NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

A. LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói, từ khi gia nhập vào ASEAN và AFTA, Việt Nam ngày càng có nhiều cơ hội hơn để bước vào những sân chơi quốc tế mang tinh tầm cỡ, điển hình là WTO. Gia nhập ASEAN - AFTA, bên cạnh những thuận lợi, Việt Nam còn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng của một quốc gia đang phát triển. Tìm hiểu về ASEAN và AFTA, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn nữa về quá trình hội nhập của Việt Nam vào hai tổ chức này.

B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I: ASEAN Giới thiệu chung về ASEAN
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. ASEAN có diện tích hơn 4.5 triệu km 2 với dân số tới nay là hơn 570 triệu người bao gồm 10 quốc gia: Indonesia, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Singapore, Brunei, Việt Nam, Lào, Myanmar, Campuchia. Các nước ASEAN có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và hiện nay đang đứng hàng đầu thế giới về cung cấp một số nguyên liệu cơ bản như: cao su (90% sản lượng cao su thế giới), thiếc và dầu thực vật (90%), gỗ xẻ (60%), gỗ súc (50%), cũng như gạo, đường dầu thô, dứa... Công nghiệp của ASEAN cũng đang trên đà phát triển, đặc biệt trong các lĩnh vực: dệt, hàng điện tử, hàng dầu, các loại hàng tiêu dùng. Những sản phẩm này được xuất khẩu với khối lượng lớn và đang thâm nhập một cách nhanh chóng vào các thị trường thế giới. Với GDP tổng cộng khoảng hơn 1000 tỷ USD và tổng kim ngạch xuất khẩu hàng năm khoảng 350 tỷ USD, ASEAN đến nay vẫn là điểm sáng của kinh tế thế giới và được coi là tổ chức khu vực thành công nhất của các nước đang phát triển. I. Vài nét về sự ra đời của ASEAN . ASEAN ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh nóng ở Đông Dương và chiến tranh lạnh trên thế giới. Để đối phó với các thách thức này, xu hướng co cụm lại trong một tổ chức khu vực với một hình thức nào đó để tăng cường sức mạnh bản thân đã xuất hiện và phát triển trong các nước thành viên tương lai của ASEAN. Trước ASEAN, ở Đông Nam Á đã có một vài tổ chức khu vực ra đời và tồn tại được một thời gian ngắn hoặc đã manh nha hình thành như: Hiệp hội Đông Nam Á (ASA) ra đời 1961 gồm
Tìm hiểu về ASEAN - AFTA Trang 1

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

Thái Lan, Philippines và Malaysia; tổ chức MAPHILINDO ra đời 1963 gồm Malaysia, Philippines và Inđônêxia. Ngày 8-8-1967, ASEAN chính thức được thành lập tại Bangkok, Thái Lan (bởi tuyên bố Bangkok), đánh dấu một mốc quan trọng trong tiến trình phát triển của khu vực. Năm quốc gia thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines. Hiện nay, tổ chức này gồm 10 quốc gia thành viên được liệt kê theo ngày gia nhập: Các quốc gia sáng lập (8-8-1967): ∗Cộng hoà Indonesia ∗Liên bang Malaysia ∗Cộng hoà Philippines ∗Cộng hoà Singapore ∗Vương quốc Thái Lan Các quốc gia gia nhập sau: ∗Vương quốc Brunei: 8-1-1984 ∗CHXHCN Việt Nam: 28-7-1995 ∗CHDCND Lào: 23-7-1997 ∗Liên bang Myanma: 23-7-1997 ∗Vương quốc Campuchia: 30-4-1999 Hai quan sát viên và ứng cử viên: ∗Papua Tân Guinea: quan sát viên của ASEAN. ∗Đông Timo: ứng cử viên của ASEAN. Trụ sở ASEAN đặt tại Jakata – Indonesia. II. Mục tiêu của tổ chức - Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực trên tinh thần bình đẳng hợp tác, nhằm hướng đến một Đông Nam Á hoà bình thịnh vượng.

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 2

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

- Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc pháp luật trong quan hệ giữa các nước trong vùng và tuân thủ các nguyên tắc của hiến chương Liên Hợp Quốc. - Thúc đẩy sự cộng tác tích cực, giúp đỡ lẫn nhau trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, khoa học – kỹ thuật và hành chính bằng nhiều hình thức như đào tạo, cung cấp phương tiện nghiên cứu, trang thiết bị… - Mở rộng mậu dịch kể cả việc nghiên cứu các vấn đề về buôn bán hàng hoá giữa các nước, cải thiện các phương tiện giao thông, liên lạc và nâng cao mức sống của nhân dân. - Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á, duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực khác, nhất là các tổ chức và khu vực có tôn chỉ và mục đích tương tự như ASEAN. III Nguyên tắc hoạt động

 Nguyên tắc về quan hệ song phương và đa phương: Tôn trọng chủ quyền và
không can thiệp vào nội bộ của nhau, tiến tới tuân thủ các quy định chung trong “ Hiến chương ASEAN”. Hiến chương này được xem là Hiến pháp của toàn khối.

 Trong quan hệ với nhau: các thành viên của khối đều tuân theo 6 nguyên tắc
chính được nêu lên trong Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á (Hiệp ước Ba-li), kí tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ I tại Ba-li năm 1976:  Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các nước;  Quyền của các quốc gia được lãnh đạo hoạt động của đất nước mình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài;  Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;  Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình, thân thiện;  Không đe doạ hoặc sử dụng vũ lực;  Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả.

 Nguyên tắc điều phối hoạt động trong Hiệp hội:
 Nguyên tắc nhất trí: một quyết định được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua.

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 3

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

 Nguyện tắc bình đẳng: bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp cũng như chia sẻ quyền lợi. Mặt khác, ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên: chủ tọa và địa điểm các cuộc họp được chia đều cho các nước thành viên  Nguyên tắc 6-X: hai hay một số thành viên ASEAN có thể xúc tiến thực hiện trước các dự án ASEAN nếu các nước còn lại chưa sẵn sàng tham gia, không cần đợi tất cả cùng thực hiện. IV. Cơ cấu tổ chức Bộ máy hoạt động của ASEAN được qui định như sau: 1. Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN (ASEAN Summit). 2. Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (ASEAN Ministerial Meeting - AMM). 3. Hội nghị Bộ trưởng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Ministers - AEM). 4. Hội nghị Bộ trưởng các ngành. 5. Các hội nghị Bộ trưởng khác. 6. Hội nghị liên Bộ trưởng. 7. Tổng thư ký ASEAN. 8. Uỷ ban thường trực ASEAN (ASEAN Standing Committee - ASC). 9. Cuộc họp các quan chức cao cấp (Senior Officials Meeting - SOM). 10. Cuộc họp các quan chức kinh tế cao cấp (Senior Economic Officials Meeting SEOM). 11. Cuộc họp các quan chức cao cấp khác. 12. Cuộc họp tư vấn chung (Joint Consultative Meeting - JCM). 13. Các cuộc họp của ASEAN với các bên đối thoại. V. Hiến chương ASEAN Đây là một dạng hiến pháp dùng cho Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Và lần đầu tiên sau 40 năm kể từ ngày thành lập, Hiến chương ASEAN đã được các nhà lãnh đạo 10 nước ASEAN kí kết ngày 20-11-2007 tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 13 diễn ra tại Singapore. Bản Hiến chương này đặt nền móng về pháp lý cho quá trình vận hành của hiệp hội. Và việc ký kết bản Hiến chương được coi là bước tiến lớn tới việc thể chế hóa cuộc "hội nhập sâu" của khối khi đưa ra những cơ sở pháp lý về trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi thành viên, định hướng quan hệ với các đối tác bên ngoài…

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 4

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

Hiến chương ASEAN với 13 chương 55 điều nhằm vào 3 trụ cột chính là kinh tế, an ninh - chính trị và văn hóa - xã hội sẽ là khung thể chế để các nước trong ASEAN hợp tác hiệu quả cho mục đích hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung không chỉ của khối ASEAN, mà cả khu vực châu Á - Thái Bình Dương và cộng đồng quốc tế. Nội dung tóm lược của Hiến chương:  Duy trì khu vực ASEAN không có vũ khí hạt nhân.  Tạo ra thị trường chung, thống nhất có khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo hàng hóa, dịch vụ và đầu tư tự do lưu thông.  Tăng cường dân chủ, thiết lập cơ quan giám sát về nhân quyền.  Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ các nước thành viên.  Không can thiệp vào công việc nội bộ.  Tăng cường phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, tài nguyên và các di sản văn hóa.  Phát triển nguồn nhân lực qua hợp tác giáo dục… Hiến chương ASEAN cũng phê chuẩn lá cờ của ASEAN gồm bốn màu: xanh da trời, đỏ, trắng, vàng, thể hiện bốn màu chủ đạo trên quốc kỳ của các nước thành viên ASEAN. Trong đó, màu xanh da trời biểu hiện cho hoà bình và ổn định. Màu đỏ thể hiện dũng khí và sự năng động. Màu trắng là sự thuần khiết và màu vàng là biểu trưng cho sự thịnh vượng. Bó lúa in trên lá cờ tượng trưng cho ước mơ của các thành viên sáng lập ASEAN về một ASEAN gắn bó bằng tình hữu nghị và đoàn kết… Hiến chương ASEAN chính thức có hiệu lực ngày 15/12/2008, 30 ngày sau khi 10 nước thành viên nộp lưu chiểu Văn kiện phê chuẩn lên Tổng thư kí, ông Surin Pitsuwan. VI. Việt Nam – ASEAN 6.1. Gia nhập Quá trình hội nhập khu vực của Việt Nam đã khởi động từ năm 1992 khi Việt Nam tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) và trở thành quan sát viên của ASEAN. Khi mọi việc hoàn tất, ngày 17-10-1994, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã gửi thư cho Ngoại trưởng Brunei, nước Chủ tịch đương nhiệm Ủy ban thường trực ASEAN (ASC) chính thức đặt vấn đề Việt Nam gia nhập ASEAN. Vượt qua mọi khó khăn trở ngại với sự giúp đỡ của nhiều nước, ngày 28-71995 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN. Quốc kỳ Việt Nam đã
Tìm hiểu về ASEAN - AFTA Trang 5

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

được kéo lên tại Trung tâm hội nghị Quốc tế tại thủ đô Bandar Seri Begawan, Brunei, đánh dấu việc Việt Nam đã trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN và mở đầu cho quá trình thống nhất, quy tụ cả 10 quốc gia trong khu vực Đông Nam Á vào tổ chức này. 6.2. Những thuận lợi của Việt Nam khi gia nhập ASEAN - Tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác với các quốc gia thành viên, thúc đẩy xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác ở khu vực, duy trì môi trường quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc - Thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư, tạo điều kiện cho nền kinh tế Việt Nam hội nhập, phát triển thuận lợi, nâng cao khả năng cạnh tranh, góp phần hỗ trợ thúc đẩy quá trình cải cách và công cuộc đổi mới. - Thông qua hợp tác ASEAN thúc đẩy thêm quan hệ song phương và đa phương của Việt Nam với các đối tác trong và ngoài khu vực, nhất là các bên đối thoại của ASEAN, góp phần cải thiện và nâng cao vị thế của Việt Nam trong quan hệ quốc tế, mở rộng quan hệ với các nước lớn. - Tham gia ASEAN cũng là bước chuẩn bị, tích luỹ kinh nghiệm và tranh thủ sự ủng hộ tích cực nhằm tạo thuận lợi cho Việt Nam tham gia hội nhập khu vực và quốc tế sâu rộng hơn và tham gia hiệu quả các thể chế hợp tác như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn Á - Âu (ASEM), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). 6.3. Những khó khăn của Việt Nam khi gia nhập ASEAN - Việt Nam phải tuân theo một luật chơi mới mà ở đó có nơi, có chỗ chưa hoàn toàn phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của ta. - Việt Nam phải đảm bảo thực hiện tốt các cam kết hội nhập kinh tế khu vực trong bối cảnh có sự khác biệt về cơ cấu kinh tế cũng như cách biệt về trình độ phát triển so với các nước trong ASEAN. - Đòi hỏi Việt Nam phải hết sức nỗ lực để đạt được sự phát triển đồng đều giữa các nước, nếu không sẽ rất dễ bị tụt hậu về kinh tế và bị hoà tan về chính trị. 6.4. Giải pháp

 Để tận dụng những thuận lợi:
Linh hoạt, mềm dẻo, đảm bảo các vấn đề mang tính nguyên tắc, làm sao duy trì được sự đoàn kết, không gây trở ngại cho sự đồng thuận trong ASEAN. Cụ thể Việt
Tìm hiểu về ASEAN - AFTA Trang 6

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

Nam cần nắm vững các nguyên tắc của ASEAN như tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, hợp tác, nhất trí,… để từ đó có phương hướng, cách thức cùng giải quyết những vấn đề của ASEAN một cách tốt nhất, đồng thời giúp Việt Nam hòa nhập được với tất cả các nước thành viên của ASEAN. Gia nhập ASEAN là một cơ hội lớn để Việt Nam thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại cũng như đầu tư. Để tận dụng tốt cơ hội này, điều cần thiết nhất là Việt Nam cần phải cải thiện môi trường đầu tư của mình tốt hơn. Cụ thề là cải cách các thủ tục hành chính, nâng cao năng lực, hiệu lực của các cơ quan công quyền… nhằm tạo ra một môi trường đầu tư thoải mái, thông thoáng cho các nhà đầu tư nước ngoài khi muốn đầu tư vào Việt Nam. Gia tăng tiềm lực tài chính bằng cách chủ động kêu gọi đầu tư vào các lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế như chế biến nông - lâm - thủy sản, may mặc, giày dép, đồ gỗ, thủ công mĩ nghệ… Việt Nam cần chủ động tạo mối quan hệ với các đối tác của mình bằng việc tổ chức nhiều chuyến công du của lãnh đạo Việt Nam sang các nước bạn, đặc biệt là các nước thành viên ASEAN. Như thế, vừa tạo mối quan hệ song phương, đa phương tốt đẹp, vừa tranh thủ sự ủng hộ của họ khi Việt Nam có cơ hội tham gia vào các tổ chức khác trên thế giới. Không ngừng học hỏi, tích lũy kinh nghiêm từ các nước thành viên trong mọi lĩnh vực, tạo tiền đề cho Việt Nam mở rộng quan hệ quốc tế ngoài khối thuận lợi hơn.

 Để đối phó những thách thức:
Rút ngắn khoảng cách giữa Việt Nam và các nước về mọi mặt, đặt biệt là về kinh tế, khoa học kĩ thuật bằng cách tiếp nhận công nghệ hiện đại, kĩ thuật tiên tiến từ các nước có chọn lọc, đồng thời đầu tư, nghiên cứu thêm để đảm bảo sự phát triển của đất nước. Gia nhập ASEAN, Việt Nam luôn phải kiên định, giữ vững lập trường của mình đặc biệt là về chính trị. Bên cạnh đó, việc đẩy mạnh phổ biến các giá trị văn hoá tốt đẹp của Việt Nam cả truyền thống lẫn hiện đại đến bạn bè thế giới cũng rất cần thiết. Cụ thể, chúng ta có thể thông qua việc tổ chức các cuộc thi sắc đẹp, các buổi giao lưu văn hóa nghệ thuật (điển hình như các cuộc thi hoa hậu, cuộc thi bắn pháo hoa nghệ thuật…) để mọi người biết đến Việt Nam nhiều hơn. Điều này đòi hỏi ngành

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 7

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

dịch vụ vụ du lịch phải nỗ lực hết mình. Song song đó, Việt Nam cũng cần phải tôn trọng và học hỏi những nét văn hoá khác của các nước trong và ngoài khu vực…

6.5. Những đóng góp của Việt Nam trong ASEAN Từ khi trở thành thành viên chính thức của ASEAN tháng 7-1995, Việt Nam đã tham gia tích cực, chủ động và có nhiều đóng góp quan trọng trên tất cả các lĩnh vực hợp tác của ASEAN. - Góp phần tích cực thúc đẩy các nước Lào, Mianma và Campuchia tham gia vào ASEAN, hình thành một khối ASEAN thống nhất, quy tụ tất cả 10 quốc gia ở Đông Nam Á. - Hội nghi cấp cao ASEAN lần thứ VI tổ chức tại Hà Nội (12/1998) là một thành công lớn. Dưới tiêu đề “Xây dựng ASEAN thành cộng đồng các quốc gia phát triển bền vững, đồng đều và hợp tác”, Hội nghị đã thông qua Chương trình hành động Hà Nội, được coi là văn kiện nền tảng, xác định những trọng tâm hoạt động của ASEAN trong thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, thể hiện một cách cụ thể những ý tưởng của văn kiện Tầm nhìn 2020. - Cộng đồng ASEAN được xây dựng trên ba trụ cột chính: Cộng đồng văn hóa - xã hội, Cộng đồng chính trị - an ninh và Cộng đồng kinh tế + Cộng đồng chính trị - an ninh: trên tinh thần đặt lợi ích khu vực ở vai trò quan trọng, không cao hơn lợi ích quốc gia nhưng ở tầm cao nhất định, Việt Nam tích cực cùng các nước bàn bạc và tìm kiếm các hình thái, bước đi phù hợp xây dựng cộng đồng này. + Cộng đồng kinh tế: Việt Nam đã tham gia tích cực và thực hiện đầy đủ các cam kết về liên kết kinh tế khu vực trên nhiều lĩnh vực, kể cả trong ASEAN và giữa ASEAN với các đối tác bên ngoài, góp phần làm cho ASEAN dần trở thành một thực thể kinh tế thống nhất, ngày càng trở nên hấp dẫn hơn đối với đầu tư và kinh doanh nước ngoài. Đặc biệt, Việt Nam đã tích cực thúc đấy hợp tác ASEAN về thu hẹp khoảng cách phát triển, thông qua thực hiện Sáng kiến Liên kết ASEAN (IAI), Chương trình hợp tác Mê Công và Hành lang Đông - Tây.

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 8

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

+ Cộng đồng văn hóa - xã hội: Việt Nam đã đề xuất xây dựng Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN, nhằm mục tiêu đưa ASEAN trở thành một “cộng đồng các xã hội đùm bọc và chia sẻ lẫn nhau”. - Quan hệ đối ngoại: Việt Nam đã góp phần tích cực thúc đẩy quan hệ đối ngoại của ASEAN, nhất là sự hợp tác với các bên đối thoại, trong đó Việt Nam đã hoàn thành tốt nhiệm vụ điều phối viên trong quan hệ đối thoại với một số nước Nga, Mỹ, Austraylia và Canađa. Việt Nam cũng có những đóng góp tích cực trong việc định hướng phát triển của nhiều tiến trình hợp tác khu vực do ASEAN khởi xướng và giữ vai trò chủ đạo như ASEAN+3, Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), góp phần thúc đẩy xu thế đối thoại và hợp tác vì phát triển ở châu Á - Thái Bình Dương. - Gần đây nhất, Việt Nam đã cùng các nước trong khu vực ASEAN phê chuẩn Hiến chương ASEAN, góp phần phát triển ASEAN ngày càng lớn mạnh…

CHƯƠNG II: AFTA Giới thiệu chung về AFTA
Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area viết tắt là AFTA) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN. Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0 - 5%, loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước. Sáng kiến về AFTA vốn là của Thái Lan. Sau đó hiệp định về AFTA được ký kết vào năm 1992 tại Singapore. Ban đầu chỉ có sáu nước là Brunei, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore và Thái Lan (gọi chung là ASEAN-6). Các nước Campuchia, Lào, Myanma và Việt Nam (gọi chung là CLMV) được yêu cầu tham gia AFTA khi được kết nạp vào khối này. I. Vài nét về sự ra đời của AFTA: Vào đầu những năm 90, khi chiến tranh lạnh kết thúc, những thay đổi trong môi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN đứng trước những thách thức lớn không dễ vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ hơn và những nỗ lực chung của toàn Hiệp hội, những thách thức đó là : Quá trình toàn cầu hoá kinh tế thế giới diễn ra nhanh chóng và mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEAN ngày

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 9

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũng như quốc tế. Sự hình thành và phát triển các tổ chức hợp tác khu vực mới đặc biệt như EU, NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoá ASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này. Những thay đổi về chính sách như mở cửa, khuyến khích và dành ưu đãi rộng rãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam, Nga và các nước Đông Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn ASEAN, đòi hỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng cao hơn nữa tầm hợp tác khu vực. Để đối phó với những thách thức trên, năm 1992, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập một “Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN” (gọi tắt là AFTA). Đây thực sự là bước ngoặt trong hợp tác kinh tế ASEAN ở một tầm mức mới. II. Mục tiêu của AFTA: AFTA được thành lập nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế sau: - Tự do hoá thương mại trong khu vực bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan trong nội bộ khu vực và cuối cùng là các rào cản phi quan thuế. Điều này sẽ khiến cho các Doanh nghiệp sản xuất của ASEAN càng phải có hiệu quả và có khả năng cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới. Đồng thời, người tiêu dùng sẽ mua được những hàng hoá từ những nhà sản suất có hiệu quả và chất lượng trong ASEAN, dẫn đến sự tăng lên trong thương mại nội khối. - Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc tạo ra một khối thị trường thống nhất, rộng lớn hơn. - Làm cho ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt là với sự phát triển của các thỏa thuận thương mại khu vực cũng như trên thế giới. III. Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT - AFTA) 3.1. Các Quy định chung của Hiệp định CEPT: Để thực hiện thành công “Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN”, các nước ASEAN cũng trong năm 1992, đã ký Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (Common Effective Preferential Tariff), gọi tắt là CEPT.
Tìm hiểu về ASEAN - AFTA Trang 10

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

CEPT là một thoả thuận chung giữa các nước thành viên ASEAN về giảm thuế quan trong nội bộ ASEAN xuống còn từ 0 - 5%, đồng thời loại bỏ tất cả các hạn chế về định lượng và các hàng rào phi quan thuế trong vòng 10 năm, bắt đầu từ 1-1-1993 và hoàn thành vào 1-1-2003. (Đây là thời hạn đã có sự đẩy nhanh hơn so với thời hạn ký Hiệp định ban đầu: từ 15 năm xuống còn 10 năm). Nói đến vấn đề xây dựng “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN” là nói tới việc thực hiện Hiệp định chung về thuế quan và phải hoàn thành 3 vấn đề chủ yếu, không tách rời dưới đây: - Thứ nhất là vấn đề giảm thuế quan: mục tiêu cuối cùng của AFTA là giảm thuế quan xuống 0 - 5%, theo từng thời điểm đối với các nước cũ và các nước mới, nhưng thời hạn tối đa là trong vòng 10 năm. - Thứ hai là vấn đề loại bỏ hàng rào phi thuế quan (NTBs): hạn ngạch, cấp giấy phép, kiểm soát hành chính, các hàng rào kỹ thuật như kiểm dịch, vệ sinh dịch tễ…., tiêu chuẩn về lao động, môi trường, chống bàn phá giá… - Thứ ba là hài hoà các thủ tục Hải quan. 3.2. Cơ chế trao đổi nhượng bộ của CEPT: Muốn được hưởng nhượng bộ về thuế quan khi xuất khẩu hàng hoá trong khối, một sản phẩm cần có các điều kiện sau: - Sản phẩm đó phải nằm trong Danh mục cắt giảm thuế (IL) của cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu và phải có mức thuế quan (nhập khẩu) bằng hoặc thấp hơn 20%. - Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua. - Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN, tức là phải thoả mãn yêu cầu hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN (hàm lượng nội địa) ít nhất là 40%. Nếu một sản phẩm có đủ ba điều kiện trên thì sẽ được hưởng mọi ưu đãi mà quốc gia nhập khẩu đưa ra (sản phẩm được ưu đãi hoàn toàn). 3.3. Các bước thực hiện CEPT:  Bước 1: Các nước thành viên lập 4 loại Danh mục sản phẩm hàng hoá trong biểu thuế quan của mình để xác định các sản phẩm hàng hoá thuộc đối tượng thực hiện CEPT cụ thể:

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 11

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

Danh mục các sản phẩm giảm thuế ngay (IL): gồm những mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế để đến khi hoàn thành CEPT sẽ có thuế suất 0 – 5%. Ngay sau khi kí CEPT, mỗi nước thành viên phải đưa ra IL của mình để bắt đầu giảm thuế quan. Danh mục các sản phẩm loại trừ tạm thời (TEL): gồm những mặt hàng chưa đưa vào giảm thuế ngay. Và sau 3 năm kể từ khi tham gia CEPT, các nước thành viên phải chuyển dần các mặt hàng từ TEL sang IL. Quá trình chuyển TEL sang IL được phép kéo dài trong 5 năm, mỗi năm phải chuyển được 20% số mặt hàng. Danh mục các sản phẩm loại trừ hoàn toàn (GEL): gồm những mặt hàng không có nghĩa vụ giảm thuế theo hiệp định CEPT. Các sản phẩm trong danh mục này phải là những sản phẩm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, cuộc sống, sức khoẻ con người, động thực vật, đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá nghệ thuật, di tích lịch sử, khảo cổ... GEL không là danh mục các mặt hàng cấm nhập khẩu. Các mặt hàng trong GEL vận được nhập khẩu nhưng không được hưởng thuế suất ưu đãi. Danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL): là những sản phẩm được thực hiện theo một lịch trình giảm thuế có thời hạn riêng, cụ thể thời hạn bắt đầu cắt giảm là từ 1-1-2001 và kết thúc 1-1-2010, mức thuế giảm xuống 0-5%. Các nước thành viên sẽ kí một Nghị định thư để xác định việc thực hiện cắt giảm thuế cho các sản phẩm này.  Bước 2 Xây dựng lộ trình tổng thể cắt giảm thuế 10 năm (thời gian thực hiện Hiệp định). Điều này có nghĩa là các nước thành viên phải xây dựng lộ trình tổng thể cho việc cắt giảm thuế đối với 2 Danh mục sản phẩm cắt giảm thuế ngay (IL) và Danh mục sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế (TEL). Nguyên tắc:

∗ Danh mục IL:
Các sản phẩm nằm trong danh mục này được cắt giảm thuế quan ngay tại thời điểm bắt đầu thực hiện cho đến thời hạn kết thúc, tiến trình cắt giảm như sau : + Các sản phẩm có thuế suất trên 20% (> 20%) sẽ được giảm xuống 20% trong vòng 5 năm đầu và tiếp tục giảm xuống còn 0-5% trong 5 năm còn lại. Cụ thể: các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống 20% vào 1-1-1998, và tiếp tục giảm xuống còn 0-5% vào 1-1-2003. + Các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% ( ⊆ 20%) sẽ được giảm xuống còn 0-5% trong vòng 7 năm đầu. Cụ thể: các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống còn 0-5% vào 1-1-2000.
Tìm hiểu về ASEAN - AFTA Trang 12

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

Các nước có quyền quyết định mức cắt giảm nhưng tối thiểu mỗi năm là 5 %.

∗ Danh mục TEL:
Để tạo thuận lợi cho các nước thành viên có một thời gian chuẩn bị và chuyển hướng đối với một số sản phẩm tương đối trọng yếu, Hiệp định CEPT cho phép các nước thành viên ASEAN đưa ra một số sản phẩm tạm thời chưa thực hiện tiến trình cắt giảm thuế quan ngay theo CEPT. Tuy nhiên, Danh mục TEL chỉ mang tính chất tạm thời, các sản phẩm trong Danh mục TEL sẽ được chuyển toàn bộ sang Danh mục IL ngay trong vòng 5 năm, kể từ năm thứ 4 thực hiện Hiệp định, tức là từ 1-1-1996 đến 11-2000, mỗi năm chuyển 20% số sản phẩm trong Danh mục TEL vào Danh mục IL. Lịch trình cắt giảm thuế của các sản phẩm chuyển từ Danh mục TEL sang Danh mục IL này như sau: + Các sản phẩm có thuế suất trên 20%, phải giảm dần thuế suất xuống bằng 20% vào thời điểm năm 1998, trường hợp các sản phẩm được chuyển vào đúng hoặc sau thời điểm năm 1998 thì thuế suất lập tức phải bằng hoặc thấp hơn 20%, và tiếp tục giảm xuống còn 0-5% vào 1-1-2003. + Các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% ( ⊆ 20%) sẽ được giảm xuống còn 0-5% vào 1-1-2003.. Ngoài các quy định được nêu trên, trong quá trình xây dựng và thực hiện, các nước không được có sự thụt lùi về tiến độ cũng như không được phép chuyển các mặt hàng từ Danh mục IL và TEL sang bất kỳ Danh mục nào mà chỉ có sự chuyển từ Danh mục TEL sang Danh mục IL nói trên, hoặc chuyển từ Danh mục SL, GEL sang Danh mục TEL hoặc IL. Nếu vi phạm thì nước thành viên phải đàm phán lại với các nước khác và phải có nhân nhượng bồi thường.  Bước 3: Ban hành văn bản pháp lý xác định hiệu lực thực hiện việc cắt giảm thuế hàng năm. Trên cơ sở Lịch trình cắt giảm tổng thể thuế nêu trên, hàng năm các nước thành viên phải ban hành văn bản pháp lý để công bố hiệu lực thi hành thuế suất CEPT của năm đó. Văn bản này phải được gửi cho Ban Thư ký ASEAN để thông báo cho các nước thành viên.

 Vấn đề loại bỏ các rào cản phi thuế quan: Để thiết lập được khu vực mậu dịch tự
do, việc cắt giảm thuế quan cần phải được tiến hành đồng thời với việc loại bỏ các hàng rào phi thuế quan. Các hàng rào phi thuế quan bao gồm các hạn chế về số lượng

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 13

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

(như hạn ngạch, giấy phép,...) và các hàng rào phi thuế quan khác (như các khoản phụ thu, các quy định về tiêu chuẩn chất lượng,...). CEPT qui định về vấn đề này như sau: Các nước thành viên sẽ xóa bỏ các hạn chế về số lượng đối với các sản phẩm trong CEPT, cụ thể là những mặt hàng đã được đưa vào Danh mục cắt giảm ngay IL sẽ phải bỏ các hạn chế về số lượng. Các hàng rào phi thuế quan khác sẽ được xóa bỏ dần dần trong vòng 5 năm sau khi sản phẩm được hưởng ưu đãi. Bên cạnh đó, việc thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, công khai chính sách và thừa nhận các chứng nhận chất lượng của nhau cũng cần phải được thực hiện nhanh chóng. 3.4. Việt Nam thực hiện CEPT - Việt Nam bắt đầu thực hiện Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung CEPT từ 1-1-1996 và thời hạn hoàn thành của Việt Nam là 1-1-2006, chậm hơn các nước thành viên gia nhập trước là 3 năm. - Chương trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam được xây dựng dựa trên những nguyên tắc chính sau: Không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách. Bảo hộ hợp lí cho nền sản xuất trong nước. Tạo điều kiện khuyến khích việc chuyển giao kĩ thuật, đổi mới công nghệ cho nền sản xuất trong nước. Hợp tác với các nước ASEAN trên cơ sở các quy định của Hiệp định CEPT để tranh thủ ưu đãi, mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài. 3.5. Tiến trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam theo CEPT:  Năm 1996 Việt Nam đã đệ trình lên ASEAN danh mục các mặt hàng thực hiện giảm thuế theo CEPT gồm: danh mục giảm thuế ngay (IL), danh mục loại trừ tạm thời (TEL), danh mục hàng nông sản chưa chế biến nhạy cảm (SL), danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL). Các mặt hàng thuộc danh mục IL chiếm khoảng 51.6% trong biểu thuế nhập khẩu, chủ yếu bao gồm những mặt hàng có thuế suất dưới 20% và một số mặt hàng tuy có thuế suất cao nhưng Việt Nam lại đang có thế mạnh về xuất khẩu. Các sản phẩm nằm trong IL sẽ bắt đầu giảm thuế từ 1-1-1996 và kết thúc với thuế suất 0-5% vào 1-1-

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 14

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

2006. Cụ thể: các mặt hàng có thuế suất trên 20% phải giảm xuống 20% vào 1-1-2001. Các mặt hàng có thuế suất nhỏ hơn hoặc bằng 20% sẽ giảm xuống 0-5% vào 1-1-2003. Các mặt hàng thuộc danh mục TEL chiếm khoảng 40.9% trong biểu thuế nhập khẩu, chủ yếu là những mặt hàng như: các loại ô tô (trừ các loại ô tô dưới 16 chỗ ngồi), xe đạp, các loại đồ chơi trẻ em, các loại máy gia dụng (như máy giặt, máy điều hoà, quạt điện,...), các loại mỹ phẩm, đồ may mặc, sắt thép… Đây là các mặt hàng có thuế suất trên 20% và một số mặt hàng tuy có thuế suất thấp hơn 20% nhưng trước mắt cần thiết phải bảo hộ bằng thuế nhập khẩu, hoặc các mặt hàng đang được áp dụng các biện pháp phi thuế quan như các biện pháp hạn chế số lượng nhập khẩu, hàng phải qua kiểm tra Nhà nước về chất lượng, vệ sinh dịch tễ và về an toàn lao động. Các sản phẩm nằm trong TEL sẽ được chuyển sang danh mục IL trong vòng 5 năm, từ 1-1-1999 đến 1-1-2003, mỗi năm chuyển 20%, để thực hiện giảm thuế với thuế suất cuối cùng là 05% vào năm 2006. Các mặt hàng thuộc danh mục SL chiếm 0.8% trong biểu thuế nhập khẩu, gồm những nông sản chưa chế biến cần được bảo hộ cao bằng hàng rào phi thuế quan như: thịt, trứng gia cầm, động vật sống, thóc, gạo, đường mía… Các sản phẩm nằm trong SL sẽ bắt đầu giảm thuế từ 1-1-2004 và kết thúc vào 1-1-2013 với thuế suất cuối cùng là 0-5%. Riêng mặt hàng đường sẽ kết thúc vào 1-1-2010. Các mặt hàng thuộc danh mục GEL chiếm 6.6% trong biểu thuế nhập khẩu, gồm các mặt hàng: thuốc phiện và các chế phẩm từ thuốc phiện, xì gà, thuốc lá và rượu bia thành phẩm; các loại thuốc nổ, thuốc phóng, các loại pháo; các loại văn hoá phẩm đồi truỵ, phản động, đồ chơi cho trẻ em có ảnh hưởng xấu đến giáo dục và trật tự an toàn xã hội; các loại hoá chất, dược phẩm độc hại,… Ngoài ra, GEL còn bao gồm 1 số mặt hàng Việt Nam không có lợi thế, không có khả năng xuất khẩu, hoặc hiện đang có thuế suất cao.  Việt Nam bắt đầu thực hiện lộ trình giảm thuế quan tham gia AFTA cũng trong năm 1996, khi đưa 875 mặt hàng đầu tiên vào thực hiện CEPT. Tất cả những mặt hàng này đều đã nằm ở khung thuế suất 0-5%.  Năm 2000, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành Danh mục hàng hoá cắt giảm thuế nhập khẩu của Việt Nam theo Hiệp định CEPT tại nghị định số 09/2000/NĐ-CP ngày 21/3/2000. Danh mục CEPT 2000 của Việt Nam bao gồm 4230 dòng thuế (một dòng thuế là một mặt hàng), trong đó:
Tìm hiểu về ASEAN - AFTA Trang 15

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

3590 dòng thuế đã được đưa vào thực hiện CEPT từ những năm 1996 - 1999 và tiếp tục được cắt giảm theo tiến trình. Khoảng 640 dòng mới được chuyển từ Danh mục TEL vào Danh mục IL, chiếm khoảng 25% tổng số dòng thuế còn nằm trong Danh mục TEL tính đến hết năm 1999. Hiện nay số dòng thuế còn lại trong Danh mục TEL là khoảng 1800 dòng và phải tiếp tục đưa vào cắt giảm trong 3 năm tiếp theo đến 2003, mỗi năm cũng phải đưa vào khoảng 600 dòng.  Đến năm 2002, Việt Nam đã chuyển 5550 dòng thuế vào Danh mục cắt giảm ngay IL, chiếm 85% trên tổng số 6523 dòng thuế của biểu thuế nhập khẩu. Danh mục loại trừ tạm thời TEL gồm 755 dòng thuế sẽ chuyển sang danh mục cắt giảm IL đến 17-2003. Danh mục nhạy cảm gồm hàng nông sản chưa chế biến SL có 53 dòng thuế bắt đầu giảm thuế. Việt Nam cũng đưa vào một số mặt hàng cần bảo hộ cao như ô tô, xe máy nguyên chiếc có dung tích dưới 250 cc, nhóm này có 158 dòng thuế. Như vậy, dựa trên danh mục phải cắt giảm ngay IL và danh mục loại trừ tạm thời TEL thì lộ trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam chậm hơn sáu nước thành viên cũ là ba năm. Còn theo hai nhóm nhạy cảm SL và loại trừ hoàn toàn GEL thì thời gian dài hơn, đến năm 2010 hoặc 2015. IV. Việt Nam – AFTA 4.1. Tác động của AFTA đến kinh tế Việt Nam 4.1.1. Thương mại 4.1.1.1. Nhập khẩu: AFTA không có tác động trực tiếp tới việc nhập khẩu của Việt Nam, bởi những mặt hàng nhập khẩu phần lớn là nguyên vật liệu tiêu dùng cho sản xuất và hàng công nghiệp, các mặt hàng này đã có thuế suất dưới 5% trước khi thực CEPT . 4.1.1.2 Xuất khẩu  Xuất khẩu sang các nước ASEAN: AFTA có tác động làm tăng sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường ASEAN nhờ giảm thuế quan và loại bỏ các hàng rào phi thuế quan..  Xuất khẩu sang các nước ngoài ASEAN: AFTA có tác động gián tiếp làm tăng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường ngoài ASEAN do nhập được đầu vào cho sản xuất xuất khẩu với giá rẻ hơn từ các nước ASEAN.
Tìm hiểu về ASEAN - AFTA Trang 16

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

4.1.2. Đầu tư nước ngoài 4.1.2.1. Đầu tư từ các nước ASEAN khác AFTA có tác động phân công lại các nguồn lực trong khu vực theo hướng hợp lý hóa. Khi không còn bảo hộ, một số ngành công nghiệp của một số nước sẽ bộc lộ sự thua kém về khả năng cạnh tranh, để tồn tại, hoặc để thu được nhiều lợi nhuận hơn, các nhà kinh doanh trong những ngành này sẽ đầu tư sang các nước ASEAN khác có các yếu tố thuận lợi hơn, trong đó có Việt Nam. Ngoài ra, với tiến trình hiện thức hóa Khu vực đầu tư ASEAN (AIA), các nhà đầu tư ASEAN nói riêng và các nhà đầu tư nước ngoài nói chung sẽ có nhiều thuận lợi về thủ tục hành chính và tâm lý khi đầu tư vào Việt Nam. 4.1.2.2 Đầu tư nước ngoài từ các nước khác: Một khu vực thương mại tự do sẽ làm tăng đầu tư từ ngoài khu vực. Khi nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào một nước, thị trường tiềm năng của họ sẽ rộng lớn hơn nhiều lần. Do đó, khi đầu tư vàoViệt Nam, các nhà đầu tư sẽ không chỉ nghĩ đến một thị trường với 80 triệu dân, mà còn tính đến cả thị trường ASEAN với trên 500 triệu người. 4.1.3. Công nghiệp Khi các ngành công nghiệp của những nước thành viên không còn được bảo hộ, AFTA sẽ làm thay đổi cơ cấu công nghiệp khu vực theo hướng chuyên môn hóa và phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý hơn. Cũng giống như tại các nước ASEAN, ở một mức độ nào đó, AFTA sẽ làm thay đổi cơ cấu công nghiệp của Việt Nam. Trong đó, một số ngành sẽ phát triển, một số ngành sẽ bị thu hẹp. Tuy vậy, AFTA cũng tạo cho chúng ta điều kiện và thời gian để chuẩn bị và vươn lên để có thể đứng vững và phát triển. 4.1.4. Ngân sách nhà nước Tham gia AFTA và thực hiện chương trình cắt giảm thuế quan theo CEPT chắc chắn sẽ tác động tới nguồn thu cho ngân sách, ít nhất là trong giai đoạn đầu khi Việt Nam thực sự cắt giảm thuế quan. Theo số liệu những năm gần đây, nhập khẩu từ các nước ASEAN chiếm khoảng 20 - 23% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam, trong khi đó, thuế nhập khẩu (trừ dầu thô) đóng góp khoảng 25% tổng số thu ngân sách. Như vậy, về mặt số học đơn thuần, khi cắt giảm thuế quan, rõ ràng nguồn thu ngân sách sẽ bị giảm.

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 17

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

Nhưng bên cạnh đó AFTA sẽ làm tăng hiệu quả sản xuất trong nước. Phần giảm của thuế nhập khẩu do thực hiện CEPT sẽ được bù lại bằng phần tăng của kim ngạch buôn bán tăng và tăng thu từ các loại thuế khác như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập công ty... 4.2 Thuận lợi của Việt Nam khi tham gia AFTA: - Hàng hoá của Việt Nam sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi, từ đó có điều kiện thuận lợi hơn để hàng hoá Việt nam có thể thâm nhập thị trường của tất cả các nước thành viên ASEAN. - Việt Nam sẽ có thế hơn trong đàm phán thương mại song phương và đa phương với các cường quốc kinh tế, cũng như các tổ chức thương mại quốc tế lớn như Mỹ, Nhật, EU hay WTO … - Việt Nam có thể khai thác từ thị trường các nước ASEAN như xuất khẩu nông sản, hàng dệt và may mặc, ta cũng có nhu cầu nhập nhiều mặt hàng từ các nước ASEAN với giá thấp hơn từ các khu vực khác trên thế giới. - Doanh nghiệp Việt Nam được lợi do tăng được khả năng cạnh tranh so với các nước ngoài ASEAN về giá cả, mặt khác người tiêu dùng được hưởng lợi do giá cả rẻ hơn và chủng loại hàng hoá phong phú hơn. - Thu hút vốn đầu tư, tiếp thu công nghệ, tận dụng nhân công, sử dụng vốn và kỹ thuật cao trong khu vực. 4.3. Khó khăn của Việt Nam khi tham gia AFTA: - Nguồn thu ngân sách về thuế xuất nhập khẩu giảm. - Việc tham gia dẫn tới sự xoá bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan, buộc các doanh nghiệp phải tham gia thật sự vào cuộc chơi cạnh tranh khốc liệt trên thị trường khu vực: cạnh tranh thúc đẩy sản xuất phát triển, nhưng đồng thời có thể làm điêu đứng và phá sản hàng loạt các doanh nghiệp, thậm chí hàng loạt ngành. Dẫn tới việc thay đổi cơ cấu kinh tế. Đây là vấn đề nan giải đối với các doanh nghiệp Việt Nam. - Nhiều mặt hàng công nghiệp hiện nay do các công ty có vốn nước ngoài sản xuất và được bảo hộ bằng thuế nhập khẩu. Khi hàng rào thuế quan bị cắt giảm, các công ty đa quốc gia sẽ tập trung sản xuất tại những nước có phí tổn thấp nhất trong khu vực AFTA. Do đó, thách thức của Việt Nam là làm sao giữ chân các cơ sở sản xuất hiện có

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 18

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

của các công ty đa quốc gia, đồng thời tạo cơ hội để các công ty này đầu tư mới hoặc chuyển những cơ sở sản xuất ở các nước ASEAN khác sang Việt Nam. - Khả năng thâm nhập thị trường ASEAN của hàng công nghiệp Việt Nam còn quá yếu. Khó khăn đặt ra là làm sao để mở rộng phân công hàng ngang với các nước ASEAN khác trong quá trình hội nhập. 4.4. Giải pháp

 Xét ở tầm vĩ mô (Nhà nước)
Tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và tân dụng mọi thời cơ quốc tế đang có nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam bằng cách cải thiện đồng bộ, toàn diện môi trường đầu tư. Cụ thể là đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện môi trường pháp lý về các vấn đề như: thương mại, giao dịch vốn, cạnh tranh, chống độc quyền, bảo hộ sản phẩm nội địa, bảo hộ thương hiệu sản phẩm, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu tài sản...., làm sao để vừa có lợi cho Việt Nam đồng thời tạo được sự thoải mái cho các nhà đầu tư khi muốn đầu tư vào Việt Nam. Thực hiện tốt công tác quản lý thị trường và giá cả, cụ thể là bình ổn giá cả đối với từng sản phẩm khi các sản phẩm đó được cắt giảm thuế quan. Điều này nhằm ngăn chặn nạn buôn lậu, làm hàng giả, giúp các doanh nghiệp kinh doanh trong môi trường cạnh tranh lành mạnh. Việc bình ổn giá đòi hỏi các cơ quan chức năng phải làm việc hết mình, theo dõi sát các biến động giá và dự kiến các yếu tố tác động để có biện pháp xử lý kịp thời. Nhà nước cần phải đầu tư thích đáng cho những ngành mũi nhọn, đặc biệt là ngành cơ khí và ngành điện tử, bởi cơ khí là nền tảng của công nghiệp - là chiếc máy cái sản xuất ra các thiết bị sản xuất của các ngành; điện tử là ngành kỹ thuật của thời đại, đang phát triển như vũ bão với hàm lượng chất xám cao, sử dụng ít lao động nhưng đem về lợi nhuận cao. Được đầu tư thích đáng, các ngành mũi nhọn sẽ là điểm tựa cho sức bật của công nghiệp trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thành công đi tắt đón đầu tới đích. Bên cạnh đó, Việt Nam chú trọng phát triển hơn các loại sản phẩm có hàm lượng chất xám chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm, nhất là các sản phẩm thuộc công nghệ thông tin và công nghệ sinh học vì đó là những sản phẩm đặc trưng của kinh tế tri thức - hướng phát triển mới của kinh tế thế giới.

 Xét ở tầm vi mô (doanh nghiệp):

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 19

NHÓM 9

GVHD: Đặng Thị Mỹ Dung

Các doanh nghiệp cần phải chủ động hội nhập thông qua việc nghiên cứu để nắm vững các cam kết và lộ trình của Việt Nam về cắt giảm thuế quan và bãi bỏ các hàng rào phi thuế quan, qua đó mạnh dạn hơn khi bước vào sân chơi rộng lớn này. Cụ thể các doanh nghiệp có thể tham gia các lớp tập huấn, hội thảo về AFTA, về tiến trình gia nhập AFTA và cả về Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ. Các doanh nghiệp Việt Nam cần có sự liên kết với nhau, đặc biệt là sự liên kết giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ với các doanh nghiệp lớn, nhằm giảm thiểu các rủi ro cũng như phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp này do sự cạnh tranh khốc liệt trong quá trình hội nhập tham gia AFTA. Các doanh nghiệp muốn cạnh tranh khi AFTA có hiệu lực thì trước hết phải hạ được giá thành sản phẩm. Muốn thế, các doanh nghiệp phải đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ theo chiều sâu đồng thời đào tạo, nâng cao tay nghề và năng lực của người lao động để giảm chi phí lao động… Như vậy, các doanh nghiệp đã góp phần giảm phí tổn sản xuất tại Việt Nam để có thể giữ chân các công ty đa quốc gia. Tận dụng các lợi thế về lao động, nguồn nguyên liệu… để phát triển sản xuất các mặt hàng thuộc các ngành công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng, may mặc, chế biến nông – lâm - thủy sản… vốn là những mặt hàng chiếm tỉ trọng xuất khẩu cao của Việt Nam. Đồng thời tìm kiếm những phân khúc thị trường phù hợp để nâng cao khả năng thâm nhập thị trường của các mặt hàng này.

C. KẾT LUẬN
Tham gia ASEAN - AFTA là bước đi tất yếu đầu tiên của Việt Nam trên con đường hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới. Sự kiện này mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội mới cũng như nhiều thách thức to lớn. Cơ hội và thách thức đan xen lẫn nhau, đòi hỏi sự nỗ lực cả tầm vĩ mô và vi mô để khai thác triệt để các cơ hội và hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng tiêu cực do các thách thức đưa đến. Riêng với AFTA, không nên coi việc thực hiện AFTA như một quá trình hay hành động riêng biệt, mà phải đặt nó trong lộ trình hội nhập và tự do hóa thương mại tổng thể, trong đó, mục tiêu nhất quán được xác định bởi khuôn khổ WTO.

Tìm hiểu về ASEAN - AFTA

Trang 20

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful