BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂNLỢI NÔNG THÔN CỤC KHAI THÁC

VÀ BẢO VỆ NGUỒN THUỶ SẢN CỤC KHAI VIỆN THÁCNGHIÊN VÀ BẢO CỨU VỆ NGUỒN LỢI THUỶ SẢN HẢI SẢN VIỆN NGHIÊN CỨU HẢI SẢN ---------O0O-------------------O0O----------

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ VÀ CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI, TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU MỀM VỀ ĐỘNG TRỮ LƯỢNG QUẦN XÃ ĐỘNG VẬT THÂN KHUVẬT BẢO ĐÁY TRONG HỆ SINH THÁI RẠN SAN HÔ VÀ VÙNG VEN TỒN BIỂN PHÚ QUÝ ĐẢO Ở 19 ĐẢO Người thực hiện: KS. Đỗ Thanh An Người thực hiện: KS. Đỗ Thanh An KS. Hoàng Đình Chiều KS. Hoàng Đình Chiều Viện Nghiên cứu Hải sản Viện Nghiên cứu Hải sản

Dự án: Dự án: Xây dựng Quy hoạch chi tiết Khu bảo tồn Phú Quý - Bình Điều tra tổng thể đa dạng sinh học các hệ sinh thái rạn san hô và Thuận vùng ven đảo ở vùng biển Việt Nam phục vụ phát triển bền vững Chủ dự án: Chủ dự án: Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản Cơ quan thực hiện: Cơ quan thực hiện: Viện Nghiên cứu Hải sản Viện Nghiên cứu Hải sản

HẢI PHÒNG, 12/2010 HẢI PHÒNG, 12/2010

MỤC LỤC
2. Tình hình nghiên cứu nhóm động vật đáy tại 19 khu bảo biển nghiên cứu.....12 2.17. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Côn Đảo – Bà Rịa Vũng Tàu............49

2. Tình hình nghiên cứu nhóm động vật đáy tại 19 khu bảo biển nghiên cứu.....12 2.17. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Côn Đảo – Bà Rịa Vũng Tàu............49

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH
2. Tình hình nghiên cứu nhóm động vật đáy tại 19 khu bảo biển nghiên cứu.....12 2.17. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Côn Đảo – Bà Rịa Vũng Tàu............49

I. MỞ ĐẦU Rạn san hô là một hệ sinh thái điển hình và quan trọng nhất trong các hệ sinh thái biển đảo, rạn san hô được tìm thấy trên 100 quốc gia và các vùng lãnh thổ nằm ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Hodgson, 2000). Rạn san hô trên toàn thế giới có khoảng 6 x 105 km2, và chiếm khoảng 0,1% diện tích bề mặt trái đất (Smith, 1978). Rạn san hô tham gia hình thành và bảo vệ hàng ngàn hòn đảo lớn nhỏ trên toàn thế giới và có ý nghĩa thật sự quan trọng đối với cộng đồng dân cư ở nhiều đảo và vùng ven biển, trong phương diện bảo tồn đất

đai và phục vụ cuộc sống con người (Võ Sỹ Tuấn, 2003). Việt Nam có khoảng 1.100km2, trong đó 45% diện tích độ phủ rạn là san hô sống. Đây là điều kiện thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế xã hội, du lịch đang và sẽ là hướng phát triển trọng tâm. Hệ sinh thái rạn san hô là điều kiện tốt để cho nhiều loài sinh trưởng và phát triển. Trong đó, nhóm động vật đáy cỡ lớn luôn chiếm đa số cả về thành phần loài, số lượng cũng như sinh khối. Động vật đáy (ĐVĐ) trong hệ sinh thái biển đảo là một trong những nguồn thực phẩm có chấp lượng cung cấp trực tiếp cho con người, giá trị thương mại, du lịch phục vụ cho chế biến thuỷ, hải sản xuất khẩu và cả trong y học như các loài hải sâm, bào ngư... Hiện nay, những nghiên cứu về động vật đáy đã được tiến hành nghiên cứu trên nhiều quy mô khác nhau, trên nhiều đối tượng khác nhau. Đặc biệt là tiến hành nghiên cứu trên đối tượng có giá trị kinh tế, có sản lượng khai thác cao, trong đó chủ yếu là nhóm động vật đáy cỡ lớn vùng ven bờ, như một số loài hải sâm, một vài loài giáp xác, cá, một số động vật hai mảnh vỏ có giá trị kinh tế. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu động vật đáy cỡ lớn tại các hệ sinh thái vùng biển đảo còn rất ít hoặc đang tập trung tại các viện nghiên cứu trên cả nước chưa được công bố rộng rãi, các nghiên cứu còn mang tính khái quát, tổng hợp chưa đi vào từng nhóm đối tượng. Các thông tin không theo hệ thống và nhiều thông tin còn thiếu trong quá trình thu thập, tạo lập cơ sở dữ liệu phục vụ cho mục đích quy hoạch, bảo vệ các giá trị đa dạng loài phân bố và giá trị kinh tế với mục tiêu bảo tồn và khai thác nguồn lợi lâu dài, bền vững. Nguồn lợi sinh vật biển đang bị khai thác ở mọi lúc, mọi nơi tại các vùng ven bờ, ven đảo. Nhiều loài có giá trị cao như tôm hùm, hải sâm, bào ngư… là nhóm loài tập trung ở những vùng nước nông ven đảo đặc biệt là trong các rạn san hô đang bị khai thác triệt để, vùng rong cỏ biển, vùng triều. Khả năng khai thác và đánh bắt quá mức trong các hệ sinh thái làm cho các hệ sinh thái, đặc biệt là hệ sinh thái san hô đang có dấu hiệu suy giảm, ảnh hưởng nhiều đến các loài sinh sống phụ thuộc vào các hệ sinh thái, là mối đe dạo lớn cho nhiều loài sinh vật biển. Báo cáo này dựa trên các thông kê tài liệu liên quan đến các đặc trưng cơ bản về thành phần loài, đặc điểm phân bố, mật độ và khối lượng của động vật đáy trên rạn san hô và vùng biển ven 19 đảo làm cơ sở cho công tác bảo tồn

Đào Tấn Hổ. 1978 đã thống kê toàn bộ các công trình nghiên cứu hệ động vật đáy biển Việt Nam. du lịch cũng như cung cấp cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu về nhóm động vật đáy. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Việt Nam Nguyễn Văn Chung.tính đa dạng sinh học rạn san hô phục vụ nghiên cứu. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. tác giả đã thống kê được 74 công trình nghiên cứu trên toàn lãnh thổ và tiêu biểu trong các công trình nghiên cứu đó là của các tác giả nước ngoài và chuyến tầu khảo sát liên kết . II.

Sérène. Trần Ngọc Lợi. trong đó có 32 loài mới. . .giữa Việt Nam . Viện nghiên cứu biển nay là Viện nghiên cứu Hải Sản. Gurjanova và Trần Ngọc Lợi. Sérène. C. Trần ngọc lợi. Fauchald. Nguyễn Văn Chung. Tác giả đã thống kê được 6377 loài động vật đáy ở biển Việt Nam trong đó có 1064 loài chưa được công bố và 667 loài chưa xác định được. Gurjanova. Uschakov. trong đó có 18 loài chưa xác định. Lévi. Leloup. Gurjanova. Trần Ngọc Lợi. Các công trình có thể kể đến là: Công trình nghiên cứu của R. một dạng mới.F. Hickson. Strelzov. . Trần Ngọc Lợi. trong đó có 10 loài chưa xác định.1952. lớp được trình bày dưới đây: . Trần Ngọc Lợi. được tổng hợp trong 3 công trình của Dawydoff. trong đó có 5 loài chưa xác định. số còn lại 4388 loài được công bố danh mục. 488 loài công bố danh mục. Pax và Muller. 135 loài chưa xác định. Viện nghiên cứu biển. 114 loài công bố mô tả và 23 loài chưa công bố được tổng hợp trong tổng số 15 công trình của Dawydoff.Trung Quốc. được tổng hợp trong 3 công trình của Dawydoff. Trong số các loài công bố có một giống mới. Trong số các loài trên có 925 loài được công bố mô tả. 547 loài công bố danh mục.Ngành Hải miên: có 160 loài. 11 loài công bố mô tả. Gurjanova. Fauvel.Ngành giun vòi: có 10 loài công bố danh mục trong đó có một loài chưa xác định được tổng hợp từ 2 công trình của Dawydoff và Gurjanova. .Ngành Sipunculida: có 32 loài. trong tổng cộng 6 công trình của Dawydoff. . 372 loài mới và một dạng mới. Cụ thể của từng ngành. có 4 loài mới. 2 loài chưa xác định.Ngành động vật hình rêu: có 100 loài được công bố danh mục. Dawydoff từ năm 1930 . 9 loài chưa công bố và có 8 loài mới được tổng hợp từ 5 công trình của Dawydoff. 33 loài chưa xác định. . 123 loài công bố danh mục. 21 loài công bố danh mục. E. . Gurjanova và đội điều tra Việt-Trung từ năm 1959 -1962 đã có những đóng góp đáng kể trong kết quả chung về thành phần khu hệ động vật đáy biển Việt Nam. 176 loài công bố mô tả và 79 loài chưa công bố trong tổng số 15 công trình nghiên cứu của Dawydoff. Gurjanova.Ngành Ruột khoang: có 714 loài.Ngành giun đốt: Lớp giun nhiều tơ: có 743 loài trong đó có 1 giống mới và 45 loài mới. 28 loài công bố mô tả. Gallardo.Ngành Uchiuria: có 6 loài công bố danh mục.

359 loài công bố danh mục. Dawydoff. 10 loài công bố mô tả. Tiwari. có 2 loài chưa xác định. Saurin. lớp động vật đáy đã công bố S T T 1 2 3 Các loài mới Số Số Số Số Số loài loài công Tổng loài loài công công trình số chưa chưa Dạng Giốn Loài bố bố nghiên loài công xác mới g mới mới danh mô cứu bố định mục tả 160 714 10 9 23 123 547 10 28 114 18 33 1 5 15 2 1 8 32 Ngành Ngành Hải miên Ngành Ruột khoang Ngành Giun . Nguyễn Văn Chung. 15 loài chưa công bố được tổng hợp trong 8 công trình của Sérène.Ngành Chordata: có 46 loài công bố danh mục. Trần Ngọc Lợi. Dawydoff. .Ngành tay cuộn: có 6 loài công bố danh mục. . Sérène Hayashi. 248 loài công bố mô tả. Nguyễn Văn Chung. Gravier. Dawydoff. Nguyễn Văn Chung.. Dautzenberf & Fischer.Ngành thân mềm: có 2523 loài trong đó có 154 loài chưa xác định. Nguyễn Văn Chung. . 583 loài chưa công bố. 1 loài chưa xác định. Viện Nghiên cứu biển. . được tổng hợp từ 4 công trình của Sérène. được tổng hợp từ 2 công trình của Dawydoff và Sérène. Định Đình Tiền. 1044 loài công bố danh mục. Risbec. Dawydoff. Robson. trong số loài công bố có 200 loài mới được tổng hợp từ 19 công trình nghiên cứu của Bavay. lớp giáp xác: có 1647 loài trong đó có 264 loài chưa xác định. Starobogatov. được tổng hợp từ công trình của Dawydoff. Viện Nghiên cứu biển. 308 loài công bố mô tả. Trần Ngọc Lợi. Trần Ngọc Lợi. có 38 loài mới và 355 loài chưa công bố. Gurjanova. Marche-Marchard. Bảng 1: Tổng hợp thành phần loài của ngành.. Fize. Monod. Pize & Sérène. Định Đình Tiền.Ngành da gai: có 384 loài có 39 loài chưa xác định. được tổng hợp từ 46 công trình của Boschma.Ngành chân khớp. Hayashi. . 1632 loài công bố danh mục. Viện Nghiên cứu biển.Ngành Hemichordata: có 6 loài công bố danh mục. Trần Ngọc Lợi. Forest. Hayashi. Gurjanova. Định Đình Tiền.

ruột khoang. 1978) Tóm lại có thể thấy 6377 loài được thống kê từ 77 công trình là một con số lớn so với những điều kiện nghiên cứu trước và nó chủ yếu được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu nước ngoài trong đó tiêu biểu là các tác giả Sérène. lớp Giun nhiều tơ Ngành Sipunculida Ngành Echiuria Ngành động vật hình rêu Ngành tay cuộn Ngành chân khớp. . trong đó giun nhiều tơ chiếm số lượng chính về mật độ phân bố của sinh vật đáy. giun nhiều tơ (743 loài). da gai… và trong đó chỉ có hai vùng biển được nghiên cứu nhiều đó là Vịnh Nha Trang và Vịnh Bắc bộ. Mặt khác. giáp xác (1647 loài). Tuy nhiên. lớp chưa được nghiên cứu nhiều như hải miên.1931). những nghiên cứu này còn nhiều hạn chế như tập chung ở vùng triều và vùng ven bờ của một số địa phương riêng lẻ. 1962) và Việt – Xô (1960 – 1961). phạm vi hẹp và chỉ có ba cuộc điều tra trên quy mô lớn như tàu De lanessan (1929 . Hơn nữa các công trình trên được nghiên cứu tổng hợp nhiều đối tượng cho toàn vùng biển Việt Nam và chủ yếu sử dụng phương pháp thu mẫu điểm bằng gầu Petersen chỉ tính được lượng sinh vật đáy cỡ nhỏ. Trần Ngọc Lợi. đội điều tra Việt – Trung (1959-1960. Dawydoff. Gurjanova và một sô nhà nghiên cứu trong nước tiêu biểu như Nguyễn Văn Chung. lớp được các chuyên gia tập chung nghiên cứu nhiều nên số loài phát hiện nhiều như thâm mềm (2523 loài).4 5 6 7 8 9 1 0 1 1 1 2 1 3 vũi Ngành Giun đốt. lớp giáp xác Ngành thân mềm Ngành da gai Ngành Hemichordata Ngành Chordata 743 32 6 100 6 1467 2523 384 6 46 79 488 21 6 100 6 176 11 79 5 2 10 15 6 3 3 2 1 45 4 355 583 15 104 4 163 2 359 6 46 248 308 10 264 154 39 2 1 46 19 8 1 4 38 200 Nguồn: (Nguyễn Văn Chung và nnk. bên cạnh những ngành. còn nhiều ngành.

. Đào Tấn Hổ và ctv đã tiến hành nghiên cứu tổng hợp. ngoại trừ một số ít loài phân bố toàn cầu (Cosmopolite).Số loài phát hiện được ở cả 3 vùng chiếm khoảng 30%.C. trên cơ sở kết qủa đã nghiên cứu bao gồm số liệu đã thu được về sinh vật đáy trên tàu Biển Đông (19791980) ở vùng biển Nam Việt Nam. Năm 1974.F. . Tổng cục Thuỷ Sản đã tiến hành điều tra bổ sung sinh vật đáy vùng gần bờ Tây vịnh Bắc Bộ. Tác giả đã tổng hợp từ hơn 100 báo cáo của các tác giả và công trình như: Nhiều tác giả như Dawydoff. sinh vật lượng và các đặc điểm khu hệ động vật đáy vịnh Bắc Bộ từ độ sâu hớn hơn 20m. đã giới thiệu về thành phần loài. phân bố. kết quả điều tra tổng hợp vịnh Bắc Bộ do hợp tác Việt Trung (1959 – 1960 và 1962) và Việt Xô (1960 -1961). Serene.Tây Thái Bình Dương..Ở biển miền Trung và Nam Bộ (từ vĩ độ 170 trở vào) số loài chiếm khoảng 50%.. có khả năng thích nghi cao với điều kiện sống. Tổng số loài đã phát hiện dược cho thấy thành phần loài phân bố của động vật đáy trên vùng biển Việt Nam như sau: .Thành phần loài ở biển miền Trung và phía Nam không khác biệt mấy và có xu thế tăng dần từ Bắc xuống Nam. Nguyễn Văn Chung. R. Năm 19621964. Về nghiên cứu sinh thái khu hệ ĐVĐ dưới triều.Nguyễn Văn Chung. tác giả đã đi sâu về quần xã sinh vật đáy trên đáy mềm. .Ở vịnh Bắc Bộ (từ vĩ độ 170 trở ra) số loài chiếm khoảng 20%. Thành phần loài có nguồn gốc và đặc tính phân bố địa lý rộng ở hầu khắp các vùng biển thế giới. 1994. nhưng chủ yếu là về mặt phân bố của các loài. tác giả lại tổng hợp các công trình nghiên cứu về động vật đáy tại vùng biển việt nam. trong chương trình hợp tác Việt-Xô nghiên cứu hệ sinh thái ven biển nam Việt Nam. . còn lại phần lớn số loài chỉ phân bố rộng ở vùng nhiệt đới ấn Độ . Năm 1981-1985. cùng với kết quả mới thu được. và đội điều tra Việt-Trung (hợp tác Việt Trung điều tra vịnh Bắc Bộ) đã có nhiều công trình nghiên cứu đóng góp vào nghiên cứu thành phần loài sinh vật đáy biển Việt Nam. Đào Tấn Hổ và ctv đã điều tra khu hệ sinh vật đáy vịnh Bình Giang-Nha Trang (1978) và vùng biển Thuận Hải-Minh Hải (1981). Gurjanova E. Nguyễn Xuân Dục… đã “điều tra sinh vật đáy ven bờ biển Quảng Ninh-Hải Phòng” ở độ sâu không quá 30m với mục đích góp phần hoàn thiện khu hệ sinh vật đáy vịnh Bắc Bộ. góp phần hoàn chỉnh khu hệ sinh vật đáy toàn vùng biển Việt Nam. Nguyễn Văn Chung. các tác giả Nguyễn Văn Chung. Trong chương trình nghiên cứu biển 1986-1990.

nhưng đã phát hiện được khoảng 700 loài... Amussium pheuronectes. từng vùng biển có thành phần loài đặc trưng khác nhau: . Turricula tuberculata.Ở vịnh Bắc bộ đã phát hiện khoảng 300 loài. đến nay đã phát hiện được gần 2500 loài thuộc 163 họ. Glycera capitata. Capitellidae. Notomastus latericeus. Sternaspis scutata.. Prionospio malayensis. Drupa margariticola. Arcudae… Thân mềm phân bố hầu hết ở các loại chất đáy. Terebellidae. Thalenessa trpica. các loài đặc trưng là Phyllidoce castanea.Ở vịnh Bắc Bộ đã phát hiện được gần 1000 loài. Veneridae. Nephtyidae… Phần lớn giun nhiều tơ thích ứng với dạng chất đáy là bùn nhuyễn. cá biệt có loài sống ở chất đáy là cát lớn hoặc cát có lẫn vỏ sinh vật.. Phân bố trên mặt rộng cũng có sự khác nhau ở từng vùng biển: . Angulus vestalis… . Eunice tubofex. tuy thành phần loài không nhiều như thân mền và giáp xác. Pectinidae. Nephtys dibranchis…hoặc phân bố rộng ở khu biển nhiệt đới ấn Độ-Thái Bình Dương như Marphysa stragulum.Đặc điểm phân bố của một số nhóm động vật đáy chính tại vùng biển Việt Nam như sau: Phân bố của giun nhiều tơ (Polychaeta): Nhóm giun nhiều tơ chiếm vị trí khá quan trọng trong khu hệ động vật đáy biển Việt Nam. Trong đó một số họ có số loài tương đối nhiều như họ Aphroditidae. Glycera riuxii … .Ở ven biển miền Trung đã phát hiện gần 400 loài. Phân bố của động vật thân mềm (Mollusca): Động vật thân mềm có thành phần loài nhiều nhất trong các nhóm động vật đáy. các loài đặc trưng là Amphinome rostrata. Onuphis eremita.Vùng biển miền Nam đã phát hiện được 200 loài. Bursa rana. . các loài thường gặp là Distorsio reticulata. Chloeia. Panthalis melanonotus. Conidae. trong đó một số họ có số loài tương đối nhiều như: Pyramidellidae. Murex tiapa. Nassidae. các loài đặc trưng là Micronephtys sphaerocirrata. Nereidae. giáp xác và da gai. Sự phân bố của giun nhiều tơ khác hẳn với thân mềm. nhiều loài sống trong các tầng san hô chết. từ đá tảng ven biển đến vùng bùn nhuyễn có độ sâu vài chục mét. Muricidae. Nhiều loài giun nhiều tơ phân bố rất rộng trong đó có một số loài có phân bố toàn cầu như Terebellides stroemi. Ở biển Việt Nam ngoài các loài phân bố rộng như đã nói ở trên. Sthenolepis japonica. glaophmus orientalis. syllidae. Eunicidae. Cypraeidae. Glycera alba.

đặc biệt trong mẫu kéo lưới động vật đáy. P. trong đó một số họ có số loài tương đối nhiều như: Xanthidae. còn có các loài thường gặp khác như: Actumnus spuamosus. Charybdis truncata. P.Vùng biển miền Trung đã phát hiện được khoảng 700 loài trong đó các loài điển hình như Penaeus monodon. crocea). Nerita albicilla. Phân bố của Da gai (Echinoderm): Động vật da gai có số loài ít nhất trong số 4 nhóm động vật đáy. longipes. Đến nay đã phát hiện được khoảng 350 loài thuộc 58 họ. latisulcatus. T. Scalopidia spinoisipes. Myrodes eudactylus. Ocypodidae. Trong san hô chết thường có các loài đuôi rắn họ Ophiothrichidae và Ophiactidae… . Leucosia unidentata… . Cerithium kochi. Tellina radiata. Thais acleata. Arca antiquata. Portunidae. Panulirus ornatus. chủ yếu sống ở biển. Trai tai tượng (Tridacna squamosa. semisulcatus.Vùng biển phía Nam đã phát hiện được khoảng 500 loài các loài thường gặp là Turbo bruneus. P. đây là một đặc trưng của khu hệ sinh vật đáy vùng biển nhiệt đới. các giống loài thường gặp là: sò (Arca). Surcula tuberculata.Ở vịnh Bắc Bộ đã phát hiện được hơn 500 loài.Vùng biển phía Nam đã phát hiện được gần 500 loài. Terebellum terebellum. Macrophthalmus nudus. . P. nigra. Gonoplacidae. Cardium pulcherum. trong đó một số họ có số loài tương đối nhiều như: Comasteridae. Leucosidae. Natica chilensis. stimpsoni… . hầu (Ostrea). P. Chasmocarcinops gelasimoides. cua bơi và tôm hùm. Penaeidae. Pinna vexillum. ốc đụn (Trechus niloticus. Tectus pyramis)… . Majidae. Đến nay đã xác định được khoảng 1500 loài thuộc 70 họ. ngoài một số loài có giá trị kinh tế trong họ tôm he. Phân bố của giáp xác (Crustacea): Động vật giáp xác có số loài và số lượng cá thể tương đối nhiều. Chlampys nobilis. Holothuriaidae. Cryptosoma granulosa. ngoài các loài trên. Myra fugax.. đã phát hiện được gần 1500 loài. Strombus succinctus.Biển miền Trung thành phần loài thân mền rất phong phú. các loài sau đây cũng thường gặp ở vùng biển này: Parapenaeopsis tenella. Cucumariidae. sao biển và cầu gai cỡ lớn. Chasmocarcinops gelasimoides.homarus. Amphiuridae…Các loài thường gặp trên vùng triều và dưới triều có nền đáy cứng (cát và san hô chết) là hải sâm (họ Holothuridae). P.

.76 cá thể/m2. Luidia prionota.51 g/m 2 và 70. Vùng có khối lượng bình quân cao trên 15 g/m 2 phân bố ở phía Bắc.Nha Trang (5. đặc biệt vùng Bạch Long Vĩ có trạm đạt tới 700 cá thể/m 2. Ophiura pteracantha. Typhlocarcinus nudeu.Ở miền trung đã phát hiện hơn 200 loài. trong đó da gai và giáp xác chiếm ưu thế về khối lượng. Phía Tây đảo Bạch Long Vĩ và một khu nhỏ ven biển Bình Trị Thiên. . Đông Vịnh.6 cá thể/m2) và vịnh Văn Phong-Bến Gỏi (30. Leptopentacta tyica. Astropecten velitaris.6 cá thể/m2).19 g/m2 và 191. khối lượng sinh vật cũng tương đối cao. ngoài ra loài giáp xác đuôi lệch Upogobia sp và những loài cua nhỏ khác cũng có khối lượng khá cao. trong đó Giáp xác chiếm ưu thế như các loài Chasmocarcinops gelasimoides. các loài cá lưỡng tiêm (Branchiostoma belcheri và Asymmetron cultellum) chiếm ưu thế tuyệt đối.54 g/m2và 191. . sinh vật lượng sinh vật đáy biển Việt Nam khá thấp. Sự phân bố của khối lượng sinh vật trong vùng biển rất khác nhau. Nếu so sánh với khu vực thềm lục địa của vùng biển ôn đới phía Bắc. biểu hiện các đặc điểm sau: . Vùng có sinh vật lượng dưới 1.35 g/m 2 và 9. Echinodiscus auritus.Vùng biển phía Nam ít hơn. thường gặp có các loài Ophiactis savignyi.Vùng có mật độ cao (trên 100 cá thể/m 2) có xu thế trùng với vùng có khối lượng cao. gần 10 g/m2. các loài thường gặp là Laganum decagonale. Clypeaster reticulatus. Tuy vậy ở vùng sát bờ hoặc vũng vịnh lượng sinh vật cao hơn như ở vịnh Bình Giang . khoảng gần 100 loài.Phan Rang) do độ dốc lớn.00 g/m2 và 50 cá thể/m2 chiếm phần lớn diện tích. Pentacta anceps. nên sinh vật lượng nhìn chung thấp. Nhiều kết quả điều tra vùng sát bờ Tây vịnh Bắc bộ ở độ sâu không quá 20m đều cho thấy khối lượng sinh vật tương đối cao (trên 10g/m2).. Vùng phía Tây đảo Bạch Long Vĩ có chất đáy cát. Holothuria spinifera. Vùng ven bờ phía Tây Vịnh. Do điều kiện môi trường và chất đáy khác nhau nên sự phân bố sinh vật lượng không đều. Lobenia elongata. Ophiothela danae… . cách bờ không xa đã có độ sâu rất lớn. sinh vật lượng trung bình là 8. còn mật độ do giáp xác và giun nhiều tơ.Ở vịnh Bắc Bộ.Ở vùng biển miền Trung (Đà Nẵng . Peeinella lesueuri… Phân bố sinh vật lượng của vùng biển Việt Nam cho thấy: Tổng sinh vật lượng bình quân biển Việt Nam là 6. bao gồm vùng phía Bắc Vịnh vùng đảo Bạch Long Vĩ và vùng ven bờ Nghệ Tĩnh.4 cá thể/m2.

50 9.14 18.80 1.29 29. Tuy nhiên.20 Nha Trang – Văn Phong (1976 – 1985) Cá g/m2 thể/m2 0.90 2. Tuy nhiên các nghiên cứu về nhóm động vật đáy trên vùng rạn san hô tại các đảo còn ít được tiển hành nghiên cứu và nhất là phương pháp nghiên cứu lặn có khí tài thì ít được thực hiện hơn.09 139..58 5.90 9.75 11.90 Mật độ bình quân (cá thể/m2) 70.30 0.14 12.94 159.53 1.51 0.41 199.28 0.89 62.80 16.61 Bảng 3: Sinh vật lượng bình quân của một số nhóm sinh vật đáy chủ yếu Vùng biển Thuận Hải – Minh Hải (1979 – 1980) Cá g/m2 thể/m2 0.13 14.71 17. mà trong đó chủ yếu là do Viện hải dương học Nha Trang thực hiện.50 401.70 20.80 2.00 3.44 11.10 20. Trong các nhà nghiên cứu của Viện hải dương học Nha Trang có tác giả Đào Tấn Hổ là tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về nhóm động vật đáy trên vùng rạn và tập trung là nhóm động vật da gai.24 50.90 165.60 46. Tình hình nghiên cứu nhóm động vật đáy tại 19 khu bảo biển nghiên cứu Nghiên cứu về động vật đáy đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước tiến hành rất nhiều trên phạm vi cả nước và trên toàn lãnh thổ Việt Nam.40 Nhóm loài Giun nhiều tơ Thâm mềm Giáp xác Da gai Loại khác Tổng số 2.24 4.71 139.Ở vùng biển phía Nam (từ Phan Rang trở vào) có sinh vật lượng bình quân là 4. tác giả mới chỉ thực .79 131.83 43.20 Quảng Ninh – Hải Phòng (1971 – 1972) Cá g/m2 thể/m2 1.13 1.61 43.60 8.05 20.21 2.09 cá thể/m2.30 3. nhưng mật độ lại cao hơn so với vịnh Bắc bộ. Các nghiên cứu về nhóm động vật đáy trên vùng rạn san hô thời gian trước đây chỉ mới được các nhà nghiên cứu Miền Nam thực hiện.99 12.40 12.03 Cá thể/m2 30. Khối lượng thấp hơn.23 10.90 2. Bảng 2: Sinh vật lượng bình quân ở một số vùng ven biển Vùng biển Vùng khơi trên 20 m Vùng sát bờ Vịnh bắc bộ Biển miền Trung Biển phía Nam Ven biển Quảng Ninh Hải – Phòng Vịnh Nha Trang – Văn Phong Thời gian điều tra 1959 – 1974 1979 – 1986 1977 – 1985 1971 – 1972 1976 – 1985 Khối lượng bình quân (g/m2) 8.60 4.76 4.40 103.25 3. bởi lẽ trong thành phần định lượng hai nhóm có kích thước nhỏ là giáp xác và giun nhiều tơ chiếm ưu thế.20 165.61 Vịnh Bắc bộ (1959 – 1962) g/m2 1.50 3.32 17.10 10.05 g/m2 và 131.

phân bố chủ yếu ở phía Đông Bắc đảo Cô Tô Lớn.6%.. 2000. ở Cô Tô . sau đến Giáp xác (Crustacea) 36 loài – 17. Tổng số loài phát hiện được 15 loài.4%.Ngành Giun đốt (Annelida) với lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta) có 6 loài. hệ sinh vật đáy tương đối nghèo. 1994.Ngành Thân mềm (Mollusca) có 62 loài. thành phần loài động vật da gai ở vùng biển Côn Đảo. tuberculata .Ngành Da gai (Echinodermata) có 5 loài.9% tổng số loài. các loài điển hình gồm Cerithidea cingulata. nền đáy là cát. chiếm ưu thế về thành phần loài. 1947. chiếm 5. 2001).1.Đ. 2. cua giống Sesarma spp.2% và thấp nhất là ngành Da gai (Echinodermata) chỉ có 5 loài chiếm 2. tác giả và cộng tác viên đã cho xuất bản 2 tập danh mục động vật da gai vùng biển Việt Nam. Đ. trong số này thân mềm chiếm số loài nhiều hơn cả. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Cô Tô – Quảng Ninh Kết quả phân tích mẫu thu trong đợt khảo sát của đề tài và tham khảo các tư liệu có được từ năm 1973 đến nay (N. do rừng ngập mặn mọc trên cát. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có thể kể đến đó là công trình nghiên cứu Sơ bộ nghiên cứu động vật da gai ở vùn đảo Thổ Chu.Thanh Lân trên các mặt cắt khảo sát cho thấy một sự phân bố không đồng đều giữa các mặt cắt.v.X. chiếm 18. . chiếm 7. cao nhất thuộc về bãi Nam Hải và Hồng Vàn cũng chỉ tìm thấy 18 – 25 loài. Dục. chiếm 68. hơn 100 loài tìm thấy ở dạng sinh cảnh này.9%. 1992. chiếm 6. nên rừng rất thưa thớt.hiện tại các đảo phía Nam như Côn Đảo và Phú Quốc còn các đảo Bạch long Vĩ và Cồn Cỏ… thì chưa được tiến hành nghiên cứu. .Thanh Lân đã phát hiện được 208 loài thuộc 128 giống. N.8%.4%. Scopimera bitympana. . Trong đó ngành Thân mềm (Mollusca) có số loài phong phú nhất với 151 loài. trong đó: . Giun đốt (Annelida) 15 loài. Phú Quốc. Theo kết quả phân tích và thống kê của Đỗ Văn Khương và cs (2008) về sự phân bố của ĐVĐ ở vùng biển Cô Tô . 1948. chiếm 72. Hầu hết ở các bãi cát số lượng loài chỉ nằm trong khoảng từ 10 – 25 loài. Bãi triều rừng ngập mặn.V. Trọng. 1973. 63 họ. . 1996.7%. Littorinopsis scabra (ốc). P.Ngành Chân đốt (Arthropoda) với lớp Giáp xác (Crustacea) có 17 loài.C. Vùng dưới triều: đã phát hiện 90 loài phân bố ở khu vực này.v. Trên các bãi triều rạn đá. Chung. S. Thung.

Các loài động vật đáy điển hình và có giá trị cao như Bào ngư (Haliotis diversicolor). bao gồm các đảo đất có nền đáy là đá cát kết và các đảo đá vôi. Số loài trên thuộc vào 48 giống và 25 họ. ốc Đụn cái (Trochus niloticus). thành phần loài khu hệ giun nhiều tơ của vùng đảo Ba Mùn khá phong phú. họ ốc Sứ (Cypreidae). A. số loài trong các giống hay họ đều thấp. Trong khi các đảo đất có nền đáy vùng triều là đá cuội. Bàn mai (Pinna antenuata. họ Cua bơi (Portunidae). Nếu được điều tra kỹ hơn. 2. họ tôm He (Peneidae). Vẹm xanh. vùng vịnh Hạ Long .5 loài.Giun đốt: Tập hợp các kết quả nghiên cứu có được.2. chỉ khoảng 3 . ốc Nón (Trochus maculatus. Bào ngư (Haliotis diversicolor) (các loài này là những loài có số lượng ít. thành phân loài của Giun . Nhìn chung.Các loài động vật đáy quý hiếm: Trai ngọc ( Pinctada margaritifera). Các sinh cảnh phân bố của giun nhiều tơ bao gồm: . mực Nang vân hổ (Sepia tigris). . Trai ngọc (Pinctada martensii). Qua đó ta thấy.100 loài. T. Đảo Ba Mùn có cấu trúc địa chất khá đa dạng. các bãi cát. qua đó có thể xem xét đánh giá đặc điểm phân bố của chúng.. cho đến nay riêng về giun nhiều tơ đã thống kê được 60 loài thuộc ngành giun đốt. Nhìn chung. trong đó lớp Giun nhiều tơ có 58 loài và lớp Sâu đất có 2 loài. monocanthus). con Sút (Anomalodiscus squamosa). thì số loài có thể đạt khoảng 80 . Trên các bãi triều này. So sánh với các vùng biển khác trong khu vực thấy rằng. con 3 khía ( Gafrarium tumidum). Sự phân bố của Giun nhiều tơ phụ thuộc nhiều vào đặc điểm nền đáy. Sao biển (Astropecten polycanthus. ốc Đụn đực (Trochus pyramis).Phân bố trên các vùng triều đá cuội . Rất nhiều giống hay họ chỉ có 1 loài. Số loài thu được trên vùng triều ít do các bãi triều trong khu vực là đá cuội nên Giun ít phân bố. Pinna atropurpurea). số loài Giun nhiều tơ trên thể hiện tính thích nghi với hai thể nền đáy chính là đáy mềm vùng ngập nước và đáy cứng trong các thân san hô. hiện đang bị khai thác mạnh có nguy cơ diệt vong. nền đáy không ổn định như các đảo đá vôi nên các loài giun nhiều tơ phân bố quanh các đảo đó có khác nhau. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Ba Mùn – Quảng Ninh . khu vực Cát Bà được điều tra đầy đủ hơn các vùng khác nên đã phát hiện được 110 loài (KT0311).sỏi : Vùng triều có nền đáy là đá cuội sỏi rất phổ biến ở khu vực Ba Mùn. pyramis). cần phải có biện pháp bảo vệ). Trên khu cao triều và trung triều là các hòn đá tảng.57 loài (KNCF-Việt Nam).

đặc biệt là phía đông các đảo. . với đặc điểm là nhiều hang hốc. Đáng chú ý hơn cả là dẻo phía bắc đảo Cảnh Cước và một số chỗ lõm khác. Mặt khác. Đáng chú ý hơn là trong vùng rừng ngập mặn còn thu được 2 loài Giun đốt khác thuộc lớp Sipunculida là sá sùng và bông thùa là những loài có giá trị kinh tế cao. khe rãnh nên rạn san hô rất phong phú nơi cư trú và thức ăn cho các loài sinh vật đáy. với đới cao triều và phần trên của đới trung triều là một dẻo rừng ngập mặn hẹp và thấp. Các bãi triều cát . . trên các tảng đá nằm trên vùng triều có các khảm hàu xếp tầng tầng lớp lớp nhiều khe rãnh.Phân bố trên các bãi triều đáy mềm : Các bãi cát phân bố hạn chế ở một số khu vực. Tuy nhiên. Điều này cũng đã được khẳng định từ các nghiên cứu trước đây (1999). . Kết quả khảo sát cho thấy. Thường chỉ phát hiện 1 -2 loài trên vùng thấp triều của kiểu chất đáy này. chui rúc trong các khe rãnh trên các tảng đá có rong. Vì vậy. trên vùng rạn san hô. nhờ có dẻo rừng ngập mặn ở phía trên nên chúng có đủ lượng mùn bã hữu cơ cần thiết làm thức ăn.20 con/m2 cón sinh khối của chúng thường thấp. Các bãi triều cát . tại mỗi điểm khảo sát chỉ phát hiện thấy 2 .Phân bố của Giun nhiều tơ trên vùng rạn san hô : Rạn san hô là một hệ sinh thái đặc trưng. Đặc biệt trên vùng cao và trung triều thì hầu như không có. đục lỗ trong các tảng san hô chết. còn vùng thấp triều do nền đáy chủ yếu là bùn nên thường bị nén chặt nên giun hầu như không phân bố. thành phần loài của khu hệ Giun nhiều tơ trong kiểu chất đáy này phong phú hơn.0 g/m2. mật độ đạt tới 15 .bùn thường giữ được độ ẩm cần thiết để Giun nhiều tơ sinh sống.nhiều tơ khá nghèo nàn. giun nhiều tơ còn phân ra các nhóm sinh thái sau: * Nhóm loài lấy thân san hô làm giá thể bám. Thành phần loài Giun nhiều tơ trên các bãi triều cát thường nghèo nàn do sau khi triều rút đi cát bị phơi khô nên giun không sống được do thiếu độ ẩm. Trên vùng triều chúng thường phân bố phổ biến hơn trên vùng cao và trung triều do nền đáy tơi xốp hơn. khoảng 2.bùn phân bố thường nằm trong những vụng lõm quanh các đảo. sinh lượng cũng rất thấp nên trong các mẫu định lượng hầu như không thu được. san hô bao phủ hay trong các hõm có cát san hô tập trung lại. trong đó có tích tụ mùn bã hữu cơ có phát hiện nhiề loài Giun nhiều tơ thuộc các giống khác nhau. * Các loài sống đục trong các thân san hô chết. trong đó có Giun nhiều tơ. Cát có cấp hạt nhỏ thô dần từ cao triều đến thấp triều.7 loài. Chúng có thể bám vào các cây san hô sống.

3 loài. Littoraria intermedia. gibba.3 loài. Chicoreus torefactus.1%.Lớp Chân bụng: có 97 loài thuộc 28 họ. Họ Veneridae có số loài nhiều nhất. . Gafrarium pectinatum. các họ còn lại có từ 1 đến 6 loài. Pinna . Các loài thường gặp là Cerithidea cingulata. lớp Nhiều tấm (Song kinh) (Polyplacophora) 2 loài . G.* Các loài sống trong các khe rãnh của nền đáy trên rạn. ốc vùng triều (Littorinidae) . ốc xương (Muricidae) . Nuculana taphria. 51 giống.8 loài.6 loài.4 loài. Trong nhóm này. Brachydontes curvatus. lớp Chân đào (Scaphopoda) 2 loài . Pinna attenuata. các họ có số loài nhiều bao gồm họ ốc đụn (Trochidae) với 15 loài. Chione squamosa.. 2 giống và hai loài. Planaxis sulcatus. . lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) 96 loài . Pinna vexillum. . lớp Chân bụng (Gastropoda) gồm 97 loài.8 loài. Chione (Clausinella) tiara. Mactra . Nodilittorina pyramidalis. Arca .9 loài. Cerithiidae -11 loài.2 48. Barbatia .Lớp Song kinh và Chân đào mỗi lớp chỉ có 1 họ.5 loài. Isognomon quadragularis.2 %. .48. 57 giống. Ostrea cristagalli.4. chiếm 49. Pitar .11 loài). Ostrea glomerata. Trochus pyramis . Chione (Tomoclea) imbricata.1 % (bảng 4).8 100 .Động vật thân mềm: Kết quả nghiên cứu cho thấy thân mềm là nhóm ĐVĐ chiếm số lượng lớn với tổng số 197 loài..Lớp hai mảnh vỏ: đã phát hiện 96 loài thuộc 27 họ.9 loài. Isognomon . Ostrea mordax. 2002) khu vực Bái Tử Long và lân cận có 14 loài thuộc nhóm này và tập trung chủ yếu ở các họ mực nang .3 loài. Ba họ có số loài tương đối nhiều gồm họ Tellinidae . Các giống có số lượng loài nhiều gồm Tellina .8 %. Anomalocardia flexuosa. Arcidae . Asaphis dichotoma. Meretrix meretrix. Nhưng theo kết quả nghiên cứu trước đây (Đỗ Công Thung và nnk. Clypemorus biscilatus. Chlamys pica.3 loài. Dosinia . Bảng 4: Cấu trúc thành phần loài thân mềm Taxon Polyplacophora Scaphopoda Gastropoda Bivalvia Tổng số Số họ 1 1 28 27 57 Số giống 2 2 51 57 112 Số loài 2 2 97 96 197 Tỷ lệ 1 1 49.3 loài.Lớp chân đầu là nhóm sinh vật kinh tế quan trọng. các loài thường gặp là Barbatia decussata. 26 loài. Ostreidae . Calista chinensis. Các họ còn lại có từ 1 đến 5 loài. Gafrarium . Nerita albicilla.

D. Chone isabellina. N.v. Sinh vật lượng thân mềm vùng triều khu vực Ba Mùn Địa điểm Trung bình đới cao triều Trung bình đới trung triều Trung bình đới thấp triều Trung bình toàn vùng con /m2 218.v. Anomalodiscus squamosa.3 loài.56 0. hay gặp là các loài: Dosinia japonica. Meretrix meretrix .3 200. vùng dưới triều có 96 loài. yoldi.v.3 loài. Nerita allidicilla. 23 loài trai). Bảng 5. 45 loài ốc và 51 loài trai. imbricata. O.(Sepiidae) . O. divaricatum.97 1. Kết quả thống kê cho thấy trong số 197 loài có 149 loài phân bố ở vùng triều. tạo thành các vỉa sinh vật rất điển hình cho bãi triều rạn đá.2 loài và bạch tuộc . G. tumidum.2 215 mg/m2 215291. Paphia amabilis. Nodilittorina granulata. 80 70 60 50 40 30 20 10 0 Vï ng triÒ u èc D­ í i triÒ u D­ í i triÒ u+ vï ng triÒ u Trai Hình 1: Phân bố thành phần loài thân mềm khu vực đảo Ba Mùn . costata.4 288935. N. Cerithium sinensis. striata. cucullata. O. P. Littorinopsis undulata. mực ống (Loliginidae) . malabarica. Trong họ này có 27 loài. bám chồng chất lên nhau.. Pateloida spp.483 . G. 59 loài trai biển. Phát triển mạnh trên các dạng bãi triều cát và cát bùn thuộc về họ Veneridae. echinata phát triển rất mạnh.Các loài điển hình cho vùng triều là: Planaxis sulcatus. Cerithidea cingulata.5 312960 250917 H’ 1. G.6 loài. gibba. tumidum. Clithon oualaniensis. mực sim (Sepiolidae) . O. N. laminata. bao gồm 80 loài ốc. mordax. Gafrarium pectinatum.v.5 259. Đặc biệt nhóm hàu Ostrea glomerata. Cyclina sinensis. Monodonta labio.63 1. Có 48 loài phân bố chung cả vùng triều và dưới triều (25 loài ốc. Gafrarium pectinatum. G.

thống kê đã xác định được 22 loài thuộc 17 giống 10 họ phần lớn số loài thuộc lớp phụ Giáp xác vỏ mềm Malacostraca. torrefactus. muricata. một loài cua mắt dài Macrophthalmus japonicus và loài Petrolithes japonicus thuộc họ orcellanidae. Ch. T. Tuy nhiên. mặc dù VQG BTL nằm trong vùng biển Đông Bắc có nguồn lợi tôm he và cua bơi khá nổi tiếng. Pinna attenuata. Xét ở mức độ giống. ốc xương (Muricidae).v. các họ còn lại chỉ có 1 loài. pectinata. Pinctada margaritifera. bộ Mười chân Decapoda. P. Pteria penguin. Trong số 22 loài trong đợt khẩo sát 2003-2004. còn có những loài chỉ tìm thấy ở vùng dưới triều như: Amusium sp. Chicoreus bruneus. giống nhiều nhất chỉ có 3 loài là giống cáy lông Sesarma thuộc họ cua mai vuông (Grapsidae). các họ có 2 loài gồm họ tôm he Penaeidae.v. P. Giải quyết tốt vấn đề sử dụng hợp lý nguồn lợi này sẽ góp phần vào xoá đói giảm nghèo cho dân cư ven biển. sau đó đến họ cua đá Xanthidae có 4 loài. . Các loài thường hay bắt gặp là: Trochus niloticus. Turbo coronata. Tiềm năng nguồn lợi: Thân mềm là nguồn sống chủ yếu của một bộ phận dân nghèo ven biển.Giáp xác: Kết quả phân tích. đồ mỹ nghệ và khoảng 21 loài là danh sách những đối tượng hải sản xuất khẩu ra ngoài nước hoặc xuất khẩu tại chỗ. Đây là những loài sinh vật đóng vai trò chính trong cấu thành nguồn lợi thuỷ sản ngoài cá của nước ta. xét ở cấp họ.. Đó là một loài cua đậu Tritodynamia japonica. maculatus. sò mang bán để kiếm tiền sinh sống và chi tiêu cho gia đình. Conus spp. Trong thành phần loài thu được. trong danh sách này rất ít loài có giá trị kinh tế.. ốc nón (Conidae). giống cáy ma Metopograpsus (họ cua mai vuông) và giống cua cùm cụm Epixanthus (thuộc họ cua đá Xanthidae). họ tôm gõ mõ Alpheidae và họ cua mắt dài Ocypodidae. xuất khẩu. Pinctada martensii. Các giống còn lại chỉ có một loài. Cấu trúc nguồn lợi: Trong số gần 200 loài động vật thân mềm đã phát hiện thấy ở Bái Tử Long thì có tới 63 loài thường xuyên được khai thác làm thực phẩm.Số loài phân bố ở vùng dưới triều tập trung chính là các loài thuộc họ ốc đụn (Trochidae). Có 3 giống 2 loài là giống tôm rảo Metapenaeus (thuộc họ tôm He Penaeidae). họ có số loài nhiều nhất là họ cua mai vuông Grapsidae có 7 loài. có 5 loài mới được tìm thấy trong đợt khảo sát này. . 2 loài cua đá Epixanthus japonicus và Pilumnus minutus. Thais trigona. Thais echinata. Morula maginatra. Các loài thuộc hai mảnh vỏ gồm các nhóm loài vừa sống ở vùng triều và vùng dưới triều. v. Hàng ngày họ khai thác ốc. trai.v.

