MỘT VÀI ĐIỂM CẦN LƯU Ý KHI VIẾT THUYẾT MINH ĐỀ TÀI

Trong khi viết thuyết minh đăng ký thực hiện đề tài các chủ nhiệm đề tài thường gặp một số khó khăn nhất định, nhất là đối với một số cán bộ trẻ. Do vậy, để thuận lợi và dễ dàng cho việc viết thuyết minh các chủ nhiệm đề tài cần lưu ý một vài điểm sau đây: 1. Tên đề tài: Tên đề tài nên viết ngắn gọn nhưng nêu được vấn đề cơ bản cần giải quyết. Không ghi tên đề tài quá dài và chứa đựng quá nhiều mục tiêu. Nên bắt đầu tên đề tài bằng danh động từ. Ví dụ: nghiên cứu, triển khai, chế tạo, xây dựng, biên soạn,... (dài khoảng 2 - 3 dòng), và tránh giải trình dài trong mục này về mục tiêu nghiên cứu, như để phục vụ sản xuất, góp phần tối ưu hóa, nâng cao hiệu quả,... (có thể áp dụng cho việc đề xuất đề tài hàng năm). Tên đề tài phải đúng với tên đã được Hội đồng xác đinh danh mục phê duyệt. 2. Mã số: Ghi mã số do cơ quan quản lý cấp tương ứng cấp, phần này chủ nhiệm đề tài không ghi. 3. Thời gian thực hiện, ... tháng. Ghi số tháng thực hiện đề tài. (Từ tháng ..../200.. đến tháng ..../200.. ) 4. Chủ nhiệm đề tài: Họ và tên: Ghi đầy đủ họ và tên Chủ nhiệm đề tài. Học hàm/học vị: Ghi học hàm là giáo sư, phó giáo sư và học vị: tiến sĩ khoa học; tiến sĩ; thạc sĩ; kỹ sư hoặc cử nhân, bác sĩ, luật sư, v.v... Chức danh khoa học: Ghi chức danh theo quy định như nghiên cứu viên cao cấp, nghiên cứu viên chính,... (nếu có). Điện thoại, E-mail, địa chỉ: Ghi đầy đủ điện thoại, địa chỉ thư tín điện tử, địa chỉ cơ quan và nhà riêng (để tiện sử dụng trong việc liên lạc, trao đổi thông tin khi cần thiết). 5. Cơ quan chủ trì đề tài: Ghi tên đầy đủ của trường: Trường Đại học Bách khoa – Đại học Đà Nẵng. 6. Mục tiêu của đề tài: Ghi mục tiêu tổng quát cần đạt ở mức độ cụ thể hơn tên đề tài và mục tiêu chi tiết nhưng không diễn giải quá cụ thể thay cho nội dung cần thực hiện. 7. Tổng quan tình hình nghiên cứu và luận giải sự cần thiết phải nghiên cứu đề tài: Đây là phần rất quan trọng của công trình nghiên cứu, thể hiện sự hiểu biết cần thiết của tổ chức, cá nhân đăng ký chủ trì đề tài về lĩnh vực nghiên cứu, là tiền đề để giải quyết thành công đề tài cần nghiên cứu. Tổng quan phải thể hiện việc tổ chức và cá nhân đăng ký chủ trì đề tài nắm được những công trình nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài, những kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu đề tài; đánh giá phân tích những khác biệt về trình độ khoa học và công nghệ (KH&CN) trong nước và thế giới, nêu được những gì đã giải quyết rồi, những gì còn tồn tại, chỉ ra những hạn chế cụ thể, từ đó nêu được
1

hướng giải quyết - luận giải, cụ thể hóa được tính cấp thiết của đề tài và những vấn đề mới về KH&CN mà đề tài đặt ra nghiên cứu (nghĩa là, tác giả phải thu thập được những thông tin chủ yếu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, phải tra cứu tư liệu sáng chế (tại cục SHCN,..), tra cứu thông tin tại các trung tâm thông tin tư liệu KH&CN hoặc trên mạng internet; nắm được khá cụ thể tình hình triển khai vấn đề nghiên cứu này ở trong và ngoài nước,... . Các tài liệu tham khảo càng mới, càng có giá trị học thuật và thực tiễn cao, càng được đánh giá cao). Nói cách khác, phải ghi rõ đã có tổ chức hoạt động KH&CN, doanh nghiệp nào đã tiến hành nghiên cứu đề tài tương tự này chưa, nếu có thì bằng phương pháp, công nghệ nào và kết quả nghiên cứu đã được đánh giá định lượng hoặc định tính như thế nào? rút ra kết luận cần thiết để trả lời câu hỏi về nhu cầu và tính bức xúc đối với đề tài nghiên cứu. - Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài + Ngoài nước: phân tích, đánh giá được những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài, những kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu đề tài; nêu được những khác biệt về trình độ KH&CN trong nước và thế giới + Trong nước: phân tích, đánh giá cụ thể tình hình nghiên cứu trong nước thuộc lĩnh vực nghiên cứu của đề tài, đặc biệt phải nêu được chi tiết những kết quả nghiên cứu KH&CN liên quan đến đề tài mà các cán bộ tham gia đề tài đã thực hiện; nếu có các đề tài cùng bản chất đang thực hiện hoặc đăng ký nghiên cứu ở cấp khác, nơi khác của nhóm nghiên cứu phải giải trình rõ các nội dung kỹ thuật liên quan đến đề tài; nếu phát hiện có đề tài đang tiến hành mà đề tài này có thể phối hợp nghiên cứu được thì cần ghi cụ thể tên đề tài, tên chủ nhiệm đề tài và cơ quan chủ trì đề tài đ). Tổng số trang của mục này nên dài không quá 4- 5 trang, nếu cần thiết làm rõ và giải trình thêm trong phần phụ lục. + Liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã nêu trong phần tổng quan này: Ghi tên đầy đủ tài liệu (bài báo, ấn phẩm, công trình,... ) đã tham khảo, tác giả, nơi và năm công bố theo thứ tự: Họ tên tác giả/nhan đề bài báo/các yếu tố về xuất bản - chỉ ghi những công trình tác giả thật tâm đắc và đã trích dẫn để luận giải cho sự cần thiết nghiên cứu đề tài, tránh ghi các tài liệu không liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. 8. Tính cấp thiết của đề tài Phân tích, đánh giá cụ thể những vấn đề KH&CN còn tồn tại, hạn chế của sản phẩm, công nghệ nghiên cứu trong nước và các yếu tố, các nội dung cần đặt ra nghiên cứu, giải quyết ở đề tài (nêu rõ, nếu thành công thì đạt được những vấn đề gì). 5. Cách tiếp cận: Luận cứ rõ tính mới, tính sáng tạo trong việc lựa chọn cách tiếp cận đề tài phù hợp đối tượng nghiên cứu để đạt mục tiêu đặt ra . Thiết kế nghiên cứu có thể hiểu là hình dung khái quát - tổng thể về đề tài: đề tài sẽ đạt được những kết quả gì, đề tài sẽ phát triển tiếp như thế nào; đề tài sẽ trải qua những công đoạn nào để đi đến kết quả cuối cùng,... Sau khi lập luận về thiết kế nghiên cứu, lựa chọn đối tượng nghiên cứu, phải nêu cách tiếp cận để đạt mục tiêu và kết quả của đề tài. Ví dụ, đối với đề tài nghiên cứu công nghệ, cách tiếp cận có thể là căn cứ kết quả nghiên cứu tổng quan các tài liệu và công trình đã có luận giải rõ việc chọn công nghệ tiên tiến phù hợp của nước ngoài, trong nước và nắm vững công nghệ đó triển khai vào điều kiện địa phương để tạo ra sản phẩm phục vụ thiết thực cho sản xuất và đời sống (không chỉ dừng lại tổng quan về nguyên lý chế tạo, mà có thể nắm bắt được công nghệ để tạo ra công nghệ và sản phẩm cho địa phương). 6. Nội dung nghiên cứu:
2

Nội dung nghiên cứu phải dẫn xuất từ nghiên cứu tổng quan và cách tiếp cận, đồng thời là cơ sở cho việc xây dựng tiến độ thực hiện và kinh phí thực hiện. Trong mục này phải liệt kê và mô tả những nội dung nghiên cứu ứng dụng và triển khai thực nghiệm cần tiến hành (có định lượng) để đạt được mục tiêu đặt ra, trong đó chỉ rõ những nội dung mới, những nội dung quan trọng nhất để tạo ra sản phẩm, công nghệ chủ yếu; những hoạt động chuyển giao để ứng dụng kết quả nghiên cứu của đề tài; dự kiến những nội dung có tính rủi ro và giải pháp khắc phục - nếu có. Thường các chủ nhiệm đề tài ít chú trọng đến phần lượng hóa công việc nên khi tổ chức thẩm định kinh phí thực hiện mất nhiều thời gian. Do vậy, chủ nhiệm đề tài cần phải chi tiết nội dung nghiên cứu để Hội đồng xét duyệt thống nhất nội dung nghiên cứu. Trên cơ sở đó phần dự toán kinh phí thực hiện được dễ dàng hơn. Ví dụ: trong nội dung nghiên cứu cần phải có: - Tập huấn: mở bao nhiêu lớp, tập huấn trong mấy ngày?; số lượng người tham gia,...; - Điều tra: thiết kế mấy loại mẫu phiếu? Số lượng phiếu cần điều tra, điều tra trong bao nhiêu ngày, số lượng người tham gia?,...; - Lấy mẫu: số lượng mẫu bao nhiêu? lấy mẫu trong mấy ngày? - Phân tích mẫu: liệt kê các chỉ tiêu và số chỉ tiêu cần phân tích,..; - Chuyên đề: tên chuyên đề, chi tiết nội dung cần thực hiện, số chuyên đề,... . 7. Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: Luận cứ rõ việc lựa chọn các phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng phù hợp với từng nội dung của đề tài; làm rõ tính mới, tính sáng tạo của các phương pháp nghiên cứu và kỹ thuật sử dụng. Đánh giá một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật của các sản phẩm, công nghệ nghiên cứu, đặc biệt là của sản phẩm, công nghệ chủ yếu dự kiến tạo ra của đề tài so với các sản phẩm tương tự trong và ngoài nước; so sánh với các phương án nhập công nghệ hoặc mua sản phẩm tương tự để đánh giá hiệu quả của đề tài (trình độ KH&CN, tính phù hợp, hiệu quả kinh tế,…) 8. Khả năng ứng dụng, phương thức và địa chỉ chuyển giao kết quả nghiên cứu: - Khả năng về thị trường: ghi nhu cầu thị trường trong địa phương, trong và ngoài nước, nêu tên và nhu cầu của khách hàng cụ thể nếu có; khi nào có thể đưa sản phẩm của đề tài ra thị trường? - Khả năng về kinh tế: ghi khả năng cạnh tranh về giá thành và chất lượng của sản phẩm dự kiến đạt được. - Khả năng liên doanh liên kết với các doanh nghiệp ngay trong quá trình nghiên cứu: ghi rõ tên và địa chỉ của khách hàng (nếu có thể) để thể hiện tính hiện thực của kết quả nghiên cứu. 9. Mô tả phương thức chuyển giao:Chuyển giao công nghệ trọn gói, chuyển giao công nghệ có đào tạo, chuyển giao theo hình thức trả dần theo tỷ lệ phần trăm của doanh thu, liên kết với doanh nghiệp để sản xuất hoặc góp vốn (với đơn vị phối hợp nghiên cứu hoặc với cơ sở sẽ áp dụng kết quả nghiên cứu) theo tỷ lệ đã thỏa thuận để cùng triển khai sản xuất, tự thành lập doanh nghiệp trên cơ sở kết quả nghiên cứu tạo ra,… . 10. Các lợi ích mang lại và các tác động của kết quả nghiên cứu: Đối với lĩnh vực KH&CN có liên quan: Ghi những dự kiến đóng góp vào các thành tựu nổi bật trong khoa học quốc tế, trong nước đóng góp vào tiêu chuẩn quốc tế, trong nước; triển vọng phát triển theo hướng nghiên cứu của đề tài; ảnh hưởng về lý luận đến phát triển ngành khoa học, đến sáng tạo trường phái khoa học mới,…

3

Đối với nơi ứng dụng kết quả nghiên cứu: Ghi những dự kiến kết quả đạt được do việc ứng dụng kết quả nghiên cứu đem lại. Đối với kinh tế - xã hội và môi trường: Nêu những tác động dự kiến của kết quả nghiên cứu đối với sự phát triển kinh tế - xã hội; những luận cứ khoa học của đề tài có khả năng ảnh hưởng đến chủ trương chính sách, cơ chế quản lý cụ thể của Đảng và Nhà nước; khả năng nâng cao tiêu chuẩn văn hóa của xã hội; ảnh hưởng đến môi trường; khả năng ảnh hưởng đến sự nghiệp chăm sóc sức khỏe cộng đồng, hoặc tạo ra sản phẩm hàng hóa đáp ứng nhu cầu thị trường, góp phần tạo công ăn việc làm, nâng cao hiệu quả sản xuất,… Đối với công tác đào tạo cán bộ khoa học: Ghi số lượng tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, cử nhân,... dự kiến đào tạo kể cả việc nâng cao năng lực, hoàn thiện kỹ năng nghiên cứu của các cá nhân và tập thể khoa học thông qua việc thực hiện đề tài. Nếu chỉ tham gia giúp đỡ đơn vị khác thực hiện nhiệm vụ này thì ghi rõ là chỉ tham gia phối hợp. 11. Phần dự toán kinh phí: dự toán kinh phí thực hiện nếu chủ nhiệm đề tài đã đề xuất nội dung nghiên cứu thật cụ thể, chi tiết thì chỉ việc áp các định mức về tài chính theo các văn bản quy định, theo định mức hướng dẫn.

4

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful