăm sóc đàn cá
Nuôi cá hồ chứa, chủ yếu là dựa vào nguồn thức ăn nhân tạo. Ngoài nguồn
thức ăn sẵn có trong hồ, có thể lợi dụng trồng cây làm thức ăn cho cá trong vùng
ngập nước của hồ. Có thể gieo trồng lúa nước trên 400 ha để thu về khoảng 4000
tấn thức ăn xanh cho cá, tăng hàm lượng dinh dưỡng và tính chất tự nhiên của thức
ăn, nếu cho ăn nhiều cám, chất lượng của cá sẽ không thơm ngon và đảm bảo.
Để tiết kiệm kinh phí mua cá giống và để có đàn cá giống đúng tiêu chuẩn kỹ
thuật đưa ra hồ, ta dùng lưới nilon ngăn 47,5 ha ao hồ để nuôi tạm cá giống bé (cỡ
100 con/kg) lên cá giống lớn (30 con/kg). Thời gian ươm nuôi từ tháng 7 đến tháng
10.
- Lượng cá giống lớn cần 750.000 con (mật độ 300 con/ha x 2500 ha)
- Hao hụt 20% trong khi ươm nuôi
- Lượng giống nhỏ ươm thành giống lớn cần 950.000 con cỡ 100 con/kg
- Diện tích ao nuôi tạm cần: 950.000 con: 2 con/m
2
tương ứng là 47,5 ha
- Trọng lượng cá giống từ khi 100 con/kg lên 30 con/kg sẽ tăng: 22.500 kg – 9.500
kg = 13.000 kg
- Hệ số thức ăn ở giai đoạn này là 3 (3kg thức ăn cho 1 kg cá giống)
- Lượng thức ăn cần: 13.000 kg x 3 = 39.000 kg
- Tiền mua thức ăn cần: 39.000 kg x 12.000 đ/kg = 468.000.000 đ
- Tiền mua giống nhỏ để ươm: 9.500 kg x 50.000 đ/kg = 475.000.000 đ
- Tổng tiền giống nhỏ + tiền mua thức ăn = 943.000.000 đ
- Nếu phải mua giống lớn số tiền sẽ bằng: 22.500 kg x 55.000 đ/kg = 1.237.500.000
đ (Giá mua cá giống chưa tính chi phí vận chuyển, và một số chi phí khác đi kèm)
Như vậy nếu mua cá nhỏ để nuôi tại cao ươm, hoặc nuôi trong eo hồ bằng
thức ăn sau đó mới thả ra hồ thì ước tính sẽ giảm được tối thiểu là 294.500.000 đ
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 75 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
 Vấn đề công lao động
Bộ máy tổ chức của công ty quản lý nuôi trồng bao gồm có: 1 Giám đốc
công ty phụ trách chung, 2 Phó giám đốc kiêm trưởng phòng, 3 Phòng chức năng là
Phòng hành chính tổ chức, Phòng kinh tế thị trường, Phòng kỹ thuật sản xuất, 1 đội
bảo vệ 10 người, 1 đội khai thác 15 người, 1 đội phụ trách trại cá giống 15 người.
 Vấn đề phương tiện, thiết bị
Trong quá trình sản xuất vấn đề chuẩn bị, mua sắm, xây dựng các phương
tiện, trang thiết bị phục vụ quá trình sản xuất, nuôi trồng thủy sản cũng cần phải đầu
tư thích đáng. Hiện tại hình thức nuôi trồng là thả giống trực tiếp vào lòng hồ chứa,
không phải là thả lồng, bè như những mô hình chăn thả khác nên việc xây dựng
lồng, bè là không cần đến. Các công việc cần làm là: Xây dựng sa cá và đường dẫn
cá về ao chứa, xây dựng lưới đăng chắn cá trên cống xả tràn kết hợp làm 2 đến 3
chuồng thu cá. Xây dựng hệ thống ao chứa cá nuôi tạm trong mùa vụ khai thác, kết
hợp với việc nuôi giống có diện tích khoảng 1,5 ha. Xây dựng hệ thống ao nuôi tạm
thành ao cá giống lớn diện tích khoảng 40 – 50 ha. Xây dựng nhà làm việc và
phương tiện làm việc đi lại cho công nhân.
 Vấn đề nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn là cơ sở để thành lập các dự án, các dự án có thể hoàn thành đúng
chỉ tiêu và thời gian đã đề ra hay không là phụ thuộc vào lượng vốn được đầu tư đều
và đúng cách. Với dự án nuôi trồng thủy sản tại hồ Núi Cốc đơn vị quản lý đã lập ra
kế hoạch để chủ động được nguồn vốn là huy động từ các cổ đông đóng góp cổ
phần trong đó Công ty khai thác thủy lợi tỉnh Thái Nguyên là cổ đông sáng lập đóng
góp 20 – 30% số vốn và 70 – 80% số vốn còn lại được huy động từ cán bộ công
nhân viên trong công ty, trong ngành nông nghiệp các đơn vị, cá nhân khác tự
nguyện tham gia.
4.3.2 Cầu về tiêu thụ thủy sản
 Thị trường Thái Nguyên
Thái Nguyên là tỉnh có nhiều khả năng để phát triển nông lâm, công nghiệp,
du lịch và các loại hình dịch vụ khác. Là tỉnh có lợi thế phong phú tài nguyên
khoáng sản. Tiềm năng sắt tạo cho Thái Nguyên một lợi thế so sánh lớn trong việc
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 76 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
phát triển các ngành công nghiệp luyện kim, khai khoáng để trở thành một trong các
trung tâm luyện kim lớn của cả nước. Dân số tỉnh Thái Nguyên khoảng 1,2 triệu
người (2010). Số người trong độ tuổi lao động khoảng 550.000 thanh niên bước vào
tuổi lao động (2010). Đây là một lợi thế lớn cho tỉnh trong việc đảm bảo nguồn lao
động cho việc phát triển nền kinh tế của tỉnh. Cơ sở hạ tầng của tỉnh Thái Nguyên
đã được hoàn thiện dần, hệ thống đường giao thông quốc lộ đã được nâng cấp tốt
hơn. Với vị trí rất thuận lợi về giao thông, cách sân bay quốc tế nội bài 50 km, cách
biên giới Trung Quốc 200 km, cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng
200 km. Thái Nguyên còn là điểm nút giao lưu thông qua hệ thống đường bộ,
đường sắt, đường sông hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành, đường quốc lộ 3 nối
Hà Nội đi Bắc Kạn; Cao Bằng và cửa khẩu Việt Nam - Trung Quốc; quốc lộ 1B
Lạng Sơn; quốc lộ 37 Bắc Ninh, Bắc Giang. Hệ thống đường sông Đa Phúc - Hải
Phòng; đường sắt Thái Nguyên - Hà Nội - Lạng Sơn. Văn hóa, các cơ quan thông
tin tuyên truyền đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, tổ chức nhiều hoạt động vui
chơi, giải trí, biểu diễn nghệ thuật, giao lưu văn hóa trà, các hoạt động kỉ niệm, các
giải thể thao được tổ chức trang trọng phát huy truyền thống văn hóa, lịch sử góp
phần nâng cao hiệu quả phong trào toàn dân rèn luyện thể dục thể thao và đoàn kết
đời sống văn hóa. Về khía cạnh y tế, Thái Nguyên là một trung tâm y tế của vùng
Đông Bắc với 01 Bệnh viện Đa khoa TW, 9 Bệnh viện cấp tỉnh và 14 Trung tâm y tế
cấp huyện. Giáo dục, Thái Nguyên được cả nước biết đến là một trung tâm đào tạo
nguồn nhân lực lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với 6 Trường Đại
học, 11 trường Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, 9 trung tâm dạy nghề, mỗi năm
đào tạo được khoảng gần 100.000 lao động. Kinh tế, Thái nguyên là một tỉnh có kinh
tế khá phát triển so với các tỉnh trong cả nước và đặc biệt khu vực hồ Núi Cốc là phát
triển vượt trội so với các khu vực khác trong toàn tỉnh. Nhìn chung đời sống nhân dân
tương đối đồng đều và ổn định. GDP bình quân đầu người năm 2011 ước đạt 22,3
triệu đồng/người/năm.
Nhìn một cách toàn diện tất cả các khía cạnh của tỉnh Thái Nguyên, từ tài
nguyên thiên nhiên sẵn có mà thiên nhiên đã ban tặng cho nơi đây, dân số của toàn
tỉnh cung cấp lượng lao động lớn cho khu vực, nguồn nhân lực dồi dào sẽ tận dụng
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 77 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
được chi phí lao động cho tất cả các lĩnh vực, cơ sở hạ tầng khang trang phát triển
được đầu tư nâng cấp, giao thông đi lại thuận tiện cho việc chuyên chở hàng hóa
trong và ngoài tỉnh, quốc tế đồng thời cũng thuận tiện cho việc đi lại của khách du
lịch đến du lịch nghỉ dưỡng thăm quan tại hồ Núi Cốc, giao lưu với các khu vực
trong và ngoài tỉnh. Thành phố Thái Nguyên cũng được công nhận là thành phố loại
II, thực hiện chính sách mở rộng chào đón các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu
tư phát triển. Kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục của toàn tỉnh cũng khá là phát triển, lợi
thế là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực lớn thứ 3 nên toàn cảnh các mặt cũng tương
đối đồng đều. Mức sống dân cư tại địa bàn tỉnh cũng khá là cao so với các tỉnh bạn
trong khu vực và một số tỉnh thành khác trong cả nước. Đời sống cao đòi hỏi con
người cần tiêu thụ một lượng protein lớn do nhu cầu ăn uống cao, ngoài những mặt
hàng được tiêu thụ phổ biến như thịt lợn, thịt gà, thịt bò thì mặt hàng thủy sản
không thể thiếu và còn được ưa chuộng hơn rất nhiều về thành phần protein. Hiện
nay, trên thị trường thực phẩm có rất nhiều những thông tin xấu về mặt hàng thịt lợn
là dùng hóa chất từ thịt thối “biến hóa” thành thịt lợn tươi, thịt gà thì mắc phải vụ
cúm gia cầm, thịt bò cũng được thay thế nhiều nhưng cũng có những tin xấu về bò
điên và so sánh giữa giá cả của thịt bò và thủy sản thông thường được ưa chuộng
tiêu dùng hàng ngày như cá chép, trắm, trôi, mè thì giá thịt bò cao hơn nhiều. Vì
vậy, mặt hàng thủy sản đã chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ về chất lượng cũng như giá
cả phải chăng. Đối với thị trường thực phẩm tỉnh Thái Nguyên, thủy sản cũng là
thực phẩm chủ yếu được người dân tiêu thụ nhiều, ngoài tiêu thụ về thực phẩm ăn
uống thì thủy sản còn được sử dụng vào một số mặt hàng khác như sản phẩm thuốc
uống, thuốc bổ được chiết xuất từ thủy sản cũng được người tiêu dùng ưa chuộng.
Toàn tỉnh Thái Nguyên hiện có 6.925 ha mặt nước có thể nuôi trồng thủy
sản, trong đó diện tích đã được sử dụng chỉ đạt 69%, sản lượng thủy sản đạt khoảng
6.000 tấn, đáp ứng 60% nhu cầu tiêu thụ. Bình quân mỗi năm, các tư thương trong
tỉnh phải nhập thêm từ 300 đến 400 tấn tôm, cá… (Số liệu được lấy từ trang tin thị
trường xúc tiến thương mại chuyên trang thủy sản – cơ quan chủ quản bộ nông
nghiệp và phát triển nông thôn, ngày 23/02/2012). Để phục vụ người tiêu dùng Thái
Nguyên. Lý do mà trên toàn tỉnh nguồn hàng thương phẩm cung cấp vẫn còn không
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 78 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
đủ cầu là do các địa phương chưa có định hướng cụ thể cho người dân, nhiều địa
điểm nuôi trồng thuận lợi cho việc chăn nuôi thủy sản nhưng người dân lại không
mạnh dạn đầu tư vào để phát triển. Khó khăn trong phát triển chăn nuôi thủy sản
còn hạn chế, những chính sách được phê duyệt mới chỉ áp dụng trong các chương
trình, dự án nhỏ ở một giai đoạn nhất định, thường chỉ có những mô hình và diện
tích nằm trong khuôn khổ của dự án mới được hỗ trợ. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh
chưa có nhà máy chế biến thức ăn cho cá, nếu chăn nuôi thủy sản theo hình thức
bán công nghiệp hoặc công nghiệp thì chi phí mua thức ăn sẽ rất cao, trong khi
những mặt hàng thủy sản phổ biến chưa có gì đặc sắc tại khu vực thì giá bán thương
phẩm trên thị trường không cao.
Trước tình hình cung thiếu, cầu tăng. Dự án nuôi trồng thủy sản được thành
lập đảm bảo mục tiêu trước mắt là nhanh chóng phát triển nguồn lợi thủy sản của hồ
Núi Cốc cung ứng đủ cho tiêu thụ của tỉnh không phải nhập thêm hàng từ nơi khác.
Vì vậy, trong những năm đầu sản lượng được nuôi trồng dự kiến ở mức ổn định với
tổng sản lượng trong 1 năm nuôi trồng là 431.250 kg thủy sản cung ứng đủ cho tiêu
dùng tại chỗ và có thể góp phần cung cấp thực phẩm tươi sạch, tươi sống cho khách
du lịch đến thăm Thái Nguyên, tạo thương hiệu mới, đặc trưng mới cho Thái
Nguyên về chất lượng thơm ngon, uy tín của sản phẩm thủy sản hồ Núi Cốc. Sau
vài năm đầu ổn định dự án sẽ phát triển lớn hơn nữa là có thể mang đi cung ứng ra
ngoài tỉnh qua hệ thống giao thông thuận tiện. Mục tiêu trước tiên hướng tới là thị
trường tiêu thụ thủy sản nước ngọt toàn miền Bắc, tâm điểm là Thủ đô Hà Nội một
thị trường tiêu thụ lớn và khó tính trong cả nước.
 Thị trường Việt Nam
Tình hình trên thị trường tiêu thụ thủy sản trong cả nước: Với xu hướng
khá đa dạng và phong phú với tất cả các loại mặt hàng. Thị hiếu của người tiêu
dùng cũng phụ thuộc vào từng khu vực. Người dân nông thôn có mức tiêu dùng
thủy sản khác người dân ở thành thị, người dân vùng nội đồng tiêu dùng khác vùng
ven biển. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tới lượng tiêu thụ thủy sản như: Khu
vực sinh sống, chất lượng đời sống, nhóm dân tộc, số người trong gia đình, giá từng
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 79 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
loại mặt hàng thủy sản, chất lượng thủy sản… Khó khăn chủ yếu trong tiêu dùng
thủy sản là giá cả ngày càng tăng và chất lượng chưa được đảm bảo. Người tiêu
dùng mong muốn có mức giá hợp lý và ổn định hơn cũng như có sự cải thiện về
công tác quản lý chất lượng thủy sản.
Ngày nay, trước những nguy cơ về sức khỏe thì thủy sản đã trở thành thực
phẩm được lựa chọn an toàn nhất trong số các thực phẩm có nguồn gốc từ động vật.
Tiêu thụ thủy sản trên toàn thế giới ước đạt 19,1 kg/người/năm vào năm 2015. Việt
Nam có mức tiêu dùng thủy sản bình quân đầu người 19,4 kg/người/năm trong năm
1999, năm 2007 là 22 kg/người/năm và ước đạt 26,4 kg/người/năm vào năm 2010
(Lê Xuân Sinh, 2010). Như vậy Việt Nam luôn có mức tiêu dùng thủy hải sản theo
đầu người cao hơn mức trung bình của thế giới, riêng Đồng bằng sông Cửu long
thường cao hơn gấp đôi so với toàn quốc (55,9 kg/người/năm) (Lê Xuân Sinh,
2010). Lý do mà khu vực này có lượng tiêu thụ thủy sản lớn đến vậy là vì khu vực
có sản lượng nuôi trồng lớn trong cả nước, nuôi trồng cả mặt hàng xuất khẩu điển
hình của Việt Nam ra một số thị trường lớn như cá tra, cá basa. Tuy nhiên, thông tin
về tiêu thụ thủy sản trên thị trường nội địa mà nhất là tiêu dùng ở mức hộ gia đình
còn rất hạn chế.
Tình hình tiêu thụ trên thị trường trong cả nước về các loại cá: Chép, mè,
trôi, trắm. Nhìn chung, những loại này được thị trường tiêu thụ thực phẩm ở miền
bắc ưa chuộng và tiêu thụ nhiều hơn. Các hộ nuôi trồng ở quy mô nhỏ hay lớn hơn
hầu hết chăn nuôi nhiều, vì dễ chăm sóc và giá cả, chi phí chăn nuôi rẻ hơn so với
một số loài nuôi khác, mua giống, phương pháp chăm sóc cũng phổ biến và thuận
tiện hơn. Với cá mè là loài cá tăng trưởng nhanh, giá cả tương đối mềm, người tiêu
thụ chủ yếu loài cá này là những người có thu nhập thấp, chủ yếu có thể coi cá mè
là loại cá xóa đói giảm nghèo, cá được nuôi nhiều ở một số tỉnh và địa phương còn
nghèo phục vụ chủ yếu theo hình thức tự cung tự cấp. Tại các thành phố người có
thu nhập thấp cũng tiêu thụ một lượng lớn loài cá này. Hiện tại giá của các loài cá
này trên thị trường dao động từ 40.000 – 80.000 đồng/kg. Tại tất cả các khu chợ
trên mọi địa bàn hầu hết mặt hàng chủ yếu chính là cá chép, trôi, trắm, mè. Với giá
cả phải chăng nên lượng tiêu thụ các loài này cũng rất lớn, đây cũng là một lợi thế
của những người chăn nuôi các loài cá này. Ngoài ra, ở một số thị trường tiêu thụ
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 80 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
đặc biệt, đòi hỏi chất lượng cao ngoài tiêu thụ các sản phẩm thủy hải sản ở biển, thì
xu hướng tiêu thụ cá nước ngọt ưa chuộng một số loài cá hiếm, có giá trị kinh tế
cao, chất lượng thịt, trứng thơm ngon và giàu chất dinh dưỡng.
Một số những thông tin thu nhận được về vấn đề tiêu thụ thủy sản tại các
thành phố lớn, tiêu biểu trong cả nước như: Trung bình trong một tháng, người tiêu
dùng Hà Nội tiêu dùng 2,19 kg/người thịt lợn và 1.66 kg/người thủy sản. Người tiêu
dùng Hải Phòng tiêu dùng 2,37 kg/người thịt lợn và 2,52 kg/người thủy sản. Người
tiêu dùng Hồ Chí Minh tiêu dùng 1,52 kg thịt lợn/người và 1,74 kg/người thủy sản.
Người tiêu dùng Đà Nẵng tiêu dùng 1,55 kg/người thịt lợn và 2,54 kg/người thủy
sản (Theo “Công bố kết quả nghiên cứu điều tra nhu cầu sử dụng lương thực – thực
phẩm tại một số tỉnh ở miền bắc và miền nam”, của viện chính sách và chiến lược
phát triển nông nghiệp nông thôn, ngày 25/08/2011). Người tiêu dùng ưa thích tiêu
dùng các mặt hàng tươi sống hơn, còn các sản phẩm đông lạnh và chế biến sẵn vẫn
còn hạn chế. Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều thông tin không tốt về chất lượng
thịt lợn, những thông tin này đều có cơ sở và được kiểm chứng. Chính vì vậy, xu
hướng lựa chọn tiêu dùng sẽ thiên về thủy sản nhiều hơn tạo lợi thế và cũng là sức
ép cho những người chăn nuôi thủy sản phải đảm bảo chất lượng và chữ tín trên hết.
Tình hình nuôi trồng và nhu cầu tiêu thụ các tỉnh lân cận Thái Nguyên:
Một số tỉnh khu vực phía bắc giáp với tỉnh Thái Nguyên như: Lạng Sơn, Tuyên
Quang, Bắc Kan, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Hà Nội. Với tình hình nuôi trồng tại một
số tỉnh lân cận cho thấy sự phát triển nuôi trồng thủy sản quanh tỉnh Thái Nguyên
cũng khá là sôi động. Vì vậy, việc trao đổi hàng hóa thủy sản giữa các tỉnh là chưa
cần thiết, với những tỉnh nguồn cung vẫn còn thiếu như Bắc Kan, Tuyên Quang
nhưng đời sống nơi đây khó mà có thể đáp ứng được với mức giá thủy sản. Trong
tương lai các tỉnh này sẽ phát triển với mức tiêu thụ đầu tiên là tự cung, tự cấp nên
việc thủy sản Thái Nguyên có xu hướng xuất bán là sẽ gây nguy cơ cung lớn hơn
cầu. Thái Nguyên cần phải hướng tới thị trường lớn hơn như Hà Nội và một số
thành phố lớn khác thì mới có cơ hội và phát triển, nhưng trước mắt đáp ứng được
lượng cầu trong toàn tỉnh là điều hoàn toàn có thể làm được.
4.3.3 Mô hình hóa đường cung, cầu thủy sản
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 81 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Trong những năm đầu, về phía cung sản xuất và nuôi trồng thủy sản chỉ đáp
ứng với lượng cầu tiêu thụ của người tiêu dùng trong toàn tỉnh. Vì vậy, đồ án mới
chỉ dừng ở vấn đề tìm hiểu đường cung cầu của thủy sản Thái Nguyên biến động ra
sao.
Bảng 4.10: Số liệu về Tổng lượng cung, cầu trong 1 năm (2012) và mức giá
bình quân cho mặt hàng thủy sản của tỉnh Thái Nguyên trước
và sau khi có dự án nuôi trồng thủy sản.
Nội Dung P(1.000đ/kg) Q
s
(tấn/năm) Q
d
(tấn/năm)
Trước 30 6.000 6.400
Sau 50 6.430 6.300
Mức giá bán bình quân của thủy sản, điển hình như giá bán bình quân của cá
trắm, cá chép, cá mè, cá trôi theo như giá cả thị trường luôn biến động nhà đầu tư đã
tính đến giá bán buôn tất cả mặt hàng là 30.000 đ/kg. Hiện nay, giá mặt hàng thủy
sản đã được tăng lên, với các loại cá trắm, trôi, chép, mè như: Đối với giá bán buôn
tại một số chợ đầu mối cá trắm loại ngon dao động từ 50.000 – 60.000 đ/kg. Còn
với giá bán lẻ tới người tiêu dùng khoảng 50.000 đ/kg rô phi, trắm thường
80.000đ/kg, trắm đen 130.000 – 150.000 đ/kg. Đối với hồ Núi Cốc lợi thế còn là
khu du lịch, thăm quan, nghỉ dưỡng, các du khách đến đây còn mua nhiều đặc sản
về làm quà nên giá cá có thể tăng lên, bình quân giá các mặt hàng cá hiện nay lấy
50.000 đ/kg. Tổng sản lượng cầu giao động từ 6.300 – 6.400 tấn/năm trong toàn
tỉnh Thái Nguyên, khi giá cá tăng cao người tiêu thụ có thể bớt một phần nhỏ đi để
đảm bảo nhu cầu sinh hoạt, tiêu thụ nhiều rau hơn hay các mặt hàng thực phẩm rẻ
hơn, tính toán chi tiêu trong gia đình một cách hợp lý khi giá cả các mặt hàng đồng
loạt leo thang. Tổng sản lượng cung sẽ giao động từ 6.000 – 6.430 tấn/năm vì trong
bước đầu dự án đã đảm bảo cung cấp thêm cho người tiêu dùng Thái Nguyên thêm
hơn 400 tấn cá thương phẩm trong vòng 1 năm đáp ứng nhu cầu còn thiếu của
người tiêu dùng.
 Thiết lập hàm số cung và cầu.
Giả sử đường cầu và đường cung về sản phẩm thủy sản là đường tuyến tính. Lần
lượt có dạng như sau:
D: Q
d
= a – b*P
S: Q
s
= c + d*P
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 82 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Tại mức giá 30 và 50 ứng với lượng cầu là 6.400 và 6.300. Thay vào phương trình
đường cầu ta được hệ phương trình:
6.400 = a – b*30 a = 6.550
6.300= a – b*50 b = 5
Phương trình đường cầu là: Q
d
= 6.550 – 5*P
- Tương tự cho phương trình đường cung. Tại giá 50, 30 ứng với lượng cung là
6.000 và 6.430. Ta giải hệ phương trình:
6.000 = c + d*30 c = 5.355
6.430 = c + d*50 d = 21,5
Phương trình đường cung là: Q
s
= 5.355 + 21,5*P
Cách khác
Ta có:
/
.
/
Q Q Q p
p p p Q
ε
∆ ∆
· ·
∆ ∆
= -b*(P/Q)
 ∆Q/∆P = - b
 b = - (6.300-6.400)/(50-30) = 5
Tại giá P = 30, Q
d
= 6.400 thay vào phương trình đường cầu ta có:
6.400 = a - 5*30
a = 6550
/
.
/
Q Q Q p
p p p Q
δ
∆ ∆
· ·
∆ ∆
=d*(P/Q)
 ∆Q/∆P = d
 d = (6.430-6.000)/(50-30) = 21,5
Tại giá P = 30, Q
s
= 6.000 thay vào phương trình đường cầu ta có:
6.000 = c + 21,5*30
c= 5.355
Độ co giãn của cầu: Với P = 30, Q
D
= 6.400
/
.
/
Q Q Q p
p p p Q
ε
∆ ∆
· ·
∆ ∆
= -5*30/6.400 = -0,02
Độ co giãn của cung: Với P = 30, Q
S
= 6.000
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 83 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
/
.
/
Q Q Q p
p p p Q
δ
∆ ∆
· ·
∆ ∆
= 21,5*30/6.000 = 0,1
 Hệ số co giãn nhỏ hơn 1,0 thể hiện rằng cầu và cung thủy sản kém co giãn với
giá. Như vậy, chứng tỏ thủy sản là thực phẩm thiết yếu của cộng đồng người tiêu
dùng.
Với 2 phương trình đường cầu, đường cung dưới:
Phương trình đường cầu là: Q
d
= 6.550 – 5*P
Phương trình đường cung là: Q
s
= 5.355 + 21,5*P
Tìm được điểm cân bằng cung cầu tại điểm cân bằng E với mức giá P = 45.000
đ/kg và sản lượng Q = 6.325 tấn/năm. Tại mức giá và sản lượng cân bằng người
mua và người bán đều thỏa mãn với những mong muốn của mình.
Trong tương lại tỉnh Thái Nguyên sẽ mở rộng, cung cấp thủy sản điển hình và đảm
bảo chất lượng thơm ngon, theo tiêu chuẩn quy định và thị hiếu của người tiêu
dùng.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
t
D
45
P (nghìn
đồng/tấn)
Q (tấn/năm)
6325
S
E
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 84 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Hình 4.1: Cung, cầu thủy sản cho Thành phố Thái Nguyên trong 1 năm
Theo báo cáo của FAO năm 2010, thủy sản nuôi hiện nay là nguồn cung cấp
đạm động vật tăng trưởng nhanh nhất của thế giới và đáp ứng gần một nửa sản
lượng tiêu thụ toàn cầu. Dự kiến năm 2012, thủy sản nuôi sẽ đáp ứng hơn 50%
lượng tiêu thụ thủy sản của thế giới. Trước tình hình sản lượng thủy sản khai thác
toàn cầu nói chung đang sụt giảm trong khi dân số ngày càng bùng nổ thì nuôi trồng
thủy sản được cho là có tiềm năng lớn nhất trong tương lai và có thể đáp ứng được
nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm có chất lượng và an toàn. Hiện thủy
sản nuôi đang góp phần giảm nghèo và cải thiện an ninh lương thực ở nhiều khu
vực trên thế giới
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
t
R
Giá ròng P
t
P
0
t
P’
0
K
T’
T 45
0
D
D’
R
0

R
0
T T’
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 85 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Hình 4.2: Tác động của gia tăng trong cầu đối với tài nguyên
Với tình hình dân số ngày càng gia tăng thì cầu về thủy sản cũng tăng. Hình
4.2 mô phỏng tác động gia tăng về cầu của tài nguyên ảnh hưởng tới giá, thời gian
và khối lượng khai thác tài nguyên. Đường cầu do vậy dịch chuyển ra phía ngoài.
Khi đã biết thay đổi này, tiền thuê mỏ hoặc giá ròng cũ sẽ tạo ra các mức khoan hút
cao hơn, là điều sẽ vét cạn kiệt tài nguyên trước khi giá ròng đạt tới K, giá bóp cổ
(là mức giá mà người tiêu dùng không sử dụng sản phẩm thay vào đó là một sản
phẩm thay thế khác). Do vậy giá ròng phải tăng để làm giảm các khối lượng cầu,
thời gian mà kho tài nguyên bị vét cạn hoàn toàn cũng sẽ ngắn lại. Bài toán này có
nguy cơ xảy ra nhiều hơn với các loại tài nguyên không tái tạo. Còn với tài nguyên
thủy sản thì đây là một cảnh báo với những nguy cơ tiềm tàng, với tình hình dân số
ngày càng gia tăng, lượng cầu về thực phẩm ngày càng nhiều. Nhất là đối với mặt
hàng thủy sản một loại hàng hóa đang góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện an
ninh lương thực nhiều khu vực trên thế giới. Nếu như, giá của thủy sản đạt tới mức
giá bóp cổ thì người dân sẽ lâm vào tình trạng nghèo đói kiệt quệ, khó có mặt hàng
nào với mức giá thấp hơn mà thay thế được thủy sản. Vì vậy, nuôi trồng thủy sản
phải gia tăng nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ, nếu chỉ trông mong vào thủy
sản khai thác tự nhiên thì nguy cơ tổn thương sẽ là rất cao.
4.4 Thiết lập bài toán
Mô hình nuôi thủy sản trong hồ Núi Cốc thả bốn loại cá với tỷ lệ nuôi ghép
các loài cá trong hồ quy định như sau: Mè hoa và mè trắng (50% lượng giống), trôi
Mrigal, Rô hu (35%), chép (10%), trắm cỏ, trắm đen (5%), trong hồ vẫn còn một
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 86 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
lượng cá lưu tồn lại. Đây đều là những loại cá được nuôi phổ biến ở miền Bắc. Mỗi
loại có đặc tính sống ở tầng nước khác nhau và ăn những thức ăn khác nhau:
Cá mè thích sống ở tầng nước trên và ăn chủ yếu là sinh vật phù du…
Cá trôi đều sống ở tầng nước giữa và dưới, ăn tạp mùn bã hữu cơ, côn trùng, ấu
trùng…
Cá chép sống ở tần nước đáy, ăn động vật đáy: Giun, ấu trùng, côn trùng, thóc
ngâm, khô dầu, bã đậu…
Cá trắm cỏ ưa sống ở nước trong sạch, sống ở tầng nước giữa gần bờ, ăn cỏ, rau,
rong, bèo… đã được mệnh danh là “trâu nước” hoặc “máy dọn cỏ”.
Theo như số liệu thu thập được về tăng trưởng theo năm của bốn loại cá: Mè, trôi,
chép, trắm. Mối tương quan giữa tổng sản lượng của đàn cá theo từng năm, mẫu số
liệu chỉ tính đến năm thứ 5. Vì quy mô nuôi cá công nghiệp, thời gian nuôi trồng sẽ
không kéo dài quá lâu. Xem xét tình hình tăng trưởng của từng loại cá trong 5 năm
nuôi.
Bảng 4.11: Tổng sản lượng của cá Mè từ năm thứ nhất đến năm thứ 5
Tuổi Số con (con) Khối lượng 1
con cá (kg)
Tổng sản
lượng (kg)
1 187.500,00 1,50 281.250,00
2 187.500,00 2,63 492.187,50
3 187.500,00 3,50 656.250,00
4 187.500,00 4,25 796.875,00
5 187.500,00 5,00 937.500,00
Để minh họa những số liệu thu thập được ở trên. Ký hiệu S là tổng sản lượng, tính
theo số (Kg) của cá, và t là tuổi tính theo năm của con cá từ khi nuôi trồng. Để cho
đơn giản, giả sử sẽ là sử dụng một năm để ký hiệu một đơn vị thời gian. Mối quan
hệ tuổi – sản lượng được ước lượng bởi hàm số, dưới đây là hàm ước lượng của cá
Mè: S = 324.218,75t – 46.875t
2
+ 3.906,25t
3
Hàm cũng chính là hàm tăng trưởng của cá Mè theo thời gian
Bảng 4.12: Tổng sản lượng của cá Trôi từ năm thứ nhất đến năm thứ 5
Tuổi Số con (con) Khối lượng 1
con cá (kg)
Tổng sản
lượng (kg)
1 131.250,00 0,60 78.750,00
2 131.250,00 1,30 170.625,00
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 87 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
3 131.250,00 2,00 262.500,00
4 131.250,00 3,00 341.250,00
5 131.250,00 5,00 393.750,00
Có được: S = 67.812,5t + 13.125t
2
– 2.187,5t
3
Hàm cũng chính là hàm tăng trưởng của cá Trôi theo thời gian
Bảng 4.13: Tổng sản lượng của cá Chép từ năm thứ nhất đến năm thứ 5
Tuổi Số con (con) Khối lượng 1
con cá (kg)
Tổng sản
lượng (kg)
1 37.500,00 0,50 18.750,00
2 37.500,00 1,23 45.937,50
3 37.500,00 2,00 75.000,00
4 37.500,00 2,65 99.375,00
5 37.500,00 3,00 112.500,00
Có được: S = 12.343,75t + 7.500t
2
– 1.093,75t
3
Hàm cũng chính là hàm tăng trưởng của cá Chép theo thời gian
Bảng 4.14: Tổng sản lượng của cá Trắm từ năm thứ nhất đến năm thứ 5
Tuổi Số con (con) Khối lượng 1
con cá (kg)
Tổng sản
lượng (kg)
1 18.750,00 1,70 31.875,00
2 18.750,00 2,58 48.281,25
3 18.750,00 3,00 56.250,00
4 18.750,00 3,35 62.812,50
5 18.750,00 4,00 75.000,00
Có được: S = 41.953,125t – 11.250t
2
+ 1.171,875t
3
Hàm cũng chính là hàm tăng trưởng của cá Trắm theo thời gian
Nuôi trồng thủy sản hiệu quả, đạt được sản lượng mong muốn là rất quan
trọng với người chăn nuôi. Song bên cạnh đó còn có một vấn đề quan trọng không
kém là khai thác hiệu quả. Vấn đề thu hoạch thế nào để giá trị hiện thời của lợi
nhuận từ nuôi trồng thủy sản được tối đa, thời gian thích hợp sau khi nuôi trồng tại
đó đàn cá cần được thu hoạch. Có rất nhiều cách thức, phương pháp, mô hình được
lựa chọn để sử dụng. Và thường thì sẽ là bắt đầu từ mô hình đơn giản nhất, mô hình
quay vòng đơn.Trên thực tế, mô hình này không được áp dụng nhiều lắm. Nhưng có
một điều đáng lưu ý ở mô hình này là bắt đầu những bước tiếp cận, hiểu biết về
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 88 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
kinh tế học thu hoạch cá. Trên thị trường có một lý luận, cái gì tối ưu về mặt tư
nhân có thể không hiệu quả về mặt xã hội. Nơi nào chi phí và lợi ích tư nhân không
phù hợp với các đối tác xã hội của chúng, tại mô hình quay vòng đơn, sẽ đơn giản
hóa vấn đề, nó được xét đến để các nhà đầu tư, cũng như ai đam mê với những phân
tích kinh tế có một cái nhìn toàn diện, từ đơn giản đến phức tạp của kinh tế học thu
hoạch cá.
4.4.1 Mô hình nuôi trồng thủy sản quay vòng đơn
Bài toán quay vòng đơn đưa ra với giả thiết đàn cá nuôi, được thả giống cùng
một thời điểm, và sẽ được thu hoạch hết cùng một thời điểm. Và khi được thu
hoạch, đàn cá sẽ không được nuôi lại tại khu vực nuôi trồng cũ. Vì vậy, chu trình
của vòng quay đơn sẽ là thả giống, tăng trưởng và thu hoạch. Giả thiết đưa ra là: (1)
Hồ chứa nước không có sử dụng thay thế do vậy chi phí cơ hội bằng không. (2)
Tổng chi phí chăm sóc, thả giống, tiền lương cho công nhân là cố định, hàng năm
đều mất một khoản chi phí như nhau (k), chi phí thu hoạch cận biên (c), giá bán
buôn từ khu nuôi trồng đến người buôn cá là (P), tất cả những chi phí này đều cố
định theo thời gian. (3) Sự tồn tại hay thu hoạch của đàn cá không có tác động ngoại
ứng.
Để chọn được lứa tuổi thu hoạch mà tại đó giá trị hiện thời của lợi nhuận từ
hồ nuôi thủy sản là cực đại. Lợi nhuận từ việc thu hoạch tại một tuổi cụ thể của đàn
cá trong hồ được cho bởi giá trị của cá được thu hoạch trừ đi chi phí chăm sóc, thả
giống, tiền lương, thu hoạch. Cùng với những giả thiết đã được đưa ra ở trên. Giả
thiết là đàn cá được thu hoạch tại tuổi T, giá trị hiện thời lợi nhuận của đàn cá sẽ là:
Π = (P – c)S
T
e
-iT
– k = pS
T
e
-iT
– k (1)
Trong đó S
T
ký hiệu sản lượng cá thời kỳ thu hoạch tại thời điểm T; p là giá ròng
của cá được thu hoạch và i là tỷ lệ chiết khấu tiêu dùng tư nhân. Giá trị hiện thời
của lợi nhuận được cực đại tại T. Để tối đa hàm lợi nhuận này, đặt đạo hàm theo T,
và cho giá trị bằng không, lời giải:
Π =
dT
p
dT
dS
p p
dT
d
k p
dT
d
e
S e e S e S
iT
T
iT iT
T
iT
T

− − −
+ · · − ) ( ) (
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 89 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Đặt biểu thức trên bằng không, ta có:
Π =
0 · −
− −
e S e
iT
T
iT
ip
dT
dS
p
và do vậy
ST
ip
dT
dS
p ·
(2) Hoặc
S
T
p
dT
dS
p
i ·
(3)
Vì giá ròng của cá được thu hoạch p là giá cố định theo thời gian nên biểu thức trở
thành:
S
T
dT
dS
i ·
(4)
Phương trình (4) cho thấy một kết quả là giá trị hiện thời của lợi nhuận được tối đa
khi tỷ lệ phần trăm tăng trưởng của sản lượng cá thu hoạch bằng với tỷ lệ chiết
khấu. Với phương trình (1) có thể tính toán số năm cá đạt giá trị hiện thời, tối ưu
theo số liệu trong (Phụ lục 4.4, 4.5, 4.6, 4.7, 4.8). Trong các tính toán đó giá bán
buôn của từng loại cá là khác nhau và tỷ lệ % phân bổ cũng khác nhau cho tính chi
phí thả giống, chăm sóc và đánh bắt cho riêng từng loại cá. Giá bán cá được cho
trong (bảng 4.5), chi phí thu hoạch cá là 1.803 đồng/kg, chi phí chăm sóc, thả giống,
tiền lương gộp chung vào lấy cố định và phụ thuộc vào tỷ lệ thành phần các loại cá
trong hồ. Giá trị tính toán cần tính là doanh thu, chi phí và lợi nhuận rằng, trong đó
tính với cả hai trường hợp là giá trị không chiết khấu hay tỷ lệ chiết khấu i = 0, và i
= 3%. Kết quả đạt được với tính toán cho hai trường hợp tỷ lệ chiết khấu đều cho
thấy lợi nhuận ròng được tối đa tại năm thứ 5. Lợi nhuận ròng đạt được cùng với giả
thiết được đưa ra ở phần đầu.
Kết quả của mô hình vòng quay đơn cho thấy, quá trình nuôi cá từ năm đầu
tiên đến năm thứ 5, trong đó các giả thiết về chi phí thả giống, chăm sóc, tiền lương
cho công nhân là cố định. Thời gian càng dài lợi nhuận càng cao. Điều này, ngoài
thực tế sẽ khó mà áp đụng được. Những thay đổi nhỏ trong tỷ lệ lãi suất có thể làm
thay đổi một cách nhanh chóng lợi nhuận ròng. Tóm lại, mô hình chỉ cho thấy một
góc nhìn về tối đa thời gian thu hoạch nuôi cá với trường hợp đặc biệt.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 90 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
4.4.2 Mô hình nuôi trồng thủy sản quay vòng vô hạn
Mô hình quay vòng đơn cho thấy áp dụng mô hình thực tế này là không thỏa
đáng theo vô số cách. Ý nghĩa của nó cho thấy sau khi thu hoạch hết lượng cá được
nuôi, vì chỉ có một vòng quay nên tiếp theo hồ sẽ không có sử dụng thay thế nào.
Thông thường trong thực tế những nhà nuôi trồng đều có chung một hành vi là nuôi
trồng với khoảng thời gian vô hạn hay nói cách khác là nhiều vòng quay. Điều quan
tâm ở đây là thời gian tối ưu giữa một lần thả giống và lần thả tiếp theo. Áp dụng
tham số được đưa ra ở mục trên, vòng quay thứ nhất bắt đầu với việc thả giống tại
t
0
, tiếp đến là t
1
, t
2
, t
3
,… Giá trị lợi nhuận của vòng quay thứ nhất là:
Π =
( )
( )
1
]
1

¸


− −

k
t t
t t
p
e S
i
0 1
0 1
Giá trị hiện thời ròng của lợi nhuận trong chuỗi vô hạn được cho bởi:
Π =
( )
( )
1
]
1

¸


− −

k
t t
t t
p
e S
i
0 1
0 1
+
( )
( )
( )
1
]
1

¸


− −

− −
k
t t
t t
p
t t
e S e
i i
1 2
1 2
0 1
+
( )
( )
( )
1
]
1

¸


− −

− −
k
t t
t t
p
t t
e S e
i i
2 3
2 3
0 2
+
( )
( )
( )
1
]
1

¸


− −

− −
k
t t
t t
p
t t
e S e
i i
3 4
3 4
0 3
+ …
Gọi khoảng thời gian trong vòng quay tối ưu là T, giá trị lợi nhuận được biến đổi
theo T là:
Π = [ ] k p
e S
iT
T


+ [ ] k p
e S e
iT
T
iT

− −
+ [ ] k p
e S e
iT
T
iT

− −2
+
[ ] k p
e S e
iT
T
iT

− −3
+ …
Biến đổi rút gọn có được giá trị:
e
e S
iT
iT
T
k p




· Π
1
hay
k
k p
e
S
iT
T



· Π
1
Trên thị trường với các loại cá chép, trôi, trắm, mè đều là những mặt hàng có giá cả
cạnh tranh, nên giá ròng p được coi là cố định. Điều kiện tối đa giá trị hiện thời:
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 91 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
( ) ( ) [ ]
( )
0
1
1
2
·
− −
1
1
]
1

¸

,
_

¸
¸
·
Π

e
e S e
dS
iT
i k p
dT
p
dT
d
iT
T
iT
T
Biến đổi bằng phương pháp toán học:
e
S
dS
iT
T
T
i
k p
dT
p


·

1
(*)
Đối với bài toán quay vòng vô hạn có một lưu ý ở đây về chi phí k, quan tâm đến cả
chuỗi thời gian chi phí k sẽ có những tác động cụ thể biểu diễn như sau: k = βk’,
phương trình (*) được biểu diễn:
e k S
dS
iT
T
T
i
p
dT
p


·
− 1
'
β
(**)
Trong đó β là một hằng số, và phụ thuộc vào chất lượng thức ăn cho đàn cá nuôi
trong hồ. (1) Nếu đàn cá sử dụng cỏ làm thức ăn chính thì hệ số β sẽ lớn. (2) Đàn cá
được chăn nuôi bằng cám nhiều thì hệ số β sẽ phải nhỏ để giảm chi phí và tăng lợi
nhuận.
4.4.3 Bài toán đánh bắt có chọn lọc
Một cách thức được đưa ra là trong quá trình đánh bắt cá nhiều khi người
nuôi trồng sẽ không lựa chọn cách thức đánh bắt cá hàng loạt, có nghĩa là thả lưới
đánh bắt hết tất cả cá được nuôi trong hồ, to, nhỏ khác nhau. Mà sẽ lựa chọn
phương án đánh bắt theo mắt lưới, chọn mắt lưới tương thích với kích cỡ cá cần
đánh bắt, những con còn lại lọt qua mắt lưới thì tiếp tục được nuôi dưỡng. Dựa vào
số liệu của bảng 4.11, 4.12, 4.13, 4.14, cũng sẽ ước lượng được hàm thời gian theo
tăng trưởng. Lựa chọn thời gian đánh bắt, với sản lượng phù hợp với thời gian đó
thì cho khai thác:
Hàm thời gian theo tăng trưởng của cá mè:
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 92 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
t = 2,8*10
-6*
S + 2,7*10
-12
*S
2
+ 0*S
3
Hàm thời gian theo tăng trưởng của cá trôi:
t = 1,4*10
-5
*S – 2,5*10
-11
*S
2
+ 5,3*10
-17
*S
3
Hàm thời gian theo tăng trưởng của cá chép:
t = 6,3*10
-5
*S – 5,9*10
-10
*S
2
+ 3,8*10
-15
*S
3
Hàm thời gian theo tăng trưởng của cá trắm:
t = -5,2*10
-6
*S + 1,3*10
-9
*S
2
- 4,4*10
-15
*S
3
4.4.4 Xây dựng bài toán động trong nuôi trồng thủy sản
Trong bài toán nuôi trồng thủy sản tại hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên, đàn cá
nuôi ở đây có giá trị thay đổi theo thời gian, trọng lượng thay đổi theo thời gian.
Biến đổi trong một khoảng thời gian tương đối dài, người nuôi trồng cần phải cân
đối đồng tiền chiết khấu và trọng lượng tăng lên theo thời gian. Từ bài toán rời rạc:
Π = (P – c)S
T
e
-iT
– k(T) = pS
T
e
-iT
– k(T) (1)
Đưa một số yếu tố thay đổi của bài toán rời rạc về dạng liên tục có sử dụng tích
phân: S
T
e
-iT
đưa về dạng tích phân trở thành:
τ
τ
d MS
T
e ∫
0
k(T) đưa về dạng tích phân trở thành:
dt MC
T

0
4.5 Phân tích động học so sánh
4.5.1 Thay đổi tỷ lệ lãi suất
Mô phỏng sự thay đổi tỷ lệ lãi suất theo hình dưới, với giả thiết có một sự gia
tăng trong tỷ lệ lãi suất:
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
t
0
A
P0
B C
K
P
t
T
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 93 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Hình 4.3: Mô tả sự thay đổi tỷ lệ lãi suất
Hình vẽ đậm nét chính là hình thể hiện đường giá tối ưu của thủy sản, giá
tăng từ P
0
tới mức giá bóp cổ K tại thời điểm T. Giả sử tỷ lệ lãi suất tăng, giá ròng
của tài nguyên cá phải tăng ở mức tỷ lệ lãi suất thị trường. Sẽ có 3 đường giá được
thể hiện trên hình 4.3, và được xem xét sau khi tỷ lệ lãi suất thị trường tăng đường
giá tối ưu nhất sẽ là đường nào. (1) Đường giá A, bắt đầu từ cùng một giá trị khởi
đầu với đường giá tối ưu ban đầu, đạt tới mức giá K trước thời điểm T. Điều này
thực sự là vô lý vì với mức giá cao, cả phía cung và cầu về thủy sản không thể khai
thác và tiêu thụ nhanh trước thời điểm T. Vì vậy đường A không thể là tối ưu. (2)
Đường giá B, giá luôn thấp hơn đường giá tối ưu ban đầu, nhưng lại đạt tới mức giá
K trong một khoảng thời gian dài hơn T. Điều này cũng thực sự là vô lý, với mức
giá thủy sản thấp hơn, thì sẽ được khai thác sớm hơn, nhanh cạn kiệt hơn trước thời
điểm T. Vì thế, đường B cũng không là đường khả thi. (3) Đường giá C có mức giá
khởi đầu thấp hơn đường tối ưu ban đầu, khối lượng khai thác lớn hơn và thời gian
đạt đến mức giá K sẽ là trước T.
4.5.2 Thay đổi chi phí thả giống
Sự thay đổi chi phí thả giống bị ảnh hưởng từ thay đổi giá ròng và giá thô
bán cá, một thay đổi trong giá ròng sẽ làm ảnh hưởng đến giai đoạn quay vòng,
cũng có nghĩa là ảnh hưởng đến chi phí thả giống. Trước khi tính đến những nguy
cơ tiềm tàng về sự cạn kiệt của đàn cá, tuy rằng có thể nó sẽ là một tương lai xa, khi
hiện nay sự cố gắng của con người ngày càng được cải thiện. Nhưng qua bài toán về
đàn cá này là những nhìn nhận chung cho cả lĩnh vực kinh tế tài nguyên. Khai thác
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 94 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
tối ưu sẽ yêu cầu mức giá thô mới phải lớn giá thô cũ, và trước khi tài nguyên bị cạn
kiệt hoàn toàn, đường giá thô mới trở nên thấp hơn đường giá cũ và khoảng thời
gian trước khi tới K sẽ dài hơn.
Hình 4.4: Sự thay đổi của giá ròng và giá thô
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
t
K
0
' T
T
Giá tài nguyên
Giá thô cũ
Giá thô mới
Giá ròng cũ
Giá ròng mới
t
R
D
Giá ròng P
t
P
0
t
P’
0
K
T’
T
45
0
D
R
0

R
0
T T’
Giá thô cũ
Giá thô mới
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 95 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
Hình 4.5: Sự thay đổi khối lượng khai thác và thời gian T
Sự thay đổi của giá thô mới, cao hơn giá thô cũ, làm cho khối lượng đánh bắt ít đi
và kéo dài thời gian dần tới T. Trên thực tế khi khối lượng khai thác đàn cá nuôi
trong hồ mà ít đi, số lượng cá lưu trong hồ sẽ còn nhiều và do đó, thả giống cũng ít
hơn, giảm chi phí thả giống trong tương lai.
4.5.3 Thay đổi của giá lúa gạo
Sự thay đổi của giá lúa gạo cũng ảnh hưởng rất nhiều đến việc nuôi trồng
thủy sản. Đặc biệt với đặc điểm là hồ chứa thủy lợi phục vụ chủ yếu cho tưới tiêu
sản xuất nông nghiệp, thì sự thay đổi của giá lúa gạo lại càng ảnh hưởng nhiều hơn.
Giả thiết đặt ra là nếu giá lúa gạo tăng, mà đây lại là mặt hàng thiết yếu không thể
thiếu trong thành phần thức ăn của con người, hồ chứa phải đảm bảo cung cấp đủ
nước cho sản xuất nông nghiệp, con người không thể ăn cá thay cơm được. Đảm
bảo an ninh lương thực là mục tiêu hàng đầu. Việc nuôi cá có thể bị đặt trong tình
trạng trì trệ.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 96 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
4.6 Nhận xét và Kết luận
Tiếp cận những cách thức đúng đắn về mô hình tối ưu hóa động, một trong
những mô hình toán học hàng đầu của kinh tế trên thế giới. Bài toán nuôi trồng thủy
sản đã có những tính chất đặc biệt nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ hệ thống. Tập
hợp các hệ thống cơ sở lý thuyết, phương pháp luận chính cho bài toán nuôi trồng
thủy sản tại hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên. Để xây dựng được mô hình cho bài
toán, phải xét đến tất cả những yêu tố xung quanh bài toán, và điểm nổi bật là sản
phẩm thủy sản ở đây chỉ là một sản phẩm thứ cấp, một cách tận dụng tối ưu nguồn
tài nguyên sẵn có chưa được tận dụng đúng đắn của hồ Núi Cốc và cũng không
giống như những mô hình nuôi trồng thủy sản bình thường phải chịu ảnh hưởng, tác
động từ việc lượng nước trong hồ thường xuyên thay đổi theo các mùa trong năm
để phục vụ cho nhiệm vụ chủ đạo là tưới tiêu. Qua đó, thấy được những khó khăn
và thuận lợi của việc nuôi trồng thủy sản tại hồ chứa thủy lợi. Bài toán sẽ không chỉ
dừng ở việc nghiên cứu trong quy mô hồ Núi Cốc, trong tương lai với điều kiện cho
phép sẽ được áp dụng thêm các hồ trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và tỉnh lân cận
như Bắc Giang.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Qua thời gian làm đồ án em đã nghiên cứu, tìm hiểu, nhìn nhận được những
vấn đề, những khó khăn, thuận lợi về việc xây dựng mô hình nuôi trồng thủy sản tại
hồ Núi Cốc, tỉnh Thái Nguyên. Áp dụng mô hình toán học tối ưu hóa động vào bài
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 97 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
toán nuôi trồng thủy sản là một bước đi hết sức mới lạ, đặc biệt là nó lại được mô tả
trong mô hình nuôi trồng thủy sản tại hồ Núi Cốc là hồ chứa lớn của địa bàn tỉnh
Thái Nguyên với nhiệm vụ tưới tiêu làm chủ đạo. Bài toán đã sử dụng những ưu thế
của bài toán động xét đến khía cạnh mấu chốt là thời gian để làm nổi bật lên tính
đặc trưng của một bài toán động mà ở đây là hàm tăng trưởng của cá theo thời gian,
chi phí bỏ ra và thu hoạch trong tương lai. Tiền đề là khoảng cách tối ưu giữa chi
phí và doanh thu của bài toán nuôi cá. Sự nổi bật của đề tài là chỉ ra được ràng buộc
hết sức quan trọng về khối lượng nước trong hồ phụ thuộc vào mùa vụ canh tác
trong sản xuất nông nghiệp có tác động đến sự tăng trưởng của đàn cá trong hồ. Bên
cạnh những đặc tính ưu việt thì còn một số bất cập như: Nuôi trồng thủy sản có thể
gây ô nhiễm nguồn nước trong hồ, và làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái. Chính vì vậy,
Công ty TNHH một thành viên khai thác thủy lợi Thái Nguyên có dự định đầu tư
phát triển khu vực lâm nghiệp, và quần thể động vật hoang dã để cải thiện những
khó khăn trên của bài toán.
Trong quá trình làm đồ án em cũng có những kiến nghị của riêng mình được
đúc kết lại như sau:
• Giá trị của đàn cá được nuôi trong hồ còn hỗ trợ xóa đói giảm nghèo cho một
số những khu dân nghèo, và người dân tộc tại địa bàn. Vì vậy, với kiến nghị
của em là không thu thuế thủy sản của nhà đầu tư nuôi trồng.
• Em mong được Thầy cô và nhà trường tạo điều kiện có thể nâng cao và
nghiên cứu sâu hơn nữa đề tài, để ứng dụng của nó có thể rộng hơn.
Trong quá trình làm đồ án không tránh khỏi những sai sót. Vì thế em mong nhận
được sự góp ý của Thầy, Cô giáo và các bạn giúp em hoàn thiện và là động lực cho
quá trình học tập và công tác sau này. Em xin cảm ơn!
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
[1] Bắc Ninh: “Báo cáo nghiên cứu số liệu về thủy lý, thủy hóa, thủy sinh trong
nuôi trồng thủy sản”, 2008
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 98 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
[2] Bắc Ninh: “Báo cáo nghiên cứu số liệu về thủy lý, thủy hóa, thủy sinh trong
nuôi trồng thủy sản”, 2008
[3] Bình Định: “Nuôi cá lăng”, 2012
[4] Giáo trình thủy văn công trình, Đại học Thủy lợi
[5] Lê Xuân Sinh: “Giáo trình kinh tế thủy sản” Nhà xuất bản Đại học Cần Thơ
năm 2010.
[6] Mai Đình Yên: “Cá kinh tế nước ngọt Việt Nam” Nhà xuất bản khoa học và kỹ
thuật. , 1983
[7] Nguyễn Khắc Minh: “Tối ưu hóa động trong phân tích kinh tế” Nhà xuất bản
khoa học và kỹ thuật, Hà Nội - 2004
[8] Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân: “Cá nước ngọt Việt Nam (tập 1) Họ cá chép
Cyprinidae” Nhà xuất bản nông nghiệp, 2001.
[9] Phạm Anh Tuấn: “Danh mục những dẫn liệu chủ yếu một số dạng hình cá chép
nuôi ở Việt Nam Nhà xuất bản nông nghiệp, 1990.
[10] SBS: “Thủy sản Việt Nam Tổng kết 2010 và những dự phòng”, 2010
[11] Trần Văn Vỹ: “Kỹ thuật nuôi cá mè trắng; mè hoa”. Nhà xuất bản nông
nghiệp, 1999.
[12] Trần Văn Vỹ: “Kỹ thuật nuôi cá Trôi Ấn Độ”. Nhà xuất bản nông nghiệp,
1999
[13] Thái Nguyên: “Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên”, Thái Nguyên 2009
[14] Thái Nguyên: “Báo cáo của trạm thủy sản Núi Cốc”, 2010
[15] Trang tin thị trường xúc tiến thương mại chuyên trang thủy sản – cơ quan chủ
quản bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngày 23/02/2012
[16] Theo “Công bố kết quả nghiên cứu điều tra nhu cầu sử dụng lương thực – thực
phẩm tại một số tỉnh ở miền bắc và miền nam”, của viện chính sách và chiến lược
phát triển nông nghiệp nông thôn, ngày 25/08/2011).
[17] Tài liệu Dự án: “Tổ chức nuôi trồng thủy sản trong các hồ chứa do công ty
khai thác thủy lợi Thái Nguyên quản lý”, Thái Nguyên tháng 8 năm 2011
Tiếng Anh
[1] Cuong Le Van: “Dynamic optimization”,. Paris 1, CH Pháp
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K
Đồ án tốt nghiệp kỹ sư Trang 99 Ngành Kinh tế tài nguyên thiên nhiên
[2] FAO: “The state of World fisheries and aquaculture”, 2010
[3] Roger Perman, Yue Ma, James McGilvray, Michael Common: “Natural
Resource and Environmental Economics” Third Edition. UK. 2003.
SVTH: Tạ Thị Thu Hương Lớp: 50K