4 họ và 6 loài.7% tổng số loài.8%. Tiếp đến là lớp hải sâm: 8 loài 25. Bảng 6: Cấu trúc thành phần động vật da gai đảo Ba Mùn Lớp Bộ Họ Giống Loài Huệ biển (Crinoidea) 1 3 3 3 Hải sâm (Holothuroidea) 3 4 6 8 Sao biển (Asteroidea) 1 3 3 4 Cầu gai (Echinoidea) 3 4 6 6 Đuôi rắn (Ophiuroidea) 1 7 8 12 Cộng 9 20 25 32 So với các vùng biển gần đó như Cô Tô mới phát hiện được 8 loài và vùng Hạ Long .19. Cuối cùng là lớp đuôi rắn (Ophiuroidea) có một bộ. Trong số giáp xác phát hiện được không có loài nào thuộc nhóm quý hiếm được ghi vào Sách đỏ của Việt Nam. Điều này có thể là do diện tích vùng nghiên cứu ở vịnh Hạ Long rộng hơn.7%. phong phú hơn cả là lớp đuôi rắn.3%. 2 họ và 3 loài. Trong số 40 loài Giáp xác thống kê được có một số loài có giá trị kinh tế cao.Cát Bà cũng mới chỉ phát hiện được 20 loài. 3 họ và 3 loài. 7 loài ghẹ và 2 loài tôm là tôm he và tôm rảo. Đáng chú ý hơn cả có cua xanh. Các loài tôm nhỏ được khai thác làm thức ăn cho các bè cá.Nếu tổng hợp cả 2 danh sách điều tra năm 1999 và 2003-04 thì có danh mục tổng số 40 loài. với khu hệ Da gai biển Việt Nam nói chung. So với khu hệ Giáp xác vịnh Hạ Long điều tra năm 1998 (73 loài) thì ở Bái Tử Long nhóm động vật này thể hiện sự nghèo nàn rõ ràng. Còn nếu so sánh với toàn vịnh Bắc Bộ. cầu gai: 6 loài . Trong thành phần khu hệ đã phát hiện được. Lớp hải sâm (Holothuroidea) có 3 bộ 4 họ và 8 loài. 7 họ và 12 loài. chỉ bằng gần 55% tổng số loài chung của cả 2 vùng (89 loài). khoảng 70 loài (tổng hợp các báo cáo điều tra của chúng tôi) thì chúng chiếm khoảng 45%. Lớp sao biển (Asteroidea) có 1 bộ. gom lại để chuyển về đất liền. thường vẫn được ngư dân đánh bắt. chiếm 38. Trong số này thì nhóm ghẹ có sản lượng cao nhất. cùng chiếm 9. hai họ huệ biển và sao biển đều có 3 loài. Lớp cầu gai (Echinoidea) có 3 bộ. -Động vật Da gai: Kết quả thống kê các số liệu thu thập được từ trước đến nay đã xác định được 32 loài của ngành da gai (bảng 6). khoảng 300 loài (Đào Tấn Hổ. Trong đó lớp huệ biển (Crinoidea) có 1 bộ. 1994) thì chỉ chiếm khoảng 10%. 12 loài. Tuy diện tích . đặc biệt là các kiểu môi trường sống phong phú hơn.

1995). HuÖbiÓ n (Crinoide a ) H¶ i s© m (Holothuroide a ) Sa o biÓ n (Aste roide a ) CÇ u ga i (Echinoide a ) § u«i r¾ n (Ophiuroide a ) Hình 2: Tỷ lệ phần trăm thành phần loài của khu hệ Da gai Sự phân bố của các loài da gai. đặc biệt là những loài quý hiếm. vùng triều cát. thức ăn. thấy rằng sự sai khác về thành phần loài của cùng một kiều sinh cảnh không nhiều. 1991. nói riêng. sự phân bố của các loài Da gai tương tự như các vùng khác. Đào Tấn Hổ.điều tra hạn chế nhưng do có sự đa dạng về habitat (vùng triều đá. trong thiết kế các điểm khảo sát. Vì vậy. 1989. Để lý giải cho mỗi loài hoặc nhóm loài cần có những nghiên cứu kỹ hơn về sinh thái cá thể hoặc quần thể. phản ánh đúng bản chất của khu hệ. Đặc điểm nguồn lợi Da gai: Trong các loài da gai đã phát hiện được ở VQG Bái Tử Long. phương thức kiếm mồi.. các rạn san hô. đặc biệt là các rạn san hô.. Lăng Văn Kẻn. các loài có giá trị kinh tế tập trung vào nhóm Hải sâm là . 1980. Điều này có thể giải thích bằng nhiều yếu tố như: nơi cư trú. cạnh tranh nơi ở. Kalasnikov. 1989. Levin & Đào Tấn Hổ. rạn san hô và vùng ngập nước đáy mềm) nên thành phần loài của chúng khá phong phú. chúng tôi đã quan tâm đến 3 môi trườngchính: Vùng triều. Từng loài hay nhóm loài thích ứng với từng loại chất đáy khác nhau hoặc ở những độ sâu khác nhau. Sự khác nhau về thành phần loài trong các sinh cảnh khác nhau thường lớn hơn. các vùng ngập nước đáy bùn. Còn trong một phạm vi hẹp thì yếu tố về đặc điểm môi trường sống (habitat) mà ở đây là nền đáy với các đặc điểm cơ bản của chúng có vai trò quyết định. phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Nếu xét trong phạm vi rộng (toàn cầu hay Việt Nam) thì các yếu tố khí hậu (địa đới) quan trọng hơn cả. Kết quả nghiên cứu ngoài hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm. trên thế giới (Budin. Qua kết quả khảo sát trên thấy rằng. và của sinh vật đáy. để có cơ sở bảo tồn sau này. nói chung.

nơi kiếm mồi của các loài hải sản thuộc tôm. làm thuốc. Đây là một món thực phẩm rất bổ dưỡng mới được quan tâm đến trong vài năm trở lại đây.5 lần và Cát Bà 2. Vì vậy nơi đây sẽ thu hút các nhà khoa học đến nghiên cứu về nguồn gen quý hiếm. Là một hòn đảo nhỏ. Khu hệ sinh vật biển sơ bộ phát hiện có 485 loài thuộc 325 giống và 181 họ. Chúng tôi không thu thập được các số liệu về hiện trạng khai thác trong khu vực. Các loài Hải sâm đã phát hiện được đều có thể sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau như làm thực phẩm. ĐVĐ 98 loài.7 lần. đảo Trần chỉ phong phú hơn Hòn Mê (440 loài) nhưng nghèo hơn các đảo Cồn Cỏ (493 loài). cỏ biển mới phát hiện 38 loài. Ba Mùn (561 loài). Ngoài các loài hải sâm. Ngay tên gọi "Hải sâm" đã nói lên điều đó. Hiện trạng nguồn lợi: Tuy thành phần loài da gai khá phong phú nhưng sản lượng không nhiều. nhân dân đã có khai thác trứng của một số loài cầu gai biển như cầu gai đen ( Diadema setosum) để xuất khẩu. sau đến TVPD có 105 loài. Một số loài sao biển như Archaster typicus cũng đã được khai thác làm đồ mỹ nghệ. Vì vậy cần có có biện pháp quản lý thích hợp để duy trì được nguồn lợi biển cho này. ít nhất là rong. đó là có thảm thực vật kiểu rừng nhiệt đới. 2. Riêng số loài của khu hệ biển.3. So sánh thành phần loài của khu hệ động vật đảo Trần với các khu hệ của các khu dự trữ thiên nhiên biển khác có cùng số lần khảo sát cho thấy đảo Trần có diện tích nhỏ hơn Ba Mùn khoảng 4 lần. giá trị y học của chúng còn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Thanh Lân (680 loài) . cua.chủ yếu. đôi khi chúng còn được đem ngâm rượu làm thuốc. Theo thông tin từ ngư dân địa phương cho biết thì sự khai thác thường do ngư dân các vùng khác đến. Vì vậy cần cẩn thận khi sử dụng các loài sinh vật biển trong y dược. Tuy nhiên. có thể do sản lượng không cao nên dân địa phương không tổ chức khai thác. đây là nơi sinh cư quan trọng cho khu hệ động vật nhiệt đới. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở đảo Trần – Quảng Ninh Đảo Trần có các hệ sinh thái điển hình của vùng biển nhiệt đới. những năm gần đây. nhưng có nhiều loài cần được bảo vệ đã được ghi trong sách đỏ. cá. nhưng thành phần loài khu hệ chỉ kém hơn Ba Mùn 1. đảo còn có các rạn đá tạo thành nơi ở. trong số này nhóm cá có số loài nhiều nhất với 157 loài. có các rạn san hô và cỏ biển khá phát triển. nhỏ hơn Cát Bà 23 lần. Ngoài ra.

Chắc chắn rằng số liều này chưa phản ánh hết tiềm năng nguồn lợi gen sinh vật của đảo Trần. 2003).2. nơi săn mồi của các loài cá. 2. 6. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Cát Bà – Hải Phòng Cho đến nay hiện biết 532 loài động vật không xương sống đáy thuộc 270 giống.C. rạn đá có phủ rong mơ và thảm cỏ biển là nơi ở quan trọng của các loài sinh vật biển.00% 1.4. tôm và động vật không xương sống khác.145 loài27. 115 họ. chiếm 21.4% tổng số loài đã tìm thấy tại Cát Bà. Các rạn san hô.50% Hình 3: Tỷ lệ thành phần loài của các nhóm hải sản khai thác chủ yếu tại vùng biển Cát Bà Động vật đáy trong hệ sinh thái đáy mềm và thủy vực nước bao quanh: Hiện biết 142 loài. Thân mềm (Mollusca) và Da gai (Echinodermata) tại vùng biển Cát Bà (Đ. 210 giống và 105 họ ĐVĐ tại đây.113 loài. 2000. Đây là nơi ở. 2001).00% C¸ biÓ n Gi¸p x¸c Th© nm Ò m SambiÓ n 80. 64 họ thuộc 4 ngành (xếp theo thứ tự của mức độ phong phú số loài) như sau: Ngành Thân mềm (Mollusca) có 62 loài. nơi đẻ trứng. Thân mềm có số loài phong phú nhất . Giun đốt (Annelida) với lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta) có 33 .2%.4% (Đỗ Công Thung. trong hai năm 2003 . Giáp xác .2004 đã xác định 311 loài.261 loài. chiếm 43. Da gai có số loài thấp nhất với 13 loài . Chân đốt (Arthropoda). chiếm 49.50% 12. Thung.3%.và Hạ Mai (756 loài).7%.1% tổng số loài. Các kết quả nghiên cứu khu vực vịnh Lan Hạ và lân cận. 11 lớp của 4 ngành: Giun đốt (Annelida). bằng khoảng 58. sau đó đến Giun đốt . Trong số này. song nhìn chung khu hệ sinh vật biển của đảo Trần cũng thuộc loại nghèo. 101 giống.

6. Động vật đáy trong hệ sinh thái san hô: 309 loài và bao gồm hầu hết các loài quý hiếm trong khu vực như Tu hài ( Lutraria rhychaena). A. Mật độ trung bình của ĐVĐ ở các sinh cảnh khác nhau đều cao. Đặc biệt ở đây tập trung nhiều bãi đặc sản và các bãi tập trung một số loài chứa dược liệu như bãi Tu Hài (Hang Tối. đáy mềm 271. pyramis). monocanthus).8. chiếm 26. ốc Đụn đực. vùng triều 360 con/m2. chiếm 4. Megalosigma. Ngành Chân đốt (Arthropoda) với lớp Giáp xác (Crustacea) có 37 loài. Bọt biển (Tethya seychellensis. Mặt khác. các bãi bọt biển cành xanh (Haliclona spp) tại Ba Trái Đào. Ngành da gai (Echinodermata) có 4 loài. 7 họ và 10 loài.2%.8 con/kg. lớp chân bụng có 7 bộ. Chỉ số đa dạng từ 2. Bãi sao biển ( Astropecten polycanthus. Thành phần loài phân bố tại các đảo được thể hiện trên bảng 4. họ ốc Sứ (Cypreidae).Haliclona subarmigera. 2. trong rạn san hô đạt 16. Bảng 4. 11 họ và 15 loài.loài. Vạn Bội và Đầu Bê). Hang Tối. T. Các loài động vật đáy điển hình và có giá trị cao như Trai ngọc (Pinctada martensii). ốc Nón (Trochus maculatus. Sponge: 6 loài.2%.5 con/m2.5.8%. Pinna atropurpurea). 12 họ và 22 loài. Bàn mai (Pinna antenuata. Tình hình nghiên cứu động vật đáy tại Bạch Long Vỹ – Hải Phòng Đỗ Văn Khương và ctv. Hang Cả.2 . khối lượng ĐVĐ trong rạn 33070 mg/kg. Thành phần loài phân bố trên vùng rạn san hô Bạch Long Vĩ Lớp Bivalvia Bộ Pterioida Họ Pteriidae Pinnidae Loài Pinctada martensii Pinctada albina Pinna bicolor Atrina vexillum . họ Cua bơi (Portunidae). thể hiện một khu vực có mức độ đa dạng ĐVĐ cao và sự ảnh hưởng của con người chưa làm suy giảm cấu trúc quần xã ĐVĐ. họ Tôm he (Peneidae). chỉ có 5 bộ. nhóm da gai phân bố tại đây cũng có số loài phân bố ít.Vạn Hà. Hang Sáng. ốc Đụn cái ( Trochus sp) v. Xestospongia cf. Hang Trai và Đầu Bê. Biemna cf. Tương tự như vậy. Sao biển ( Astropecten polycanthus.1%. chiếm 2. chiếm 23.v. Dysidea cinerea). Ba Trái Đào. A.3. 2008 đã thống kê và phân tích về sự phân bố thành phần loài động vật không sương sống trên hệ sinh thái đảo Bạch Long Vĩ cho chúng ta thấy thành phần loài 2 mảnh vỏ (Bivalvia) tại đây lại ít hơn thành phần loài lớp chân bụng (Gatropoda).9. monocanthus) tập trung ở Vạn Bội . Lớp 2 mảnh vỏ có 5 bộ. Bàn mai quạt (Atrina vexillum). estudinaria. Vạn Hà. trong đáy mềm 29748 mg/m 2 và vùng triều 380261 mg/m2.

Arcoida Mytiloida Ostreoida Arciddae Septariidae Mytilidae Ostreidae Sponđyliae Veneroida Patellogastropoda Vetigastropoda Neritimorpha Gatropoda Discopoda Neogastropoda Ptenoglossa Basommatophora Sao biển Hai Sõm Spinulosida Valvatida Aspidochirotida Barbatia foliata Septifer bilocularis Hormomya mutabilis Saccostrea cucullata Spondylus spp Circe scripta Veneridae Grafrarium dispar Gafrarium pectinatum Cardiidae Cardita lear Chamidae Chama iostoma Psammobiidae Asaphis violascens Nipponacmea fuscoviridis Lottidae Nipponacmea gloriosa Cellana enneagona Nacellidae Cellana toreuma Cellana testudinaria Tectus pyramis Trochus histria Turbo (lunella) coronoatus Trochidae coronatus Turbo (lunella) cornatus coreensis Turbo stenogyrus Haliotis ovina Haliotidae Haliotis diversicolor Nerita (Theliostyla) albicilla Neritidae Neritina (Dostia) cornucopia Cypraea (Mauritia) maculifera Cypraea (Mauritia) arabica asiatica Cpraea (Erronea) errones Cypraeidae errones Cpraea (Lyncina) vitellus Cpraea (Erosaria) annulus Cyraea (Erosaria) moneta Clypeomorus bifasciata Cerithiidae Cerithium echinatum Naticidae Neverita josephinia Conidae Conus (Darioconus) textile Muricidae Mancinella echinata Janthinidae Recluzia lutea Siphonariidae Siphonaria (Mestosiphon) atra Acanthasteridae Acanthaster planci Echinasteridae Echinaster luzonicus Oreasteridae Culcita novaeguineae Holothuridae Holothuria atra Holothuria leucospilota .

Theo những đánh giá bước đầu trong công cuộc khai thác bền vững và bảo vệ loài bào ngư chín lỗ ( Haliotis diversicolor) là 1 loài động vật đáy có giá trị kinh tế cao tại đảo Bạch Long Vĩ đang có những dấu hiệu khả quan về mật độ và chất lượng phân bố của loài bào ngư tại đây. Do giá trị kinh tế của loài không có nên số lượng loài không bị ảnh hưởng nhiều của áp lực khai thác. quốc phòng.0 (năm 2008) cá thể/500m2). mà giá trị hai loài này rất thấp và có thể nói bằng không. tuy nhiên sự tăng này chỉ có tính chất về số lượng mà không mang nhiều về giá trị kinh tế. mà chủ yếu là do ảnh hưởng gián tiếp từ việc khai thác các loài hải sản khác như sự phá hoại môi trường và sinh thái loài.0-547.5 chúng ta đều thấy các giá trị mật độ này đều tăng so với năm trước. kinh tế và sinh thái khu vực. 105°55' .5 (năm 2007)) so với (252. nằm ở phía nam tỉnh Thanh Hóa và cách đất liền . giáp với huyện Quỳnh Lưu của tỉnh Nghệ An. pháp luật. bảo vệ nguồn gen cho khu vực. đóng vai trò rất quan trọng về an ninh. Ngư trường này chắc chắn có liên quan chặt chẽ với sự có mặt của quần đảo hòn Mê vì chính địa thế quần đảo với sự có mặt của hệ sinh thái san hô đóng vai trò giữ giống. nằm ở phía nam của tỉnh Thanh Hóa.105°56' E.6. phẩm chất cá và thời gian khai thác trong năm.Stichopodidae Cầu Gai Aulodonta Camarodonta Diađematidae Echinometridae Stichopus horrens Echinothrix calamaris Echinothrix diadema Diadema setosum Echinostrephus aciculatus Loài cầu gai chủ yếu tại đây là loài cầu gai Echinostrephus aciculatus phân bố với mật độ dầy. Những dấu hiệu khả quan trong việc bảo vệ loài từ việc tiến hành phổ biến các chính sách. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Hòn Mê – Thanh Hóa Vùng biển quần đảo Hòn Mê thuộc huyện Tĩnh Gia.8-138. thuộc huyện Tĩnh Gia. Vùng biển quanh đảo Hòn Mê từ xưa nổi tiếng là một ngư trường tốt vào bậc nhất của vịnh bắc bộ xét về sản lượng đánh bắt. Đây là một quần đảo lớn của vùng biển ven bờ Bắc Trung Bộ. tuy nhiên thì phân bố mật độ của cầu gai tại đây không bằng mật độ phân bố tại Cồn Cỏ (124. Quần đảo Hòn Mê có vị trí toạ độ 19°22' . giáo dục người dân hiểu và thực hiện tốt các chủ trương về bảo vệ và khai thác bền vững nguồn lợi hải sản là cơ sở quan trọng trong việc thiết lập các khu vực cần bảo vệ để nâng cao chất lượng các loài động vật đáy có giá trị kinh tế cao nói riêng và nguồn lợi hải sản nói chung 2. sự tăng về mật độ là do tăng về số lượng cầu gai và ốc đụn. Nhìn vào giá trị biến thiên của các chỉ số nghiên cứu trên hình 4.19°23' N.

trai ngọc. đặc biệt là vùng triều rạn đá. bình quân dưới 30%. . hải sâm và một số loài rong biển. Tuy san hô có số loài không cao song chúng được coi là cái nôi của cho các loài sinh vật biển cư trú. trong đó đảo Hòn Mê có diện tích lớn nhất (420ha) và hơn 10 đảo nhỏ (diện tích khoảng 30ha). 141 loài động vật đáy và 55 loài cá san hô. Vùng triều đá chiếm hầu hết diện tích ven đảo.v. chỉ có đơn vị bộ đội đóng quân. khu vực quanh đảo Hòn Mê có khoảng 440 loài sinh vật biển thuộc 165 giống bao gồm 133 loài thực vật phù du.11km. Hệ sinh thái các bãi cát – cát bùn: ven bán đảo Nghi Sơn là các bãi cát mịn đẹp và các bãi cát bùn rộng hàng trăm ha. ốc (là các đối tượng khai thác chính của ngư dân). bãi sò lông (Anadara antiquata). Trên đảo hiện nay chưa có dân định cư. Theo kết quả điều tra trước đây của Viện Tài nguyên và Môi trường biển. Các bãi bùn. đặc biệt là các loài cá. Hệ sinh thái vùng triều rạn đá: Đây là loại hệ sinh thái rất quan trọng ở quần đảo Hòn Mê. ít vốn hàng ngày khai thác khi triều rút. Các bãi cát mịn đẹp có giá trị du lịch sinh thái cao. Do các hoạt động khai thác huỷ diệt cộng với sự ô nhiễm môi trường từ các hoạt động ven bờ gây ra. Tổng diện tích của quần đảo (phần đảo) này vào khoảng 450ha. 46 loài động vật phù du. bãi ngao dầu (Meretrix meretrix) . tạo thành các bãi đặc sản như bái sò huyết ( Anadara granosa). Tuy nhiên. Trong khu vực có một số lượng các loài cá có giá trị kinh tế cao như tôm hùm. Vào tháng 4 – 5 khi rong biển phát triển cực thịnh. nhiều nơi chỉ còn lại nhóm san hô dạng khối và có độ phủ không cao. là nơi cư trú của rất nhiều loài sinh vật ven bờ. nhất là vào mùa khai thác. là nơi kiếm sống của các cộng đồng dân cư huyện Tĩnh Gia và các tỉnh lân cận. Xét về tính đa dạng sinh học thì vùng triều là một trong những sinh cảnh có sự đa dạng cao nhất.v. hầu. do nằm khá gần đất liền nên hoạt động khai thác hải sản ở đây rất nhộn nhịp. 56 loài san hô. bào ngư. đảm bảo cuộc sống hàng ngày của gia đình họ. các rạn san hô ở đây đang bị suy thoái nghiêm trọng. Đây là khu vực giúp cho người dân nghèo. vùng cận triều thường có bào ngư tôm hùm trong hang hốc. 8 loài rong biển. Khu vực này có khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió trong năm là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam. trai. giáp xác nhỏ và rong biển. cát ven bán đảo có nhiều loài sinh vật sinh sống. Quần đảo Hòn Mê là khu vực đánh bắt cá quan trọng ở Vịnh Bắc Bộ. các thảm rong mơ phủ kín vùng triều đá và cận triều. đặc biệt nhóm ốc.

san hô. nhiều chỗ chúng phát triển tập trung thành rạn kiểu patch reef. Đa dạng sinh học biển đã được khảo sát khá chi tiết 1 đợt vào tháng 10/1997 do Viện Tài nguyên và Môi trường biển thực hiện với chuyên môn là thực vật phù du.7%).Ngành thân mềm (Mollusca) có 95 loài. chiếm 32. .Hệ sinh thái san hô: Là loại hệ sinh thái quan trọng nhất của biển nhiệt đới. 12.5%).Bào ngư hình bầu dục Haliotis ovina. rong biển. Hệ sinh thái rạn san hô có năng suất sinh học và tính đa dạng thuộc loại cao nhất hành tinh. song rõ nhất là hoạt động nổ mìn. Trước năm 1993 san hô đảo Hòn Mê phát triển khá tốt. Nguyên nhân của quá trình suy thoái này có thể có nhiều. . có 19 loài. sau đó lần lượt tới thực vật phù du (133 loài. bao gồm: .8%) do khảo sát vào tháng rong đã bị tàn lụi. 10. động vật phù du. giáp xác. Trong số 141 loài động vật đáy thuộc 102 giống. 61 giống. động vật phù du (46 loài. giun đốt và da gai). . kể cả nhóm san hô dạng cành là Acropora. 11 họ. cá san hô. 14 giống. Rạn san hô chẳng những cung cấp cho người dân ven bờ nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao mà còn có giá trị lớn trong việc bảo tồn nguồn giống ven bờ. cá san hô – nhóm sống không rời các rạn (55 loài.5%). 20%). ít nhất là rong biển chỉ có 8 loài (1. 66 họ của 4 nhóm động vật đáy chính. Ngoài ra có thể là do hoạt động khai thác của nghề câu cá rạn. 8 giống.Ngành giun đốt (Annelida) có lớp giun nhiều tơ (polychaeta) có 19 loài.3%). 18 giống. 11 họ. khu hệ sinh vật đáy ở đây còn có nhiều loài sinh vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được quan tâm nghiên cứu bảo vệ. Sau 4 năm khảo sát lặp lại thấy rạn san hô ở đây đang bị suy thoái nghiêm trọng. có vẻ đẹp quyến rũ nên có tiềm năng to lớn cho kinh tế du lịch. thống kê được 5 loài thân mềm có trong Sách Đỏ Việt Nam. đó là: . 7 họ. Ngoài sự phong phú và đa dạng nguồn gen. Qua kết quả phân tích. 12. Vùng quần đảo Hòn Mê có 36 loài san hô tạo rạn phân bố. Trong số các nhóm sinh vật đã khảo sát thì động vật đáy có số loài nhiều nhất (141 loài. 36 họ.Ngành da gai (Echinodermata) có 8 loài. tạo ra nguồn vật chất hữu cơ giàu có cung cấp cho chuỗi thức ăn của vùng biển ven bờ.Ngành chân đốt (Arthropoda) có lớp giáp xác (crustacea). động vật đáy (thân mềm. san hô (56 loài. .

Loài bàn mai quạt Pinna atrina . Đặc biệt một số loài có giá trị kinh tế như bào ngư thì gần như không thấy xuất hiện. 3 giống khác.Sút Anomalocardia squamosa. giúp những người dân địa phương kiếm sống hàng ngày.3% tổng số loài. chỉ có 5. Trong đợt khảo sát tháng tháng 4/2009 các loài thân mềm quý hiếm chỉ còn phát hiện được hai loài gồm: . .5% tổng số loài. Đây là dạng nguồn lợi quan trọng. số còn lại mỗi giống có 1 loài. nhiều loài quý hiếm khác cũng có khả năng phân bố ở vùng biển này như ốc hương babylonia. . đã xác định các loài quý hiếm trước đây.Trai ngọc môi vàng Pinctada margaritifera. tôm hùm Panulirus. Xét đến taxon bậc giống cho thấy.Loài trai ngọc môi vàng Pinctada margaritifera Hai loài Ốc đụn đực và Ốc xà cừ đã không còn thấy trên các rạn san hô.Ốc đụn đực Tectus pyramis. 3 loài. Căn cứ vào sự hiện diện của các loài. Tuy vậy cũng lưu ý là tại đây có bãi cá mực lớn phân bố xung quanh đảo Hòn Mê và các bãi hầu phân bố ven chân các đảo. các kết quả nghiên cứu trong đợt này về động vật đáy. giun nhiều tơ và giáp xác có số loài tương đương đứng thứ 2. chiếm 13. Xét cấu trúc thành phần loài ĐVĐ của vùng biển xung quanh đảo Hòn Mê cho thấy: thân mềm có thành phần loài phong phú nhất. mỗi giống có 2 loài. da gai chiếm tỷ lệ số loài thấp nhất. theo ngư dân địa phương là có mặt quanh đảo nhưng do chúng tôi không thu được mẫu nên không đưa vào danh mục. Ngoài 5 loài đã thống kê ở trên. vào phương thức sống của chúng ở vùng biển xung quanh quần đảo Hòn Mê cho thấy: ĐVĐ tại đây bao gồm các đại diện của 2 quần xã cơ bản: quần xã đáy cứng (hard bottom) sống trên nền ..7%. hiện nay còn lại rất ít. chúng tôi còn phát hiện một số loài động vật đáy có giá trị dược liệu như loài nhím biển (Diaderma setosum) hoặc một số loài san hô mềm thuộc nhóm Lobophytum và Sarcophyton Như vậy. trong giun nhiều tơ có 1 giống đạt số loài cao nhất. Tại đây. chiếm 67. ốc nhảy đỏ lợi Strombus luhuanus.Ốc xà cừ Turbo marmoratus. .

. cũng dễ dàng nhận thấy tuyệt đại đa số các loài đều là các đại diện sống ở biển có độ muối cao và ổn định. đá cục cỡ vừa xen lẫn sỏi sạn với độ dốc thoai thoải ở Hòn Bảng và bán đảo Nghi Sơn. Hòn Vàng. 0.54 g/m2) và giáp xác thấp nhất (88 con. 1. Ngoài ra. Hòn Miệng. nằm tương đối xa đất liền (khoảng 15km). Hòn Miệng). Thuộc về nhóm này có các loài Chthamalus sp. Một số loài khác phân bố hẹp hơn. . . Ngoài ra. sau đến giáp xác (17 con.14g/m2.52 g/m2). 2. Ngoài ra cũng chỉ thấy một bãi triều cát không lớn bên cạnh cầu cảng của đơn vị bộ đội bảo vệ đảo Hòn Mê. đạt sinh vật lượng bình quân cao nhất (46 con. các loài ốc nhỏ thuộc họ Littorinidae lại có khả năng chịu hạn cao hơn. 0. 0. chỉ đạt 3 con. Do sự xâm thực mạnh của sóng biển nên xung quanh đảo đều có các bãi đá tảng lớn với vách đá dốc từ 40 – 50o (Vụng Nhà Đèn.65g/m 2) và thân mềm (18 con. giun nhiều tơ. Metopograpsus quadridentatus. phân bố từ vùng triều xuống vùng dưới triều và quần xã đáy mềm (soft bottom) thuộc nền đáy cát ít bùn ở vùng dưới triều. có khả năng vận động nhanh kiếm mồi trên cả khu cao và trung triều. Ở vùng dưới triều (đáy mềm). Đáng chú ý.Khu cao triều: Khu này dường như dành cho các loài có khả năng chịu hạn tốt nhờ cơ chế giữ nước của cơ thể. thân mềm lại có sinh vật lượng bình quân cao nhất. chỉ ở khu cao triều (Sesarma bidens) hoặc ở ranh giới khu cao-trung triều (Nerita albicilla). Da gai có sinh vật lượng bình quân thấp nhất. Điều này hoàn toàn phù hợp với vị thế của đảo. Chỉ gặp bãi đá tảng. Trái lại trên vùng triều đáy cứng. 13. Mitella mitella sống bám cố định trên các tảng đá hoặc các khe đá. hoặc các loài cua Grapsus trnuicrustatus. Đặc điểm sinh vật lượng: Ở vùng biển xung quanh quần đảo Hòn Mê các nhóm ĐVĐ chiếm các thứ hạng khác nhau trong thành phần sinh vật lượng.Khu trung triều: Bao gồm các loài có khả năng phân bố rộng trên cả hai khu trung – cao triều hoặc trung – thấp triều. Phân bố của ĐVĐ: Ở Hòn Mê và các đảo lân cận như Hòn Đót. 2. Hòn Bảng về cơ bản đều là các đảo đá.đáy đá. đạt 213 con.8 g/m 2 sau đến giun nhiều tơ (150 con.6 g/m2). Chúng có thể bò qua khỏi vùng triều lên tới vùng trên triều của các vách đá.24g/m2). khu cao triều còn có những loài hầu (Ostrea spp) có khả năng phân bố tới nửa trên của khu trung triều. xa các cửa sông.

Trochus maculatus. các loài trai như sò Anadara antiquata.Tiềm năng nguồn gen: Với 141 loài động vật đáy đã phát hiện được. trai ngọc. một số loài được coi là đặc sản do có giá trị thực phẩm cao như bào ngư (Haliotis ovina). vẹm. Isognomum legumen. Tuy nhiên.Khu thấp triều: Bao gồm các loài chịu sự ngập nước thường xuyên hơn. 2. giá trị thương mại như làm đồ mỹ nghệ hay nuôi lấy ngọc. Chúng là những đối tượng thường được ngư dân khai thác bổ xung cho bữa ăn hàng ngày thay cho các loại thực phẩm giàu chất đạm khác như thịt. ốc bông Cypraea.. ốc xà cừ Turbo. ta thấy tiềm năng nguồn gen của sinh vật đáy của vùng biển quanh các đảo của quần đảo Hòn Mê rất phong phú.Về giá trị thương mại: ngoài giá trị thực phẩm thông thường. trứng. vẹm xanh Myrilus viridis.. kết quả còn nhiều hạn chế do không có khả năng tổ chức khảo sát bằng lưới vét các vùng biển xa bờ xung quanh quần đảo này. . Nhiều loài còn có giá trị làm đồ mỹ nghệ như để khảm xà cừ như bào ngư.Các loài có giá trị kinh tế: Xét về mặt kinh tế. ốc hương Babylonia areolata. nuôi và xuất khẩu. đặc biệt là thân mềm với 95 loài. . hàu Ostrea spp. ốc đĩa Nerita albicilla.. ốc đụn.Về giá trị thực phẩm: đáng chú ý hơn cả là các loài thuộc bộ giáp xác mười chân (Decapoda).. Hầu hết các loài sống bám cố định vào các khe đá nhờ các chân tơ tạo thành các quần thể hoặc các đám nhỏ. ốc hương (Babylonia areolata) nên chúng vầ là những đối tượng được khai thác. để bán cho khách du lịch trong nước và quốc tế.. đa dạng... tôm hùm (Palinurus). Các đại diện điển hình: Mytilus edulis. ốc đụn Tectus pyramis. độc đáo như ốc đụn Trochus. một số loài thuộc lớp biện mang (Eulamellibranchia). thu mua của các cơ sở làm đồ mỹ nghệ.. động vật đáy có thể chia ra các nhóm khác nhau. . Pinna spp. các loài ốc như bào ngư Haliotis ovina.. sò (Anadara antiquata). Tiềm năng nguồn lợi động vật đáy: . Vì vậy chúng là những đối tượng khai thác. ốc gai Muricidae.. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Hòn Mát – Nghệ An . đáng chú ý hơn cả là giá trị thực phẩm. ốc tù và Hemifusus tuba. bàn mai Pinna spp. Một số loài khác còn có giá trị mỹ nghệ trực tiếp nhờ hình thù kỳ dị.. Pinctada margaritifera.7. vì vậy trong danh mục còn vắng mặt nhiều loài giáp xác và thân mềm có giá trị (ví dụ ốc hương Babylonia).

Hòn Chùa nên đã hình thành các ngư trường với trữ lượng 10 vạn tấn hải sản các loại. Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu đề cập đến nguồn lợi cũng như đặc trưng về sinh vật đáy vùng biển quanh đảo Hòn La.04 km ở phía Đông với 5 cửa sông. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Hòn La – Quảng Bình Tỉnh có bờ biển dài 116. Hòn Chùa có thể cho phép tàu 3-5 vạn tấn vào cảng mà không cần nạo vét. có cảng Nhật Lệ.9. trong đó có hai cửa sông lớn.Quảng Trị Đỗ Văn Khương và ctv. có độ sâu trên 15 mét và xung quanh có các đảo che chắn: Hòn La. Ngoài khơi lại có các đảo Hòn La. Hòn Gió. hải sâm. cảng Hòn La. Hòn Cỏ. Trên đất liền có diện tích khá rộng (trên 400 ha) thuận lợi cho việc xây dựng khu công nghiệp gắn với cảng biển nước sâu Quảng Bình có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 2 vạn km². Bảng 7: Thành phần loài phân bố của lớp sao biển. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Cồn Cỏ . 2. Hòn Nồm. hải sâm. sao biển của nhóm da gai tại Cồn Cỏ gồm có 5 bộ. 2. 2008 đã xác định được thành phần loài phân bố của lớp cầu gai. 8 họ và 14 loài (bảng 7). cầu gai trên vùng rạn san hô Cồn Cỏ Lớp Bộ Spinulosida Sao biển Valvatida Hai Sâm Aspidochirotida Họ Acanthasteridae Echinasteridae Oreasteridae Ophidiasteridae Holothuridae Loài Acanthaster planci Echinaster luzonicus Culcita novaeguineae Linckia laevigata Linckia multifora Holothuroidea Holothuria atra Holothuria edulis Holothuria hilla . cảng Gianh.Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu tổng hợp về động vật đáy tại khu vực đảo Hòn Mát – Nghệ An. Hòn Cọ. Vịnh Hòn La có diện tích mặt nước 4 km2.8.

mật độ động vật đáy tại cũng phụ thuộc chủ yếu vào mật độ cầu gai đen. 9 họ và 17 loài. gai ngắn và thường sống trong lỗ và chưa được khai thác do không có giá trị kinh tế. gai dài.Stichopodidae Cầu Gai Aulodonta Camarodonta Diađematidae Echinometridae Holothuria impatiens Stichopus chloronotus Echinothrix calamaris Echinothrix diadema Echinostrephus aciculatus Phân bố thành phần loài của nhóm nhuyễn thể được thể hiện trên bảng 8. Bảng 8: Thành phần phân bố nhuyễn thể trên vùng rạn san hô tại Cồn Cỏ Lớp Bộ Ostreoida Họ Gryphaeidae Ostreidae Isognomonidae Pinnidae Pterioida Pteriidae Loài Hyotissa imbricata Ostrea circumpicta Isognomom isognomum Pinna bicolor Atrina vexillum Pinna albina Pinctada margaritifera Pinctada sp Pinctada fucata martensii Peria breviata Tectus pyramis Trochus maculatus form vevoucocus Trochus maculatus Astralium okamotoi Turbo chrysostomus Chicoreus (Triplix) brumeus Cypraea sp Bivalvia Vetigastropoda Trochidae Gastropoda Neogastropoda Discopoda Turbinellidae Muricidae Cypraeidae Cồn Cỏ có vị trí quan trọng. Tuy nhiên thì mật độ cầu gai đen tại hai đảo này có sự khác biệt. là nơi tiếp giáp giữa hai vùng biển Vịnh Bắc bộ và vùng biển miền Trung. Thành phần của nhóm nhuyễn thể bao gồm 2 lớp. Cầu gai đen tại Phú quốc là loài cầu gai Diadema setosum là loài có kích thước to. Còn tại Cồn Cỏ là loài cầu gai Echinostrephus aciculatus. 5 bộ. đây là loài cầu gai đen nhỏ. Hình ảnh hai loài cầu gai này được chúng tôi thể hiện trên hình 4. có khả năng làm thức ăn cho con người (trứng trong mùa sinh sản của loài này có giá trị dinh dưỡng rất cao và được một số thực khách rất ưu chuộng). Cũng như mật độ nhóm động vật đáy không xương sống vùng rạn tại Phú Quốc. .

727 0 S ao b iÓ n 1.727 0. 550 500 450 400 350 300 250 200 150 100 50 0 2 Tru n g b× n h (c o n /5 0 0 m ) N¨m 2 0 0 7 :5 5 6 .182 0 0.5 0 0 H¶i s © m T«m CÇ ug ai CÇ ug ai b ¸c s Ü ® e n b ó t ch × 0. Sau 2 năm nghiên cứu mật độ phân bố hải sâm dao .Hình 4: Cầu gai đen Diadema setosum tại Phú Quốc và Echinostrephus aciculatus tại Cồn Cỏ Giá trị biến thiên của nhóm động vật đáy tại hệ sinh thái rạn san hô Cồn Cỏ với các chỉ tiêu nghiên cứu được nhóm nghiên cứu chúng tôi thể hiện trên hình 5.182 0 T«m h ïm Trai tai èc ® ôn è c tï vµ t­ î n g Hình 5: Biểu đồ biến động mật độ nhóm động vật không xương sống Cồn Cỏ Qua biểu đồ biến động mật độ động vật đáy tại Cồn Cỏ và giá trị trung bình năm cho thấy. bởi hải sâm phân bố tại đây có những loài giá trị kinh tế cao và phân bố với mật độ nhiều như loài hải sâm Stichopus chloronotus còn xuất hiện trên mặt cắt khảo sát.7 5 547 N¨m 2007 N¨m 2008 252 7.8 2 N¨m 2 0 0 8 :2 5 2 .25 0 0. Trong các chỉ tiêu nghiên cứu trên thì giá trị hải sâm tại đây cho thấy những điều bi quan nhất. các chỉ số của các nhóm loài đều giảm so với năm trước.

động từ 7. tại đây có loài hải sâm Stichopus chloronotus có giá trị trên thị trường và được ngư dân khai thác nhiều và nhất là ngư dân khai thác bằng nghề lặn. một phần được mang lên đảo phơi khô. song đều đánh giá rằng vùng này có đa dạng sinh học khá cao. nhưng lại có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như tôm hùm Panulirus spp.Ngành thân mềm nhiều loài nhất có 65 loài chiếm 59. Tại Cồn Cỏ không chỉ có ngư dân trong tỉnh Quảng Trị khai thác mà còn có các ngư dân tại các vùng lân cận như Quảng Bình. nơi được coi là vùng cửa của vịnh Bắc Bộ. các loài hải sâm holothuria (4 loài).727 xuống còn 0. . ốc cối conus. ốc bàn tay Lambis lambis. .. trai ngọc môi đen Pinctada margaritifera.09%. ốc bông Cypraea spp. Cùng với các hệ sinh thái giàu tiềm năng trên đất liều là Vườn Quốc Gia Bạch Mã. cũng tham gia khai thác. (có 2 loài). .18%..Ngành da gai Echinodermata có 15 loài chiếm 13. Quảng Ngãi. các hệ sinh thái biển đặc thù ở Hải Vân-Sơn Trà đóng vai trò rất quan trọng về sinh thái và tài nguyên cho vùng trung bộ của nước ta. đặc biệt có hệ sinh thái san hô phát triển khá tốt ở ngay bờ lục địa là đèo Hải Vân.. ốc tù và Cymatium. Các cuộc điều tra khảo sát về đa dạng sinh học biển cho tới nay ở vùng này tuy còn rất ít.5 con/500m2. có điều kiện tự nhiên và hải dương sinh vật độc đáo. bàn mai pinna.10. Đã phát hiện được 110 loài động vật đáy cỡ lớn trong đó: . chịu ảnh hưởng chi phối của cả vịnh Bắc Bộ và biển ngoài.Ngành giun đốt Annelida có 9 loài chiếm 8.18% . bào ngư haliotis ovina.Ngành hải miên Spongia có 1 loài chiếm 0. Sự phân bố của động vật đáy trên các sinh cảnh theo độ sâu thể hiện sự phân đới rõ: . Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Sơn Trà – Hải Vân Vùng biển của đảo Sơn Trà và núi đèo Hải Vân nằm ở phía nam của tỉnh Thừa Thiên Huế.Ngành chân đốt Arthropoda có 20 loài chiếm 18.64%. Tectus pyramis. 2. sau khi khai thác phần lớn chúng được bán cho các thuyền thu mua trên biển.91%. ốc đụn Trochus niloticus. Từ những số liệu thực tế cho chúng ta thấy rằng sự suy giảm nguồn lợi động vật đáy tại đây đang ở mức báo động nếu như chúng ta không có những quy hoạch trong việc bảo vệ loài và hệ sinh thái loài tại nơi đây. Nhìn chung thành phần loài động vật đáy phát hiện chưa nhiều do điều tra còn ít.

sinh vật đáy luôn luôn là đối tượng được khai thác thường xuyên. Vì vậy. liên tục của các cộng đồng cư dân ven biển.3 6.11.Vùng triều ở khu vực khảo sát tương đối nhỏ hẹp do tính chất thủy triều bán nhật triều có biên độ nhỏ.4 4741. Trong thành phần định lượng ưu thế thuộc về thân mềm.27 86.7 12. . mật độ tới 100 – 500 con/m3. P..6 68.7 8. Có 4 loài tôm hùm: Panulirus longipes. thảm cỏ biển và các rạn đá có nhiều thức ăn và nơi trú ẩn.25 3. Các loài động vật đáy kinh tế ở vùng biển này cũng đang được khai thác rất mạnh để tiêu dùng và xuất khẩu. P. đây là nguồn thức ăn phong phú cho cá và các loài giáp xác lớn sống trong rạn và lân cận.5 2. Bảng 9: Sinh vật lượng động vật đáy ở khu vực đảo Sơn Trà Sinh vật lượng Tỷ lệ % Con/kg đáy mg/kg đáy Mật độ Khối lượng Giun đốt 1. sau đó là hải sâm.50 1.45 Da gai 0. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Cù Lao Chàm – Quảng Nam . Tôm hùm nhỏ còn được nuôi giữ trong lồng tới khi đạt kích thước xuất khẩu. nguồn lợi tự nhiên trong vùng càng bị suy kiệt do khai thác quá mức.1 4098.88 0. Các nghiên cứu sinh vật lượng động vật đáy sống trong rạn san hô chết cho các giá trị lớn rất đáng chú ý. môi trường sống thuận lợi như cá rạn san hô.Sinh vật đáy vùng dưới triều phong phú hơn về thành phần loài do có sinh cảnh đa dạng. .0 100 100 Cũng như nhiều vùng khác ở ven bờ biển nước ta.41 Hải miên 402. omatus. 2.49 Thân mềm 7. tập trung nhất vào tôm hùm và trai ốc.7 166. Sinh vật đáy phân bố tập trung đông đúc trên bãi triều đá. Có 2 loại sinh cảnh bãi là bãi đá và bãi cát. Ở vùng triều cát có sinh vật nghèo nàn hơn nhiều.14 Tổng cộng 10.5 16.Giáp xác: Từ trước đến nay các nghiên cứu không chú trọng mấy tới nhóm động vật này. nhóm ưu thế là cua và hai mảnh vỏ. nhiều loài đang trong tình trạng tuyệt giống nếu không có biện pháp bảo vệ kịp thời.81 Giáp xác 1.3 66.

P. bao gồm sao biển gai. Pinctada margaritifera là loài đông đúc nhật tại tất cả các rạn. nhím biển và hải sâm được ghi nhận tương đối thấp. Các cuộc khảo sát về chất lượng tài nguyên tại Bãi Da Ban và Vũng Cay Chanh (Đông Cù Lao Chàm) ghi nhận được một số cá thể loài Haliotis ovina và Haliotis varia trong khi Testus pyramis được tìm thấy với số lượng nhiều.10).7) cá thể 400m 2 (từ 1. stimpsoni và P.3 cá thể 400m-2 và con số này cao hơn so với số lượng loài này ở hầu hết các vùng duyên hải khác ở Việt Nam. Mật độ trung bình của Testus pyramis dưới 1 cá thể 400m-2 trong khi haliotis spp. Tôm san hô Stenopus hispidus vắng bóng ở tất cả các địa điểm. với mật độ trung bình là 4. Trong đó tôm hùm ornate được xem là loài quan trọng vì nhu cầu làm thực phẩm và nuôi trồng thủy sản. từ 3.Tôm hùm. và top shell vắng bóng hoặc rất hiếm ở tất cả các điểm khảo sát. chỉ được ghi nhận như một loài tại một vài điểm. Holothuria edulis và Holothuria atra là những loài phổ biến tại hầu hết các rạn sa hô. versicolor đã trở lên phổ biến ở vùng biển Cù Lao Chàm. Mật độ loài Atrina vexillum có từ 0. . Bãi Bắc.3.4 cá thể 400m -2 với số lượng nhiều nhất tìm thấy ở vũng Da Den – Bắc Hòn Tai và Vũng Rang – Bắc Hòn Lá.e = 0.Mật độ của các loài động vật da gai chỉ thị. Mật độ trung bình là 2. Diadema setosum. chỉ giá trung bình là 4. . Các dữ liệu thu thập được tại 15 điểm khảo sát cho thấy mật độ tôm hùm thấp. . versicolor và 1 loài cua Charybdis feriata được tìm thấy trên các rạn san hô thuộc Cù Lao Chàm. với mật độ trung bình là 1. Nhím biển Diadema setosum xuất hiện với số lượng khá thấp.Động vật da gai: Khoảng 16 loài thuộc 9 giống và 8 họ da gai được ghi nhận tại Cù Lao Chàm. Vung Ran. Hòn Tai). Acanthaster planci được tìm thấy ở tất cả các điểm khảo sát. gồm có Parulirus longipes.0 .5 – .1 cá thể 400m-2 được tìm thấy tại một số khảo sát (Hòn Co. Hòn Giài. Pinana bicolor có từ 1-16 cá thể 400m2. trung bình là 1. Các tôm hùm trưởng thành và post settled được khai thác làm thức ăn và nuôi và vì vậy nên đang tiến hành mức độ bị khai thác cạn kiệt trong khu vực.5-6 cá thể 400m-2. . hầu hết là ở kích ỡ nhỏ. ornatus. Tridacna squamosa được tìm thấy ở hầu hết các điểm khảo sát.4 (s. Bào ngư haliotis spp. Đây là những loài kinh tế quan trọng đối với ngư dân địa phương. Sao biển gai Acanthaster planci và nhím biển Diadema được ghi nhận là có số lượng lớn trên một số rạn. P.stimpsoni và P.Mật độ của các loài chiếm ưu thế xét theo tầm quan trọng về tài nguyên và sinh thái nhìn chung được ghi nhận là tương đối thấp. Acanthaster planci.

Đông Bắc Hòn Giài và Vũng Cay Chanh – Tây Hòn Mồ. nhưng rất nhạy cảm. Những khu vực này cung cấp số lượng nhiều các nguồn tài nguyên chiếm ưu thế hơn như là động vật thân mềm.Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo (Tổng cục Biển và Hải đảo VN). tôm hùm và hải sâm hơn ở các khu vực khác. nâng cao mức sống người dân có tầm quan trọng đặc biệt. Sự đa dạng của hệ sinh thái vùng biển và hệ sinh thái đảo Lý Sơn là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá. Vũng Cay Chanh – Tây Hòn Mồ và nam Hòn Co cung cấp số lượng nhiều nhất. ở nước ta các hệ sinh thái và đa dạng sinh học biển đóng góp rất lớn vào việc phát triển kinh tế . các địa điểm có nhiều loài và mật độ cao các sinh vật lớn tầng đáy. Đặc biệt. dễ bị biến động và suy thoái. xây dựng các luận cứ khoa học đề xuất dự án khu bảo tồn biển đảo Lý Sơn”. trai tai tượng. rạn san hô và cỏ biển là hai kiểu hệ sinh thái đặc trưng với rất nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao và một số loài quí hiếm như san hô xanh. ít nhất là 44 cá thể. đào tạo. xóa đói giảm nghèo. 2.xã hội thông qua bảo đảm an ninh lương thực. nâng cao đời sống và nhận thức của nhân dân. để khai thác hiệu quả những tiềm năng ấy phục vụ phát triển du lịch trên đảo Lý Sơn đòi hỏi phải dựa trên những căn cứ khoa học.79 cá thể 400m-2. Vũng Ben Lang.12. trong đó Sung Ben – Tây bắc Hòn Giài. chuyển đổi nghề nghiệp. . bào ngư. phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn. Riêng tại vùng biển đảo Lý Sơn. duy trì nguồn gen và cung cấp nguyên liệu để sản xuất nhiều loại thuốc. Do vậy. Vũng Nhan – Đông Cù Lao Chàm. qua 2 đợt khảo sát của Viện Nghiên cứu quản lý biển và hải đảo cho thấy hệ sinh thái biển ở đảo Lý Sơn đã bị suy giảm nghiêm trọng. Bãi Dâu Tai và Bãi Bắc hơn là các khu vực khác. Vũng Rang – Bắc Hòn Lá. san hô đen. Hòn Giài. Loài hải sâm ăn được vắng bóng ở hầu hết các rạn trong khi đó các loài không ăn được Holothuria edulis và Holothuria atra xuất hiện với số lượng khá nhiều ở nam Hòn Co. mang tính hủy diệt song hành với quy hoạch phát triển kinh tế. ít số lượng của Acanthaster planci là chủ yếu ở xung quanh hòn Mồ. nâng cao nhận thức của người dân trong bảo vệ hệ sinh thái biển. Theo PGSTS Vũ Thanh Ca . . Tuy nhiên. chống các hình thức đánh bắt cạn kiệt.Nói chung. việc tuyên truyền. xã hội hợp lý. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Lý Sơn – Quảng Ngãi Hội thảo nhằm “Điều tra đánh giá hiện trạng các hệ sinh thái.

cá.704 ha) so với diện tích các vùng rạn trên 10 vùng biển khác (vùng biển Cô Tô 369. độ phủ và chất lượng của các hệ sinh thái cũng đang có chiều hướng suy thoái. Phú Quý 1488 ha. 2001). Côn Đảo 903 ha và Phú Quốc 220 ha) (Đỗ Văn Khương và ctv. đặc hữu hoặc có giá trị kinh tế cao đang dần bị suy giảm. do ảnh hưởng của các hoạt động phát triển kinh tế . phát triển và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên biển. theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hải sản (20052007). vùng triều tại Lý Sơn đang có xu hướng bị thu hẹp diện tích. . có ý nghĩa thực tiễn và khoa học cao.). hải sâm. Tiềm năng bảo tồn biển: Qua tìm hiểu và tổng hợp sơ lược các kết quả nghiên cứu từ trước tới nay cho thấy khu vực biển đảo Lý Sơn là khu vực có có nhiều tiềm năng bảo tồn như: các điều kiện tư nhiên của vùng bển thuận lợi cho sinh vật phát triển (độ muối tương đối cao.Hệ sinh thái rạn san hô biển Lý Sơn có tổng số 107 loài san hô cứng phân bố (Latypov. đa dạng sinh học bị giảm sút trong những năm gần đây. ghẹ. cá mú. thực vật phù du 168 loài. Thảm rong cỏ biển trong vùng biển này được đánh giá là có diện tích và trữ lượng tương đối lớn.000 tấn tươi/năm. 2008). khai thác quá mức nguồn lợi. Với mục đích bảo tồn. khoa học (như rùa biển. chất lượng nước chưa bị ô nhiễm. giáp xác 39 loài (Đỗ Công Thung. da gai 27 loài. Hệ sinh thái rong . 2001). tạo nguồn thức ăn. cua biển. điệp. như cá rạn 98 loài (Lại Duy Phương và ctv.cỏ biển Lý Sơn có vai trò quan trọng trong hoạt động điều chỉnh. 2008). Bạch Long Vĩ 1. cá ngựa. có giá trị kinh tế cao như tôm hùm. nơi cư trú lý tưởng cho nhiều loài sinh vật biển có giá trị kinh tế. 79 loài/nhóm loài động vật phù du (Nguyễn Dương Thạo.. Trong đó có nhiều loài hải sản quý hiếm.. Cồn Cỏ 274 ha. .cỏ biển phân bố ở vùng biển Lý Sơn.. Nam Yết 250 ha. Vịnh Nha Trang 731 ha.xã hội. 2001). động vật đáy. Nhiều loài quí hiếm.8 ha. cua. Cù Lao Chàm 116 ha. thân mềm. thân mềm 47 loài (Nguyễn Huy Yết và ctv. có khoảng 20 loài có giá trị kinh tế có trữ lượng ước tính gần 1. Trong thành phần rong biển đảo Lý Sơn. việc thành lập Khu bảo tồn biển đảo Lý Sơn là rất cần thiết. cá thu. các tác động tiêu cực lên môi trường ở vùng gần bờ dẫn đến các hệ sinh thái điển hình như san hô. Những nhóm loài sinh vật phân bố trong hệ sinh thái rạn vùng biển này rất đa dạng. vẹm xanh. mực.. hải sâm. tôm . Tuy nhiên. Các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đại & Phạm Hữu Trí (2006) đã xác định có 161 loài rong .578 ha. 1995 và Võ Sĩ Tuấn 2003) và được đánh giá là có diện tích lớn nhất (1. ổn định môi trường sống.

. Oxycomanthus bennetti (Muller. x . . 1890) Comasteridae Comanthus parvicirrus (Muller. Phanogenia sp. . . 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 .chất đáy chủ yếu là đá gốc. . . Nghiên cứu đã đưa ra kết quả về khu hệ động vật đáy tại khu bảo tồn biển Hòn Mun được trình bày dưới bảng 10. . nghiên cứu về khu hệ động vật đáy khu bảo tồn Hòn Mum. Bảng 10: Thành phần loài nhóm động vật da gai phân bố tại Hòn Mun-Nha Trang Huệ biển (Crinoidea) Himerometridae Himerometra robustipinna (Carpenter. Là khu vực cung cấp nguồn giống cho vùng biển lân cận. 1841) Comaster sp. 1841) Sao biển (Asteroidea) Acanthasteridae Acanthaster planci (Linnaeus. . . x + . nguồn lợi sinh vật đang ngày càng có xu hướng bị suy giảm. + . . + + + ++ + . Vì vậy. x . . + ++ ++ x ++ x . . . . Việc quy hoạch vùng này thành khu bảo tồn biển với các chức năng nhiệm vụ rõ ràng cần phải nhanh chóng được hoàn thiện. . . . 1881) Mariametridae Stephanometra sp. đa dạng sinh học. .13. . 2006. Nhưng do nhiều lý do khác nhau. . ++ ++ ++ + . đây là công trình nghiên cứu mới nhất về động vật đáy cỡ lớn tại khu bảo tồn biển Việt Nam. Colobometridae Cenometra bella ( Hartlaub. + . + . . + + + x . . cát thuận lợi cho rạn san hô và thảm rong . . . Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở khu vực vịnh Nha Trang Oyvind Fjukmoen. yêu cầu về bảo tồn. 1758) + ++ ++ x ++ x . Một nghiên cứu mà có phương pháp nghiên cứu giống với chúng ta nhất tuy nhiên thì nghiên cứu này lại không nằm trong các vùng mà chúng ta tập trung nghiên cứu. Tính đa dạng sinh học cao. hay nói cách khác là tiềm năng bảo tồn ở khu vực là rất cao. x . . + . khoa. ++ + . 2. . . . . có giá trị kinh tế. . ++ . x .cỏ biển phát triển). . . 1758) Ophidiasteridae Linckia laevigata (Linnaeus. đảm bảo năng suất sinh học cho vùng nước quanh đảo. . + . .

. 1758) Toxopneustidae Toxopneustes pileolus (Lamarck. . + . . . . . 1845) Hải Sâm (HOLOTHUROIDEA) Actinopyga sp. . . . . . . . + + . . . . . . . . . + + x + x x . . . . . . Đôi rắn (Ophiuroidea) Ophiotrichidae Macrophiothrix sp. . . . . 1816) Ophiomastix annulosa (Lamarck. . . . . + + x . . + . x x . . . . . x . . . + x . . 1835) Pearsonothuria graeffei (Semper. . ++ . . 1883 Astropecten sp. . . x x . . 1910 Pterasteridae Euretaster insignis (Slade. . . . . . . . . 1758) Astropectinidae Astropecten monacanthus Sladen. . . . x . . . . . . x x + . . . . . Holothuria (Mertensiothuria) leucospilota (Brandt. . x + . . . x ++ ++ + . . 1869 Culcita novaeguineae Muller & Troschel. 1774) Echinohtrix diadema (Linnaeus. . . . +++ ++ +++ ++ ++ +++ . x x . . . + + x + + + . . . . + . . . . . . Ophiocomidae Ophiocoma scolopendrina (Lamarck. 1842 Protoreaster nodosus (Linnaeus. . . x . . . Loveniidae Lovenia elongata (Gray. . . x x x . 1833) Synaptidae . . . . 1868) Stichopodidae Stichopus chloronotus Brandt. . . . . 1816) Cầu gai (ECHINOIDEA) Diadematidae Diadema savignyi Michelin. . . . + . . .Nardoa frianti Koehler. . 1845 Diadema setosum (Leske. . . . . x . 1882) Oreasteridae Choriaster granulatus Lutken. 1778) Echinothrix calamaris (Pallas. x . . . . . . . 1758) Clypeasteridae Clypeaster sp. x . . . x . x . . . . x x . . . . x . . . . . . + . . . . . x . 1816) Tripneustes gratilla (Linnaeus. . . . . 1835 Thelenota ananas (Jaeger. .

mặc dù đã tiến hành các đợt tiêu diệt trước các tuyến khảo sát năm 2002. da gai (hải sâm) và các loài giáp xác (tôm hùm Panulirus) tồn tại ở mức hiếm ở tất cả các điểm. . . Nguyên nhân có thể xuất phát từ chương trình điều chỉnh được tổ chức bởi ban quản lý KBTB. + . . . . + . Nguồn sản phẩm này có thể được khai thác tại địa phương khác hoặc có khả năng nhập khẩu từ Philippine hoặc các nơi khác về. Số lượng các loài ốc đụn (Trochus). 2006) Ghi chú: X: Quan sát một lần: ++: 6-30 cá thể/400m2 +++: Trên 30 cá thể/400m2 Độ phong phú của cá. Sự biến mất của loài trai lớn Tridacna maxima và độ phong phú của loài tôm bác sĩ có thể đã phản ánh áp lực khai thác liên tục vì mục đích thực phẩm và buôn cá cảnh. các ngư dân lặn ống khai thác các loài động vật không xương sống trong đó có các loài trai. các loài cá kinh tế. các động vật thân mềm và giáp xác trên phạm vi toàn KBTB và tại hầu hết các điểm giám sát mặc dù giảm ở mức không ý nghĩa ngoại trừ điểm Hòn Vung. động vật không xương sống. . mật độ các loài chỉ thị phụ thuộc nhóm động vật không xương sống theo phương pháp reefcheck biến đổi lớn. tôm hùm panulirus spp. . . Tại tất cả các điểm. Dendrochirotida sp + + . trai tai tượng Tridacna spp. . các loài có giá trị kinh tế chính (các loài hải sâm biển ăn được. .) rất hiếm hoặc không phát hiện thấy tại các điểm giám sát là dấu hiệu rõ ràng chứng tỏ hoạt động khai thác quá mức đã diễn ra rất thường ở các vùng nước của KBTB. . ốc tại bãi Nghéo ngay trước khi các cán bộ khoa học tiến hành chuyến khảo sát năm 2005. Loài ốc tù và được sử dụng nhiều để làm hàng lưu niệm ở cảng Cầu Đá. Nguyên nhân có khả năng xuất phát từ áp lực của hoạt động đánh bắt liên tục và có lẽ nguồn bổ sung ít. . ++ ++ + . Phân bố của động vật không xương sống: Năm 2002: So sánh giữa các điểm giám sát. 1821) Synaptidae indet. + + . Tuy nhiên. . Cầu gai đen (Diadema spp. Trái lại. độ phong phú của ốc đụn đã tăng từ 2002-2005 trong khi sao biển gai ăn san hô lại giảm. .6 cá thể/m 2) và ở Bãi Bằng đạt thấp nhất (7 cá thể/m2). x Nguồn: (Oyvind Fjukmoen.. . Ví dụ. Mật độ ở Hòn Tằm cao nhất (77.Synapta maculata (Chamisso & Eysenhardt. Sao biển gai (Acanthaster planci) là loài Sao biển phổ biến nhất vẫn phát hiện ở một số điểm với mật độ dao động từ 1 – 3 cá thể/m 2. .) chiếm đa số so với các loài động vật không xương sống khác.

291138 0.Giai đoạn: 2002-2005: Độ phong phú của một số động vật không xương sống đã suy giảm trên phạm vi KBTB từ năm 2002-2005. KBTB vịnh Nha Trang. hiện tượng số lượng .378971 2002-04 5.996731 17. hải sâm biển từ 1 – 11 cá thể. vì rằng hầu như tất cả động vật không xương sống hiện diện ở đây đều là các loài da gai (hình 6) và hầu như tất cả là các loài cầu gai đen (hình 6). giá trị tới hạn 3. Hình 6: Độ phong phú trung bình của tất cả các động vật không xương sống chọn lựa (ngoại trừ sao biển gai). cả bên trong và bên ngoài vùng lõi đều ở mức không có ý nghĩa (hình 15-17) Các loài bị khai thác như ốc Đụn (Trochus). đã chứng tỏ độ phong phú của chúng trong KBTB là cực thấp. Hình 7-9). Hải sâm và tôm hùm rạn Panulirus rất hiếm gặp ở tất cả các mặt cắt (Bảng 12. tất cả các loài Da gai và cầu gai đen trên 100m2 diện tích mặt cắt. 2002-2005 Bảng 11: Sự biến đổi độ phong phú của Cầu gai Diadema qua các năm 2002-2005 trong KBTB vịnh Nha Trang theo phương pháp phân tích biến đơn yếu tố (độ tự do 1. Độ phong phú của giống Diadema giảm ở mức có ý nghĩa từ năm 2002-2004.998256 Sự khác nhau về độ phong phú của các nhóm cực hiếm theo thời gian. Tuy nhiên.76879 < 0.00001 0.0005 2002-05 0. nhưng các năm khác thì không (bảng 11).779515 0. Xu hướng này xuất phát từ sự thay đổi độ phong phú của Cầu gai đen Diadema. Tổng số lượng tôm hùm đếm được dao động từ 0-3 cá thể.9) Năm MS F Giá trị P 2002-03 0. trong đó suy giảm rõ rệt nhất từ 2002-2004 và tăng lên từ 2004-2005 (hình 6).000005 0.

loài rất có giá trị trong ngành buôn cá cảnh. và trong chuyến khảo sát năm 2005 đã không tìm thấy bất kỳ cá thể nào. Số lượng loài tôm bác sĩ Stenopus hispidus. vố đã cấm đánh bắt vẫn tiếp tục giảm. Ốc tù và Charonia tritonis dùng làm hàng mỹ nghệ. Bảng 12: Số lượng cá thể của một số loài động vật không xương sống chọn lựa ghi nhận được trong KBTB vịnh Nha Trang tại 8 điểm giám sát từ 2002-2005 . trai tai tượng Tridacna maxima và các loài cầu gai bút chì Heterocentrotus mammilatus và Eucidaris spp. không phát hiện thấy qua tất cả các chuyến khảo sát trong 4 năm (bảng 11).ốc đụn Trochus tăng nhẹ trong toàn bộ chuyến khảo sát (tổng số từ 3 – 16 cá thể) và số lượng Sao biển gai giảm có thể là kết quả của các chương trình kiểm soát được tổ chức bởi Ban quản lý KBTB.

Trai Hình 9: Độ phong phú trung bình của nhóm giáp xác bao gồm cả nhóm tôm hùm rạn bị khai thác Panulirus trên 100m 2 diện tích mặt cắt. Ghi chú: Mean abundance – Độ phong phú trung bình. 2002-2005.Độ phong phú trung bình. KBTB vịnh Nha Trang. Sea cucumber: hải sâm Hình 8: Độ phong phú trung bình của nhóm thân mềm bao gồm các nhóm khai thác như ốc đụn Trochus và trai tai tượng Tridacna trên 100m2 diện tích mặt cắt. KBTB vịnh Nha Trang. Trochus Ốc đụn. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Nam Yết – Khánh Hòa . Molluscs – Thân mềm. Clams . Crustaceans – Giáp xác. Ghi chú: mean abundance .Hình 7: Độ phong phú trung bình của sao biển gai và hải sâm biển trên 100m2 diện tích mặt cắt. Lobsters – Tôm hùm 2. Ghi chú: Mean abundace: độ phong phú trung bình. COTS: sao biển gai. 2002-2005.14. KBTB vịnh Nha Trang. 2002-2005.

chiếm tới 61% số loài giáp xác.Thân mềm: Tổng số có 119 loài thuộc 71 giống và 42 họ thân mềm thuộc lớp chân bụng (Gastropoda) và hai mảnh vỏ (Bivalvia) đã được xác định trên rạn san hô trong vùng biển xung quanh Cù Lao Cau. . 1995).Bình Thuận . Lăng Văn Kẻng.Da gai: là nhóm sinh vật đáy có số loài đã được phát hiện nghèo nàn hơn cả. lớp chân đầu Cephalopoda 2 loài và lớp song kinh Amphineuura 1 loài (Lăng Văn Kẻng. 11 họ của 2 lớp giun nhiều tơ và tay cuốn. 2. rong biển. 1995). mặc dù sinh vật lượng của chúng cao nhờ vào kích thước lớn. cá san hô. Nhiều hơn cả là họ cua bơi (Portunidae) cũng chỉ có 6 giống (8%). 14 họ. tiếp đến là lớp hải sâm: 5 loài. thực vật trên cạn. đuôi rắn 2 loài và huệ biển 1 loài. 8 bộ. 5 lớp. Phong phú hơn cả là lớp Gastropoda với 220 loài. 9 giống. Các họ khác có số loài ít hơn nhiều. trong các tảng san hô chết trên rạn (Phạm Đình Trọng. 1994. Cypraeidae (8 loài).Thân mềm: Thân mềm là nhóm sinh vật đáy có số loài phong phú nhất. 1995). Trochidae (7 loài). 1995). Phạm Đình Trọng. dòng chảy. . Các loài giun này đều phân bố trên rạn san hô. và các loài thuộc nhóm sinh vật ít di chuyển. 1991. Phong phú hơn cả là lớp sao biển: 9 loài. Cho đến nay đã phát hiện được 122 loài thuộc 71 giống. Conidae (11 loài). Các loài có phân bố rộng và thường gặp trên phần lớn các rạn san hô trong . một khu vực nào đo như các loài sinh vật đáy. 1-10%. 51 họ. . Tổng số đã phát hiện được 271 loài thuộc 97 giống. 8 bộ của lớp thân mềm. nhím biển 4 loài. Các họ có số lượng loài phong phú gồm họ Muricidae (13 loài). Arcidae (6 loài). 56 giống. . có sự phân bố rộng theo không gian và thời gian phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như nhiệt độ.15. 13 loài (10%) (CaiYixiong at al.Giun đốt: Cho đến nay mới phát hiện được 23 loài thuộc 16 giống.Trong thành phần loài của khu hệ sinh vật biển của quần đảo trường sa có thể tách thành 2 nhóm có đặc điểm phân bố khác nhau: nhóm loài di động xa. 5 họ. Cymatidae và Strombidae mỗi họ 5 loài. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Hòn Cau . gắn với một đảo. tiếp đến là lớp hai mảnh vỏ Bivalvia 50 loài. 13 họ.Giáp xác: Là nhóm sinh vật đáy có số loài phong phú thứ hai sau thân mềm.. động. Nhìn chung các con số này chưa phản ánh đầy đủ thành phần loài và sự đa dạng của chúng trên rạn san hô (Đào Tấn Hổ. Trong đó phong phú hơn cả là họ cua quạt (Xanthidae) với 75 loài.. Cho đến nay mới phát hiện và thống kê được 20 loài thuộc 20 giống.

và hải sâm Holothuria spp. chiếm ưu thế với mật độ trung bình 24.5 con/100m 2. Nhìn chung.3 – 110. trong đó chủ yếu là 2 loài Tridacna squamosa và Tridacna crocea. trong đó khu vực phía đông và đông bắc Cù Lao Cau có số lượng loài cao hơn (từ 7 – 10 loài) so với phía đông bắc và tây nam. Nhìn chung. cao hơn nhiều so với khu vực bãi cạn Breda (từ 1. dao động từ 4 – 18 loài. Drupella conus. Tripnuestes gratilla (họ Toxopneustidae) và Acanthaster planci (họ Acanthasteridae). ngoại trừ họ Hải sâm (5 loài) và họ cầu gai (Diadematidae 3 loài). . Phân bố mật độ động vật không xương sống kích thước lớn : Mật độ tổng số của các nhóm động vật không xương sống (ĐVKXS) kích thước lớn theo Reefcheck tại 10 điểm khảo sát vào năm 2006 dao động từ 1.8 con/100m 2) và vùng ven bờ (từ 1.5 con/100m 2. . trong đó có nhiều loài quan trọng và có giá trị kinh tế cao.4 con/100m2). Số lượng loài ghi nhận được tại các điểm khảo sát tương đối thấp.4 con/100m2. Khu vực rạn ở phía bắc và đông đảo Cù Lao Cau có mật độ ĐVKXS dao động từ 1. Trai tai tượng Tridacna spp.0 con/100m2.5 con/100m2).3 – 110. Tôm hùm được xem là nguồn lợi quan trọng những cũng chỉ ghi nhận được tại các điểm rạn khu vực phía bắc Cù Lao Cau với mật độ trung bình < 0. trong đó các điểm rạn khu vực phía đông bắc và đông Cù Lao Cau có số loài phong phú hơn các khu vực khác.3 – 1.0 – 108.Da gai: Có trên 32 loài thuộc 27 giống và 20 họ da gai kích thước lớn đã được ghi nhận. với mật độ trung bình tương đương 1. cầu gai đen Diadema spp. chỉ ghi nhận được tại 2 trong số 10 điểm rạn khảo sát với mật độ tối đa < 1. Một số loài phổ biến và thường gặp gồm Echinothrix calamaris và Diadema setosum (họ Diadematidae). cũng có mật độ rất thấp trên hầu hết các rạn. Vùng biển xung quanh Cù Lao Cau cũng được xem là nơi phân bố của tôm hùm bông Panulirus ornatus và tôm hùm đỏ Panulirus versicolor.0 con/100m 2.khu vực này gồm Pinna bicolor. tính chất thành phần loài quần xã thân mềm có sự khác nhau đáng kể giữa các khu vực. Ốc đụn Trochus spp.2 con/100m2. Trong thành phần của ĐVKXS. trung bình 26. Số loài ghi nhận được tại các điểm khảo sát cũng không nhiều (từ 3-10 loài/điểm). Trochus conus.4 – 14.4 con/100m 2 (dao động từ 0. số lượng loài của mỗi họ là không nhiều (1-2 loài).7 con/100m 2 và 0. Trochus histrio và Tridacna squamosa.Giáp xác: Đã ghi nhận được 46 loài giáp xác. Các nhóm chỉ tiêu khác gồm ốc tù .

0 ± 0. hải sâm Actynopyga spp. Bảng 13: Nhóm chỉ thị động vật đáy cỡ lớn trong rạn san hô Cù Lao Cau Các nhóm chỉ tiêu Khoảng dao động Trung bình Ốc tù và 0.6 ± 12.0 Hải sâm 0. cầu gai bút chì (Heterocentrotus mammillatus) và sao biển gai ( Acanthaster planci) không được ghi nhận ở hầu hết các điểm rạn khảo sát.. tôm hùm đỏ (Panulirus longipes) và tôm hùm xanh ( Panulirus homarus).) cũng là những nguồn lợi có giá trị.1 26. bào ngư Haliotis spp.03 ± 0. tôm đát và tôm hùm (Panulirus spp.0 – 0.0 – 0. độ phủ và tính đa dạng của thành phần loài sinh vật rạn khá cao.5 Sao biển gai 0.01 ± 0. Sự vắng mặt hoặc hiện diện với mật độ rất thấp của sao biển gai là dấu hiệu tích cực vì đây là loài sinh vật địch hại đối với san hô.1 Tổng cộng 1.0 – 0. tôm rảo.0 0.). nguồn lợi này đã bị suy giảm mạnh do bị khai thác cạn kiệt. tôm bác sĩ (Stenopus hispidus). nhưng sản lượng không nhiều.1 ± 0. các rạn san hô .0 Ốc đụn 0.0 – 0.3 1.04 Cầu gai đen 0.4 0..và (Charonia triton). chúng sẽ tiêu diệt hàng loạt san hô và góp phần làm suy thoái rạn san hô ở nhiều khu vực trên thế giới. tôm he. Giá trị sinh thái kinh tế của đa dạng sinh học: Với sự phân bố rộng.0 0. ốc đụn Trochus spp.4 ± 12.1 ± 0.4 – 110.5 Nguồn: Nguyễn Văn Long và các cộng sự. Tuy nhiên.0 – 0.0 ± 0.8 Trai tai tượng 0. Theo thông tin từ ngư dân địa phương thì khu vực phía đông và đông bắc của Cù Lao Cau có các rạn ngầm là bãi đẻ của 3 loài tôm hùm bông (Panulirus ornatus).3 0. Ngoài ra.5 0. và mực nang Sepia spp. trai ngọc Pinctada spp.03 Tôm hùm 0.. Khi có hiện tượng bùng nô hoặc hiện diện với mật độ cao.1 0.1 – 108.0 – 1.1 Tôm bác sĩ 0.01 Cầu gai bút chì 0. cầu gai sọ dừa Tripneutes gratilla. 1996).0 – 0. Dòm (Modiolus philippinus) có sản lượng khá lớn (chiếm khoảng 5 – 6%) với sản lượng khai thác biến thiên từ 1 – 620 tấn/năm (Võ Sĩ Tuấn.3 0..0 – 8. Nguồn lợi tôm hùm được xem là quan trọng nhất trong nhòm nguồn lợi động vật không xương sống rạn san hô.4 24.2 ± 0. Điệp quạt (Chlamys nobilis). Sản lượng khai thác có thể lên đến 8 – 10 tấn/năm. 2006 Nguồn lợi động vật không xương sống sung quanh Cù Lao Cau bao gồm mực (chủ yếu là mực ống Loligo spp.7 ± 0.

Lớp hai mảnh vỏ (Bivalvia): đã phát hiện 23 loài thuộc 11 họ.trong khu vực này tạo nên sự đa dạng cảnh quan dưới nước. .Lớp chân đầu (Cephalopoda) là nhóm sinh vật kinh tế quan trọng.8 loài). Chlamys nobilis. do nằm trong vùng nước trồi có nhiệt độ nước biển tầng mặt thường thấp hơn những nơi khác nên các rạn san hô trong khu vực này có tính thích ứng cao hơn và ít chịu ảnh hưởng của sự gia tăng nhiệt độ nước biển. Trong số này.Bình Thuận có khá nhiều loài mực trong đó có một số loài có giá trị kinh tế như Sepioteuthis lessoniana. Octopus vulgaris… Các loài mực ống (Loliginidae) thường đẻ trứng vào mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9 còn mực nang (Sepiidae) thường đẻ trứng vào tháng 12 đến tháng 3. Arca antiquata. Sự phân bố thành phần loài giữa các họ không có sự chênh lệch nhiều. các họ có số loài nhiều bao gồm họ ốc đụn (Trochidae) với 8 loài. Đây là ngư trường mực quan trọng của phía nam miền trung và có những vùng là bãi đẻ chính của mực vì vậy vào các mùa . Trong tổng số 40 loài thu được.16.Bình Thuận . Bên cạnh đó. Ostrea glomerata. các loài phổ biến như Drupella cornus. Các loài này bắt gặp ở tất cả các điểm rạn san hô.Lớp một mảnh vỏ (Gastropoda): có 40 loài thuộc 13 họ. singhalensis. Fusinus nicobaricus. trong khi đó loài Coralliophila neritoides chỉ bắt gặp trên san hô sống dạng khối với mật độ cao. 5 bộ. Pinna bicolor. navicularis. A. 3 bộ. edulis. Coralliophila neritoides.50m. Meretrix meretrix. Sepia latimanus. Chlamys pica. Anomalocardia flexuosa. Trochus conus. Pinna attenuata. Tridacna maxima. Các loài thường gặp là Tridacna squamosa. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Phú Quý . Pinna vexillum. các họ còn lại có từ 1 đến 6 loài. Hemifusus colosseus… . Loligo chinensis. chúng được tồn tại và phát triển và được xem như là những rạn nguồn trong việc duy trì khả năng cung cấp nguồn giống cho những khu vực lân cận ở Việt Nam và Biển Đông trong tương lai do sự biến đổi khí hậu. Nhờ đó. ốc xương (Muricidae) . Ở biển Phú Quí. Trochus maculates. Các loài không phổ biến như: Corallliophila radula. Đây có thể được xem là điều kiện thuận lợi trong việc phát triển các loại hình du lịch biển trong tương lai (bơi ngắm hoặc lặn có khí tài khám phá thế giới sinh vật rạn). 2. Isognomon quadragularis. Phân bố của mực thường tập trung ở độ sâu từ 30 . L. loài Drupella conus thường bắt gặp trên san hô cành. Mỗi họ có từ 1 đến 5 loài. L. Pinctada martensii. Pinctada margaritifera.

7 họ và 12 loài. Lớp Sao biển (Asteroidea) có 1 bộ. Lớp Cầu gai (Echinoidea) có 3 bộ.17. 3 họ và 5 loài.4 loài. xử lý các số liệu thu thập được từ chuyến khảo sát đã thống kê được 38 loài của ngành Da gai. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Côn Đảo – Bà Rịa Vũng Tàu Côn Đảo không chỉ là một trong những địa điểm phát sinh loài của vùng biển Việt Nam mà còn là nơi phát sinh loài trong vùng biển Đông Nam á. những hệ sinh thái chỉ nơi đây mới còn được lưu giữ cho đến ngày nay. . số loài Giun nhiều tơ trên thể hiện tính thích nghi với thể nền đáy cứng trong các thân san hô. trong đó đặc biệt nhất là ngành khai thác dầu mỏ và vận tải biển đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn và là hướng phát triển vận tải quan trọng của các ngành kinh tế khác. chụp. trong đó lớp Giun nhiều tơ có 23 loài.trên ngư dân thường đánh bắt được nhiều mực mang trứng. vùng biển có những đặc điểm cô lập với các hệ sinh thái đất liền. Rất nhiều giống hay họ chỉ có 1 loài. Nhìn chung. vây và lưới kéo. 2 họ và 5 loài.Da gai: Kết quả phân tích mẫu vật. áp lực lên hệ sinh thái biển ngày càng tăng và tiền năng phát triển kinh tế trên đảo cũng đang là những nhân tố . 4 họ và 7 loài. Các nghề khai thác chính là câu mực. Cấu trúc khu hệ Da gai khu bảo tồn biển Phú Quý được thể hiện trên bảng 14. . Chính vì vậy. chỉ khoảng 2 .Tuy nhiên vẫn tiềm ẩn những nguy cơ suy thoái từ việc phát triển ngành công nghiệp trên biển. cho đến nay riêng về giun nhiều tơ đã thống kê được 60 loài thuộc ngành giun đốt. số loài trong các giống hay họ đều thấp.Giun nhiều tơ: Tập hợp các kết quả nghiên cứu có được trong 2 đợt khảo sát về sinh vật biển khu bảo tồn biển Phú Quý. Nhìn chung. Côn Đảo đã tạo ra những hệ sinh thái đặc trưng. Bảng 14: Cấu trúc thành phần loài động vật Da gai khu bảo tồn biển Phú Quý Lớp Huệ biển (Crinoidea) Hải sâm (Holothuroidea) Sao biển (Asteroidea) Cầu gai (Echinoidea) Đuôi rắn (Ophiuroidea) Cộng Bộ 1 3 1 3 1 9 Họ 3 4 3 4 7 20 Giống 3 6 4 6 8 27 Loài 5 9 5 7 12 38 2. Trong đó lớp Huệ biển (Crinoidea) có 1 bộ. Số loài trên thuộc vào 18 giống và 12 họ. Cuối cùng là lớp Đuôi rắn (Ophiuroidea) có 1 bộ. ít chị ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế từ đất liền. Lớp Hải sâm (Holothuroidea) có 3 bộ 4 họ và 9 loài.

Thành phần 2 nhóm loài này quyết định đến giá trị phân bố của mật độ động vật đáy không xương sống tại Côn Đảo.818 62.875 40 20 25. Những nghiên cứu. Mặt khác.75 0 2. Qua những nghiên cứu bước đầu từ các hệ sinh thái mà chú trọng nhất tại hệ sinh thái san hô.25 0.25 N¨m2008:229.25 0.125 0 0 0 0 T«m hï m 0 0 T«m CÇ u gai CÇ u gai H¶i s© m Sao biÓ n Trai tai èc ® ôn èc tï vµ b¸c sÜ đe n bót ch× t­ î ng Hình 9: Biểu đồ biến động mật độ nhóm động vật đáy Côn Đảo Qua biểu đồ phân tích các giá trị động vật đáy tại Côn Đảo cho thấy. Biểu đồ biến động vật không xương sống tại vùng rạn Côn Đảo được chúng tôi thể hiện trên hình 9. mật độ động vật đáy tại đây không chỉ phụ thuộc vào giá trị phân bố của Cầu gai đen mà còn phụ thuộc vào giá trị phân bố của Trai tai tượng. điều này cũng được thể hiển trên giá trị trung bình .909 80 N¨m2007 67 60 N¨m2008 2 Trung b× nh (con/50 0m ) N¨m2007:15 8. hệ sinh thái có vị trí quan trọng nhất trong việc duy trì và phát triển các hệ sinh thái khác tại Côn Đảo và cũng như các hệ sinh thái san hô tại các đảo khác tại vùng biển Việt Nam.làm thay đổi các giá trị sinh thái tại nơi đây. 120 112.091 100 116. phát hiện ra những hiện trạng và xu thế biến đổi của các hệ động vật tại đây là những cơ sở khao học cho việc điều chỉnh các quy hoạch một cách hiệu quả mang lại những giá trị thiết thực cho các ngành kinh tế có liên quan và thực hiện các công ước bảo tồn các loài động vật hoang dã mà chính phủ Việt Nam đã ký kết với các tổ chức Chính phủ và Phi chính phủ trên thế giới. nhìn vào giá trị biến thiên của từng nhóm loài qua hai năm khảo sát cho chúng ta thấy các giá trị được tiến hành khảo sát năm sau cao hơn năm trước.818 0.

nhưng năm 2008 chúng tôi tập chung nghiên cứu trên những vùng có phân bố trai tai tượng lớn tại Côn Đảo (trong đó khu vực Đông Bắc đảo là khu vực phân bố chính của loài trai tai tượng) nên tính trung bình mật độ 2 năm có sự biến động. nếu như chúng ta có những quy định cụ thể cho từng người trong công các quản lý. theo Đỗ Văn Khương và ctv.75 cá thể/500m 2. . Trong khi đó. Trong đó. Từ những số liệu tích cực qua 2 năm khảo sát (2007-2008) và so với các đảo nghiên cứu khác tác giả thấy rằng giá trị đa dạng sinh học tại Côn Đảo là rất cao. các loài Tôm bác sĩ cũng đã được nhóm nghiên cứu chúng tôi ghi nhận có xuất hiện tại khu hệ sinh thái san hô Côn đảo. ốc tù và cũng đã bắt gặp trong quá trình tiến hành thu mẫu định tính. điều tra thu mẫu. các nhóm loài khác như Tôm hùm.của 2 năm 2007 là: 158. Đây có thể thấy là một minh chứng cụ thể nhất cho việc thiết lập khu bảo tồn biển. tuy nhiên tần xuất bắt gặp rất ít. Theo tác giả Đào Tấn Hổ.667 con/500m2. 1996 mật độ của loài Hải sâm có những trạm khảo sát lên tới 375 cá thể/m 2 (loài hải sâm đen bụng mỏng Holothuria leucospilota). các hệ sinh thái tại đây đang ở trạng thái tốt hơn các đảo tiến hành khảo sát khác cho các sinh vật sinh sống và phát triển. chính có sự quản lý chặt chẽ của ban quản lý vườn mà các hệ sinh thái tại đây được bảo vệ an toàn trong một phạm vi nhất định so với các đảo khác. trong nhóm trai tai tượng phân bố tại Côn Đảo thì chỉ có hai loài phân bố chính đó là loài Tridana crocea và loài Tridana maxima đây là 2 loài trai tai tượng có kích thước nhỏ vì vậy giá trị kinh tế cũng rất thấp. như vậy các giá trị sinh học không chỉ được duy trì bền vững mà còn giúp cho chúng phát triển ngày một tốt hơn. Tuy nhiên. Loài có kích thước lớn như loài Tridana Squamosa có kích thước lớn có mật độ phân bố rất thấp. 250 và năm 2008 là 210. đây không phải là tình trạng của riêng đảo Côn Đảo mà là tình trạng chung của toàn vùng biển Việt Nam. điều đó cho thấy các giá trị về số lượng luôn có những biến đổi nghịch so với thời gian. Côn Đảo chưa được thành lập Khu bảo tồn biển nhưng đã có Vườn quốc gia Côn Đảo. 2008 chỉ ghi nhận được những mặt cắt có số loài hải sâm lên tới 4 cá thể và trung bình toàn đảo chỉ đạt 0. khảo sát. Trong quá trình khảo sát. tuy nhiên thì tần xuất xuất hiện loài này không nhiều. 2003 loài trai tai tượng phân bố với mật độ 20 cá thể/100m2 (tương đương 100 cá thể/500m2) cho thấy mật độ trai tai tượng tại đây không có biến động so với kết quả mà chúng tôi thu thập. mật độ trai tại tượng tại đây có biến động lớn giữa 2 năm. Theo tác giả Nguyễn Long và Võ Sĩ Tuấn.

số loài da gai tại đây đều giảm đi so với nghiên cứu trước đây. L. Bảng 15: Bảng so sánh thành phần loài da gai tại Côn Đảo STT 1 2 3 Lớp Cầu gai Hải sâm Sao biển Đào Tấn Hổ. Cầu gai. Thành phần phân bố của chúng được chúng tôi thể hiện trên bảng 15. Microthele nobilis . Nhữmg số liệu trên đã cho chúng ta thấy giá trị đa dạng loài của Côn Đảo vẫn rất cao. đặc bịêt là loài hải sâm đã giảm đi quá nửa từ 12 loài xuống còn 5 loài. Pentacta anceps. một số loài không còn thấy xuất hiện trên các hệ sinh thái như loài hải sâm Stichopus choloronotus. giảm -4 -7 1 Nguồn: Đỗ Văn Khương và ctv. Actinopyga echinites. 1996 được chúng tôi thể hiện trên bảng 16. Theo những nghiên cứu trước đây mà tác giả Đào Tấn Hổ. nhưng tại Côn Đảo vẫn còn những loài mà ở hầu hết các hệ sinh thái tại các nơi khác không còn xuất hiện như loài tôm Bác sĩ (Stenopus hispidus) và loài ốc Tù và ( Charonia tritonis). 1996 10 12 7 Kết quả nghiên cứu 2008 6 5 8 Số loài tăng. Do đặc điểm loài này có khả năng di chuyển chậm chạp và có giá trị kinh tê nên người dân dễ khai thác dẫn đến một số loài có nguy cơ tuyệt chủng. . Leiaster leachi. A. Sao biển so với tác giả Đào Tấn Hổ. Trong đó một số loài đã không còn thấy xuất hiện trong quá trình điều tra nghiên cứu. 1996 là người có công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về nhóm động vật da gai.Nhóm động vật da gai tại Côn Đảo có 8 bộ. các hệ sinh thái tại đây vẫn đáp ứng được cho các loài sinh sống và cần được bảo vệ để phát triển và duy trì cho các vùng khác. 11 họ và 19 loài. mauritiana. trong thành phần loài phân bố tại Côn Đảo so với những nghiên cứu trước đây. và loài sao biển Stellaster equestris. Asterina cepheus… Về số lượng thành phần loài chúng tôi điều tra được so với tác giả Đào Tấn Hổ cho thấy số lượng cũng giảm nhiều. 2008 Bảng 15 cho thấy.. speciosus. Sự suy giảm số lượng và thành phần loài là vấn đề chung trên toàn vùng biển Việt Nam. Bảng so sánh số lượng thành phần loài của Hải sâm.

Actinopyga lecanora Holothuria atra Holothuria leucospilota Holothuria hilla Stichopus ocellatus Echinothrix calamaris Diadema setosum Echinothrix diadema Echinostrephus sp. Qua thành phần loài phân bố cũng cho thấy. Bảng 17 cho thấy tại đây có 2 lớp. trong đó chủ yếu là lớp 2 mảnh vỏ và 1 mảnh vỏ. Phân bố của động vật nhuyễn thể tại Côn đảo được thể hiện trên bảng 17. các loài có giá trị kinh tế như các loài trai ngọc (Pinctada maxima. Pteria penguin) không thấy xuất hiện và một số loài khác xuất hiện với mật độ thấp như loài bào ngư ( Haliotis asinima). P. Prionocidaris verticillata Tripneustes gratilla Hai Sâm Aspidochirotida Holothuridae Stichopodidae Aulodonta Cầu Gai Camarodonta Cidaroida Temnopleuroida Diađematidae Echinometridae Cidaridae Toxopneustidae Ngoài nhóm da gai được thống kê cả về thành phần loài và số lượng thì một thành phần quan trọng tạo nên giá trị cao của hệ sinh thái san hô là nhóm động vật nhuyễn thể.margaritifera. Bảng 17: Thành phần phân bố nhuyễn thể trên vùng rạn san hô Côn Đảo Lớp Bivalvia Bộ Arcoida Veneroida Họ Loài Arcidae Barbatia lima Chaetodermatidae Chama lafarus Tridacnidae Tridana squamosa .Bảng 16: Thành phần loài phân bố của nhóm da gai trên vùng rạn san hô Côn Đảo Lớp Bộ Paxillosida Spinulosida Sao biển Valvatida Ophidiasteridae Họ Atropectinidae Acanthasteridae Echinasteridae Oreasteridae Loài Astropecten spp Acanthaster planci Echinaster luzonicus Gymnanthenea laevis Culcita novaeguineae Linckia multifora Fromia milleporella Ophidiaster sp. 8 bộ. 15 họ và 22 loài phân bố trên vùng rạn.

Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Phú Quốc – Kiên Giang Kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu 10 khu bảo tồn biển của Đỗ Văn Khương và ctv.545 0. 2008 cho thấy: biến động mật độ phân bố nhóm động vật không xương sống đáy cỡ lớn trên hệ sinh thái san hô tại Phú Quốc.818 1.Isognomonidae Pterioida Mallaidae Pteriidae Gryphaeidae Ostreoida Ostreidae Sponđyliae Vetigastropoda Gastropoda Discopoda Patellogastropoda Neogastropoda Trochidae Haliotidae Cypraeidae Lottidae Muricidae Turbinellidae Tridana maxima Tridana crocea Isognomon isognomum Isognomonidae sp Malleus malleus Pinctada albina Pinctada maculata Neopycnodonte cochlear Ostrea circumpicta Beguina semiorbiculata Alectryonella plicatula Spondylus albibarbatus Tectus niloticus Tectus pyramis Holiotis asinima Cypraea tigris Lottiidae sp Favaetia maculata Vasum turbinellum 2.091 413.091 N¨m 2008:453. được chúng tôi thể hiện trên hình 10.167 0 S ao b iÓ n Trai tai èc ® ôn t­ î n g 0 0 T«m h ïm T«m CÇ ug ai CÇ ug ai H¶i b ¸c s Ü đe n b ót ch × s © m èc tï vµ .18.636 1.667 5 0 0 0.167 0. 500 450 400 350 300 250 200 150 100 50 0 469.167 N¨m 2007 N¨m 2008 39.167 2 Tru n gb × n h (con /500m ) N¨m2007: 478.

hải sâm đen (Holothuria atra). Các loài hải sâm có giá trịnh kinh tế thấp không còn là mục tiêu chính trong khai thác nhưng khi bắt gặp vẫn bị các ngư dân khai thác. Theo số liêu thống kê của tác giả Đào Tấn Hổ. 2008 Hình 10: Biểu đồ biến động mật độ nhóm động vật đáy Phú Quốc Qua đó cho chúng ta thấy mật độ động vật đáy tại đây phụ thuộc chính vào mật độ cầu gai đen phân bố nhiều hay ít. nghề lặn khai thác cá rạn san hô là nghề khai thác với cường lực khai thác cao nhất.091 (năm 2007) xuống còn 413.667 cá thể/500m2 (một sự tăng đột biến). Mật độ động vật không xương sống giảm chủ yếu là do mật độ cầu gai tại đây giảm đi từ 469. các loài hải sâm mít (Actinopyga echinites). những loài có giá trị kinh tế hoặc giá trị kinh tế thấp rất ít bắt gặp trong các mặt cắt khảo sát. Trong đó mật độ hải sâm tăng từ 5 lên 39. vì cầu gai là nhóm động vật không có giá trị kinh tế. Mật độ cầu gai không chỉ quyết định đến mật độ tại Phú Quốc mà còn quyết định trên toàn bộ nhóm động vật đáy không xương sống tại một số đảo trong vùng biển Việt Nam. Trong đó. Sự biến đổi sinh thái không chỉ ảnh hưởng tới một loài mà nhiều loài sinh sống trong hệ sinh thái đó. 1996. hải sâm cát (Holothuria scabar) tại Phú Quốc có những mặt cắt thống kê được từ 3 -5 cá thể/500m2 và có những mặt cắt còn có số lượng trên 5 com/500m2. các loài khác phân bố chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong việc quyết định đến mật độ động vật không xương sống đáy.167 (năm 2008) cá thể/500m2. số lượng mặt cắt đạt 8/12 mặt cắt thì cho tới nay số lượng cá thể những loài này tại tất cả các mặt cắt khảo sát không cao hơn là bao nhiêu với 1 mặt cắt mà tác giả Đào Tấn Hổ đã điều tra và có những loài không còn xuất . chính vì vậy nó ít chịu tác động khai thác mà chủ yếu là do biến đổi của môi trường và hệ sinh thái. đây là những loài không có giá trị kinh tế. tuy nhiên số cá thể tăng lên nhưng chất lượng lại giảm vì các loài mà chúng tôi ghi nhận được toàn là những loài thuộc giống synaptidae và synaptulidae. mìn làm thay đổi cảnh quan sinh thái ban đầu. Sự suy giảm của cầu gai là một dấu hiệu cho chúng ta thấy giá trị môi trường và hệ sinh thái tại nơi đây đang có sự thay đổi với diễn biến theo chiều hướng sấu. xâm hại không chỉ trực tiếp mà còn gián tiếp trong việc tàn phá hệ sinh thái của chúng trong việc sử dụng khóa chất độc hại như xianua.Nguồn: Đỗ Văn Khương và ctv. Sự phá hủy này dẫn đến nguồn lợi động vật đáy tại đây suy giảm rõ rệt. Hơn nữa nhìn vào diễn biến và xu thế của đồ thị cho chúng ta thấy các giá trị khác cũng giảm so với các số liệu năm trước đã điều tra.

1758) Salmacis belli Doderlin. nhóm động vật cỡ lớn không xương sống chính tại khu hệ sinh thái san hô bao gồm 5 lớp (Sao biển. 10 họ. họ được chúng tôi thể hiện trên bảng 18. bộ. 17 loài. Cầu gai. Huệ biển và đuôi rắn). Trong 3 lớp (Sao biển. 1816) Aspidochirotida Hải sâm Dendrochirotida Apodida Aulodonta Cầu gai Cidaroida Temnopleuroida Spatangoida Nguồn: Đỗ Văn Khương và ctv. Bảng 18: Thành phần loài phân bố của nhóm da gai trên vùng rạn san hô Phú Quốc Lớp Sao biển Bộ Spinulosida Valvatida Họ Acanthasteridae Echinasteridae Valvasteridae Oreasteridae Loài Acanthaster planci Echinaster luzonicus Valvaster striatus Culcita novaeguineae Holothuria leucpspilota Holothuria atra Holothuria edulis Holothuridae Holothuria hilla Holothuria pervicax Pearsonothuria graeffei Holothuria impatiens Stichopodidae Stichopus horrens Cucumariidae Colochirus quadrangularis Synaptula lamperti Synaptidae Synaptula media Synapta cf. Hải sâm. Cầu gai) tổng cộng có 6 bộ. 1902 Tripneustes gratilla Toxopneustidae Toxopneustes pileolus Brissidae Brissus latecarinatus ( Leske. 1778) Spatangidae Maretia planulata (Lamarck. Thành phần phân bố từng lớp. Kết quả thống kê thành phần phân bố của khu hệ sinh thái rạn san hô tại Phú Quốc như sau: Về phân bố của nhóm da gai. maculata Thyonidae Thyone sp Echinothrix calamaris Echinothrix diadema Diađematidae Diadema setosum Goniocidaris tubaria Prionocidaris Cidaridae verticillata(Linnaeus.hiện trên vùng rạn san hô như loài hải sâm mít ( Actinopyga echinites) và loài hải sâm mít hoa (Actinopyga mauritiana). Hải sâm. 2008 .

8 bộ. Thành phần phân bố của chúng được thể hiện trên bảng 19. 1994. Thấy tại vùng biển phía Nam Phú Quốc (trong đó chủ yếu là rạn san hô) có 83 loài động vật thân mềm (năm 1986) đến năm 1994 thì số loài này chỉ còn 73 loài (trong đó có 38 loài hai mảnh vỏ và 35 loài động vật chân bụng) đến năm 2008 nhóm tác giả nghiên cứu chỉ thống kê được có 25 loài trong đó có 14 loài . Bảng 19: Thành phần loài nhuyễn thể vùng rạn san hô Phú Quốc Lớp Bộ Họ Arcidae Arcoida Buccinidae Cassidae Fasciolariidae Tridacnidae Pectinidae Mytilidae Pinnidae Pterioida Pteriidae Malletiidae Isognomonidae Discopoda Strombidae Haliotidae Gastropoda Vetigastropoda Trochidae Turbinellidae Neogastropoda Muricidae Olividae Loài Arca vertricosa Arca navicularis Phos senticosam Phalium glaucum Fusinus sagmiensis Tridana squamosa Mimachlamys allbolineata Perna viridis Pinna bicolor Pinna albina Pinctada albina Pinctada channitzii Malleus albus Isognomom isognomun Strombus mavginatus Strombus labiatus Strombus trumcata Strombus sp Haliotis ovina Tectus magnificus Trochus maculatus Turbo Stenogyrus turbo stenogyrus Murex aduncospinosus Oliva hirasei Veneroida Bivalvia Ostreoida Mytiloida Theo kết quả của trương trình Việt – Xô.Số loài hải sâm mà tác nhóm tác giả bắt gặp chỉ có 13 loài so với 26 loài mà tác giả Đào Tấn Hổ. 17 họ. tại đây có 2 lớp. và 25 loài trong đó lớp hai mảnh vỏ chiếm ưu thế. số loài hải sâm đã giảm đi một nửa (13 loài) sau 20 năm (1987 tác giả tiến hành điều tra tại Phú Quốc). Như vậy. 1991 đã công bố có 26 loài. 1986 và của WWF. Về số lượng thì hiện nay cũng giảm đi đáng kể so với những nghiên cứu trước kia. Phân bố thành phần loài của nhóm động vật nhuyễn thể cho thấy.

nhóm hai mảnh vỏ và 11 loài nhóm chân bụng. Như vậy có thể thấy thành phần loài tại hệ sinh thái nơi đây giảm nhiều so với những quãng thời gian ngắn hơn, chính vì vậy chúng ta cần có những quy hoạch để bảo vệ loài và hệ sinh thái loìa nhằm ngăn chặn đà suy thoái của nhóm động vật thâm mền nói riêng và hệ động vật đáy nói chung. 2.19. Tình hình nghiên cứu động vật đáy ở Thổ Chu – Kiên Giang Thổ Chu thuộc vùng biển Kiên Giang, cách đất liền 180 km, là hòn đảo của Việt Nam nằm xa nhất trong Vịnh Thái Lan. - Động vật da gai: Theo Đào Tấn Hổ 1992, vùng biển đảo Thổ Chu có 42 loài, trong đó lớp sao biển Asteroidea có 7 loài, lớp đuôi rắn Ophiuroidea có 6 loài, lớp Cầu gai Echinoidea có 10 loài, lớp hải sâm Holothurioidea có 28 loài. Danh sách động vật da gai ở vùng biển Kiên Giang-Cà Mau cho đến nay có 51 loài, trong đó lớp hải sâm có 28 loài chiếm 54,9%. Nhiều loài kinh tế quan trọng lớp này như hải sâm trắng, hải sâm đen, trong 8 – 10 năm trở lại đây người ta săn bắt rất tích cực cho nhu cầu xuất khẩu, làm cho nguồn lợi hải sản vùng này giảm sút nghiêm trọng, đưa sản lượng từ 50 – 80 tấn/năm, xuống còn vài tấn/năm. Nhiều loài phổ biến trước đây nay đã trở lên rất hiếm, có nguy cơ bị tiêu diệt, đã được đưa vào sách Đỏ Việt Nam. - Động vật thân mềm: Nguồn lợi động vật thân mềm vùng biển Kiên Giang tương đối phong phú cả về thành phần loài và sản lượng. Theo Trần Đình Nam 1986 và Viện Hải dương học Nha Trang 1991 – 1994 thì ở vùng biển Kiên Giang – Cà Mau có 130 loài của lớp chân bụng và lớp hai mảnh vỏ, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế như: Bào ngư, trai ngọc, nghao nghêu, ốc đụn, sò huyết và nghêu lụa. Nhiều đối tượng nguồn lợi đang bị săn bắt ráo riết cho xuất khẩu nên sản lượng giảm rõ rệt, nhất là các loài Bào Ngư, trai ngọc, ốc đụn đã trở lên hiếm, có nguy cơ bị tiêu diệt. Đa số loài trong lớp chân đầu là mực, trong đó các loài mực ống lodogo spp và mực nang sepia spp có giá trị kinh tế lớn, là đối tượng xuất khẩu quan trọng. Theo thống kê của Thái Lan thì hàng năm (1971 - 1993) trung bình đánh bắt khoảng 50.000 tấn/năm, phía Việt Nam đánh bắt khoảng 4.000 – 5.000 tấn/năm. Như vậy nguồn lợi mực ở Vịnh Thái Lan rất lớn.

Vùng biển Kiên Giang – Cà Mau có nguồn lợi sò huyết rất lớn, từ mũi Cà Mau đến Hòn Chông, ngư dân vùng này khai thác sò con đem về nuôi đạt năng suất 20 – 40 tấn/ha. - Động vật giáp xác: Theo Nguyễn Văn Chung, 1985 sơ bộ bước đầu có 41 loài thường gặp có giá trị kinh tế cao đều nằm trong họ tôm he Penoeidae, họ tôm hùm gai Plinuridae và họ cua bơi portunidae. Nguồn lợi tôm hùm gai có 4 loại: tôm hùm đá, tôm hùm đỏ, tôm hùm bông, tôm hùm sen, các loại tôm hùm này ngày càng ít đi do săn bắt xuất khẩu. Tôm là nguồn lợi rất quan trọng trong thành phần khai thác ở vùng biển Vịnh Thái Lan nói chung, vungfbieenr Kiên Giang – Cà Mau nói riêng. Theo số liệu thống kê của Thái Lan 1972 – 1977 thì sản lượng khai thác ngày càng tăng, năm thấp nhất là 55.000 tấn, năm cao nhất 105.618 tấn. Cua và ghẹ là loài có giá trị kinh tế xuất khẩu sang các nước và vì vậy sản lượng có xu hướng giảm rõ rệt. Nhìn chung, vùng biển Kiên Giang – Cà Mau có sản lượng động vật đáy cao nhất ở Việt Nam. 3. Tổng quan về mối quan hệ giữa phân bố sinh vật đáy và ngoại cảnh Trong quá trình sinh tồn và phát triển, sinh vật biển luôn chịu sự ảnh hưởng và chi phối của ngoại cảnh. Vùng biển Việt Nam khá rộng, độ sâu khá lớn, sinh vật cảnh đa dạng. Có vùng biển như ven bờ vịnh Bắc Bộ và ven biển Nam Bộ chịu ảnh hưởng nhiều của khí hậu lục địa và nước sông ngòi đổ ra nên có sự biến đổi theo mùa của độ mặn và nhiệt độ khá lớn. Nhiều vùng đảo chủ yếu chịu ảnh hưởng của biển khơi, vì vậy còn có sự sai khác lớn đối với khu vực ven bờ. Dưới đây là một số đặc điểm về mối quan hệ giữa sự phân bố của sinh vật đáy với nhiệt độ, độ muối và chất đáy. 3.1. Quan hệ giữa phân bố sinh vật đáy với nhiệt độ và độ mặn Quan hệ giữa sinh vật biển và các yếu tố môi trường là mối quan hệ tổng hợp và phức tạp, trong đó nhiệt độ, độ mặn nước biển và chất đáy là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới sự phân bố của sinh vật đáy. Do khả năng thích ứng với nhiệt độ và độ mặn nước biển của mỗi loài khác nhau nên vùng phân bố và phạm vi phân bố của chúng cũng khác nhau. Đối với phần lớn động vật đáy không xương sống do khả năng bơi lội kém, phạm vi hoạt động tương đối hẹp nên cần phải có khả năng thích ứng mạnh với sự biến đổi của nhiệt độ và

độ mặn. Đặc biệt ở các vùng biển nông ven bờ, khả năng đó càng thể hiện rõ ràng. Dựa vào các kết quả phân tích các tài liệu điều tra vật lý thủy văn và tình hình phân bố của sinh vật đáy, có thể chia thành các nhóm sinh thái chủ yếu sau: - Nhóm loài rộng nhiệt, độ mặn thấp: biên độ nhiệt độ trong năm ở vùng biển nước ta không lớn, nhưng sự biến đổi nhiệt độ theo mùa ở vùng nước nông gần bờ cũng tương đối rõ rệt. Về mùa đông, nhiệt độ tầng đáy vùng nước nông ven bờ phía tây bắc vịnh Bắc Bộ thường từ 16 – 18 0C, mùa hè có thể đạt khoảng 27 – 290C. Độ mặn khoảng trên dưới 30‰. Đại diện của nhóm này là Murex trapa, Solenocera crassicornis, parapena copsus tenellus, Portunus hastatoides. - Nhóm loài rộng nhiệt, độ muối tương đối cao: Khu vực phân bố của các loài này tương đối xa bờ, nằm giữa vùng phân bố của loài ven bờ và loài ngoài khơi. Nhiệt độ biến đổi từ 17 – 290C và độ muối từ 32 – 33,5‰. Vùng phân bố chủ yếu của các loài này ở vùng giữa vịnh Bắc Bộ và vùng xa bờ biển phía nam. Đại diện là các loài Chione tiara, Metapenaeopsis durus, Astropecten velitaris, Comatula pectinata những loài này rất ít xuất hiện ở vùng nước sâu (bao gồm gần cửa vịnh Bắc Bộ) và vùng độ muối thấp gần bờ. - Nhóm loài nhiệt độ cao, độ muối cao: Các loài này thường phân bố vùng xa bờ, đòi hỏi nhiệt độ và độ mặn tương đối ổn định, nhiệt độ đáy thường từ 20 – 260C, độ mặn trên 33,5‰. Vùng phân bố chủ yếu ở cửa vịnh Bắc Bộ và vùng sâu ngoài khơi biển phía Nam. Đại diển là các loài Hyalicecia tubicola, Nassarius kiienasis, Leucosia unidentata, Ophiopsila abscissa... - Nhóm loài rộng nhiệt, rộng muối: nhóm này chiếm tỷ lệ khá cao trong thành phần loài sinh vật đáy biển Việt Nam, chúng gồm những loài có khả năng thích ứng mạnh đối với nhiệt độ và độ mặn nên phân bố rất rộng. Đại diện như các loài Glycera capitata, Terebellides stroemi, Bursa rana, Portunus pulchricristatus, Charybdis truncata, Scalopidia spinosipes, Phiura pteracantha, Lagamum decagonale... 3.2. Quan hệ giữa sinh vật đáy với trầm tích đáy biển Lấy nền đáy làm nơi cư trú chủ yếu, sinh vật đáy chẳng những phải lựa chọn chất đáy thích hợp để ẩn náu mà còn phải kiếm được thức ăn ngơi nơi chúng cư trú bởi vậy chúng có quan hệ rất mật thiết với trầm tích đáy biển.

1.. Ốc tù và bị khai thác cạn kiệt phục vụ cho sản xuất đồ thủ công. bò sát đáy. Đại diện cho nhóm này là. còn đa số loài đều có sự lựa chọn nhất định với chất đáy và chỉ phân bố trong phạm vi nhất định. Chất đáy ở đây do phù sa lắng tụ với vỏ sinh vật bào mòn tạo thành. Tổng quan về những tác động của động vật đáy tới các vùng dự kiến thiết lập bảo tồn biển 4.. và đó cũng là hệ sinh thái có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và tạo ra các giá trị đa dạng sinh học. Qua kết quả phân tích mối quan hệ giữa sự phân bố của sinh vật đáy và chất đáy cho thấy. cư trú.Địa hình đáy biển Việt Nam thay đổi phức tạp. cố định hay di chuyển chậm. thích ứng với các loài sống vùi trong bùn. 4. bùn nhuyễn đất sét cát bột bao gồm nhiều vùng rộng lớn ở biển Việt Nam. Có thể chia thành các nhóm thích ứng sau: . khi một mắt xích mất đi. khoa học. tạo nên nền đáy rất đa dạng. Trong đó. có nhiều sông ngòi đổ ra nên thành phần trầm tích khá phong phú. có khả năng thích ứng được với nhiều loại chất đáy thì phân bố rộng rãi. Các loài da gai (Sao biển gai) nó sử dụng san hô làm nguồn thức ăn. mỹ nghệ. các vật trầm tích giàu hữu cơ. đặc biệt là hệ sinh thái san hô... nơi chứa đựng rất nhiều giá tri kinh tế. Tác động của động vật đáy tới hệ sinh thái đảo Như đã trình bày trong các phần trên thì động vật đáy có một vai trò quan trọng trong việc duy trì và ổn định các hệ sinh thái nơi chúng sinh sống. các loài có khả năng bơi lội hoặc có khả năng hoạt động mạnh như một số loài trong họ tôm he. nhưng loài Sao biển gai lại bị loài ốc tù và sử dụng làm thức ăn. Chính mối quan hệ trong quần xã giữa các loài khác nhau để tạo ra mối duy trì bền vững giữa các hệ sinh thái với nhau. đa dạng của các hệ sinh thái biển đảo. quá trình tạo cân bằng sinh thái có nguy cơ bị phá hủy. Như vậy.Nhóm thích ứng với đáy bùn: Vùng chất đáy bùn. cua bơi hoặc mực. Nó vừa có vai trò trong kích thích các loài và vừa có vai trò trong việc hạn chế loài phát triển trong một trạng thái cân bằng nhất định để đủ tạo ra các giá trị cân bằng giữa các quần xã và quần thể. đến một giai đoạn thuận lợi loài Sao biển gai phát triển với mật độ cao chúng tàn phá sự phát triển của san hô mà không còn loài ốc tù và để ngăn chặn . bùn nhuyễn đất sét..

2. giá trị mang lại và những ảnh hưởng tích cực của chúng ngày càng làm cho mô hình và hình thức kinh doanh này phát triển trên nhiều mặt. Các loài Trai ngọc phục vụ cho việc nuôi trai cấy ngọc tạo ra các giá trị kinh tế cao trong sản xuất. Hình thức du lịch sinh thái kết hợp với lặn có khí tài đang được nhiều khách du lịch ưu thích trong đó có cả khác nước ngoài và khách trong nước. những trình bày trên đã cho chúng ta thấy những tác động về nhiều mặt của hệ động vật đáy và nhất là động vật đáy của hệ sinh thái rạn san hô tới hệ sinh thái khác và tác động đến cộng đồng dân cư sinh sống trên đảo và vùng xung quanh. Các loài trai bàn mai. Giá trị của động vật đáy trong phát triển ngành du lịch sinh thái Hoạt động du lịch đang ngày càng phát triển trên toàn thế giới. số lượng khách trong nước có nhu cầu tham gia tua du lịch này ngày càng tăng. các loài Bào ngư được thị trường trong nước cũng như thế giới rất ưu chuộng với giá trị vài trăm nghìn/kg tùy từng thời điểm khác nhau. Hình thức du lịch kết . Hiện nay tại Việt Nam hình thức du lich sinh thái đang được khuyến khích phát triển và trong đó có nhiều nhà kinh doanh đang tích cực xúc tiến đầu tư. hai mảnh vỏ có nơi sống quan trọng và chủ yếu là vùng rạn san hô. có loài lên tới vài trăm nghìn đồng/kg. Ngoài việc tạo ra giá trị kinh tế trực tiếp còn cung cấp trực tiếp nguồn thức ăn cho con người. các loài ốc. Các loài có giá trị kinh tế như các loài Hải sâm. Như vậy rất dễ dẫn tới hệ sinh thái san hô bị đe dọa và nguy cơ bị phá hủy là hiện hữu. giá trị đa dạng của chúng và những ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu của cộng đồng dân cư mà chúng ta phải có những chính sách khai thác và sử dụng nguồn lợi này một cách hợp lý và duy trì sự tồn tại của các loài này trong một phạm vi cho phép nhằm khai thác và sử dụng lâu dài nguồn lợi này.quá trình này. Với từng loài khác nhau có giá cả trên thị trường khác nhau. có loài chỉ vài nghìn đồng/kg. Như vậy. Bên cạnh việc tạo ra sự phát triển ổn định của hệ sinh thái nó còn tạo ra các giá trị kinh tế. và cả cầu gai cũng là những nhóm động vật đáy có giá trị dinh dưỡng cao cung cấp dinh dưỡng trực tiếp cho con người. Chính vì. Giá trị dinh dưỡng của các loài động vật đáy đã được chứng minh bằng thực nghiệm và trên thực tế. 4. Hiện nay. ốc.

làm cho các loài không thích nghi được và tự biến mất khỏi vị trí sinh sống của chúng.1. 6. sự khác biệt của các khu hệ làm cho sức hấp dẫn cho các du khác thích khám phá và có thể nói sự khác biệt của khu hệ động vật đáy là một trong những tác nhân quan trọng trong việc tạo ra các giá thị khác biệt giữa các khu hệ sinh thái san hô. Do đó làm cho các tua này trở lên nhàm chán. sự suy vong có thể diễn ra rất nhanh. Chính con người cũng là người trực tiếp tham gia tác động tới số lượng quần thể và sự tác động này có tính quyết định tới sự tồn tại của quần đàn. Sự phát triển kinh tế càng nâng cao áp lực khai thác lên nguồn lợi hải sản trong đó có nhóm động vật đáy và chủ yếu là các loài có giá trị kinh tế không chỉ chịu sức ép khai thác từ con người mà còn phải chịu sức ép từ sự giới hạn sinh thái từ các hoạt động phát triển kinh tế. Tuy nhiên. Sự không quan tâm của con người tới hệ động vật đáy đã hủy hoại đi môi trường sống. Sự phát triển ngày càng làm cho điểm du lịch Nha Trang trở lên quá tải và những du khách chỉ đến đó 1 lần và không quay trở lại do tính hấp dẫn không còn thu hút được các du khách này. Những quy hoạch không phân vùng phát triển và bảo tồn các giá trị tự nhiên sẽ rất dẫn đến sự suy thoái về môi trường và các giá trị đa dạng sinh học. Các giải pháp trong việc khai thác động vật đáy trên vùng rạn san hô . làm thay đổi các giá trị của hệ sinh thái. Một số giải pháp nhằm quản lý động vật đáy tại các vùng đảo nhằm phục vụ cho công tác thiết lập quản lý 6. Chính vì vậy cần phải có những quy hoạch cụ thể cho các địa điểm được phép tiến hành khai thác 5. Tác động của con người lên hệ sinh thái động vật đáy Con người vừa là chủ thể và vừa là khách thể tác động trực tiếp và gián tiếp lên hệ động vật đáy tại các hệ sinh thái biển đảo. khai thác ngành du sinh thái cũng đang tiềm ẩn những sự suy thoài về môi trường do rác thải và các hoạt động tại đó làm thay đổi các chỉ tiêu của hệ sinh thái.hợp với lặn để khám phá rạn san hô chỉ được tập trung tại Nha Trang. Quá trình phát triển kinh tế biển đảo là một trong những mối đe dọa chính tác động tới hệ động vật đáy. Sự thay đổi hệ sinh thái là mối đe dọa lớn nhất dẫn tới sự suy vong của một số loài có hệ sinh thái hẹp. sự thay đổi địa điểm. Những động vật đáy cỡ lớn sống trên vùng rạn làm tăng giá trị hấp dẫn cho khách du lịch.

Cần vận động và nâng cao nhận thức trong việc khai thác hải sản có tính tàn và hủy diệt hệ sinh thái như khai thác bằng xianua. 6... 6. hải sâm lựu. . Nghiên cứu đặc điểm sinh học. các loài giáp xác như tôm hùm. Các giải pháp trong bảo vệ hệ sinh thái cho động vật đáy Bảo vệ hệ sinh thái là một điều kiện kiên quyết trong viêc khôi phục lại các loài có giá trị kinh tế. có chức năng kiểm soát sản lượng các loài trong danh mục cần bảo vệ. đặc biệt là các loài có giá tri kinh tế như hải sâm mít. nhiệm vụ hướng dẫn ngươi dân thực hiện tốt các mục tiêu và chính sách đã ban hành. nhằm phục hồi các loài có giá trị kinh tế.3. hải sâm vàng. hải sâm vú. Thành lập ban quản lý có chức năng. mìn và các phương tiện làm thay đổi các hệ sinh thái trong quá trình khai thác. Các giải pháp trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng tại vùng nghiên cứu Tuyên truyền người dân cần tham gia khai thác và bảo vệ các vùng đã được khoanh vùng hoặc những vùng được thông báo cấm khai thác. sinh sản của từng loài để có sơ sở khoa học cho việc tiến hành sinh sản nhân tạo các loài có sạn lượng thấp và nguy cơ mất khỏi hệ sinh thái.2. các loài ốc như ốc tù và đã ở trong tình trạng cạn kiệt nguồn lợi do vậy cấn khai thác trên vùng rạn là điều bắt buộc trên các khu hệ sinh thái này để duy trì đảm bảo số lượng để phục hồi.Hiện nay số lượng và số loài các loài động vật đáy tại các đảo. Nghiêm cấm các hoạt động khai thác san hô làm vật liệu xây dựng và làm cảnh để mất đi nơi cư trú của các loài có giá trị kinh tế. trong đó bảo vệ hệ sinh thái san hô là vấn đề cấp bách nhất để bảo vệ các loài động vật không xương sống đáy có giá trị kinh tế. Cần tuyên truyền cho người dân những loài đang được hạn chế và cấm khai thác trên toàn khu vực không chỉ là những nơi khoanh vùng.

Do vậy nghiên cứu về hiện trạng và đặc điểm phân bố của nhóm động vật đáy không xương sống đáy cỡ lớn tại các hệ sinh thái biển đảo là cần thiết. Các công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp lặn sâu. phương pháp nghiên cứu trước cũng rất khác so với nghiên cứu ngày nay. Tuy nhiên. có nghiên cứu thì cũng ít được công bố. nhằm cung cấp các cơ sở khoa học phục vụ cho quy hoạch. áp dụng các phương pháp nghiên cứu tiên tiến mà trên thế giới cũng như khu vự đang áp dụng là điều cần thiết để đạt được các thông tin khoa học có độ tin cậy và chính xác hơn nhằm mục tiêu ngày càng đi vào những nghiên cứu cụ thể cho từng loài. Do vậy. trong đó chủ yếu tập trung ở những nơi ven và gần bờ. tập chung vào một nhóm đối tượng còn rất ít. các công trình nghiên cứu chưa đi vào nghiên cứu các nhóm đối tượng.III. miền biển Việt Nam. từng đối tựng. . các công trình nghiên cứu động vật đáy trên toàn vùng biển Việt Nam là rất nhiều. bảo tồn các giá trị khoa học tại các hệ sinh thái biển đảo. kết quả là rất có ý nghĩa trong việc quy hoạch và quản lý. các công trình nghiên cứu chỉ nghiên cứu chung trên toàn bộ vùng. NHẬN XÉT CHUNG Qua thống kê các công trình nghiên cứu của các tác giả cho thấy.

2. Báo cáo lưu trữ tại Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng. Tập báo cáo các chuyên đề đề tài bảo tồn. Hồ Thanh Hải. Đào Tấn Hổ. Tôn Thất Thống. 11. Đề tài KT.11.TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phần I. Khối lượng sinh vật phù du và động vật đáy trong vịnh Bắc Bộ. Tổng quan hiện trạng đất ngập nước Việt Nam sau 15 năm thực hiện công ước Ramsar. Chuyên khảo Biển Việt Nam. Đề tài KT. tập I. Trần Đình Nam. 2005 . 2007.03. 5.12. Nguyễn Văn Chung. 72 tr.85. Đặc điểm sinh vật vùng triều. trang 69 .03. Nguyễn Tiến Cảnh. Việt Nam. 7. Báo cáo kết quả điều tra tài nguyên sinh vật biển ven đảo Thanh Lân (Quảng Ninh).Thanh Lân. 6. Sinh vật đáy. 1978. 4. Lê Trọng Minh. Nguồn lợi sinh vật và các hệ sinh thái biển. Nhà xuất bản Nông nghiệp. Cục bảo vệ môi trường Việt Nam. Động vật thủy sản thâm mềm thường gặp ở Việt Nam. 1978.1995). 1998. 8. Tuyển tập các công trình nghiên cứu Nghề cá biển. 1994. Nxb Khoa học và công nghệ Quốc Gia. Tuyển tập Nghiên cứu Biển I. 1993. Nguyễn Văn Lượm. vùng nước quanh đảo Cát Bà. Nguyễn Xuân Dục. 3. Báo cáo Hệ sinh thái rạn san hô miền Bắc Việt Nam. Phân viện Hải Dương học. Điểm lại các công trình điều tra nghiên cứu cơ bản động vật đáy biển Việt Nam. Cát Hải và tiềm năng phát triển nghề cá Hải Phòng. Trang 43 . Sách đỏ Việt Nam. 2005. Báo cáo của Dự án “Điều tra cơ bản nguồn lợi hải .55. 9. Hà Nội. Báo cáo lưu trữ tại Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng. Động vật. Lưu trữ tại phân viện Hải dương học tại Hải Phòng. do Phân Viện Hải dương học tại Hải Phòng thực hiện 1997. 10. tập IV. Nxb Khoa học tự nhiên và công nghệ. Nguyễn Văn Chung. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên biển quần đảo Cô Tô . Thái Thanh Dương. Sử dụng hợp lý các hệ sinh thái tiêu biểu vùng biển ven bờ Việt Nam (giai đoạn 1991 .

13. tài liệu lưu trữ Viện nghiên cứu hải sản. Danh mục động vật da gai biển Việt Nam. trang 51. Nguồn lợi hải sâm ở vùng biển phía Nam Việt Nam. Sinh học và công nghệ sinh học biển. 2008. Viện Hải Dương học. 20. TLLT ở VNCHS. Sơ bộ nghiên cứu động vật da gai ở vùng đảo Phú Quốc và Thổ Chu. Đào Tấn Hổ. BCKH. Tạp chí sinh học (Viện khoa học Việt Nam). phụ trường nghiên cứu biển. tập I. Nguyễn Quang Hùng. 19. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật. 2006. 15.Cát Bà. Động vật thân mềm hai mảnh vỏ biển Việt Nam. Sơ bộ nghiên cứu sinh vật da gai (Echinodermata) ở quần đảo Trường Sa. đề xuất các giải pháp sử dụng bền vững nguồn lợi”. Đào Tấn Hổ. đề tài “Nguồn lợi sinh vật Quần đảo Trường Sa”. trang 112-118 14. Đỗ Công Thung và nnk. Tuyển tập nghiên cứu biển. Đỗ Văn Khương và ctv. 1996. 10.sản và điều kiện môi trường các vùng trọng điểm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững ngành hải sản vùng biển gần bờ Việt Nam” lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hải sản. . Tuyển tập báo cáo khoa học hộ nghị khoa học toàn quốc về biển lần thứ III. 137 trang. trang 52-58. tập VII. 17. 1994. Phòng lưu trữ Viện nghiên cứu Hải sản. 1999 . Đánh giá khả năng khai thác các hệ sinh thái biển điển hình phục vụ hoạt động du lịch khu vực Hạ Long . 12. Nguyễn Văn Long. tập I. Viện khao học Việt Nam. 18. 1991. 44 – 47. Đào Tấn Hổ. Lăng Văn Kẻng. 1995. Điều tra. nghiên cứu rạn san hô và các hệ sinh thái liên quan vùng biển từ Hòn Chảo đến nam đèo Hải Vân và bán đảo Sơn Trà. sinh thái môi trơng biển. tr. Nguyễn Chu Hồi. Thân mềm ở Quần đảo Trường Sa. Thành phần loài động vật da gai ở vùng biển Côn Đảo. 16. Báo cáo lưu trữ tại Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng. Đào Tấn Hổ. 1992. 2006. Báo cáo tổng kết đề tài. Đào Tấn Hổ. 1991. Báo cáo tổng kết đề tài “Đánh giá nguồn lợi cá rạn san hô ở một số vùng dự kiến thiết lập khu bảo tồn biển và một số loài hải sản có giá trị kinh tế cao ở dốc thềm lục địa việt nam. 21. Tạp chí sinh học.

Nxb Khoa học và công nghệ. đề xuất phương hướng sử dụng lâu bền. Chuyên khảo Biển Việt Nam . Khả năng phục hồi các hệ sinh thái nhiệt đới khu vực Cát Bà . Phạm Đình Trọng. Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thông khu bảo tồn thiên nhiên biển Việt Nam. Đánh giá tiềm năng nguồn lợi và đề xuất định hướng sử dụng bền vững một số nhóm sinh vật hải dương vùng biển đảo Đông Bắc Việt Nam. 2003. Nghiên cứu Đa dạng sinh học động vật đáy các đảo Đông Bắc Việt Nam. Nguyễn Huy Yết. Báo cáo lưu trữ tại Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng. Viện Hải Dương học. 2000. Nguồn lợi sinh vật và các hệ sinh thái biển. Võ Sĩ Tuấn. Báo cáo lưu trữ tại Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng. Nguyễn Huy Yết và Nguyễn Văn Long. Giun đốt (Annelida) và giáp xác ở Quần đảo Trường Sa. Đặng Ngọc Thanh. 98 trang. 212 trang. 1996. 31. Báo cáo kỹ thuật. 27. 130 trang. NXB khoa học và công nghệ Hà Nội. 2001. Nguyễn Huy Yết. Hệ sinh thái rạn san hô biển Việt Nam. Hệ sinh thái rạn san hô biển Việt Nam. Chuyên khảo biển Việt Nam. 1995.tập IV. 1997 . Phạm Đình Trọng và nnk. TLLT ở VNCHS. Báo cáo lưu trữ tại Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng. Động vật đáy trong thảm cỏ biển từ Quảng Ninh đến Đà Nẵng. 30. 2007. Võ Sĩ Tuấn. Nguyễn Chu Hồi. . Tóm tắt nội dung (báo cáo tổng kết đề tài KT. 29. BCKH. Đỗ Công Thung và CS. 1994. 1996. Báo cáo tổng kết đề tài. Đặng Ngọc Thanh và nnk. chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh. 26.01). 28. lưu trữ tại Phân Viện Hải Dương Học Hải Phòng.Hạ Long. 24. 25. Đỗ Công Thung. Võ Sĩ Tuấn.22. 32. 1994. Luận chứng khoa học của khu bảo tồn biển Cù Lao Cau. Kết quả điều tra đánh giá tiềm năng sinh học và các hệ sinh thái biển VQG Côn Đảo. Đỗ Công Thung. Đỗ Công Thung và nnk. trang 69 -85. 23. đề tài “Nguồn lợi sinh vật ở Quần đảo Trường Sa”. Đỗ Công Thung. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật. 2005.03. tập IV.

2006. 73-85 (bản dịch của Nguyễn Hữu Phụng). 41. Kevin Lampell. Nhà xuất bản Giao thông vận tải. Đặc trưng sinh thái rạn san hô. 2005. David W. WWF. N. 39. Võ Sỹ Tuấn. Quangninh Prov. Biển Đông tập IV. trang 231 – 253.VN0011. Crawford house press Bathurt. Terrence M. Bivalves of Australia. Gary C. 37. Beijing Pub. 1994. Vietnam. Vol 1. 2003. Pp. resource utilization and Coservation potential of Coto Islands. 35. Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.33. Master Thesis in Marine Biology for the degree. Phương pháp nghiên cứu và giám sát rạn san hô. 2000. 1992. Tuyển tập Tài nguyên và môi trường biển. 1996 . Oyvind Fjukmoen. A preliminary analyses on biodiversity of the crabs on the coral reefs in north area of the Nansha Islands. Sinh vật và sinh thái biển. 1994 . Kết quả điều tra tài nguyên sinh vật quần đảo Hòn Mê (Thanh Hoá). tập 7. Coral reef animal of the Indo-Pacific. Nguyễn Huy Yết và ctv. 40. California. 1997. Gosliner.Williams. Sự suy thoái hệ sinh thái san hô Hạ Long – Cát Bà trong thời gian gần đây. Survey report on Biodiversity. Takashi Okutani. Nguyễn Huy Yết và CS.Behrens. Sổ tay hướng dẫn “Giám sát và điều tra đa dạng sinh học”. Hà Nội. Monterey. . WWF Vietnam Marine Conservation . 42. In: Studies on the Marine Biodiversity of the Nansha Islands and Neighbouring waters. WWF Vietnam Marine Coservation Northern Survey team. NXB Khoa học và Kỹ thuật. Yang Siliang and Dai Aiyun. 38. 36. Tokai university press. Tài liệu lưu trữ tại Viện Tài nguyên và Môi trường biển. 34. Marine molluks in Japan. House. The Shallow-water Macro Echinoderm Fauna of Nha Trang Bay (Vietnam): Status at the Onset of Protection of Habitats. 2000. 2003. Nguyễn Huy Yết. Cai Yixiong.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful