Chương 19 CHO THUÊ TÀI CHÍNH

Các công ty kinh doanh đều có tài sản cố định và thường công bố chúng trên bảng cân đối kế toán, nhưng việc sử dụng các tài sản đó là quan trọng, chứ không phải quyền sở hữu nó là quan trọng. Một cách để có thể sử dụng được các máy móc, thiết bị là mua chúng, nhưng còn một cách khác là thuê chúng. Trước những năm 1950, cho thuê thường gắn liền với đất và các công trình bất động sản. Tuy nhiên hôm nay, có thể cho thuê hầu như bất kỳ loại tài sản cố định nào, và hiện nay hơn 30% các thiết bị vốn mới được tài trợ thông qua các thỏa thuận cho thuê. Những câu hỏi đầu chương: Khi bạn đọc chương này, bạn cần phải quan tâm xem làm thế nào trả lời những câu hỏi sau đây. Bạn không nên trả lời chúng trước khi bạn đọc chương này. Thay vào đó, bạn nên sử dụng chúng để hướng suy nghĩ về những vấn đề được nêu ra trong chương này. Sau khi đọc chương này, bạn nên đưa ra ít nhất một phần câu trả lời cho các câu hỏi, và bạn sẽ có thể đưa ra câu trả lời tốt hơn sau khi thảo luận chương này tại lớp. Chú ý rằng, khi trả lời các câu hỏi mang tính khái niệm, bạn nên sử dụng các dữ liệu giả định để minh họa cho câu trả lời của mình. Chúng tôi minh họa cho câu trả lời với mẫu Excelcó sẵn ở trang Web ThomsonNOW. Tiếp cận với mẫu này và làm việc với nó là một bài tập rất bổ ích,nó cung cấp những hiểu biết hữu dụng khi trả lời các câu hỏi. 1. Phân biệt giữa cho thuê hoạt động và cho thuê vốn (hoặc tài chính), bán và cho thuê lại khi kết thúc hợp đồng cho thuê. Các nhà đầu tư bị đánh lừa như thế nào khi các công ty có sử dụng cho thuê tài chính, vào những năm 1970 kế toán đã làm gì để giảm thiểu vấn đề này? 2. Hợp đồng thuê tổng hợp là gì? Hợp đồng gia hạn có cấu trúc là như thế nào và mục đích chính của nó là gì? Khả năng nào sẽ làm cho việc sử dụng các hợp đồng cho thuê tổng hợp tăng hoặc giảm? 3. thế nào? Các quy định của IRS ảnh hưởng đến các quyết định cho thuê như

4. Giả sử rằng tiêu chuẩn 13 của Ban Tiêu Chuẩn Kế Toán Tài Chính (FASB) đang làm việc vì nó là công cụ hỗ trợ để làm việc, việc sử dụng tài sản thuê hoạt động cho phép một công ty sử dụng đòn bẩy tài chính nhiều hơn là nó có thể làm ngược lại? Làm thế nào để cho thuê tổng hợp có thể làm thay đổi tình

hình? Theo tiêu chuẩn 13 của Ban Tiêu Chuẩn Kế Toán Tài Chính (FASB) làm thế nào để cho thuê tổng hợp làm giảm dòng tiền tự do trong phân tích cho thuê? 5. Thuật ngữ NAL được sử dụng trong phân tích cho thuê như thế nào, và NAL được tính toán như thế nào? 6. Cho thuê là một trò chơi có tổng số bằng không ta có cảm giác rằng bất kỳ khoản lãi mà bên đi thuê trả là một chi phí bên cho thuê? Nếu không, làm thế nào cả hai bên có thể đạt được giao dịch cho thuê? Trong câu trả lời của bạn, hãy giải thích cách phân tích dữ liệu của cả hai bên: bên cho thuê và bên đi thuê, lý do tại sao họ có thể sử dụng các yếu tố đầu vào khác nhau trong phân tích của mình, và những khác biệt đầu vào có thể ảnh hưởng đến kết quả như thế nào. Mô hình BOC sử dụng “đồ thị đàm phán" để giúp những điều đi kèm với nhau. HAI BÊN CHO THUÊ Giao dịch thuê liên quan đến hai bên: bên cho thuê là những người sở hữu tài sản, và bên thuê được sử dụng tài sản và phải có nghĩa vụ nộp tiền thuê. (Lưu ý rằng thuật ngữ ngữ bên thuê được phát âm là "lessee," không "leaseee", và bên cho thuê được phát âm là "lessor.") Bởi vì cả hai bên phải thoả thuận trước khi giao dịch cho thuê được hoàn thành, chương này thảo luận việc cho thuê từ quan điểm của cả hai bên cho thuê và đi thuê. Câu hỏi tự kiểm tra: Để có một giao dịch cho thuê thì các bên là những ai? CÁC LOẠI CHO THUÊ Cho thuê (hay hợp đồng cho thuê – leasing) dưới nhiều hình thức khác nhau, năm hình thức quan trọng nhất là: (1) Hợp đồng cho thuê hoạt động (operating leases), (2) tài chính, hoặc vốn, hợp đồng cho thuê (financial, or capital, leases), (3) thỏa thuận bán và cho thuê lại tài sản (sale-and-leaseback arrangements), (4) hợp đồng thuê kết hợp (combination leases), và (5) hợp đồng thuê tổng hợp (synthetic leases). Cho thuê tài chính là một hình thức tài trợ, do đó, nó có thể ảnh hưởng đến chi phí vốn của một công ty. Nó cũng có thể ảnh hưởng đến một số dòng tiền hoạt động, chẳng hạn như khấu hao và bảo trì, bằng cách chuyển chúng ra khỏi công ty.

HỢP ĐỒNG THUÊ HOẠT ĐỘNG (OPERATING LEASES) Hợp đồng thuê hoạt động thường cung cấp cho cả hai sự tài trợ và bảo trì. IBM là một trong những nhà tiên phong của hợp đồng thuê hoạt động, và máy tính và máy sao chép văn phòng, cùng với ô tô, xe tải, và máy bay, các loại chính của thiết bị liên quan đến cho thuê hoạt động. Thông thường, cho thuê hoạt động yêu cầu bên cho thuê để bảo trì và sửa chữa các thiết bị thuê, và chi phí bảo trì được tổng hợp vào các khoản thanh toán tiền thuê. Một đặc tính quan trọng khác của các hợp đồng thuê hoạt động là một thực tế rằng họ không khấu hao đầu đủ. Nói cách khác, các khoản thanh toán cho thuê theo yêu cầu của hợp đồng thuê không đủ cho bên cho thuê để phục hồi toàn bộ chi phí của tài sản.Tuy nhiên, hợp đồng thuê bằng văn bản trong một thời gian ngắn hơn đáng kể so với đời sống kinh tế dự kiến của tài sản, do đó, bên cho thuê có thể mong đợi để phục hồi tất cả các chi

hợp đồng thuê cơ bản thường không thể được hủy bỏ trừ khi bên cho thuê được trả đầy đủ. THỎA THUẬN BÁN VÀ THUÊ LẠI TÀI SẢN Theo một thỏa thuận bán và thuê lại tài sản. HỢP ĐỒNG THUÊ Cho thuê tài chính. hoặc bằng cách bán tài sản.Các điều khoản của hợp đồng thuê thường gọi khấu hao đầy đủ của bên cho thuê. net". bên thuê thường trả các loại thuế tài sản và bảo hiểm tài sản cho thuê.Các nhà cung cấp vốn có thể là một công ty bảo hiểm. cộng với một tỷ lệ lợi nhuận trên số dư unmortized gần với tỷ lệ phần trăm bên thuê sẽ phải trả cho một khoản vay được bảo đảm. các tòa nhà.Các công ty sử dụng sau đó sắp xếp để có một công ty cho thuê (bên cho thuê) mua thiết bị từ các nhà sản xuất và đồng thời thực hiện một hợp đồng cho thuê. hoặc ròng của những khoản thanh toán này. một mối quan hệ đối tác hạn chế. HAY VỐN. hoặc thiết bị bán tài sản cho một công ty khác và đồng thời thực hiện một thỏa thuận cho thuê lại tài sản trong một thời gian quy định theo các điều kiện cụ thể.phí bằng cách thanh toán tiếp tục. nếu người thuê sẽ phải trả 10% cho một khoản vay. một công ty sở hữu đất đai. nó có nghĩa là tài sản có thể được trả lại nếu nó trở nên lỗi thời bởi sự phát triển của khoa học kỹ thuật hoặc không còn cần thiết vì sự thay đổi trong kinh doanh của bên thuê. cánh tay tài chính của một công ty công nghiệp. bên cho thuê nhận được khoản thanh toán cho thuê bằnggiá đầy đủ các thiết bị thuê cộng với lợi nhuận trên vốn đầu tư). Một đặc điểm cuối cùng của hợp đồng thuê hoạt động là họ thường có chứa một điều khoản hủy bỏ cung cấp cho bên thuê có quyền hủy bỏ hợp đồng thuê nhà và trả lại tài sản trước khi kết thúc thời hạn của hợp đồng thuê cơ bản.Trong một thỏa thuận điển hình. TÀI CHÍNH. loại thuê này thường được gọi là hợp đồng thuê "net. . Bên thuê thường được đưa ra một sự lựa chọn để gia hạn hợp đồng với tốc độ giảm khi hết hạn hợp đồng thuê cơ bản.Ngoài ra. và (3) là đầy đủ khấu hao (có nghĩa là. ngân hàng thương mại. một công ty chuyên cho thuê.Ví dụ. các công ty sẽ sử dụng các thiết bị (bên thuê) lựa chọn các mặt hàng cụ thể nó yêu cầu và thỏa thuận giá cả với nhà sản xuất. Tuy nhiên. bằng cách phát hành các tài sản cho bên thuê khác. (2) không hủy. sau đó với tỷ lệ khoảng 10% sẽ được xây dựng vào hợp đồng thuê. Đây là một xem xét quan trọng cho bên thuê. được phân biệt từ cho thuê hoạt động trong đó họ (1) không cung cấp dịch vụ bảo trì. đôi khi được gọi là hợp đồng thuê vốn. Kể từ khi bên cho thuê nhận được lợi nhuận sau đó.

sau đó nó bắt đầu phổ biến hơn vào giữa và cuối những năm 1990. Đồng thời.SPE sẽ sử dụng những nguồn vốn này để . theo đó bên thuê phải trả tiền phạt đủ để cho phép bên cho thuê thu hồi chi phí unamortized của tài sản thuê. đó là hợp đồng thuê tổng hợp . trong hợp đồng thuê tài chính các điều khoản này thường bao gồm các điều khoản thanh toán trước. HỢP ĐỒNG THUÊ KẾT HỢP (Combination Leases) Nhiều bên cho thuê đưa ra cho thuê theo một loạt các điều kiện. khi những công ty như Enron hay Tyco. công ty nào muốn có được tài sản – thường là bất động sản với chu kì sống dài – với nợ thì đầu tiên nên thiết lập 1 đối tượng mục đích đặc biệt (SPE). Cho thuê như vậy được gọi sự kết hợp hợp đồng cho thuê.Song song với việc vay vốn được thực hiện với tiến độ thanh toán tiền thuê. Lưu ý rằng người bán ngay lập tức nhận được giá mua được đưa lên bởi người mua. sự khác biệt chủ yếu là các thiết bị thuê được sử dụng. trong hợp đồng thuê thực tế thường không phù hợp chính xác vào thuê hoạt động hoặc loại cho thuê tài chính nhưng kết hợp một số đặc điểm của mỗi loại hợp đồng đó. người cho vay thông thường sẽ nhận được một loạt các khoản thanh toán bằng chỉ đủ để trả dần các khoản cho vay và để cung cấp một tỷ lệ xác định lợi nhuận trên dư nợ. Để minh họa.Khi hợp đồng thuê tổng hợp.Theo một thỏa thuận cho vay thế chấp. Tuy nhiên. Thỏa thuận bán và thuê lại tài sản là gần như giống nhau là thuê tài chính.hoặc một nhà đầu tư cá nhân.Loại hợp đồng thuê này được sử dụng đầu tiên vào đầu những năm 1990.đặc biệt 97% nợ được cung cấp bởi 1 định chế tài chính và 3% vốn chủ được cung cấp bởi các bên khác nhiều hơn bản thân công ty đó. cũng nên được đề cập. các khoản thanh toán tiền thuê được thiết lập giống hệt nhau cách thanh toán là chỉ đủ để trả lại giá mua đầy đủ cho nhà đầu tư. một loại đặc biệt của hợp đồng thuê tài chính.Vì vậy. và bên cho thuê mua nó từ bên thuê người dùng thay vì một nhà sản xuất hoặc nhà phân phối. nhưng nhiều hợp đồng thuê tài chính hiện nay cũng có những điều khoản hủy bỏ. bên thuê người bán giữ lại sử dụng tài sản. Theo một thỏa thuận bán và thuê lại tài sản. Một hợp đồng bán và thuê lại tài sản là như vậy. cộng với lợi nhuận quy định về đầu tư của bên cho thuê. đã nhận ra rằng hợp đồng thuê tổng hợp nên được sử dụng để loại nợ ra khỏi bảng cân đối kế toán. sự hủy bỏ điều khoản thường được gắn liền với hợp đồng thuê hoạt động. Kế hoạch bán và thuê lại tài sản là một sự thay thế một thế chấp.SPE sẽ nhận được sự tài trợ. HỢP ĐỒNG THUÊ TỔNG HỢP Loại thứ 5 của hợp đồng thuê. không phải là mới. cũng như các công ty “bình thường” khác.

sau những vụ Scandal vào đầu những năm 2000. nhưng nó chưa phải trình bày 1 khoản nợ trên bản cân đối kế toán của mình.FASB. có nghĩa là công ty sẽ ít rủi ro hơn và các cơ quan cho vay sẽ chịu nhịu rủi ro hơn và (3) những công ty chưa thanh toán 1 vài khoản hợp đồng thuê tổng hợp sẽ phải gặp khó khắn trong tương lai gần. và thậm chí ban giám đốc của các công ty bắt đầu thảo luận nghiêm túc về các SPE và hợp đồng thuê tổng hợp. TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ .Tuy nhiên. 1 công ty thiết lập những SPE sẽ được yêu cầu làm 1 trong 3 việc khi việc hợp đồng thuê này còn thời hạn (1)trả hết 97% khoản nợ của SPE (2)tái huy động vốn ở mức lãi suất hiện tại. SEC. nếu người cho vay sẵn sàng tài trợ (3)bán tài sản này và tạo ra bất kì sự thâm hụt nào giữa giá bán và khối lượng nợ Vì vậy. khi mà những việc hợp đồng thuê này kết thúc thì công ty phải xây dựng lại việc hợp đồng thuê tổng hợp dưới những điều kiện chặt chẽ hơn hoặc thanh toán hết những khoản nợ của SPE. công ty đang bảo đảm cho khoản nợ. những nhà phân tích đầu tư an toàn . các nhà quản lí ngân hàng. Hợp đồng thuê tổng hợp vẫn tiếp tục ổn định cho đến trước năm 2001. nhưng kết quả sẽ gần như là (1) những SPE và hợp đồng thuê tài chính sẽ ít quan trọng hơn trong tương lai. Một cách chủ quan. và công ty sẽ hợp đồng thuê tài sản này của SPE với kì hạn thường là 3-5 năm.(2) để thành lập 1 SPE phải cần nhiều hơn 3% vôn chủ. những cơ quan kiểm toán cũng đang trong quá trình sửa đổi những điều khoản mà hợp đồng thuê tổng hợp có thể được cấu trúc lại. và khi đã sử dụng nó thì không 1 công ty nào như Enron và Tyco cũng như các công ty kiểm toán như Arthur Andersen muốn để cho người khác xem xét tỷ mỉ vấn đề này.Như đã nói ở phần trước. nhưng với 1 quyền chọn là sẽ kéo dài việc hợp đồng thuê này. các nhà đầu tư và ngân hàng đánh giá thấp những công ty sử dụng hợp đồng thuê tổng hợp nhiều.Hợp đồng thuê tổng hợp đã được dùng để đạt được điều trên.Không biết chính xác là những điều này sẽ kết thúc như thế nào .Bởi vì những kì hạn hợp đồng thuê tương đối ngắn thường là hợp đồng thuê hoạt động và vì thế nó không được vốn hoá và sẽ được trình bày trên bảng cân đối kế toán.mua bất động sản. và các ban giám đốc bắt đầu bảo các CFO của họ dừng sử dụng nó và kết thúc tất cả những cái đang tồn tại. hợp đồng thuê dài hạn phải được vốn hoá và trình bày trên bảng cân đối kế toán.Hơn nữa. đó là điều mà công ty mong đợi được thực hiện.

người hợp đồng thuê không thể thực hiện bất kì khoản đầu tư vào tài sản này khác hơn là thông qua việc thanh toán tiền hợp đồng thuê.Tác đọng này sẽ khấu hao thiết bị qua thời gian ngắn hơn nhiều so với chu kì khấu hao MACRS của nó. Cả người hợp đồng thuê lẫn các bên liên quan không thể thanh toán hay bảo đảm thanh toán bất kì phần nào của mức giá tài sản cho hợp đồng thuê. 3. Tài sản cho hợp đồng thuê không được là tài sản giới hạn sử dụng được định nghĩa là tài sản chỉ có thể được sử dụng bởi người hợp đồng thuê và các bên liên quan vào cuối kì hạn hợp đồng thuê.Tuy nhiên người hợp đồng thuê có thể được trao 1 quyền chọn để mua tài sản ở mức giá trị thực sự.Ví dụ. $300. Giá trị còn lại ước tính của tài sản (tính theo giá trị đồng dollars mà không điều chỉnh theo lạm phát) tại thời điểm hợp đồng hợp đồng thuê hết hiệu lực phải bằng ít nhất 20% giá trị của nó tại thời điểm bắt đầu hợp đồng thuê.000 .Chú ý rằng chu kì sống hữu ích kì vọng của tài sản thường dài hơn nhiều so với chu kì khấu hao MACRS của nó.Hơn nữa. Cả người hợp đồng thuê lẫn các bên liên quan không có quyền mua tài sản ở mức giá cố định đã tính trước.Những điuề khoản chính trong nguyên tắc thuế như sau: 1.000 trong năm 1. $900.Vì vậy. nếu không có sự hạn chế. 1 công ty sẽ tạo nên nhiều giao dịch hợp đồng thuê cho các khoản thanh toán nhanh sẽ được giảm trừ thuế.Điều quan trọng là hợp đồng cho hợp đồng thuê được viết theo 1 mẫu đơn được IRS chấp thuận.Điều kiện này có tác đọng lên sự giới hạn thời hạn hợp đồng thuê lớn nhất.000 trong năm 2. 1 tài sản với chu kì sống 10 năm có thể được cho hợp đồng thuê không vượt quá 8 năm. Nguyện nhân cho việc IRS quan tâm về những điều khoản hợp đồng thuê này là. thời gian hữu ích còn lại không được ít hơn 1 năm. giả sử 1 công ty lên kế hoạch mua 1 máy tính giá 2 triệu $ với chu kì khấu hao MACRS 3 năm.Khoản khấu hao hằng năm cho phép sẽ là $660. 2.Hợp đồng cho hợp đồng thuê mà tuân theo các yêu cầu của IRS được gọi là hợp đồng cho hợp đồng thuê chuẩn và định hướng về thuế và quyền ở hữu những lợi ích vè thuế (khấu hao và tín dụng thuế đầu tư) thuộc về người cho hợp đồng thuê. Thời hạn hợp đồng thuê (bao gồm bất kỳ sự gia hạn hay thay mới ở mức lãi suất hợp đồng thuê cố định) không được vượt quá 80% thời gian sử dụng ước tính của tài sản khi bắt đầu hợp đồng thuê. 4.Giá trị đầy đủ của các khoản thanh toán tiền hợp đồng thuê là chi phí đã được giảm trừ thuế cho những người hợp đồng thuê được cung cấp bởi Cục Thuế Nội Địa Hoa Kì đồng ý rằng 1 hợp đồng đặc biệt là 1 khoản hợp đồng thuê thật và không đơn giản mà gọi 1 khoản nợ là 1 khoản hợp đồng thuê. 5.Đơn giản hơn.

nhưng các khoản tiết kiệm sẽ đến nhanh hơn.giá trị hiện tại của khoản tiết kiệm thuế là $714. Như vậy. Nếu có bất kỳ câu hỏi về tình trạng pháp lý của hợp đồng. $120.000 so với giá trị hiện tại chỉ có $ 714. Nếu thanh toán 2 triệu USD đã được xử lý như là một khoản thanh toán tiền hợp đồng thuê.000 trong năm 1. và (3) chỉ có thể khấu trừ phần lãi suất của từng khoản thanh toán tiền thuê. Ví dụ.Nếu công ty năm trong khung thuế liên bang 40%.000 trong năm 4. nếu chỉ cần bất kỳ loại hợp đồng có thể được gọi là một hợp đồng thuê và xử lý thuế như một hợp đồng thuê. người thuê (1) là chủ thực sự của tài sản thuê. Bây giờ giả sử công ty có thể đạt được các máy tính thông qua một thỏa thuận cho thuê một năm với một công ty cho thuê một khoản thanh toán 2 triệu USD. nếu một công ty đã thua lỗ và do đó không có hiện nghĩa vụ thuế hiện tại. tổng cộng mức tiết kiệm là $800. . hoặc $ 800. vẫn còn có những lần khi các lợi ích về thuế rất đáng kể có thể được bắt nguồn từ thỏa thuận cho thuê.000 trong năm 4.000. các khoản thanh toán cho thuê và khấu hao.567. Vấn đề này sẽ được thảo luận chi tiết sau trong chương sau.4 ($2. Việc tăng tốc này sẽ mang lại lợi ích cho công ty. do đó sẽ cung cấp một khoản tiết kiệm thuế 0. nhận được các khoản khấu hao. $360. do đó các khoản khấu hao không phải là rất hữu ích. nhưng nó sẽ là tốn kém cho chính phủ. nhưng vấn đề bây giờ là nếu công ty đang thu được lợi ích thuế từ việc thuê. sau đó là thời gian của các khoản thuế có thể được đẩy nhanh so với các khoản thuế khấu hao quyền sở hữu. công ty cho thuê thiết lập bởi các công ty có lợi nhuận như GE hay Philip Morris có thể mua các thiết bị. Vì lý do này.000). Lưu ý rằng một hợp đồng thuê không đáp ứng các hướng dẫn thuế được gọi là một hợp đồng thuê không thuế. Mặc dù cho thuê có thể được sử dụng chỉ trong giới hạn để đẩy nhanh tiến độ khấu hao hiệu quả. và sau đó chia sẻ những lợi ích này với người thuê bằng cách thu phí các khoản thanh toán tiền thuê thấp hơn.000) = $ 800. Trong trường hợp này.000 trong năm 2. (2) có thể giảm giá cho mục đích thuế. hợp đồng thuê phải được viết bằng một cách mà sẽ đủ điều kiện nó như là một hợp đồng thuê thật sự theo hướng dẫn của IRS. người quản lý tài chính phải chắc chắn phải có luật sư và kế toán của công ty để kiểm tra lại các quy định mới nhất của IRS.000 trong năm 3 và $56. cả hai sẽ cung cấp tổng số tiền từ tiết kiệm thuế (40% của $ 2. IRS đã thiết lập các quy tắc mô tả ở trên để xác định một hợp đồng thuê cho mục đích thuế. với quyền chọn mua 1$. Do đó. trong điều kiện thuê một năm.Với lãi suất chiết khâu 6%. nó sẽ được khấu trừ toàn bộ.trong năm 3 và $140. Đối với loại hợp đồng thuê.000.000. khấu hao sẽ cung cấp 1 khoản tiết kiệm thuế là $264.000. do đó có một giá trị cao.567 cho các khoản khấu hao.

