Đôi điều về Thiền và Quán

Trương Trọng Hoàng Khi nói đến thiền người ta thường hay hình dung đến hình ảnh một người ngồi xếp bằng. Thực tế thiền không chỉ là ngồi yên tĩnh tâm mà nó là một trạng thái thể hiện trong nhiều hoạt động khác nhau hay nói đầy đủ hơn đó là trong toàn bộ đời sống của mình. Ngoài ra theo truyền thống Phật giáo thì bên cạnh “thiền” còn có “quán” tức là sự chú tâm theo dõi một cách khách quan không phê phán nữa. Trước hết ta nói về thiền. Thiền, xuất phát từ chữ “dhyāna” tiếng Sanskrit có nghĩa là tĩnh tâm, vừa để chỉ trạng thái tâm an tĩnh, vừa để chỉ phương cách hành động để đạt đến trạng thái đó. Theo kinh điển Phật giáo thì có 5 mức độ của tâm an tĩnh mà người thực tập có thể đạt dần từng bước bao gồm chánh niệm tĩnh giác, sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. Những mức độ này khác nhau về sự an tĩnh của tâm từ đó dẫn đến những mức độ tăng dần của sự sáng suốt và sự kiểm soát “tâm” (suy nghĩ) và “thân” (hành vi) của mình. Người tập thiền đạt được cấp độ thấp nhất cũng đã gặt hái được nhiều ích lợi chẳng hạn như làm chủ cảm xúc tốt hơn, làm việc ít sai sót hơn v.v… Thực ra cũng không phải đến Phật Thích ca mới có việc tập thiền mà đây là một cách thực hành đã có từ trước. Thực ra nó cũng là hoạt động hết sức tự nhiên, là sự nghỉ ngơi của não bộ trong trạng thái có ý thức khác với ngủ là sự nghỉ ngơi của não bộ trong trạng thái không có ý thức. Qua các thí nghiệm, các nhà sinh lý học cũng cho thấy có sự tương tự ít nhiều giữa trạng thái thiền và giấc ngủ sâu khi điện não cùng ghi nhận được những sóng chậm. Tuy nhiên người ta thấy rằng khi thiền, não hồi phục tốt hơn khi ngủ vì thực tế khi ngủ do ta không chủ động được ý thức nên não có những hoạt động vô thức (như mơ chẳng hạn) khiến não của ta không được nghỉ ngơi một cách trọn vẹn. Thông thường có nhiều cách để đạt được tình trạng tâm an tĩnh chẳng hạn như: đi dạo và nhìn ngắm cảnh tự nhiên, nghe nhạc không lời, êm dịu v.v… Tuy nhiên thiền cho ta một phương cách phổ quát hơn để đạt được sự tĩnh tâm mà không lệ thuộc quá nhiều vào ngoại cảnh. Nếu thực hành thiền đúng cách ta có thể giúp tinh thần nghỉ ngơi bất cứ lúc nào, không chỉ lúc ngồi mà cả lúc đứng, lúc đi, lúc làm việc dù rằng tư thế ngồi xếp bằng một cách vững chải là tư thế giúp ta tỉnh thức và tĩnh tâm tốt nhất. Nói thêm về lợi ích của tĩnh tâm. Bình thường khi phần thể chất của ta mệt mỏi thì ta chỉ cần nghỉ ngơi (ngơi tay, ngồi nghỉ, nằm nghỉ hoặc ngủ v.v…) vài phút hoặc thậm chí vài ngày thì ta sẽ khỏe lại (nếu không có bệnh). Tuy nhiên nếu tinh thần ta mệt mỏi thì việc nghỉ ngơi thể chất đơn thuần không làm tinh thần khỏe khoắn trở lại, đôi khi còn mệt hơn do khi hệ thần kinh mệt mỏi thì phần làm nhiệm vụ kiềm chế sẽ yếu trước khiến ta không thể kiềm được những ý nghĩ miên man do đó càng làm tinh thần mệt mỏi hơn. Nếu có cách nào đó làm tinh thần thật sự nghỉ ngơi, chẳng hạn vận động hoặc chơi một môn thể thao nào đó thu hút sự chú ý thì mới giải quyết được. Thiền là một cách thức giúp hệ thần kinh bớt suy nghĩ miên man để đạt được sự an tĩnh của tâm mà không lệ thuộc quá nhiều vào việc ta có điều kiện vận động hay không. Như vậy để thiền được phải làm cách nào? Đi vào chi tiết cách thức tọa thiền hoặc thiền hành, hoặc thiền trong võ đạo thì cần có hướng dẫn, tuy nhiên nguyên tắc chung quan trọng nhất của thiền đó là để tâm hướng đến một đối tượng nào đó chẳng hạn theo dõi hơi thở, chú ý đến một hình tròn để trước mắt, hoặc tưởng tượng một cảnh trí an lành nào đó. Thực tế nếu ta đang không lo nghĩ, không buồn bực hoặc có nhiều kinh nghiệm trong việc thiền tập thì việc tập trung chú ý không phải là điều khó khăn, tuy nhiên nếu ngược lại thì là điều hoàn toàn không dễ dàng. Dù vậy ta cũng không nên quá lo lắng, khi nào đầu óc suy nghĩ chệch ra khỏi điểm tập trung và ta nhận biết được thì quay trở lại ngay điểm tập trung. Tùy mỗi người, mỗi lúc mà thời gian đạt được trạng thái tâm an tĩnh có thể dài ngắn khác nhau ban đầu có thể dài đến 15 phút hoặc hơn, sau ngắn dần còn 10 phút, 5 phút hoặc khi đã

khi hít thở v. Cần lưu ý đó là có rất nhiều phương pháp thiền và quán phù hợp với từng người và sự hướng dẫn tốt phải dựa trên nền tảng của từng người chứ không thể rập khuôn.những gút mắc mà ta gặp trong chính đời sống của mình. Hơn nữa nếu ta suy nghĩ thì câu trả lời là từ những lý thuyết nhân tạo chứ không phải từ tự nhiên. 22 Giêng 2009 (30 Tết). Ngoài ra theo truyền thống Phật giáo. thiền và quán. theo Phật Thích Ca thì có 4 đối tượng để quán mà Người gọi là Tứ niệm xứ bao gồm: Thân (những cảm giác từ cơ thể. Thọ (những cảm xúc hiện diện trong tâm).v…). Lưu ý cần phải hỏi (tham vấn) người đã có kinh nghiệm để chứng ngộ cho những kết quả ta đạt được vì nếu không ta có thể lầm tưởng rằng mình đã giác ngộ trong khi thực tế là không. Pháp (những chủ đề có tính chất triết lý) trong đó Phật Thích ca nói đến 3 pháp quan trọng nhất (Tam Pháp Ấn) bao gồm Vô thường. có người thì ngắn nhưng cũng có người rất dài. sẽ giúp cho ta thấu hiểu được những vấn đề trong cuộc sống nhờ đó mà có được những hành xử mang đến an lạc cho mình và cho đời. dễ bị thiên lệch. lâu mau tùy từng người. Vô ngã và Bất như Ý (mà có người gọi là Khổ). con suối. Tóm lại. Có người thì chỉ cần “nhổ cỏ ven bờ nhẹ nhàng” nhưng cũng có người thì phải “đập. Giác ngộ là sự thấy biết một cách trực tiếp bằng trực giác chứ không phải do có kiến thức. Thực tế quán cũng không tách khỏi thiền vì cần có thiền để tâm an tĩnh làm nền tảng cho quán/chú tâm được dễ dàng. Điều này đòi hỏi cần phải luôn tĩnh tâm không phải chỉ trong lúc ngồi thiền mà trong tất cả những giây phút tỉnh thức. Tâm (những ý nghĩ hiện diện trong tâm). Chẳng hạn. sôi nước mắt” mới vượt qua được chướng ngại. Người tu thiền theo Phật cần đi từng bước và cần có sự hướng dẫn của người có kinh nghiệm để bảo đảm đi đúng đường. dọn một tảng đá to” mới tạo luồng thông được. khi còn sống là còn thực hành.quen ta có thể đạt được sự tĩnh tâm chỉ sau vài… giây ngay cả khi có điều bực mình. Để thực hành quán cũng có nhiều cách chẳng hạn người ta có thể dùng những “công án” tức là những vấn đề gút mắc phổ quát mà ta không thể lý giải bằng suy nghĩ diễn dịch thông thường ví dụ như công án “Âm thanh của một bàn tay là gì?” hoặc gần gũi hơn đó là ta có thể quán chính những vấn đề . Thiền và quán là những hoạt động giống như ta khơi thông dòng cho một con sông. không phải chỉ giác ngộ là đủ mà người tu tập theo đạo Phật còn phải sống trong tuệ giác (trí tuệ của sự giác ngộ) nữa. Do đó thực hành thiền là chuyện cả đời. Lưu ý khi quán dù vấn đề bức xúc đến mấy ta cũng không được suy nghĩ vì có suy nghĩ tức là tâm không tĩnh mà tâm không tĩnh thì không thể có sự sáng suốt để thấu hiểu vấn đề một cách trực tiếp (nhận thức vấn đề bằng “trực giác”). dù phương pháp thực hành có thể khác nhau và công phu nặng nhẹ. có nhiều đối tượng mang tính tổng quát hơn để quán trên con đường đi tới sự giác ngộ. Lý do không được suy nghĩ còn vì suy nghĩ thì phải dựa trên khái niệm mà khái niệm là những đối tượng rời rạc chỉ mô phỏng thực tế chứ không phải là thực tế. chỉnh lý ngày 26 Tám 2013 . Công phu thiền vì vậy đôi lúc cũng phải “đồ mồ hôi. Điều này đòi hỏi thời gian. khó chịu! Bây giờ xin nói về “quán” tức chú tâm về một vấn đề nào đó nhưng không suy nghĩ về nó. cứng nhắc. Thêm vào đó.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful