You are on page 1of 102

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH KHOA THƯƠNG MẠI – DU LỊCH Môn: Tuyên

truyền và quảng bá du lịch

Đề tài

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Đình Ân MSSV: 08107921 Lớp : DHKD4 GVHD: Thầy Hồ Vĩnh Tường

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu

Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU............................................................................................................... 4 PHẦN MỞ ĐẦU: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN .........................................................6 4. Tài nguyên du lịch............................................................................................... 9 PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ TỈNH BẠC LIÊU...................................................................11 1.1.Vị trí địa lý....................................................................................................... 11 1.2. Lịch sử hình thành.......................................................................................... 11 1.3. Xuất xứ tên gọi............................................................................................... 14 1.4. Dân số............................................................................................................ 14 1.5. Đơn vị hành chính........................................................................................... 15 1.6. Đất đai, địa hình............................................................................................. 15 1.7.Khí hậu............................................................................................................ 16 1.8.Tài nguyên....................................................................................................... 16 1.9. Kinh tế............................................................................................................ 18 1.10. Công thương nghiệp..................................................................................... 18 1.11. Nông nghiệp................................................................................................. 18 1.12. Du lịch.......................................................................................................... 19 1.13. Văn hóa........................................................................................................ 19 1.14. Tính cách con người Bạc Liêu.......................................................................21 PHẦN 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH VẬT THỂ CỦA TỈNH BẠC LIÊU....................................23 2.1. Danh sách các di tích văn hóa-lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh của tỉnh Bạc Liêu................................................................................................... 23 2.2. Tài nguyên du lịch vật thể được xếp hạng của tỉnh Bạc Liêu..........................25 2.2.1. Đồng Nọc Nạng........................................................................................ 25 2.2.2. Tháp cổ Vĩnh Hưng...................................................................................27 2.2.3.Đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh....................................................................31 2.2.4. Khu lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu.......................................................32 2.2.5. Di tích lịch sử Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu.................................................................................................................... 36 2.2.6. Thành Hoàng Cổ Miếu ( Chùa Minh).........................................................38 2.2.7. Chùa Giác Hoa (Chùa cô Hai Ngó)............................................................39 2.2.8. Chùa Xiêm Cán ( Chùa Komphir Sakor Prêchru).......................................47 2.2.9.Đình An Trạch............................................................................................ 52 2.2.10. Chùa Vĩnh Đức........................................................................................ 54 Tuyên truyền và quảng bá du lịch Trang 2

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu
2.2.11. Đồng hồ mặt trời.................................................................................... 55 2.2.12. Thiên hậu Cổ Miếu.................................................................................. 56 2.2.13. Phước Đức Cổ Miếu ( còn gọi là Chùa Bang)...........................................57 2.2.14. Chùa Kro Pum Mean Chey Kos Thum (chùa Cỏ Thum)..........................59 2.2.15. Tiên sư Cổ Miếu...................................................................................... 61 2.2.16. Chùa Long Phước (chùa Cô Bảy)............................................................65 2.2.17. Phủ thờ dòng họ Cao Triều.....................................................................73 2.3. Các công trình du lịch vật thể chưa được xếp hạng của tỉnh Bạc Liêu ..........77 3.1 Thực trạng du lịch của tỉnh bạc Liêu................................................................92 3.2 . Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Bạc Liêu..........................97 KẾT LUẬN................................................................................................................ 102

Tuyên truyền và quảng bá du lịch

Trang 3

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu

LỜI MỞ ĐẦU Bạc Liêu là một trong những đô thị lâu đời của miền Tây Nam Bộ có những nét độc đáo về văn hóa - xã hội được nhiều nơi biết đến, nhất là các giai thoại về công tử Bạc Liêu, nhiều công trình nhà ở, đình chùa mang kiến trúc cổ, cụm nhà Công tử Bạc Liêu, đồng hồ đá; là nơi sản sinh bài Dạ cổ Hoài lang, tiền thân của vọng cổ ngày nay; có sân chim, vườn nhãn, có 15 km bờ biển, có 700 ha rừng ngập mặn với nhiều loài sinh vật sống ven biển và dưới tán rừng; có nền văn hóa đặc trưng của sự giao thoa 03 dân tộc: Kinh, Hoa, Khmer... Với những đặc điểm trên, thành phố Bạc Liêu là một trong những địa phương có tiềm năng du lịch phong phú và hấp dẫn du khách. Việc đầu tư khai thác tiềm năng để du lịch Bạc Liêu phát triển mạnh sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương, góp phần tạo việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân. Từ khi tỉnh Bạc Liêu được tái lập, ngành du lịch được chú ý đầu tư và đã có bước phát triển nhất định. Một số dự án du lịch đang được xây dựng, bước đầu đã hình thành được một số cơ sở du lịch; thu hút được du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan du lịch đã mang lại giá trị doanh thu cho ngành dịch vụ - du lịch chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế của thành phố Bạc Liêu. Ngoài những tiềm năng du lịch của tỉnh và thành phố Bạc Liêu phong phú, nhưng thiếu sự đầu tư đúng mức của nhà nước và nhân dân, nên chưa có nhiều cơ sở đủ chuẩn, hấp dẫn du khách; hoạt động du lịch còn tự phát. Loại hình du lịch còn nghèo nàn, cả về du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, sông nước, du lịch vườn. Hoạt động du lịch còn rời rạc, chưa tạo được tour, tuyến trong thị xã và giữa thị xã với các huyện trong và ngoài tỉnh. Lượng khách đến đông, nhưng thời gian lưu trú không nhiều, chủ yếu là do dịch vụ phục vụ du lịch chậm phát triển, hệ thống nhà hàng, khách sạn chưa đáp ứng yêu cầu. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe, các sản phẩm lưu niệm và tiêu dùng phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách đơn điệu, ẩm thực chưa được đầu tư đúng mức. Tính văn minh trong phục vụ khách, tính chuyên nghiệp trong tổ chức các hoạt động du lịch còn hạn chế. Vì Vậy, việc
Tuyên truyền và quảng bá du lịch Trang 4

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu nghiên cứu những thế mạnh về di tích văn hóa vật thể của tỉnh Bạc Liêu sẽ góp phần đưa ra những giải pháp cho sự phát triển của tỉnh nói chung và du lịch nói riêng, từ đó đề xuất những biện pháp hữu ích và hiệu quả cho tỉnh.

Tuyên truyền và quảng bá du lịch

Trang 5

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu

PHẦN MỞ ĐẦU: MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1- Văn hóa Văn hóa là toàn bộ những thứ do con người tạo ra nhằm phục vụ cuộc sống tốt đẹp hơn Có rất nhiều những khái niệm và định nghĩa liên quan tới văn hóa nhưng nhìn chung , văn hóa được thống nhất và biểu hiện ở những đặc điểm sau: Thứ nhất, văn hoá là sáng tạo của con người, thuộc về con người, những gì không do con người làm nên không thuộc về khái niệm văn hoá. Từ đó, văn hoá là đặc trưng căn bản phân biệt con người với động vật, đồng thời cũng là tiêu chí căn bản phân biệt sản phẩm nhân tạo với sản phẩm tự nhiên. Văn hoá xuất hiện do sự thích nghi một cách chủ động và có ý thức của con người với tự nhiên, nên văn hoá cũng là kết quả của sự thích nghi ấy. Thứ hai, sự thích nghi này là sự thích nghi có ý thức và chủ động nên nó không phải là sự thích nghi máy móc mà thường là sự thích nghi có sáng tạo, phù hợp với giá trị chân - thiện - mỹ. Thứ ba, văn hoá bao gồm cả những sản phẩm vật chất và tinh thần, chứ không chỉ riêng tinh thần mà thôi. Thứ tư, văn hoá không chỉ có nghĩa chỉ là văn học nghệ thuật như thông thường người ta hay nói. Văn học nghệ thuật chỉ là bộ phận cao nhất trong lĩnh vực văn hoá mà thôi. Trên cơ sở phân tích các quan niệm trên có thể kết luận:Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.

Tuyên truyền và quảng bá du lịch

Trang 6

đồ vật. địa điểm. • Những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược. khoa học lịch sử. • Những nơi diễn ra những sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sử đất nước. lịch sử địa phương phát triển . hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử. Ở Việt Nam. những tinh hoa.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 2. trí tuệ. tài năng.Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc. • Những điểm khung cảnh ghi dấu về một dân tộc học. áp bức. cũng như các giá trị văn hoá khác. tài liệu và các tác phẩm có giá trị lịch sử.Di tích lịch sử – văn hoá có khả năng rất lớn góp phần vào việc phát triển trí tuệ. mỗi quốc gia. tài năng của con người.Nó là bằng chứng trung thành.Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp. theo pháp luật bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh (04/04/1984). mỗi dân tộc. góp phần vào việc phát triển khoa học nhân văn. di tích lịch sử – văn hoá được quy định như sau: “Di tích lịch sử – văn hoá là những công trình xây dựng. công trình có giá trị sử dụng và thẫm mỹ nhằm phục vụ cuộc sống tốt hơn 3. là kết quả của hoạt động sáng tạo biến những vật và chât liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật. xác thực. giá trị văn hoá nghệ thuật của mỗi quốc gia. đất nước và cả nhân loại. nghệ thuật. Từ những quy định về di tích lịch sử – văn hoá các nước trên thế giới và ở nước ta có thể rút ra những quy định chung có ý nghĩa khoa học và hệ thống như sau: • Di tích lịch sử – văn hoá là những nơi ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá khảo cổ.Văn hóa vật thể Văn hóa vật thể là một bộ phận của văn hóa nhân loại. quá trình phát triển văn hoá – xã hội”. cụ thể về đặc điểm văn hoá mỗi nước.Di tích lịch sử văn hóa Di tích lịch sử tích lịch sử – văn hoá là tài sản quý giá của mỗi địa phương. khoa học. thể hiện đời số ng tinh thần của con người dưới dạng vật chất. Tuyên truyền và quảng bá du lịch Trang 7 .

thuộc về một thời kỳ lịch sử – xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong lịch sử cổ đại. trong đó chứa dựng những giá trị điển hình lịch sử. Cần phải phân biệt các loại di tích để xác định tên gọi đúng với nội dung của nó và khai thác. khoa học. sinh hoạt của các tộc người. *Phân loại di tích lịch sử – văn hoá Di tích lịch sử – văn hoá chứa dựng nhiều nội dung lịch sử khác nhau. sử dụng và bảo vệ di tích một cách có hiệu quả. Tuyên truyền và quảng bá du lịch Trang 8 . giá trị văn hoá. • Những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên bài trí sẵn và có bàn tay con người tạo dựng thêm vào.Lịch sử của mỗi quốc gia là một quá trình lâu dài với nhiều sự kiện được ghi dấu. nghệ thuật có giá trị toàn quốc hoặc khu vực. khách quan. lượng thông tin riêng biệt.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu • Những nơi ghi dấu giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử. do tập thể hoặc do cá nhân con người hoạt động sáng tạo trong lịch sử để lại. Có 4 loại di tích lịch sử – văn hoá: + Loại hình di tích văn hoá khảo cổ: là những địa điểm ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hoá. + Loại di tích lịch sử.Mỗi di tích có nội dung. Di tích lịch sử là những di tích ghi nhận các sự kiện lịch sử hoặc các đặc điểm lịch sử tiêu biểu của các dân tộc trong quá trình phát triển lịch sử của mình. Loại hình di tích lịch sử bao gồm: • Di tích ghi dấu về dân tộc học: Sự ăn ở. được xếp vào một loại hình trong các loại hình di tích lịch sử – văn hoá. anh hùng dân tộc. danh nhân văn hoá. do vậy những di tích nào gắn với các sự kiện tiêu biểu mới được coi là di tích lịch sử. • Những công trình kiến trúc. Di tích lịch sử – văn hoá là những không gian vật chất cụ thể.

• Di tích ghi dấu những kỷ niệm. b) Đặc điểm tài nguyên du lịch. • Di tích ghi dấu sự vinh quang lao động. Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu.Thực tế cho thấy. • Di tích ghi dấu chiến công xâm lược. năng lượng và thông tin trên Trái Đất và trong không gian vũ trụ mà con người có thể sử dụng phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình. của địa phương . tiêu biểu có ý nghĩa quyết định chiều hướng của đất nước. Tại điều 10 của Pháp lệnh Du lịch Việt Nam (1999): “Tài nguyên du lịch được hiểu là cảnh quan thiên nhiên. 4. tài nguyên du lịch được xem như tiền đề để phát triển du lịch. di tích lịch sử. Tài nguyên du lịch a) Khái niệm Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu. khu du lịch nhằm tạo ra sức hấp dẫn du lịch”. Khái niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch. di tích cách mạng. Tuyên truyền và quảng bá du lịch Trang 9 . tài nguyên du lịch càng phong phú. công trình sáng tạo của con người có thể được sử dụng nhằm thoả mãn nhu cầu du lịch. Tài nguyên được phân loại thành tài nguyên thiên nhiên gắn liền với các nhân tố tự nhiên và tài nguyên nhân văn gắn liền với các nhân tố con người và xã hội. là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch. giá trị nhân văn. • Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu • Di tích ghi dấu những sự kiện lịch sử chính trị quan trọng. phong kiến. Như vậy.

Tài nguyên du lịch tự nhiên: + Địa hình. . kiến trúc. +Nguồn nước. du lịch.Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch. .Tài nguyên du lịch nhân văn: + Các di tích lịch sử văn hoá. địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế. tâm lý học. c) Phân loại tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm: . thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ chung.Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút cơ sở hạ tầng va dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó. Khía cạnh lãnh thổ của các đánh giá tài nguyên du lịch là nhiệm vụ của địa lí du lịch. + Sinh vật.Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống lãnh thổ nghỉ ngơi. Tài nguyên du lịch có những đặc điểm chính sau: . Muốn đánh giá tài nguyên du lịch cần phải tổng hợp nhiều chi thức của các lĩnh vực khoa học: sinh lý học. . kiến trúc và đô thị. trước hết cần phải tìm hiểu và nghiên cứu các đặc điểm nguồn tài nguyên này. Tuyên truyền và quảng bá du lịch Trang 10 + Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học. lịch sử văn hoá và nghệ thuật.Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên. + Các đối tượng văn hoá thể thao và hoạt động nhận thức khác. nhịp điệu của dòng khách. . thuỷ lý học. + Các lễ hội. . . kế hoạch hoá lãnh thổ và kinh tế du lịch.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Để khai thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch.Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui định về sử dụng tự nhiên một cách hợp lý. + Khí hậu.

phía đông và đông bắc giáp tỉnh Sóc Trăng.2.Vị trí địa lý Tỉnh Bạc Liêu nằm ở miền Tây Nam Bộ. phía tây và tây nam giáp tỉnh Cà Mau. Phía bắc giáp tỉnh Hậu Giang và Kiên Giang. Lịch sử hình thành Trải qua bao biến cố. cách thành phố Hồ Chí Minh 280 km (về phía bắc). thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long. vùng đất Bạc Liêu vẫn ngày càng trù phú do phù sa bồi lấn ra biển và hơn hết là nhờ sự “chung sức. thăng trầm của lịch sử.1. đồng lòng” dựng xây quê Trang 11 . 1. phía đông và đông nam giáp biển Đông.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ TỈNH BẠC LIÊU 1. có toạ độ từ 9000’00’’ đến 9037’30’’ vĩ độ bắc và từ 105015’00” đến 105052’30” kinh độ đông.

Chúa Nguyễn Phúc Chu đặt tên toàn bộ thôn xóm vùng này là trấn Hà Tiên. Trấn Giang. Năm 1802. Ngày 5-1-1867. Đến ngày 18-12-1882. Mạc Cửu dâng vùng đất Mang Khảm cho chúa Nguyễn Phúc Chu. Khơme và Hoa. chia Nam Kỳ thành lục tỉnh: Biên Hoà. sắc lệnh trên được áp dụng cho toàn Trang 12 . An Giang. Phần đất tỉnh An Giang. Năm 1877. Định Tường. Năm 1757. Pháp điều chỉnh Nam Kỳ còn 20 khu tham biện. Gia Định. nhân dân quy tụ ngày càng đông. Ngày 20-12-1899. Pháp chia Nam Kỳ thành 24 khu tham biện (inspection . Trấn Di được bãi bỏ. vua Minh Mạng bỏ thành Gia Định. toàn quyền Đông Dương ký sắc lệnh bỏ xưng danh địa hạt. Địa hạt Bạc Liêu là địa hạt thứ 21 của Nam Kỳ. Hà Tiên. một di thần nhà Minh ở Trung Quốc đến vùng Mang Khảm chiêu tập một số lưu dân người Việt.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu hương của ba dân tộc Kinh. Quảng Xuyên. Long Thuỷ của đại lý (Dlégation) Cà Mau thuộc địa hạt Rạch Giá (Arrondissement de Rach Gia) và hai tổng Thạnh Hoà. Năm 1680. lập ra Trấn Giang (Cần Thơ). Toàn bộ vùng đất phương Nam thuộc về chúa Nguyễn. thực dân Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ. Luống Cày (Lũng Kỳ). Thạnh Hưng của đại lý Châu Thành thuộc địa hạt Sóc Trăng và thành lập địa hạt Bạc Liêu (Arrondissement de Bạc Liêu). Đến ngày 5-6-1876. Đến năm 1777. Mạc Cửu lập dinh trại đồn trú tại Phương Thành. Vĩnh Long. với tước Cửu Ngọc Hầu. Năm 1832. Vĩnh Thanh (tức Vĩnh Long). Năm 1808. Long Xuyên (Cà Mau). Cần Bột (Campốt) lập ra những thôn xóm đầu tiên trên vùng đất Bạc Liêu. phong Mạc Cửu là Tổng binh trấn Hà Tiên. tính từ Châu Đốc đến Sóc Trăng và Bạc Liêu tính đến cửa biển Gành Hào. Biên Hoà. Rạch Giá. Ngày 1-1-1900. Phú Quốc.có người dịch là khu thanh tra) do các viên thanh tra hành chính (inspecteur) đảm nhiệm. đổi thành tỉnh. Mạc Cửu. Hà Tiên. Trấn Di (Sóc Trăng. trấn Gia Định đổi là thành Gia Định cai quản 5 trấn: Phiên An. bao gồm đất từ Hà Tiên đến Cà Mau. Năm 1708. lúc đầu có 2 đại lý: Vĩnh Lợi và Vĩnh Châu. Bạc Liêu). Định Tường. đại lý đổi thành quận. người Hoa cư trú ở Mang Khảm. Pháp cắt 3 tổng: Quảng Long. chúa Nguyễn Phúc Khoát thu nhập thêm vùng đất Ba Thắc. vua Gia Long lên ngôi. Hưng úc (tức Vũng Thơm hay Kompong som).

quận Hồng Dân thuộc tỉnh Rạch Giá giao hai làng Vĩnh Hưng. Về phía chính quyền cách mạng: việc phân chia địa giới hành chính tỉnh Bạc Liêu trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ khác hẳn chính quyền Sài Gòn. Ngày 13-11-1948. huyện Vĩnh Châu được đưa về tỉnh Bạc Liêu. huyện An Biên và huyện Hồng Dân đưa về tỉnh Rạch Giá. Năm 1951. Liên Tỉnh uỷ miền Tây chia các huyện Giá Rai. Đồng thời. Hồng Dân. Năm 1918. quận Vĩnh Lợi cắt một phần đất phía bắc nhập thêm vào quận Vĩnh Châu. Khánh An. Ngày 25-10-1955. Ngụy quyền Sài Gòn ký Sắc lệnh số 254/NV tái lập tỉnh Bạc Liêu gồm các quận: Giá Rai. đồng thời thành lập thêm quận mới lấy tên là quận Ngọc Hiển. Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định hợp nhất Trang 13 . gồm các xã: Khánh Bình Đông. tỉnh Bạc Liêu tiếp nhận hai huyện An Biên. Khánh Bình Tây. thành lập thêm huyện Trần Văn Thời. Vĩnh Châu và Phước Long (Rạch Giá). tỉnh Bạc Liêu giao quận Vĩnh Châu và làng Hưng Hội về tỉnh Sóc Trăng. thành lập tỉnh Ba Xuyên. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ. Huyện Vĩnh Lợi và thị xã Bạc Liêu được tái lập. Cùng thời điểm này. Năm 1947. Vĩnh Lợi. Diện tích của tỉnh Bạc Liêu lúc này là 740 nghìn ha. cắt 2 làng Vĩnh Trạch. Vĩnh Lợi. sáp nhập các quận Giá Rai. Hưng Mỹ. Làng Châu Thới hợp nhất với làng Long Thạnh thành làng Thạnh Thới. Hồng Dân của tỉnh Rạch Giá. Ngày 8-9-1964. Vĩnh Châu. tỉnh Sóc Trăng giao làng Châu Thới về Bạc Liêu. Địa phận này tồn tại cho đến ngày 30-4-1975.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Nam Kỳ. chính quyền thực dân Pháp cắt một phần đất phía nam quận Vĩnh Lợi và một phần đất phía bắc quận Cà Mau thành lập quận Giá Rai. Năm 1904. Năm 1957. Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh số 143/NV phân định lại địa phận hành chính các tỉnh miền Nam. thị xã Bạc Liêu về tỉnh Sóc Trăng. Vĩnh Châu vào Sóc Trăng. Khánh Lâm. Trần Hợi. Vĩnh Lợi để thành lập thị xã Bạc Liêu. tỉnh Bạc Liêu. Toàn bộ vùng đất quận Cà Mau lập thành tỉnh An Xuyên. Vĩnh Phú về quận Vĩnh Lợi. năm 1955. Vĩnh Lợi. Năm 1948.

với mật độ dân số 339 người/km². Năm 1962. tiếp đến là người Khmer và người Hoa. Giá Rai.3. đọc theo tiếng Trung. Khu uỷ Tây Nam Bộ quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu. Xuất xứ tên gọi Danh xưng “Bạc Liêu”. Vào đầu năm 1976. làm nghề hạ bạc.chaume (đánh cá và cỏ tranh). thành phố thì Bạc Liêu đứng thứ 40 về diện tích và thứ 48 về dân số. gồm 4 đơn vị hành chính cấp huyện: Vĩnh Lợi. ba dân tộc chủ yếu là dân tộc Kinh (chiếm khoảng 90% dân số) – dân tộc Khmer (chiếm khoảng 7% dân số) và dân tộc Hoa (chiếm khoảng 3% dân số).Cà Mau đổi tên thành tỉnh Minh Hải. có nghĩa là xóm nghèo. đi biển. thành huyện Vĩnh Lợi . Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam hợp nhất hai tỉnh Bạc Liêu . họ căn cứ vào tên Pô Léo theo tiếng Triều Châu nên gọi vùng đất này là Phêcheri .4. đồn.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu huyện Vĩnh Châu và huyện Vĩnh Lợi. đến gần giữa năm 1976 tỉnh Bạc Liêu . Hồng Dân và thị xã Bạc Liêu.Cà Mau thành tỉnh Bạc Liêu .Vĩnh Châu. Dân số Dân số tỉnh Bạc Liêu là 856. Theo tài liệu tổng điều tra dân số (1999) thì trong tổng số Trang 14 . 1. tức nghề chài lưới. 1. nơi đó có một đồn binh của người Lào. thành lập huyện Vĩnh Châu. Tỉnh uỷ Sóc Trăng quyết định tách huyện Vĩnh Châu khỏi huyện Vĩnh Lợi . Trên địa bàn Bạc Liêu có 3 dân tộc sinh sống. người Kinh chiếm phần lớn. huyện Giá Rai sáp nhập vào tỉnh Cà Mau. tỉnh Bạc Liêu được tái lập lần thứ hai và giữ nguyên cho đến ngày nay. Còn người Pháp. Năm 1963. Một giả thuyết khác cho rằng: Pô là bót. Pô phát âm theo tiếng Hán Việt là “Bạc” và Léo phát âm là “Liêu”. Tháng 11-1973. Nếu so với 63 tỉnh.250 người (01/4/2009). Ngày 1-1-1997.Vĩnh Châu. Ngoài ra còn một số giả thuyết khác . đánh cá. vì trước khi người Hoa kiều đến sinh sống.Cà Mau. giọng Triều Châu là Pô Léo. Liêu là Lào (Ai Lao) theo tiếng Khơme.

Đến cuối năm 2005. Diện tích.900 người 1997: 2.485 km².300 người 2003 (TĐBKQSVN): 2. Vĩnh Lợi.9%. người Kinh chiếm gần 90.200 người (trung bình năm) 2000 (Tổng cục Thống kê): 744. 736.521 km².2 Trang 15 . 1.230 người1 1996 (số liệu Tổng cục Thống kê): 2.900 người 1998: 2.6.520. thậm chí chỉ có trên dưới một chục người.325 người.7 km². mỗi dân tộc chỉ có dưới 100 người. dân cư qua các thời kỳ:      1971: 2. 352. Hồng Dân. người Hoa chiếm 3.1 km².485 km². Phần lớn diện tích tự nhiên của tỉnh là đất bằng nằm ở độ cao trên dưới 1.100 người 1999 (Tổng điều tra dân số 1-4): 2. 768. Bạc Liêu được tái lập với 4 đơn vị hành chính gồm: 3 huyện (Hồng Dân. 770. Đông Hải và thị xã Bạc Liêu. các dân tộc còn lại.000 người 2004 (Tổng cục Thống kê): 2525. người Khmer chiếm 7.250 người       1.5.63 km². tỉnh Bạc Liêu có 6 huyện (chia tách từ 3 huyện cũ) là Phước Long. Giá Rai) và thị xã Bạc Liêu. địa hình Bạc Liêu là vùng đất trẻ. Đơn vị hành chính Ngày 1-1-1997. (Tổng cục Thống kê) 738.0%.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu dân trên địa bàn Bạc Liêu. 856. 786.487. Đất đai.1%. 756.300 người 2001: 2. Hoà Bình.485 km². được hình thành chủ yếu do sự bồi lắng phù sa ở các cửa biển tạo nên.800 người 2002: 768. Giá Rai. 800. trong đó thị xã Bạc Liêu là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh.559 km². 768.7 km². Vĩnh Lợi.200 người 2009 (Tổng cục Thống kê): 2525.

Tài nguyên rừng và động . Trên địa bàn tỉnh có nhiều kênh rạch lớn như kênh Quản LộPhụng Hiệp. kênh rạch của Bạc Liêu nối với biển bằng cửa Gành Hào. rừng Bạc Liêu có 104 loài thực vật. mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 . Ngoài ra. Đất đai: Bạc Liêu có diện tích đất tự nhiên 2. cách thị xã Bạc Liêu khoảng 3 km (về phía đông). Bạc Liêu có 01 vườn chim hoang dã (diện tích hơn 30 ha) ở xã Hiệp Thành.000 km². lâm vồ. 8 loài bò sát.7. giá.5 0C. hai vườn cò ở thị trấn Phước Long và Trang 16 .Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu m so với mặt biển.11 Nhiệt độ trung bình năm 28.. sông rạch và kênh đào chằng chịt. núi nên không có các chấn động địa chất lớn. 10 loài thú nhỏ. không có đồi. Địa hình: khá bằng phẳng. Theo Viện sinh học nhiệt đới. 1. cho phép đánh bắt mỗi năm 24-30 vạn tấn cá và khoảng 1 vạn tấn tôm.. kênh Cạnh Đền.594 km2 . Biển Bạc Liêu có tiềm năng hải sản tương đối lớn với 661 loài cá và 33 loài tôm. Địa hình có xu hướng thấp dần từ đông bắc xuống tây nam và khu vực nội đồng thấp hơn vùng gần bờ biển. còn lại là những giồng cát và một số khu vực trũng ngập nước quanh năm.5 năm sau... nhiệt độ thấp nhất trong năm là 210C (vào mùa mưa).5 đến tháng 10 .. Hệ thống sông ngòi.8. chà là. kênh Phó Sinh. kênh Giá Rai. cửa Nhà Mát và cửa Cái Cùng. thời tiết chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô (mùa nắng) bắt đầu từ tháng 10-11 năm trước đến tháng 4 .Tài nguyên .. Bên dưới là thảm thực vật gồm cỏ và các loài dây leo. nhiệt độ cao nhất trong năm là 36 0C (vào mùa nắng).thực vật : rừng Bạc Liêu thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn như: tràm. cóc. Ngoài phần đất liền còn có vùng biển rộng 40. Địa hình cơ bản là đồng bằng với các cánh đồng rộng mênh mông.Khí hậu Bạc Liêu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. 1.

cò ngà. cò lông bông. kênh đào chằng chịt.Chợ Hội (dài 29 km) và kênh Giá Rai . trong đó rạch Bạc Liêu dài 35 km. đoạn Bạc Liêu .5 km). rạch Nhà Thờ. tức Hậu Giang). gồm nhiều loại như: điên điển. vịt nước.. cơ bản chia làm hai nhóm: Nhóm 1: chảy ra hải lưu phía nam.. Trang 17 . rạch Cái Keo.. cá. .Gành Hào dài 18 km. giang sen. Đặc biệt. Nhóm này gồm rạch Ba Xuyên và các nhánh nhỏ của rạch Ba Xuyên. Biển Bạc Liêu có nhiều loài tôm.Biển: Bạc Liêu có bờ biển dài 56 km.1903.Chủ Chí . chính quyền thực dân lại dùng xáng nạo vét mở rộng kênh đào Bạc Liêu . Sau chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 . kênh xáng cầu số II . Trong đó. Về kênh đào: để tháo phèn phục vụ sản xuất và phục vụ nhu cầu giao thông..Cà Mau (dài 66 km) và đào thêm kênh Bạc Liêu . sông Mỹ Thanh (70 km) có các nhánh là rạch Lé.. ốc. quắm trắng. rạch Trò Nho. rạch Gốc.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Vĩnh Phú Tây (huyện Phước Long). Hàng năm.. mỏ thác.1918). giai đoạn 1901 . rạch Trà Niêu.ngã tư Vĩnh Phú .. Nhóm 2: chảy ra sông Ba Thắc (thường gọi là sông Hậu. diệc Sunatra. đào kênh xáng Lộ Bẻ .Hệ thống sông ngòi: Bạc Liêu có hệ thống sông ngòi. vạc.Cà Mau dài 48. gồm: sông Gành Hào (dài 55 km) có các nhánh là rạch Giồng Ké..Phụng Hiệp dài 140 km.Cổ Cò (dài 18 km). chính quyền thực dân đã đào kênh Quản Lộ . ốc cao. sò huyết.. số lượng hơn 60 nghìn con.Phó Sinh .Cạnh Đền (dài 33 km). vườn chim Bạc Liêu là vườn chim lớn nhất trong tỉnh với khoảng hơn 40 loài chim. đào kênh xáng Hộ Phòng . 5 km. Vườn chim Bạc Liêu là một trong những khu vực được đưa vào hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia của Việt Nam. . rạch Trà Teo.Phước Long (dài 24 km) và kênh xáng Cầu Sập . quắm đen. sản lượng khai thác đạt gần 100 nghìn tấn cá.Ngan Dừa (dài 49. tôm. còng cộc. một vườn chim với loài giang sen quý hiếm ở huyện Đông Hải. thằng chài. sản lượng tôm gần 10 nghìn tấn. năm 1925. rạch Bạc Liêu. chính quyền thực dân tiếp tục khai thác vùng đất Bạc Liêu với quy mô lớn hơn: năm 1920. le le.. cò trắng. rạch Lộ. Đến năm 1915.Cống Cái Cùng (dài 13 km). chằn bè. năm 1931 đào kênh xáng Xóm Lung .

trồng trọt hoặc nuôi tôm. Giá trị sản xuất nông nghiệp (Giá cố định 1994) đạt 9.7%. Đây là điều kiện lý tưởng cho Bạc Liêu phát triển thêm quỹ đất.11.cầu hàng hoá trên thị trường Bạc Liêu tương đối ổn định. công nghiệp . Với ngành thủy sản. tăng 25.83% GDP) 1. Kinh tế Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) năm 2011 đạt 9. tăng 7.78% trong GDP.xây dựng chiếm 24. sản lượng lương thực 900 ngàn tấn. Hàng năm.060 tỷ đồng.10.7% so với năm 2010.2% so năm 2010. Chỉ số giá cả năm tăng 16. giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh lên 4.826 tỷ đồng. tăng 11. Song song với việc đẩy mạnh sản xuất. Thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt gần 25 triệu đồng (tương đương 1.8% so với cùng kỳ. cá.958 tỷ đồng.36% so năm 2010 (chiếm khoảng 25. tăng 12% so với năm 2010. tăng 4. sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng năm 2011 lên trên 250 ngàn tấn.52% và dịch vụ chiếm 23. nên tình hình cung . Công thương nghiệp Theo số liệu năm 2011.5% Kim ngạch xuất khẩu thực hiện 260 triệu USD.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Bờ biển thấp và phẳng rất thích hợp để phát triển nghề làm muối. Tổng vốn đầu tư phát triển năm 2011 thực hiện 5. tăng 18.356 tỷ đồng.74% so năm 2010 1. đồng thời là yếu tố quan trọng đưa kinh tế biển của Bạc Liêu phát triển 1.9. tăng 20.5% (chỉ số giá cả nước trên 18%). Nông nghiệp Năm 2011. UBND tỉnh đã triển khai thực hiện tốt các giải pháp theo tinh thần Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ. tăng 18.18% so năm 2010 Trang 18 .123 USD) Cơ cấu kinh tế: khu vực nông nghiệp chiếm 51. sự bồi lấn biển ở Bạc Liêu ngày một tăng.603 tỷ đồng. tổng mức lưu chuyển hàng hoá đạt 18.

buộc họ phải đến đây xả túi xây cất dinh thự. Đáng chú ý là những vật liệu chủ yếu trang trí nội thất các biệt thự này như cửa và chấn song cửa.000 lượt khách Quốc tế). kết hợp với du lịch tâm linh. khác hẳn những biệt thự Pháp ở Hà Nội. Du lịch Với nguồn tài nguyên biển và hệ sinh thái ven biển đa dạng. 1. Do cởi mở và có phần sành điệu nên đất Bạc Liêu không chỉ giữ được đôi chân phiêu lãng của cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Một số điểm du lịch của tỉnh như: Biển Nhà Mát. UBND tỉnh đã xây dựng kế hoạch cụ thể và chỉ đạo các sở. với khoảng 530 ngàn lượt du khách. bởi người dân xứ này có tư duy khoáng đạt. Khu di tích nơi thành lập chi bộ Đảng đầu tiên Tỉnh Bạc Liêu (Đông Hải). Sài Gòn.12. nhiều dự án du lịch đã được chủ trương đầu tư và đang triển khai tích cực. gạch và đá cẩm thạch ốp tường hoặc lát nền đều được các đại điền chủ bỏ công tốn của sang tận Paris mua về. Hoạt động du lịch tiếp tục phát triển. *Những giai thoại và đặc sản Trang 19 . nhà công tử Bạc Liêu. Tháp cổ Vĩnh Hưng (Vĩnh Lợi).. đầu thế kỷ 20. tăng gần 17%.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 1. Đà Lạt. tác giả bài Dạ cổ hoài lang bất hủ. Doanh thu du lịch năm 2011 đạt gần 470 tỷ đồng. Khu di tích Đồng Nọc Nạn (Giá Rai). ngành.13. tỉnh đang chú trọng phát triển du lịch sinh thái. địa phương tập trung triển khai Nghị quyết 02-NQ/TU của Tỉnh ủy về đẩy mạnh phát triển du lịch. nơi tận cùng của đất nước này. mà còn có sức hút mạnh mẽ đối với tầng lớp đại điền chủ Nam Kỳ lục tỉnh vào những năm cuối thế kỷ 19. Quán Âm Phật đài. khu lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (Thành phố Bạc Liêu). lại có những dãy nhà Tây sang trọng và đường bệ. nhiều người tới thành phố Bạc Liêu ngày nay đã không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn thấy tại nơi đất chua phèn ngập mặn. Bởi thế. Khu du lịch vườn nhãn. tăng 18% so với năm 2010 (Trong đó có khoảng 17. Văn hóa Bạc Liêu xưa kia nổi tiếng là đất ăn chơi với nhiều giai thoại về " công tử Bạc Liêu". thích giao lưu tìm bạn qua hội hè và qua sinh hoạt văn hoá cộng đồng..

hay việc thuê người Pháp làm công cho mình. nó vẫn còn đó như để hoài niệm về một quá khứ hoàng kim.. Bác Sáu Lầu. muối Đông Hải nổi tiếng khấp Nam Kỳ Lục tỉnh. của một trong những dòng dõi sang trọng bật nhất sứ Nam Kỳ. cua.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Nhắc đến Bạc Liêu. tức nhạc sĩ Cao Văn Lầu. mời bạn một lần ghé thăm để thấp lên nén hương tỏ lòng ngưỡng mộ và tưởng nhớ về một bật thi sĩ tài hoa. bấy nhiêu thôi cũng đủ nói rõ về khả năng ăn chơi có thứ hạng của vị công tử lừng danh đất Nam kỳ. chúng ta không quên nhắc về 2 giai thoại. đã thổi hồn lãng mạng cho người nhạc sĩ tài hoa. không chỉ tiêu thụ trong nội địa mà còn xuất khẩu thu ngoại tệ . Mãnh đất đầy thơ văn ấy. về cả sản lượng lẫn chất lượng Trang 20 . vẫn còn lưu giữ ngôi biệt thự sang trọng ấy. được dùng những thứ vật chất xa hoa mà phận tá điền hằng mơ ước. nếu có diệp về Bạc Liêu. sò. người cho ra đời bản Dạ cổ hoài lang vào những năm đầu thế kỷ XX. Công tử Bạc Liêu và Bác sáu Lầu Công tử Bạc Liêu người từng đi thăm ruộng bằng máy bay. cũng tọa lạc trên con đường mang tên ông. Bạc Liêu vốn được thiên nhiên ưu ái cho những sản vật vô cùng trù phú. óc. bà hội đồng. Nếu vùng nam QL1A nổi tiếng với nguồn lợi thủy hải sản vô cùng dồi giàu và đa dạng. là khu lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. trên đường Điện Biên Phủ. để ông có thể viết lên một kiệt tác để đời. Đặc biệt. nép mình bên dòng sông Bạc Liêu. với sản lượng hơn 250000 tấn thủy sản hằng năm. vốn được xem là tiền thân của những bản Vọng cổngày nay. cái nôi của Vọng cổ. nghiêu. mực. tôm. Đặc sản ẩm thực Nằm ở vùng đồng bằng châu thổ Cửu Long. ngày nay.. Ngày nay. để hiểu nhiều hơn về cuộc sống của một đại điền chủ thời ấy. Hãy thử một lần đến đây. hay chỉ đơn giản là thử một lần vào vai ông. và cũng là chiếc máy bay riêng đầu tiên ở Đông Dương. cá biển. như cá đồng. Bạc Liêu.

chất phác. có 3 dòng văn hóa đan xen nhau đó là: văn hóa Kinh. bộc trực. gái Kinh và Hoa thường gọi nhau là “hia”. thờ thần hoàng bổn cảnh có công với nước được triều đình nhà Nguyễn Sắc phong. miền Bắc. trên các bờ sông. Ngoài ra còn có đại lễ Kỳ Yên còn gọi là lễ thượng điền giữa tháng 5 âm lịch.Đồng bào Khơ-me có lễ hội vào năm mới (Chol-Chnam-Thmây) vào giữa tháng 4 dương lịch. “cha truyền con nối”. lớp người trung niên giữa Kinh và Khơ-me hay kết thân nhau làm “ní” (người cùng tuổi). các loại lẩu như lẩu cá kèo. các kinh xáng. “chế” thay cho từ Trang 21 . dám phản kháng mạnh mẽ trước bất công xã hội. bất tận. và luôn khẳng định được giá trị trên bản đồ gạo Việt Nam.Hàng năm trên vùng đất Bạc Liêu có rất nhiều lễ hội.. vùng đất Bạc Liêu mới hình thành trên 200 năm. phát trển. Đồng bào Hoa có lễ cúng Thanh Minh vào tháng 3 âm lịch.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Về nam QL1A là những cánh đồng lúa bạt ngàn. lễ thắp miếu còn gọi là lễ hạ điền vào giữa tháng 12 âm lịch. 1. Tính cách con người Bạc Liêu Về mặt lịch sử. Nơi cho ra đời gạo một bụi đỏ Hồng Dân. Do điều kiện đất đai và cấu tạo dân cư buổi đầu.. Người Kinh có lễ hội cúng đình. Trai. Bánh canh. Bên cạnh đó là những món ăn của người Bạc Liêu vốn đã làm ngất ngây bao du khách như: Bánh xèo. Họ định cư rải rác trên các gò đất cao. người Hoa đã đan xen nhau. đoàn kết khi hoạn nạn. trong quá trình hội nhập. Bún nước lèo. thích “làm ăn lớn”. lễ thí giàng vào tháng 7 âm lịch. văn hóa Khơme. Dân cư không hình thành từ “lũy tre làng”. Phong cách ứng xử người dân Bạc Liêu mang tính cách nông dân thôn dã. lễ hội Đôn-ta nhằm thực hiện việc xá tội vong nhân theo đạo lý nhà Phật.14. vốn được xem là đặc sản Bạc Liêu. lẩu mắm. Bạc Liêu không giống các tỉnh miền Trung. Trong giao tiếp. Người Kinh. Ở Bạc Liêu. luôn tương trợ. dĩ nhiên nó sẽ được chế biến theo một phong cách riêng biệt của ẩm thực Bạc Liêu. lễ hội chào mặt trăng (Oóc-Om-Boóc) vào ngày rằm tháng 10 âm lịch. nghèo khổ “tha phương cầu thực”. hay lẩu hải sản. người Khơ-me. văn hóa người Hoa. Dân cư Bạc Liêu đa số là dân “xiêu tán”. mà không lẫn vào đâu được. chân thành cởi mở.

Trường học mọc lên đều khắp. Trước đây một số ngươi giàu ở Bạc Liêu có quan niệm “lấy táu đong lúa chứ không ai lấy táu đong chữ”. Trang 22 . vè của ông Bửu Trượng. nói thơ điệu Bạc Liêu của ông Thái Đắc Hàn. qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp. có bản vọng cổ của bác Sáu Lầu. nhưng thiếu chữ.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu anh.Về văn hóa nghệ thuật Bạc Liêu. những tác phẩm nghệ thuật tương xứng với bề dầy lịch sử của nó. một thời tiêu xài “xả láng” để đồng bào cả nước mỉa mai sự xa xỉ đó bằng tên gọi “công tử Bạc Liêu”. chuyện vui bác Ba Phi. Tuy vậy Bạc Liêu vẫn chưa có những công trình. chị. đủ đạo đức làm dân mà ít thuộc kinh truyện”. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công. Bộ mặt văn hóa khác hẳn xưa. vùng đất Bạc Liêu trở thành căn cứ kháng chiến của Nam bộ. Tính cách người dân Bạc Liêu dưới thời Pháp thuộc in đậm tính cách lưu dân người Việt “đủ tinh thần thực tiễn. Điển hình là Ba Huy con ông Hội đồng Trần Trinh Trạch. chống Mỹ.

8. 7. huyện Giá Rai. xây dựng năm 1877. xây dựng đầu thế kỷ 19. Phước Đức Cổ Miếu (Chùa Bang). TXBL. Đồng Nọc Nạng. huyện Giá Rai. xây dựng năm 1972. tại F3. 2. 5 Thành Hoàng Cổ Miếu (chùa Minh).Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu PHẦN 2: TÀI NGUYÊN DU LỊCH VẬT THỂ CỦA TỈNH BẠC LIÊU 2. Bộ VHTT xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2006 *Di tích cấp tỉnh 1. Bộ VHTT xếp hạng (nay là công nhận) là di tích Lịch sử năm 1991. địa điểm khóm 2. xây dựng năm 1780. Bộ VHTT xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2000. xã Châu Thới. xây dựng năm 1871. TXBL. Bộ VHTT xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992. xây dựng năm 1865. tại F3. huyện Vĩnh Lợi. địa điểm ấp 4 xã Phong Thạnh. địa điểm ấp Bà Chăng. 6. UBND tỉnh Minh Hải xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1996. F8. thời điểm xây dựng khoảng thế kỷ IV – XIII. TXBL. Bộ VHTT xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2000. Trang 23 . Bộ VHTT xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2005. tại Trà Kha B. xã Ninh Thạnh Lợi. Đình An Trạch. năm sự kiện 1928. 4. Bộ VHTT xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2000. Bộ VHTT xếp hạng là di tích Lịch sử năm 1998. Chùa Kro Pum Mean Chey Kos Thum (chùa Cỏ Thum). F5.1. Tháp Vĩnh Hưng. Đền thờ Chủ Tịch Hồ Chí Minh. huyện Hồng Dân. xây dựng năm 1832. Phước Đức Cổ Miếu (Miếu Ông Bổn). xã Vĩnh Hưng. Đình Phong Thạnh. Danh sách các di tích văn hóa-lịch sử được xếp hạng cấp quốc gia và cấp tỉnh của tỉnh Bạc Liêu * Di tích cấp Quốc gia 1. huyện Vĩnh Lợi. TXBL. địa điểm ấp Trung Hưng. tại ấp 4 thị trấn Giá Rai. 3. địa điểm ấp Cỏ Thum.

TXBL. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1997. tại xã Phong Thạnh Tây A. huyện Đông Hải. 4. 3. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 1997. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2006. UBND tỉnh Minh Hải xếp hạng là di tích lịch sử năm 1996. Chùa Long Phước (chùa Cô Bảy). Tiên Sư Cổ Miếu. TXBL. Khu Mộ cố Nhạc Sĩ Cao Văn Lầu. xây dựng năm 1971. 11. huyện Đông Hải. xã An Trạch. xây dựng năm 1885. xây dựng năm 1840. 6. huyện Vĩnh Lợi. xây dựng năm 1887. Trang 24 . Thiên Hậu Cổ Miếu (chùa Bà Thiên Hậu). xây dựng năm 1976. tại xã Vĩnh Trạch Đông. thị xã Bạc Liêu. tại phường 7. Đền Thờ Trần Quang Diệu. tại xã Long Điền. 7. Khu căn cứ Tỉnh ủy Bạc Liêu (1973 . Chùa Kom Phi Sakor Prêkchou (chùa Xiêm Cán). Chùa Giác Hoa ( Chùa Cô Hai Ngó). tại F2. huyện Vĩnh Lợi.Văn hóa năm 2006. xây dựng năm 1901. TXBL. tại F1. tại ấp Thành Thưởng. huyện Phước Long.TXBL. tại ấp Cây Cui. xã Ninh Thạnh Lợi. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2001. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2006. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1997. huyện Hồng Dân. xây dựng năm 1870. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2001. Đền Thờ Chủ Tịch Hồ Chí Minh. 14. tại Thị trấn Hòa Bình. xây dựng năm 1855. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2000. Chùa Vĩnh Đức.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 2. Đình Nguyễn Trung Trực (đình An Trạch).1975). 8. xây dựng năm 1917. tại F5. tại xã Châu Thới. tại ấp Trà Hất xã Châu Thới. 10. xây dựng năm 1890. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2001. xây dựng năm 1972.1975). Thành Hoàng Cổ Miếu. xây dựng năm 1973. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử . tại F1. 13. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2001. xây dựng năm 1919. TXBL. 9. huyện Hòa Bình. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2005. Khu căn cứ Huyện ủy Vĩnh Lợi (1971 . 12. 5.

/. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2008. huyện Đông Hải.Văn hóa năm 2009.2. xã Ninh Thạnh Lợi. 20. 18. tháng 2/1930. Đình Bình An. Trang 25 .1. tỉnh Bạc Liêu. phủ thờ . Bia kỷ niệm trận đánh Cầu Trâu. (trận quyết tử đòi lại ruộng đất của anh em Mười Chức với bọn địa chủ.Văn hóa năm 2008. Miếu Bà Thiên Hậu. xây dựng đầu TK 20. quan lại cướp đất). tại xã Vĩnh Mỹ A. 19. Khu di tích có diện tích 3 ha với nhiều hạng mục: Khu mộ gia đình Mười Chức. tại F3. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử . UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử . xã Phong Thạnh. xã Long Điền. Đồng Nọc Nạng Tọa lạc tại ấp 4. TXBL. huyện Giá Rai. tại xã Châu Hưng A. TT Hòa Bình. tại ấp Rạch Rắn. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử .Văn hóa năm 2006.Văn hóa năm 2006. năm sự kiện 1962. huyện Hòa Bình. Tài nguyên du lịch vật thể được xếp hạng của tỉnh Bạc Liêu 2. huyện Vĩnh Lợi. xây dựng trên 100 năm.nhà trưng bày hiện vật.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 15. huyện Hòa Binh. 16. UBND tỉnh công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2008. Sự kiện lịch sử Ninh Thạnh Lợi năm 1927. 17. tại ấp Chủ Trọt. Đồng Hồ Thái Dương (Đồng hồ Đá). huyện Hồng Dân. xây dựng cuối TK 19.2. nhà thủy tạ…. Nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên tỉnh Bạc Liêu. tại ấp Láng Giài. 2. cụm tượng diễn tả lại sự kiện ngày 17/02/1928. ghi nhớ chiến công của anh hung liệt sĩ Mai Thanh Thế. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử .

Đã trãi qua hơn bảy mươi năm.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Di tích đuợc Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1991. cánh đồng Nọc Nạng vẫn còn đọng lại khúc ca bi tráng ngày nào. sự kiện ấy đã đi vào thơ ca hò vè và nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật với hình tượng người nông dân Bạc Liêu chất phác thật thà mà đầy nghĩa khí Trang 26 . Di tích này là nơi diễn ra cuộc đấu tranh anh dũng của nông dân để bảo vệ ruộng đất của mình trước sự cướp bóc của bọn địa chủ cường hào dựa vào thế lực của bọn thực dân Pháp.

Tuy cuộc đấu tranh của nông dân vùng Nọc Nạng là một cuộc đấu tranh tự phát nhưng cuộc đấu tranh ấy biểu hiện được đặc điểm sự đấu tranh của giai cấp nông dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long thời ấy.2. chống công quyền. huyện Vĩnh Lợi. tinh thần đó đã góp phần hun đúc cho truyền thống kiên cường. ở cuộc đấu tranh đó thể hiện được tinh thần kiên cường và nghĩa khí phóng khoáng của người nông dân Nam bộ. vợ ông Mười Chức (cùng đứa con trong bụng). gia đình ông Tại mất 4 người là: Mười Chức (em ông Tại). Sau khi mua đất mà không lấy được đất do gia đình ông Tại phản đối kịch liệt. gia đình ông Tại lại tiếp tục gửi đơn khiếu nại… Báo chí cũng lên án mạnh mẽ. sau nhiều thủ đoạn xảo quyệt và thâm độc hòng chiếm đất của gia đình ông Nguyễn Văn Tại không xong. bất khuất của dân tộc Việt Nam. Nhưng không vì thế mà chùn bước. 2.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Chuyện bắt đầu vào năm 1927. giết người". nó cũng nói lên được tinh thần chống áp bức của người nông dân thật thà chất phác. Sáu Nhịn (em ông Tại). Trong cuộc chống trả này. Mấy người còn lại trong gia đình ông Tại đều bị bắt và kết tội là "dậy loạn. Về phía bên kia thì tên Toutnier bị thương nặng (qua ngày sau thì chết) và vài tên khác bị thương. tên Mã Ngân (một địa chủ có tiếng ở Cà Mau) đã lừa bán cho vợ một Quan huyện là Hồ Thị Trân. Sự kiện đồng Nọc Nạng năm 1928 là một bằng chứng. Năm Mẫn (em ông Tại). Tháp cổ Vĩnh Hưng Tọa lạc tại ấp Trung Hưng 1B. Di tích đuợc Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1992. chứng minh tính đặc thù của chế độ thực dân Pháp cướp nước và bè lũ quan lại tay sai. Trước dư luận của công chúng cuối cùng bên Chính quyềnPháp phải ra Nghị định trả đất cho gia đình ông Tại. Thế là một cuộc đấu tranh của gia đình ông Tại chống lại sự trấn áp của bọn thực dân Pháp đã xảy ra đẫm máu vào ngày 17/02/1928 (nhằm ngày 29/01 âm lịch).2. Trang 27 . xã Vĩnh Hưng A. nên bọn chúng đã mượn thế lực thực dân Pháp đến trấn áp nhằm lấy ruộng và lúa của gia đình ông Tại.

tháp Vĩnh Hưng đã và đang được tu bổ nhằm bảo tồn và phát huy tác dụng của một di tích kiến trúc nghệ thuật tầm cỡ quốc gia. mà trong cuộc khai quật tại tháp Vĩnh Hưng. tọa lạc tại ấp Trung Hưng 1B. Di tích đuợc Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 1992. Trang 28 . gốm.Eo còn sót lại duy nhất ở Tây Nam bộ. đá quí … đánh dấu một giai đoạn tồn tại và phát triển khá dài (từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII sau công nguyên) của tháp cổ Vĩnh Hưng.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Đây không chỉ là một kiến trúc tháp thuộc nền văn hóa Óc . xã Vĩnh Hưng A. huyện Vĩnh Lợi. đồng. các nhà khảo cổ học còn thu được một bộ sưu tập hiện vật hết sức quí giá với nhiều tượng đá. Với những giá trị vốn có ấy.

trông ngôi tháp có khối hình trụ đứng sừng sững giữa rừng cây. Vâng. gỗ đất nung đến khi gạch đạt dến độ cứng? Mặt khác đến với Tháp Cổ Vĩnh Hưng người xem không khỏi thắc mắc – gạch ở đoạn dưới có màu đỏ. Ngày xưa cổ nhân Khơme ở đây đã có kỹ thuật xây dựng hết sức độc đáo mà các nhà khoa học bây giờ vẫn chưa lý giải thống nhất – họ dùng chất kết dính có nguồn gốc thực vật. ngoài ngôi tháp ngoài khu vực còn có chùa Phước Bửu Tự theo phái Trang 29 . Trở lại với di tích. phải chăng Tháp đã có lần trùng tu? Để lý giải những vấn đề trên. với dáng vẻ cổ kính – một phần bị rong rêu phủ. và kỹ thuật cấu trúc kết dính gạch lại với nhau không có khoảng đệm ở giữa rất giống tháp của người Chăm ở vùng Ninh Thuận. hoặc trước đó dùng vôi vữa. Bình Thuận… Ngày nay trong xây dựng người ta dùng chất liệu kết dính bằng xi măng. có lẽ nên nhường lại cho các nhà khoa học. hay áp dụng phương pháp mài những viên gạch thô (gạch chưa nung) đem xếp chồng lên thành hình ngôi Tháp.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Từ xa. đoạn trên có màu rắng. kỹ thuật chế tác gạch. còn lại nhiều chỗ gạch loang lỗ khuyến sâu vào gần bên trong lòng Tháp bởi thời gian dài chịu ảnh hưởng của mưa nắng. Gần tháp khoảng mười thước hiện ra một nét kiến trúc nào đã từng gặp. xong phủ lớp rơm.

Cảnh vật ở đây thật hấp dẫn du khách. không người trông nom hoang phế dần dần. Ở mỗi dưới chân trong cũng như ngoài khuôn viên di tích bao trùm một vùng rộng lớn có đường kính gần 1km. Cứ như vậy đến sáng lúc nào bát hương cũng nghi ngút khói. Các tượng Phật đem gởi tận chùa Đìa Muồng (H. và chăm lo giữ gìn ngôi tháp.đông nhất là ngày rằm tháng giêng hằng năm (ngày 15 – 1 – âl). khấn vái mua may bán đắt. Tất cả đều có chung một ý nguyện cầu phúc. Hồng Dân) đến nay vẫn còn lưu giữ. ngôi chùa không còn tồn tại cùng với tên gọi của nó. bắt gặp rất nhiều những mãnh gốm thô đủ màu sắc.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Bắc tông. trắng ngà… và nhiều ảnh gốm. Do điều kiện chiến tranh các vị sư cùng dân Khơme ở đây di tản đi tứ xứ. hằng ngày đều có khách thập phương đến thăm viếng thắp hương. dõi mắt bao quát cánh đồng ruộng mênh mông phì nhiêu của một vùng đất đã được ngọt hóa. cầu an. sau vườn. Tháp cổ Vĩnh Hưng là công trình kiến trúc nghệ thuật có niên đại dịch ra từ bia đá: 892 AD (sau Công Nguyên) và là nơi tín ngưỡng của nhân dân đã được Bộ Văn Trang 30 . nâu. móc mùng ngủ tạm qua đêm. nói chung chỗ nào trống là họ có thể căn liều. hằng ngàn người trong và ngoài tỉnh đổ về dâng hương. Chùa Phước Bửu Tự được người Việt tái tạo lại trên nền chùa cũ ( theo phái Nam tông). Nhìn thoáng qua không thấy gì quí hiếm. ngoài công trình kiến trúc tháp du khách có thể hít thở không khí trong lành đượm mùi hương hoa đồng nội.eo rất phổ biến trong vùng đồng bằng Tây Nam bộ. xám lợt đỏ. xám sậm. nhưng đối với các nhà nghiên cứu nó như có ngôn ngữ đặc biệt chứa đựng lượng thông tin vô cùng quan trọng. Từ các di vật ấy nhà khoa học khẳng định đây là đặc trưng của nền vă hóa Óc . Đêm đến có vô số chiết liều dựng lên. mảnh đá có khắc hoa văn khác nhau. Điều thú vị ở đây còn là di sản khảo cổ gần như lộ thiên trên mặt đất. Người không ngủ được thì thỉnh thoảng đến đốt nhang lế Phật. Dòng người qua lại xen kẽ với các quầy hàng được bày bán theo lề đường chật ních cả lối vào. du khách dễ nhận ra ở ngoài đồng ruộng. quanh chân tháp. ngày xưa ngươi dân Khơme trong vùng xây dựng làm nơi tu hành của các vị sư.

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu hóa Thông tin ra quyết đinh số 983 ngày 04/08/1992 liệt vào danh mục di tích quốc gia.Đền thờ chủ tịch Hồ Chí Minh Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở xã Châu Thới.3.300 m2. cách thị xã Bạc Liêu 18 km về phía Tây Bắc. Đền được xây dựng bằng gạch.2. cách thị xã Bạc Liêu 18 km về phía Tây Bắc. Tọa lạc trong khuôn viên hơn 9. 2. đòn tay gỗ dầu. Đền thờ được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1998 Đền thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh ở xã Châu Thới. hàng Trang 31 . huyện Vĩnh Lợi. tỉnh Bạc Liêu được xây dựng năm 1972. tỉnh Bạc Liêu được xây dựng năm 1972. huyện Vĩnh Lợi. phía trước có mái hiên và ban công đổ mái bằng. Khoảng hơn 300 tài liệu và hiện vật phản ánh quá trình nhân dân xã Châu Thới chiến đấu bảo vệ đền thờ và các tư liêu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ Tịch được lưu giữ tại nhà trưng bày. Đền đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử cấp quốc gia. Đây là niềm tự hào của quân và dân Bạc Liêu.

Khu lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu Được xây dựng tại phường 2. Trang 32 . ngày nghỉ đặc biệt vào ngày sinh nhật Bác có rất đông du khách và nhân dân thăm viếng.2. thị xã Bạc Liêu. Hiện nay.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu năm vào các ngày lễ lớn. Di tích được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 1997. sẽ là nơi tham quan hấp dẫn của du khách.4. Đền được xây dựng bằng gạch. đòn tay gỗ dầu. Khoảng hơn 300 tài liệu và hiện vật phản ánh quá trình nhân dân xã Châu Thới chiến đấu bảo vệ đền thờ và các tư liêu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ Tịch được lưu giữ tại nhà trưng bày. phía trước có mái hiên và ban công đổ mái bằng. Đền thờ đã được qui hoạch mở rộng với diện tích 45.000 m2 và nhiều hạng mục công trình mang ý nghĩa giáo dục truyền thống và đậm nét văn hóa dân tộc. 2.

Khu đất diện tích gần 3ha này vừa được chính quyền Bạc Liêu trùng tu tôn tạo với kinh phí 6 tỉ đồng thành “Di tích lịch sử văn hóa Khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu” (gọi tắt Khu lưu niệm). qua chiếc cổng khá mỹ quan. vì phải làm mướn Trang 33 . Hòa thượng Minh Bảo.1976). đã cho mảnh đất trú thân gần chùa. phải di dời đi nơi khác rồi trở lại nơi đây. tỉnh Long An. Hòa thượng giàu đức từ bi này còn dạy chữ Nho cho ông nữa.3 tỉ đồng. tại đây ta sẽ tiếp cận nhiều điều lý thú. Từ trung tâm thị xã Bạc Liêu qua cầu Kim Sơn (hay còn gọi là Cầu Quay).Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Nhạc sĩ Cao Văn Lầu (1892 – 1976) là người sáng tác bản “Dạ cổ hoài lang” nổi tiếng. là thân sinh nhạc sĩ Cao Văn Lầu. Sống tại quê nhà không được 4 năm.nhạc sĩ Cao Văn Giỏi. Cô thuyết minh trẻ trung xinh đẹp Diệu Hiền vừa hướng dẫn khách vừa linh hoạt trình bày làm rõ hơn những điều khách cần biết. Qua đó ta biết: Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sinh năm 1892 tại xóm Cái Cui. đi trên con đường mang tên Cao Văn Lầu thêm khoảng 1km lại rẽ phải. tiền thân của bản Vọng cổ ngày nay. thị xã Bạc Liêu (tại nơi mà gia đình an tang cố nhạc sĩ khi tạ thế . đi vào khoảng 300m là đến khu di tích.văn hóa khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu được xây dựng tại phường 2. trụ trì chùa Vĩnh Phước An. quận Vàm Cỏ. Di tích lịch sử . đi thẳng đến khu mộ gia đình nhạc sĩ quá cố tài danh Cao Văn Lầu. Di tích được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 1997 Mộ Cao Văn Lầu tọa lạc ngay trên đất nhà của gia đình cố nhạc sĩ. nhạc sĩ Cao Văn Lầu theo cha mẹ tới thị xã Bạc Liêu mong tìm sự đổi đời nhưng không ổn. làng Chí Mỹ. Vào Khu lưu niệm. chính thức đi vào hoạt động vào ngày rằm tháng 8 âm lịch năm Kỷ Sửu (29/9/2009) nhân kỷ niệm 90 năm ngày ra đời bản “Dạ cổ hoài lang” do chính tay nhạc sĩ Cao Văn Lầu trước tác.nhạc sĩ Cao Văn Lầu và bà Thạch Thị Tài . Đó là sơ nét về cổ nhạc Bạc Liêu và thân thế sự nghiệp cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu. cám cảnh gia đình ông. bước thêm vài bước là đến Nhà trưng bày hiện vật. Khu di tích này vừa được trùng tu tôn tạo mở rộng trong một khuôn viên có diện tích 2772 m2 với tổng kinh phí hơn 6. chia làm hai cặp: Bà Trần Thị Tấn (vợ nhạc sĩ Cao Văn Lầu) . Tại đây. được vài năm. Từ khu mộ gia đình nhạc sĩ Cao Văn Lầu. bao gồm 10 hạng mục. Đó là bốn ngôi mộ xây gạch tô đá mài đẹp. Rồi ông học thêm chữ Quốc ngữ.

thọ 84 tuổi. Cuộc sống cơm áo đã khó khăn mà cuộc sống vợ chồng ông càng ảm đạm. đi đến quyết định chia cắt lương duyên khiến vợ chồng ông chịu cảnh “én nhạn lìa đôi”! Điều này khiến ông buồn bã. Trang 34 . luôn thương nhớ người xưa. Bà vợ ông. nhưng cũng dành thời gian thỏa mãn niềm đam mê cổ nhạc bằng cách xin thụ giáo một nhạc sĩ tài danh xứ này: Nhạc Khị.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu kiếm tiền giúp gia đình độ nhật. ông đã sáng tác bài “Dạ cổ hoài lang”. Một đêm rằm Trung thu năm 1918. ông có tư chất thông minh và có năng khiếu về âm nhạc. khiến cha mẹ ông buồn bã.... sau 3 năm chung sống không có được đứa con nào. nghe tiếng trống công phu từ ngôi chùa Vĩnh Phước An Tự gần đó vọng vang buồn thảm. Vì vậy mà Cao Văn Lầu vừa đi làm. Có lẽ năng khiếu này của ông là do tố chất của người cha cũng là nhạc sĩ ..ông Cao Văn Giỏi. Từ nhỏ. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu qua đời năm 1976 tại TP.HCM.

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Tại Nhà trưng bày hiện vật này. ta còn được biết quá trình phát triển từ bản “Dạ cổ hoài lang” đến bản vọng cổ nổi tiếng . tranh. trống. nhạc cụ cổ nhạc. giữa Phòng trưng bày có tượng nhạc sĩ Cao Văn Lầu khói hương nghi ngút.. nghệ nhân tiêu biểu quê hương Bạc Liêu. chập chã. một số phục trang sân khấu cải lương của một số nghệ sĩ cải lương nổi tiếng. trống cơm.. Đặc biệt. tum. cảnh đờn ca tài tử phục dựng bằng sáp.. dàn nhạc lễ nhạc sĩ Cao Văn Lầu từng sử dụng: cò.nhạc sĩ ưu tú Văn Giỏi dùng để sáng tác từ năm 1976 (tặng ngày 25/7/2009).bản nhạc “tổ” của nghệ thuật sân khấu cải lương Nam Bộ. hai bên tường là hai bản Trang 35 .. một số hình ảnh nhạc sĩ.. gáo. trong đó có cây ghi-ta phím lõm của “Đệ nhất danh cầm miền Nam” . bút tích nhạc sĩ Cao Văn Lầu và chiếc lục lạc nhạc sĩ đeo ngày thơ bé khi ở quê nhà Long An. Bên cạnh đó còn có nhiều tư liệu quý (ảnh chụp) một số tham luận về việc bảo tồn và phát huy giá trị bản “Dạ cổ hoài lang”.

huyện Giá Rai (nay thuộc ấp Rạch Rắn..2. huyện Giá Rai (nay thuộc Trang 36 . xã Long Điền.5. Di tích được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là Di tích lịch sử cấp tỉnh năm 2008. phần lời và phần nhạc cùng vài tác phẩm khác của ông bằng nét bút thư pháp bay bướm trên nền vải hoa sang trọng. huyện Đông Hải). Di bộ đầu Bạc tích lịch sử Nơi thành lập Chi Đảng Cộng Sản tiên của tỉnh Liêu Được thành lập vào tháng 2/1930 tại làng Phong Thạnh.. Chi Sản đầu bộ Đảng Cộng tiên của tỉnh Bạc Liêu được thành lập vào tháng 2/1930 tại làng Phong Thạnh. Qua sân gạch tàu khá rộng rãi với sân khấu lộ thiên dùng tổ chức các buổi lễ là nhà bán hàng lưu niệm. trong đó có một sân khấu nhỏ dành làm nơi biểu diễn đờn ca tài tử phục vụ công chúng của “tài tử” các nơi khi viếng thăm và có nhã hứng 2.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu “Dạ cổ hoài lang” (nhịp 2).

hoàn thành đưa vào sử dụng vào ngày 3/2/2009. khi mới thành lập.. hoa viên. Trang 37 . giành lại độc lập.500m2. di tích có tổng diện tích là 2. nơi đây chỉ có 3 đảng viên nhưng đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong phong trào cách mạng của tỉnh Bạc Liêu. hoàn thành xuất sắc vai trò lãnh đạo.305. Hơn 80 năm trước. Công trình được bắt đầu xây dựng từ năm 2008.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu ấp Rạch Rắn./. nhà trưng bày.. một số bài báo của Báo Tiếng Chuông Rè. chỉ đạo nhân dân trong tỉnh cùng với nhân dân cả nước đứng lên phá bỏ xiềng xích nô lệ. lưu giữ nhiều hình ảnh. Di tích lịch sử Nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng Sản đầu tiên mãi là niềm tự hào của quân và dân Bạc Liêu. cây cảnh và các công trình khác. Trải qua nhiều khó khăn. trưng bày. hiện vật quý cờ đỏ búa liềm. Đây là di tích lịch sử cấp tỉnh có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu. tổng vốn đầu tư ban đầu trên bốn tỷ đồng.5m2 bao gồm các hạng mục công trình như: bia kỷ niệm. khu sinh thái đầm lầy . nhất là tuổi trẻ của địa phương. đảng viên Cộng sản các thế hệ nơi đây luôn phát huy tính tiên phong. huyện Đông Hải) là một mốc son lịch sử ghi dấu sự ra đời sớm nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Bạc Liêu và khu vực lúc bấy giờ. tự do của dân tộc… Di tích nơi thành lập Chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của tỉnh Bạc Liêu rộng gần 2. Đây là “địa chỉ đỏ” nhằm góp phần giáo dục truyền thống vẻ vang cho các thế hệ. xã Long Điền.dừa nước nhằm tái hiện quang cảnh xưa.

Thành Hoàng Cổ Miếu ( Chùa Minh) Thành Hoàng Cổ Miếu (chùa Minh).. xây dựng năm 1865. tọa lạc tại phường 3.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 2. phù điêu. Trang 38 . mành. các hoành phi.đều chạm nổi trên gỗ quý rất tinh vi. theo thời gian trở nên đen bóng. thị xã Bạc Liêu. Bộ Văn hóa Thể thao xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2000.2.6. tại phường 3. Chùa Minh mang đậm nét kiến trúc cung đình Trung Hoa với cột vấn rồng chạm nổi trên gỗ quý và đá hoa cương nguyên khối. câu đối. thị xã Bạc Liêu. Chùa được xây dựng năm 1865.. Trên bàn thờ Thành Hoàng Bổn Cảnh là bộ lư đồng mắt tre có một không hai. cấu trúc hình chữ "công".

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 2.2.7. Chùa Giác Hoa (Chùa cô Hai Ngó) Trang 39 .

Chùa toạ lạc tại ấp Xóm Lớn. Chùa thờ Phật theo phái Bắc Tông. Diện tích bảo vệ là 9. kết hợp hài hoà kiến trúc Đông .Tây. tại xã Châu Thới. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử năm 2001. ngoại quốc”. Tháng 3-1919. Hàng năm. Đông . tượng Quan Âm Nam Hải (đặt ở giữa trời). đông lang. bao gồm chính điện.Tây. cột cờ. vào các ngày rằm tháng Giêng. phủ thờ (thờ tộc). tháng Bảy và tháng Mười âm lịch. huyện Vĩnh Lợi.769 m 2 . có thể nói đây là một công trình kiến trúc thật đặc sắc hội tụ nghệ thuật kiến trúc của cả Trang 40 . nhưng lại hòa quyện với nhau thành một thể thống nhất. trung ngươn và hạ ngươn. xã Châu Thới. đất xây dựng chùa theo lối “nội công. Đông và Đông Nam. chùa tổ chức lễ cúng lớn với các lễ như: thượng ngươn. được sông Xẻo Chính bao bọc ở 3 hướng Bắc.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Chùa Giác Hoa ( Chùa Cô Hai Ngó). bà Huỳnh Thị Ngó hiến tiền. huyện Vĩnh Lợi. Không chỉ tiến hành các nghi lễ tôn giáo. được bố trí chặt chẽ. Chùa là tổng thể các công trình kiến trúc lớn nhỏ. các ngày lễ này còn là dịp sinh hoạt văn hoá tinh thần của đông đảo nhân dân địa phương. mô pháp. xây dựng năm 1919. miếu nhà thờ vong. Chùa cổ Giác Hoa mang mang màu sắc văn hóa phương Đông lại vừa có những đường nét kiến trúc phương Tây. cân đối.

Hằng ngày ông phải quảy gánh với đôi cần xé lớn đi khắp các xóm làng ở Châu Hưng. đây cũng là một loại nghề đễ làm nếu trúng thì cũng “vốn một lời mười”. ông đã dùng số tiền này để làm vốn mua bán ve chai lông vịt – một cái nghề vốn ít lời nhiều nhưng ít ai để ý. là vì người ta gọi theo tên thật của người xây dựng chùa. con gái lớn (trưởng nữ) của ông Huỳnh Giang Hiệp và bà Nguyễn Thị Kiểu. Chùa Giác Hoa sở dĩ có tên dân gian là chùa Cô Hai Ngó. gia sản của ông mang theo chỉ là một chiếc hui ná với vài bộ quần áo chẳng lành. Toàn khu di tích tọa lạc tại ấp Xóm Lớn. Có một gia đình nông dân người Việt ở xã Châu Thới thấy ông siêng năng giỏi dắn nên đã gả con gái cho ông. xã Châu Thới. không sống nổi dưới ách áp bức bóc lột của quan lại địa phương và chế độ phong kiến hà khắc của nhà Mãn Thanh nên đã cùng một số người trong làng rời bỏ quê hương để tìm lấy cái ăn cái mặc.UB ngày 7 tháng 11 năm 2001. bên bờ kinh Cái Dầy cách trung tâm Thị xã Bạc Liêu khoảng 6km về hướng Bắc. người địa phương gọi theo thứ tự gia đình người miền Nam là cô Hai Ngó. Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã ra quyết định bảo vệ di tích số : 1280/QĐ. Ông đến Bạc Liêu vào những năm 80 của thế kỷ XIX. huyện Vĩnh Lợi. Châu Thới để mua ve chai lông vịt đến tối mịt mới về nhà. Cha của cô nguyên là một nông dân nghèo ở Triều Châu (Trung Quốc). Hai vợ chồng ông đã cố gắng làm ăn nên chẳng bao lâu dành dụm được một số tiền kha khá. nên cái nghề nuôi vịt chạy đồng chẳng tốn thức ăn đã khiến cho vợ chồng ông Hiệp chẳng mấy chốc lại giàu to. Ông lại là người có năng khiếu về kinh doanh bất động sản nên tiền nuôi vịt được bao Trang 41 . nhưng nhờ lao động cần cù lại không xài phí nên ông đã dành được một số tiền nho nhỏ. tỉnh Bạc Liêu. người đó là bà Huỳnh Thị Ngó (1885 – 1951). phía dưới tấm biển là con đường nhỏ dẫn vào di tích.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu hai nền văn hóa Đông Tây. đó là bà Nguyễn Thị Kiểu. trong những ngày đầu tiên sống nơi quê người xứ lạ lại không có vốn liếng tiền bạc nên phải đi làm thuê làm mướn rất là cơ cực. Từ Thị xã Bạc Liêu theo đường Trần Phú ra Quốc lộ IA đi khỏi cầu Cái Dầy khoảng 300m thấy một biển lớn có ghi ba chữ chùa Giác Hoa. Lúc ấy cả mấy cánh đồng lớn trong vùng chỉ có một hai bầy vịt. ngôi chùa còn mang nhiều dấu ấn lịch sử tôn giáo và dân tộc trong những năm tiền bán thế kỷ XX. hai ông bà lại xoay qua nghề nuôi vịt. do hoàn cảnh nghiệt ngã.

vì vậy ông nghĩ cũng nên chọn một người làm công siêng năng để làm rể. thật là một cái đau khó có bút mực nào tả xiết. vì chỉ năm tháng sau. chẳng bao lâu cô đã hạ sinh một bé trai đầu lòng rất kháu khỉnh. ông cũng bị chúng chém trọng thương. Một thiếu phụ trẻ phải mang tang chồng đó đã là một đau khổ lớn rồi. nhưng luôn nhớ đến thuở hàn vi của mình. Do duyên may xui khiến. đến lúc người chung quanh cứu viện. nên mặc dù đã đánh gục một số tên cướp. người địa phương ở đây gọi ông là Chủ Chá (gọi tên ông theo âm Triều Châu). không như các em của cô được sinh ra và lớn lên trong cảnh giàu sang – có người chỉ biết ăn chơi như ông Huỳnh Như Phước một thời được gọi là Công tử Bạc Liêu. Sau đám cưới vợ chồng cô Hai được cha mẹ cho ra riêng. bọn cướp bị đánh lui nhưng ông Chiêu do mất máu quá nhiều nên cũng không sống được. Nhưng đứa con trai chưa đầy tháng thì một tai họa lại ập đến gia đình cô. ông Thái Kim Chiêu một mình chống trả. vào năm 1915 cô đã thọ Tam qui ngũ giới với Hòa thượng Chí Thành (trụ trì chùa Phi Lai. Trong bốn chị em thì cô Hai Ngó là người được sinh ra từ trong cảnh nhà còn bần hàn. tuy ông rất giỏi võ nhưng phải đối phó cùng lúc với nhiều tên. Huỳnh Như Phước (Dù Hột) và Huỳnh Thị Mùi. Lúc ông có nhiều đất. Hai ông bà Huỳnh Giang Hiệp có tất cả bốn người con. Cô Hai Ngó kể từ đó như kẻ mất hồn cứ luôn miệng gọi chồng. Châu Đốc) một nhà sư thuộc phái Lâm Tế rất tinh thông Phật học (trên long vị của Hòa thượng hiện đang thờ tại chùa Phi Lai có ghi rất rõ Trang 42 . chỉ vì ý nghĩ này nên sau đó ít lâu ông đã gã cô Hai Ngó cho một người làm công tên Thái Kim Chiêu. Ông Huỳnh Giang Hiệp lúc lớn tuổi đã trở thành người giàu có. hai gái hai trai: Huỳnh Thị Ngó. hai người đươc cha mẹ cho một ngôi nhà khá khang trang tại kinh Thầy Bang ở xã Châu Thới. gọi con và cuối cùng cô đã tìm vào cửa Phật. nhưng tại họa đến với cô chưa hết. Đó là một mất mát lớn trong đời cô Hai Ngó. vào một đêm tối trời một bọn cướp xông vào cướp của. Huỳnh Như Gia (Dù Kia). đứa con đầu lòng của cô bị bệnh nặng qua đời. ông nhớ lúc nhỏ nhà nghèo nhưng do siêng năng mà được vợ.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu nhiêu thì ông đem mua đất bấy nhiêu. cuộc sống gia đình của cô lúc đầu rất hạnh phúc. lại thêm lâm vào cái cảnh mất con. đã chứng kiến cái cảnh mua bán đi sớm về khuya của cha và cái cảnh cầm sào đội nắng đội mưa để giữ từng bầy vịt của mẹ nên cô rất thông cảm với cuộc sống của người lao động.

để tất cả hòa nhập thành một tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời – một ngôi chùa với tên gọi Giác Hoa. cô liền tiến hành việc xây cất chùa. Mặc dù sống cuộc đời tu hành. Sau đó ít lâu lại có một người cháu của cô Hai tên Tào Thị Lái cũng xin làm lễ xuất gia. tên thật : Đồng Thị Ngọc Dung. Sư cô xuất thân từ một gia đình có truyền thống tu hành. cứu tế xã hội. hiện còn danh sách lưu trữ tại chùa Giác Hoa). Nhiều lần chở gạo cứu trợ cho dân nghèo bị lũ lụt ở An Giang. cổ kính cũng có mà hiện đại cũng có. đó là Sư cô Hồng Dung ( 紅容. thường gọi là cô Sáu Tạ. lúc bấy giờ trong chùa cô Hai còn có thêm một người bạn đồng môn. trong chùa có một căn nhà được dành riêng chứa quan tài để Trang 43 . Vào tháng 3 năm 1919. cô Hai cho xây dựng trường học. khi xuất gia cô Hai được thầy đặt pháp tự là Hồng Nga (臨臨). trong năm người chị em của cô đã có bốn người xuất gia. nhất là những việc làm bố thí. Châu Đốc. mướn thầy về dạy học cho con em ở địa phương. sau khi được chấp thuận. vừa là một công trình kiến trúc của người Việt lại pha trộn một số đường nét kiến trúc của người Hoa. Cô Hai được thầy đặt pháp danh là Diệu Ngọc ( 臨臨) và hướng dẫn cách tu tại gia. Từ đó cô theo lời thầy dạy bảo không chỉ tụng kinh niệm Phật ở nhà mà con luôn xuất tiền cho hoặc vận động nhiều người tham gia cứu tế người nghèo khó bị thiên tai hoặc bệnh hoạn ở các nơi. quê ở ấp Vàm Lẽo xã Hưng Hội. Đơn của cô đã được Nhà nước Pháp phê chuẩn vào ngày 10/03/1919. Sư cô này trước khi xuất gia cũng có pháp danh Diệu Ngọc giống như pháp danh của cô Hai. nhưng cô Hai Ngó luôn tham gia và thực hiện những công việc lợi ích xã hội. nay thuộc xã Hưng Thành. Chùa được xây dựng xong sau 18 tháng và đó cũng là thời điểm của cô Hai và người con gái nuôi tên Thái Thị Sửu đồng xuống tóc đi tu.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 臨臨臨 臨 臨 臨 臨 臨 臨 臨 臨 臨 臨 臨 臨 … LÂM TẾ CHÁNH TÔNG TAM THẬP CỬU THẾ THƯỢNG CHÍ HẠ THÀNH HÚY NHƯ HIỂN… không hiểu tại sao có nhiều tài liệu viết là Trí Thiền). số gạo cứu tế có lần lên đến hàng chục tấn. Đây là một ngôi đại tự vừa mang vóc dáng phương Đông lại hòa nhập chút ít dáng vẻ phương Tây. cô Hai Ngó do một phát tâm lớn đã làm đơn xin phép chính quyền tỉnh Sóc Trăng để xây dựng một ngôi chùa ở tại nơi chôn nhau cắt rún của cô.

Năm 1945. Đồng thời hàng năm cứ đến Rằm tháng Bảy là cô đem lúa gạo của mình ra giúp đỡ cho dân nghèo ở địa phương và các nơi khác. khủng bố dã man đối với các phong trào đấu tranh cách mạng và những người bị tình nghi là Việt Minh. cô Hai là người đầu tiên đứng ra vận động thành lập tổ chức này và chùa Giác Hoa chính là điểm dạy Phật học đầu tiên cho Ni bộ miền Nam trong một thời gian khá dài. Về phần Đại đức Thiện Quảng có lẽ chưa đủ sức làm trụ trì một ngôi chùa lớn như chùa Giác Hoa nên chỉ hơn một năm sau. cô Hai đã nhờ vào uy tín của mình can thiệp cho hàng trăm người được an toàn. cô Hai đã ủng hộ cho cách mạng 2. Trước khi viên tịch cô đã chọn Sư cô Hồng Dung làm người thừa kế trụ trì chùa Giác Hoa. Năm 1946 giặc Pháp trở lại xâm lược nước ta. Ngày 24 tháng 4 năm Tân Mão (nhằm ngày 29 tháng 5 năm 1951) cô Hai Ngó viên tịch.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu giúp đỡ người nghèo khi có việc ma chay tống táng. ngoài ra còn luôn vận động cứu trợ những người bị thiên tai lũ lụt ở các vùng An Giang. Chúng tiến hành đàn áp. Trong thời điểm này chùa Giác Hoa chính là nơi trú ẩn an toàn nhất cho những người bị nạn. Từ đó trở về sau nhiều lớp gia giáo tuần tự được khai giảng tại đây. Đến năm 1967. không thể cáng đáng nhiều công việc của một ngôi chùa lớn nên cô chỉ làm trụ trì đến năm 1957 thì giao lại cho Đại Đức Thiện Quảng nguyên là đệ tử của Hòa thượng Nhật Minh trụ trì chùa Đại Giác Sóc Trăng. đầu năm 1959 thì giao lại cho sư huynh của mình là Đại đức Hồng Minh làm trụ trì. Châu Đốc. Sư cô đã tịch ở đây. lớp an cư năm đó có trên 100 Tăng Ni đến tu học. Sư cô Hồng Dung sau khi rời khỏi chùa Giác Hoa đã về tu tịnh ở chùa Linh Sơn tại Núi Sam (Châu Đốc).000 giạ lúa. Hòa thượng Chí Thành và Hòa thượng Khánh Anh được cô Hai mời đến chùa Giác Hoa để mở khóa an cư kiết hạ. Đồng Tháp… Đến năm 1927. cô còn xây dựng thêm ngôi chùa Châu Viên ở ấp Công Điền và ngôi chùa Châu Long ở ấp Bà Chăng (xã Châu Thới). Số lúa này được ông Dương Kỳ Hiệp và ông Ngô Sang Trung (Hai Tý) Thư ký hành chính tỉnh Bạc Liêu ký nhận. Đại đức Hồng Minh viên Trang 44 . Đây cũng là thời điểm ra đời của Ni bộ miền Nam. hiện ngôi tháp của Sư cô còn ở phía sau ngôi chùa này. Nhưng Sư cô Hồng Dung là người chỉ thích tu tịnh. hưởng ứng lời kêu gọi hủ gạo nuôi quân của Hồ Chủ Tịch.

một phần chính điện và hai bên đông lang và tây lang bị hư sụp. Chỉ ba tháng sau khi tiếp nhận trách nhiệm. nên ngày 24 tháng 7 năm Ất Dậu (2005) Thường trực Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu đã chính thức bổ nhiệm Sư cô làm trụ trì. lại thường bị bệnh. được thầy đặt cho pháp danh là Minh Khai.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu tịch. trong chùa lại thiếu người chăm sóc. Sư cô Nghiêm Thành đã tiến hành xây dựng một giảng đường khá lớn (13m x 21m). ông Huỳnh Văn Bá (cháu của Cô Hai) đã hưởng ứng việc làm tốt đẹp này. Ông được bầu làm Ủy viên Kiểm soát Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Bạc Liêu nhiệm kỳ 2000 – 2005. sửa chữa hoàn tất hai công trình nói trên trong năm 2002 và 2003. đi dứng khó khăn. Càng tốt đẹp hơn nữa là ngày khánh thành của giảng đường cũng là ngày khai giảng lớp Trung cấp Ni gồm 41 học viên (trong đó có 3 dự thính). mặc dù lúc này cô Nghiêm Thành chưa phải là trụ trì nhưng đã tích cực vận động trùng tu. ông lại có công với Cách mạng cũng là người có công với Phật giáo Bạc Liêu. ông đã cúng dường hơn một trăm triệu và tham gia xây dựng. Trong những người thừa kế cô Hai để trụ trì chùa Giác Hoa thì Thượng tọa Minh Khai là người gắn bó lâu năm. Nhận thấy khả năng quản lý và hoạt động Phật sự của Sư cô Nghiêm Thành có thể đảm đương được trọng trách. ông Lê Văn Bông xuất gia. nên Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu đã đề cử Sư cô Nghiêm Thành về chùa để phụ lo công việc Phật sự. Khởi công xây dựng ngày 12 tháng 10 năm Ất Dậu (2006) và hoàn tất ngày 20 tháng 2 năm Bính Tuất (2006). sự có mặt của Ban Trang 45 . nhận thấy Thượng tọa Minh Khai tuổi hạc đã cao. sức khỏe kém. với sự chứng minh của Thường trực Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu. bổn sư là Hòa thượng Trí Đạt trụ trì chùa Phước Long ở Cái Răng (Cần Thơ). Vào cuối năm 2001. chùa không có ai làm trụ trì nên vào cuối năm 1969 ông Lê Quân – Thường vụ Thị xã ủy Bạc Liêu đã phân công ông Lê Văn Bông (Chín Bông) là cán bộ Công an ấp Đông Hưng xã Vĩnh Hưng ra giữ chùa nhằm tạo cơ sở hoạt động hợp pháp cho cán bộ Cách mạng. vả lại sức khỏe của Thượng tọa Minh Khai càng lúc càng kém. Đến năm 1970. kể từ đó ông chính thức là người thừa kế tiếp nối coi sóc chùa Giác Hoa. Trong thời gian này.

đã tạo điều kiện thuận lợi cho giáo hội Phật giáo tỉnh tổ chức thành công lớp Trung cấp ni để tiếp tục đào tạo nhân tài cho thế hệ mai sau. Những việc làm thật vô cùng tốt đẹp đã góp phần phát triển Phật giáo tỉnh nhà. Sư cô Nghiêm Thành đã vận động trùng tu nhiều hạn mục của một công trình kiến trúc văn hóa cổ xưa đã hư hao nhiều chỗ. Ngoài ra còn xây dựng thêm nhà khách. phòng vi tính… Nhưng công trình xây dựng không dừng ở đó mà lại tiếp tục được tiến hành. chính quyền địa phương và trên hai trăm quan khách trong và ngoài tỉnh. còn khang trang hơn nhiều so với ngày trước. Quả là một thành tích xuất sắc đáng được biểu dương. Phần đất trống còn lại đều được cải tạo để ni chúng trồng rau cải. có những lúc không người vắng vẻ gần như hoang phế. Sư cô lại vận động xây dựng thêm hai dãy Ni xá liền nhau như chữ L với tổng diện tích 500m2. Với một khoảng thời gian ngắn chưa đầy bốn năm. nhưng kinh phí đầu tư dự kiến quá lớn.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Giám hiệu Trường Phật học Bạc Liêu. Ngoài số lượng 50 ni chúng trong chùa. Ngày 20 tháng 10 năm Bính Tuất (2006). Diện tích đất chung quanh chùa gần như hoang vu. tự lao động sản xuất để bớt đi một phần mua sắm cho các bửa ăn trong chùa. nay đã được xây dựng thành một tự viện uy nghi to lớn. một nhà trù và trai đường đã ra đời vào cuối năm 2007 với tổng diện tích gần 400m2 trên một mảnh đất ao đìa đầy lau sậy ở bên trái phía sau ngôi chùa. thế mà nay chùa Giác Hoa đã hoàn toàn hồi sinh. gồm tám phòng. ngôi chùa đã trãi qua một thời gian chiến tranh suốt mấy mươi năm dài không được trùng tu đã xuống cấp trầm trọng. Chùa Giác Hoa đã tồn tại gần một thế kỷ. mỗi phòng có tám giường cho ni sinh tu học. không những thế trụ trì chùa còn thừa kế được tâm ý của cô Hai. Sư cô Trụ trì còn có ý định cải tạo công viên phía trước và một bờ kè bên sông trước cửa chùa để cảnh quang thêm tôn nghiêm. phải hơn một tỷ mới đủ chi phí. trong số này có cả người ở trong và ngoài tỉnh. tôn túc của các tự viện. Sư cô còn tổ chức quy y cho hơn 550 đệ tử tại gia. mỗi khi lễ tết có từ vài trăm đến hàng ngàn lượt người đến chiêm bái viếng thăm. sau ngày Cô Hai viên tịch. thư viện. vì vậy công trình chưa tiến hành được. Trang 46 .

Chùa Xiêm Cán ( Chùa Komphir Sakor Prêchru) Chùa tọa lạc tại ấp Biển Đông A.8. một công trình kiến trúc độc đáo có sự hòa nhập của hai nền văn hóa đông tây. 2. UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích kiến trức nghệ thuật năm 2001. Tổng diện tích bảo vệ của chùa là 43.790 m2. xã Vĩnh Trạch Đông. một ngôi chùa có nhiều đặc điểm về văn hóa cũng vừa mang nhiều dấu ấn qua từng thời kỳ lịch sử. Trang 47 . cách trung tâm thị xã 12 km về hướng đông nam. thật rất xứng đáng là một di tích lịch sử văn hóa của tỉnh nhà.2.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Chùa Giác Hoa là một trong những ngôi chùa cổ lớn nhất tỉnh Bạc Liêu. thị xã Bạc Liêu.

Khoảng cách giữa các hạng mục này cách nhau cả trăm mét.. với lối kiến trúc vô cùng độc đáo. được đặt một tượng Phật rất to ngự trên cao. hòa với đỉnh nhọn như một chóp tháp. tọa lạc trên một sở đất rộng hàng ngàn mét vuông. sa la. nhiều bậc cấp và có hành lang bao quanh. Ấn tượng đầu tiên đập vào mắt du khách khi đến viếng chùa là cổng chùa. mô phỏng theo kiểu kiến trúc Ăng Co. Chùa được xây dựng khoảng nửa cuối thế kỷ XIX. điêu khắc rất công phu. với những đường nét. Mái chùa được cấu trúc thành nhiều tầng lớp chồng lên nhau. họa tiết.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Mặc dù chưa phải là ngôi chùa cổ nhất. những nét điêu khắc. không hề nhuốm chút bụi trần… làm cho tâm hồn du khách cảm thấy thư thái lạ thường. trang nghiêm khoe sắc với trời xanh. Một không gian yên tĩnh. Vì lẽ đó.5m.. Bên trong chính điện là hai hàng cột cao to nâng đỡ mái chùa. Gian chính điện này được trang trí nhiều hoa văn. trên nền cao 1. Chùa Xiêm Cán nằm cách thị xã Bạc Liêu 7km về hướng Đông Nam. tạo ra khoảng không gian cao vút. Bốn bức tường của ngôi chính điện có trang trí rất Trang 48 . với nhiều hạng mục. Trong đó. trang trí hết sức đa dạng. Bên trên được xây hình ba ngọn tháp. như: chính điện. không khí lại trong lành. làm cho ngôi chùa vốn dĩ trang nghiêm lại càng trang nghiêm hơn. các phù điêu và nhiều bức bích họa hết sức sinh động. Nam bộ. kiến trúc. bầu trời trong xanh. mộ tháp. tiếng chim hót văng vẳng từ xa. Du khách sẽ ngỡ ngàng trước một khuôn viên chùa bao la rộng lớn. nổi lên vẻ đẹp lộng lẫy của gian chính điện.. nhưng có thể nói. Gian chính điện là gian trang trọng nhất và cũng là thiêng liêng nhất. chiêm bái. nắng vàng soi qua kẽ lá. nằm ngay trung tâm của khuôn viên. nằm về hướng Đông. Mỗi hạng mục trong khuôn viên chùa là một công trúc đặc sắc. Cổng chùa cách khuôn viên chùa cả 100m. tiêu biểu cho lối kiến trúc đặc trưng của người Khmer. luôn tạo ấn tượng khó quên trong lòng du khách mỗi khi đến tham quan. chùa Xiêm Cán là một trong những ngôi chùa Khmer được liệt vào hàng lớn nhất. có nhiều nét chạm trổ. đẹp nhất và lộng lẫy nhất trong hệ thống chùa Khmer ở Nam Bộ. Phía trên có tượng hình rắn nhiều đầu.

ngụ ý rằng giáo lý Phật pháp soi sáng cho nhân loại. là hình tượng của con rắn 5 đầu. Đặc biệt. Đến Bạc Liêu. hoa văn về công việc và cuộc đời của Đức Phật. Trang 49 . còn hiểu được nét văn hóa đặc sắc của cộng đồng người Khmer ở Nam bộ nói chung. Còn sa la chính là nơi để các sư sãi nghỉ ngơi và cũng là nhà hội của sư sãi với các tín đồ Phật giáo Khmer. du khách không thể bỏ qua điểm tham quan chùa Xiêm Cán. cũng có trang trí rất nhiều bức bích họa. giúp mọi người sống hướng thiện như chính loài rắn đã được thuần hóa và phục thiện. Ở sa la này. Theo triết lý của người Khmer ở Nam bộ thì đó chính là những chướng ngại đối với Phật tử trên bước đường tu thành chánh quả. ở Bạc Liêu nói riêng. Đối diện ngôi chính điện là cột trụ biểu. dùng để thắp nến vào những ngày lễ. ngoài việc chiêm ngưỡng vẻ đẹp lộng lẫy của ngôi chùa. Bởi. trong các hạng mục ở đây.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu nhiều hình vẽ của Đức Phật từ lúc sinh ra cho đến khi nhập cõi Niết Bàn. du khách sẽ bắt gặp những hàng cột có đắp nổi phù điêu hình các tiên nữ và những quái vật.

. Vì vậy. không những xem chùa là nơi thờ phụng tu hành. chùa vẫn giữ được nét kiến trúc truyền thống của người Khơme và còn lưu giữ được khá nhiều tượng cổ và các tác phẩm nghệ thuật độc đáo như những tác phẩm điêu khắc (tập trung ở chính điện) diễn tả quá trình tu hành của đức Phật Thích Ca. Trang 50 . các con rồng Cabacroca uốn éo mềm mại (ở cửa chính điện). hoặc tượng chim thần Krud đính ở các đầu cột hay tượng thần nhân điểu (nữ thần) Kây . Người Khơme theo đạo Phật Tiểu thừa. học tập mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hoá cộng đồng...Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Hiện nay. lễ hội chính của chùa Xiêm Cán cũng là lễ hội của cả cộng đồng người Khơme.no hai tay nâng đỡ mái chùa.

người dân Khơme mang rất nhiều đồ lễ đến chùa sinh hoạt văn hoá và vui chơi trong suốt thời gian diễn ra lễ hội. Trang 51 .Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Vào ngày lễ.

Cà Mau chảy ngang qua theo hướng Đông . cầu cho mưa thuận gió hòa. cứ vào ngày 14 tháng 11 âm lịch đều tổ chức lễ giỗ. Sắc đỏ là màu chủ đạo trong đình. cách trung tâm thị xã khoảng 1. Cửa chính đình quay về hướng bắc. an khang thịnh vượng.. Người dân nơi đây một lòng thờ cúng ông. phường 5. Vu lan đều có văn tế Nguyễn Công Trứ. mở mang bờ cõi.Thông tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 2000. Đình được Bộ Văn hoá . nét đẹp và giá trị về văn hóa sẽ gây được ấn tượng mạnh cho du khách. bàn thờ ở ngôi đình chính được trang trí nghiêm trang vị danh sĩ Nguyễn Công Trứ .2. Sự tôn kính ấy đã đi vào cõi tâm linh của người dân địa phương một cách tự nhiên qua bao đời nay. Đình thuộc khóm 2.9. Diện tích đình là 2. Trang 52 . thị xã Bạc Liêu. Và trong các dịp lễ như: Kỳ yên. cho nên hàng năm. có con sông Bạc Liêu . cách trung tâm thị xã khoảng 1.980 m 2 . Tuy dáng vẻ bên ngoài không bắt mắt.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 2. thị xã Bạc Liêu.500 m về hướng đông nam.500 m về hướng đông nam. Từ những thân cột được chạm khắc nổi hình rồng.người có công khai hoang phục hóa. nhưng khi bước vào bên trong. phường 5..Đình An Trạch Thuộc khóm 2.Tây.

Thông tin công nhận là di tích kiến trúc Trang 53 . điêu khắc độc đáo.. trên mỗi cột có ghi câu đối. có tinh thần yêu nước. Năm Khải Định thứ 9 (năm 1924).1925) đình An Trạch được sắc phong “Bổn Cảnh Thành Hoàng”. tuy đã nhiều lần sửa chữa. Vu Lan đều có văn tế Nguyễn Công Trứ. Đông Lang và Tây Lang đều lợp ngói hình ống. qua nhiều giai đoạn. Sau này. cầu nguyện Ông giúp dân. Các công trình kiến trúc của đình gồm: Ngôi đình chính. Đình được Tri huyện Phạm Thành Mậu khởi công xây dựng vào ngày 6. cầu cho mưa thuận gió hòa. Ngôi đình chính có nền cao 0. đuổi Mỹ. 17 tháng giêng âm lịch hàng năm. Hằng năm. một người làm quan thời vua Tự Đức. Đầu mái chảy gắn gạch men màu xanh có hoa văn và hình răng cưa. khi xưa đình An Trạch thờ danh sĩ Nguyễn Công Trứ. sau. Mỗi mái hiên có 4 cột vuông chịu lực. đình đều tổ chức giỗ Ông. Sự tôn kính ấy đã đi vào cõi tâm linh của người dân địa phương như một dòng chảy tự nhiên. được xây dựng bằng gạch thẻ và có đắp chỉ gờ theo hình bát đấu. 8 mái.75m. cứ vào ngày 14 tháng 11 âm lịch. như: Kỳ Yên. Do điều kiện xây dựng thời bấy giờ còn nhiều hạn chế. Đình được Bộ Văn hoá . nên đình An Trạch đơn giản trông giống như một mái nhà ba gian. Trong những năm kháng Pháp. an khang thịnh vượng.1877 (năm Đinh Sửu) trên phần đất rộng 4.000m2 và đích thân làm Chánh bái. nhân dân tổ chức lễ kỳ yên rất lớn tại đình. đình là nơi tổ chức các buổi hội. Trong các ngày lễ chính.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Đình An Trạch được xây dựng vào năm Đinh Sửu (năm 1887) theo lối kiến trúc đình làng miền Trung (Huế). bốn góc có miếu nhỏ. với nhiều tác phẩm nghệ thuật. nhà hậu đình.4. Bốn cột hiên phía trước. nuôi chứa những người cộng sản. vật liệu được dùng cũng rất thô sơ. đầu cột đắp hoa văn hình lá cúc sơn màu xanh nhạt. Hiên đình có 4 mái: trước. Vào các ngày 15. đỉnh nóc có “Tứ long tranh châu”. Đây còn là một biểu hiện đạo lý tốt đẹp từ ngàn đời của dân tộc ta. sân đình sau. vua Khải Định đã sắc phong cho đình. họp của cách mạng. Đến nay. Tri huyện Hồ Vạn Thành làm Bồi bái. 4 hiên.. trùng tu nhưng đình An Trạch vẫn giữ được nét kiến trúc xưa. mở mang bờ cõi. nhiều hướng theo kiến trúc đình Huế. kiên cố và bề thế hơn với kiến trúc đa phương. Theo dân gian truyền tụng. thương dân và có công khai hoang phục hóa. 16. đình được xây dựng rộng hơn. sân đình trước. hai dãy nhà Đông Lang và Tây Lang. Thời vua Khải Định (1916 .

. khóm 7. Các vị tu hành ở chùa theo phái Bắc Tông. quy mô hơn.. thị xã Bạc Liêu. một phần kiến trúc chùa được trùng tu và xây thêm chính điện. Đến năm 1961. Chùa được xây dựng lần đầu vào năm 1890. tổng diện tích là 2.01m 2 .2. Chùa Vĩnh Đức thờ Phật Thích Ca ở chính điện. Đến năm 1915.232. nhất là các ngày lễ lớn (theo âm lịch) Trang 54 .Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu nghệ thuật cấp quốc gia năm 2000. Hậu Liêu. 2. quy mô nhỏ.. Tây Lang. Chùa Vĩnh Đức Chùa tọa lạc tại số 132 đường Cách Mạng.10. Phật tử khắp nơi thường đến chùa cúng bái. hoàn tất phần kiến trúc cơ bản như: Chánh Điện. phường 1. chùa được xây dựng khang trang. Đông Lang.

không để đổ máu). Đồng hồ mặt trời Chiếc đồng hồ này được xây bằng gạch do nhà bác vật Lưu Văn Lang chế tạo đầu thế kỉ XX. 2. những chữ số La mã chỉ giờ được gắn bằng gạch tàu.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu trong năm như ngày 15-1 lễ Thượng ngươn.2. Vào buổi sáng sớm. khi Trang 55 .11. ngày 24-1 giỗ hoà thượng Thích Thiển Giác (là một trong ba người thuyết phục Đại tá Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Điệp đầu hàng vô điều kiện . Đồng hồ hoạt động nhờ ánh sáng mặt trời. Bề mặt của đồng hồ đối diện hướng đông. ngày 15-7 lễ Vu Lan. khi mặt trời dần lên cao thì bóng cũng đồng thời rọi ngay vào các số chỉ giờ tương ứng. ngày 15-10 lễ Hạ ngươn. ngày 15-4 lễ Phật Đản. lúc mặt trời vừa mọc thì bóng rọi ngay số 7..

Đồng hồ rất đặc biệt. phân định đều nhau. Trời trở về chiều. Trang 56 . Cái gờ này giới hạn ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp vào các con số. không dùng bất kỳ máy móc nào. Phần ánh sáng mặt trời không chiếu trực tiếp vào có màu tối. Trên thanh ngang cửa có hoa văn và phiến đá xanh ghi rõ năm xây dựng ngôi miếu: Giáp Tý (1863)*. phần còn lại có màu sáng rõ hơn (do mặt trời trực tiếp chiếu). được xây bằng gạch và xi-măng. bóng lại nghiêng theo đúng thứ tự thời khắc.12. bóng dần nghiêng nhưng vẫn rọi đúng vào những con số chỉ thời khắc tương ứng. Từ lúc xây dựng đến nay. đồng hồ đá chỉ sai lệch độ 5 phút. cho đến khi đứng bóng thì chỉ đúng số 12. miếu chỉ mới trùng tu một lần chủ yếu là chống dột và gia cố cột xi măng để chống đỡ. Sáng sớm. Nơi tiếp giáp giữa hai màu đó là điểm giờ trong ngày. So với đồng hồ ngày nay. Mặc dù hiện nay chiếc đồng hồ này không còn sử dụng chính thức nữa. giữa mặt đồng hồ xây một cái gờ nhô lên.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu mặt trời đứng bóng thì chỉ đúng số 12. Trên bề mặt đồng hồ kẻ 12 chữ số La Mã. thị xã Bạc Liêu: Đây là ngôi miếu cổ của người Hoa và cả người Việt phụng thờ Bà Thiên Hậu. Một số nhà nghiên cứu cho rằng có thể ông Lang đã theo cách thức của đồng hồ Thái Dương (loại đồng hồ làm bằng những dụng cụ thô sơ xuất hiện từ thủa xa xưa) để tạo nên chiếc đồng hồ đá độc đáo này). Bên trong miếu có những hàng cột bằng gỗ căm xe rất chắc chắn. mặt trời dần cao đến độ nào thì bóng rọi dần lên các con số chỉ giờ. Đến khi bóng hạ dần tới bậc tam cấp thấp nhất thì mặt trời đã lặn. trời xé chiều. Chiếc đồng hồ độc đáo này hiện vẫn đang tồn tại trong khuôn viên Trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh Bạc Liêu (ven đường 30 – 4 nối dài). không rõ ai đã chủ trương xây dựng ngôi miếu này.2. nhưng nó vẫn được người dân Bạc Liêu gìn giữ như một kỉ vật nhắc nhớ về một thời mà nó là một biểu hiện của sự sáng tạo có một không hai của người dân nơi đây. 2. Thiên hậu Cổ Miếu Cổ miếu Bà Thiên Hậu ở ấp Vĩnh Trạch. các tảng đá xanh làm ngạch cửa.… tạo nên sự vững chải cho ngôi miếu. mặt trời vừa mọc thì dọi ngay số 7. được đặt hướng về phía Đông ở trước dinh Tỉnh trưởng.

Trang 57 . Với những giá trị về mặt kiến trúc. P3. đường Điện Biên Phủ. bàn thờ chính là thờ Ông Bổn . một lối kiến trúc cung đình triều Minh. Chùa thờ Phước Đức Chính Thần (Bổn Đầu Công) nên còn gọi là Phước Đức Cổ miếu. TXBL.13. Phước Đức Cổ Miếu ( còn gọi là Chùa Bang) Tọa lạc tại số 74. Chùa được xây dựng vào khoảng năm 1810. Đây là ngôi miếu lâu đời nhất của người Hoa sống ở Bạc Liêu. với diện tích 580m2 . theo lối kiến trúc hình chữ Quốc. chùa được Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia năm 2000.2.Một vị thần được coi là có công khai hoang đất đai và phù trợ cho mọi người sinh cơ lập nghiệp có cuộc sống an lành. Chùa được một nhóm người Hoa xây dựng vào khoảng năm 1810.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 2.

với giá trị nghệ thuật ấy Phước Đức cổ miếu đã được Bộ Văn hóa thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Những tấm biển bằng đá cũng như bằng gỗ khắc chữ Hán và mạ vàng cũng là những tác phẩm có giá trị được khắc sắc xảo theo lối viết Hành thư và Khải thư trong uy nghiệm và hùng mạnh.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Đến với Phước Đức cổ miếu sẽ tận mắt thấy dược kiến trúc đặc biệt theo cấu trúc của người Hoa cổ. Trang 58 . Toàn bộ ngôi miếu là một kiến trúc nghệ thuật qui mô và hoàn mỹ từ đầu kèo. Phải nói rằng mỗi bộ phận trong miếu là một cổ vật có giá trị nghệ thuật cao bởi chúng đã tồn tại trên 100 năm. Các tác phẩm nghệ thuật ấy đã được các nghệ nhân liên kết với nhau một cách hài hòa và chặt chẽ tạo thành một kiến trúc độc đáo vô song. đầu xiên cho đến các linh thú và hoa văn trên các khánh thờ đều được chạm khắc tinh tế.

Đó Trang 59 . Chùa Kro Pum Mean Chey Kos Thum (chùa Cỏ Thum) Đi theo đường kênh Lý Tư. Ở những làng quê của người Khmer. Đồng bào Khmer vốn dĩ thích ở trên đất giồng thành từng làng. sống tập trung thành từng cụm phum sóc. tỉnh Bạc Liêu khoảng 2km về hướng đông. Trải qua bao thời gian. nằm ở trung tâm ấp Kos Thum có một ngôi chùa cổ kính và uy nghi. huyện Hồng Dân. Chùa có tên gọi là Kos Thum.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 2.2. cách UBND xã Ninh Thạnh Lợi. đã được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia bởi những dấu ấn tốt đẹp qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. chùa vẫn là hình ảnh gắn bó thân thiết đối với người dân nơi đây.14. ngôi chùa rất thường xuất hiện.

tăng xá và 7 ngôi tháp được thiết kế theo kiến trúc chùa Khmer truyền thống.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu chính là lý do chùa Kro Pum Mean Chey Kos Thum (tạm dịch là chùa Hòn Đảo Lớn). Hồ Chí Minh muôn năm”. Chùa Kos Thum được khởi công xây dựng vào năm Nhâm Thìn 1832. Sau đó. có tên gọi dân gian là chùa Kos Thum. lấy chùa làm Trung tâm đấu tranh chính trị để đảm bảo an ninh cho chùa và nhân dân trong vùng. chùa được chọn làm nơi tổ chức thành lập chính phủ cách mạng lâm thời Campuchia. Năm 1968 trong chiến dịch Mậu Thân. các cấp bộ Đảng và mặt trận đến chùa để bàn kế hoạch đấu tranh đòi thả những người bị bắt trước đó. Từ khi xây dựng đến nay. Sau đó. Qua nhiều trận càn quét thảm sát của chính quyền Ngô Đình Diệm. nhưng sư sãi cùng nhân dân cương quyết đấu tranh đến cùng. chùa được chọn làm Trung tâm huấn luyện quân sự Nguyễn Văn Tố. giặc Pháp đã cho máy bay dội bom bắn phá làm thiệt hại 80% cơ sở vật chất của chùa. Ngày 14-9-1945 diễn ra một cuộc biểu tình lớn của nhân dân các dân tộc Kinh. hòa thượng Dư Hương cùng sư sãi và người dân trong vùng đã góp công. hoạt động rất quyết liệt. trong đó lực lượng sư sãi cũng tham gia. nên thường bị giặc Pháp cho máy bay dội bom bắn phá chùa. chùa đã xây nhiều tầng hầm bí mật bảo đảm cho cán bộ tới lui khi có biến động. phước xá. Từ năm 1945 đến 1954. chùa đã trải qua 14 vị đại đức trụ trì. Đảng rút vào chùa hoạt động bí mật. xã Ninh Thạnh Lợi thuộc vùng giải phóng cách mạng (đã được Nhà nước công nhận là xã anh hùng). Đại đức (sau này là Trang 60 . của tu sửa lại chùa để tiếp tục thờ cúng. được sự động viên của Đảng. Một số sư sãi đã hy sinh. không rời bỏ quê hương xứ sở. đốt xóm làng. nguyện sống chết cùng cách mạng. trường học. Biết được. Khmer. Để bảo vệ lực lượng cách mạng. Nhiều chiến sĩ bị thương đã được đưa đến đây cứu chữa và được tiếp tế rất tận tình. đuổi dân ra khỏi vùng. Phật lịch 2376 do Đại đức Sơn Prum trụ trì. Sau năm 1954. Nhưng với lòng quyết tâm cao. với khẩu hiệu “Pháp phải rút lui về nước. ra đời. Hoa. Việt Nam độc lập. Các công trình kiến trúc của chùa gồm: chánh điện.

miếu Tổ Sư hay miếu Thầy. đàn áp của giặc. Tiên sư Cổ Miếu Đây là ngôi miếu cổ ở thị xã Bạc Liêu. nơi tu hành của sư sãi và sinh hoạt văn hóa dân gian của đồng bào Khmer.Chanam . Phan Trang 61 . được làm bằng cây lá rừng. là nơi tổ chức tuyên truyền vận động quần chúng tham gia các phong trào hoạt động cách mạng và nuôi chứa các đồng chí cán bộ mặt trận khu Tây Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. được Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu công nhận là di tích lịch sử . trên một gò đồi thuộc vùng Ba Thắc xưa. Báo CA TPHCM và Ban giám đốc bệnh viện 30-4 (Bộ Công an) cùng Công an tỉnh Bạc Liêu đã chọn chùa làm điểm tổ chức khám. Miếu có từ lâu đời. Ngôi miếu này không những có quan hệ mật thiết với những sự kiện lịch sử quan trọng trong quá trình hình thành làng xã ở Bạc Liêu. mà còn là một chiến tích của Nguyễn Tri Phương trong việc tiễu trừ quân phiến loạn và đẩy lùi giặt dốt. Hơn nữa. nhiều người đã hy sinh anh dũng. chùa Kos Thum đã trở thành một cơ sở cách mạng vững chắc. Trong quá trình đấu tranh chính trị chống khủng bố. được nhân dân gọi là miếu Tiên Sư. nuôi giấu cán bộ cách mạng hoạt động. Nguyễn Tấn Phát. chùa Kos Thum còn là một công trình kiến trúc nghệ thuật tôn giáo. đóng góp cho cách mạng cả người lẫn của cải vật chất. Phan Thanh Giản. Đó là một ngôi miếu nhỏ thờ Tam Giáo tổ sư. Nhân dịp Tết cổ truyền Chol . Chùa là căn cứ cách mạng vững chắc.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu hòa thượng) Dư Hương đồng ý cho một số sư sãi thoát áo cà sa lên đường làm chiến sĩ cách mạng. 2.15.văn hóa. Miếu còn là nơi thờ tự các danh nhân có công với làng xã như Nguyễn Tri Phương. Triệu Vạn Tượng.1975. chữa bệnh miễn phí và tặng hàng trăm phần quà cho đồng bào Khmer nghèo tại xã anh hùng Ninh Thạnh Lợi Chùa Kos Thum là nơi ghi lại nhiều dấu ấn tốt đẹp qua hai thời kỳ đoàn kết đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ từ năm 1930 . người dân trong vùng đã tự hào khi chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia. Vì thế.Thmay vừa qua. không ngừng cung cấp. Lý Hữu Hoan. Cao Minh Thạnh.2.

ngôi miếu còn thờ những người có công khai khẩn đất hoang. ngôi miếu còn có một số ngày cúng các vị thần được thờ trong miếu. Trong cùng là gian chính điện thờ bài vị tiên sư. kính viếng. trên cổng có mái nóc.nơi dùng để tiếp khách và có chỗ nghỉ ngơi cho khách đến viếng miếu.. thu hút một lượng lớn du khách từ mọi nơi đến tham quan. Trang 62 .. và 20 chiến sĩ chống Pháp đã anh dũng hy sinh. Ngoài những ngày lễ lớn. Tính đến nay.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Kim Lý. trong đó có bảy người bị Pháp xử bắn ngay tại sân miếu . Ngoài ra. Trịnh Thiện Kim. Tiên Sư cổ miếu được xây dựng theo kiểu hình chữ tam .kiểu kiến trúc truyền thống của đình chùa Nam bộ. là một trong số những ngôi miếu tồn tại lâu đời nhất ở Nam bộ. Bên ngoài là cổng tam quan đượm màu cổ kính. những người hy sinh vì nước… Bên hông miếu là một gian thờ nhỏ thờ Bà Chúa Xứ. ngôi miếu cổ này đã có trên 150 tuổi. Cao Tấn Hưng. hai bên là bàn thờ của tả ban và hữu ban. trên mái nóc có tượng đôi rồng tranh lấy quả châu. Tiếp giáp với khoảng sân là nhà võ . Phía sau cổng tam quan là một khoảng sân rộng nên rất thuận tiện cho khách thập phương đến cúng bái. Trịnh Thành Long.

Ông nhắc nhở người địa phương nên dùng ngôi miếu này tiếp tục thờ cúng những người có công khai khẩn đất hoang. nhận chức Kinh lược sứ Nam Kỳ. Biên Hòa. đi đến đâu giết người cướp của đến đó.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Khoảng thời gian đầu những năm 1950. Chúng tấn công cả đồn Bãi Xào và vây hãm thị trấn Bạc Liêu. bộ chỉ huy quân sự của Nguyễn Tri Phương trú đóng trên một khu đất gò thuộc vùng miếu Tiên Sư ngày nay. không đầy một năm. Vĩnh Long. ngôi miếu bị hư hao gần như toàn bộ. ông đem một số lớn lưu dân người Việt vào Bạc Liêu khai khẩn đất hoang. Nguyễn Tri Phương đã ra lệnh cho quân lính dùng cây lá và một số vật liệu để xây dựng lại.một toán quân ô hợp. Ở đấy lúc bấy giờ có một ngôi miếu nhỏ thờ Tam Giáo tổ sư được làm bằng cây lá rừng. Vĩnh Mỹ. Vĩnh Trạch. Khoảng năm 1855. sana có nghĩa là nguyên soái). trong lúc hành quân diệt địch. Hai tên này nguyên là người ở Trà Khương (Sóc Trăng). Trang 63 . lập nhiều thôn làng ở đây như Vĩnh Lợi. được người dân gọi bằng nhiều tên khác nhau. Định Tường. Ông đã tổ chức khai phá đất hoang thành lập thôn ấp ở nhiều nơi.Sóc Trăng) bất ổn bởi loạn Sana Tia và Sana Sum (trong tiếng Khmer. kiêm tổng đốc của các tỉnh Gia Định. Ngôi miếu mới tuy cũng đơn sơ nhưng lớn gấp đôi miếu cũ và đặc biệt là Tổng đốc Nguyễn Tri Phương tự tay viết bảng hiệu. không có bảng hiệu. Năm 1853. Sau thời gian binh biến. ở thôn Lạc Hòa (Sóc Trăng) cũng có loạn Lâm Lâm . An Giang và Hà Tiên. Cùng thời gian đó. trước khi rút quân về. Đây là bảng hiệu đầu tiên mang tên Tiên Sư Miếu (được viết bằng chữ Hán). Nguyễn Tri Phương được phong hàm Đông các đại học sĩ. quân phiến loạn bị dẹp tan. Chỉ trong một thời gian ngắn. Lúc đó Nguyễn Tri Phương (1800-1873) giữ chức khâm sai tổng thống quân vụ đại thần. tình hình an ninh vùng Ba Thắc (Bạc Liêu . xây dựng làng xã và những chiến sĩ đã vì nước bỏ mình. tập hợp được một số quân kéo đi cướp bóc khắp nơi... Tương truyền. Ông đã đem quân xuống vùng Ba Thắc để tiễu trừ loạn phỉ. Vì vậy. Phong Thạnh.

Có thể nói miếu Tiên Sư là nơi duy nhất dạy chữ Nho ở Bạc Liêu và sau đó trở thành điểm dạy chữ Việt đầu tiên ở vùng này. Ngôi trường được thành lập theo ý của quan kinh lược nên được các giới chức làng tổng ở Bạc Liêu rất quan tâm.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Nguyễn Tri Phương rất chú trọng mở mang dân trí. nhiều thầy đồ ở các nơi được mời về giảng dạy. Nhận thấy người Việt càng ngày càng đông. Trang 64 . cần phải có nơi để học hành nên ông ra lệnh cho các chức sắc địa phương mở rộng diện tích của miếu Tiên Sư bằng cách cất thêm tiền sảnh và hai chái hai bên để làm nơi dạy học.

Hòa thượng Thích Thiên Ân cùng Ban hộ tự vận động xây chùa và đổi tên chùa Long Phước. tỉnh Bạc Liêu. thị xã Bạc Liêu. TT Thích Chơn Pháp. phường 5. Các vị trụ trì kế tục là: HT Thích Phổ Chí. có Ban hộ tự coi sóc.16. đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu ra Quyết định Bảo vệ di tích lịch sử Trang 65 . Chùa Long Phước được xem như là một trong những ngôi chùa được xây dựng được xây dựng đầu tiên ở Bạc Liêu. Năm 1888.2. cạnh chùa có am Cô Bảy nên chùa còn có tên dân gian là chùa Cô Bảy. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông. Hòa thượng trụ trì chùa hơn 20 năm thì về Cần Thơ. Đây là một công trình kiến trúc cổ của người Việt có điểm tô vài nét văn hoá của người Hán. HT Thích Hiển Giác. được cất vào năm 1840 tại thôn Vĩnh Hinh bằng cây ván. Ban đầu chùa có tên Vĩnh Hinh.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu 2. khóm 6. Chùa Long Phước (chùa Cô Bảy) Chùa tọa lạc tại số 3/234 đường Vĩnh Châu. TT Thích Chí Hiếu.

nhà khách… được xây dựng ở trung tâm. Trong một thời gian dài chùa không có trụ trì chính thức. có tương đài Quan Thế Âm đứng sừng sững bên hồ giả sơn giữa hồ sen hình bán nguyệt như một tiểu cảnh Lạc Đà Sơn. phía trái là những ngôi tháp cổ nằm ẩn khuất dưới những tàng cây đại thụ. và nhà nghỉ. chỉ có Ban Hộ tự do các phật tử bầu ra để coi sóc chùa. phía trước chánh điện là một vườn hoa có nhiều hoa thơm cỏ lạ.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu văn hoá số : 1379/QĐ. người địa phương đã từng gọi là “giếng chùa” đã từng cung cấp nước cho dân làng trong một thời gian dài hàng trăm năm. Chùa được xây dựng vào năm 1840 tại thôn Vĩnh Hinh. được bố trí thật hài hoà trong một khu đất rộng có cây cối sầm uất nhưng cảnh vật rất nên thơ và yên tịnh. Du khách từ xa nhìn vào đã nhận ra ngay một quần thể kiến trúc thật đẹp. Ngôi chùa lúc đó có hình thức sinh hoạt giống như một niệm phật đường có thiện nam tín nữ hàng đêm tụng kinh niệm phật và cũng là nơi giảng kinh nói pháp của các chư Tăng được mời đến trong những ngày lễ lớn. Khu chánh điện. Lúc mới ra đời Vĩnh Hinh tự chỉ là một ngôi chùa bằng cây ván. Trang 66 . bên phải là một giảng đường thật uy nghi. lúc mới xây dựng người ta đã dùng tên thôn để đặt tên chùa là Vĩnh Hinh Tự. phía sau chùa là một cái ao thật lớn. đây là một cái ao lịch sử.UB ngày 07 tháng 11 năm 2001. tổ đường.

lúc đó có hoà thượng Thiên Ân cũng thường tới lui. nhà nghỉ cho chư Tăng. Hoà thượng Thiên Ân trụ trì chùa Long Phước được khoảng 20 năm thì phải trở về Cái Dầu vì ngôi chùa cũ ở đó thiếu người chăm sóc. Ông trụ trì chùa Phước An ở Cái Dầu (Sa Đéc) được một số Phật tử ở Bạc Liêu hâm mộ mời về thuyết pháp. Hoà thượng Thiên Ân lúc đó đã sắp xếp xong công việc ở chùa Cái Dầu nên đã chính thức nhận lời mời làm trụ trì chùa Vĩnh Hinh. sau hơn một năm mới hoàn thành. người thừa kế được chọn làm trụ trì chùa Long Phước vào thời điểm đó chính là Hoà thượng Phổ Chí (Húy : Cảo Tâm. ngôi chùa Vĩnh Hinh bằng cây gỗ được dỡ ra để xây dựng một ngôi chùa bằng gạch ngói. sau nhiều lần thuyết pháp ông được Ban Hộ tự chùa Vĩnh Hinh mời làm trụ trì chùa.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu nên chỉ tồn tại được hơn 40 năm thì bị hư mục. vật tư … để sữa chữa ngôi chùa được hoàn tất tốt đẹp. Ông vốn là người thông minh đỉnh ngộ. Trong thời gian ở đây ông đã đào tạo rất nhiều đệ tử. có điều kiện làm nơi phát triển Phật giáo tỉnh sau này. có một số rất nổi tiếng sau này như : Hoà thượng Phổ Chí. Tân Mùi 1871 – Ất Dậu 1945) vốn là người đức cao vọng trọng. Năm 1888. Hoà thượng Thiên Ân (Húy : Như Chánh. có nhiều biệt tài lại xuất gia từ nhỏ. nên không những phật pháp rất vững vàng mà kiến văn cũng uyên bác. mặc dầu vậy nhưng ông vẫn quan tâm đến công việc của chùa Vĩnh Hinh và trong lần trùng tu này phần lớn nhờ vào uy tín của ông nên việc vận động tiền bạc. Qúi Mùi 1883 – Đinh Sửu 1937) cũng là người ở Cái Dầu cùng quê với thầy là hoà thượng Thiên Ân. thấy chùa cần phải sữa chữa nên Hoà thượng đã cùng Ban Hộ tự đứng ra vận động bà con phật tử trùng tu ngôi Chùa. nên hoà thượng đã đề nghị cải sữa tên chùa là Long Phước Tự (có nghĩa là ngôi chùa tràn đầy sự tốt lành). ông còn tiếp tục vận động và tạo mọi đều kiện để trùng tu chùa Vĩnh Phước An một ngôi chùa cổ ở Bạc Liêu hiện còn tồn tại đến nay. nhà bếp để nấu nướng. đã theo thầy đi hành đạo ở nhiều nơi. Phật học tinh thâm. lúc đầu ông chưa nhận lời vì không thể cùng một lúc làm trụ trì cả hai ngôi chùa ở hai nơi. củng cố Ban Hộ tự để đủ người chăm sóc chùa. chăm sóc. nhưng hoà thượng nhận thấy điểm xây dựng chùa là một địa điểm tốt. Hoà thượng Huệ Quang… Ngoài những công việc tốt đẹp này. có nhiều ưu điểm về mặt địa lý. Vì vậy trong thời gian làm trụ trì chù Long Phước ông có một số lượng Trang 67 . Sau đó ông tiếp tục vận động để xây cất lại Tổ đường để thờ Tổ.

tiếp tục làm những công việc lợi ích xã hội như: Vận động mọi người trãi đất đỏ và sữa lại con đường từ lộ cái đi Vĩnh Châu xuống bờ sông Bạc Liêu để người dân đi lại dễ dàng. đệ tử lớn của ông là Thượng tọa Chí Hiếu được thay thế là trụ trì. Năm 1930. Nguyễn Văn Chương. nên lúc nào chùa cũng có người đến nhờ xem mạch trị bệnh. được ít lâu lại dời sang Cạnh Đền sau đó lại dời xuống Cái Tàu. nhưng lần này theo ý của Hoà thượng Phổ Chí. Trong thời gian này có một người tên Phạm Văn Tư (1869 – 1940) cũng là người ở Cái Dầu xuống xin Hoà thượng cho cất một cái am trên đất chùa. đã sản xuất được hiều sản phẩm. Cũng vì chùa Long Phước có am Cô Bảy nên từ đó xuất hiện cái tên dân gian là chùa Cô Bảy. cả Tổ đường cũng xây song song với chánh điện. Làm trụ trì được ít lâu ông lại tham gia cách mạng. cửa của chánh điện được thiết kế ở hướng Đông. cửa cũng xoay về hướng Nam như ngày nay. Nguyễn Văn Vĩ. đây là lần trùng tu thứ hai. chùa Long Phước qua một thời gian dài đã có nhiều chỗ hư cần sữa chữa. Lê Văn Nguyên. chánh điện được giở ra xây cất lại.Sa Đéc và mất năm Bính Dần (1986) tại Bạc Liêu. Nguyễn Văn Buối … Trong thời gian đặt cơ sở ở đây. Công binh xưởng hoạt động được sáu tháng thì có lệnh rút về Cây Vang. Ngày mùng 03 tháng 11 (âl) năm Đinh Sửu 1937 Hoà thượng Phổ Chí viên tịch. Công binh xưởng được thành lập tại đây do ông Tào Văn Tỵ chỉ huy và có nhiều cán bộ khác như các ông : Nguyễn Tiến Bộ (Thượng toạ Chí Hiếu). Giang Văn Tường (Đại đức Thiện Hoà). công binh xưởnh tỉnh Bạc Liêu đã được sự hỗ trợ và bảo bọc của tăng ni chùa Long Phước. Lê Văn Chánh. được môn đồ xây tháp thờ ở phía Đông chánh điện của chùa. năm 1945 Thượng toạ Chí Hiếu là người đã góp phần tạo điều kiện cho Công binh xưởng của Tỉnh đội Bạc Liêu trú đóng và hoạt đông. Nguyễn Văn Ngưu. Theo lần trùng tu thứ nhất năm 1888. Nguyễn Văn Dành. ông Nguyễn Tiến Trang 68 .Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu tín đồ rất đông. tổ chức đào rộng thêm giếng làng (đã có sẵn) để người dân trong làng có đủ nước dùng trong mùa khô … Hoà thượng còn là một thầy thuốc giỏi lại có tinh thần phục vụ cao. Ông luôn thực hiện lời thầy dạy bảo. vì vậy tín đồ càng lúc càng đông. vũ khí cung cấp cho các chiến trường thuộc địa phận quân khu 9. Ông có tên thật là Nguyễn Tiến Bộ sanh năm Nhâm Tý (1912) tại Cái Dầu . và cửa chính được xoay về hướng Nam. Hoà thượng Phổ Chí đã vận động trùng tu.

tháp của ông được xây bên cạnh tháp của thầy. ngoài ra ông còn tạo điều kiện cho cán bộ cách mạng hoạt động hợp pháp tại chùa. Nguyễn Vĩnh Nghiệp (Sáu Tường) và Hà Thái Bình – Thị ủy viên cũng thường có mặt ở chùa để hoạt động. Thượng toạ Chơn Pháp (Huý : Nhật Hoa) là một trong những đệ tử đắt ý nhất của Hoà thượng Phổ Chí. chức trụ trì chưa có người thay. tất cả được 20 người. Lúc sinh thời ông vốn tính hiền lành lại siêng năng chăm chỉ nên đã học hỏi được những sở đắc của thầy.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Bộ (Thượng tọa Chí Hiếu) đã theo tiếng gọi của quê hương. thể hiện rõ nhất lúc chuẩn bị mọi đều kiện thuận lợi cho ngày 30 tháng 4 năm 1975 – tiếp thu tỉnh Bạc Liêu. được Ban hộ tự Chùa Long Phước mời về làm trụ trì thay cho Thượng toạ Chí Hiếu. lớp học có 15 người dự. Lúc đó Thượng toạ Chơn Pháp ở Phú Lộc (Sóc Trăng). Sau tiếp thu năm 1975 ông là Phó Chủ Trang 69 . Làm trụ trì ở đây được 3 năm. ông được sinh ra từ quê hương Đồng Khởi (Bến Tre). vừa về làm trụ trì ông đã tổ chức ngay một lớp đào tạo trụ trì tại chùa Long Phước. Cuộc đời của Hoà thượng rất đặc biệt. ông góp phần rất đắc lực. ông có tên thật là Nguyễn Văn Hảo sanh năm Nhâm Tý (1912) tại Long Xuyên tịch ngày 17 tháng 5 (âl) năm Nhâm Dần (1962) tại Bạc Liêu. tỉnh Bến Tre. huyện Ba Tri. sớm ý thức được cách mạng nên vào những năm 50 (của thế kỷ XX) ông đã tham gia cách mạng. Sang năm sau (1967) ông mở thêm một lớp đào tạo trụ trì khác. Nhưng do tổ chức bị lộ. Năm 1962. sang năm 1969 ông lại về làm trụ trì chùa Vĩnh Đức (phường 7 thị xã Bạc Liêu). ông phải về Bạc Liêu ẩn lánh. ông rất tích cực trong các công tác được giao phó. Sau khi thay thế người sư huynh để làm trụ trì chùa Long Phước. rời khỏi chùa chính thức gia nhập Công binh xưởng để phục vụ cách mạng. nhưng vẫn tiếp tục công việc của mình. thực hiện nhiều công việc lợi ích xã hội. các cán bộ như Lê Văn Út (Út Rổ) – Bí thư Thị Ủy. ông đã đem hết khả năng của mình để phục vụ đạo pháp. Thượng toạ Chơn Pháp tịch. lớp nầy có cả Tăng Ni ở Cà Mau tham dự. mãi đến năm 1966 Ban hộ tự mới mời được Hoà thượng Hiển Giác về làm trụ trì. Hoà thượng có tên thật là Nguyễn Văn Đằng (1926 – 1992) quê quán của ông ở làng Tân Thủy. Ngày 26 tháng 1 năm 1955 Ban Chấp hành Đảng bộ thị xã Bạc Liêu thành lập tại chùa Long Phước.

vì vậy ngôi chùa nầy rất thân thiết đối với ông. xã hội. vì vậy rất gắn bó với công tác Phật sự. mẹ ông đã dẫn ông vào chùa làm công quả và ông đã xuất gia năm lên bảy tuổi tại chùa Long Phước. Trong thời gian làm trụ trì. Tháng 4 năm 2003 vừa qua được Hội đồng trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tấn phong giáo phẩm Hoà thượng. Trang 70 . ông còn tạo được nhiều thành tích xuất sắc trong việc cứu trợ. Ông thật sự là một người có năng lực tổ chức.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Minh Hải. nhất là lần vận động hơn nửa tỷ đồng cứu trợ khắc phục hậu quả cơn bảo số 5 năm 1997: Mới đây năm 2001 đã hoàn thành một giảng đường có sức chứa hơn 100 người đặt tại chùa Long Phước đây là nơi học tập rất tốt cho Tăng Ni trong các mùa an cư kiết hạ. cha chết rất sớm lúc ông chưa đấy ba tuổi. lại vừa là nơi giảng dạy lý tưởng cho trường Trung cấp Phật học tỉnh nhà. đã tốt nghiệp Phật học viện Huệ Nghiêm nên rất tinh thâm Phật học. Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh. Thượng toạ Huệ Hà đã tạo được nhiều thành tích : Năm 1975 trùng tu Tổ đường và Hậu đường. Ban hộ tự chùa Long Phước mời người thừa kế của thượng tọa Chơn Pháp là Thượng toạ Huệ Hà lúc đó đang ở chùa Ấn Quang (Sài Gòn) về làm trụ trì. sau đó anh lại hy sinh. hoạt động phục vụ làm tốt đạo đẹp đời. anh là liệt sĩ Nguyễn Văn Mão. Sau khi Hoà thượng Hiển Giác về chùa Vĩnh Đức. Thượng tọa là người xuất gia từ nhỏ. Năm 1998 làm một con đường trải đá xanh từ lộ cái vào chùa hơn 200m và trùng tu con đường công cộng dẫn xuống xóm từ bờ sáng để người dân đi lại dễ dàng. Thượng toạ tên thật là Nguyễn Giang Hà sinh năm 1936 tại Phú Lộc (Sóc Trăng). Ủy viên Hội đồng Nhân dân tỉnh Minh Hải cho đến ngày ông viên tịch. đã phát dương quang đại chùa Long Phước cho đến ngày nay. Năm 1996 xây bức tường bao bọc quanh chùa với chiều dài hơn 100m cao 2 mét bên trong lại xây dựng một hoa viên có hòn giả sơn. xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo có truyền thống cách mạng. Hiện nay Hoà thượng là đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Bạc Liêu. hồ bán nguyệt và tượng đài Quán Thế Âm. ông chỉ có ba người anh em. Trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Bạc Liêu.

*CÁC THỜI ĐIỂM XÂY DỰNG VÀ TRÙNG TU . Ban Giám hiệu 5 người.Năm Ất Mão (1975) : Hoà thượng Huệ Hà tổ chức trùng tu lần thứ III. Đến đầu năm 2005 được cấp phép mở thêm một lớp Cao đẳng chuyên khoa (Giấy phép số: 283/UB ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bạc Liêu). Nhưng lúc đó trường học chỉ hoạt động dưới danh hiệu một lớp giáo lý dài hạn. Trang 71 . nơi đây có nhiều đặc điểm văn hoá và mang đậm những dấu ấn lịch sử. Cư sĩ Trần Phước Thuận (Tắc Hành) – Phó Hiệu trưởng. Lớp Trung cấp Phật học đầu tiên gồm có 45 tăng ni sinh. Thượng tọa Lý Sa Mouth – Phó Hiệu trưởng. Chùa Long Phước là một nơi qui tụ được nhiều danh Tăng. .Năm Đinh Tỵ (2001) : Thành lập Trường Trung cấp Phật học. đồng thời chùa được đổi tên Long Phước Tự 臨臨臨. Ban Giảng huấn 16 vị trong đó có bảy Cử nhân. Một ngôi chùa cổ có nhiều đặc điểm như thế. . Cư sĩ Nguyễn Thái Hạo (Quảng Thiệt) – Chánh văn phòng. . gồm : Hòa thượng Huệ Hà – Hiệu trưởng.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Nói tóm lại.Nă Mậ Tý (1888) : Hoà thượng Thiên Ân cùng Ban hộ tự tổ chức trùng tu lần thứ I. đến một năm sau mới nhận được quyết định chính thức (QĐ số: 970/QĐUB ngày 14 tháng 10 năm 2002 của UBND tỉnh Bạc Liêu).Năm Tân Tỵ(2001) : Hoà Thượng Huệ Hà xây dựng một giảng đường và một tăng xá chứa khoảng 100 người. lần này chỉ xây dựng lại Tổ đường và Hậu đường.Năm Bính Tý (1996) : Hoà Thượng Huệ Hà cho xây bức tường rào quanh chùa có chiều dài hơn 100m.Năm Canh Thân (1840) : Xây dựng chùa (mang tên Vĩnh Hinh Tự 臨臨臨) . hiện nay đã trở thành một trong những điểm tham quan du lịch rất lý tưởng của tỉnh Bạc Liêu. thật xứng đáng được công nhận là di tích lịch sử văn hoá tỉnh nhà.Năm Canh Ngọ (1930) : Hoà thượng Phổ Chí trùng tu chùa lầ thứ II cửa chùa cũ ở hướng Đông được sữa xây về hướng Nam. Đại đức Giác Nghi – Phó hiệu trưởng. . chín Giảng sư Phật học và hợp đồng thêm hai Thạc sĩ. có nhiều thành tích hoạt động xã hội. .

. Đại đức Phước Chí và Sư cô Nghiêm Thành làm Phó Hiệu trưởng.Năm Ất Dậu (2005) : Xây dựng thêm một tăng xá. tịch mùng 3 tháng 11 năm Đinh Sửu (Nhằm ngày 5 tháng 12 năm 1937). Toàn trường có 4 lớp học. mỗi lớp ở một điểm học khác nhau : lớp Cao đẳng ở chùa Long Phước. gồm : Hiệu trưởng. V/v Cho phép thành lập cơ sở Nhà trẻ mồ côi Long Phước). đủ các loại kinh luật luận và các sách nghiên cứu Phật học. văn học. Sinh năm Tân Mùi (1871). * CÁC ĐỜI TRỤ TRÌ CỦ CHÙA . Ban Giám hiệu bổ sung thêm Đại đức Thiện Phúc. tịch ngày 13 tháng 03 năm Ất Dậu (nhằm ngày 24 tháng 04 nă 1945). . Đến thời điểm này Ban Giám hiệu có 6 vị. sau kết quả của Đại hội Phật giáo tỉnh. học tập của Tăng ni sinh và tín đồ Phật tử. triết học… . lớp Trung cấp ni ở chùa Giác Hoa. 5 Phó Hiệ trưởng (Đại đức Thiện Phúc kiêm nhiệm Chánh Thưmký của trường).1840 – 1887 : Chư có trụ trì chính thức.Năm Quí Mùi (2003) : Xây dựng thêm một Thư viện cũng vừa là Nhà phát hành sách để phục vụ các nhu cầu nghiên cứu. .1908 –1937 : Hoà thượng Phổ Chí 臨臨 (Huý : Cảo Tâm 臨臨 ).Năm Bính Tuất (2006) : Vận động thành lập Nhà nuôi trẻ mồ côi (Giấy phép số: 84/QĐUBND ngày 6 tháng 7 năm 2006 của Ủy ban nhân dân thị xã Bạc Liêu. sinh năm Qúi Mùi (1883). Hiện có 20 trẻ có độ tuổi từ 2 tháng tuổi đến 16 tuổi đang được nuôi dưỡng tại đây. tầng dưới 8 phòng dành riêng cho các tôn túc.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Năm 2007. . sử học. hai lớp Sơ cấp và Trung cấp Nam tông Khmer ở chùa Buppharam và 6 điểm chùa khác trong địa bàn tỉnh. Đây là trường Trung cấp Phật học duy nhất ở Nambộ có dạy cả hai chương trình Bắ tông và Nam tông Khmer. giảng sư tầng trên là thư viện hiện có hàng ngàn đầu sách. Đại đức Giác Nghi nhận nhiệm vụ mới. Trang 72 .1887 – 1908 : Hoà thượng Thiên Ân 臨臨 (Huý Như Chánh 臨臨 ).

Quách Ngọc Đống. rồi Cao Minh Thạnh.17. chính quyền thực dân vẫn giữ chính sách nêu trên. chính sách chiêu mộ lưu dân vào Nam khẩn hoang của các chúa Nguyễn là: Ai có nhân lực.1937 –1945 : Thượng toạ Chí Hiếu 志 孝 (tên thật Nguyễn Tiến Bộ. Sinh năm Nhâm Tý (1912). Chung Bá Vạn. tịch ngày 23 tháng 07 năm Bính Dần (nhằm ngày 26 tháng 08 năm 1986). Có một tổng kết cho rằng Bạc Liêu là nơi có địa chủ nhất nước (2%). đồng thời là nơi chủ chiếm nhiều ruộng đất nhất nước (hơn 95%). Những tên tuổi nổi tiếng Nam kỳ vì sự nhiều ruộng như: Trần Trinh Trạch. đất lúa. tịch ngày 24 tháng giêng năm Nhâm Thân (nhằm ngày 28 tháng 02 năm 1992). Sinh năm Bính Tý (1936).1962 – 1965 : Không có trụ trì. Phan Hô Biết… Đến đầu thế kỷ XX. vật lực… đủ sức khai hoang thì cứ tự do mà trưng khẩn và nếu khai phá được một diện tích đất đai đủ điều kiện thành lập làng mới thì cho người đó làm trưởng làng. Sinh năm Bính Dần (1926).2. Phủ thờ dòng họ Cao Triều Thời đàng cựu.1969 – đến nay : Hoà thượng Huệ Hà 臨臨 (tên thật Nguyễn Giang Hà). 2. Châu Oai 40 ngàn mẫu…. . Mai Hữu Kiến. Sinh năm Nhâm Tý (1912). Huý : Quảg Bình 臨臨 ). người Trang 73 .Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu .1945 – 1962 : Thưọng toạ Chơn Pháp 臨臨 (tên thật Nguyễn Văn Hảo. tịch ngày 17 tháng 05 năm Nhâm Dần (nhằm ngày 18 tháng 06 năm 1962). . Mai Hữu Quỳ. . đất muối hơn 200 ngàn mẫu. với điều kiện người chủ đất chịu trách nhiệm nộp thuế cho nhà nước. Đến khi người Pháp đô hộ. Chính sách điền địa nêu trên đã thành sự ưu ái cho một nhóm người có tiền tài và quyền lực. Thế cho nên ruộng đất chỉ tập trung vào tay một nhóm người rất nhỏ. Vưu Tụng 70 ngàn mẫu. toàn quyền Đông Dương đã ký nhiều Nghị định cấp cho những người giàu có hàng ngàn mẫu.1966 – 1968 : Hoà thượng Hiển Giác 臨 臨 (Tên thật Nguyễn Văn Đằng. Thực tế. . để thu thuế nhanh. Huý : Nhật Hoa 臨臨 ).

Trang 74 . lên rừng sợ ma. rồi ma thiên nước độc. bởi Bạc Liêu được mệnh danh là “ Xứ Quê Mùa”. Và đó cũng là thời điểm họ đua nhau cất nhà. Chính hệ thống kênh mương này đã giải quyết nạn ngập úng do cơn lụt thường niên vào tháng 8 âl gây ra hàng năm. Người khẩn hoang xưa hò rằng: Chèo ghe sợ gấu cắn chưn Xuống đìa sợ đỉa.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Pháp đã nhìn nhận ĐBSCL là vựa lúa miền Nam nên đã cho đào một hệ thống kênh mương dày đặc ở vùng Hậu Giang. Chính vì thế mà những địa điền chủ ở Bạc Liêu càng có ruộng nhiều thì càng giàu nứt đố đổ vách. Năm 1914 Cao Minh Thạnh cất nhà. Thời kỳ cực thịnh nhất của họ là khi hệ thống kênh đào phát huy tác dụng (khoảng sau năm 1910). Trước năm 1900. nhờ hệ thông kênh mương mà lúa gạo được chở về Sài Gòn nhanh và dễ dàng hơn. Hơn thế nữa. Thập niên 30. năm 1920 Hội đồng Điều cất… Lịch sử hình thành và phát triển đô thị Bạc Liêu đã có hơn 200 năm. Đất đai được rửa phèn. ít có người từ nơi khác dám đến khai khẩn bởi nạn ngập úng. năm 1917 Trần Trinh Trạch cất. sương lam chướng khí. xổ mặn… có thể nói trong lịch sử khẩn hoang được khai phá nhanh và trở nên có năng xuất hơn. Thế nhưng đó là một sự phát triển vô cùng chậm chạp. Bạc Liêu là tỉnh có số lúa gạo bán ra đứng nhất ở Nam kỳ… đất đai trở nên có giá.

đủ sức minh họa cho những kiến trúc đầu tiên tạo ra những nét khám phá sinh động cho bức tranh Bạc Liêu đã nêu trên. Nó quí bởi vì là ngôi nhà duy nhất nội thất còn khá nguyên vẹn. thị xã Bạc Liêu. các anh lính của thời bao cấp đã bửa làm củi nấu cơm những bức hoành phi. hy vọng rằng tiền góp chợ sẽ tăng gấp đôi và xin vay trước của nhà nước 6. Thế nhưng do thời gian xây cất quá lâu.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Đất đai của Bạc Liêu khai hoang 2-3 mùa sau mới thu được huê lợi. Có thể nói đó là một dấu ấn trong kiến trúc đô thị Bạc Liêu. mở mang quận Vĩnh Châu nên ông (Cao Minh Thạnh) được thọ phong chức Đốc phủ xứ hàm…”. làng Vĩnh Hương xin cất chợ lợp ngói. câu đối… cực kỳ quí giá. Trải qua nhiều chế độ quản lý dùng cho mục đích công sở. Trong gia phả của dòng họ Cao Triều ghi rằng: “… Do công đào kênh đắp lộ. chúng ta thấy rằng giai đoạn các đại điền chủ Bạc Liêu đua nhau cất nhà là giai đoạn đô thị Bạc Liêu được hình thành rõ nét nhất. do biến thiên thời cuộc mà những ngôi nhà trên giờ chỉ còn cái vỏ không nguyên vẹn. thuộc phường 5. Nó quí vì đó là một kiến trúc cổ. ngôi nhà Huyện Sổn được giao cho một đơn vị bộ đội quản lý.100 đồng để xây cất. Năm 1885. Tham biện bắt buộc những nhà lá ở chợ phải dỡ bỏ để cất lại phố ngói có lầu” Căn cứ vào tài liệu trên. duy nhất chỉ còn ngôi phủ thờ của dòng họ Cao Triều là nội thất bên trong còn tương đối nguyên vẹn. “ông Trang 75 . Năm 1892. Ngôi phủ hiện tọa lạc tại bờ sông Bạc Liêu. làng sẽ trả lại cho nhà nước cả vốn lẫn lời trong vòng 12 năm. Nếu loại bỏ vấn đề ý thức hệ để đứng trên quan điểm bảo tồn một dấu ấn của lịch sử phát triển Bạc Liêu thì những ngôi nhà nêu trên cần phải được bảo vệ nghiêm túc. “… việc nhà ông cũng không bao giờ sai sót…”. và nó còn quí bởi vì danh tiếng của chủ nhân. Nguyên nhân là do công lao của nhân sỹ yêu nước Cao Triều Phát nên Nhà nước không quản lý như những ngôi nhà của các địa chủ khác. nó được xây dựng vào năm 1914. sau giải phóng. nên toàn bộ nội thất của các ngôi nhà nêu trên đã bị phá nát hoàn toàn. chính vì lẽ đó mà trong sách “Khẩn hoang miền Nam” của Sơn Nam ghi: Thoạt tiên nhà lồng chợ cất bằng lá. Có những chuyện rất đau lòng.. mà con cháu dòng họ Cao Triều đã giữ gìn… Đây là một ngôi nhà quí. Hiện nay.

Tại ngôi phủ thờ dòng họ Cao tuy đồ đạt đã bị thất tán khá nhiều nhưng vẫn còn những thứ quí giá như: 2 bộ trường kỷ bằng đá hoa cương có màu trắng và hoa văn. Ngoài ra bàn thờ và khánh thờ được chạm trổ cực kỳ tinh xảo với hình tướng long tranh châu. nhằm bên vực cho người lao động. Sau về nước ông sáng lập hai tờ báo có tên là Nhật Tân Báo. 2 bộ lư đồng mắt tre. trúc. mất năm 1956.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu có lập phần phương hỏa giao cho Chị trưởng lo việc cúng tế tiền nhơn ở tại Cao gia hương hỏa…”. nghe đâu chỉ còn một hai cặp ở Bạc Liêu. Đây là một danh gia của đất Bạc Liêu. Người ta qua tận Campuchia để mua về các loại danh mộc rồi rước thợ từ Huế hoặc tận ngoài Bắc vào ở trong nhà đục đẽo 2 -3 năm trời để trang trí nội thất. các cột được đẽo gọt từ khối có hình lưỡng long tranh châu. ông bị Pháp quản thúc tại gia ( Bạc Liêu) vì tội” phá rối chính trị an”. Đây là một phong cách bài trí nội thất rất phổ biến của nhà địa phủ. Kỷ Nguyên Mới. đó là nhân sĩ yêu nước Cao Triều Phát. Ông sinh năm 1889. Đặc biệt là nội thất bên trong mang dáng dấp kiến trúc của cung đình Huế. Như vậy căn cứ vào gia phả của dòng họ Cao Minh Thạnh thân sinh của nhân sỹ yêu nước Cao Triều Phát ngày xưa đã đứng ra xây dựng ngôi phủ thờ này. nâng cao dân trí. dày một tấc. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc ông sang pháp học lấy bằng kỹ sư canh nông. Giá trị của nó hiện hiện đến gần chục cây vàng mỗi bộ. bá hộ hồi đầu thế kỷ XX. Hai bộ lư này đúng là những cổ vật . qui hoạt và các loại mai. Nhìn tổng thể ngôi phủ thờ có phong cách kiến trúc Á Đông. dân sinh. Cha là Đốc phủ xứ Cao Minh Thạnh. mẹ là Tào Thị Súc. Mái nhà lợp ngói âm dương. tùng. cúc… Rồi các bức hoành phi câu đối sơn son thiếp vàng cũng là những cổ vật… Ngoài ra ngôi phủ thờ còn có một sức thu hút khác vì nó là nơi thờ phượng tổ phụ của một nhân vật lịch sử Việt Nam. Ông Cao Minh Thạnh là Đốc phủ xứ còn các anh em và con cái của ông đều là quan Phủ thờ do họ xây cất cũng không phải tầm thường. hai cặp bạc đội đèn. Ông còn là một trong những sáng lập viên của “Đông Dương lao động Đảng: ở Sài Gòn. Các cửa chính và cửa phụ đều mang nét kiến trúc Trung Hoa. Trang 76 . Khoảng năm 1929.

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Năm 1930. Phần lớn sự nghiệp của cụ. Được thưởng nhiều huân chương… Nói về cuộc đời cụ Cao Triều Phát. ông được cử làm phó chủ nhiệm Mặt trận Việt Minh tỉnh Bạc Liêu… Ngày 06/01/1946 ông đắc cử Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại đơn vị tỉnh Bạc Liêu. từng là Ủy viên thường trực Quốc hội. Tóm lại Cao Triều Phát là một nhân vật lịch sử của đất Bạc Liêu. ông tập kết ra Bắc gặp Bác Hồ tại Thái Nguyên và giữ chức giáo tông Cao đài 12 phái thống nhất. đánh vào thánh thất Ngọc Minh ông cùng với các chức sắc trứ hữu quyết tâm tử thủ trong nhiều ngày. tập hợp 12 phái thống nhất cao đài cứu quốc tham gia Mặt trận Việt Minh chống Pháp.3. ngâm một bài thơ đắc thắng”. đố với công cuộc kháng chiến và rất mong có ngày được gặp ông để cùng uống một chung rượu đào. Mùa thu năm 1945. Bác Hồ viết thư cho Cao Triều Phát đã nói như sau: “Dù xa cách Chính phủ và tôi lúc nào cũng nghĩ đến công nghiệp của ông đối với Tổ quốc. Ủy viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bảo pháp trong hiệp thiên tài và đắc cử vào Hội đồng quản hạt Nam kỳ. Cao Triều Phát đã được Tổng bí thư Lê Duẩn kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Các công trình du lịch vật thể chưa được xếp hạng của tỉnh Bạc Liêu 2. Cao Triều Phát gia nhập phái Minh chơn đạo – Cao đài Hậu Giang và từng giữ chức Bảo đạo. Hiện tượng Cao Triều Phát là một hiện tượng đặc biệt nói lên nghĩa khí của người Nam bộ. cụ cống hiến cho cách mạng. Phủ thờ dòng họ Cao Triều Phát là một di sản của một con người nổi tiếng. Năm 1947 ông giữ chức cố vấn Ủy ban Hành chánh kháng chiến Nam bộ. Khu du lịch Quan Âm Phật Đài Trang 77 . Năm 1954.3. Họ đã đánh đổi cuộc sống giàu sang để vì sự nghiệp chung của dân tộc…”. một nhà văn đã viết: “… Cụ tham gia kháng chiến ngay từ những ngày đầu kháng chiến tới già tới chết.1. hơn nữa là một nhà giàu muôn hộ trọng nghĩa khinh tài. còn những người như cụ Cao Triều Phát thì mất mát lớn lao. Thực tế Cao Triều Phát là một đại điền chủ nhưng ông đã bỏ hết để theo cách mạng. Còn cố vấn Võ Văn Kiệt thì nói rằng: “Tôi tham gia cách mạng nếu có mất mát thì cũng chẳng mất mát thứ gì. 2.

Nếu khách tham quan muốn ở lại để khám phá sự độc đáo của nơi này thì đã có sự phục vụ tận tình của các nhà nghỉ và khách sạn trong và ngoài thành phố. đang được đầu tư xây dựng với diện tích 98. Hiện nay. Cách TP Bạc Liêu 8km. thị xã Bạc Liêu. Trên đường đi.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Thuộc khóm Nhà Mát. Trong tương lai không xa nơi đây sẽ trở thành một khu du lịch sinh thái biển kết hợp với du lịch lễ hội hành hương cùng với hệ thống nhà hàng khách sạn và khu vui chơi. phường Nhà Mát. du khách sẽ được chiêm ngưỡng cảnh sắc đầy thú vị của thiên nhiên và con người vùng biển. du khách có thể đến với khu du lịch Quan Âm Phật Đài dễ dàng bằng taxi. giải trí đa dạng.5 ha. Trang 78 . xe ôm hay các xe dịch vụ.

tâm linh nổi bật nhất ở Bạc Liêu. có trải thảm cho du khách vái lạy cầu an. du khách còn có thể chiêm ngưỡng kiến trúc độc đáo của cổng tam quan ngay khi bước vào. Tháng 3 hằng năm đều diễn ra lễ hội Vía Bà. kéo dài trong 3 ngày. Du khách đến đây sẽ cảm nhận được sự bình yên tỏa lan từ khuôn mặt dịu hiền. Hai bên Phật đài là hai dãy nhà rộng lớn. Gian nhà giữa để thờ các vị Phật. Tượng Phật Bà cao 11m. Bát ngát cây xanh nước mặn bao lấy bờ biển tạo nền cho bức tượng trắng đứng sừng sững trên đài sen hồng.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Được xây dựng từ năm 1973. Phật Bà đã phù hộ và chở che cho họ rất nhiều và những gì họ có được là cũng nhờ một phần vào việc họ tin và thành kính đối với thế giới tâm linh. thưởng ngoạn và bày tỏ lòng thành kính của mình. Hằng năm. khu Phật Bà Nam Hải là một công trình kiến trúc . thu hút nhiều du khách nhất. được xây theo kiến trúc của các ngôi chùa. Đây là một lễ hội lớn và rất nghiêm trang. trở thành trung tâm giữa đất liền và biển lớn. Trang 79 . phúc hậu của Phật Bà. Ngoài ra. Theo tín ngưỡng của những người đi biển. có hàng ngàn lượt du khách đến tham quan.văn hóa . xoay mặt ra biển Đông.

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Hai bên có những gian nhà nhỏ. khám Trang 80 . bạn sẽ tìm thấy được một nơi chốn bình yên. Và thú vị là thưởng thức những món đặc sản Bạc Liêu trong hàng quán của người dân quanh khu du lịch. Khu Phật Bà Nam Hải đã và đang đáp ứng nhu cầu đó kết hợp với tham quam du lịch một cách thành công. quà lưu niệm luôn phục vụ suốt ngày đêm. Gần đó là những cửa sông với dãy cây xanh ven bờ hút hồn du khách. Những luồng gió biển thổi vào luôn làm dịu mát sự mệt mỏi cho du khách đường xa. bạn bè để làm kỷ niệm. những cái nón trầm do tự tay người dân Bạc Liêu làm. Điều thú vị là ban quản lý khu du lịch đã làm một chương trình phát thanh về quá trình phát triển và những sự tích của khu Phật Bà Quan Âm để du khách có thể nghe khi ngồi nghỉ mát. vừa là nơi để du khách nghỉ chân vừa là nơi ghi lại quá trình xây dựng và phát triển của khu du lịch. thanh thản cho riêng mình. Và một nhà ăn với các món chay phục vụ thực khách. Du khách có thể mang về những bức tranh. Đời sống tâm linh là một điều không thể thiếu đối với mỗi người. Cảnh biển ngút ngàn càng tôn thêm sự thiêng liêng cho bức tượng. Các dịch vụ ăn uống. Không gian của khu du lịch rất thoáng. Nếu đến đây. cho người thân.

người được mệnh danh là Công tử Bạc Liêu. gần một thế kỷ qua căn nhà gần như vẫn giữ được những nét cơ bản của nó. phòng đối diện là phòng của công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (dân địa phương gọi là Ba Huy). Điện Biên Phủ.3.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu phá được nhiều điều độc đáo và thú vị trong các công trình kiến trúc. Năm 2003. Quần thể nhà công tử Bạc Liêu Nhà Công tử Bạc Liêu tại số 13. phòng ở hướng Đông Bắc là phòng của ông Trần Trinh Trạch. cha của Trần Trinh Huy. 2 đại sảnh và lối cầu thang lên lầu. 2 đại sảnh. thị xã Bạc Liêu. Tầng lầu gồm 3 phòng ngủ. 2. phường 3. tỉnh Bạc Liêu là địa chỉ không thể bỏ qua của bất cứ du khách nào đặt chân tới Bạc Liêu. do kỹ sư người Pháp thiết kế và xây dựng. có nhiều vật liệu phải chở từ bên Pháp sang. Công ty Du lịch Bạc Liêu đã đầu tư tu sửa căn nhà nhằm đưa vào kinh doanh văn hóa du lịch. tầng trệt gồm 2 phòng ngủ. Ngôi nhà được xây dựng năm 1919. trong cách ứng xử và những nét văn hóa đậm chất Phật giáo. Từ đó đến nay. Đây là nhà của ông Trần Trinh Trạch. Hiện nay căn nhà này được dùng làm Trang 81 .2. Đây là căn nhà được coi là bề thế nhất Bạc Liêu lúc bấy giờ.

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu
khách sạn trong hệ thống Nhà hàng - Khách sạn công tử Bạc Liêu.

Công tử Bạc Liêu Ba Huy nổi tiếng vì những giai thoại ăn chơi bạt mạng và lắm vợ nhiều... bồ bịch. Ba Huy chỉ thừa nhận một vợ do cha, mẹ cưới hỏi là bà Ngô Thị Đen. Tuy nhiên, ông cũng “tự mình kiếm thêm” 4 bà nữa, trong đó có một người mang quốc tịch Pháp, và... không nhớ nổi bao nhiêu... bồ. Là người hào hoa phong nhã, cách ăn chơi của Ba Huy cũng nức tiếng với nhiều giai thoại như chuyện Ba Huy đã từng đốt tiền nấu chè “thi gan” với công tử Phước (Phước Georges, người xứ Mỹ Tho, con trai Đốc phủ sứ Sảng). Công tử Bạc Liêu đã từng “náo loạn” tại Đại Thế Giới, là khách quen của hầu hết các nhà hàng sang trong lúc bấy giờ tại Sài Gòn. Ba Huy đã từng bao cả nhà hàng một đêm để đãi duy nhất một... người đẹp.
Trang 82

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu
Nhà Công tử Bạc Liêu hiện nay được bày biện, phục tráng gần như nguyên trạng. Tuy nhiên do qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau vật dụng trong gia đình đã thất lạc rất nhiều. Theo bà Võ Kim Cương, Giám đốc Nhà hàng - Khách sạn công tử Bạc Liêu, hiện nay khách sạn hiện đang kinh doanh 10 phòng nghỉ. Giá phòng từ 200.000 240.000đồng/ngày đêm. Riêng căn phòng của công tử Bạc Liêu có giá thuê 350.000 đồng/ngày đêm, nhưng phải đặt trước vì có nhiều khách muốn ngủ tại phòng này. Được biết, sắp tới, BGĐ sẽ đưa vào khai thác trang phục công tử Bạc Liêu, các vật dụng có liên quan... để hấp dẫn du khách. Dưới đây là một số hình ảnh nhà Công tử Bạc Liêu:

Ngay tại tầng 1 của ngôi biệt thự là phòng thờ của Ông bà hội đồng Trần Trinh Trạch (Cha mẹ đẻ của Công tử Bạc Liêu).

Trang 83

Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu

Lối cầu thang dẫn lên phòng của Công tử Bạc Liêu.

Trang 84

Hoàng hôn trầm mặc nơi dinh thự công tử Bạc Liêu.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Nơi trước đây Công tử Bạc Liêu ngồi uống trà và ăn nhậu. Tầng áp mái giờ đây không còn là nơi để đồ đạc như xưa. Trang 85 .

4. Ẩm thực Bạc Liêu Trang 86 .Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Khu vườn đã được sửa sang để làm nhà hàng ăn uống. 2. Một số khu vực trong khuôn viên ngôi biệt thự giờ đã được tận dụng để kinh doanh dịch vụ cafe.

xá bấu: Đặc sản truyền thống của người Hoa ở Bạc Liêu Không biết món cốn xại. Ăn với cơm gạo trắng. xá bấu có tự khi nào. rau dừa thì chê vào đâu được. tôm khô ăn với dưa kiệu khề khà vài li rượu đế nữa thì quá tuyệt! Còn bữa ăn thường mà có thêm tô canh chua bông so đũa. cá lóc nướng trui rơm. ăn mãi quên no. Bánh củ cải Trang 87 . Cốn xại. nhưng người Hoa ở Bạc Liêu sử dụng cốn xại (cải muối). dù không phải là dân nhậu thì sớm muộn gì cũng thành nghiền. Nhiều món như khô cá sặc trộn gỏi xoài xanh và nước mắm đường. lẩu dưa chua. khô cá khoai hay đĩa cá rô chiên xù ăn với nước mắm gừng nữa thì quá tuyệt vời. Đây được coi là món ăn đặc sản mang đậm tính truyền thống của người Hoa.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Nếu có dịp đặt chân đến đất Bạc Liêu chúng ta sẽ có dịp thưởng thức nhiều món ăn vừa ngon vừa lạ tai lại rất lạ miệng. bún nước lèo cá lóc. xá bấu (củ cải muối) trong bữa ăn hàng ngày. gỏi ngó sen với tôm luộc. Rồi đến các món cá lóc kho tộ ăn với dưa bồn bồn. Ví như lẩu mắm mà ăn với các loại rau đồng như bông súng.

quế và ít xà lách. đâm dập vừa phải. Phải nói bún bò cay là đặc sản có một không hai. nhưng bún bò cay ngon nhờ không dùng nhiều mỡ và đặc biệt được pha chế theo một công thức bí truyền. mộc mạc. húng cây. Cạnh bên đó là một đĩa quế tươi xanh. Vì thế. mà có thể là của cả vùng Đồng bằng sông Cửu Long. đến Bạc Liêu mà không ăn bún bò cay là xem như chưa “biết” Bạc Liêu vậy! tỏi. khó lòng quên. Chỉ là thịt bò nấu với sa tế mà thôi. Bánh có nguồn gốc của người Hoa. Bánh được làm bằng bột mì trắng pha với ít bột củ cải trắng nghiền nhuyễn. Bánh tằm Ngang Dừa Bánh tằm Ngang Dừa có hai loại mặn và ngọt. Và đúng như tên gọi của món ăn. Trang 88 . Dù vậy. Không thể thiếu phần nước chấm: pha nước mắm. cầu kỳ. cán mỏng ra như bánh ướt. ớt cho vừa ăn. Bún Bò cay Ẩm thực Bạc Liêu có tính đặc thù riêng biệt: dân dã. chẳng những của Bạc Liêu. cùng ít thịt nạc bằm với vài hạt đậu xanh hột hấp. diếp cá. có lẽ bún bò cay được chế biến chẳng lấy gì làm công phu. Tất cả được xào chín. chanh. khiến màu đỏ của nước bún là nguyên chất chứ không cần phẩm màu. Bánh củ cải ăn kèm với rau thơm. Chính vì nhiều lẽ đó mà bánh tằm Ngang Dừa trở thành một món ăn độc đáo và rất lạ lẫm hấp dẫn với khách du lịch phương xa. Nhưng có một món mà đến Bạc Liêu bạn không thể không thưởng thức đó là bún bò cay. húng lủi. khi ngồi xung quanh bên chiếc gánh tùy theo sở thích khẩu vị của quý khách mà thưởng thức cái hương vị đồng quê miệt biển Bạc Liêu. tô bún này được nấu với rất nhiều ớt tươi.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Ghé chợ Bạc Liêu để thưởng thức thêm một đặc sản nữa đó là bánh củ cải. Trong là nhân bánh gồm tôm khô nhỏ hoặc tép bạc đất lột vỏ. nêm nếm vừa ăn. đã thưởng thức một lần. cùng một đĩa muối hột đâm ớt đỏ thích mắt có kèm một lát chanh. đường.

trong đó bánh tằm bì là món ăn thuần Việt rất được nhiều người ưa thích. cá lóc nhỏ.. Bạc Liêu vốn có nhiều món bánh truyền thống nổi tiếng.. Nhưng tham quan tháp cổ Vĩnh Hưng (ấp Trung Hưng 1.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Mắm chua Vĩnh Hưng Mắm cá đồng. nếu có tủ lạnh thì để được lâu. nhiều nhất là ở Cà Mau. huyện Vĩnh Lợi. thính. có ở hầu hết các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. mắm chua chỉ ăn trong vòng 10 – 15 ngày. ớt.. tỉnh Bạc Liêu). Mắm chua được chế biến từ cá sặt. bạn sẽ được dân địa phương giới thiệu món mắm chua.. Không giống các loại mắm mặn khác. rượu. cá rô. riềng.. Ai từng ăn một lần sẽ nhớ mãi về sau. cùng muối. Bánh tằm bì Bạc Liêu Bánh tằm bì có ở nhiều nơi nhưng riêng tại Bạc Liêu thì món ngon trên thuộc hàng đặc sản. xã Vĩnh Hưng. nhất là giới lao động bình dân và bà con sống ở nông thôn Trang 89 . tỏi.. đường.

là món ăn dân dã trong bữa cơm thường ngày.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Mắm cá trắm . cá rô. cá đồng dần dà khan Trang 90 .Bạc Liêu Xưa kia ở miền Tây mấy loại cá đồng làm mắm thường thấy như cá lóc. Nhưng ngày nay. cá sặt...Đặc sản Hồng Dân .

khách lạ phương xa đến Hồng Dân lại được biết thêm món mắm cá trắm ngon tuyệt không thua mắm cá lóc trứ danh hồi nào.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu hiếm. Trang 91 .

000 và 85. hấp dẫn du khách.7% và số lượt khách đến Bạc Liêu là 280. ẩm thực chưa được đầu tư đúng mức. Tuy nhiên.000 tăng 27. tuyến trong thị xã và giữa thị xã với các huyện trong và ngoài tỉnh. xây dựng Trang 92 . quảng bá du lịch. cán bộ và nhân dân tham gia phát triển du lịch. cả về du lịch văn hoá.1 Thực trạng du lịch của tỉnh bạc Liêu Tiềm năng du lịch của Tỉnh Bạc Liêu phong phú nhưng thực tế ngành du lịch Bạc Liêu cũng còn không ít khó khăn do chưa khai thác hết tiềm năng thế mạnh này .000 lượt khách và doanh thu đạt 240 tỷ đồng thì đến năm 2008. Bạc Liêu đón được 220. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Bạc Liêu tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến. du lịch Bạc Liêu trong thời gian qua có những bước phát triển đáng ghi nhận. sông nước. nếu như năm 2007.2% so với năm 2007. nhiều dự án du lịch đã và đang được triển khai. nhưng thời gian lưu trú không nhiều. nên chưa có nhiều cơ sở đủ chuẩn. ngành du lịch của tỉnh đã tập trung khai thác những giá trị độc đáo của các điểm du lịch trong tỉnh. Do thiếu sự đầu tư đúng mức của Nhà nước và nhân dân. hoạt động du lịch còn tự phát. chưa huy động được các thành phần kinh tế. tăng 16. các sản phẩm lưu niệm và tiêu dùng phục vụ nhu cầu mua sắm của du khách đơn điệu. du lịch vườn. doanh thu đạt 300 tỷ đồng. Theo đó. chủ yếu là do dịch vụ phục vụ du lịch chậm phát triển.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu PHẦN 3: THỰC TRẠNG CỦA DU LỊCH BẠC LIÊU VÀ NHỮNG Ý KIẾN ĐỀ XUẤT NHẰM PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BẠC LIÊU 3. Lượng khách đến đông. chưa tạo được tour. du lịch sinh thái. Loại hình du lịch còn nghèo nàn. Hoạt động du lịch còn rời rạc. Số liệu thống kê của tỉnh cho thấy. tính chuyên nghiệp trong tổ chức các hoạt động du lịch còn hạn chế. Cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch cũng từng bước được đầu tư phát triển. trong đó khách quốc tế khoảng 8. hệ thống nhà hàng . tạo cho du lịch Bạc Liêu có những điểm nhấn để thu hút khách và phát triển bền vững. khách sạn chưa đáp ứng yêu cầu. Tính văn minh trong phục vụ khách. Để thúc đẩy hoạt động du lịch tiếp tục phát triển bền vững.000 lượt khách sử dụng dịch vụ lưu trú.

Cụ thể tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng Khu du lịch Nhà Mát với quy mô gần 100ha ngay tại thị xã Bạc Liêu. thu hút khách du lịch đến với Bạc Liêu nhiều hơn góp phần thúc đẩy du lịch Bạc Liêu phát triển mạnh mẽ hơn. Một số dự án du lịch được xây dựng. nhà hàng… Vốn được coi là chiếc nôi của du lịch văn hóa nên bên cạnh việc phát triển du lịch sinh thái thì việc phát triển du lịch văn hóa cũng được tỉnh Bạc Liêu chú trọng để khai thác. các cơ sở du lịch không ngừng tăng thêm. đầu tư cơ sở hạ tầng cho các dự án khu. phát triển các câu lạc bộ đờn ca tài tử để phục vụ khách du lịch tại các khu di tích. ngành du lịch tỉnh còn tập trung khai thác các điểm nhấn văn hóa mang sắc thái riêng của Bạc Liêu như: bản Dạ cổ hoài lang gắn với khu lưu niệm cố nhạc sỹ Cao Văn Lầu. khu du lịch vườn chim Bạc Liêu. du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan ngày càng nhiều và nguồn thu từ du lịch ngày càng chiếm tỷ trọng cao. hoạt động du lịch của tỉnh nói chung. các cấp và người dân quan tâm và có sự đầu tư đáng kể. Với những nỗ lực rất lớn của ngành du lịch Bạc Liêu. tháp cổ Vĩnh Hưng gắn với nền văn hóa Óc Eo. các khu du lịch tâm linh gắn với chùa chiền. Bên cạnh việc tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa. tổ chức các lễ hội truyền thống địa phương. Dự kiến năm 2010 công trình hoàn tất và đưa vào sử dụng sẽ là một đòn bẩy thúc đẩy du lịch Bạc Liêu phát triển. hy vọng du lịch Bạc Liêu ngày càng khởi sắc. tuyến hợp lý. Tuy nhiên. Ngoài ra còn có một số dự án phát triển du lịch sinh thái như dự án phát triển khu du lịch sinh thái ven biển có quy mô 80ha. du lịch trên địa bàn thị xã còn chậm phát triển. Nhiều năm qua. thiếu sự đầu tư về cơ sở vật chất cũng như các hoạt động dịch vụ nên chưa có nhiều cơ sở đạt tiêu chuẩn để Trang 93 . đóng góp vào thu nhập kinh tế-xã hội của tỉnh. thị xã nói riêng được các ngành. khu du lịch Vườn Nhãn. dự án xây dựng khách sạn. điểm du lịch trọng điểm để du lịch Bạc Liêu tạo đà bứt phá.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu tour.

hiếu khách. sửa chữa. thị xã Bạc Liêu đã đạt được một số kết quả đáng phấn khởi. miếu ông Bổn với tổng kinh phí 1. người Bạc Liêu văn minh. xây dựng cổng chào du lịch phường Nhà Mát với tổng kinh phí trên 1. thuyết minh viên chưa mang tính chuyên nghiệp. Bia Trường Công nông Minh Hải. Qua gần 03 năm thực hiện Nghị quyết 02. Tham gia với tỉnh tổ chức các lễ hội hàng năm trên địa bàn như: lễ hội “Dạ cổ hoài lang”. chưa tạo được tour. Về lĩnh vực du lịch văn hoá: Sở Văn hoá.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu thu hút du khách. nâng cấp cụm nhà Công tử Bạc Liêu. nâng cấp công viên Lê Thị Riêng. miếu Địa Mẫu. nâng cấp khuôn viên và đường vào gốc Xoài cổ tại xã Vĩnh Trạch Đông. lễ Óc-Om-Bóc của đồng bào dân tộc Khơmer.Việc huy động các thành phần kinh tế. sửa chữa. đầu tư xây dựng Bia căn cứ thị xã trong vườn chim Bạc Liêu. chùa vận động các mạnh thường quân đóng góp trùng tu. nhất là các di tích đã được xếp hạng như: Đình An Trạch. Hội Triều Quang Sùng Thiện đường. xây dựng: Bia khám Lớn. lễ Vu Lan của bà con dân tộc Hoa. hồ bơi. nâng cấp đối với các cơ sở thờ tự. BCH Đảng bộ thị xã Bạc Liêu đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-TU ngày 26/11/2006 về phát triển du lịch thị xã.4 tỷ đồng. lịch thiệp. hoạt động du lịch lữ hành còn hạn chế. nâng cấp Công viên văn hoá Trần Huỳnh… Các ngành chức năng của tỉnh và thị xã cũng đã tập trung đầu tư và đưa vào khai thác như: Khôi phục. lễ tiết thanh minh. Trang 94 .67 tỷ đồng. Bia lá cờ Đảng. lễ hội Quán âm Nam Hải. tôn tạo. tuyến trong thị xã và các huyện trong tỉnh. Công ty cổ phần Địa ốc đầu tư xây dựng một số hạng mục như: sân tennis. cán bộ và nhân dân trong công tác xã hội hoá để phát triển du lịch chưa được quan tâm đúng mức… Để khắc phục những hạn chế nêu trên đồng thời phát huy tiềm năng du lịch. sản phẩm quà lưu niệm phục vụ du lịch còn đơn điệu. Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 02 về phát triển du lịch đã phối hợp với Ban trị sự các đình. góp phần quảng bá tiềm năng du lịch. bến du thuyền…với kinh phí gần 6 tỷ đồng. đội ngũ hướng dẫn viên. Thể thao và Du lịch khởi công xây dựng Dự án trùng tu tôn tạo khu lưu niệm nhạc sĩ Cao Văn Lầu xây dựng khu du lịch Phật bà Nam Hải.

chú trọng hơn về mẫu mã.000 lượt khách đến tham quan tại các điểm du lịch Bạc Liêu (so với năm 2007 tăng 34%) chiếm 70% lượng khách đến trong tỉnh. ca cổ. Thị xã đã thu hút được lượng khách khá lớn đến với Bạc Liêu tham quan du lịch. trật tự xã hội. đảm bảo sự an toàn.phường 8. nhà nghỉ được chỉnh trang. giới thiệu thương hiệu. quá trình tổ chức thực hiện Nghị quyết 02 vẫn còn một số mặt khó khăn. quà lưu niệm cũng đã tăng cường công tác quảng bá. giải trí nhằm phục vụ khách du lịch. trên 20 đội. gốc Xoài cổ… Quy hoạch nhà vườn tuyến lộ Trà Kha . trật tự văn minh đô thị. nâng cấp chất lượng sản phẩm và phong cách phục vụ khách du lịch. Công tác an ninh. giải trí. quán bar. phấn khởi cho du khách khi đến Bạc Liêu. Qua gần 03 năm thực hiện Nghị quyết 02. có hơn 280. thành lập 02 Đội đờn ca tài tử chuyên phục vụ du lịch. hạn chế như: Các điểm quy hoạch để phát triển du lịch trên địa bàn phần lớn Trang 95 . massage…. khu chợ đêm…. chất lượng hàng hoá khi sản xuất để giới thiệu với khách tham quan. khách sạn đáp ứng đủ nhu cầu của du khách. cải tạo nâng cấp một số cơ sở dịch vụ ăn uống… Về dịch vụ du lịch: toàn địa bàn thị xã có trên 50 cơ sở kinh doanh nhà hàng. mô hình trồng cây ca cao dưới tán nhãn cổ. Tuy nhiên. khóm. tăng 24% Tuy kết quả mới chỉ ở bước đầu. chăm sóc sức khoẻ bắt đầu có sự khởi động và nâng cao chất lượng phục vụ. Tổ chức thống kê số nhãn cổ để bảo tồn. đầu tư nâng cấp khu ẩm thực Bạc Liêu. chăm sóc sức khoẻ cũng đang phát triển. xã. các dịch vụ ăn uống. ấp và các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. vệ sinh môi trường thường xuyên được chú trọng và thực hiện khá tốt. trồng cây ăn trái. phát động nhân dân khóm Trà Kha cải tạo vườn tạp. đầu tư và hình thành một số cơ sở hạ tầng kỹ thuật thiết yếu phục vụ du lịch. các sản phẩm địa phương. nghỉ ngơi. nhiệm vụ mà Nghị quyết đã đề ra.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu Về du lịch vườn: tuyến du lịch vườn nhãn đã có trên 50 quán ăn uống.. tới trên 60 điểm dịch vụ như: karaoke. nhưng đã tạo tiền đề quan trọng trong việc thực hiện những mục tiêu. nhóm đờn ca tài tử ở các phường. tổng doanh thu đạt 415 tỷ đồng. dịch vụ vui chơi giải trí.

tiếp tục phát động nhân dân mở rộng. cua. tăng cường công tác quản lý nhà nước về du lịch. chăm bồi. thị xã đã đề ra một số giải pháp cụ thể như sau: Tăng cường công tác tuyên truyền. xã Hiệp Thành và xã Vĩnh Trạch Đông. đặc sản của Bạc Liêu như: rượu nếp Bỉnh Thành. trồng cây xanh…tại khu vực “Tượng Bà Nam Hải”. nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác du lịch. lễ hội Óc-om-bóc…. giới thiệu. dưa bồn bồn…Đồng thời phát triển những món ăn nổi tiếng đặc thù của Bạc Liêu như: Bún nước lèo. rượu nhãn. Để tiếp tục đưa Nghị quyết 02 của Thị ủy vào cuộc sống. bánh xèo Giồng Nhãn. vận động các thành phần kinh tế.. trang thiết bị phục vụ của các cơ sở lưu trú còn thấp. chấn chỉnh sắp xếp trật tự mua bán và làm tốt công tác vệ sinh môi trường. tham gia với tỉnh tổ chức tốt các lễ hội như: “Dạ cổ hoài lang”. thiếu tính chuyên nghiệp. về cơ sở vật chất. bãi đậu xe. tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá gắn với phát triển du lịch.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu thuộc về nhiệm vụ. Một số hộ dân có điều kiện làm du lịch còn trông chờ vào sự đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ tầng. tôm khô. các tầng lớp nhân dân thấy rõ được lợi ích lâu dài và thế mạnh du lịch trong phát triển kinh tế chung của thị xã. nên tốc độ phát triển du lịch còn chậm. trùng tu. bánh cuốn Hồ bơi…. chính sách thuế. chính sách ưu đãi đầu tư chưa hấp dẫn nên ít nhà đầu tư vào Thị xã Bạc Liêu. công việc cụ thể còn chậm so với yêu cầu. sản phẩm tiêu biểu.. Trang 96 .phường 8. chức năng của một số Sở. một số lĩnh vực thuộc nhiệm vụ cụ thể Nghị quyết 02 đã đề cập ở lĩnh vực du lịch sinh thái. ngành cấp tỉnh. phát triển du lịch vườn thuộc khóm Trà Kha . cho vay vốn. phường 1. bố trí hợp lý khu dịch vụ ăn uống. thị xã không chủ động được nên tiến độ thực hiện một số nhiệm vụ. nhưng thực hiện hiệu quả thấp... bán hàng lưu niệm. lễ hội Kỳ Yên ở các đình. quảng bá một số hàng hoá. “Quán âm Nam Hải”. nghêu. bún bò cay. có kế hoạch từng bước chuẩn hoá lực lượng hướng dẫn viên du lịch. khả năng giao tiếp của nhân viên ở các cơ sở lưu trú chưa thật sự đáp ứng được yêu cầu phục vụ khách du lịch. lắp đặt các bản chỉ dẫn khách tham quan đến các điểm du lịch. chất lượng đội ngũ phục vụ còn hạn chế. đòi hỏi phải có phối hợp đồng bộ của các ngành thuộc tỉnh. chùa.

Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực du lịch cho vùng Bạc Liêu cả về cán bộ quản lý và lao động trực tiếp bằng nhiều hình thức. khảo sát.vùng đất đang sở hữu những tiềm năng du lịch lớn và có tính đặc thù so với cả nước. 3. của cả nước và quốc tế . tạo ấn tượng tốt cho du khách. không ngừng nâng cao tay nghề và tính chuyên nghiệp trong hoạt động du lịch. nhà hàng. tour. con người Tây Nam Bộ. không tách rời với sự phát triển của cả vùng phía Nam Tổ quốc. tour. Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Bạc Liêu .Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu thuyết minh viên. du lịch văn hoá lịch sử vì đó là thế mạnh của Bạc Liêu. . nhân viên trong các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch phục vụ tốt hơn nữa cho du khách khi đến tham quan trên địa bàn. tổng hợp… tiềm năng du lịch của từng tỉnh. xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bạc Liêu nói riêng và vùng Tây Nam bộ nói chung . chương trình phù hợp. đáp ứng yêu cầu về các nghiệp vụ trong ngành du lịch. nơi mua sắm.Nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch ở các điểm đến. phân tích. tuyến. góp phần tích cực trong quá trình mở cửa. cải tiến chất lượng sản phẩm du lịch. bảo đảm an ninh quốc phòng. không trùng lắp. sản phẩm du lịch đặc thù và nổi trội. đánh giá. khoa học trong từng địa phương và liên tỉnh với lộ trình hợp lý Trang 97 . có sức thu hút cao.Tổ chức triển khai điều tra. các điểm đến. lịch sử. đa dạng. danh thắng. bên cạnh đó phải song hành với việc xây dựng cơ sở vật chất của tỉnh Bạc Liêu. phong phú ở từng địa phương và liên kết cả vùng.v… Trên cơ sở đó. hội nhập kinh tế quốc tế. thống kê. cả khu vực Bạc Liêu về văn hóa.Xây dựng các tour..Tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức của các cấp. tuyến.Ưu tiên phát triển các loại hình du lịch sinh thái. lễ hội truyền thống.v. . Không ngừng nâng cao. các ngành. nghỉ dưỡng cao cấp. cơ sở lưu trú..2 . .Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù. . tuyến du lịch hấp dẫn. các địa phương về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển du lịch Bạc Liêu .

triễn lãm. môi trường du lịch an toàn. sách. Bên cạnh đó. làng nghề truyền thống.. CD. cả trong nước và nước ngoài nhằm thu hút du khách.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu . Hoạt động tuyên truyền là một trong những hoạt động cần được chú ý và đầu tư nếu muốn phát triển du lịch Bạc Liêu. nhà hàng….. các trang web về du lịch. gắn liền với bản sắc văn hoá và thế mạnh của tỉnh. Bên cạnh đó. Bởi nếu một hòn đảo đầy tiềm năng và xinh đẹp nhưng nếu không ai hoặc ít người biết đến thì làm sao chúng ta có thể hấp dẫn du khách đến với Bạc Liêu. thân thiện và bền vững. khách sạn ở Bạc Liêu cũng cần mở rộng thêm quan hệ với các đối tác khác nhằm hạn chế rủi ro cho mình. Để hình ảnh Bạc Liêu được nhiều du khách biết đến. cơ sở phục vụ du lịch. các cơ sở khách sạn. website. khi chất lượng.. . đài.. chúng ta có thể quảng bá hình ảnh Côn Đảo qua các cuộc hội thảo du lịch hay các cuộc triển lãm . Bạc Liêu sẽ là một trong những điểm du lịch thu hút cho du khách. các công ty du lịch ở Bạc Liêu cần tiếp tục các mối quan hệ tốt với các đối tác này. . các công ty lữ hành. đảm bảo chất lượng phục vụ tốt. quảng bá. đồng thời cũng là tạo ra nhiều sự lựa chọn cho chính mình và khách hàng. tờ gấp.Xây dựng và phát triển các công ty du lịch ngang tầm với quy mô và tiềm năng du lịch Bạc Liêu. hội thảo. các khu du lịch miệt vườn. dịch vụ du lịch và những giá trị du lịch hấp dẫn và tốt thì những du Trang 98 . hội chợ. Đối với các đối tác trong nước như các sở du lịch các tỉnh. các công ty du lịch. nâng cấp các cơ sở hạ tầng. có mạng lưới phục vụ du lịch rộng khắp vùng và hiệu quả cao. có thương hiệu mạnh và uy tín lớn. Nhưng có lẽ cách tuyên truyền tốt nhất và hiệu quả nhất chính là những sản phẩm du lịch chất lượng cao của Bạc Liêu. cần đẩy mạnh hoạt động quảnh bá qua các phương tiện thông tin đại chúng.Chủ động và đẩy mạnh công tác tuyên truyền. xúc tiến du lịch cho toàn vùng và từng địa phương bằng nhiều hình thức và phương tiện thông tin: TV.Đầu tư. báo. bản đồ. Bởi lẽ. hội chợ du lịch trong nước và quốc tế để không chỉ có du khách Việt Nam mà du khách Quốc Tế biết đến Bạc Liêu. Lễ hội. Nhờ có quan hệ tốt mà khi vào mùa du lịch.

ở Bạc Liêu chúng ta có thể để du khách trải nghiệm. Sự gắn kết này là cần thiết và không thể tách rời đối với ngành du lịch nói chung và du lịch Bạc Liêu nói riêng.Nâng cao nhận thức cho người dân địa phương về phát triển du lịch và bảo vệ các giá trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể .Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu khách tới Bạc Liêu sẽ hài lòng và vui thích. những giá trị văn hóa trong cộng đồng sẽ giúp những nhà làm du lịch tìm ra những “lỗ hổng” từ cộng đồng để bù đắp và trang bị kiến thức cho lực lượng này. để hiểu rõ hơn về cuộc sống. .Trong giai đoạn 2011-2015.Nhà nước cần có cơ chế đặc thù. Chính vì vậy việc phát triển du lịch sinh thái. phát triển du lịch bền vững là nền tảng cho nền kinh tế du lịch . . tôn tạo và phát huy các giá trị thiên nhiên và các khu di tích lịch sử ở Bạc Liêu. cách sinh hoạt của người dân miền Tây Nam Bộ.Từ đó họ sẽ trở thành những ngưới quảng bá hữu hiệu cho tỉnh Bạc Liêu.dịch vụ chất lượng cao và về lâu dài trở thành đô thị du lịch sinh thái. du lịch sinh thía là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản đại gắn với giáo dục môi trường. nhằm phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của du khách. cùng hòa mình với hoạt động của những người dân nơi đây. có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. chính sách hỗ trợ cần thiết nhằm khuyến khích phát triển du lịch Bạc Liêu . .Việc xây dựng một Bạc Liêu thân thiện với môi trường sẽ là điểm hấp dẫn riêng biệt đối với du khách. Bởi khi hiểu về cộng đồng. cần xây dựng hệ thống siêu thị và mở rộng dịch vụ bán lẻ phục vụ cho khách du lịch trong nước và quốc tế. được xem Trang 99 . Bên cạnh đó. ngoài ý nghĩa là một loại hình hấp dẫn. Cụ thể.Mở rộng sự tham gia của cộng đồng địa phương trong phát triển du lịch và kinh tế. đồng thời tạo điều kiện để du khách hòa đồng với cuộc sống mộc mạc của người dân. chúng ta có thể kết hợp làm du lịch với sự hỗ trợ của những người dân .Du lịch gắn với bảo tồn. kêu gọi đầu tư những dự án phát triển thương mại .Bảo tồn và phát triển loại hình du lịch sinh thái.Hơn nữa. Cần có sự gắn kết các sản phẩm du lịch với cộng đồng. một địa điểm du lịch văn hoá lịch sử nổi tiếng trong và ngoài nước.

+ Tạo cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho cộng đồng. giới văn nghệ sĩ và du khách trong. các công trình văn hóa kiến trúc được xếp hạng cấp tỉnh và quốc gia. cơ sở hạ tầng. các loại nhà cổ trên địa bàn. sân khấu ngoài trời. những giai thoại vang bóng một thời. Việc xây dựng và phát triển loại hình du lịch sinh thái ở Bạc Liêu phải hướng tới: + Giáo dục. TP Bạc Liêu có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với các ngành chức năng của tỉnh. tôn tạo và phát huy giá trị các di tích lịch sử Cách mạng.Trước mắt . + Tạo thêm nguồn thu cho công tác bảo tồn từ hoạt động du lịch để có thể chủ động hơn trong việc thực hiện các biện pháp bảo tồn và phát triển các giá trị môi trường sinh thái ở đảo. tính đến tiềm năng đang được đánh thức này và tiềm lực của đất nước trong thiên niên kỷ Cần tổ chức các lễ hội văn hóa bên cạnh lễ hội lớn để du khách có cơ hội tìm hiểu rõ hơn về văn hóa truyền thống và đời sống của người dân.Tạo nên hình ảnh riêng về Côn Đảo không chỉ với vẻ đẹp tự nhiên mà còn là những huyền thoại. khu mộ. . Cần bảo tồn phục chế cẩn thận có khoa học các di tích lịch sử thể hiện lịch sử đầy hào hùng. tôn tạo sửa chữa các di tích . hàng rào . tính đến chiều hướng phát triển của đất nước trong vài thập kỷ. ngoài tỉnh đến tham quan. với Trang 100 . Để làm tốt công việc đó đòi hỏi cần có một tầm nhìn tư duy chiến lược. Tạo thêm nét hấp dẫn với du khách. qua đó du khách sẽ có sự tôn trong và những đóng góp cụ thể về vật chất cho những nỗ lực bảo tồn nơi đây. tiến hành trùng tu. xây dựng nơi đây trở thành điểm tham quan cho du khách. tiến hành trùng tu. Cụ thể là tập trung thực hiện hoàn thành dự án đầu tư trùng tu. tôn tạo khu di tích lưu niệm cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu gồm các hạng mục: khu trưng bày. -Với tiềm năng phát triền về du lịch văn hoá trên địa bàn. để sớm đưa vào phục vụ nhân dân. TP Bạc Liêu tiến hành trùng tu. thấy được sự phát triển bền vững. nhà làm việc. trở thành điểm tham quan du lịch. . hạn chế sự tác động của cộng đồng đến môi trường. cây xanh. nâng cao nhận thức du khách về các giá trị tự nhiên và nhân văn.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu là một công cụ hữu hiệu trong công tác bảo tồn tự nhiên. nâng cấp di tích lịch sử Cách mạng "chùa Vĩnh Đức".

Tôn tạo. khách sạn Công tử Bạc Liêu và di tích lịch sử văn hóa đồng hồ Thái Dương (đồng hồ đá) làm điểm tham quan cho du khách. hiện vật trưng bày giới thiệu quá trình đấu tranh Cách mạng của nhân dân thị xã Bạc Liêu. Đồng thời tổ chức sưu tầm các hiện vật có giá trị lịch sử. Hoa. khôi phục nâng cấp cụm nhà.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu nhiều hình ảnh. phi vật thể để giới thiệu. để giáo dục truyền thống và phục vụ cho công tác nghiên cứu của lịch sử". nghệ thuật. Trang 101 . các hiện vật khai quật được từ tháp cổ Vĩnh Hưng để phục vụ nhân dân và khách tham quan. công cụ lao động). văn hóa truyền thống của địa phương. các giá trị lịch sử văn hóa hình thành và phát triển của 3 dân tộc: Kinh. trưng bày các hiện vật truyền thống Cách mạng. xếp hạng các di tích. Khmer trên vùng đất Bạc Liêu (về sắc phục. nhà ở. kết hợp với công tác kiểm kê. các di sản văn hóa vật thể. gắn với sự kịên "giải phóng Bạc Liêu hai lần không đỗ máu".

các nhà đầu tư trong và ngoài nước với con số là không nhỏ.xã hội của đất nước. Vì vậy. tỉnh Bạc Liêu nói chung. Du lịch Bạc Liêu với tiềm năng lớn và được định hướng tốt sẽ phát triển nhanh. Điều đó không chỉ phụ thuộc vào sự quản lý các cấp. Bạc Liêu ngày nay đã thu hút được nhiều dự án lớn.Tài nguyên du lịch vật thể của tỉnh Bạc Liêu KẾT LUẬN Nói đến Bạc Liêu nhiều người thường nghĩ đó chỉ là tỉnh ở vùng Tây Nam Bộ với những giai thoại về công tử Bạc Liêu và những làn điệu đàn ca tài tử. Từ năm 2005 đến nay. được nhiều du khách trong và ngoài nước quan tâm và tìm đến. cần tận dụng và đánh thức mọi tiềm năng và nguồn lực bên trong và những nguồn lực bên ngoài để phát triển ngày càng mạnh hơn góp phần tăng trưởng và phát triển nền kinh tế nước nhà. góp phấn xứng đáng vào sự nghiệp phát triển kinh tế .Bạc Liêu là một viên ngọc mà trong nó chứa đựng bao nhiêu giá trị kinh tế đang ở dạng tiềm năng chưa được khai thác tốt để phục vụ con người. Nó sẽ là bánh lái vững chắc đưa con thuyền lớn Bạc Liêu ra khơi và hội nhập vào “Biển lớn”. với nguồn đầu tư mạnh từ chính phủ. bền vững. Trang 102 . sự cung chung tay hợp sức của cộng đồng. những suy nghĩ trên đã và đang phải thay đổi. Tuy nhiên để có thể trở thành một địa điểm du lịch thu hút. kỷ thuật hiện đại cũng như những sáng tạo trong việc thiết kế sản phẩm du lịch hơn nữa. “Đất lành chim đậu”. ban ngành địa phương nói riêng. Bạc Liêu cần phải “trở mình” vận động hơn nữa . Còn ngày nay. vì vậy đòi hỏi chính quyền địa phương cần tập trung và phát triển mạnh hệ thống cơ sở vật chất. Nhưng số lượng khách vân không tăng là bao nhiêu. các nhà đầu tư mà còn phụ thuộc vào chính sách phát triển và cái nhìn về du lịch Bạc Liêu. điển hình như khu di lịch Phật Bà Nam hải và sự quan tâm của cộng đồng cũng như các cấp quản lý.