nếu trước đây công ty đã thiết lập một cấu trúc vốn mục tiêu. các công ty tham gia vào hợp đồng cho thuê tài chính (hoặc vốn) phải xác định lại bảng cân đối kế toán của họ và báo cáo tài sản thuê như là một tài sản cố định và giá trị hiện tại của chi trả thuê tương lai như một khoản nợ. trong đó yêu cầu. nếu một công ty ký một hợp đồng thuê tài chính. việc thuê tài sản được gọi là việc tài trợ ngoài bảng cân đối kế toán (off-balance-sheet).Sự khác biệt giữa hợp đồng Thuê có thuế và không có thuế là gì? Quy định cho thuê có thể gây ra một hợp đồng thuê được phân loại như một hợp đồng thuê không thuế là gì? Tại sao không giới hạn IRS về các quy định cho thuê? NHỮNG ẢNH HƯỞNG TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Dưới các điều kiện chắc chắn. do đó cả 2 cột trong bảng CĐKT tăng thêm một lượng bằng 100$ và do đó làm thông số nợ tăng lên 75%. Công ty B vay 100$ và mua tài sản. và cả 2 có thông số nợ là 50%. Vì vậy. đối với tất cả ý nghĩa và mục đích. Cả 2 công ty này lúc đầu có BCĐKT tương tự nhau. đối với các báo cáo kiểm toán không đủ tiêu chuẩn. Các logic đằng sau bản Tuyên Bố 13 là như sau. Tuy nhiên thông số nợ vẫn không đổi là 50%. sau đó cho thuê . Để khắc phục vấn đề này. và do đó cấu trúc vốn thật sự của nó được thay đổi. ban Tiêu chuẩn Kế toán Tài chính đã ban hành báo cáo FASB 13. Vì vậy. điều này có tác dụng đẩy tỷ lệ nợ thật sự của nó lên. Doanh nghiệp L thuê thiết bị đó. Nếu một doanh nghiệp ký một hợp đồng thuê tài chính hợp đồng. chi phí thuê tài sản lớn hơn hoặc bằng chi phí lãi vay như công ty B chịu. và nếu có không có lý do để nghĩ rằng cấu trúc vốn tối ưu đã thay đổi. Điều này được thể hiện trong Bảng 19-1 mô tả 2 công ty B (vay) và L (thuê tài sản). nghĩa vụ của mình để trả tiền thuê được xem như là nghĩa vụ cho trả chi phí lãi vay của một khoản vay và cũng có nguy có phá sản tương tự như việc không chi trả được vốn và lãi vay. Kế tiếp. Đây là trường hợp. một hợp đồng thuê tài chính là giống như một hợp đồng vay tiền. Với lý do này. Quá trình này được gọi là vốn hóa các khoản thuê và hiệu ứng ròng của nó là tạo ra bảng cân đối tương tự giữa 2 công ty B và L có. mỗi công ty quyết định mua được 1 tài sản cố định có giá là 100$. các tài sản thuê hay các khoản nợ xuất phát từ các hợp đồng thuê tài sản không xuất hiện một cách trực tiếp trên BCĐKT. và đứng dưới quan điểm của nguy cơ phá sản thì cong ty L nguy hiểm hơn.

sau đó các nhà đầu tư của công ty L có thể bị đánh lừa vào suy nghĩ rằng tình hình tài chính của nó là mạnh hơn khả năng thực sự của nó. Những người tin tưởng mạnh mẽ về một thị trường hiệu quả cho rằng các nhà đầu tư đẫ không bị lừa và các chú thích sẽ được đưa ra. thuê tài sản có thể thay thế quyết định cơ cấu vốn trong một cách đáng kể. một công ty có thể tăng đòn bẩy thật sự của nó thông qua một thỏa thuận cho thuê. Nếu bí mật về việc thuê như trong bảng 19-1 không được tiết lộ. hơn là bằng cách vay trực tiếp và phản ánh điều đó trên bảng cân đối kế toán của mình. Vào thời điểm đó. Các câu hỏi về việc liệu các nhà đầu tư đã thực sự bị lừa dối là tranh luận lâu dài và không có hồi kết.tài chính yêu cầu cần phải tăng thêm vốn chủ sở hữu bổ sung để duy trì cấu trúc vốn mục tiêu. và thủ tục này sẽ có một tác động nhỏ hơn chi phí của nó nợ thông thường. rd. Vì vậy. và chi phí vốn chủ sở hữu. Báo cáo số 13 giới thiệu một thỏa hiệp giữa hai vị trí này. . ngay cả trước khi FASB 13 trên đã được ban hành. mặc dù có ai đó thiên về lý thuyế vốn hóa nhiều hơn. Nếu như vậy.có thể họ sẽ thấy rằng công ty B và L trong về cơ bản giống hình tài chính. rs. các công ty yêu cầu phải tiết lộ sự tồn tại của hợp đồng cho thuê dài hạn ở ghi chú cuối trang tài chính của báo cáo. nó đã được tranh luận là có hay không các nhà đầu tư có khả năng nhận diện được đầy đủ các tác động của các hợp đồng cho thuê . ngay cả các nhà đầu tư chuyên nghiệp. Một số người lập luận rằng hợp đồng thuê không được nhận thức đầy đủ.

quyết định dựa trên các thủ tục ngân sách vốn thường xuyên. Khi hết hạn hợp đồng. 2. thuê tài sản nên được coi là một khoản nợ cơ khi đứng trên mục đích cấu trúc vốn. Do vậy nếu một tài sản có vòng đời 10 năm. 1. Vì vậy. Thời hạn thuê bằng hoặc cao hơn 75% vòng đời của tài sản. Bên thuê phải xác định rằng là việc thuê tài sản có ít tốn kém hơn so với mua nó hay không. và bên cho thuê phải quyết định liệu các khoản thanh toán tiền thuê có được từ cho thuê có thỏa đáng trên vốn đầu tư vào tài sản thuê hay không. Vì vậy. do đó phải được vốn hóa và hiển thị trực tiếp trên bảng cân đối kế toán. được cho là đủ để đảm bảo rằng không có ai sẽ bị lừa bởi cho thuê tài chính. Khi gia trị hiện tại của các khoản chi phí thuê lơn hơn 90% giá trị ban đầu của chúng. Công ty quyết định để có được một tòa nhà cụ thể hoặc một phần của thiết bị. các sự kiện dẫn đến một thỏa thuận cho thuê theo trình tự mô tả dưới đây. cùng với các quy tắc công bố thông tin chú thích cho việc thuê hoạt động. và chúng cũng có những tác động tương tự như nợ trên rd và rs. chúng ta chỉ đơn giản quan tâm liệu là để có được sử dụng của máy . phân tích đơn giản đưa ra ở đây dẫn đến các quyết định chính xác trong tất cả các trường hợp mà chúng ta gặp phải. 4. Tuy nhiên. mà được cho thuê 8 năm thì phải được vốn hóa. 3. Trong trường hợp điển hình. ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI THUÊ Thuê tài sản được đánh giá bởi cả hai bên thuê và bên cho thuê. và một số mô hình quyết định rất phức tạp đã được phát triển để hỗ trợ trong các phân tích. Theo các điều khoản của hợp đồng thuê. Chúng ta nên lưu ý rằng một mức độ không chắc chắn tồn tại về hướng chính xác của lý thuyết để đánh giá thuê so với quyết định mua. Những quy định này. nếu một hoặc một số các điều kiện sau tồn tại: 1. quyền sở hữu tài sản được chuyển giao từ người cho thuê cho bên thuê. việc thuê tài sản là hâu như không có cho phép một công ty sử dụng nhiều đòn bẩy tài chính hơn những gì có thể là thu được với các khoản nợ thông thường. Trong một phân tích thuê tài sản.Hợp đồng thuê được phân loại như một hợp đồng thuê vốn. Phần này tập trung vào phân tích của bên thuê. người thuê mua lại tài sản với giá thấp hơn giá thị trường.

bằng cách vay mượn. Thompson-Grammatikos Công ty (TGC) cần có một tài sản trong hai năm mà chi phí $ 100. ngân hàng sẽ cho vay TGC $ 100 với lãi suất 10% trong hai năm. sau đó $ 1 của việc tài trợ thuê tài sản được thay thế $ 1 tiền nợ. Ngoài ra. Như vậy. Do việc vốn hóa . Các doanh nghiệp kinh doanh tốt không có tiền mặt dư thừa sẵn có. . Lưu ý rằng việc phân tích nên so sánh chi phí thuê với chi phí vay nợ bất kể việc mua tài sản như thế nào thực sự là tài trợ. Như vậy. một hợp đồng thuê được so sánh với một khoản vay trong ý nghĩa rằng công ty bắt buộc phải thực hiện một loạt quy định của các khoản thanh toán. Xem Extension Web cho chương này để biết thêm thông tin trên hiệu ứng phản hồi. so sánh thích hợp nhất là tài trợ thông qua thuê tài sản so với tài trợ thông qua nợ . Các quỹ để mua tài sản có thể thu được từ tiền mặt được tạo ra trong nội bộ. lãi suất đơn. câu hỏi tiếp theo là làm thế nào để tài trợ nó. 2. và có lẽ dự án trước đây được coi là không thể chấp nhận được có thể trở thành chấp nhận được. quyết định cho thuê thường chỉ một quyết định tài trợ. cho bên thuê. Như vậy. hoặc bằng cách bán vốn cổ phần mới.móc bằng cách cho thuê hay là mua. và bất cứ thất bại nào trong việc đáp ứng các khoản thanh toán có thể dẫn đến phá sản. Thuế suất của TGC là 40%. do đó. và có vốn cùng một cấu trúc có hiệu lực. và công ty phải lựa chọn giữa việc thuê và mua tài sản. xem xét ví dụ này. dẫn đến khấu hao thuế $ 50 và tiết kiệm thuế của T (khấu hao)= 0. giả sử rằng (1) TGC có thể khấu hao giá trị tài sản hơn hai năm thuế theo phương pháp đường thẳng nếu nó mua. 3. thuê tài sản thường có hiệu ứng cấu trúc vốn tương tự như vay mượn. Tuy nhiên. Để minh họa các yếu tố cơ bản của phân tích việc thuê tài sản. Nếu một công ty có một mục tiêu cơ cấu vốn. Để đơn giản. Như đã nêu trước đó. và (2) rằng giá trị của tài sản vào cuối năm thứ hai sẽ là $ 0. cộng với trả lại $ 100 gốc vào cuối năm 2. nhưng kể từ khi cho thuê là một thay thế cho vay nợ. các tài sản có thể được cho thuê.4 (50 $)= $ 20 mỗi năm. công ty sẽ phải trả ngân hàng $ 10 lợi ích vào cuối mỗi năm. Một khi công ty đã quyết định để có được các tài sản. 4. nếu chi phí hiệu quả vốn thu được bằng cách cho thuê thấp hơn đáng kể so với chi phí nợ. vốn để tài trợ cho tài sản mới phải được lấy từ một số nguồn. Nếu tài sản được mua. Tài sản có thể mua bằng tiền mặt có sẵn hoặc tiền mặt đưa ra bởi phát hành cổ phiếu. sau đó chi phí vốn được sử dụng trong quyết định ngân sách vốn sẽ được tính toán lại. sự so sánh thích hợp vẫn sẽ là vay nợ.

chúng ta phải đặt chúng vào một cơ sở giá trị hiện tại. chúng có một PV lớn hơn PV của chi phí tài trợ hoặc người nào khác TGC sẽ không muốn để có được các tài sản. đó là dòng chảy liên quan vay nợ.0. dương trong năm 1. TGC có thể cho thuê tài sản theo một hợp đồng thuê có nguyên tắc . đối với TGC là 10% (1. và âm trong năm 2. Bởi vì dòng tiền hoạt động sẽ giống nhau bất kểtài sản cho thuê hoặc mua. –Sự phân tích quyết định thuê so với vay bao gồm (1) ước tính dòng tiền mặt kết hợp với vay và mua tài sản. họ có thể bị bỏ qua. Các dòng tiền hoạt động không được hiển thị. dòng tiền ròng bao gồm các khoản tiết kiệm thuế từ các mặt hàng này. Để so sánh các dòng chi phí mua so với thuê. Áp dụng tỷ lệ này. tỷ lệ chiết khấu chính xác phải là chi phí vay nợ sau thuế.4)= 6.Ngoài ra. và khấu trừ của các khoản thanh toán cho thuê nếu nó được cho thuê.Như vậy. và(3) so sánh các phương pháp tài chính để xác định trong đó cái nào tốn ít chi phí hơn. Dòng tiền ròng là không trong năm 0. Như chúng ta sẽ giải thích sau. (2) ước tính dòng tiền liên quan đến việc cho thuê tài sản. cho hai năm và thanh toán $ 55 vào cuối mỗi năm. tất nhiên. Dưới đây là dòng tiền liên quan đên thuê tài sản: Lưu ý rằng hai tập hợp các dòng tiền phản ánh khấu trừ thuế của lãi suất và khấu hao nếu tài sản được mua. chúng ta .0%.

Dòng 7 có là dòng ngân quỹ ròng. Tuy nhiên công ty chỉ sử dụng nó trong 5 năm và sau đó ngừng sử dụng chúng. Người cho thuê sẽ chịu chi phí bảo hành…Trong khi nếu công ty vay và mua tài sản thì chính công ty phải chịu chi phí này với chi phí cố định hằng năm là 500. các phí lãi sau thuế là 0. Dòng 3 cho các khoản tiết kiệm thuế bảo trì.Nhưng nếu được ban sau 5 năm thì giá trị thanh lý sẽ là 2 triệu. Dòng 5 và 6 thể hiện giá trị còn lại (thanh lý) của dòng tiền. hai khoản mục nầy được trừ ra bằng không do đó không được hiển thị trong bảng 19-2.5%. Thiết bị được khấu hao theo MACRS 5 năm.000. Bảng 19-2 cho thấy các bước liên quan trong phân tích. Việc thanh toán liên quan đến thuê. tỷ lệ này. do đó. Giá trị thị trường của thiết bị này sau 10 năm sử dụng là 50. $ 10 triệu vay được hoàn trả vào cuối của năm 5. trong đó bao gồm bảo . Trong năm 1. Sau đó.000. Lịch trình chi trả chi phí thuê sẽ được người cho thuê sắp xếp. 5. Công ty vay mượn $ 10 triệu và sử dụng nó để mua thiết bị. Các ghi chú Bảng 19-2 giải thích việc tính khấu hao. Có các thông tin sau: 1. Dòng 4 thể hiện lượng tiết kiệm thuế từ khấu hao. Công ty có thể vay 10 triệu với lãi suất trước thuế là 10% 3.xls Công cụ cho thấy phân tích này). 4.600. chiết khấu ở mức 6. Công ty định mua một máy tự động với vòng đời là 10 năm và chi phí là 10 triệu.000.50.33 so với giá trị hiện tại với chi phí thuê $ 60. 2. Phần II của Bảng 19-2 phân tích về thuê tài sản. Phần I của bảng là dành cho các chi phí vay mượn và mua.65)= $ 650. thuế suất 35%.10 ($ 10 triệu) (0. và Dòng 8 cho thấy giá trị hiện tại ròng của các dòng tiền. công ty chi trả cho chi phí lãi vay sau thuế thể hiện trong dòng 1.000 USD mỗi năm. công ty cần cho thuê tài sản này. và các khoản thanh toán khác được tính tương tự. thể hiện trong dòng 9 là 2.6 triệu đô vào đầu mỗi năm và người cho thuê sẽ lấy lại tài sản khi hết hạn hợp đồng. Dòng 2 cho thấy chi phí bảo trì. 6. công ty mà đang tiến hành một phân tích cho thuê trên một số thiết bị dây chuyền lắp ráp rằng nó sẽ mua sắm trong những năm tới (các tập tin IFM9 Ch19 Kit. Vì thuê có giá trị chi phí hiện tại thấp hơn. Anderson có thể thuê tài sản này và chi trả chi phí thuê hằng năm 2. Bây giờ chúng ta sẽ đi đến một ví dụ thực tế của công ty Anderson. đó là chi phí khấu hao với tỷ lệ thuế. Do vậy nếu công ty mua thì nó sẽ có được một khoản tiền trước thuế là 2 triệu.thấy chi phí giá trị hiện tại của mua là $ 63.

534. nên được sử dụng. được hiển thị trong dòng 10.600. được thực hiện bởi bên cho thuê tiềm năng và cung cấp cho Anderson Thiết bị.000 USD cho các chi phí cho thuê. như được hiển thị trong dòng 8 và 12.000.480. trong đó nổi lên câu hỏi về mức hợp lý của tỷ lệ chiết khấu các chi phí. Kết quả là giá trị hiện tại$ 7. chi phí sau thuế của khoản thanh toán tiền thuê là chi phí thuê trừ các khoản Tiết kiệm thuế= $ 2. năm0 đến 4. Bước tiếp theo là so sánh chi phí ròng của việc sở hữu với chi phí ròng của thuê tài sản.000)= $ 910. toàn bộ chi phí được khấu trừ thuế do đó tiết kiệm thuế. Tuy nhiên.000? = 1. Số tiền này được thể hiện trong dòng 11.5%. và tỷ lệ này có vẻ hợp lý trong ví dụ của chúng tôi. chi phí sau thuế của nợ. Hơn nữa. Bởi vì thuê là một thay thế cho các khoản nợ. Theo đó. nếu Anderson chấp nhận cho thuê. bởi vì dòng tiền mặt sau thuế.000 cho chi phí của việc sở hữu và 7.35 ($ 2.600. Như vậy.35 (chi phí thuê)=0. Điều này đòi hỏi phải chuyển đổi chúng sang các giá trị hiện tại.000.5%.T)= 10% (0.$ 910. chúng ta chiết khấu dòng tiền ròng trong dòng 7 và 11 bằng cách sử dụng một tỷ lệ 6. là 0.000.65)= 6. là 10% (1?. hầu hết các nhà phân tích khuyên rằng chi phí nợ của công ty được sử dụng.690.dưỡng. . chúng ta đầu tiên phải đặt dòng tiền hàng năm của thuê tài sản và đi vay trên một nguyên tắc chung.

Bất kỳ bên cho thuê tiềm năng nào cũng cần phải biết tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư trong hợp đồng thuê.$7. công ty cho thuê lớn nhất thế giới. Ngân hàng đầu tư như Merrill Lynch cũng đã thành lập hoặc làm việc với công ty chuyên cho thuê. cá nhân hoặc nhóm cá nhân được tổ chức như là một quan hệ đối tác hữu hạn hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn. Các công ty cho thuê chuyên ngành thường cũng thuộc sở hữu của các công ty lợi nhuận như General Electric. do đó. Nó cũng rất quan trọng để phân tích các giao dịch dưới quan điểm bên cho thuê: thuê có phải là một món đầu tư tốt cho các bên phải bỏ tiền ra mua nó? Bên cho thuê nói chung sẽ là một công ty chuyên cho thuê. ví dụ như một nhà sản xuất như IBM hay GM sử dụng cho thuê như là một công cụ bán hàng. Phân tích của bên cho thuê liên quan đến (1) xác định mạng Chi phí tiền mặt.000 Chi phí giá trị hiện tại (PV cost) của việc sở hữu vượt quá chi phí giá trị hiện tại (PV cost) của thuê tài sản. nơi mà tiền của khách hàng môi giới được làm sẵn có cho khách hàng thuê trong các chương trình khuyến mại cho phép các nhà đầu tư để chia sẻ trong nơi lá chắn thuế được cung cấp bởi các hợp đồng cho thuê. mà tương tự với phương pháp NPV được sử dụng trong ngân sách vốn. bên thuê nên biết rằng những gì nên được trả cho bên cho thuê chính là thu nhập. một chi nhánh ngân hàng. chúng tôi tập trung vào chi phí tiền thuê so với vay và mua. ĐÁNH GIÁ CỦA NGƯỜI CHO THUÊ Như vậy lúc trước. Trong phần này. Vì vậy. Một phương pháp thứ 2 mà bên thuê có thể sử dụng để đánh giá cho thuê tập trung vào các chi phí tỷ lệ phần trăm cho thuê và là tương tự với phương pháp IRR được sử dụng trong ngân sách vốn. Mỗi cách tiếp cận centage được thảo luận trong Extension Web của chương này. NAL là dương.Phương pháp tài chính cho ra một giá trị hiện tại của chi phí nhỏ hơn là một cách trong đó cần được lựa chọn.534. chúng ta đã xem xét cho thuê chỉ từ quan điểm của bên thuê. do đó.000 = $54.480. Anderson nên thuê các thiết bị. và thông tin này cũng rất hữu ích cho bên thuê tiềm năng: Cho thuê các điều khoản về hợp đồng cho thuê lớn thường được đưa ra thông qua đàm phán. Chúng tôi xác định lợi thế ròng cho thuê (NAL) như sau : NAL = chi phí của việc sở hữu – chi phí của việc thuê = $7.000 . công ty mà sở hữu General Electric Capital. mà thường là các bản báo giá của các thiết bị thuê trừ đi bất kỳ các khoản thanh toán cho thuê được .

0. cung cấp lãi đáo hạn sau thuế (9%) (1 . Nhà đầu tư cũng có thể tính IRR của hợp đồng thuê dựa trên cơ sở dòng ngân quỹ ròng được hiển thị trong dòng 9 của Bảng 19 -3. tính được IRR là 5.6) = 5.8%.000) = $ 1.400. giao dịch cần được hoàn thành. CÁCH THIẾT LẬP KHOẢN THANH TOÁN TIỀN THUÊ Trong các phần trước. PHÂN TÍCH CỦA BÊN CHO THUÊ Để minh họa phân tích của bên cho thuê.4%. IRR của hợp đồng thuê được tính bằng cách cho NPV của việc cho thuê bằng 0.Vì vậy. (2) xác định dòng tiền định kỳ.440. trong hợp đồng thuê lớn các bên ngồi xuống và tìm ra một thỏa thuận về quy mô của các khoản thanh toán tiền thuê. cộng với những điều sau đây: (1) Bên cho thuê tiềm năng là một cá nhân giàu có mà quan tâm đến thu nhập hiện tại .thực hiện trước. bằng cách sử dụng một trong hai hoặc phương pháp NPV.4% sau thuế) là tốt hơn $ 81. (3) Giá trị còn lại trước thuế là 2. $ 1. Đây là thu nhập sau thuế mà nhà đầu tư có thể có được các khoản đầu tư thay thế với mức rủi ro tương tự. hợp đồng cho thuê có vẻ là một sự đầu tư thỏa đáng. (2) Nhà đầu tư có thể mua trái phiếu 5 năm có lãi suất đáo hạn 9% đến ngày đáo hạn.000 $ sẽ được tính thuế ở các tỷ lệ 40% bởi vì sự hoàn lại của nguyên tắc khấu hao.000 sau thuế từ việc bán các thiết bị sau khi hết hạn hợp đồng thuê. T là 40%. bên cho thuê có thể mong đợi để nhận được $2. Điều này vượt quá 5. việc cho thuê cung cấp 5. Trên cơ sở giá trị hiện tại. Tuy nhiên. chúng tôi giả định các sự kiện tương tự như đối với Công ty cho thuê Anderson.000 cuối năm của 5năm thuê.4% lợi nhuận sau thuế 9% trái phiếu.4 ($ 1. và có biên tỷ lệ thuế thu nhập liên bang. hoặc tương đương. (3) ước tính giá trị còn lại sau thuế của tài sản khi hợp đồng thuê hết hạn. Bởi vì tài sản sẽ được khấu hao với giá trị sổ sách là $ 600. IRR.000.000 USD.000. cho thấy rằng người đó nên sẵn sàng để viết hợp đồng thuê. chúng tôi đánh giá cho thuê giả định rằng các khoản thanh toán tiền thuê đã được quy định. Dòng tiền của bên cho thuê được xây dựng trong Bảng 19-3.T) = (9%) (0.8% lợi nhuận sau thuế (với thuế suất 40%) cho nhà đầu tư. với các khoản . và (4) xác định liệu tỷ lệ lợi nhuận trên cho thuê có vượt quá chi phí cơ hội vốn của bên cho thuê hay không. Như chúng ta đã thấy trước đó. do đó. Như vậy. bao gồm các khoản thanh toán tiền thuê trừ đi cả hai thuế thu nhập và bảo trì bất kỳ bên cho thuê phải chịu chi phí. do đó. Ở đây chúng ta thấy rằng việc cho thuê như một khoản đầu tư có giá trị hiện tại ròng $ 81.000 .000 của 2.000. liệu rằng NPV của hợp đồng thuê có dương không.000. nhà đầu tư mà đầu tư trong hợp đồng thuê hơn là trong các trái phiếu có lãi suất đáo hạn 9% (5.400.000. hợp đồng cho thuê nhà cũng là thuận lợi cho Công ty Anderson.

Tiến độ thanh toán tiền thuê sẽ cung cấp lợi nhuận này? Để trả lời câu hỏi này.232 để có được tỷ suất lợi nhuận sau thuế là 6. và sau thuế yêu cầu trở lại trên hợp đồng cho thuê nhà là 6. . IRR = 6.0%. sau khi xem xét các cơ hội đầu tư khác thay thế. hoặc tương đương. quyết định là lợi nhuận trái phiếu sau thuế 5. chúng tôi thấy rằng bên cho thuê phải thiết lập các thanh toán tiền thuê $ 2. Nếu các phân tích cơ bản là máy vi tính.621. giả sử bên cho thuê tiềm năng được mô tả trước đó. bên cho thuê vẫn phải thông qua cùng một loại hình phân tích. và sau đó cung cấp cho các điều khoản cho bên thuê tiềm năng trên cơ sở một mất nó-hoặc để lại nó.thanh toán đang thiết lập để cung cấp cho bên cho thuê với một số tỷ suất lợi nhuận cụ thể. lưu ý một lần nữa rằng Bảng 19-3 có bao gồm phân tích dòng ngân quỹ của bên cho thuê. và lợi nhuận sau thuế được yêu cầu trên hợp đồng cho thuê là 6%. các điều khoản thiết lập mà cung cấp một tỷ suất lợi nhuận mục tiêu.4% là quá thấp sử dụng để đánh giá cho thuê. Trong những tình huống mà trong đó các điều khoản cho thuê không được đưa ra thương lượng.0%. mà thường là trường hợp cho thuê nhỏ.xls.0%. và sau đó thay đổi thanh toán tiền thuê bằng cách thử và sai hoặc bằng cách sử dụng chức năng tìm kiếm mục tiêu cho đến khi thuê NPV = 0. nó rất dễ dàng đầu tiên thay đổi tỷ lệ chiết khấu 6%. Khi chúng tôi sử dụng điều này bằng excel trong IFM9 Ch19 Tool Kit.( on a take-it-or-leave-it basis) Để minh họa cho tất cả những điều này.

Chúng tôi sẽ tìm hiểu những vấn đề chi tiết trong phần sau. sau đó hàm ý rằng NAL tích cực bên đi thuê bằng nhưng tiêu cực cho bên thuê. điều kiện thường như vậy mà cho thuê có thể cung cấp các lợi ích ròng cho cả hai bên. hoặc trong khả năng rủi ro giá trị còn lại gánh chịu. CÁC VẤN ĐỀ KHÁC TRONG PHÂN TÍCH CHO THUÊ Các phương pháp cơ bản phân tích được sử dụng của bên thuê và bên cho thuê đã được trình bày trong các phần trước. nó sẽ xuất hiện rằng nếu giá trị còn lại được dự kiến là lớn. Đương nhiên. trong việc giá trị còn lại được ước tính. Tuy nhiên. do đó ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận được dự kiến của bên cho thuê. ƯỚC TÍNH GIÁ TRỊ CÒN LẠI Điều quan trọng cần lưu ý là bên cho thuê sở hữu tài sản khi hết hạn của bên cho thuê. Nếu giá trị còn lại dự kiến là rất lớn . sở hữu sẽ có một lợi thế hơn cho thuê. nhưng nó có thể có một ảnh hưởng đáng kể về dòng ngân quỹ của bên cho thuê. tăng lợi nhuận trên hợp đồng cho thuê bằng cách vay mượn một số quỹ được sử dụng để mua các tài sản cho thuê. Lưu ý là bên cho thuê có thể. cạnh tranh giữa các công ty cho thuê buộc bên cho thuê phải thiết lập lợi nhuận thị trường liên quan (market – related) vào lịch trình thanh toán tiền thuê của họ. Tình trạng này phát sinh do sự khác biệt về thuế. do đó bên cho thuê có yêu cầu bồi thường để giá trị còn lại của tài sản. Tuy nhiên. cạnh tranh giữa các công ty cho thuê buộc bên cho thuê để xây dựng trở lại marketrelated vào lịch trình thanh toán tiền thuê của họ. Tuy nhiên. Có hoặc không có hợp đồng thuê đòn bẩy không ảnh hưởng trên sự phân tích của bên thuê. Hợp đồng thuê như vậy được gọi là một hợp đồng thuê đòn bẩy. trong những điều kiện nhất định. tức Công ty Anderson. Bề ngoài.Giá trị sổ sách) T Nếu thanh toán tiền thuê này là không thể chấp nhận được cho bên thuê.là tham gia cạnh tranh giữa leas các công ty và các nguồn tài trợ khác. lợi thế này rõ ràng không được ủng hộ. Đương nhiên. Chúng tôi thảo luận về hợp đồng cho thuê đòn bẩy chi tiết hơn trong Extension Web của chương này. sau đó nó có thể không được đưa vào một thỏa thuận. Nếu các yếu tố đầu vào cho bên thuê và bên cho thuê là giống hệt nhau.Ghi chú: a) Thời gian khấu hao của tỉ suất thuế của bên cho thuê b) (Giá trị còn lại . một số vấn đề khác bảo đảm thảo luận. cạnh tranh giữa các công ty cho thuê và các . lãi vay.vì lạm phát của một số loại thiết bị và bất động sản .

Nếu giao ước hạn chế cấm một công ty phát hành thêm nợ nhưng không hạn chế thanh toán tiền thuê. cho thuê có thể là một cách để phá vỡ giao ước khoản vay hiện tại. kể từ khi một số hợp đồng thuê không xuất hiện trên bảng cân đối kế toán. họ có một sự lựa chọn tòa nhà và sở . nhưng kể từ khi công ty được yêu cầu tận dụng cho thuê tài chính và báo cáo trên bảng cân đối kế toán của họ. cho thuê tài chính đã được cho biết để cung cấp cho các công ty một bề ngoài mạnh mẽ hơn trong phân tích tín dụng bề mặt và do đó cho phép các công ty sử dụng đòn bẩy hơn sẽ có thể nếu nó không cho thuê. Tuy nhiên. sự tồn tại của các giá trị còn lại lớn không có khả năng dẫn đến việc chi phí cao hơn thực chất để cho thuê. sau đó công ty có thể tăng đòn bẩy của nó một cách hiệu quả bằng cách cho thuê tài sản bổ sung. các nhà bán lẻ không có sự lựa chọn. sẽ buộc tỷ giá cho thuê giảm xuống đến điểm mà những giá trị còn lại tiềm năng được công nhận đầy đủ trong hợp đồng thuê.đúng địa điểm trong trung tâm mua sắm và một số tòa nhà văn phòng. TĂNG KHẢ NĂNG TÍN DỤNG Như đã lưu ý ở trên. Ngoài ra. Có thể có một số sự thật với những tuyên bố cho các công ty nhỏ hơn. HỢP ĐỒNG THUÊ BẤT ĐỘNG SẢN Hầu hết các ví dụ của chúng tôi đã tập trung vào cho thuê thiết bị. theo thỏa thuận cho thuê hơn theo một khoản vay được bảo đảm bằng một phần cụ thể của thiết bị. Như vậy. nó đôi khi được lập luận rằng các công ty có thể có được nhiều tiền hơn. Đầu tiên. (Chúng tôi phân biệt giữa hợp đồng thuê nhà ở và kinh doanh lâu dài. cho thuê đôi khi được cho là thuận lợi cho các công ty đang tìm kiếm mức độ tối đa đòn bẩy tài chính. Thứ hai. mối quan tâm của chúng tôi là các hợp đồng cho thuê kinh doanh) Các nhà bán lẻ cho thuê nhiều cửa hàng của họ. Trong một số trường hợp. và hợp đồng gia hạn vẫn tạo thành một phân đoạn rất lớn của các tổng tín dụng thuê mua. cũng như cạnh tranh giữa các thuê với nhau. Tuy nhiên. Trong tình huống khác. cho thuê đã bắt nguồn với bất động sản. và các kỳ hạn dài hơn.nguồn tài trợ khác. nhưng để cho thuê . các công ty đang trong tình trạng tài chính rất nghèo và đối mặt với phá sản có thể có khả năng có được cho thuê tài chính với chi phí thấp hơn so với vay nợ tài chính bởi vì (1) bên cho thuê thường có một vị thế thuận lợi hơn bên cho vay nếu bên thuê thực sự bị phá sản và (2) Bên cho thuê là chuyên gia trong một số loại thiết bị có thể được ở một vị trí tốt hơn để xử lý các thiết bị thu hồi hơn so với các ngân hàng hoặc đơn vị cho vay khác. thời điểm này là có giá trị pháp lý có vấn đề cho bất kỳ công ty đủ lớn để có báo cáo tài chính đã được kiểm toán.

Thoạt nhìn qua. một phân tích đơn giản như vậy bỏ qua thực tế rằng việc thanh toán kết thúc sau khi khoản vay được thanh toán nhưng vẫn tiếp tục vô thời hạn dưới dạng cho thuê. tuy nhiên nhiều doanh nghiệp lại thích thuê ngoài đối với các dịch vụ liên quan đến ô tô và xe tải vận chuyển. yếu tố được xem trọng là thường xuyên sửa chữa và xử lí những phương tiện cho thuê vận chuyển – các công ty cho thuê sử dụng chuyên gia ở cho việc này. đặc biệt có cả các chuyên gia. Các loại phân tích hợp đồng thuê so với mua. nhưng các thủ tục phân tích quyết định thuê so với mua không khác bất kỳ với phân tích cho thuê khác HỢP ĐỒNG THUÊ PHƯƠNG TIỆN VẬN CHUYỂN Ngày nay. chúng tôi đã thảo luận trong chương này là chỉ áp dụng đối với bất động sản như cho các thiết bị. thạc sĩ quản trị kinh doanh. CHO THUÊ VÀ CÁC LUẬT THUẾ. bác sĩ. Việc cho thuê phương tiện cho phép nhiều cá nhân quán lí những chiếc xe mắc tiền hơn khả năng mà họ có thể. khoản phải trả hàng tháng cho 1 chiếc BMW mới có thể lên đến 1000$ với thời hạn khoản nợ 3 năm nhưng cũng 1 chiếc xe đó. có thể không tồn tại hợp đồng cho thuê. Đối với các cá nhân. . việc thuê phương tiện vận chuyển trở nên rất phổ biến cả ở những công ty lớn và các cá nhân. nếu bạn đi thuê trong 3 năm thì mỗi tháng chỉ cần thanh toán 499$. họ thường làm cho các điều khoản trở nên hấp dẫn. các cá nhân có thể đánh giá các chi phí thực sự liên kết với các hợp đồng cho thuê tự động và sau đó đánh giá hợp lý giá trị của từng loại tài chính tự động. Tuy nhiên. Bằng cách sử dụng các kỹ thuật được mô tả trong chương này. Đối với các công ty. hầu hết việc cho các cá nhân thuê các phương tiện vận chuyển thường thông qua đại lí. luật sư và cả kế toán. và điều này cũng dễ dàng hơn để thuyết minh cho các khoản khấu trừ thuế cho thuê hơn trên các phương tiên thuộc sở hữu. và như thế. Ví dụ. Tất nhiên. trở nên đặc biệt quan trọng với bất động sản. Các công ty luật và các công ty kế toán có thể lựa chọn giữa việc mua các cơ sở vật chất riêng của họ hoặc cho thuê trên cơ sở lâu dài (lên đến 20 năm hoặc nhiều hơn). Các đại lí xem việc cho thuê như một công cụ bán hàng của họ. ai là người thuê nhà khác. việc thuê phương tiện vận chuyển thì lại tương đối dễ dàng hơn. ta thấy răng việc đi thuê là ít tốn kém hơn so với việc sở hữu vì khoản thanh toán hàng tháng là thấp hơn nhiều. và điều đặc biệt là khi đề cập đến thanh toán. những thay đổi có thể được thực hiện. những ai sẽ phải trả cho sự thay đổi. Ngoài ra.hữu so với cho thuê. mọi thứ như bảo trì.

Cuối cùng.Bởi vì ITC cho chủ sở hữu của tài sản vốn nên khung thuế công ty có thể không sử dụng mà ITC có thể sử dụng cho thuê như một phương tiện để tiết kiệm thuế cao. Trong phần này. được thiết kế để buộc các công ty có lợi nhuận cao phải trả ít nhất là một số loại thuế ngay cả khi họ có nơi trú ẩn thuế đẩy thu nhập không chịu thuế của họ. chúng tôi thảo luận ngắn gọn về mỗi yếu tố này và sự ảnh hưởng của nó đến quyết định cho thuê.Nếu ITC được đưa trở lại vào pháp luật. về thuế tối thiểu thay thế (AMT) cũng ảnh hưởng đến hoạt động cho thuê. Tổng công ty được phép sử dụng khấu hao nhanh và nơi trú ẩn thuế khác trên sổ sách thuế nhưng sau đó sử dụng khấu hao doanh trực tuyến để báo cáo kết quả cho các cổ đông. bởi vì tiết kiệm thuế khấu hao tương đương với số tiền khấu hao nhân với thuế suất. nhưng báo cáo lợi nhuận cao cho cổ đông. các doanh nghiệp có thể ngay lâp tức được khoản khấu trừ lên đến 10% giá trị của khoản vốn mới đầu tư từ hóa đớn thuế thu nhập doanh nghiệp của họ. tất cả các công ty. Bởi vì giá trị thời gian của tiền có thể nhanh hơn một tài sản được trích khấu hao vì có nhiều lợi thế về thuế khi sở hữu tài sản. cá nhân phải tính toán thuế "thường xuyên" và thuế tối thiểu thay thế. Trước năm 1987. và (4) thuế tối thiểu thay thế.000$ sẽ được giảm $ 100. Điều này làm giảm lợi thế khi cho thuê vì khung thuế thấp đối với bên thuê và khung thuế cao đối với bên cho thuê. Như vậy. hay đổi pháp luật thuế gần đây có xu hướng để làm chậm khấu hao write-off.000 thuế trong năm hiện tại. Vì vậy.Khả năng cấu trúc hợp đồng cho thuê để thuận lợi cho cả bên cho thuê và bên thuê phụ thuộc phần lớn vào các luật về thuế. một công ty mua một hệ thống máy tính lớn máy tính 1. Bốn yếu tố thuế quan trọng ảnh hưởng đến cho thuê (1) đầu tư tín dụng thuế. (3) thuế suất. cho thuê và thuê sẽ trở nên đặc biệt hấp dẫn đối với các công ty thuế thấp khung. Thuế tối thiểu thay thế của công ty được tạm tính bằng cách áp dụng mức thuế 20% lợi nhuận cho các cổ đông. (2) các quy tắc khấu hao. do đó làm giảm giá trị của quyền sở hữu. là chi phí được khấu trừ thuế. và sau đó thanh toán khoản thuế cao hơn. Trong thực tế. một số doanh nghiệp báo cáo cho IRS rằng họ đang làm kém và do đó trả thuế ít hoặc không có. . nhưng nó có thể được phục hồi trong tương lai.Giá trị khấu hao cũng phụ thuộc vào tỷ lệ thuế của công ty. ITC là không hiện đang có hiệu lực. Bất kỳ di chuyển tự do hóa các quy tắc khấu hao sẽ có xu hướng làm thuê nhiều hơn mong muốn trong nhiều tình huống. Tín dụng thuế đầu tư (ITC) là khoản giảm thuế trực tiếp xảy ra khi một hãng đặt mua các thiết bị vốn mới. Chủ sở hữu phục hồi các khoản đầu tư của họ vào tài sản vốn thông qua khấu hao. có nghĩa là tỉ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ tiết kiệm thuế sở hữu lớn hơn. Do đó.000. . do đó khuyến khích cho các hợp đồng thuê xe.

Hơn một nửa của tất cả máy bay thương mại cho thuê. Hợp đồng cho thuê cũng là một lựa chọn hấp dẫn đối với nhiều máy móc công nghệ cao có thể bị lỗi thời nhanh chóng và không thể dự đoán trước. bệnh viện gặp rủi ro do lỗi thời của công nghệ. Điều này cho phép họ cung cấp các điều khoản trong hợp đồng thuê hấp dẫn. nó sẽ bị chậm trong khả năng đáp ứng của mình trong điều kiện thị trường thay đổi.Các công ty có các khoản chịu thuế thay thế tối thiểu lớn sẽ tìm cách giảm hóa đơn thuế của họ bằng cách hạ thấp doanh thu trong báo cáo thu nhập.Nếu một hãng hàng không.Một trong những lý do cho việc sử dụng hợp đồng thuê là các hãng hàng không có thể giảm rủi ro của họ bằng cách đi thuê. bên thuê và bên cho thuê. nhưng sự linh hoạt trong điều hành là khá có giá trị. đi thuê cung cấp sự linh hoạt trong điều hành . sau đó có thể để cấu trúc một hợp đồng thuê đó là có lợi cho cả hai bên.Trong tình huống này. ở đây có những lý do khác các công ty có thể muốn thuê tài sản hơn là phải là mua nó. Chúng tôi thấy rằng pháp luật thuế và thuế suất khác biệt giữa bên cho thuê và bên thuê có thể là một động lực thúc đẩy để cho thuê. và các hãng hàng không nhỏ. một số .Cho thuê tài chính không phải là nhất thiết phải ít tốn kém hơn so với mua.Nếu bên cho thuê và bên cho thuê đang phải gặp phải với mức thuế khác nhau. chúng tôi đã lưu ý rằng thuế suất hoặc chênh lệch khác nói chung là cần thiết để làm việc cho thuê hấp dẫn đối với cả hai. có một số lý do kinh tế lành mạnh giải thích tại sao các công ty nên cho thuê máy và thiết bị. mua tất cả các máy bay. Tuy nhiên. Trong một thời gian ngắn. đặc biệt là ở các quốc gia phát triển. bao gồm cả thuế tối thiểu tùy chọn(alternative minimum tax). Lưu ý rằng việc cho thuê không có đủ điều kiện như là một hợp đồng thuê hướng dẫn và được khấu trừ cho mục đích thuế thường xuyên và tất cả những gì cần thiết là làm giảm thu nhập báo cáo hiển thị trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Cho thuê tài chính có thể có lợi ở đây khi một hợp đồng thuê ngắn hạn với các khoản thanh toán hàng năm cao sẽ làm tăng chi phí báo cáo và do đó làm thấp lợi nhuận báo cáo.Nếu mua thiết bị MRI. Bởi vì họ đã trở thành những chuyên gia thích hợp đối với các hãng hàng không.Nói một bệnh viện nông thôn nhỏ muốn mua một thiết bị tạo ảnh cộng hưởng từ (MRI) . CÁC NGUYÊN NHÂN KHÁC CỦA VIỆC ĐI THUÊ Đến thời điểm này. hợp đồng cho thuê chiến một tỷ lệ đặc biệt cao số máy bay của họ. bên cho thuê máy bay quản lý khá tốt thay đổi trong nhu cầu các loại máy bay khác nhau. với lượng máy bay có sẵn. khi chúng tôi thảo luận trong phần tiếp theo.Tuy nhiên.

Công ty cho thuê sẽ được sẵn sàng để viết tùy chọn này bởi vì nó là cách tốt hơn để tiếp thị các thiết bị. bởi vì nhu một công ty cho thuê sẽ đặc biệt quen thuộc với thị trường cho các thiết bị y tế được sử dụng. nó có thể tân trang các thiết bị và sau đó bán với một mức giá tốt hơn trong thị trường đồ cũ. và điều này sẽ làm giảm lợi nhuận dự kiến của dự án. và nếu không người thay thế được tuyển chọn. không có bản sao được thực hiện. Tất nhiên. bệnh viện sẽ chịu rất nhiều rủi ro nếu mua thiết bị MRI.Vì thiết bị này không được sử dụng nhiều . cho thuê có thể làm giảm rủi ro sự lỗi thời của công nghệ. một bên cho thuê chuyên về thiết bị y tế sẽ gặp với nguy cơ ít hơn đáng kể. Ngoài ra. hoặc bằng cách viết hợp đồng cho thuê khác hoặc bằng cách bán nó hoàn toàn. nơi mà bên thuê trả rất nhiều mỗi tháng cộng với khoản tiền thêm cho mỗi bản sao được thực hiện. Bên cho thuê sẽ tính phí. và sự suy giảm thu nhập cho thuê của bên cho thuê. việc đầu tư sẽ có lợi nhuận. Ngành công nghiệp cho thuê gần đây đã giới thiệu một loại hợp đồng thuê mà ngay cả chuyển giao một số rủi ro hoạt động động của dự án từ bên thuê cho bên cho thuê. sau đó dự án đã chết. Trong trường hợp này.công nghệ mới có thể hạ thấp giá trị của hệ thống hiện tại và do đó làm cho dự án không mang lại lợi nhuận.Đây là loại hợp đồng thuê xuất xứ với các máy sao chép. một số mặt hàng sẽ có thể mất đi giá trị hơn so với bên cho thuê dự kiến.Thay vì thực hiện thanh toán cố định cho thuê. nếu bác sĩ rời khỏi bệnh viện.Tuy nhiên. ví dụ. Hợp đồng cho thuê cũng có thể hấp dẫn khi một công ty là không chắc chắn về nhu cầu đối với sản phẩm hoặc dịch vụ của mình. Để hỗ trợ hoạt động của bác sĩ. Bệnh viện thường cung cấp các dịch vụ phụ thuộc vào một đội ngũ nhân viên . dành cho các khoản hủy bỏ. nhưng điều này sẽ được bù đắp bằng các mặt hàng khác vẫn giữ được nhiều giá trị hơn so với dự kiến . . những lợi ích của bên cho thuê là rất đa dạng.Điều này thúc đẩy bên cho thuê sửa chữa máy một cách nhanh chóng. Bệnh viện sẽ tính phí cho việc sử dụng các thiết bị. Xem xét ngành y tế. theo thời gian. và cũng có thể thúc đẩy bên cho thuê để duy trì các thiết bị cho thuê để làm việc tốt. Tuy nhiên. một bác sĩ đã thực hiện ca ghép gan. nhưng nó sẽ cung cấp cho các bệnh viện với một tùy chọn để từ bỏ các thiết bị. bên thuê trả một khoản lệ phí mỗi lần được sử dụng các thiết bị thuê. bệnh viện có thể phải đầu tư hàng triệu vào thiết bị có thể chỉ được sử dụng cho thủ tục cụ thể. Bằng cách mua và sau đó cho thuê nhiều mặt hàng khác nhau. và nếu mọi thứ như mong đợi. Đối với những lý do này.Nếu máy móc bị hỏng. và thời gian cần sử dụng thiết bị. một hợp đồng thuê với một điều khoản hủy bỏ sẽ cho phép các bệnh viện chỉ đơn giản là trả lại các thiết bị. và các thiết bị trở nên vô dụng khi ở trong bệnh viện.

chi phí dự kiến của một hợp đồng thuê mỗi thủ tục có thể được nhiều hơn so với chi phí của một hợp đồng thuê thông thường.Ngược lại. nhưng những điều này sẽ được bù đắp bởi doanh thu cao hơn dự kiến. chúng ta đã thảo luận các quyết định cho thuê từ quan điểm của cả bên thuê và bên cho thuê. bệnh viện đang chuyển đổi chi phí cố định cho các thiết bị thành chi phí biến đổi.Ví dụ. nhu cầu cao sẽ dẫn đến chi phí thuê cao hơn so với dự kiến. . việc cho thuê là một phương tiện tài chính quan trọng. nhưng lợi ích giảm thiểu rủi ro có thể mang lại lợi ích về chi phí. Có nhiều lý do khác mà có là nguyên nhân một công ty thuê một tài sản chứ không phải là mua nó. nhiều rủi ro vốn có trong hợp đồng như vậy có thể được loại bỏ bằng cách đa dạng hóa. gần đây đã thuê 25 máy kéo xe tải và 140 xe kéo mà nó sử dụng để vận chuyển đồ nội thất từ nhà máy của họ. Trong chương này. một quyết định cho thuê phải bắt đầu với một phân tích định lượng . nơi mà nó được gọi "Hợp đồng thuê mỗi thủ tục". đặc biêt là rất nhiều trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Tất nhiên. Một số công ty cũng có thể tìm thấy việc cho thuê hấp dẫn bởi vì bên cho thuê có thể dịch vụ với các điều khoản thuận lợi. duy trì. Ví dụ. cho phép thay thế đội xe đã cũ của Virco đã xây dựng được trong những năm qua. Vì vậy. Nếu nhu cầu của máy X-quang là thấp hơn dự kiến do bệnh viện. vì thế họ không thể dễ dàng kết hợp thành một phân tích NPV hoặc IRR. nhưng vẫn tốn chi phí cho máy.Tuy nhiên.Hình thức cho thuê này cũng được sử dụng trong các ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe. doanh thu sẽ thấp hơn dự kiến. và sau đó bán lại xe tải. một bệnh viện có thể thuê một máy X-quang cho một khoản phí cố định cho mỗi máy X-quang. Bằng cách sử dụng một hợp đồng thuê mỗi thủ tục. phí bảo hiểm rủi ro mà bên cho thuê xây đưa vào các khoản thanh toán tiền cho hợp đồng thuê mỗi thủ tục có thể là thấp đủ để thu hút các bên thuê tiềm năng."Chúng tôi là nhà sản xuất đồ nội thất rất tốt.Thỏa thuận với một công ty cho thuê lớn chuyên mua.Thông thường. Cũng lưu ý rằng nếu bên cho thuê viết một số lượng lớn hợp đồng cho thuê mỗi thủ tục . do đó làm giảm đòn bẩy hoạt động của máy và điểm hoà vốn. TÓM TẮT Ở Hoa Kỳ. nhưng chúng tôi không giỏi trong việc duy trì một đội xe" của giám đốc tài chính Virco đã phát biểu. Nhà máy Virco một công ty sản xuất bàn học và đồ nội thất khác. có hơn 30% tất cả các thiết bị là được cho thuê. và sau đó các yếu tố định tính được xem xét trước khi đưa ra quyết định cuối cùng thuê hoặc mua. những lý do rất khó xác định. do đó.

