You are on page 1of 23

Vũ khí hủy diệt lớn (tiếng Anh: Weapon of mass destruction gọi tắt là WMD) là loại vũ khí có khả

năng gây cho đối phương tổn thất rất lớn về sinh lực, phương tiện kỹ thuật, cơ sở kinh tế, quốc phòng, môi trường sinh thái, có tác động mạnh đến tâm lý-tinh thần. Nhìn chung đó là thuật ngữ để chỉ các vũ khí hạt nhân, sinh học, hóa học và phóng xạ. Thuật ngữ này nảy sinh từ năm 1937 khi báo chí đề cập đến vụ ném bom thảm sát tại Guernica, Tây Ban Nha. Sau Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki tại Nhật Bản, cũng như những diễn tiến suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh, nó ngày càng được dùng phổ biến để chỉ những thứ vũ khí phi quy ước.

Đồng nghĩa với thuật ngữ WMD, người ta còn sử dụng các thuật ngữ như "Vũ khí nguyên tử, sinh học và hóa học" (ABC), "Vũ khí hạt nhân, sinh học và hóa học" (NBC) và "Vũ khí hóa học, sinh học, phóng xạ và hạt nhân" (CBRN) mặc dù trong số này vũ khí hạt nhân vẫn được coi là có tiềm năng lớn nhất trong hủy diệt lớn. Lối nói này được sử dụng rộng rãi trong mối liên quan tới chiến tranh Iraq năm 2003 do Mỹ đứng đầu. Có thể nói vũ khí hạt nhân cũng như vũ khí phóng xạ là hệ quả trực tiếp của cuộc Cách mạng khoa học-kỹ thuật, cái đã giúp loài người chinh phục được nguồn năng lượng lớn chưa từng có. Vì thế chúng được xếp vào thế hệ vũ khí thứ 5, tức là còn hiện đại hơn những vũ khí tự động (liên thanh} ra đời cuối thế kỷ 19. Nhìn chung các vũ khí hủy diệt lớn đều mang đặc tính hủy diệt lớn không lựa chọn. Do tác động hủy diệt không lựa chọn nên chính mối lo sợ vũ khí WMD đã có tác động định hình các chính sách và các hoạt động chính trị, thúc đẩy các phong trào xã hội. Thái độ ủng hộ hoạt động phát triển, hoặc ngược lại, kiểm soát vũ khí WMD là khác biệt nhau trên bình diện quốc gia cũng như quốc tế . Song nhìn chung người ta chưa hiểu rõ bản chất của những mối đe dọa này, một phần bởi vì thuật ngữ bị chính giới và giới truyền thông trên thế giới sử dụng một cách không chính xác. Phòng chống vũ khí hủy diệt lớn là một nội dung được chú ý trong lĩnh vực quân sự hiện nay khi mà trình độ khoa học công nghệ về vũ khí đã đạt đến trình độ cao.

Điều này nói về vụ ném bom san phẳng Guercia mà trong đó tới 70% thị trấn bị thiêu hủy. 1937 lần đầu tiên thuật ngữ "vũ khí hủy diệt lớn" được đưa ra trong các bài báo nói về vụ ném bom tại Guercia của không quân Đức. Đó là nghị quyết thành .Vũ khí hủy diệt lớn Nguồn gốc Trên tờ TIME (thời báo) số ra ngày 28 tháng 12. Liên Hiệp Quốc đã đưa ra nghị quyết đầu tiên về vấn đề này. ngay sau các vụ Hiroshima và Nagasaki. còn vũ khí hóa học đã được sử dụng rỗng rãi. song vũ khí sinh học đã được nghiên cứu. Lúc đó vũ khí hạt nhân chưa hề tồn tại. Năm 1946.

vũ khí nguyên tử và mọi vũ khí khác có thể gây hủy diệt lớn". những vũ khí hủy diệt lớn nguy hiểm như những vũ khí sử dụng các tác nhân hóa học và vi trùng". Từ đó. thuật ngữ "vũ khí WMD" được sử dụng rộng rãi trong cộng đồng kiểm soát vũ khí. sinh học và hóa học (NBC) dần dần được đưa ra..lập Ủy ban Năng lượng nguyên tử (tiền thân của Cơ quan Năng lượng nguyên tử Quốc tế IAEA) và dùng các từ ngữ: ".. sinh học và hóa học (ABC) và sau đó là bộ ba vũ khí hạt nhân. Chiến tranh lạnh . Công ước về vũ khí sinh học và độc tố năm 1972 đã dứt khoát đưa các vũ khí sinh học và hóa học vào hàng vũ khí WMD: "Tin chắc tầm quan trọng và tính cấp bách của việc loại trừ khỏi kho vũ khí của các quốc gia. thông qua những biện pháp hữu hiệu. Các thuật ngữ bộ ba vũ khí nguyên tử.

mặc dù có hơi hướng khá lỗi thời. Nó được sử dụng suốt những năm 90 khi đề cập tới yêu cầu tiếp tục trừng phạt và ngăn chặn Iraq bằng quân sự. nó đã được chính giới và giới truyền thông đạu chúng cải tử hoàn sinh và sử dụng phổ biến. Sau đó. trong Chiến tranh vùng Vịnh 1991. gộp vũ khí thuộc những phạm trù rất khác nhau thành một lĩnh vực (vũ khí hóa học và sinh học khác hẳn vũ khí hạt nhân) về cơ bản là một cách dùng từ mang tính chính trị chứ không phải là quân sự.Thuật ngữ WMD đã bị sử dụng lệch lạc từ đầu Chiến tranh lạnh (chủ yếu để chỉ vũ khí hạt nhân) cho đến tận năm 1990. và có thể nhất trí rằng việc sử dụng thuật ngữ WMD trong giai đoạn 1990-2003 rõ ràng là nhằm vào các mục đích . Thuật ngữ vũ khí WMD.

đại học bang Lake Superior đã bổ sung thuật ngữ WMD vào danh mục các thuật ngữ bị tẩy chay do "sử dụng sai. Và trong năm 2003. Cách dùng từ này đạt đến đỉnh cao với cuộc khủng hoảng giải trừ vũ khí Iraq năm 2002 về sự tồn tại của vũ khí hủy diệt lớn tại Iraq. hội phương ngữ Hoa Kỳ đã bầu chọn WMD là từ của năm vào năm 2002. cái đã trở thành lý lẽ chính của Mỹ trong cuộc chiến tranh Iraq 2003. lạm dụng và nói chung là vô dụng" .chính trị. Do sử dụng quá nhiều.

Nếu sức công phá là 100 triệu tấn (mặc dù hiện nay chưa thể thực hiện được) thì có thể phá hủy một vùng với bán kính 100 . Một vũ khí hạt nhân nhỏ nhất cũng có sức công phá lớn hơn bất kỳ vũ khí quy ước nào. Cho đến nay.160 km. mới chỉ có hai quả bom hạt nhân được dùng trong chiến tranh thế giới thứ II . Vũ khí có sức công phá tương đương với 10 triệu tấn thuốc nổ có thể phá hủy hoàn toàn một thành phố.Các loại vũ khí hủy diệt lớn Vũ khí hạt nhân Vũ khí hạt nhân (tiếng Anh: nuclear weapon) là loại vũ khí hủy diệt lớn mà năng lượng của nó do các phản ứng phân hạch hoặc/và nhiệt hạch gây ra.

quả bom thứ nhất được ném xuống Hiroshima (Nhật Bản) vào ngày 6 tháng 8 năm 1945 có tên là Little Boy và được làm từ uranium. Anh. Liên Xô. Ấn Độ và Pakistan. Pháp. Trung Quốc. Hơn hai ngàn vụ nổ hạt nhân sau đó là do việc thử nghiệm hạt nhân. chủ yếu là do các quốc gia sau đây thực hiện: Hoa Kỳ. cũng ở Nhật Bản ba ngày sau đó. được làm từ plutonium. . quả sau có tên là Fat Man và được ném xuống Nagasaki.

CHDCND Triều Tiên cũng công bố đã chế tạo được vũ khí hạt nhân. Thêm vào đó. Gần đây. Ukraina cũng có thể sở hữu một quả bom hạt nhân cũ từ thời Liên Xô do sai lầm của thời kỳ hậu . Trung Quốc. Anh. Nga. Ấn Độ và Pakistan.Các nước hiện nay công bố có vũ khí hạt nhân là Hoa Kỳ. Israel có nhiều dấu hiệu chứng tỏ sở hữu bom hạt nhân mặc dù chưa bao giờ chính thức thừa nhận. Pháp.

chiến tranh lạnh. . Việc phi quân sự hóa năng lượng hạt nhân đã được đề xuất cho rất nhiều các ứng dụng dân sự.

Các loại vũ khí hạt nhân Thiết kế cơ bản của hai loại bom nguyên tử và nhiệt hạch Vũ khí hạt nhân Vũ khí phân hạch đơn giản nhất lấy năng lượng từ quá trình phân hạch (còn gọi là phân rã hạt nhân). .

Quá trình phân hạch dây chuyền Phản ứng Một vật liệu có khả năng phân rã được lắp ráp vào một khối lượng tới hạn. trong đó khởi phát một phản ứng dây chuyền và phản ứng .

Quá trình này được thực hiện bằng cách bắn một mẫu vật liệu chưa tới hạn này vào một mẫu vật liệu chưa tới hạn khác để tạo ra một trạng thái gọi là siêu tới hạn. . Khó khăn chủ yếu trong việc thiết kế tất cả các vũ khí hạt nhân là đảm bảo một phần chủ yếu các nhiêu liệu được dùng trước khi vũ khí tự phá hủy bản thân nó. giải thoát một năng lượng khổng lồ.đó gia tăng theo tốc độ của hàm mũ.

Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom nguyên tử. còn gọi là bom A .

Các phản ứng cơ bản hình thành vũ khí phân hạch .

Cấu tạo của vũ khí phân hạch Vũ khí nhiệt hạch .

.

deuterium ). Nó có thể . còn gọi là bom hydro. Vụ nổ bom nhiệt hạch Trong loại vũ khí này. từ đó xảy ra phản ứng nhiệt hạch với năng lượng được giải thoát lớn hơn rất nhiều. Thông thường vũ khí như vậy được gọi là bom khinh khí.bom H hay bom nhiệt hạch.Các loại vũ khí phức tạp hơn thì sử dụng nguồn năng lượng nhiều hơn từ quá trình nhiệt hạch (còn gọi là tổng hợp hạt nhân). hoặc lithium. bức xạ nhiệt từ vụ nổ phân rã hạt nhân được dùng để nung nóng và nén các chất có khối lượng nguyên tử nhẹ như các đồng vị của Hydro ( tritium.

Bom hạt nhân 3 pha Đầu đạn tên lửa W-88 Người ta còn tạo ra các vũ khí tinh vi hơn cho một số mục đích đặc biệt.giải thoát một năng lượng lớn hơn hàng ngàn lần so với bom nguyên tử. Người ta có thể thiết kế vũ khí hạt nhân có thể cho phép neutron thoát ra nhiều nhất. sự có mặt của các vật liệu phù hợp (như đồng hoặc vàng) có thể gia tăng độ ô nhiễm phóng xạ. Về lý thuyết. các vũ khí phản vật chất. trong đó sử dụng các phản ứng giữa vật . những quả bom như vậy được gọi là bom neutron. Vụ nổ hạt nhân được thực hiện nhờ một luồng bức xạ neutron xung quanh vũ khí hạt nhân.

Năng lượng của vụ nổ hạt nhân Năng lượng này được xác định theo công thức nổi tiếng của Albert Einstein: E = mc2 Trong đó: .chất và phản vật chất. không phải là vũ khí hạt nhân nhưng nó có thể là một vũ khí với sức công phá cao hơn cả vũ khí hạt nhân.

E là năng lượng có thể được giải phóng m là khối lượng vật chất tham gia phản ứng c là vận tốc ánh sáng trong chân không Ảnh hưởng của vụ nổ hạt nhân .

.Một hình cầu lửa phóng xạ ở đỉnh của cột khói phát ra từ một vụ thử nghiệm vũ khí hạt nhân.

Năng lượng từ vụ nổ vũ khí hạt nhân thoát ra ở bốn loại sau đây:     Áp lực — 40-60% tổng năng lượng Bức xạ quang nhiệt — 30-50% tổng năng lượng Bức xạ ion — 5% tổng năng lượng Bức xạ dư (bụi phóng xạ) — 5-10% tổng năng lượng Lượng năng lượng giải thoát của từng loại phụ thuộc vào thiết kế của vũ khí và môi trường mà vụ nổ hạt nhân xảy ra. Năng lượng được giải thoát bởi vụ nổ bom hạt nhân được đo bằng kiloton hoặc megaton . Áp lực suy giảm nhanh hơn bức xạ nhiệt nhưng chậm hơn bức xạ ion. Tàn phá chủ yếu của bom hạt nhân không liên quan trực tiếp đến quá trình hạt nhân giải thoát năng lượng mà liên quan đến sức mạnh của vụ nổ. Trên thực tế vũ khí hạt nhân có thể tạo ra các sức công phá khác nhau. Bức xạ dư là năng lượng được giải thoát sau vụ nổ. Sự khác biệt cơ bản là vũ khí hạt nhân có thể giải thoát một lượng lớn năng lượng tại một thời điểm. bom càng lớn thì hiệu ứng phá hủy do nhiệt càng mạnh. trong khi vụ nổ bom khinh khí lớn nhất đo được là 10 megaton. Bức xạ nhiệt suy giảm theo khoảng cách chậm nhất. nên nó chỉ nguy hiểm đối với các vũ khí hạt nhân hạng nhẹ. trong khi các loại khác thì được giải thoát ngay lập tức. do đó. Hiệu ứng quan trọng nhất của vũ khí hạt nhân là áp lực và bức xạ nhiệt có cơ chế phá hủy giống như các vũ khí quy ước. . Mức độ tàn phá của ba loại năng lượng đầu tiên khác nhau tùy theo kích thước của bom. từ nhỏ hơn một kiloton ở các vũ khí hạt nhân cầm tay như Davy Crockett của Hoa Kỳ cho đến 54 megaton như Bom Sa hoàng (Tsar-Bomba) của Liên Xô ( vào ngày 30/10/1961 ). Vũ khí phân hạch đầu tiên có sức công phá đo được là vài ngàn kiloton. Bức xạ ion bị suy giảm nhanh chóng trong không khí.tương đương với hàng ngàn và hàng triệu tấn thuốc nổ TNT (tri-nitro-toluen).