You are on page 1of 13

PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CẦM QUYỀN ĐỐI VỚI NHÀ NƯỚC TẠI

MỘT SỐ NƯỚC TBCN
Ngô Huy Đức (4/2002)
Viện Chính trị học

Bài viết này nhằm xem xét một vấn đề chính: các đảng chính trị cầm quyền lãnh đạo
nhà nước như thế nào trong nhà nước pháp quyền phương Tây. Sự nan giải tổng quát của lựa
chọn cách tiếp cận có thể thấy rõ khi đặt câu hỏi “lãnh đạo là nghệ thuật hay là khoa học?”.
Nếu là “nghệ thuật” thì cái đặc thù [cá nhân người lãnh đạo] sẽ là nhân tố chính trong sự lãnh
đạo. Mặc dù, không ai phủ nhận tính khoa học trong sự lãnh đạo, việc luôn tính đến “tính
nghệ thuật” (tức các nhân tố có tính chủ quan của cá nhân, nhóm cá nhân lãnh đạo một đảng)
trong nghiên cứu này là cần thiết, để hạn chế các kết luận có thể thái quá về “các qui luật
thép có tính khách quan” trong lĩnh vực chính trị nói riêng, và ngay cả trong mọi lĩnh vực
hoạt động xã hội nói chung.
Ở đây có 3 khái niệm trung tâm cần đề cập ngắn gọn trước khi được dùng xuyên suốt
trong bài này: i) "nhà nước pháp quyền", ii) "đảng cầm quyền", và ii) "sự lãnh đạo".
Các nhà nước pháp quyền phương Tây được xây dựng trên cơ sở lấy hiến pháp (cũng
như các đạo luật hợp hiến khác) làm quy tắc hành xử chính trị tối cao. Vấn đề pháp quyền
và dân chủ, tuy là hai vấn đề khác nhau, thường lại hay được xem xét cùng nhau và nếu
không cẩn thận, dễ bị đồng nhất hoá một cách vô thức, như đã thấy trong nhiều nghiên cứu ở
ta hiện nay. Pháp quyền là vấn đề về hình thức tổ chức nhà nước. Hình thức này có thể
dùng để chuyển tải nội dung dân chủ hay cũng có thể phản dân chủ.
Hiến pháp các nước phát triển phương Tây thông thường được xây dựng trên nguyên
tắc tam quyền phân lập, và vì vậy, các quyền lập pháp, hành pháp, và tư pháp có tính độc lập
tương đối cao hơn so với các nước không theo nguyên tắc này. Mức độ độc lập này khác
nhau ở các thiết kế HTCT khác nhau, cũng như phụ thuộc vào văn hoá chính trị, thủ lĩnh
chính trị v.v. Trong sách báo nước ta, đảng cầm quyền (ở các nước phương Tây) được sử
dụng theo cả 2 nghĩa: i) đảng thắng cử ở cuộc bầu cử quốc hội (nắm quyền lập pháp) và ii)
đảng thắng cử trong bầu cử tổng thống (nắm quyền hành pháp). Trong bài này, đảng cầm
quyền được dùng với nghĩa thứ hai - tức là đảng nắm quyền hành pháp (thủ tướng, tổng
thống, thống chế .v.v.). Trong các chế độ nghị viện thì nghĩa 1 cũng trùng với nghĩa 2 vì
đảng thắng cử ở quốc hội sẽ thường nắm luôn chức thủ tướng, trừ một số trường hợp đặc
biệt.
Nội hàm chính của sự lãnh đạo ở đây được hiểu là phương thức đạt được các mục tiêu
chính trị - kinh tế - xã hội thông qua việc biến cương lĩnh, đường lối, chính sách của đảng
thành chính sách của nhà nước. Cách tiếp cận này lấy nội dung làm trọng tâm, và vì vậy,
một đảng có thể lãnh đạo (về hình thức) vẫn có thể là bị lãnh đạo (về nội dung) vì bị chi phối
bởi các thế lực chính trị ngoài đảng khác hay một nhóm đảng viên biến chất (Trường hợp
Liên xô?). Cần phải nói ngay rằng, vấn đề "đảng lãnh đạo nhà nước" hầu như vắng bóng
trong sách báo phương Tây do đặc điểm thiết kế hệ thống chính trị ở đó. Tuy nhiên, nội hàm
của sự lãnh đạo này, như trên đã đề cập, chắc chắn là một vấn đề nghiên cứu lớn dù có thể ẩn
giấu dưới các ngôn từ khác nhau. Các nghiên cứu về đảng chính trị ở phương Tây thông
thường nghiên cứu 3 khía cạnh chính (do nhận thức về 3 chức năng chính của đảng chính trị)
: đảng trong tổ chức lực lượng chính trị, đảng trong bầu cử, và đảng trong chính phủ. Chủ đề
thứ 3 “đảng trong chính phủ” là gần nhất với mục đích của bài này nhưng lại mang những
nội dung rất khác vì các điều kiện và môi trường về lịch sử, văn hóa, pháp lý, thể chế chính
trị của HTCT tại các nước phương Tây. (Xem chương 8 trong Schmidt, 2000). Phần lớn các
nghiên cứu về đảng chính trị này đều tập trung vào chủ đề thứ hai - cũng là mục đích chính
của mọi đảng, đó là “làm thế nào để nhận được nhiều phiếu bầu nhất”.
Như sẽ phân tích, không dễ dàng chỉ ra các hình thức, hay biện pháp cụ thể của sự lãnh
đạo của đảng cầm quyền đối với nhà nước. Một trong các lí do đó là sự đánh đồng giữa “ý
chí chung của đảng” (rất khó xác định như phần lịch sử phát triển của đảng chính trị sẽ đề
cập) với “ý chí của nhóm” các đảng viên cao cấp, đang giữ các cương vị quan trọng trong bộ
máy hành pháp. Khi đó sự lãnh đạo của đảng là mặc nhiên vì việc các đảng viên của đảng
đang nắm giữ các cương vị trọng yếu đó được coi là điều kiện đủ. Điều này sẽ không nhất
thiết đúng, đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi các đảng chính trị ở phương Tây chủ yếu là
các đảng mở, và các đảng viên lãnh đạo (đặc biệt ở Mỹ) ngày càng dựa ít hơn vào đảng để
thắng cử. Điều đó cho thấy không những ý chí chung của đảng (mà nhiều khi không thể xác
định được rõ ràng) có ảnh hưởng ngày càng giảm đối với các đảng viên lãnh đạo, mà ngay
bản thân khái niệm “ đảng chính trị” đã có những biến chuyển quan trọng, và cũng cần nhận
thức lại. Các trường hợp các thượng nghị sỹ Mỹ, Úc, Anh v.v sẵn sàng từ bỏ đảng của mình
khi bất đồng chính kiến cá nhân với lãnh đạo đảng (tranh cử với tư cách cá nhân trung lập),
hay các cuộc bỏ phiếu chéo (các nghị sỹ đảng này bỏ phiếu cho chính sách của đảng kia) là
các quan sát minh chứng cho sự lỏng lẻo trên. Do vậy, việc nhìn nhận lại lịch sử các đảng
chính trị và nhà nước pháp quyền từ góc độ nghiên cứu về sự lãnh đạo của đảng là cần thiết.
Nếu không, các cơ chế lãnh đạo sẽ khó có thể gọi là “cơ chế” theo nguyên nghĩa vì nó không
mang tính cụ thể, xác định, mà phụ thuộc rất nhiều vào các điều kiện cụ thể của quốc gia đó
từ thiết kế hệ thống chính trị, văn hoá chính trị, tổ chức đảng, kỷ luật đảng v.v.
Để phân tích vấn đề trên, bài này sẽ được trình bày làm 3 phần chính. Hai phần đầu đề
cập hai phạm trù chính (đảng chính trị và nhà nước pháp quyền), cũng như các khái niệm và
cách tiếp cần được sử dụng để phân tích trong bài này. Phần 3 cố gắng khái quát các cách
thức mà đảng cầm quyền thực thi các mục tiêu của mình khi kiểm soát chính phủ (đảng cầm
quyền), đi sâu vào các yếu tố ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của đảng. Phần kết luận tóm tắt các
kết quả phân tích.

I -Khái luận về đảng chính trị
Có nhiều định nghĩa khác nhau về đảng, trong bài này, đảng chính trị được hiểu là các
nhóm chính trị được tổ chức để chủ yếu nhằm giành quyền lực nhà nước.
Mấy hàm ý quan trọng của định nghĩa trên: i) tổ chức đó có thể phi pháp hoặc hợp
pháp, có thể tự gọi mình là đảng, hay nhóm, câu lạc bộ v.v, có thể gồm rất nhiều hoặc không
nhiều thành viên; ii) tổ chức đảng có thể rất lỏng lẻo hoặc chặt chẽ, iii) Với các đảng “thật
sự”, mục tiêu là giành quyền lực nhà nước, bởi vì đối với rất nhiều đảng quyền lực nhà nước
không phải là mục tiêu chủ yếu. Đảng Tự do ở Anh là trương hợp như vậy, hay các đảng
xanh ở nhiều nước, chủ yếu nhắm vào tạo áp lực chính sách về môi trường, thông qua mặc
cả chính trị. Tại nhiều nước châu Âu (đặc biệt Bắc Âu), thông thường chỉ có một số ít đảng
có mục tiêu giành quyền lực nhà nước, đa số các đảng khác có tính chất nhóm áp lực (gây áp
lực chính sách về một số vấn đề tương đối cụ thể). Với định nghĩa này, nhiều đảng không
được coi là đảng chính trị trong bài này.

I.1 Lịch sử xuất hiện
Các hình thức đảng chính trị phương Tây như chúng ta thấy hiện nay xuất hiện vào
cuối thế kỷ 18 và phát triển mạnh mẽ suốt thế kỷ 19, cùng với sự phát triển của nền dân chủ
tư sản, đặc biệt là sự mở rộng quyền bầu cử, ứng cử của dân chúng. Nếu lấy quá trình này ở
Anh làm điển hình có thể thấy đảng chính trị phát triển đầu tiên từ các nhóm nhỏ các nhà quí
tộc và giới thượng lưu, sau đó bao gồm cả các nhóm nhà tư sản và các nhân vật tinh hoa
khác, và cuối cùng xuất hiện các đảng chính trị dựa trên sự tham gia của quần chúng.
Trong suốt thế kỷ XX, các đảng chính trị xuất hiện ở hàng loạt các nước trên toàn thế
giới, đặc biệt là ở châu Phi, châu Á. Các đảng lớn đôi khi có cơ sở từ các nhóm sắc tộc, bộ
lạc truyền thống như ở một số nước châu Phi, hay cơ sở tôn giáo như một số nước châu Á.
Ngoài ra, một số đảng có các thành viên chủ yếu từ giới quân sự. Sự đa dạng về đảng phái
như vậy cho thấy việc khái quát những đặc điểm chung của các đảng chính trị nhiều khi chỉ
là sự khái quát của một số ít đảng tại các nước phát triển phương Tây. Nói như vậy, để cảnh
báo các khái quát chỉ dựa vào các nước TBCN phát triển phương Tây.

2
Tuy nhiên, sự khái quát như vậy là có ích vì các nước này đã thể hiện được tính ổn
định chính trị và hiệu quả điều hành nhà nước trong thời gian dài, và vì vậy kinh nghiệm của
họ là có ý nghĩa và cần nghiên cứu. Hơn nữa, Mỹ và châu Âu là hai nơi có nền dân chủ tư
sản lâu đời nhất. Sự đa dạng cả theo thời gian và không gian của chính trị các khu vực này
cũng như sự sẵn có dữ liẹu cho sự nghiên cứu của chúng khiến các nghiên cứu tập trung vào
khu vực này.
Sự phát triển về cơ sở ủng hộ, như trên đề cập, tất nhiên không thay đổi bản chất giai
cấp của một đảng, nhưng ít nhất cũng thay đổi phạm vi và tính chất của các hình thức biểu
hiện bản chất đó theo hướng ngày càng tinh vi hơn. Trong xã hội hiện đại, vì quyền lực
chính trị của một giai cấp chỉ có thể thực hiện được dưới cái vỏ bọc là quyền lực công cộng -
quyền lực nhà nước, mà sự giành quyền lực này là chủ yếu thông qua bầu cử, thì những sự
thay đổi này cũng đã có những hệ quả quan trọng. Các thiết kế hệ thống chính trị, đặc biệt
là về 3 tiẻu hệ thống bầu cử, phân quyền, và phân cấp, đã có những tác động quan trọng lên
hệ thống đảng chính trị, cũng như bản thân sự phát triển nội tại của từng chính đảng. Và
điều này cũng qui định các đặc điểm trong phương thức lãnh đạo của đảng trong mỗi quốc
gia như sẽ được đề cập ở phần 3 bài này.

I.2 Các kiểu đảng chính trị
Tuỳ theo tiêu chí, có các phân loại đảng khác nhau như đảng cánh tả - cánh hữu, dân sự
- quân sự, v.v. Đối với mục đích nghiên cứu cụ thể của bài này, có thể lấy cơ sở quần chúng
(cũng chính là tiêu chuẩn đảng viên của đảng) làm tiêu chí để phân loại.
Theo tiêu chí này, có thể thấy có 3 loại chính là: 1) đảng xây dựng trên cơ sở một cá
nhân (như đảng của Hít le, hay đảng Một dân tộc của Úc hiện nay), tạm gọi là đảng cá nhân;
2) đảng xây dựng trên cơ sở một nhóm người tích cực được chọn lựa, có những phẩm chất
nhất định (như các đảng cánh tả ở nhiều nước), tạm gọi là đảng nhóm; 3) đảng xây dựng trên
cơ sở mở, bất kỳ ai ủng hộ đảng (bỏ phiếu) đều có thể trở thành đảng viên (như rất nhiều
đảng tư sản hiện nay ở Mỹ, Anh, Đức v.v. ) Tạm gọi là đảng mở.
Các qui định hiến pháp và hệ thống bầu cử có ảnh hưởng mạnh đến kiểu đảng. Công
đảng ở Anh, đảng Cộng hoà ở Mỹ hay Đảng Dân chủ Tự do ở Nhật đều có thời kỳ là các
đảng nhóm. Về sau, trở thành các đảng mở chính vì do các thay đổi môi trường chính trị và
các qui định của hệ thống bầu cử. Xét từ bình diện lịch sử, việc mở rộng quyền bầu cử và
ứng cử đến mọi tầng lớp, cũng như việc đại đa số người dân coi thông qua bầu cử là con
đường hợp pháp giành chính quyền, là hai yếu tố quan trọng nhất biến các đảng nhóm thành
các đảng mở.
Việc phân loại như trên sẽ cho thấy các đặc điểm về tổ chức và kỷ luật đảng của các
loại đảng này, mà đây cũng là các yếu tố quan trọng khi phân tích về lãnh đạo của các đảng
cầm quyền tại các nước tư bản.

I.3 Các hệ thống Đảng
Vì mục tiêu của các đảng chính trị là nắm giữ quyền lực nhà nước, tiêu chí về tính cạnh
tranh giữa các đảng phái chính trị là một tiêu chí thích hợp để phân loại các hệ thống đảng.
Theo đó, có thể phân ra làm ba loại chính: 1) Một đảng hoặc một đảng nổi trội (như một số
nước XHCN, Singapore, Mỹ trước nội chiến, Nhật ), 2) Hai đảng hoặc hai đảng nội trội
(Anh, Mỹ v.v), 3) Nhiều đảng (Ý, Thuỵ điển v.v).
Sự phân loại như vậy tất nhiên cũng chỉ là tương đối vì sự nhiều ít đảng trong một số
trường hợp không nhất thiết nói lên sự khác biệt về tính cạnh tranh giữa các đảng. Hơn thế
nữa, như các nghiên cứu của chúng ta cho thấy, sự đa đảng (hay một đảng) không nhất thiết
hàm ý đa nguyên (hay nhất nguyên) chính trị. Trong nhà nước pháp quyền tư sản phương
Tây, sự qui định của luật pháp có những ý nghĩa quan trọng đối với sự hình thành hệ thống
đảng phái, đặc biệt là các qui định hệ thống bầu cử. Nếu hệ thống bầu cử là theo đa số (first-
pass-the post) thì thông thường, với thời gian sẽ hình thành hai đảng nổi trội. Hệ thống bầu
cử là theo tỷ lệ (proportional representative) sẽ tạo điều kiện cho hệ thống nhiều đảng, và sự

3
cần thiết tìm kiếm liên minh cầm quyền giữa các đảng này, mà mẫu số chung của chúng cuối
cùng cũng qui về ý thức hệ, quan điểm chính trị, phát triển xã hội, quyền lợi giai cấp, nhóm
v.v.

II -Khaí luận về nhà nước pháp quyền

II.1 Lược sử khái niệm
Đối với phương Tây, tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã có ít nhất tử thời cổ Hy lạp,
đặc biệt trong các tác phẩm của Arixtot (như "Chính trị", "Hiến pháp Athen"). Ông dùng từ
politeia để chỉ hiến pháp thời đó. Mặc dù nội hàm của từ này cũng chưa được ông xác định
nhất quán, nhưng nghĩa chung nhất của nó là "cách cấu trúc các cơ quan của một polis (tức
nhà nước)". Sự phân loại nhà nước của ông (3 loại tốt và 3 loại xấu) chính là sự phân loại
politeia. 3 loại tốt (monarchy, aristocracy, và politeia) đều có chất chung là vì lợi ích của
toàn polis, nhưng khác nhau về lượng: 1 người, một nhóm, hay toàn bộ công dân có quyền
cai trị. Tương tự như vậy, 3 loại xấu là : tyranny, oligarchy, và democracy có cùng chúng
chất là vì lợi ích cá nhân dù có khác nhau về lượng (độc quyền, một nhóm hay toàn dân nắm
quyền). Như đã thấy, nội hàm của các khái niệm này ngày nay đã khác nhiều so với Arixtot.
Điều cần nói ở đây là về mặt lượng của sự tập trung quyền lực (và có lẽ về tiêu chí kỹ thuật
nói chung), 3 loại tốt là giống như 3 loại xấu. Chúng khác nhau về chất.
Ông nhấn mạnh là sự cai trị bằng pháp luật (rule of law) là cách tốt hơn sự cai trị theo
các qui tắc của cá nhân (rule of individuals). Ngay cả trong trường hợp người cai trị đó là
người tốt nhất. Bởi vì, "người cai trị bằng pháp luật sẽ có thể được coi là cai trị chỉ theo
Chúa và lý chí, còn người cai trị bằng qui tắc cá nhân đã thêm vào đó các yếu tố của quỷ dữ,
vì khát vọng cá nhân chính là quỉ dữ, sự đam mê sẽ làm hư hỏng trí tuệ của người cầm quyền
kể cả những người tốt nhất". Tuyên ngôn này của ông tất nhiên thuộc về triết học chính trị
nhưng cũng đã được kiểm chứng và tồn tại qua đêm trường trung cổ để trở thành kết luận lý
thuyết của khoa học chính trị phương Tây, và là luận điểm gốc của nhà nước pháp quyền
phương Tây với mọi biến thái của nó như chúng ta quan sát được ngày nay.
Ngay từ thời đó, Arixtot đã phân biệt sự khác nhau giữa politeia (hiến pháp), nomoi
(luật) và psephismata (các qui tắc) chiếu theo tính ổn định với thời gian. Psephismata là
những qui định không cần thiết ổn định nhất vì liên quan đến các hoạt động thường ngày cụ
thể. Ngược lại, politeia phải có tính ổn định nhất. Đến thời La mã, ý tưởng về sự phù hợp
với các [qui] luật khách quan, tự nhiên phải là nền tảng vĩnh cửu của mọi luật xã hội đã được
phát triển.
Nền tảng lý luận của nhà nước pháp quyền phương Tây như ta thấy ngày nay được
phát triển chủ yếu bởi 3 học giả là Thomas Hobbes, John Locke (Anh, thế kỷ 17), và Jean-
Jacques Rousseau (Pháp, thế kỷ 18) thông qua các tư biện về quyền tự do tự nhiên cá nhân,
sự uỷ quyền của người dân (đối lập với sự uỷ quyền của chúa, hay bất cứ đấng tối cao nào
khác), sự tán đồng của một đa số đối với một khế ước xã hội. Ảnh hưởng của các ông có
thể thấy rõ qua Tuyên ngôn Độc lập (Declaration of Independence) của Mỹ, Đạo luật về Các
Quyền (The Bill of Rights) của Anh, và Tuyên ngôn Nhân quyền (Declaration of the Rights
of Men and Citizen) của Pháp cũng như nhiều nước khác trên thế giới trong tiến trình lịch sử
chính trị.
Để kết luận cho phần này, chúng tôi lập luận rằng, việc coi các hình thức nhà nước
pháp quyền luôn gắn liền với nội dung (và vì vậy, đồng nhất hình thức và nội dung trong
thực tế) là không có cơ sở. Tất nhiên, chúng ta tin rằng, một nội dung mới (ví dụ: pháp
quyền XHCN) cũng cần có các hình thức chuyển tải mới, nhưng có lẽ nó không phải là sự
phủ nhận và đối lập cực đoan các hình thức cũ (pháp quyền tư sản) như thực tế của nước ta
cũng như nhiều nước XHCN khác đã cho thấy. Và trên hết, ý tưởng về sự phù hợp với các
đòi hỏi tự nhiên của con người, của xã hội con người, từ hàng ngàn năm nay vẫn là lý do
chính khiến cho các tư tưởng xã hội mang tính biệt phái cực đoan ít có tính thuyết phục.

4
II.2 Những đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền
Trải qua nhiều thế kỷ, tư tưởng về nhà nước pháp quyền đã có những phát triển lớn và
nhận được sự đồng thuận ngày càng cao trên thế giới. Vậy, những đặc trưng nào, hay các
tiêu chí nào được dùng để xem xét tính pháp quyền của một nhà nước? Điều này liên quan
trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu của bài này vì vậy được xem xét kỹ lưỡng hơn trong phần
này. Hiển nhiên, sẽ có nhiều cách chọn lọc ra các tiêu chí như vậy, và khái quát dưới đây
cũng chỉ là một trong nhiều cách. Cách khái quát trong bài này có mục tiêu là làm rõ các
khía cạnh có ảnh hưởng quan trọng đến phương thức lãnh đạo của một đảng cầm quyền đối
với một nhà nước sẽ phát triển theo hướng pháp quyền và dân chủ XHCN (của dân, do dân,
vì dân) như Đảng ta đã xác định.

i/ Tính ổn định của các qui trình luật định
Lịch sử phát triển xã hội cho thấy các qui trình (qui định) chính trị có tính nền tảng,
sống còn đối với hệ thống cần phải ổn định, và không dễ thay đổi một cách tuỳ ý hay thường
xuyên. Đây là tính chất quan trọng vì người dân cần biết và hiểu các luật lệ căn bản (thường
được đưa thành hiến pháp) điều chỉnh các hành vi chính trị. Trên cơ sở này, người dân mới
hiểu được các hậu quả tiềm ẩn của các hoạt động chính trị của mình.
Tính chất này là quan trọng xét từ thực tế cũng như từ lý thuyết. Một mặt, những qui
trình, qui định (thể hiện qua hệ thống luật) cơ bản thể hiện một cách chung nhất những gì
được kiểm chứng là hợp lý (theo cả thời gian và không gian) và vì vậy, theo tự nhiên, cũng
chỉ thay đổi rất chậm và chỉ trong trường hợp có những đột phá (về tư tưởng hoặc phát kiến
khoa học v.v.). Và cũng vì vậy, mức độ quan trọng của các qui định đối với các hệ thống
cũng qui định mức ổn định tự nhiên đó, và thông thường nó được bảo vệ bởi các qui định
chặt chẽ về thủ tục thay đổi, mặc dù ở các nước khác nhau, sự chặt chẽ cũng khác nhau.
Mặt khác, sự ổn định cũng cần thiết để các tổ chức, cá nhân điều chỉnh hành vi của mình,
nhận thức được ý nghĩa chính trị của các hành vi đó. Điều này là đặc biệt quan trọng vì có
những mối quan hệ nhân - quả chỉ có thể phát hiện được sau một thời gian dài, và vì vậy,
cũng chỉ sau một thời gian nhất định, thậm chí một bề dầy sự kiện nhất định, người ta mới có
thể có căn cứ khoa học để đánh giá được ý nghĩa chính trị, tính hợp lý của các qui trình.
Ngoài ra, các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, sự ổn định của các qui trình khiến các đảng
chính trị, ngay cả khi đang có ưu thế chính trị để ảnh hưởng đến thiết kế các qui trình này,
phải "công tâm" hơn, vì trong tương lai đảng đó có khả năng đánh mất ưu thế và có thể bị
thiết hại bởi chính sự "không công tâm" của mính.
Cuối cùng, sự ổn định là cần thiết để bảo vệ hệ thống khỏi các mưu toan mang tính cá
nhân. Vì nếu không thế, các qui trình sẽ có thể bị sửa đổi tuỳ tiện để phù hợp (có lợi) cho
một (hay một nhóm) các cá nhân. Và chính bằng cách đó, các lợi ích cục bộ được khoác
chiếc áo của lợi ích công cộng, như bản chất phần lớn của các hiện tượng lạm quyền, tham
nhũng.
Như vậy, có thể nói tính ổn định của các qui trình chính trị là cực kỳ quan trọng vì
ngay lô-gíc phát triển nội tại của nó đã khiến các nội dung của luật pháp sẽ hướng tới việc
vừa mang tính khoa học (vì có chiều dài lịch sử để nghiên cứu) vừa mang tính dân chủ đại
diện.

ii/ Tính có thể qui trách nhiệm
Đây là tính chất căn bản của nhà nước pháp quyền phương Tây. Người được giao
quyền, và trách nhiệm cũng phải chịu trách nhiệm (ít nhất là đối với đa số những người dân
trung bình). Việc chịu trách nhiệm cũng được cụ thể hoá đến mức có thể qui trách nhiệm.
Các hình thức qui trách nhiệm cũng như các thể chế gắn liền với nó là đối tượng nghiên cứu
và thể nghiệm qua các cuộc cải cách quản lý nhà nước trong nhiều thập kỷ gần đây. Tất
nhiên, hình thức bầu cử hay trưng cầu dân ý vẫn là cơ chế chính (và thường là cao nhất) để
qui trách nhiệm trong các nhà nước pháp quyền, tuy nhiên nó cũng còn được thực hiện thông
qua nhiều hình thức khác mang tính thường xuyên hơn như hệ thống đề bạt và bãi miễn,

5
khen thưởng và kỷ luật, qui định về ứng xử, đạo đức hay thông qua các bỏ phiếu bất tín
nhiệm của quốc hội, nghị viện.
Mặc dù có vẻ hiển nhiên, không phải nhà nước nào cũng thực hiện được khả năng qui
trách nhiệm. Lý do căn bản của điều này không chỉ nằm trong khuynh hướng tự nhiên của
chủ thể cầm quyền (ai cũng muốn có nhiều quyền nhất, và ít phải chịu trách nhiệm nhất), mà
ngay ở trong tính phức tạp của việc qui trách nhiệm, vì luật pháp thường không thể quá chi
tiết để có thể bao quát được toàn bộ phạm vi cũng như mức độ của việc chịu trách nhiệm.
Hơn thế nữa, bản thân việc qui trách nhiệm, trong khi nâng cao tinh thần trách nhiệm lại có
thể làm giảm tính sáng tạo và chủ động của các nhà lãnh đạo vì sợ "sai lầm không thể cứu
vãn" trong nhiệm kỳ của mình.
Tóm lại, một cơ chế để có thể qui trách nhiệm đối với những nhà lãnh đạo chính trị bao
giờ cũng được thiết kế trong các luật căn bản của nhà nước pháp quyền (hiến pháp)

iii/ Tính phân quyền
Nhà nước pháp quyền đòi hỏi phải có sự phân chia quyền lực giữa các ngành (theo
chiều ngang) và các cấp (chiều dọc). Điều này xuất phát từ thực tế của sự tất yếu về cân
bằng và kiểm soát quyền lực. Tất nhiên sự phân quyền này là tương đối theo nghĩa nó phụ
thuộc vào kinh nghiệm, điều kiện lịch sử xã hội của từng nước khác nhau để đạt được mức
độ phân chia quyền lực hợp lý sao cho vẫn đạt được hiệu quả quản lý và điều hành nhà nước
cao nhất. Tuy nhiên, tư tưởng về cân bằng, kiểm soát quyền lực là một tư tưởng quan trọng,
đã được thực tế kiểm chứng về sự hữu ích, không dễ gì bị phủ nhận.

iv/ Tính minh bạch
Nhà nước pháp quyền sẽ mất ý nghĩa nếu nó không phát triển theo hướng ngày càng
minh bạch về các công việc của chính phủ. Sự minh bạch này không chỉ là đòi hỏi cốt yếu
của tính pháp quyền mà còn là tiền đề cho một nền dân chủ thực sự. Bởi vì, nền dân chủ dựa
trên sự tham gia của người dân trong các hoạt động chính trị, mà sự tham gia này chỉ trở nên
hữu ích nếu người dân có ngày càng đầy đủ thông tin về các hoạt động, chính sách v.v. Và
trên cơ sở đó mới có thể tiến hành các hoạt động như chống tham nhũng, chống lại các
khiếm khuyết vốn tiềm ẩn trong sự tập trung quyền lực.
Tại nhiều nước TBCN, nghĩa vụ công khai (hoặc không công khai) các hoạt động, kể
cả các tranh luận về chính sách, pháp luật hay sự bỏ phiếu của các nghị sĩ thường được qui
định thành luật, đặc biệt khi các nghị sĩ bỏ phiếu với tư cách đại diện của một khu vực cử tri,
sự công khai việc bỏ phiếu đồng nghĩa với công khai ý kiến đó, và qua đó, người dân có thể
đánh giá được về "tư cách đại diện" của các nghị sĩ. Xét đến cùng, nếu không phát triển theo
hướng minh bạch, các điều luật có thể sẽ được thực hiện một cách hoàn toàn khác so với
mục đích mà chúng được thiết kế để đạt tới. Nói cách khác, nội dung thực sự của việc triển
khai các điều luật sẽ không còn đúng với tinh thần của chúng nữa.

III -Cơ chế lãnh đạo của Đảng cầm quyền tại một số nước TBCN
Để khái quát phương thức lãnh đạo phần sau đây sẽ xuất phát từ một số đặc điểm
chung của hệ thống chính trị các nước tư bản phát triển phương Tây như đã xem xét ở các
phần trên:
1) Hiến pháp và pháp luật có các qui định tương đối rõ ràng về phân quyền giữa các
ngành hành pháp, lập pháp và tư pháp, và vì vậy, chính đảng nắm quyền hành pháp không
nhất thiết kiểm soát ngành lập pháp và tư pháp. Việc lãnh đạo chính trị như vậy có thể qui về
lãnh đạo 3 nhánh quyền lực căn bản này.
2) Mặc dù có nhiều hình thức, hai hình thức chính của HTCT phương Tây vẫn là tổng
thống (presidential system) và đại nghị (nghị viện - parliamentary system), mặc dù trong
những năm gần đây, khuynh hướng theo HTCT kiểu hỗn hợp (mixed system, như tại Pháp)
đang xuất hiện do các lo ngại về tập trung quyền lực. Trong hai hệ thống này, đảng cầm
quyền sẽ gặp các vấn đề khác nhau và vì vậy sự lãnh đạo cũng khác nhau và đòi hỏi các điều

6
kiện khác nhau.
3) Từ quan điểm Mác xít, các đảng chính trị tư sản có quan điểm giống nhau trên các
vấn đề căn bản (đặc biệt là trong thiết kế HTCT - theo nguyên tắc pháp quyền tư sản mà gốc
là tam quyền phân lập + sở hữu tư bản tư nhân), và vì vậy sự lãnh đạo sẽ nhằm vào các lĩnh
vực khác nhau không căn bản (vì phần căn bản đã được đưa thành thiết kế hệ thống). Hay
nói cách khác, sự cạnh tranh về tính chính đáng của cầm quyền sẽ diễn ra trong những vấn
đề ít mang tính hệ tư tưởng, mà là về hiệu quả, hiệu lực của việc triển khai hệ tư tưởng đó
với một hệ thống tiêu chí tương đối rõ về kinh tê - xã hội - quốc phòng - đối ngoại. Trong
các “vấn đề căn bản” có hai nguyên tắc quan trọng mà HTCT các nước phương Tây (đặc
biệt là Tây Âu và Anh-Mỹ) đưa vào thiết kế (đồng thời cũng là hệ quả của sự tuyên truyền
cho chúng) là i) tính tuân thủ của quân đội đối với chính quyền (bất kể đảng nào cầm quyền).
Thường được gọi là tính trung lập đảng phái của bộ máy vũ trang; và ii) Tính tối cao của các
cơ quan dân cử (nghị viện, chính phủ v.v.). Hay nói cách khác, quyền lực chính là sự ủy
quyền. Do vậy, lấy Anh làm ví dụ, Nữ hoàng mặc dù có những quyền lực trên giấy tờ rất
lớn, nhưng luôn phải theo Hạ viện (“phải” phê chuẩn các đạo luật của Hạ viện) vì nữ hoàng
không được dân ủy quyền.
Như vậy, việc xem xét sự lãnh đạo của các đảng cầm quyền được đặt trong môi trường
thể chế - pháp lý -văn hoá cụ thể, và bị các yếu tố này chi phối. Hệ quả cốt lõi của cách xem
xét này chính là để thực hiện những lợi ích tư (nhóm, giai cấp, tầng lớp v.v ) đảng cầm
quyền phải nhân danh quyền lực công (nhà nước), và vì vậy cũng phải tuân thủ các qui đinh,
thủ tục, luật lệ chung trong hoạt động chính trị. Tất nhiên, đảng cũng ảnh hưởng đến môi
trường thể chế pháp lý đó về mặt dài hạn, tuy nhiên đây là vấn đề rộng hơn vì có liên quan
đến các lý thuyết về phát triển xã hội, cũng như các điều kiện lịch sử, tự nhiên, văn hoá, v.v.
Việc đấu tranh để đưa hệ tư tưởng của đảng mình thành các qui định pháp lý (đặc biệt là hiến
pháp và luật về các quyền), mặc dù là quá trình quan trọng và dài lâu, vì vậy sẽ không được
xem xét chi tiết trong bài này.
Một điểm có thể thấy rõ là khi một đảng trở thành đảng cầm quyền thì các đảng viên
chủ chốt của đảng được bổ nhiệm giữ các chức vụ chủ chốt trong bộ máy hành pháp, đặc biệt
là các thành viên nội các. Tại Mỹ, đảng thắng cử có thể bổ nhiệm tới 3000 chức vụ chính
trị. Ngay ở cấp bộ, đảng thắng cử cũng có thể bổ nhiệm tới 100 chức vụ bộ, thứ trưởng
(thành viên nội các và các chức phó), đặc biệt là ở các nước theo chế độ nghị viện như Anh,
vì đảng thắng cử ở Hạ viện đồng thời cũng nắm quyền thành lập chính phủ, các đảng viên
của đảng cầm quyền đồng thời cũng nắm các chức vụ quan trọng của ngành lập pháp (trong
hạ viện).
Như vậy, việc lãnh đạo của đảng cầm quyền sẽ qui về vấn đề căn bản là thể chế hoá
các chính sách của mình và thực hiện chúng. Điều này trong thực tế liên quan chủ yếu đến
hai ngành: hành pháp và lập pháp. Trong hệ thống theo kiểu nghị viện và hai đảng nổi trội,
đảng kiểm soát chính phủ đồng thời cũng chiếm đa số trong nghị viện (hạ viện). Điều này
chưa chắc đã đúng trong hệ thống tổng thống (Mỹ) hoặc trong hệ thống nhiều đảng (Ý).
Từ các phân tích này, phương thức lãnh đạo không chỉ đơn thuần là sự bổ nhiệm các
đảng viên của mình vào các chức vụ nhà nước, mà rộng hơn, phương thức này còn bao gồm
các công cụ, biện pháp để đảm bảo các đảng viên, trước hết là nhóm lãnh đạo, tức các đảng
viên - quan chức nhà nước, hành động theo định hướng của đảng.
Tập hợp và tính chất của các công cụ như vậy sẽ khác nhau do các yếu tố thiết kế hệ
thống chính trị, văn hoá chính trị, lịch sử v.v. chi phối. Việc xem xét mối liên hệ giữa các
yếu tố này với sự lãnh đạo của đảng sẽ có thể có ích cho chúng ta trong việc thiết kế các qui
định luật pháp (trong điều kiện "nhà nước pháp quyền XHCN") và phương thức lãnh đạo của
đảng đối với nhà nước đó (đảm bảo được mục đích "của dân, do dân, vì dân").
Do các lý do trên, phần chính của mục này sẽ xem xét các yếu tố ảnh hưởng quan trọng
đến phương thức lãnh đạo của đảng cầm quyền. Tuy nhiên, ngay từ bây giờ có thể nói, các
đảng ở phương Tây có ảnh hưởng tương đối hạn chế đối với các đảng viên - công chức của
mình (Ít nhất từ tính chất "mở" của đa số các đảng chính trị phương Tây hiện nay). Thông

7
thường, đảng chỉ đưa ra các đường lối khá chung chung và ít có các qui định hữu hiệu để
kiểm soát việc thực hiện đường lối đó. Điều này có lý do một phần quan trọng từ tư cách
nhị nguyên của đảng viên-công chức. Một mặt, họ phải đại diện cho khu vực bầu cử của họ,
mặt khác họ đại diện cho đảng, mà quyền lợi của hai đối tượng này lại khác nhau. Sự dung
hoà để đạt được điểm tối ưu sẽ phụ thuộc vào cá nhân cụ thể rất nhiều.

III.1 Tổ chức - Kỷ luật đảng
Đây là yếu tố được nhấn mạnh trong hệ thống đảng chính trị ở phương Tây bởi vì các
lý do chính như sau:
1) Do quan niệm rằng tính dân chủ, dù cuối cùng vẫn phải xét thực chất, vẫn chưa có
cách thể hiện nào tốt hơn là thông qua các quá trình, chủ yếu là bỏ phiếu (triết lý này có thể
còn được đẩy đến chỗ cực đoan, coi hình thức thể hiện là quan trọng nhất, vì cái bản chất là
cái không quan sát và đo đếm được, và vì vậy không kiểm soát được, do đó ai cũng có thể tự
xưng là “dân chủ về thực chất”). Như vậy, sự lãnh đạo của đảng cầm quyền được qui chủ
yếu về đạt được các đa số cần thiết trong việc đưa ra các quyết định chính sách.
2) Do quan niệm rằng sự lãnh đạo của đảng chủ yếu là thông qua các cá nhân, cụ thể là
các đảng viên nắm giữ trọng trách của nhà nước. Do đó, sự tự kiểm soát (thực hiện đúng
chính sách chủ trương của đảng) của những đảng viên chủ chốt này được nhấn mạnh. Tổ
chức và kỷ luật đảng sẽ ảnh hưởng quan trọng đến sự tự kiểm soát này.
Mỹ và Anh là 2 trường hợp trái ngược nhau về yếu tố này. Mặc dù cả hai nước đều có
hệ thống đảng mở (tức là rất lỏng lẻo về tiêu chí kết nạp đảng viên), kỷ luật của các đảng ở
Anh tốt hơn nhiều (dù là Công đảng hay đảng bảo thủ). Các nghiên cứu của phương Tây cho
thấy yếu tố thiết kế hệ thống chính trị ở đây có lẽ có vai trò quan trọng nhất (xem Kavanagh,
1996). Tại Mỹ, tổng thống được bầu trực tiếp, quốc hội không có quyền bầu hay bãi miễn
như ở Anh (nhưng có quyền bỏ phiếu về “trọng tội”- impeachment, như trường hợp B.
Clintơn). Trong khi đó ở Anh, thủ tướng là do quốc hội bầu và có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm
và buộc chính phủ từ nhiệm. Như vậy, trong chế độ nghị viện nói chung, kỷ luật đảng tốt (bỏ
phiếu theo định hướng của đảng) là yếu tố quan trọng đến sự tồn tại của chính phủ. Trong
chế độ tổng thống, kỷ luật đảng không có ảnh hưởng ngay lập tức đến sự tồn tại và hoạt động
của chính phủ. Như vậy, do đảng cầm quyền (của tổng thống) tại Mỹ nhiều khi không chiếm
đa số tại nghị viện, tổng thống Mỹ có quyền lực “kém” hơn thủ tướng Anh theo nghĩa các
chính sách của chính phủ Anh đưa ra luôn chiếm được sự ủng hộ của nghị viện.
Đối với các nghị sĩ cũng vậy, ở Mỹ cử tri bỏ phiếu để lựa chọn cá nhân người đại
diện, còn ở Anh, cử tri bỏ phiếu lựa chọn đảng đại diện (và đảng được bầu chọn cá nhân
người đại diện). Trên thực tế, điều này có nghĩa là mỗi nghị sĩ khi bỏ phiếu (cho một dự luật
hoặc quyết định chính sách nào) luôn phải tính đến quyền lợi của cử tri mà mình đại diện,
mà quyền lợi này đôi khi ngược với chủ trương của đảng. Vì vậy ta có thể quan sát thấy các
nghị sĩ đảng cộng hoà bỏ phiếu ủng hộ các chính sách của đảng dân chủ và ngược lại. Trong
khi điều đó hầu như không xảy ra tại Anh. Như vậy, trường hợp bỏ phiếu “khác đảng” ở một
số nước TBCN phát triển đặt ra vấn đề về sự lãnh đạo của đảng và bản thân khái niệm
“đảng”. Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng “không có sự lãnh đạo của đảng” tại Mỹ vì
quyền lực không tập trung, tổ chức phân tán, mang tính địa phương chủ nghĩa.
Tuy nhiên, bản thân lịch sử chính trị của Anh cũng như của Mỹ cho thấy, nếu không có
sự ủng hộ của một đảng, các ứng cử viên khó có thể được bầu. Ngay cả trong trường hợp,
ứng cử viên đó vốn là đảng viên - quan chức đương nhiệm, sau xin ra khỏi đảng và tranh cử
với tư cách độc lập. Trong khi ở Anh, mức độ thắng cử phụ thuộc vào đảng tịch vẫn còn
tương đối lớn, thì ở Mỹ mức độ này đã suy giảm nhiều cùng với vai trò của tư cách cá nhân
nhà chính trị đang tăng lên (Roskin, 1992).
Ngoài ra, các nhân vật lãnh đạo đảng còn là các thành viên chính của các hội đồng giới
thiệu ứng cử viên của đảng mình. Thông qua công tác nhân sự này, đảng cũng kiểm soát
được sự tuân thủ đường lối của các đảng viên. Hơn nữa, các đảng viên cấp cao của một
đảng cũng thường là các nhà chính trị chuyên nghiệp, đã gắn bó và "đặt cược" lâu dài vào

8
con đường chính trị và vì vậy lợi ích dài hạn luôn được xem xét kỹ. Tại Anh, các hành động
đi ngược lại với chủ trương của đảng, mặc dù là có thể trong ngắn hạn, luôn chịu các tổn thất
lớn về dài hạn do tính tổ chức và kỷ luật đảng cao hơn ở Mỹ. Ngay cả thủ tướng Anh cũng
phải tìm kiếm sự đồng thuận của các bộ trưởng trong nội các, trước khi đem ra quốc hội xem
xét. (Thatcher mất ghế thủ tướng là do bầu cử trong đảng).
Tuy nhiên, cũng cần thấy khuynh hướng ngày càng cá nhân hóa các ứng cử viên của
đảng như trên đã nói, cũng như do đảng ngày càng ít quan trọng về mặt tài chính đối với họ
(sẽ phân tích trong phần III.2), vai trò tổ chức - kỷ luật trong sự lãnh đạo của đảng ngày càng
giảm đi (như trường hợp nhà tỉ phú R. Perot ra tranh cử độc lập, phi đảng phái năm 1992.
Mặc dù ông này cũng phải thành lập đảng của mình sau đó, nhưng kết quả cuộc bầu cử tổng
thống năm 1992 đã khiến giới nghiên cứu phương Tây phải xem xét lại một loạt các kết luận
về vai trò đảng chính trị.)

III.2 Tài chính
Vì là các đảng "mở" nên các đảng của các nước này thường không thu đảng phí (hoặc
thu rất ít với nghĩa tượng trưng) và không dựa vào nguồn này để hoạt động mà chủ yếu là
dựa vào sự đóng góp của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và của nhà nước. Khả năng kêu
gọi sự đóng góp cũng như ảnh hưởng đến việc chi tiêu các nguồn đóng góp đó là một kênh
quan trọng để đảm bảo sự lãnh đạo của đảng. Nghiên cứu của Heidenheimer và Janda cho
thấy không còn đảng lớn nào ở châu Âu dựa chủ yếu vào đảng phí. Còn trên thế giới chỉ có
độ 1/4 các đảng là còn dựa vào đảng phí để hoạt động. Từ 1960, có tới 18 nước Tây Âu đã
thể chế hóa việc dùng ngân sách nhà nước cũng như các nguồn đóng góp công cộng khác để
tài trợ cho hoạt động của các đảng chính trị. (Finifter, 1993)
Tại Mỹ cũng vậy, các PAC (Uỷ ban Hành động Chính trị - Political Action Committee)
là các tổ chức phi đảng phái được lập ra bởi các các nhóm xã hội, công đoàn, công ty v.v. để
thu thập các nguồn tài chính cho các hoạt động chính trị. Hiện có khoảng 4500 PAC. Các
đóng góp cho PAC luôn phải mang tính tự nguyện. Các công ty và nghiệp đoàn không được
dùng quĩ của mình để đóng góp. Trong thực tế, PAC chi tiêu chủ yếu cho các nhà chính trị
đương nhiệm. Điều này liên quan đến việc PAC quan tâm đến sự ổn định các chính sách vốn
đang có lợi cho nhóm tài trợ. Trong các cuộc bầu cử, các ứng cử viên đương nhiệm có thể
nhận tới 3/4 lượng tiền của PAC (Dye và Zeigler, 1987; Schmidt, 2000). Hơn nữa, chính các
nhà lãnh đạo đương nhiệm này là những người có ảnh hưởng nhất trong việc quyết định mục
tiêu chi, dù rằng điều này luôn luôn được che giấu. Ngoài ra, luật pháp thường qui định các
điều khoản để mọi đóng góp tài chính không được gắn liền với các cam kết bỏ phiếu, cũng
như nhiều qui định cụ thể khác để đảm bảo tính "vô tư" của các nguồn đóng góp. Thông
thường, các khoản chi cho cá nhân ứng cử viên bị giới hạn trên (ví dụ: ở Anh không quá
5000 bảng năm 1992 cho ứng cử viên của hai đảng chính vào Hạ viện, ở Mỹ nếu ứng cử viên
tổng thống dùng tiền nhà nước cũng không được quá 20 triệu USD, 2000. Tuy nhiên cả hai
ứng cử viên đều tự kêu gọi quĩ ủng hộ), nhưng nếu các khoản chi là cho đảng thì sẽ không có
giới hạn. Tuy nhiên, vai trò của tiền trong chính trị vẫn là vấn đề nổi cộm trong vài năm gần
đây của giới khoa học chính trị phương Tây, đặc biệt tại Mỹ, vì khó có thể phân biệt là khi
nào chi cho cá nhân và khi nào chi cho đảng (vấn đề "quĩ cứng và quĩ mềm" ở Mỹ).
Từ quan điểm Mác xít, chúng ta cũng có thể thấy được vai trò của kinh tế đối với chính
trị. Tuy nhiên, các biểu hiện và các kênh tác động cụ thể của kinh tế đối với chính trị cũng sẽ
cần được nghiên cứu sâu hơn nữa vì trong xã hội tư bản hiện đại, sự tác động này tinh vi
hơn, gián tiếp hơn và thường ẩn dưới các hình thức và qui định mang tính dân chủ hình thức
rất cao. Một khi đảm bảo được cả tính dân chủ trong nội dung, thì những hình thức này cũng
rất cần được tham khảo và áp dụng (như việc cấm vận động trực tiếp, dùng tiền mua phiếu
bầu v.v.).

III.3 Thông tin - giáo dục tư tưởng
Công tác giáo dục tư tưởng, về mặt lý thuyết, rõ ràng là cực kỳ quan trọng vì tạo nên ý

9
thức tự giác chấp hành của các đảng viên-quan chức. Tuy nhiên, công tác này không thấy ở
phương Tây dưới các hình thức cụ thể như chúng ta biết và quan niệm ở các nước XHCN,
đặc biệt là do các hình thức kiểm soát về ngôn luận không chặt. Tuy nhiên, điều này có lẽ
cần được hiểu là công tác này được tiến hành tinh vi và núp dưới bóng của một hệ thống
quan niệm, giá trị của xã hội (chứ không còn của một đảng hay giai cấp), kết quả của một
quá trình tiến hóa lâu dài, và đặc biệt là thông qua sự kiểm soát bằng tài chính của giai cấp tư
sản đối với các phương tiện truyền thông đại chúng như đã đề cập.
Trong các nghiên cứu hành vi đảng chính trị ở phương Tây, tư tưởng (hay hệ tư tưởng)
vì vậy thường được coi là biến số độc lập, không phụ thuộc [ngay lập tức] vào hoạt động của
đảng. Ngay cả trong dài hạn, hệ tư tưởng sẽ phát triển không phụ thuộc nhiều vào ý chí cá
nhân hay của một nhóm (dù là nhóm lãnh đạo cao nhất) của một đảng.
Các đảng chủ yếu của các nước phương Tây hiện nay thường ít mang tính hệ tư tưởng,
ít nhất là trong sự thể hiện bằng văn bản. Ngay cả Công đảng của Anh (hay nhiều đảng cánh
tả khác ở châu Âu), dù được đánh giá là tương đối nặng về hệ tư tưởng nhưng vẫn phải được
coi như là một đảng theo chủ nghĩa thực dụng, giống như nhiều đảng ở các nước phát triển
khác, nơi mà các tranh luận mang tính hệ tư tưởng thường không có tính quyết liệt (CNTB,
kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền cũng như nhiều yếu tố căn bản khác được coi là tự
nhiên). Điều này được thể hiện ở sự ít khác biệt về cơ bản giữa các đảng trong chương trình
tranh cử. (Chỉ có các đảng trung tả và trung hữu là tồn tại lâu dài. Các đảng cấp tiến thậm
chí có thể bị pháp luật cấm đoán hoặc tẩy chay, như phát triển chính trị tại Áo, hay Pháp gần
đây).
Trong vấn đề này, việc nắm các phương tiện thông tin đại chúng đóng vai trò quan
trọng, vì về mặt dài hạn, với trình độ dân trí cao, việc kiểm soát thông tin cũng chính là kiểm
soát sự diễn giải và vì vậy kiểm soát ý thức hệ một cách vô thức. Việc kiểm soát các nguồn
thông tin và ý kiến thông qua chi phí cao của các phương tiện thông tin đại chúng là hiện
tượng nổi bật ở các nước phương Tây. Đây cũng là một ví dụ cho sự dân chủ và công bằng
về hình thức trong khi về thực chất là mất dân chủ.
Vấn đề này cũng cần có những nghiên cứu sâu hơn, vì ngay cả ở Anh, khi nền kinh tế
trì trệ một thời gian dài vào những năm 1970, hay ở Mỹ khi các vấn đề xã hội ngày càng nổi
cộm, các sức ép về thay đổi các quan điểm cơ bản của hệ tư tưởng là không có. Do đó, tính
mặc nhiên của cả ý thức hệ còn liên quan đến cả tiến trình lịch sử lẫn văn hoá của nước đó,
và đặc biệt là các thành tựu kinh tế, chứ không đơn thuần là kết quả của các giáo dục chính
trị dưới mọi hình thức.

III.4 Khuynh hướng kỹ trị
Đây là một đặc điểm (và hơn thế nữa là một khuynh hướng quan trọng hiện nay) tương
đối rõ trong sự lãnh đạo của đảng bởi vì sự hợp lý (hay tính khoa học hiểu theo nghĩa rộng)
vẫn là một cơ sở chính của sức thuyết phục cho mọi chính sách cũng như tính chính đáng của
đảng cầm quyền. Chính vì vậy, đảng muốn lãnh đạo các đảng viên của mình thì trước hết
vẫn phải có một đội ngũ các nhà khoa học để tạo cơ sở khoa học cho mọi chính sách của
mình.
Cả Mỹ và Anh cũng như nhiều nước TBCN phát triển khác đều có hệ thống sử dụng
các nhà khoa học làm tư vấn cho các nhà chính trị, và giao quyền độc lập rất lớn trong các
vấn đề kỹ thuật chuyên môn. (Greenspan - Fed của Mỹ là một ví dụ nổi bật). Khuynh
hướng này tương đối rõ, đặc biệt là ở các nước G7, phát triển cao - thậm chí mỗi nghị sĩ đều
có đội ngũ tư vấn riêng của mình và được cấp phát ngân sách cho việc thuê chuyên gia đó,
tuỳ thuộc vào cấp bậc. Bên cạnh đó là bộ mánh hành chính công được tổ chức theo lối
chuyên nghiệp hoá - sự bổ nhiệm không phụ thuộc vào đảng phái mà phụ thuộc vào các khả
năng chuyên môn và đạo đức công vụ nói chung. Tính độc lập và dài hạn của đội ngũ các
công chức hành chính là một yếu tố quan trọng khiến sự luận giải khoa học của mọi chính
sách nói riêng và của sự lãnh đạo nói chung ngày càng chiếm ví trí quan trọng.
Khuynh hướng kỹ trị vừa ảnh hưởng vừa được củng cố bởi sự “đại đồng tiểu dị” của

10
các đảng chính trị ở các nước phương Tây cũng như bởi khuynh hướng “chia đôi quyền lực”
của người dân (“ticket splitting”), đặc biệt ở các nước theo hệ thống tổng thống như Mỹ, khi
người dân bỏ phiếu cho đảng này trong cuộc bầu tổng thống nhưng lại bỏ phiếu cho đảng đối
lập trong bầu cử nghị viện. Lý do chính ở đây là với sự chia sẻ và đối trọng quyền lực, các
chính sách sẽ phải hướng tới tính tối ưu về kỹ thuật như một tiêu chí chứng minh sự nổi trội
của mỗi đảng. Trong cuộc thăm dò của Tạp chí phố Wall năm 1998, có tới 65% dân Mỹ
muốn chia đôi quyền lực như vậy cho 2 đảng. Trên thực tế, tình trạng này cũng đã tồn tại
suốt thời B. Clin-tơn. Trong các hệ thống đại nghị lưỡng viện, khuynh hướng “chia đôi
quyền lực” thể hiện ở việc bỏ phiếu cho 2 đảng khác nhau tại hai viện. Như ở Australia, là
nước có thượng viện thực quyền mạnh nhất trong các nước theo chế độ đại nghị, đảng chiếm
đa số ở hạ viện lại không chiếm đa số trong thượng viện và vì vậy không kiểm soát được
toàn bộ quá trình ra chính sách.

IV -Các suy nghĩ và Kết luận trong điều kiện nước ta hiện nay
Do không có điều kiện nghiên cứu thực chứng, các phân tích trong bài này cũng cần
được xem xét một cách thận trọng, đặc biệt là sự không tương ứng giữa hình thức và các
hoạt động thực chất của các quá trình chính trị (Vấn đề mà chúng ta thường gọi là "tể tướng
áo xám" – tức tể tướng nhưng có quyền lực thực sự hơn cả vua). Tuy nhiên, có thể rút ra
mấy kết luận bước đầu:
Điều quan trọng trong giai đoạn hiện nay của nước ta là không được đánh đồng giữa
nhà nước pháp quyền và tính dân chủ [tư sản]. Nói cách khác, với hình thức nhà nước pháp
quyền có thể và cần phải truyển tải nội dung dân chủ XHCN của Việt nam. Từ phân tích
kinh nghiệm các nước phương Tây, có thể thấy các yếu tố trọng yếu nhất trong đảm bảo sự
lãnh đạo của đảng có thể qui thành hai nhóm: 1) nhóm tư tưởng; và 2) nhóm thể chế.
Về nhóm thứ nhất, đây là nhóm các yếu tố có tính dài hạn, phải thông qua giáo dục và
bằng các thành quả thực tế để chứng minh được rằng sự lãnh đạo của đảng là cần thiết và
đúng đắn. Nếu không chống được tham nhũng, không phát triển được kinh tế, không quản lý
được đời sống xã hội v.v. thì không thể thuyết phục được nhân dân, làm sa sút uy tín của
đảng và càng khó huy động được nội lực của chúng ta. Trong khoa học chính trị, ngoài khía
cạnh hiệu lực, hợp hiến của quyền lực, còn có một khía cạnh được gọi là “tính chính đáng”
của quyền lực và của sự lãnh đạo nói chung. Quyền lực của một người (hay tổ chức) nếu
được coi là chính đáng, thì sự lãnh đạo sẽ rất thuận lợi, sự cần thiết của bộ máy kiêm tra,
giám sát và cưỡng chế được giảm đến tối thiểu, và hơn thế nữa, sự tự nguyện sẽ nâng cao
hiệu quả và hiệu lực của sự lãnh đạo.
Sự lãnh đạo chính là sự thể chế hoá và triển khai chính sách, quan điểm, đường lối của
đảng. Điều này liên quan đến cách nhìn thực chứng, (vai trò của các sự kiện có thể quan sát
được là lớn trong sự đánh giá - triết học thực dụng), mà trong điều kiện của ta là lấy các số
liệu và sự kiện thực tế chứ không phải lấy các hứa hẹn hay lời tuyên bố làm tiêu chí đánh giá
sự lãnh đạo.
Sự lãnh đạo của đảng tập trung vào sự lãnh đạo của các cá nhân chủ chốt, tầng lớp tinh
hoa của đảng. Các hình thức lãnh đạo phát triển theo hướng có tính gián tiếp (phi mệnh
lệnh) và có hình thức hợp lý và dân chủ cao. Điều này đôi khi che khuất các nội dung thực
của cả tính dân chủ lẫn sự hợp lý và đối lập chúng một cách siêu hình. Việc phát triển nhà
nước pháp quyền rõ ràng là đi theo hướng nhấn mạnh hình thức (thể chế, luật pháp, qui
định...), điều này là tốt, nếu nhấn đúng mức độ và lấy nội dung làm xuất phát điểm. Lập
luận này có cơ sở thực tế từ lịch sử phát triển của các nước phương Tây, vì rất dễ đi tới thái
cực "hình thức dân chủ chính là dân chủ, vì không thể quan sát được dân chủ bên ngoài các
hình thức của nó". Đây là quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu có cái nhìn tương đối tiêu
cực đối với các nhà chính trị, vì đối với họ, phần lớn các tuyên bố của các nhà chính trị đều
là mỵ dân, và đạo đức giả. Do vậy, bất kể tuyên bố, điều quan trọng cốt yếu của nền dân chủ
là tuân thủ "luật chơi dân chủ". Điều này, trong khi có sự hợp lý, và cơ sở thực tế nhất đinh
nhưng nếu không đi kèm với sự chú trọng về thực chất sẽ dẫn đến các vấn đề lớn về dân chủ

11
(Theo nhận xét của một nhà khoa học Mỹ thì chính Mỹ có thể là nước mất tự do ngôn luận
nhất về thực chất, vì chỉ có những người giầu mới có khả năng "ngôn luận" thực sự, do giá
cả quá cao của các phương tiện thông tin đại chúng.). Ngoài ra, do chú trọng đến hình thức,
hệ thông qui định luật pháp sẽ ngày càng phức tạp và chi tiết, để có thể bao quát được mọi
hoạt động của cuộc sống. Khuynh hướng này đặc biệt nổi rõ ở Mỹ, nơi mà số lượng của các
qui định luật pháp có thể đã vượt xa mức hợp lý.
Các công cụ lãnh đạo cũng có thể được qui về 3 phạm trù chính: tổ chức -kỷ luật, tài
chính, và kỹ trị. Cả ba kênh này cũng đều được thể chế hoá cao độ dưới các hình thức ổn
định trong bối cảnh sự thống trị của một hệ tư tưởng chủ đạo. Nội dung, vai trò của các công
cụ lãnh đạo sẽ bị ảnh hưởng rất lớn của thiết kế HTCT đặc biệt là hệ thống bầu cử, phân
quyền, phân cấp, cũng như các yếu tố về văn hoá và lịch sử chính trị khác.

12
Tài liệu tham khảo chính
Dye, T. và Zeigler, H., 1987. The Irony of Democracy, Brooks/Cole, CA.
Encyclopaedia Britannica, Inc., 1997. Britannica CD. Version 97.
Finifter, A.W. (Chủ biên), 1993. Political Science: The State of the Discipline, APSA,
Washington D.C.
Kavanagh, D., 1996. British Politics, OUP, NewYork.
Macridis R. C. và Burg S. L., 1991. Introduction to Comparative Politics, Harper
Collins, New York.
Ngô Đức Tính (chủ biên), 1999. Một số đảng chính trị trên thế giới, NXB Chính trị
quốc gia, Hà nội.
Nguyễn Đức Bình và nhiều tác giả, 1999. Đổi mới và Tăng cường Hệ thống Chính trị
nước ta trong giai đọan mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà nội.
Theen R. H. W. và Wilson F. L., 1992. Comparative Politics: An Introduction to Seven
Countries, Prentice Hall, New Jersey.
Thesing, J., và Hofmeister, W. (Chủ biên), 1995. Political Parties in Democracy, Sant
Augustin.
Roth, D. F., và Wilson F. L., 1980. The Comparative Study of Politics, Prentice Hall,
New Jersey.
Sullivan, M. J., 1996. Comparing State Polities: A Framework for Analyzing 100
Governments, Greenwood Press, Westport.
Schmidt S. W., Shelley M.C, Bardes B. A., 2000. American Government and Politics
Today, 1999-2000 edition, Wadsworth, New York.
Văn kiện Đại hội Đảng tòan quốc lần thứ IX, 2001.

13