Những khái niệm chính được liệt kê dưới đây: Năm loại hợp đồng cho thuê quan trọng nhất đó là (1) thuê hoạt động. Một hợp đồng thuê không đáp ứng những hướng dẫn của Sở thuế vụ được gọi là một hợp đồng thuê không nghiêng lợi thế về thuế.. (2) thuê tài chính và vốn. Một hợp đồng thuê đáp ứng được những hướng dẫn này được gọi là một hợp đồng cho thuê hướng dẫn hoặc hợp đồng cho thuê nghiêng lợi thế về thuế. và bởi vì chúng được biết đến tương đối chắc chắn. Sự khác biệt trong chi phí này được gọi là lợi ích ròng từ việc cho thuê (NAL) Một trong những vấn đề quan trọng trong phân tích của bên thuê đó là tỷ lệ chiết khấu phù hợp. thì hợp đồng cho thuê nên được viết. Báo cáo số 13 của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính (FASB) Statement 13 đưa ra các điều kiện mà theo đó một hợp đồng cho thuê phải được viết hoa (hiển thị trực tiếp trên bảng cân đối kế toán) thay vì chỉ hiển thị trong các thuyết minh báo cáo tài chính. dùng để áp dụng đối với các hợp đồng cho thuê. các tỷ lệ chiết khấu phù hợp là chi phí nợ sau thuế của bên thuê . Phân tích bên thuê về cơ bản bao gồm một sự so sánh giá trị hiện tại của chi phí liên quan đến việc cho thuê so với các giá trị hiện tại của chi phí liên quan đến việc sở hữu. bởi vì Sở thuế vụ cho phép bên cho thuê được trích khấu hao của tài sản và cho phép bên thuê khấu trừ khoản thanh toán tiền thuê. (3) bán và thuê lại. (4) thuê kết hợp (hình thức thuê kết hợp giữa 2 tính chất của thuê tài sản và thuê hoạt động). (5) thuê tổng hợp Sở thuế vụ (IRS) đã có những hướng dẫn cụ thể. Việc cho thuê được thúc đẩy bởi sự khác nhau nhiều giữa bên thuê và bên cho thuê. Ba trong số những lý do quan trọng nhất để cho thuê là (1) sự khác biệt về tỷ lệ .. việc cho thuê mà hoạt động trong một thời gian bằng hoặc lớn hơn 75% chu kỳ của tài sản phải được viết hoa. bởi vì một dòng ngân quỹ trong một phân tích hợp đồng thuê được ghi trên một cơ sở sau thuế. trong trường hợp quyền sở hữu cho các mục đích thuế nằm phía bên thuê hơn là bên cho thuê. Bởi vì một hợp đồng cho thuê là một sư thay thế khoản nợ. Nếu thuê NPV của hợp đồng cho thuê lớn hơn không. hoặc nếu IRR của nó là lớn hơn so với chi phí cơ hội của bên cho thuê. Một tỷ lệ chiết khấu cao hơn có thể được sử dụng trên giá trị thuần nếu nó rủi ro hơn so với các dòng ngân quỹ khác Bên cho thuê đánh giá hợp đồng cho thuê như một khoản đầu tư. Nói chung.

Phân tích bên thuê. Extension Web của chương này cung cấp thêm một số thông tin về hợp đồng cho thuê. Lợi ích ròng từ việc cho thuê (NAL) i. Bên thuê. CÂU HỎI 19-1 Định nghĩa các thuật ngữ dưới đây: a. (2) hợp đồng cho thuê mà trong đó bên cho thuê có khả năng gánh chịu rủi ro tốt hơn so với bên thuê.Bạn có thể cho biết một hợp đồng thuê hoạt động dùng để sử dụng cho một đội xe tải hay cho một nhà máy sản xuất? 19-3 Bạn có thể cho biết rằng bên đi thuê nằm tring khung thuế suất thuế thu nhập cao hay thấp so với bên cho thuê? 19-4 Các ngân hàng thương mại đã chuyển mạng vào hợp đồng thuê thiết bị trong thời gian đầu những năm 1970. đóng vai trò là bên cho thuê. Một trong những lý do chính cho cuộc xâm lược của ngành cho thuê này là để đạt được lợi ích của việc khấu hao . thuê tổng hợp. Giá trị thuần g. SPE c. và (3) các tình huống mà bên cho thuê có thể duy trì các thiết bị cho thuê hiệu quả hơn so với bên thuê. thuê tài chính. thuê kết hợp.thuế. . Tài trợ vốn ngoài bảng. Thuế tối thiểu lựa chọn (AMT) 19-2 Phân biệt giữa hợp đồng thuê hoạt động và thuê tài chính. Hợp đồng cho thuê hướng dẫn f. bên cho thuê b. Thuê hoạt động. bán và thuê lại tài sản. phân tích bên cho thuê h. đầu tư vốn d. FASB Statement 13 e.

Nếu thiết bị được cho thuê. Nợ lag $400 Tài sản cố định ròng $500. Giải thích. các ngân hàng thương mại được đầu tư mạnh vào chứng khoán của sở và họ cũng cho vay ủy thác đầu tư bất động sản (REITs). Vốn chủ sở hữu $400 . Thảo luận về ưu và khuyết điểm của thuê vốn và các tài sản liên quan. theo cách thức của một nhà luật có thể hiểu tại sao một số hạn chế cần được áp dụng. Thảo luận làm thế nào mỗi sự thay đổi tiềm ẩn sẽ ảnh hưởng đến khối lượng tương đối của việc cho thuê so với nợ thông thường trong nền kinh tế Mỹ. 19-7 Giả sử Quốc hội đã ban hành thay đổi luật thuế mới (1) sẽ cho phép thiết bị được khấu hao theo một khoảng thời gian ngắn hơn. Bảng cân đối kế toán của Reynolds trước khi mua lại của thiết bị như sau: Tài sản ngắn hạn là $300. Điều này đưa ra câu hỏi có hay không có nghĩa vụ cho thuê và tài sản có liên quan cần được vốn hóa và hiển thị trên bảng cân đối kế toán. Reynolds có thể thuê các thiết bị hoặc vay $ 200 từ một ngân hàng địa phương và mua các thiết bị. các REITs vào khó khăn nghiêm trọng chẳng hạn như nhiều ngân hàng phải chịu tổn thất lớn trên các khoản vay REIT của họ. Trong thời gian này. (2) ở mức thấp hơn mức thuế thu nhập doanh nghiệp và (3) phục hồi tín dụng thuế đầu tư. Trong giữa thập niên 1970.nhanh và tín dụng thuế đầu tư trên các thiết bị cho thuê. 19-8 Trong ví dụ của chúng tôi về công ty Anderson. do đó làm cho một công ty có thể sử dụng đòn bẩy nhiều hơn nó có thể. Giải thích làm thế nào đầu tư vào trái phiếu của sở và các REITs có thể làm giảm sự sẵn sàng của một ngân hàng để hoạt động như một bên cho thuê. 19-5 Một ưu điểm dễ thấy nhất của các hợp đồng cho thuê trong quá khứ đó là nó trừ các khoản phải trả ra khỏi bảng cân đối kế toán. Một điều khoản hủy bỏ sẽ ảnh hưởng gì đến việc trên phân tích của bên thuê? Việc phân tích của bên cho thuê? CÁC VẤN ĐỀ 19-1 Công ty xây dựng Reynolds cần một mảng thiết bị mà chi phí cho mảng này là $200. Minh họa câu trả lời của bạn với những con số. 19-6 Giả sử không có hạn chế trong Sở thuế vụ về những gì tạo nên một hợp đồng thuê hợp lệ. chúng tôi giả định rằng không thể hủy bỏ hợp đồng cho thuê. thì việc cho thuê sẽ không có được vốn.

(7) Giả sử rằng Khai thác mỏ Big Sky sẽ tiếp tục sử dụng máy này ngoài thời hạn của hợp đồng thuê và nó phải mua tại một giá trị thuần ước tính là $ 250. phải nộp vào đầu mỗi năm. (1) Thông số nợ ngắn hạn của Reynolds là bao nhiêu? (2) Thông số nợ của công ty sẽ là bao nhiêu nếu công ty mua các thiết bị? (3) Thông số nợ sẽ là bao nhiêu nếu các thiết bị được cho thuê? b.000 mỗi năm. (3) Thuế thu nhập doanh nghiệp là 40%.Tổng tài sản $800 Tổng số chi phí khấu trừ $800 a.000 này sẽ được khấu hao theo MACRS 3năm. ngân hàng sẽ tính phí 10% trên khoản vay. và bảo trì.000 vào cuối năm thứ 4. Rủi ro tài chính của công ty có khác nhau hay không dưới các lựa chọn thay thế việc cho thuê và mua lại? 19-2: Giả sử rằng thuế suất của Reynolds là 40% và khấu hao thiết bị sẽ là $ 100 mỗi năm. (4) Khoản vay sẽ có lãi suất là 15%. Reynolds nên thuê hay mua các thiết bị? 19-3: Công ty khai thác mỏ Big Sky cần phải cài đặt $1. Nó có thể nhận một khoản vay ngân hàng cho 100% giá mua. Trong cả hai trường hợp. . $ 250. Giả sử rằng các dữ kiện sau đây được áp dụng: (1) Máy móc thiết bị giảm theo MACRS 3năm. Nếu công ty cho thuê tài sản trên một hợp đồng thuê 2năm. việc thanh toán sẽ là $110 vào đầu mỗi năm.5 triệu máy móc mới trong mỏ Nevada của nó. (2) Chi phí bảo trì dự kiến là $ 75. thuế tài sản. hoặc nó có thể cho thuê máy móc thiết bị. Big Sky phải trả tiền bảo hiểm. Nếu Reynolds vay và mua. thiết bị không có gì là giá trị sau 2 năm và sẽ bị loại bỏ. bắt đầu với năm mà tại đó thiết bị thuê mua vào năm thứ 4.000 vào cuối mỗi năm của 4 năm tiếp theo (6) Theo hợp đồng thuê hoặc mua. (5) Các kỳ hạn hợp đồng thuê đòi hỏi thanh toán $ 400.

trả dần với số tiền bằng nhau trong 3 năm vào cuối mỗi năm. .000 mỗi năm. một ngân hàng đầu tư Texas công ty đại diện cho một nhóm các nhà đầu tư tin rằng nó có thể sắp xếp cho một kế hoạch tài chính cho thuê. Một năm sau.000 với lãi suất 8% từ ngân hàng của mình. (5) Các điều khoản cho thuê dự kiến kêu gọi cho các khoản thanh toán $ 320. c. Energen và Hastings. và mang lại lợi nhuận 8% trong hợp đồng cho thuê. Tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản (1) và (2) trên vốn chủ sở hữu bị ảnh hưởng bởi sự lựa chọn tài chính không? Như thế nào? 19-5: A. Bảng cân đối kế toán cho mỗi công ty. Ngoài ra. Giả sử rằng những sự kiện này được áp dụng: (1) Thiết bị giảm theo MACRS 3năm. (Giả sử rằng hợp đồng cho thuê nhà không vốn hóa (capitalized)). Nó có thể có được một khoản vay ngân hàng 100% số tiền yêu cầu. b. (3) Thuế thu nhập doanh nghiệp của công ty là 34%. (4) Nếu số tiền là đi vay. Thời hạn thuê là một hợp đồng thuê hướng dẫn. trước khi tăng tài sản. cả hai bổ sung năng lực sản xuất cần thiết với chi phí là $50. (2) Chi phí bảo trì dự kiến là $ 50.000$ yêu cầu trong 5 năm.Lợi ích ròng từ hợp đồng thuê là gì? 19-4: Hai công ty. Hastings. Sadik Industries phải cài đặt $ 1 triệu máy móc thiết bị mới trong nhà máy Texas của nó. khoản vay trị giá 50. mặt khác. vay vốn ngân hàng sẽ có một tỷ lệ lãi suất 14%. sau: a. đã quyết định cho thuê 50.000. Energen thu sau 5-năm. bắt đầu hoạt động với các bảng cân đối giống nhau.Hiển thị bảng cân đối cho cả hai công ty sau khi tăng tài sản và tính toán tỷ lệ nợ mới của mỗi công ty.000 vào cuối mỗi năm trong 3 năm. Hiển thị bảng cân đối kế toán của Hastings sẽ trông như thế nào sau khi tài chính nếu nó vốn hóa (capitalized) hợp đồng cho thuê.

Trong phân tích ngân sách vốn của thiết bị này. Ước tính tốt nhất của giá trị thị trường này là $ 200. Trong trường hợp mua máy dệt. Công ty sẽ giảm giá các thiết bị mua hàng theo tùy chọn mua bắt đầu trong năm. nhưng khi dòng tiền chi phí hơn là dòng vốn. thủ tục bình thường phải được đảo ngược) VẤN ĐỀ BẲNG TÍNH 19-6: Bắt đầu với mô hình một phần trong các tập tin IFM9 Ch19 P06 Xây dựng một Model. giá trị còn lại sẽ trở thành một chi phí để cho thuê trong năm thứ 3. Là nó thích hợp để giảm giá ở mức tương tự như các dòng tiền khác? Những gì về dòng chảy tiền mặt khác tất cả họ đều rủi ro như nhau không? (Gợi ý: rủi ro cao hơn dòng tiền thường được giảm giá ở mức cao hơn. Giả sử cho thuê có thể được sắp xếp. quản lý Western Fabrics đã quyết định cài đặt một khung cửi dệt tự động mới. bằng cách sử dụng kế hoạch MACRS 3-năm. Nếu có. Để hỗ trợ quản lý trong việc đưa ra quyết định mua các hợp đồng đối nghịch thích hợp. Xem xét giá trị $ 200. sau đó theo các điều khoản hợp đồng thuê có thể mua máy móc thiết bị theo giá trị thị trường của nó tại thời điểm đó.(6) Theo các điều khoản đề xuất cho thuê. Như vậy. với các khoản thanh toán phải được thực hiện vào cuối mỗi năm. nhưng nó có thể cao hơn hoặc thấp hơn trong những hoàn cảnh nhất định. do đó.xls từ trang Web ThomsonNOW.3. bên thuê phải trả tiền bảo hiểm. Là một phần của hiện đại hóa nhà máy và chương trình giảm chi phí tổng thể của nó. thuế tài sản.000 mỗi năm được trả vào cuối mỗi năm. . Khung cửi có giá hóa đơn $ 250. b. và thuế liên bang và nhà nước của Western có thuế suất là 40%. nó gần như chắc chắn sẽ muốn có được các tài sản ở cuối của hợp đồng thuê. đó là năm thứ 3). Khấu hao sẽ bắt đầu trong năm thiết bị được mua. nhà sản xuất sẽ ký hợp đồng để duy trì và phục vụ cho một khoản phí $ 20. bao gồm giao hàng và chi phí lắp đặt. Khung cửi giảm theo MACRS 5-năm. và bảo trì. công ty có kế hoạch sử dụng tài sản vượt quá thời hạn của hợp đồng thuê.000.000 ước tính còn lại.(Gợi ý: Trong trường hợp này. IRR của dự án đã được tìm thấy là 20% so với lợi nhuận dự án yêu cầu là 12%.000. bạn sẽ được yêu cầu trả lời các câu hỏi sau: a. Các khoản tiền cần thiết có thể được vay từ ngân hàng thông qua một khoản vay phân bổ 4 năm với lãi suất 10%. công ty nên thuê hoặc mượn và mua các thiết bị? Giải thích. (7) Sadik phải sử dụng thiết bị nếu muốn tiếp tục hoạt động.

000 mỗi năm. Là một phương án thay thế cho kế hoạch vay và mua. Hệ thống này cũng cho phép khách hàng gọi đến báo giá hiện hành về thiết bị đầu cuối tại sảnh. các nhà sản xuất thiết bị Lewis thong báo về một hợp đồng thuê trong 4năm về thiết bị.000. nó không có quan tâm đến việc cho thuê hoặc sở hữu khung cửi đề xuất cho khoảng thời gian đó. a. Biên thuế suất thuế liên . Nếu hệ thống được trang bị một hợp đồng bảo trì 4năm thì chi phí của nó là $ 20.500. Khung cửi nên được thuê hoặc mua ở đâu? b.Trên thực tế. lúc đó giá trị thanh lý dự kiến của nó là số không. nhà sản xuất máy dệt.000 vào đầu mỗi năm. do đó. Hệ thống nhận được giá cả của thị trường hiện tại và các thông tin khác từ một số dịch vụ dữ liệu trực tuyến và sau đó. bao gồm cả bảo trì. Tuy nhiên.) Hợp đồng thuê bao gồm bảo dưỡng và dịch vụ.000. Chi phí thiết bị 1. sau 4 năm. phải nộp vào đầu mỗi năm. đã quyết định thu thập dữ liệu về một thị trường mới và hệ thống báo giá cho các văn phòng nhà Richmond.000 để được thực hiện tại cuối năm 1 để 4.Aubey Automation Inc. MINICASE Lewis Securities. Giá trị thanh lý rõ ràng là dòng tiền không chắc chắn nhất trong phân tích. Lewis có thể có được một khoản vay dài cho giá mua đầy đủ với lãi suất 10 phần trăm. hệ thống công nghệ thì thời gian thực hiện của nó thay đổi nhanh chóng nên giá trị còn lại thực tế là không chắc chắn. tuy nhiên. nhưng nó được phân loại như là một máy tính dùng cho mục đích đặc biệt.000 khi giao hàng và lắp đặt (tại t = 0) cộng với 4 thêm các khoản thanh toán cho thuê hàng năm $ 70. (Lưu ý rằng có 5 khoản thanh toán tiền thuê trong tổng số. Ảnh hưởng của giá trị thanh lý đến việc thay đổi rủi ro trong phân tích là gì? (Giả sử rằng giá trị thanh lý thích hợp trước thuế có chiết khấu là 15%). máy dệt có tuổi thọ dự kiến là 8 năm. Western có kế hoạch xây dựng một nhà máy hoàn toàn mới trong 4 năm. nó rơi vào các MACRS lớp 3năm. hoặc hiển thị thông tin trên màn hình hoặc lưu trữ nó để các nhà môi giới của công ty có thể truy cứu. Mặc dù thiết bị có thời gian sử dụng hữu ích là 6năm. giá trị thị trường của nó được dự kiến sẽ bằng giá trị sổ sách của nó $ 42. Thiết bị sẽ được bán sau 4 năm. và chi phí cho các khoản thanh toán là $ 260. đã được cung cấp để cho thuê khung dệt đến Western với $ 70.000 USD. và ước tính giá trị còn lại của nó tại thời điểm đó là $ 200. do đó. và nếu nó được mua.

(2) Giải thích lý do cho việc bạn sử dụng tỷ lệ chiết khấu để tìm các giá trị hiện tại (PV).) d. Làm thế nào bạn phân tích quyết định để cho thuê hay không cho thuê? g. Bạn đã được yêu cầu để phân tích các quyết định cho thuê so với mua. Mô tả này có thể được thực hiện như thế nào. Giá trị hiện tại của chi phí khi Lewis thuê thiết bị là bao nhiêu? (Gợi ý: Một lần nữa. Bây giờ đặt mình trong trường hợp của bên cho thuê. (1) Giả sử rằng các khoản thanh toán tiền thuê thực sự là $ 280.bang cộng với nhà nước là 40%. c. và sau đó tìm thấy PV của các dòng tiền ròng.000. Kể từ khi giá trị còn lại là rủi ro hơn các dòng tiền khác trong phân tích. hoặc chi phí PV của việc sở hữu).) Quyết định thuê so với mua của Lewis có tác động làm tăng sự không chắc chắn về giá trị còn lại như thế nào? f. và đặc điểm của nó là gì? (3) Hợp đồng thuê được phân loại cho các mục đích thuế là như thế nào? (4) Tác động của việc cho thuê trên bảng cân đối kế toán của một công ty là gì? (5) Tác động của việc cho thuê trên cơ cấu vốn của một doanh nghiệp? b. (1) Giá trị hiện tại của chi phí các thiết bị là bao nhiêu ? (Gợi ý: Thiết lập một dòng thời gian cho thấy dòng tiền ròng trong giai đoạn này t = 0 đến t = 4. Lợi thế ròng cho thuê (NAL) là gì? Phân tích của bạn chỉ ra rằng Lewis nên mua hay thuê các thiết bị? Giải thích. cho thuê tài chính hợp nhất cũng là trong khung 40 phần trăm thuế. e. xây dựng một dòng thời gian. (Không cần tính toán. và rằng nó cũng dự . Bây giờ giả sử rằng giá trị còn lại của thiết bị có thể ở mức thấp nhất là $ 0 hoặc cao nhất là $ 400. nhưng giải thích làm thế nào bạn sẽ sửa đổi phân tích nếu tính toán đã được yêu cầu. nhưng $ 200.(1) Hai bên giao dịch cho thuê là ai? (2) Năm loại chính của hợp đồng thuê là gì.000 mỗi năm. Bên thuê so sánh chi phí của việc sở hữu các thiết bị với chi phí cho thuê.000 là giá trị kỳ vọng. và trong quá trình trả lời các câu hỏi sau: a. nguy cơ này khác biệt cần được đưa vào phân tích.

Nếu di chuyển xảy ra. để cung cấp sự hỗ trợ bảo trì.000. Lewis sẽ mua hoặc thuê một bộ thiết bị hoàn toàn mới.000 mỗi năm? (Gợi ý: dòng tiền của bên cho thuê sẽ là một tấm gương "hình ảnh" của dòng tiền của bên thuê) h. Một điều khoản như vậy có tác động gì tới rủi ro của hợp đồng thuê từ thay đổi của Lewis? Từ quan điểm của bên cho thuê? Nếu bạn là bên cho thuê. và do đó quản lý muốn hủy bỏ một điều khoản trong hợp đồng thuê. bạn có thay đổi gì về thời hạn thuê nếu hủy bỏ một điều khoản đã được thêm vào không? Điều khoản hủy bỏ có nên chứa bất kỳ giao ước hạn chế và / hoặc hình phạt trong bản hợp đồng hoặc các quy định tương tự như gọi phí bảo hiểm không? . NPV và IRR hợp nhất trong những điều kiện này là bao nhiêu? (2) Bạn nghĩ gì về NPV của bên cho thuê nếu khoản thanh toán tiền thuê được thiết lập ở mức $ 260. Ngoài ra. Quản lý của Lewis được xem xét về việc di chuyển đến một vị trí trung tâm thành phố mới. Cho thuê tài chính hợp nhất dự kiến có thể có được 10% thuế thu nhập hoãn lại ở các đầu tư rủi ro tương tự.báo $ 200.000 giá trị còn lại. và họ đang lo ngại rằng kế hoạch này có thể được thực hiện trước khi kết thúc thời hạn của hợp đồng thuê. công ty sẽ phải mua một hợp đồng bảo trì từ nhà sản xuất ở cùng một chi phí trả trước hàng năm $ 20.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful