1

TẠI SAO NGÀY NAY AN TỬ VÀ TRỢ TỬ ĐÃ TRỞ THÀNH VẤN ĐỀ? 1
Linh Mục Trần Mạnh Hùng C.SsR., S.T.D Trong những năm gần đây, an tử và trợ tử đã trở thành một mối quan tâm rộng rãi, được bàn bạc tự do trên các tạp chí y khoa và báo chí, các chương trình truyền hình và trong các trường trung học. Dường như đây không còn được coi là đề tài chỉ lôi kéo giới y khoa, các nhà luân lý hay các nhà lập pháp mà thôi. Vì thế, chúng ta cần phải xem xét tại sao hai vấn đề song sinh này, an tử (tự nguyện, chủ động) và trợ tử (với sự giúp đỡ của y khoa), lại nhanh chóng thu hút sự chú ý đến như thế, không những ở Hà Lan, Hoa Kỳ, mà còn ở Gia Nã Đại, Úc, các nước Châu Âu và nhiều nước phát triển khác.2 Một số vấn đề phức tạp về luân lý, pháp luật và xã hội, nảy sinh từ đề tài được tranh luận rộng rãi, là các bệnh nhân ở trong tình trạng vô phương cứu chữa, hay vào giai đoạn cuối của căn bệnh hoặc hầu hết tất cả mọi người ở trong tình trạng tương tự như vậy, có nên được yêu cầu thi hành an tử hay chăng? Những tiến bộ vượt bực trong ngành y học, phương cách điều trị đôi khi qúa cuồng nhiệt và lệch lạc, sự tiến bộ trong lãnh vực chăm sóc giảm đau và chăm sóc người hấp hối (sắp lìa đời), sự thay đổi thái độ đối với sự chết, sự gia tăng dân số nơi người lớn tuổi, sự xuất hiện các phong trào đòi dân quyền, và quan niệm về cách thức quyết định cũng như xử trí trong lãnh vực y khoa cũng đã được thay đổi.... Tất cả những yếu tố trên đã góp phần và đưa an tử và trợ tử vào vòng tranh luận nóng bỏng đối với các nước nói trên.3 Khi con người đòi hỏi an tử chủ động thì, một phần nào đó, đòi hỏi ấy chính là sự phản ứng trước nỗi lo sợ bị mắc kẹt trong một thế giới y khoa đầy công nghệ phức tạp tinh vi nhưng xem ra hờ hững, sống chết mặc bay. Quả thật, không nên dùng sự tự do tùy tiện để kết liễu mạng sống của mình hoặc nhờ y sĩ giúp mình từ giã cõi đời như là phản ứng duy nhất cho nỗi lo sợ ấy. Chưa kể, phản ứng như thế còn đem lại những hệ lụy nghiêm trọng về mặt xã hội. Nỗi lo sợ chính đáng ấy không phải là lý do để đòi hỏi rằng tự tử hoặc an tử phải được pháp luật công nhận; nó đòi hỏi người ta hủy bỏ cái não trạng nằng nặc cho rằng phải can thiệp và sử dụng bất kỳ phương tiện gì để có khả năng duy trì sự sống nhưng lại chẳng đếm xỉa
Peter Hung Manh Tran, C.Ss.R., Advancing the Culture of Death: Euthanasia and Physician Assisted Suicide (Melbourne: Freedom Publishing Company, 2006), pp. 11-29. Order online: http://www.portico.com.au/cgi-bin/cat?isbn=9780977569908
1

Magaret Pabst Battin, “Ethical Issues in the Physician-Assisted Suicide” trong Michael M. Uhlmann, chủ biên, Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington, D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 114-115.
2

Kenneth R. Mitchell và các tác giả khác, Bioethics and Clinical Ethics for Health Care Professionals, 2nd Edition. (Riverwood, N.S.W: Ligare Pty Ltd., 1999), tr. 262-263.
3

2

gì đến cơn đau, nỗi khổ và gánh nặng cho bệnh nhân mà mạng sống, hay cái chết, đang được kéo dài ra.4 Hô hấp nhân tạo, vô số thuốc men mới và thủ thuật mới đã giúp người bị tai nạn, lẽ ra phải chết ngay lập tức, thì nay vẫn có thể sống sót để được chữa trị. Những tiến bộ nơi y khoa đã làm sống lại niềm hy vọng trong lòng những bệnh nhân vô phương cứu chữa, biết đâu họ sẽ còn sống đến ngày giải pháp chữa bệnh cho họ được tìm ra. Tuy nhiên, chẳng phải mọi người đều hy vọng như thế, và một loạt những trường hợp giết bệnh nhân vì lòng thương xót đã làm nóng lại cuộc tranh luận. Trong thập niên 1950, tiếp theo vụ bác sĩ Herman Sander (bác sĩ đã giúp một bệnh nhân ung thư hết đường cứu chữa để ông ấy tự tử, thế là bác sĩ Sander bị buộc tội giết người rồi được trắng án), một cuộc tranh luận mới về an tử tập chú vào trách nhiệm của bác sĩ. Đồng thời nảy ra sự phân biệt giữa chăm sóc thông thường (ordinary) với chăm sóc ngoại thường (extraordinary), và sự phân biệt ấy được dùng như là phương tiện để định nghĩa an tử chủ động và an tử thụ động.5 Cuộc tranh luận về an tử và trợ tử được khởi đầu vào thập niên 1960 và sôi động hẳn lên ở thập niên 1980. Có nhiều lý do hữu quan. Thứ nhất, đầu thập niên 1980, người ta thấy tăng vọt số những vụ thi hành an tử chủ động và thụ động được báo cáo. Thế là có vấn đề, và không thể không chú ý đến.6 Thứ hai, điều kiện sinh sống được cải thiện khắp nơi, việc chăm sóc sức khoẻ được tốt đẹp hơn và có những bước phát triển ngoạn mục về công nghệ y học, do đó lúc này con người có thể duy trì sự sống hơn mức “tự nhiên” của quá khứ. Kết quả là nhiều người (không chỉ là người cao niên mà thôi) đáng lẽ hôm qua buộc phải để mặc cho chết vì không thể giúp gì được, thì hôm nay lại có thể vui hưởng sự sống, tương đối không bị đau đớn hay bệnh tật làm cho suy nhược đi. Thế nhưng, cùng một công nghệ y học ấy, một đàng làm nên điều kỳ diệu và đem lại hy vọng cho những kẻ đau khổ, thì đàng khác lại níu kéo sự tồn tại sinh học suốt nhiều năm, cho những bệnh nhân được xem là đã chết (căn cứ theo các biểu hiện của cơ thể). Khi công nghệ y học có thể ăn gian với thần chết thì cần phải có những quyết định cẩn trọng sao cho việc điều trị là tối ưu, đồng thời, cũng cần có những quyết
Ví dụ, các bệnh nhân sắp chết đôi khi bị đồng hoá với những khối u của họ. Những cuộc “tấn công” liên tục của hoá trị và xạ trị biết đâu chừng chỉ kéo dài ra thay vì làm nhẹ đi nỗi đau đớn cho họ. Rõ ràng là việc sử dụng công nghệ y học một cách thái quá đã khiến người ta sợ sẽ phải chết “một cái chết bi đát do công nghệ đem lại” và thúc đẩy công chúng ủng hộ việc an tử. Xem Daniel Callahan, “The Sanctity of Life Seduced: A Symposium on Medical Ethics.” First Things 42 (1994): 13-15.
4

Christel Manning, “Euthanasia and Its Moral Implications” trong The Church Speaks On: Euthanasia. (Detroit: Gale Research Inc., 1991), xxi. J. Gordon Melton chủ biên.
5

Xem Charles T. Canady, “Physician-Assisted Suicide and Euthanasia in the Netherlands: A Report to the House Judiciary Subcommittee on the Constitution.” Issues in Laws & Medicine 14 (1988): 301-324; Richard Fenigsen, “The Netherlands: New Regulations Concerning Euthanasia.” Issues in Laws & Medicine 9 (1993): 167-171; Henk Jochemsen, “Legalization of Euthanasia in the Netherlands.” Issues in Laws & Medicine 14 (1988): 285-287; John Paris, “Active Euthanasia.” Theological Studies 53 (1992): 113-126.
6

3

định cẩn trọng về những hoàn cảnh, trong đó việc điều trị có thể đình chỉ hoặc phải đình chỉ. Những quyết định như thế làm nảy sinh những vấn đề khó khăn cho giới y sĩ chuyên môn. Một mặt, y sĩ được đào tạo để loại trừ bệnh tật và để kéo dài sự sống, nhưng đôi khi muốn duy trì sự sống của bệnh nhân thì chỉ có một cách là khiến bệnh nhân phải hoàn toàn lệ thuộc vào việc tiếp liệu: ống dẫn, máy thở hay những thiết bị khác mà thường là không có hoặc ít có triển vọng làm cho bệnh nhân giảm bệnh. Mặt khác, bác sĩ cũng như bệnh nhân đều không muốn bỏ qua các công nghệ y học vốn đem lại một cơ may bình phục.7 Thứ ba, nhờ những tiến bộ về vệ sinh công cộng, miễn dịch học, kỹ thuật vô trùng trong phẫu thuật và hộ sinh, tuổi thọ trung bình đã tăng lên đáng kể. Khoảng năm 1920, những tiến bộ như thuốc kháng sinh, kỹ thuật ngoại khoa nâng cao, kỹ thuật truyền dịch và thuốc qua tĩnh mạch, thiết bị hô hấp, kỹ thuật chẩn trị tiên tiến... không những tiếp tục làm tăng tuổi thọ trung bình mà còn làm thay đổi những nguyên nhân tử vong. Hầu hết mọi người khi ấy có thể sẽ chết vì những bệnh gây thoái hóa hơn là những bệnh ký sinh hay nhiễm trùng. Tuổi thọ trung bình ở Hoa Kỳ vào năm 1900 là 50 tuổi, nay đã tăng lên đến 72; người 72 tuổi mới chỉ được coi là ở tuổi già bậc trung. Những tiến bộ này xảy ra trước hết ở các nước phát triển, giàu có, phần nào là kết quả của những hệ thống chăm sóc sức khỏe tiên tiến, trong khi đó dân số của các nước nghèo thuộc đệ tam quốc gia, vẫn cứ ở lại trong giai đoạn một hoặc giai đoạn hai, trong bước tiến về xử lý bệnh tật (dịch tễ học). Chính tại các nước công nghiệp tiên tiến - bao gồm cả Hoa Kỳ - phần lớn dân số ngày càng bớt phải đối mặt với cái chết do bệnh tật. Ngày nay AIDS* hầu như là ví dụ duy nhất cho những thứ bệnh, mà trước đây trong lịch sử loài người hễ ai mắc phải là chết. Những thứ bệnh chết người vào thời ấy (thương hàn, uốn ván, đậu mùa, tiêu chảy, sởi, lao, v.v.) thì nay không còn là nguy cơ tràn lan ở các nước phát triển nữa. Thế nhưng, những tiến bộ dịch tễ học này, giúp kiểm soát được nguyên nhân gây tử vong, lại góp phần làm nảy sinh những vấn đề khi mà con người muốn được chết ngay.8 Thứ tư, hiện nay người ta đang áp dụng rộng rãi một nền công nghệ y học còn gây thắc mắc, có khả năng duy trì sự sống nhưng không chữa được bệnh. Những hệ thống trợ lực nhân tạo và những máy thẩm tách thận (hay còn gọi là máy lọc thận dialysis), thủ thuật cấy ghép các bộ phận nhân tạo, v.v. giúp bệnh nhân sống sót nhưng lại bắt họ lệ thuộc vào công nghệ. Ngày càng có nhiều thêm những vụ tố tụng liên quan đến sự trục lợi bất chính của y sĩ, trong khi đó bệnh viện cần phải trang trải chi phí cho những thiết bị đắt tiền, thế là các công nghệ kia có thể sẽ được áp dụng, và các bệnh nhân lẽ ra đã chết thì được giữ cho sống. Nói tóm lại, y học
Xem Michael M. Uhlmann, chủ biên, “Introduction.” Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington. D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 2.
7

. Chú thích của tác gỉa: AIDS - viết tắt bởi cụm từ: Acquired Immune Deficiency Syndrome – có nghĩa là bệnh liệt kháng hay còn gọi là bệnh Xida.
*

Margaret Pabst Battin, “Ethical Issues in the Physician-Assisted Suicide." trong Michael M. Uhlmann, chủ biên, "Introduction.” Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington. D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 2.
8

4

hiện đại dường như bị kẹt vào cái thế tiến thoái lưỡng nan, do chính công nghệ y học gây ra. Thuốc kháng sinh, thiết bị hô hấp và nhiều phương tiện chỉnh sửa, thay thế, tái tạo các bộ phận cơ thể tổn thương đã đem lại vô vàn ích lợi cho biết bao bệnh nhân đau khổ, nhưng đồng thời, chúng cũng tạo ra các bệnh nhân có tình trạng sống tồi tệ hoặc tồi tệ hơn, trước khi được điều trị. Ví dụ, một bệnh nhân 75 tuổi suy tim hay suy thận thì nên được điều trị tối đa tới mức nào?9 Thứ năm, phí tổn cao cho việc điều trị cũng làm tăng mối quan tâm đến an tử. Trong khi chi phí y tế tăng nhanh hơn mức lạm phát, nhiều người Mỹ cao niên thuộc giới nghèo túng là những người có khả năng chi trả thấp nhất. Khi buộc phải lựa chọn hoặc đành cắn răng chịu đau đớn, khổ sở, do thiếu thầy thiếu thuốc hoặc trở thành gánh nặng kinh tế cho gia đình, bệnh nhân vô phương cứu chữa hay tật nguyền nặng nề thường nghĩ đến an tử.10 Ngoài ra, những vấn đề về cái chết đang nảy ra như là sự tiếp nối mối quan tâm đến quyền tự quyết của bệnh nhân. Kể từ khi có luật về quyền được chết do “Đạo luật về cái chết tự nhiên” năm 1976 do California khởi xướng, tất cả mọi tiểu bang nước Mỹ đều đã thông qua một dạng luật nào đó, mở rộng quyền cho bệnh nhân được chỉ định, không những sự điều trị trong thời gian họ còn đủ tỉnh táo để chọn lựa, mà còn cả những gì được thực hiện cho họ sau khi họ, đã thiểu năng trong những giai đoạn cuối của căn bệnh vô phương cứu chữa. Sự mở rộng này về quyền tự quyết, dưới hình thức những chỉ thị y tế định sẵn 11 (như Di Chúc Sống và Giấy Ủy Quyền) đã đương nhiên dẫn đến một thắc mắc mới: nếu bệnh nhân được quyền từ chối sự điều trị kéo dài mạng sống, trong khi họ vẫn còn tỉnh táo hoặc được quyền chỉ định trước, rằng sẽ không dùng đến kiểu điều trị ấy, một khi họ không còn tỉnh táo nữa, thì cớ gì họ không được quyền chọn lựa cái chết bằng phương tiện trực tiếp hơn, tức thời hơn?12 Những người chống lại quan điểm này biện giải rằng quyền đình chỉ điều trị không ngầm bao gồm điều ấy. Theo họ, y khoa và pháp luật từ lâu đã công nhận có sự phân biệt quan trọng giữa giết chết và để cho chết; một khi ranh giới này bị xoá đi thì việc hợp pháp hóa trợ tử chắc chắn

Xem Michael M. Uhlmann, chủ biên. “Introduction.” Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington, D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 2.
9

Christel Manning, “Euthanasia and Its Moral Implications.” trong The Churches Speak On: Euthanasia. (Detroit: Gale Research Inc., 1991), xv J. Gordon Melton chủ biên.
10

Có hai loại chỉ thị định sẵn cụ thể: a) Di Chúc Sống, trình bày những chỉ thị của bệnh nhân cho bác sĩ biết mình muốn được điều trị như thế nào; b) Giấy Ủy Quyền Chỉ Thị Y Tế, nêu rõ người đại diện hoặc được ủy quyền - người này sẽ đưa ra quyết định xử trí y tế khi bệnh nhân không còn đủ khả năng tự quyết định. Xem Scott B. Rae và Paul M. Cox, Bioethics: A Christian Approach in a Pluralistic Age. (Michigan: Wm. B. Eerdmans Publishing Co., 1999), tr. 235.
11

Margaret Pabst Battin, “Ethical Issues in the Physician-Assisted Suicide” trong Michael M. Uhmann, chủ biên. “Introduction.” Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington, D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 115-116.
12

5

sẽ dẫn đến việc giết bệnh nhân, mà không thông báo cho bệnh nhân biết hoặc không đếm xỉa đến việc bệnh nhân có ưng thuận hay không.13 Cuối cùng, cuộc tranh luận về an tử và trợ tử xảy ra ở một thời điểm, khi mà những quan niệm luân lý cố hữu về sự sống và sự chết không còn được ủng hộ rộng rãi như trước kia nữa. Hành vi kết liễu mạng sống con người, dù là tự tử hay giết chết, đã bị nghiêm cấm, và sự nghiêm cấm này chiếm vị trí trọng tâm trong truyền thống luân lý và nền văn minh phương Tây, đến nay nó vẫn duy trì được sự thuyết phục mạnh mẽ, ngay cả nơi những người không hề tự coi mình là đạo đức. Nhưng nay đã có nhiều lý thuyết/quan điểm dàn trận chống lại truyền thống này,14 cho rằng luân lý không phải phát xuất từ Thượng Đế hay luật tự nhiên nhưng là từ sự lựa chọn cá nhân. Theo họ, con người là một hữu thể tự quyết, và tính tự quyết này nổi bật hơn bao giờ hết, khi vấn đề sự sống của chính con người được đưa lên cán cân lựa chọn; con người có quyền kết liễu mạng sống của mình hoặc có quyền quyết định cho mình chết khi nào và chết như thế nào. Cuộc tranh luận giữa hai phe, tuy khoác áo từ ngữ triết học hiện đại nhưng thực chất có nguồn gốc từ cổ đại. Luận chứng luân lý chống lại việc kết liễu mạng sống vang vọng về quá khứ, qua Plato, Aristotle đến Sách Khởi Nguyên. Thật vậy, ở nhiều phương diện, cuộc tranh luận ở
Có hai phe trong cuộc tranh luận này, bên nào cũng có quan điểm riêng. Phe ủng hộ an tử chủ động (active euthanasia) biện luận rằng: không có cơ sở đạo đức khi phân biệt giữa việc để cho bệnh nhân nan y chết đi (bằng cách không điều trị hoặc ngưng điều trị) và việc giết chết bệnh nhân hoặc làm cho bệnh nhân mau chết bằng sự can thiệp hữu ý và trực tiếp của thầy thuốc. Theo họ, cả hai việc đều dẫn đến một kết quả tối hậu như nhau; tuy vậy họ cũng nói thêm rằng: việc chủ động kết liễu mạng sống của người bệnh đau khổ là cách làm nhân đạo hơn. Ví dụ: James Rachels, “Active and Passive Euthanasia.” New England Journal of Medicine 292 (1975): 78-80, xem thêm sách của ông The End of Life. (New York: Oxford University Press, 1986), nhất là các trang 106-123; Derek Humphry và Mary Clement, Freedom to Die: People, Politics, and the Right-to-Die Movement. (New York: St. Martin's Press, 1988); Helga Kuhse và Peter Singer, chủ biên, Bioethics: An Anthology. (United Kingdom: Blackwell Publishers Ltd., 1999), tr. 236-239; Gerald Dworkin, R. G. Frey, Euthanasia and Physician-Assisted Suicide: For and Against. (United Kingdom: Cambridge University Press, 1998). Trong khi đó, phe chống đối an tử chủ động quả quyết rằng: nhất định là có đạo đức trong sự phân biệt ấy, và quan điểm của họ là có cả hai chiều kích đời và đạo. Ví dụ: Joseph M. Boyle, “On Killing and Letting Die.” The New Scholasticism 51 (Mùa thu 1977): 433-452; Paul Ramsey, Ethics at the Edges of Life. (New Haven: Yale University Press, 1978), tr. 148151; Tom L. Beauchamp và James F. Childress, Principles of Biomedical Ethics, 4th Edition. (New York: Oxford University Press, 1994), tr. 219-228; Tom L. Beauchamp, “A Reply to Rachels on Active and Passive Euthanasia” trong Tom L. Beauchamp và LeRoy Walters, chủ biên, Contemporary Issues in Bioethics, 3rd Edition. (California: Wadsworth Publishing Company, 1989), tr. 248-255; Kevin O'Rourke, “Value Conflicts Raised by Physician-Assisted Suicide.” Linacre Quarterly 57 (1990); 39-41; Lisa Sowle Cahill, “Respecting Life and Causing Death in the Medical Context” trong Jacques Pohier và Dietmar Mieth, chủ biên, Suicide and the Right to Die. (Edinburgh: T&T. Clark Ltd., 1985), tr. 36; Germain Grisez và Joseph Boyle, Jr Life and Death with Liberty and Justice. (Indiana: Notre Dame University Press, 1979), tr. 381-471.
13

Xin xem một thiên luận bàn rất hay về các lý thuyết cứu cánh luận và nghĩa vụ học: Tom L. Beauchamp và James F. Childress, Principles of Biomedical Ethics, 2nd Edition. (New York: Oxford University Press, 1983), tr. 18-58; Richard M.Gula, What Are They Saying about Euthanasia? (New York: Paulist Press, 1986), tr. 62; xem thêm một sách khác của ông What Are They Saying about Moral Norms? (New York: Paulist Press, 1982), tr. 54-89.
14

6

cuối thế kỷ 20 gần như là sự tái diễn cuộc tranh luận giữa các Giáo Phụ với các triết gia thuộc phái Khắc Kỷ và Hưởng Lạc trong mấy thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo.15 Tóm lại, những nhân tố này, như đã nói trên, cùng với việc mở rộng quyền tự quyết cho bệnh nhân, sự thách thức các giá trị truyền thống và ý thức về phí tổn y tế, tất cả đã góp phần quan trọng làm cho vấn đề an tử và trợ tử mau chóng xuất hiện. 1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ AN TỬ VÀ TRỢ TỬ An tử và trợ tử đã trở thành vấn đề xã hội, chính trị và luân lý trổi vượt trong những năm qua. Tuy nhiều hình thức an tử khác nhau đã được thực hiện hàng ngàn năm qua, nhưng mãi đến thế kỷ 20, an tử mới trở thành một vấn đề lớn gây tranh luận rộng rãi.16 Thế nên cuộc tranh luận về an tử và trợ tử không mới mẻ gì, theo như khảo sát của E. J. Emanuel, mà chỉ có sự nhấn mạnh được thay ngôi đổi chỗ.17 Trong một công trình khảo sát triệt để và tận tâm tận lực về phong trào an tử và trợ tử, Humphry và Wickett18 đã truy nguyên vấn đề từ thành Athens cổ điển, nơi các phán quan lưu trữ thuốc độc dành cho những ai muốn chết,19 sang tới thời khởi đầu Kitô giáo, trong đó hành vi tự tử bị cáo buộc là xúc phạm đến ý Chúa. Ở thế kỷ 5 trước c.n., các thầy thuốc Hy-Lạp và giới quý tộc ca ngợi sức khoẻ như là giá trị tối cao của con người. Đi theo lý tưởng này, người Hy-Lạp gán địa vị trên trốc cho người khoẻ mạnh và coi kẻ bệnh tật là yếu ớt và hạ đẳng. Cổ võ cho sức khoẻ và duy trì sự sống là trung tâm của nghề thuốc mà mục tiêu tối thượng là “đem lại sức khoẻ cho mọi người bệnh tật và giữ gìn sức khoẻ cho những ai an mạnh.”20 Tuy nhiên, các thầy thuốc Hy-Lạp đã được thúc đẩy đi tới chỗ nhận ra những giới hạn trong nghề của mình, bởi lẽ mục tiêu của họ chỉ là “cất đi đau khổ cho bệnh nhân, làm dịu bớt sự hung hãn của bệnh tật và từ chối điều trị cho những
Michael M. Uhlmann, chủ biên. “Western Thought on Suicide: From Plato to Kant.” Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington, D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 11-55.
15

Christen Manning, “Euthanasia and Its Moral Implications” trong The Churches Speak On: Euthanasia. (Detroit: Gale Research Inc., 1991), xiii. J. Gordon Melton chủ biên.
16

Ezekiel J. Emanuel, “The History of Euthanasia Debate in the United States and Britain.” Annals of Internal Medicine 121 (1994): 793-802.
17

Derek Humphry and Ann Wickett, The Right to Die: Understanding Euthanasia. (New York: Harper & Row, 1986).
18

“Nếu ngươi thấy đời mình đáng chán, hãy chết đi; nếu ngươi bị số phận đè bẹp, hãy uống độc dược đi.” Trích dẫn trong John J. Paris, “Active Euthanasia.” Theological Sudies 53 (1992): 116.
19

Harold Y. Vanderpool, “Death and Dying: Euthanasia and Sustaining Life: I” trong Warren Thomas Reich, chủ biên Encyclopedia of Bioethics, Revised Edition, Vol.1. (New York: Simon & Schuster Macmillan, 1995), tr. 555. Hereinafter Vanderpool, “Death and Dying: Euthanasia and Sustaining Life: I.”
20

7

kẻ bệnh quá nặng rồi.” Thành thử, quan niệm La-Hy về an tử đã hoà hợp với những hiểu biết của họ về sức khoẻ, y học và phẩm giá tuyệt đỉnh của con người. Các thầy thuốc Hy-Lạp, Socrates (khoảng 470-399 trước c.n.), Plato (khoảng 427-348 trước c.n.) và các triết gia Khắc Kỷ từ Zeno21 (khoảng 336-246 trước c.n., Hy-lạp) đến Seneca (4 trước c.n.- 65 sau c.n., Rôma) đã biện minh cho việc đem cái chết đến cho những người bệnh tật đau đớn trầm trọng. Các triết gia như Plato và Aristotle coi giá trị của mạng sống con người có giá trị tiên vàn là về phương diện xã hội, tức xét đến sự đóng góp của mạng sống ấy cho xã hội; không hề có ý niệm gì về sự thánh thiện vốn có của sự sống con người,22 vì thế họ cho rằng, nên hy sinh những người bị bệnh kinh niên. Vì họ không đủ khả năng để sống một cuộc sống xã hội năng động và hữu ích, những người này tiêu ngốn mất các tài nguyên tối cần của gia đình và cộng đồng. Bất kể họ có yêu cầu hay không, việc kết liễu mạng sống của họ là chính đáng. Seneca và các nhà Khắc Kỷ trước ông đã lên tiếng ca ngợi, vì con người có khả năng chọn lựa cách thức chấm dứt mạng sống của mình. Con người phải rời khỏi cõi đời này một cách cao qúy chứ đừng thụ động chờ đợi giây phút kết tận khắc nghiệt do “bệnh tật hay người khác” đem lại. Vì cho rằng thà tự nguyện chết hơn là chịu hấp hối kéo dài, nên các thầy thuốc luôn sẵn sàng trao thuốc độc trí mạng - thường là nước cây độc cần (hemlock) - cho các bệnh nhân thống khổ cùng cực. 23 Lời lẽ hùng biện của Seneca đã cho thấy điều này: Để khỏi vướng những đau thương của cuộc đời, ta có nơi trú ẩn là sự chết. Nếu được chọn hoặc cái chết thống khổ hoặc cái chết đơn giản và dễ dàng, cớ gì ta không chọn cái chết thứ hai? Đã từng chọn thuyền để ra khơi, chọn nhà để ở thế nào, thì ta cũng sẽ chọn cái chết để rời khỏi cuộc sống thế ấy. Ngoài sự chết ra, chẳng có việc gì ta được hành xử theo ý muốn của mình như thế... Lẽ nào ta phải gắng chịu những thống khổ của bệnh tật... khi mà có thể tự giải thoát mình khỏi mọi nỗi dày vò?24 Những quan niệm và hành xử này cho thấy rằng nơi tư tưởng và trong thực tiễn La-Hy đã công nhận sự chính đáng của an tử ở cả hai hình thức: để người đau khổ được tự nguyện chết và giết chết những người vô dụng. Quan niệm này bao gồm luôn cả việc giết chết các trẻ sơ sinh dị dạng hay yếu ớt.25
Brian Stoffell, “Voluntary Euthanasia, Suicide and Physician-Assisted Suicide” trong A Companion to Bioethics. (Great Britain: Blackwell Publishers Ltd., 1998), tr. 272. Helga Kuhse và Peter Singer chủ biên.
21

Christel Manning. “Euthanasia and Its Moral Implications” trong The Churches Speak On: Euthanasia. (Detroit: Gale Research Inc., 1991), xix. J. Gordon Melton chủ biên; Harold Y. Vanderpool, “Death and Dying: Euthanasia and Sustaining Life: I.”, tr. 555; Xem thêm Michael M. Uhlmann, chủ biên, “Western Thought on Suicide: From Plato to Kant.” Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington. D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 11-44.
22 23

Xem John Paris, “Active Euthanasia.” Theological Studies 53 (1992): 116.

Xem Robert N. Wennberg, Terminal Choice: Euthanasia, Suicide, and the Right to Die. (Michigan: W.M.B. Eerdmans Publishing Co., 1989), tr. 1.
24 25

Harold Y. Vanderpool, “Death and Dying: Euthanasia and Sustaining Life: I.”, tr. 555.

8

Tương phản với các truyền thống Hy-Lạp áp đảo nói trên, phái Pythagore và các Kitô hữu thời sơ khai đã chống lại hành vi trợ tử theo ý nghĩa Do Thái giáo.26 Ý niệm Do Thái giáo và Kitô giáo về đạo độc thần siêu việt và “hình ảnh của Thiên Chúa” đã dẫn đến một định nghĩa mới về giá trị của mạng sống. Con người được xem là do Thiên Chúa dựng nên giống hình ảnh Ngài, do đó toàn bộ sự sống của con người là thánh thiêng; kết liễu mạng sống là tiếm quyền Thiên Chúa và xúc phạm đến Thiên Chúa.27 Vì các Kitô hữu coi Thiên Chúa là Tạo Hoá chủ tể, là Đấng duy trì mạng sống con người nên các giới luật của Ngài phải được tuân theo. Từ buổi bình minh của mình, Kitô giáo đã phản đối việc tự thực hiện cái chết vì lý do đau khổ hay thất vọng. Trái với huyền thoại cho rằng nhiều người tự tử để thoát cõi trần về với Chúa hay để tránh tội, các Kitô hữu thời sơ khai đã quyết liệt chống lại việc tự tử.28 Những chủ đề này cho các nhà phê bình trong Kitô giáo sơ khai biết về xã hội La-Hy (1Jn 2:15-4:23). Ở thế kỷ thứ hai và thứ ba, các nhà hộ giáo Kitô lên án những cuộc giác đấu tử chiến, việc phá thai, giết hài nhi và tự tử. Không một thành phần nào trong nhân loại bị coi là vô dụng hay không xứng đáng được sống, được nuôi dưỡng. Ở thế kỷ thứ tư, khi phê bình tỷ mỉ về hành vi tự tử, kể cả việc kết liễu mạng sống vì đau khổ, thánh Augustinô nại đến thẩm quyền Kinh Thánh và đề cập đến những lý lẽ biện minh cho việc tự tử do phái Khắc Kỷ và các phái khác đề ra. Cũng như Aristotle, thánh Augustinô coi việc tự tử là hèn nhát. Ngài cho rằng tự tử là trái với điều răn thứ năm “Chớ giết người.” Ngài còn xem việc tự tử là tội trọng vì nó loại bỏ khả năng thống hối. Khi Kitô giáo được đặt làm tôn giáo chính thức của Đế quốc La-mã sau năm 325, việc tự tử được coi là ngang hàng với tội hình sự. Ở Trung Âu và Bắc Âu, tài sản của người tự tử bị tịch biên, thi thể bị làm nhục và không được chôn trong nghĩa trang Kitô giáo.29 Từ thế kỷ 12 trở đi, thánh Tôma Aquina (1225-1274) và các thần học gia khác đi theo cách biện luận này. Thánh Tôma còn mở rộng thêm các luận cứ của quá khứ chống lại việc tự tử. Cách trình bày sâu sắc của ngài nói lên các chiều kích của Giáo Hội Công Giáo La-mã cho đến tận thời đại ngày nay. Tự tử, và hành vi mở
Như Do Thái giáo trước kia và Kitô giáo về sau, quan điểm này dựa trên tiền đề rằng Thiên Chúa hoặc các thần linh hiện hữu, rằng con người phải tuân theo các mệnh lệnh của Thần Linh, rằng một trong những mệnh lệnh này ngăn cản con người không được sớm chấm dứt cuộc sống trần gian của mình. Xem Michael M. Uhlmann, chủ biên, Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington. D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 23-26.
26

Christel Manning. “Euthanasia and Its Moral Implications” trong The Churches Speak On: Euthanasia. (Detroit: Gale Research Inc., 1991), xix. J. Gordon Melton chủ biên.
27

Đối với người Kitô hữu, theo giáo huấn của thánh Augustinô, phạm điều ác này để tránh điều ác kia là điều không bao giờ được phép. Trong biện luận của mình, thánh Augustinô cố gắng nhắm vào những lý lẽ biện minh cho việc tự tử ở thời kỳ Kitô giáo sơ khai: tự tử để tránh tội, để rũ bỏ những rắc rối cuộc đời, để chuộc lầm lỗi, để mưu tìm cuộc sống tốt đẹp hơn, để trốn tránh sự xâm phạm của người khác. Không một lý lẽ nào, theo thánh Augustinô, có thể phù hợp với giáo huấn Kitô giáo đúng nghĩa. Sđd.
28 29

Harold Y. Vanderpool, “Death and Dying: Euthanasia and Sustaining Life: I.”, tr. 556.

9

rộng của nó là an tử dành cho người đau khổ, đã và đang bị coi là trái với truyền thống Kitô giáo, trái luật tự nhiên, trái với phúc lợi của xã hội loài người, đi ngược lại tình thương Kitô giáo và, quan trọng hơn cả, đối nghịch với quyền chủ tể của Thiên Chúa đối với sự sống con người.30 Trong khi cả hai thánh Augustinô và Tôma đều lên tiếng đanh thép chống lại việc tự tử và giết hài nhi31 thì việc an tử và trợ tử chẳng phải là không phổ biến ở thời Trung Cổ. Có lẽ vì những khó khăn kinh tế và xã hội do chiến tranh, ôn dịch gây ra mà mức độ an tử gia tăng trong thời kỳ này. Hơn nữa, khi y khoa trở thành một nghề chuyên môn có tổ chức, an tử không còn là một vấn đề giữa các cá nhân và giáo hội mà thôi, nhưng đã bắt đầu liên quan đến các thầy thuốc nữa. 32 Thế nhưng, cả Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Cải Cách, đều cùng với luật các quốc gia tiếp tục lên án an tử. Tuy nhiên, trong khi nghiêm cấm việc cố ý giết chết người vô tội, ví dụ trường hợp an tử, Giáo Hội Công Giáo La-mã cho phép người bệnh nan y vô phương cứu chữa được quyền không dùng đến các biện pháp duy trì sự sống. Trong khi buộc phải dùng các phương tiện thông thường để kéo dài sự sống, thì có thể đình chỉ những biện pháp chữa trị gây căng thẳng hoặc đau đớn không tương xứng với những lợi ích nhìn thấy trước được. Chỉ định này bao gồm cả việc từ chối không dùng “những hình thức điều trị nào chắc chắn gây ra sự kéo dài sự sống một cách bấp bênh và có gánh nặng” khi thấy rằng bệnh nhân không thể thoát khỏi cái chết: Không ai có thể áp đặt cho ai buộc phải dùng đến một kỹ thuật điều trị đã được sử dụng nhưng đem lại nguy cơ hoặc gánh nặng. Sự từ chối sử dụng này không hề tương đương với việc tự tử [hay an tử]; trái lại, phải coi đó là sự chấp nhận thân phận con người hay coi đó là ý muốn tránh né việc áp dụng một qui trình y tế không tương xứng với những kết quả có thể trông mong được.33 Là thiểu số trong lòng cả một hệ thống văn hoá thịnh trị của Do Thái giáo và Kitô giáo, các nhà tư tưởng ngoài tôn giáo từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 20 cũng đã lên tiếng về việc cho phép giúp người bệnh vô phương cứu chữa được chết. David Hume (1711-1776) trong tiểu luận “Bàn về tự tử,”34 đề nghị xem xét “tất cả những
Michael M. Uhlmann, chủ biên, Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington. D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 26-28.
30 31

Sđd., tr. 21-28.

Christel Manning. “Euthanasia and Its Moral Implications” trong The Churches Speak On: Euthanasia. (Detroit: Gale Research Inc., 1991), xx. J. Gordon Melton chủ biên.
32

Xem Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên Ngôn về An Tử (Jura et Bona, 05-05-1980). Cả hai văn kiện này đều có bản tiếng Anh của Vatican City: Vatican Polyglot Press, 1980 hoặc The Pope Speaks 25 (1980): 289-296, phần IV.
33

Tom L. Beauchamp cung cấp cho chúng ta một vài điểm sách sắc sảo và súc tích về tiểu luận của Hume. Xin xem bài viết của ông, “Suicide in the Age of Reason” trong Baruch Brody, chủ biên, Suicide and Euthanasia: Historical and Contemporary Themes. (Holland: Kluwer Academic Publishers, 1989), tr. 199-206.
34

10

luận cứ chống lại việc tự tử” để cho thấy rằng việc tự tử có thể thoát khỏi “mọi lời kết tội.” Trong khi trình bày quan điểm tương tự quan điểm của Socrates và Plato, Hume khẳng định tính đạo đức của việc tự tử dựa trên cơ sở các bổn phận của cá nhân đối với xã hội. Ông biện luận rằng những ai khổ sở tới mức không còn hữu ích cho xã hội, thì không còn bị luật luân lý buộc phải kéo dài sự sống. 35 Hume còn phê bình những luận cứ chính của thánh Tôma Aquina chống lại việc tự tử và an tử. Ông cho rằng tình trạng bệnh tật, sự đau khổ dữ dội và ước muốn được chết phải được coi như là những lời lẽ rõ ràng, minh bạch nhất, mời gọi bệnh nhân ra khỏi cuộc sống.36 Suốt thế kỷ 18 và 19, các luận cứ của Hume thường bị chống đối như là quan điểm của một người Scốt-len vô đạo. Immanuel Kant (1724-1824) là một trong số những người phê phán Hume. Kant cho rằng tự tử là trái đạo đức vì nó không thể được thừa nhận mà không làm băng hoại chính tính khả thi của luân lý, tức sự hiện hữu của hữu thể có lý trí. Kant còn coi hành vi an tử tự nguyện là sự vi phạm bổn phận con người đối với Thiên Chúa, chủ tể của mọi sinh linh.37 Ở thế kỷ 19, những tư tưởng mới mẻ ủng hộ an tử xuất hiện. Có những triết thuyết xã hội nhấn mạnh rằng: cá nhân được tự do hành xử theo ý muốn để kiểm soát môi trường (như thuyết của Karl Marx và Frederick Nietzsche); có những thuyết khoa học về sự tiến hóa và sự sinh tồn của cá nhân thích hợp nhất (như thuyết của Charles Darwin và Herbert Spencer); những thuyết này ủng hộ việc thi hành an tử cho những cá thể có chất lượng kém hoặc/và ít có giá trị cho xã hội. 38 Nhưng đến mãi cuối thế kỷ 19 thì các luận cứ như của Hume mới tiến vào vòng tranh luận về an tử tự nguyện. Tương tự Hume, các nhà tư tưởng như Arthur Schopenhauer (1788-1860), Frederick Nietzsche (1844-1900) và nhiều người ủng hộ an tử khác cho rằng, con người có quyền tự quyết để chấm dứt mạng sống của mình, khi mà các chứng bệnh nan y vô phương cứu chữa triệt tiêu mọi niềm vui của bệnh nhân và sự hữu ích cho xã hội.39 Những cuộc tranh luận về luân lý tính của hành vi trợ tử dành cho bệnh nhân vô phương cứu chữa xảy ra trước hết ở Anh Quốc và Hoa Kỳ trong những thập niên cuối thế kỷ 19.40 Tuy ảnh hưởng của tôn giáo đã giảm xuống, trước sức tiến
Michael M. Uhlmann, chủ biên, Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington. D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 32-39.
35 36

Sđd., tr. 35. Sđd., tr. 39-44.

37

Christel Manning. “Euthanasia and Its Moral Implications” trong The Churches Speak On: Euthanasia. (Detroit: Gale Research Inc., 1991), xx. J. Gordon Melton chủ biên.
38

Margaret P. Battin, “Suicide” trong Warren T. Reich, chủ biên. Encyclopedia of Bioethics, Revised Edition, Vol 5. (New York: Simon & Schuster Macmillan, 1995), tr. 2444-2448, ở tr. 2446.
39

Ezekiel J. Emanuel, “The History of Euthanasia Debate in the United States and Britain.” Annals of Internal Medicine 121 (1994): 793-802; xem thêm John Paris, “Active Euthanasia.” Theological Studies
40

11

công của thế tục và vì thế hai bên có thể tranh luận với nhau được, nhưng sự bàn bạc lần này lại tập trung vào các bác sĩ, vì họ có thể chẩn đoán được sự vô phương cứu chữa với độ chính xác rất cao, và vì được trang bị chloroform gây mê và morphine, họ có thể chấm dứt đau đớn và kết liễu mạng sống một cách dễ dàng. Tuy nhiên, vào giữa thế kỷ 20, hoạt động của bác sĩ được hướng vào việc duy trì mạng sống bằng các phương tiện kỹ thuật y khoa. Nhận thấy hoạt động y tế “thoái hóa” ở nghệ thuật chăm sóc người hấp hối, Alfred Worcester cảnh báo các đồng nghiệp về việc lạm dụng các phương pháp hồi sinh hiện đại. Ông khuyến cáo rằng trong khi gạt bỏ tự nhiên và chống lại hiệu quả giải thoát đầy nhân ái của cái chết, quá nhiều người trong giới chúng ta cảm thấy có bổn phận phải làm hết sức mình. Họ cần phải hiểu biết nhiều hơn.41 Những lời cảnh báo như thế thường chẳng được lắng nghe khi mà những nỗ lực kéo dài mạng sống đã ngày càng lớn mạnh và ngày càng phức tạp về mặt công nghệ. Đầu thập niên 1900 có kỹ thuật tuần hoàn nhân tạo bằng xoa bóp tim và tiêm epinephrine vào tim. Nhiều loại máy thở được sử dụng trong thập niên 1930. Để chống dịch bệnh bại liệt ở đầu thập niên 1950, máy thở phổi thép trở nên phổ biến. Như đã nói trên, việc cho phép bệnh nhân vô phương cứu chữa chết đi bằng cách không dùng đến các biện pháp kéo dài sự sống là phù hợp với truyền thống Do Thái giáo, Công Giáo và Tin Lành. Ví dụ, các giám mục tại Washington và Oregon chủ trương rằng: “Trong những hoàn cảnh thích hợp, quyết định không dùng đến các phương tiện kéo dài sự sống có thể là phù hợp với luân lý Công giáo và phải được y khoa cũng như luật pháp tôn trọng.”42 Quan điểm này cũng phù hợp với nguyên tắc luân lý hàng đầu của y khoa sau năm 1970: tôn trọng những chọn lựa tự quyết của bệnh nhân. Nó cũng phù hợp với những nguyên tắc về tự do và sự riêng tư cá nhân vốn có sẵn trong luật pháp AnhMỹ. Ví dụ, hầu như mọi tiểu bang của Hoa Kỳ đã long trọng công nhận rằng, bệnh nhân có quyền từ chối sự điều trị, bao gồm cả việc dưỡng sinh căn bản (tiếp thức ăn, tiếp nước) cần thiết cho sự sống.43 Và hầu hết các tiểu bang đều đã thông qua luật về các chỉ thị định sẵn44 như “Di Chúc Sống” và “Giấy Ủy Quyền Chỉ Thị Y
53 (1992): 113-126.
41

Harold Y. Vanderpool, “Death and Dying: Euthanasia and Sustaining Life: I.”, tr. 559.

Các giám mục Oregon và Washington, “Living and Dying Well.” Origin 21 (1991): 350. Trích dẫn trong John Paris, “Active Euthanasia.” tr. 123.
42

Theo Đạo luật liên bang “Bệnh nhân tự quyết” có hiệu lực vào ngày 01-12-1991. Luật này yêu cầu đội ngũ y bác sĩ phải tôn trọng quyền của bệnh nhân - dù còn tỉnh táo hay không - khi họ muốn từ chối điều trị y tế. Xem John Paris, “Active Euthanasia.” Theological Studies 53 (1992): 113. Đây cũng phù hợp với giáo huấn của Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII: “rằng không bắt buộc phải dùng phương tiện ngoại thường để kéo dài mạng sống cho người hấp hối nếu nó là gánh nặng cho gia đình đến nỗi lương tâm không thể áp đặt cho họ được.” Xem Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII “The Prolongation of Life” (Việc Kéo Dài Mạng Sống), diễn từ gửi Đại hội Quốc Tế Chuyên Viên Gây Mê, 24-11-1957, trong The Pope Speaks 4 (1957).
43

Scott B. Rae và Paul M. Cox, Bioethics: A Christian Approach in a Pluralistic Age. (Michigan: Wm. B. Eerdmans Publishing Co., 1999), tr. 235.
44

12

Tế” cho phép bệnh nhân chỉ định người giám hộ thay mặt mình mà quyết định cho việc điều trị được tiếp tục hay không. Cơ sở luật pháp cho việc từ chối điều trị phát xuất từ một quyền mà luật tập tục đã công nhận từ lâu, là con người có quyền được từ chối sự can thiệp đến thể xác nếu không thấy ưng thuận.45 Vào khoảng đầu thế kỷ 20, quan niệm về quyền tự quyết đối với môi trường xung quanh đã kết hợp với thuyết tiến hóa để cho ra đời chủ trương sử dụng quyền lực của nhà nước để triệt tiêu người đau yếu hầu tạo ra một quốc gia hoàn hảo. Ở thập niên 1920, quan niệm về “Lebensunwerten” (đời sống không đáng sống) lan rộng khắp Châu Âu và được chính phủ nước Đức chính thức công nhận. Sau này, nó là cơ sở lý luận cho những hành vi cực kỳ tàn bạo của Đức Quốc Xã chống lại những người thiểu năng về tâm-sinh-lý và những người được coi là thuộc “các chủng tộc hạ đẳng.”46 Trước khi diễn ra cuộc tàn sát hàng triệu người Do Thái và những người được coi như là cặn bã của xã hội, như giới đồng tính và dân Gypsy, chính sách này đã dẫn đến việc tiêu diệt khoảng 100.000 người Đức gốc Aryan gồm cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em chỉ vì họ bị tật nguyền về tâm lý và/hoặc thể lý. Tất cả đều bị giết chết nhân danh an tử. Các đồ tể Đức Quốc Xã đã gây ảnh hưởng đến cái nhìn đối với an tử của cả một thế hệ. Theo Derek Humphry, nó “gây cản trở nhiều cho bước tiến tri thức cũng như bước tiến pháp lý của phong trào an tử” trong các nước nói tiếng Anh.47 Nhiều xã hội ngoài Tây phương chấp nhận việc giết hài nhi và việc giết người vì thương xót trong một vài hoàn cảnh, thế nhưng quốc gia công nghiệp hóa duy nhất ở Tây phương có an tử được thi hành rộng rãi và được xã hội chấp nhận chính là Hà Lan.48 Tuy nhiên, việc an tử vẫn còn là vi phạm hình sự chiếu theo điều 293 49

Michael M. Uhlmann, chủ biên, “Introduction.” Last Rights? Assisted Suicide and Euthanasia Debated. (Washington. D.C.: Ethics and Public Policy Center, 1998), tr. 3.
45 46

John Paris, “Active Euthanasia.” Theological Studies 53 (1992): 116. Sđd.

47

Tuy bất hợp pháp, nhưng an tử chủ động được tạm chấp nhận ở Hà Lan, nơi mà bác sĩ kết liễu mạng sống của bệnh nhân khi có một số điều kiện cụ thể. Để biết thêm chi tiết, xin xem Charles T. Canady, “Physician-Assisted Suicide and Euthanasia in the Netherlands: A Report to the House Judiciary Subcommittee on the Constitution.” Issues in Laws & Medicine 14 (1988): 301-324, ở tr. 305; Bert Gordijn và Rien Janssens, “New Developments in Dutch Legislation Concerning Euthanasia and Physician-Assisted Suicide.” Journal of Medicine and Philosophy 26 (2001): 299-309; Paul Marx, O.S.B., “Euthanasia Worldwide.” Linacre Quarterly 57 (1990): 30.
48

Điều 293: “Người nào tước đoạt mạng sống người khác cách cố ý thì bị phạt tù nhiều nhất là 12 năm hoặc bị phạt tiền mức thứ năm [chừng 50.000 Mỹ kim].” Xem Marian H. N. Driesse và các tác giả khác, “Euthanasia and the Law in the Netherlands.” Issue in Law & Medicine 3 (1988): 385-386, ở tr. 386.
49

13

và 294 50 Bộ Luật Hình Sự nước Hà Lan:51 Ai trợ giúp người khác tự tử (kể cả cung cấp phương tiện tự tử) và/hoặc kết liễu mạng sống người khác, cho dù người ấy có yêu cầu một cách nghiêm túc và minh nhiên, thì có thể bị phạt tù tới 12 năm. 52 Tuy nhiên, dù không hề cải cách điều luật này, nước Hà Lan vẫn tạo điều kiện cho các bác sĩ kết liễu mạng sống của những bệnh nhân đau đớn và vô phương cứu chữa.53 Bác sĩ có thể trốn thoát công tố nhà nước nếu họ hành xử đúng theo các phạm trù được triển khai trong luật và được Bộ Y Tế Hà Lan đặt thành những hướng dẫn rõ ràng.54 Chính phủ Hà Lan đã quyết định rằng các bác sĩ kết liễu mạng sống theo yêu cầu của bệnh nhân thì không bị phạt,55 miễn là họ làm theo đúng yêu cầu của

Điều 294 nghiêm cấm việc trợ tử: “Người nào cố ý thúc đẩy người khác tự tử, trợ giúp người ấy tự tử hoặc cung cấp phương tiện thì bị phạt tù, nếu việc tự tử xảy ra, nhiều nhất là 3 năm hoặc phạt tiền mức thứ tư [chừng 12.500 Mỹ kim].” Sđd.
50

Từ năm 1886, Bộ Luật Hình Sự nước Hà Lan đã nghiêm cấm an tử và trợ tử. Điều 293 và điều 294 vẫn không hề thay đổi từ năm 1886. Những điều pháp luật nghiêm cấm an tử và trợ tử chưa bao giờ được hủy bỏ hoặc tu chính; tuy nhiên các tòa án Hà Lan, hợp tác với y khoa, đã tạo ra một môi trường, trong đó, các bác sĩ thi hành cả an tử lẫn trợ tử mà lại được miễn trừ hình phạt, miễn là phải nghiêm nhặt tuân theo văn bản chính thức “Hướng dẫn về an tử.” Xem Charles T. Canady, “Physician-Assisted Suicide and Euthanasia in the Netherlands: A Report to the House Judiciary Subcommittee on the Constitution.” Issues in Laws & Medicine 14 (1988): 301-306; xem thêm Richard Fenigsen, “The Netherlands: New Regulations Concerning Euthanasia.” Issues in Laws & Medicine 9 (1993): 167-171, ở tr. 167; Brian Stoffell, “Voluntary Euthanasia, Suicide and Physician-Assisted Suicide” trong Helga Kuhse và Peter Singer, chủ biên, A Companion to Bioethics. Malden, MA: Blackwell, 1998, tr. 277; xem thêm Martin McKeever, C.Ss.R., “One Last Right? The Politics and Ethics of Liberalizing Euthanasia.” Studia Moralia XXXIX/2 (tháng 12-2001): 555-556, nhất là các cước chú 3 & 4.
51

Harold Y. Vanderpool, “Death and Dying: Euthanasia and Sustaining Life: I” trong Warren T. Reich, chủ biên. Encyclopedia of Bioethics, Revised Edition, Vol 5. (New York: Simon & Schuster Macmillan, 1995), tr. 561; Sjef Gevers, “Physician-Assisted Suicide: New Developments in the Netherlands.” Bioethics 9 (1995): 309-312, ở tr. 309.
52

Một cuộc nghiên cứu toàn quốc cho thấy rằng 54% các bác sĩ Hà Lan đã thi hành an tử, rằng các bác sĩ, theo yêu cầu, đã chấm dứt sự sống cho 1,8% công dân Hà Lan bằng các thứ thuốc chết người. Xem Paul Van Der Mass và các tác giả khác, “Euthanasia and Other Medical Decisions Concerning the End of Life.” The Lancet 338 (1991): 669-674.
53

Xem Charles T. Canady, “Physician-Assisted Suicide and Euthanasia in the Netherlands: A Report to the House Judiciary Subcommittee on the Constitution.” Issues in Laws & Medicine 14 (1988): 301-306.
54

Xem John Keown, “Euthanasia in the Netherlands: Sliding Down the Slippery Slope?” trong John Keown, chủ biên, Euthanasia Examined. United Kingdom: Cambridge University Press, 1995, tr. 261296, nhất là 261, 263.
55

14

các phạm trù56 và tuân thủ các hướng dẫn nghiêm nhặt.57 Các hướng dẫn này, sau có chỉnh lý,58 có thể tóm tắt như sau: 1. Yêu cầu an tử phải do chính bệnh nhân đưa ra và phải hoàn toàn tự do, tự nguyện. 2. Yêu cầu của bệnh nhân phải được suy xét kỹ lưỡng và có tính vững vàng, nhất mực. 3. Bệnh nhân phải đang đau khổ (không nhất thiết về mặt thể lý) không thể chịu đựng được và không có triển vọng giảm bớt sự đau đớn. 4. An tử phải là phương sách cuối cùng. Các phương sách giảm đau khác đã được xem xét và nhận thấy là không đủ. 5. An tử phải do bác sĩ thực hiện. 6. Bác sĩ phải tham khảo ý kiến một đồng nghiệp có kinh nghiệm trong lãnh vực này.59 Những hướng dẫn trên đây đã được phê chuẩn và chi tiết hóa bởi Hiệp Hội Y Tế Hoàng Gia Hà Lan, Ủy Ban Nhà Nước Đặc Trách An Tử và Chính Phủ Hà Lan.60 Sự miễn trừ công tố chỉ áp dụng cho các bác sĩ. Do đó, bác sĩ nào thi hành an
Bộ Y Tế Hà Lan gọi đây là “các phạm trù chăm sóc y tế thích đáng,” theo đó bệnh nhân phải ở mức nan y vô phương cứu chữa, phải chịu đau đớn ngoài sức chịu đựng và phải nêu yêu cầu rõ ràng và tự nguyện rằng: mình muốn chấm dứt mạng sống. Ngoài ra, bệnh nhân và bác sĩ phải đồng ý với nhau là sự đau đớn không thể chịu nổi; các biện pháp giảm đau khác đã cạn kiệt; đã có hội ý với ít nhất một bác sĩ riêng biệt khác; Vị bác sĩ được hỏi ý kiến đã khám bệnh nhân và đã lập tờ nhận xét về những yêu cầu cho việc “chăm sóc thích đáng” nói trên; đã thi hành việc kết liễu mạng sống một cách chính xác về mặt y khoa. Các dữ kiện này phải được ghi lại và công việc phải được tường trình cho công tố viên nhà nước. Xem Martin McKeever, C.Ss.R., “One Last Right? The Politics and Ethics of Liberalizing Euthanasia.” Studia Moralia XXXIX/2 (tháng 12-2001): 555. Xem thêm Henk Jochemsen, “Legalization of Euthanasia in the Netherlands.” Issues in Laws & Medicine 14 (1988): 285-287, ở tr. 285-6.
56

Năm 1986, Hiệp hội Y tế Hà Lan hợp tác với Hiệp hội Điều Dưỡng Viên lập ra văn bản chính thức ‘Hướng dẫn về an tử.’ Những hướng dẫn chính thức này đặt nền tảng cho việc thi hành an tử và trợ tử hiện nay ở Hà Lan. Bản Hướng dẫn liệt kê 5 phạm trù mà bác sĩ phải đáp ứng, trước khi bắt tay vào việc an tử hoặc trợ tử. Thứ nhất, phải có yêu cầu tự nguyện của bệnh nhân. Thứ hai, yêu cầu phải được bệnh nhân suy xét cẩn thận. Thứ ba, bệnh nhân phải “có ý nhất quyết muốn được chết.” Thứ tư, đau khổ của bệnh nhân là không thể chấp nhận được. Thứ năm, bác sĩ phải hỏi ý kiến ít nhất một bác sĩ khác. Xem Charles T. Canady, “Physician-Assisted Suicide and Euthanasia in the Netherlands: A Report to the House Judiciary Subcommittee on the Constitution.” Issues in Laws & Medicine 14 (1988): 301-302.
57

Xem Charles T. Canady, “Physician-Assisted Suicide and Euthanasia in the Netherlands: A Report to the House Judiciary Subcommittee on the Constitution.” Issues in Laws & Medicine 14 (1988): 302; xem thêm J. C. Willke, M.D và các tác giả khác, Assisted Suicide and Euthanasia: Past and Present. (Cincinati, OH: Hayes Publishing Co., Inc., 1998), tr. 88.
58

J. Keown, “Some Refletions on Euthanasia in the Netherlands” trong L. Gormally, chủ biên, Euthanasia, Clinical Practice and the Law. (London: The Linacre Centre, 1994), tr. 197.
59

Xem Kenneth R. Mitchell và các tác giả khác, Bioethics and Clinical Ethics for Health Care Professionals, 2nd Edition. (Riverwood, N.S.W: Ligare Pty Ltd., 1999), tr. 269.
60

15

tử chủ động tự nguyện là phạm luật.61 Tuy nhiên, trong thực tế, họ sẽ không bị truy tố nếu tỏ ra là đã tuân thủ các hướng dẫn nghiêm nhặt. Lý do là vì ngày 10-04-2001 Thượng Viện Hà Lan đã phê chuẩn dự luật mang tên “Kiểm soát việc chấm dứt mạng sống theo yêu cầu bệnh nhân và trợ giúp tự tử.”62 Sau khi đã được Hạ Viện phê chuẩn vào ngày 28-12-2000.63 Cốt lõi của luật này là: trong một số điều kiện cụ thể, bác sĩ có thể thực hiện an tử hoặc trợ tử mà không bị truy tố. 64 Trong khi đó, nếu không có yêu cầu của bệnh nhân thì người thực hiện mắc tội sát nhân. Tóm lại, những điều kiện này đòi hỏi rằng phải có yêu cầu rõ ràng và nhất mực của bệnh nhân, để không có nghi ngờ gì về ý muốn được chết của bệnh nhân; rằng quyết định của bệnh nhân phải được suy xét kỹ, có tự do và được thời gian chứng thực là chắc chắn, ổn định; rằng những phương án chăm sóc khác đã cạn kiệt hoặc bị bệnh nhân từ chối; rằng bác sĩ có tham khảo ý kiến một bác sĩ khác. 65 Sự cho phép pháp lý gần như trọn vẹn của Hà Lan về hành vi an tử, dựa trên truyền thống khoan dung có bề dày bốn thế kỷ và dựa trên quan niệm thông thường ở đời, là con người chịu trách nhiệm về cuộc sống và cái chết của mình. Linh Mục Trần Mạnh Hùng C.SsR., S.T.D L.J. Goody Bioethics Centre 39 Jugan Street, Glendalough, WA. 6016. AUSTRLIA. Email: phtran-ljgbc@iinet.net.au

61

John Paris, “Active Euthanasia.” Theological Studies 53 (1992): 123.

Thứ Ba ngày 10-04-2001, kết quả bỏ phiếu ở Thượng Viện là đại đa số (48 thuận và 28 chống) nghiêng về phía ủng hộ việc hợp pháp hóa an tử dưới những điều kiện chặt chẽ. Như thế, Hà Lan đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa an tử và trợ tử. Xem hãng tin Reuters, “Dutch Legalize Euthanasia.” http://www.cnn.com/2001/WORLD/europe/04/10/netherlands.euthanasia.03/index.html
62

104 phiếu thuận, 40 phiếu chống. Xem Bert Gordijn và Rien Janssens, “New Developments in Dutch Legislation Concerning Euthanasia and Physician-Assisted Suicide.” Journal of Medicine and Philosophy 26 (2001): 299-309, ở tr. 306. Như thế, sau ngày thứ Ba 10-04-2001, Hà Lan trở thành nước đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa an tử và trợ tử và cho phép cả hai việc này. Dù vậy, luật chỉ áp dụng cho những bệnh nhân vô phương cứu chữa, bị đau đớn khủng khiếp không thể giảm bớt được. Nói cách khác, chỉ áp dụng cho những trường hợp ngoại lệ, hiếm hoi.
63

Martin McKeever, C.Ss.R., “One Last Right? The Politics and Ethics of Liberalizing Euthanasia.” Studia Moralia XXXIX/2 (tháng 12-2001): 555.
64

John Paris, “Active Euthanasia.” Theological Studies 53 (1992): 123. Xem thêm Kenneth R. Mitchell và các tác giả khác, Bioethics and Clinical Ethics for Health Care Professionals, 2nd Edition. (Riverwood, N.S.W: Ligare Pty Ltd., 1999), tr. 269.
65

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful