Tuần Báo

TIN HỌC 3
Từ ngày 25.3.2007 đến ngày 31.3.2007

Utbinh sưu tầm

MỤC ĐÍCH CHÍNH YẾU LÀ TẬP HỢP NHỮNG BÀI VIẾT HAY , NHỮNG ĐỀ TÀI MỚI LẠ TRONG TIN HỌC MÀ UTBINH YÊU THÍCH , CÓ LẼ CÁC BẠN SẼ CÙNG QUAN ĐIỂM VỚI UTBINH . CÁC BÀI NẦY CÓ RẢI RÁC TRONG CÁC TRANG WEB VÀ XIN PHÉP ĐƯỢC PHỔ BIẾN FREE CHO CÁC BẠN ĐỌC YÊU MẾN CỦA UTBINH VỐN ÍT THỜI GIỜ TÌM ĐỌC. UTBINH CỐ GẮNG MỖI TUẦN POST 1 SỐ TUẦN BÁO , VỚI ĐỘ DÀY 28 TRANG .

Dùng Photoshop CS3 không cần cài đặt
14:08:00, 21/03/2007 Phạm Lê Minh Định Sau khi ra mắt phiên bản Photoshop CS3 tích hợp với việc tải miễn phí cho người dùng thì việc này làm cho người sử dụng khá vất vả khi tải về vì dung lượng quá lớn. Hơn nữa, việc sử dụng hiệu quả các chức năng chính 1

trong phiên bản CS3 rất hạn chế, và đó là mục tiêu ra đời của phiên bản Portable. Portable Photoshop CS3 là một bảng thu gọn cho chương trình Photoshop CS3. Phiên bản này cho phép bạn sử dụng hầu hết các công cụ thiết yếu trong Photoshop CS3, vừa là bảng sử dụng tức thời vừa không cần cài đặt và chạy hầu hết trên các máy tính cá nhân. Dung lượng Portable Photoshop CS3 chỉ khoảng 130MB. Bạn tải miễn phí tại http://www.4shared.com/dir/2104765/ecc33ad4/Port_Photoshop_CS3.ht ml. Lưu ý: Do dùng dịch vụ lưu trữ file miễn phí nên đôi khi bị hạn chế băng thông khi tải. Bạn có thể liên hệ qua email dinhdn@mobifone.com.vn để được cung cấp đường dẫn tải file thích hợp. Phạm Lê Minh Định

Dùng Google Talk không cần cài đặt
13:50:00, 21/03/2007 Google Talk là một chương trình được phát triển bởi hãng Google trong việc giúp mọi người liên lạc thông qua hệ thống gởi tin nhắn tức thời (IM: Instant Message). Hiện nay, người dùng có thể dùng Google Talk dưới dạng Portable không cần cài đặt. Tận dụng tín năng này, bạn có thể kết hợp với một microphone để có thể gởi tin nhắn, thực hiện các cuộc gọi miễn phí từ PC to PC. Điểm đặc biệt trong phiên bản Portable này là tính năng gởi tin nhắn thoại. Chức năng này có thể cho bạn gởi các tin nhắn thoại cho người nhận khi người nhận không có trên mạng. Đây được xem như là dịch vụ hộp thư thoại trên mạng cho người dùng. Hơn thế, Portable Google Talk còn cho bạn các tính năng cơ bản trong việc sử dụng sao cho hiệu quả, kèm chức năng cảnh báo email từ hộp thư Gmail. Rất tiện ích cho người dùng. Portable Google Talk có dung lượng 1.6MB. Chạy trực tiếp trên PC không cần cài đặt. Bạn tải miễn phí tại http://www.4shared.com/dir/2159099/5d282b18/Portable_Google_Talk.ht ml. Phạm Lê Minh Định

Giữ cho máy tính luôn “sung mãn”
17:58:00, 18/03/2007 Chiếc máy tính mới mua, chạy rất nhanh và trơn tru. Thế nhưng chỉ mới dùng một hai tháng, dù rất cẩn thận khi sử dụng, phòng virus, quét bụi bặm..., nó 2

Giao diện của SPP

vẫn cứ ì ạch dần. Có cách nào để giữ cho máy tính của bạn luôn mạnh khỏe, trong tình trạng tốt nhất có thể ? Nguyên nhân của việc này là do hằng ngày, khi sử dụng máy tính, dù muốn hay không, máy vẫn tạo ra vô vàn tập tin tạm thời trên đĩa, những ghi nhớ tạm trong registry... Có thể nói máy tính là một cái máy hơi... bê bối, vì nhiều lúc nó xả rác nhưng lại không biết dọn dẹp cho hết. Những "rác thừa" này lâu dài sẽ làm rối loạn trật tự có sẵn trong máy, cũng như chiếm dụng những tài nguyên cần thiết, làm giảm hiệu suất của máy rõ rệt. Bởi vậy, thỉnh thoảng bạn phải dọn dẹp mớ rác thừa này. Thế nhưng công việc vệ sinh không phải lúc nào cũng dễ dàng, bởi vì rác có ở khắp nơi, "chui rúc" trong rất nhiều "mê cung" như Registry, thư mục hệ thống v.v... Nhưng điều đó không quan trọng, vì bạn có thể cầu cứu tới các công cụ, như chương trình Smart. Phiên bản thử nghiệm của chương trình có thể được download tại địa chỉ sau: http://downloads.zdnet.com/download.aspx?. Sau khi download về, bạn tiến hành cài đặt bình thường. Khi chạy chương trình lần đầu tiên, SPP sẽ yêu cầu thực hiện qua 7 bước để tiến hành đại tu máy tính của bạn, từ việc xác định lỗi trong registry, xóa các file rác, đến việc thiết lập lại các tham số để Windows hoạt động nhanh hơn, thiết lập kế hoạch cho việc dọn dẹp rác định kỳ. Sau lần này, bạn cũng có thể tự dọn dẹp bằng tay nếu muốn. Giao diện của SPP cực kỳ đơn giản, với ba nút biểu thị cho ba chức năng chính. Fix: Sửa chữa lỗi, Clean: Xóa rác, Optimize: tối ưu hóa hệ thống. Chức năng Scheme cho phép bạn tập trung vào một số thao tác quan trọng, để đẩy nhanh quá trình dọn dẹp, phòng khi bạn không có nhiều thời gian cho việc này. Dễ sử dụng và nhanh chóng là ưu điểm của bộ chương trình. Hy vọng nó sẽ đem lại cho bạn nhiều tiện lợi hơn khi dùng máy tính. Trần Huy

Tạo máy ảo với Microsoft Virtual PC 2007
17:52:52, 18/03/2007 Phạm Hồng Quân Từ lâu, phần mềm tạo máy ảo đã là "vật bất ly thân" trong hành trang của dân quản trị hệ thống cũng như những chuyên viên kiểm tra và phát triển phần mềm. Còn với "vọc sĩ" máy tính, máy ảo được xem là phương tiện để thử nghiệm những phần mềm lạ, những hệ điều hành "độc" có thể tiềm ẩn sự rủi ro cho hệ thống, trước khi quyết định có cài chúng vào máy tính của mình hay Giao diện máy không. ảo Hai phần mềm tạo máy ảo mạnh và thông dụng nhất hiện nay là VMware Workstation của hãng Vmware và Microsoft Virtual PC được thiết kế bởi gã khổng lồ Microsoft. Bài viết này, chúng ta hãy cùng khai thác phiên bản Microsoft Virtual PC 2007 (MVP7). Phiên bản chính thức của MVP7 có dung lượng 30 MB, cung cấp miễn phí tại 1 trong 2 địa chỉ sau: 3

http://tinyurl.com/yrt843 http://download.microsoft.com/download/8/5/6/856bfc39-fa48-4315a2b3-e6697a54ca88/32%20BIT/setup.exe Tải xong, chạy trực tiếp file setup.exe để cài đặt. So với VMware Workstation 6 thì MVP7 có dung lượng gọn nhẹ hơn rất nhiều, ngốn ít tài nguyên hệ thống hơn và đặc biệt là cách sử dụng tương đối dễ dàng hơn. Tạo máy ảo (virtual machine) Bạn kích hoạt MVP7 thông qua shortcut Microsoft Virtual PC có trong menu Start > Programs. Trong hộp thoại đầu tiên xuất hiện, bấm Next để bắt đầu các bước tạo ra một máy ảo mới. Ở hộp thoại Options, tại mục Select an option, bạn giữ nguyên dấu kiểm ở tùy chọn Create a virtual machine rồi bấm Next. Trong hộp thoại Virtual Machine Name and Location, bạn nhập vào tên bất kỳ cho máy ảo trong hộp Name and location (chẳng hạn MU), chọn thư mục lưu file MU.vmc chứa những thông tin và thông số hoạt động của máy ảo (mặc định là My Documents\My Virtual Machines) rồi bấm Next. Ở hộp thoại Operating system, tại mục Operating system, bạn bấm vào nút xổ xuống và lựa chọn một hệ điều hành (đã hỗ trợ Windows Vista) muốn cài đặt cho máy ảo này, rồi bấm tiếp nút Next. Bài này, người viết chọn hệ điều hành khách là Windows XP. Và xin lưu ý, tùy thuộc vào hệ điều hành bạn chọn, chương trình sẽ tự động hiệu chỉnh dung lượng thích hợp của bộ nhớ RAM phân phối cho máy ảo này. Trong hộp thoại Memory, bạn có thể giữ dấu kiểm mặc định tại mục Using the recommended RAM đồng nghĩa với việc giữ nguyên dung lượng RAM mà chương trình phân phối cho máy ảo (với Windows XP là 128 MB); còn nếu muốn nâng tốc độ xử lý cho máy ảo này thì bạn đánh dấu ở mục Adjusting the RAM, rồi kéo con trượt về phía phải để tùy chỉnh dung lượng lớn hơn cho RAM. Xong, bạn bấm Next. Ở hộp thoại Virtual Hard Disk Options, bạn đánh dấu ở mục A new virtual hard disk rồi bấm Next. Trong hộp thoại Virtual Hard Disk Location kế tiếp, bạn nhập vào một giá trị xác định trong hộp Virtual hard disk size (mặc định là 65.536 MB, maximum là 130.557 MB) tương ứng với dung lượng tạm thời của đĩa cứng ảo hay kích thước của file MU Hard Disk.vhd lưu trong thư mục My Documents\My Virtual Machines, bấm Next rồi bấm tiếp nút Finish là hoàn tất công đoạn tạo máy ảo. Kích thước của file MU Hard Disk.vhd sẽ phình to dần khi bạn cài đặt hệ điều hành khách cũng như những phần mềm liên quan cho máy ảo này. Ngay sau đó, bạn thấy trong giao diện hộp thoại Virtual PC console sẽ xuất hiện một máy ảo có tên MU ở trạng thái chưa được kích hoạt (Not 4

Running). Muốn xem qua một vài thiết lập phần cứng liên quan đến máy ảo này, bạn bấm vào nút Setting nằm bên phải để mở cửa sổ Setting for MU. Xong, bấm OK. Nút New... có chức năng tạo thêm một máy ảo khác, còn nút Remove dùng để loại bỏ những máy ảo mà bạn đã tạo. Cài đặt hệ điều hành (Guest OS) cho máy ảo Bây giờ, bạn bỏ đĩa CD cài đặt Windows XP vào ổ và bấm vào nút Start để khởi động máy ảo. Trong giao diện máy ảo xuất hiện, trước tiên bấm vào menu CD và chọn dòng lệnh Use Physical Drive G: để kích hoạt việc khởi động máy ảo từ đĩa CD này. Tiếp đó màn hình Windows Setup sẽ hiện ra và các thao tác cài đặt Windows XP trên máy ảo, bạn cũng thực hiện y chang như trên máy thật hay còn gọi là máy chủ (host machine). Và lúc quá trình cài đặt hoàn tất, bạn hãy lấy đĩa CD ra khỏi ổ. Hệ điều hành khách mà bạn vừa cài xong cho máy ảo có giao diện y hệt hệ điều hành chủ (Host OS) của máy thật, nhưng điều thú vị là bạn không phải mất công cài đặt driver của sound card, card màn hình hay card mạng cho hệ điều hành khách nữa, vì chúng sẽ tự động nhận diện thông qua hệ điều hành chủ. Tuy nhiên khi muốn thử nghiệm phần mềm trên hệ điều hành khách, thì bạn phải cài đặt thông qua đĩa CD hoặc tải về từ Internet (rồi lưu lại trong ổ đĩa C của hệ điều hành khách) bằng trình duyệt web Internet Explorer có sẵn. Một vài nút lệnh quan trọng trong menu của máy ảo 1) Action - Full Screen Mode: chuyển giao diện hệ điều hành khách về chế độ xem toàn màn hình. Khi muốn trở lại trạng thái trước đó, bạn sử dụng tổ hợp phím Right Alt + Enter (nút Alt nằm phía phải của bàn phím). - Ctrl + Alt + Del: nếu đang ở trong môi trường Windows, bạn dùng tổ hợp phím này để mở Task Manager; còn nếu ở ngoài thì dùng kích hoạt việc khởi động lại máy ảo. - Pause: tạm dừng hoạt động của máy ảo. - Reset: khởi động lại hệ điều hành khách. - Close: khi bạn bấm vào nút này, hộp thoại hiện ra sẽ cung cấp 3 tùy chọn: Save State (lưu lại trạng thái làm việc hiện thời của hệ điều hành khách cho lần sử dụng kế tiếp, tương tự chức năng Hibernate trên máy chủ), Shutdown for Windows và Turn off (đều có chức năng đóng cửa sổ làm việc của máy ảo). - Install or Update Virtual Machine Additions: cài đặt/cập nhật một số thành phần bổ sung cho máy ảo. 5

2) CD - Use Phisycal Drive G: khởi động máy ảo từ đĩa CD, hoặc cấp quyền sử dụng đĩa CD mà bạn vừa bỏ vào ổ đĩa trên hệ điều hành khách. - Capture Iso Image: khởi động máy ảo từ một file ISO lưu sẵn trong đĩa cứng của máy chủ, áp dụng trong trường hợp bạn muốn thử nghiệm độ tin cậy một hệ điều hành hay đĩa Boot nào đó trước khi quyết định ghi file ISO vào đĩa CD. 3) Floppy - Control Phisycal Drive A: khởi động máy ảo từ đĩa mềm, hoặc cấp quyền sử dụng đĩa mềm trên hệ điều hành khách. - Capture Floppy Image: khởi động máy ảo từ một file ảnh của đĩa mềm. Lưu ý: - Trong thời gian làm việc với hệ điều hành khách, khi muốn tạm thời thoát ra ngoài để sử dụng những chương trình khác trong hệ điều hành chủ, bạn chỉ việc nhấn vào phím Alt nằm phía phải của bàn phím. - Để đảm bảo máy ảo hoạt động một cách trơn tru nhất, máy chủ của bạn cần có bộ nhớ RAM là 512 MB và CPU từ 1.5 GHz trở lên. Phạm Hồng Quân

Bảo mật hình ảnh với Photo Protector
17:45:00, 18/03/2007 Nếu bạn lo lắng hình ảnh cá nhân trên máy tính có thể dễ dàng bị xem trộm bất kỳ lúc nào, thì giải pháp an toàn là hãy mã hóa các hình ảnh đó. Và chỉ khi nào bạn có trong tay password thì mới có thể mở các hình ảnh đó xem được. Rất nhiều chương trình có thể giúp các bạn thực hiện được yêu cầu này, nhưng nếu kể đến độ an toàn cao cũng như các thao tác sử dụng đơn giản thì PhotoProtector sẽ là một ứng viên sáng giá.

Gõ password

Sau khi cài đặt chương trình, kích hoạt Photo Protector lên để vào giao diện làm việc chính của chương trình, để mã hóa cho từng tấm ảnh riêng biệt bạn hãy nhấn vào tùy chọn Open rồi chọn ảnh. Ảnh sẽ được thể hiện cho bạn xem trước ngay tại giao diện chính của chương trình, sau đó bạn click vào tùy chọn Lock rồi nhập password để khóa hình ảnh đó lại, xác lập đường dẫn cần lưu lại tấm ảnh sau khi mã hóa ở trước mục Save in the following folder. Sau khi lưu chương trình sẽ tạo thêm cho bạn một file có định dạng bất kỳ, mà định dạng đó chính là hình ảnh mà bạn cần mã hóa. Để mở tấm ảnh bạn chỉ cần nhấp đúp chuột rồi nhập đúng password là có thể xem lại ngay ! 6

Nếu bạn muốn mã hóa cho cả thư mục chứa các hình ảnh cá nhân của mình, hãy truy xuất vào menu Tools > Lock Photo Files rồi xác định đường dẫn chứa các hình ảnh trước tùy mục Source directory, đường dẫn chứa các hình ảnh sau khi được mã hóa trước tùy mục Destination directory, bước này bạn nên đánh dấu chọn trước các định dạng đồ họa như JPEG, BMP, WMF... sau đó nhập password để bảo vệ các hình ảnh. Cuối cùng nhấn vào nút Lock để chương trình bắt đầu có hiệu lực. Chương trình Photo Protector hiện nay có phiên bản 2.0 với dung lượng 900 KB, tương thích tốt trên các hệ điều hành Windows 9x/Me/2000/Xp. Tải bản dùng thử từ địa chỉ: http://www.softpedia.com/progDownload/Photo-Protector-Download41725.html. Thành Luân

Chọn hệ điều hành nào ?
17:15:49, 18/03/2007 Vũ Phương Ngày nay, với sự tiến bộ của công nghệ, Windows XP đã có thể chạy trên máy Macintosh của hãng Apple, Linux cũng đã có thể song hành cùng "đối thủ truyền kiếp" Windows. Đồng thời, khi khoảng cách giữa hai loại máy PC và Mac ngày một ngắn lại, thì câu hỏi đặt ra là: Chọn hệ điều hành (HĐH) nào phù hợp với nhu cầu sử dụng? Win Vista Windows XP: Cũ nhưng vẫn tốt

Ra mắt lần đầu vào 25.10.2001, trải qua gần 6 năm, 400 triệu bản Windows XP đã được phát hành khắp thế giới và nhanh chóng trở thành HĐH bán chạy nhất trong suốt nửa thập kỷ qua. Bất chấp những lời phàn nàn về vấn đề bảo mật, Windows XP vẫn là một HĐH thành công và là sự lựa chọn của đa số khách hàng của Microsoft. Trước Windows XP (và cả người tiền nhiệm Windows 2000), các HĐH của Microsoft hoạt động rất thiếu ổn định và thường xuyên làm cho máy tính bị treo với màn hình xanh báo lỗi mà đến giờ vẫn còn là một nỗi ám ảnh với người dùng. Tuy nhiên, khi Windows XP ra đời, mọi thứ trở nên tốt đẹp hơn. HĐH này tương tác rất tốt với phần cứng máy tính và hoạt động khá ổn định. Với các bản vá lỗi được cập nhật liên tục, các Service Pack ra đời góp phần hoàn thiện "cỗ máy" Windows XP. Đặc biệt với Windows Security Center trong Service Pack 2 và Internet Explorer 7 vừa ra mắt cuối năm ngoái, các lỗ hổng của Windows XP ngày càng khép lại tạo nên sự an tâm nơi người dùng. Tuy Windows Vista đã chính thức phát hành, nhưng Microsoft cho biết vẫn tiếp tục quan tâm đến Windows XP trong ít nhất 5 năm tới. Trước mắt, bản Service Pack 3 của Windows XP đang trong giai đoạn phát triển và sẽ ra mắt vào nửa đầu năm 2008. Windows Vista: Bản nâng cấp đáng giá 7

Theo nghiên cứu của Công ty Forrester Research, 40% khách hàng của Microsoft sẽ chuyển sang dùng Vista trong năm tới và sẽ mở rộng dần dần từ 12 triệu người dùng vào năm đầu tiên đến 73 triệu trong bốn năm tiếp theo. Con số này cho thấy Windows Vista đang là sự lựa chọn mới của nhiều người. Giao diện người dùng Windows Aero chính là điểm nổi bật nhất của Windows Vista. Môi trường hiển thị của Vista được trình bày với màu sắc hài hòa cùng các hiệu ứng như đổ bóng và trong suốt làm cho nó trở nên thân thiện. Bên cạnh đó các tính năng thêm vào như Windows Sidebar (lấy ý tưởng từ Dashboard của Mac OS X) giúp người dùng có khả năng tùy biến màn hình desktop của mình với những thông tin cần thiết. Ngoài ra, so với Windows XP, Vista là một bước nhảy khá dài về bảo mật với các chương trình bảo vệ như Windows Defender, NetworkAccess Protection... Và cuối cùng, Vista mang đến cho game thủ nền tảng đồ họa mới: DirectX 10, hứa hẹn tăng tốc độ xử lý hình ảnh lên 8 lần. Tuy nhiên, Vista cũng không phải hoàn toàn hoàn hảo. Thử nghiệm với phần cứng Microsoft khuyên dùng dành cho Vista, kết quả cho thấy: cùng một ứng dụng nhưng tốc độ trên XP lại nhanh hơn đáng kể so với Vista. Do đó, nếu máy bạn không thật sự mạnh mẽ, không nên vội vàng đến với Vista. Mac OS: Các ứng dụng tuyệt vời Một sự kiện đáng quan tâm dành cho người dùng Mac là vào mùa xuân 2007, Apple tung ra phiên bản thứ 6 của HĐH Mac OS X mang tên Leopard (phiên bản thứ 5 có tên Tiger). Bản nâng cấp hứa hẹn sẽ là một bộ sưu tập các công cụ và tiện ích cực kỳ đáng giá. Trong đó có thể kể đến công cụ tìm kiếm mang tính cách mạng Spotlight, chương trình sao lưu dữ liệu đặc biệt Time Machine, bộ tiện ích nhỏ Dashboard hay màn hình desktop ảo Spaces... Ubuntu Nhưng ấn tượng nhất có thể kể đến Boot Camp, một phần mềm hỗ trợ, cho phép bạn cài đặt Windows XP ServicePack 2 trên một hệ thống Intel Macintosh. Tuy nhiên, Apple vẫn không cho phép Mac OS X chạy trên một hệ thống khác. Điều này làm cho Macintosh của Apple trở thành chiếc máy duy nhất có thể chạy tất cả các HĐH với sự hỗ trợ của một phần mềm mô phỏng như Parallels hay VMWare. Sản phẩm của Parallels còn cung cấp thêm tiện ích Coherence - giúp người dùng có thể chạy các ứng dụng Windows bên cạnh chương trình của Mac OS X. Thậm chí, cả hai công ty này còn đang nghiên cứu khả năng tăng tốc 3D nhằm giúp người dùng có thể chơi game như thật trên một HĐH ảo. Giao diện thân thiện, ít lớp, ít thiết lập khó hiểu cùng với các ứng dụng tuyệt vời của mình, Mac OS X cùng với hệ thống Macintosh chính là sự lựa chọn sáng giá của bạn. Linux: Ngày càng gần gũi

8

Nhắc đến Linux, một bộ phận người dùng cho rằng nó quá khó để sử dụng và chỉ dành cho người có kiến thức IT nhất định. Điều đó đúng, tuy nhiên, chỉ là quá khứ. Ngày nay, Linux đang dần trở nên gần gũi với người dùng thông thường hơn, đồng thời mang lại cho họ rất nhiều sự lựa chọn từ các nhà phân phối. Một trong số đó là Ubuntu, một Linux distro đang được sử dụng rộng rãi cho máy PC. Chỉ cần vài cú nhấp chuột, Ubuntu sẽ tự động tạo phân vùng trên ổ cứng và tiến hành cài đặt HĐH mới bên cạnh Windows. Một khi HĐH mới đã được cài đặt thành công, bạn sẽ lựa chọn cài đặt thêm từ hàng trăm chương trình miễn phí bao gồm giải trí đa phương tiện, công cụ phát triển... từ nhà cung cấp. Với yêu cầu phần cứng ở mức thấp, khả năng bảo mật cao, nhiều ứng dụng miễn phí, cài đặt và thiết lập dễ dàng... Linux thích hợp cho các hệ thống có chi phí không cao nhưng vẫn đáp ứng được gần như đầy đủ nhu cầu của người dùng. V.P

Tạo các hiệu ứng đặc biệt trên desktop với Fun4desktop
14:57:00, 13/03/2007 Thành Luân Thổi hồn vào màn hình desktop luôn luôn là một vấn đề mà rất nhiều người quan tâm đến, việc có được một màn hình desktop vừa ấn tượng vừa độc đáo sẽ khiến cho máy tính của bạn trông rực rỡ hơn, đồng thời cũng sẽ giúp cho bạn thoải mái hơn trong công việc của mình. Xin được giới thiệu cho các bạn một chương trình tạo hiệu ứng trên desktop đa năng “tất cả trong một” mang tên Fun4Desktop. Ngoài ra, chương trình còn có thêm một số tiện ích khá độc đáo như dùng flash hay video làm hình nền cho desktop. Trong cửa sổ làm việc chính của chương trình bạn hãy click vào thẻ Desktop, tại đây chương trình sẽ cung cấp cho các bạn các hiệu ứng đặc biệt trên desktop như: Dyrlamic (các hiệu ứng về hình ảnh), Java (tạo các hiệu ứng chuyển động trên deskop), Media (biến các đoạn video clip thành hình nền động), Dream (một số wallpaper động khá đẹp), Flash (biến Flash thành hình nền). Để sử dụng chương trình đạt hiệu quả hơn bạn cần thực hiện các thao tác cơ bản sau: - Thẻ Dyrlamic: Tại thẻ này, bạn hãy nhấn vào tuỳ chọn Add sau đó tìm kiếm đến những hình ảnh có trên máy bạn (chương trình hỗ trợ hầu hết tất cả các định dạng hình ảnh thông dụng nhất) rồi nhấn OK, sau đó nhấn Next để qua bước tiếp theo, tại đây nếu muốn chèn thêm các đoạn nhạc (*.mid) để làm vui nhộn thêm desktop của mình bạn hãy đánh dấu trước tuỳ chọn Add sound, chọn một trong 26 hiệu ứng về hình ảnh mà chương trình cung cấp sẵn trong mục Transaction Mode, thiết lập thời gian hình ảnh sẽ thay đổi trước mục Staying time và Altering time rồi 9

nhấn tiếp nút Next. Trong cửa sổ vừa mới xuất hiện, nếu muốn xem trước các hình ảnh sẽ được thay đổi ra sao bạn hãy nhấn vào tuỳ chọn Preview hoặc nhấn nút OK để chấp nhận các bước. - Thẻ Java: Đây là một tiện ích khá hay, với nó bạn sẽ tạo được rất nhiều hiệu ứng Java mà bạn thường thấy xuất hiện trên các Website, để tạo hiệu ứng bạn hãy click chọn vào 1 trong 20 hiệu ứng được cung cấp sẵn trong mục Plese choose an effect rồi nghía xuống mục Preview để xem trước hiệu ứng ấy sẽ được thể hiện ra sao trên màn hình desktop của bạn, sau khi chọn xong bạn hãy nhấn nút Next và thực hiện các thao tác tương tự như trên thẻ Dyrlamic. - Thẻ Media: Với chức năng chính là biến các files Mutimedia thành một rạp hát mini phục vụ trực tiếp trên desktop, với chức năng này bạn có thể thưởng thức những đoạn nhạc hoặc các đoạn video clip ngay trên màn hình desktop mà không cần phải quan tâm xem mình có các công cụ trình chiếu các files Mutimedia ấy hay không. Để thực hiện, bạn hãy nhấn vào tuỳ chọn Add rồi tìm kiếm các files Mutimedia có trên máy bạn (chương trình hỗ trợ tất cả các định dạng Mutimedia hiện nay) để giúp bạn có được các công cụ như khi sử dụng một trình mở Mutimedia bạn hãy nhấn dấu chọn trước các mục Controls, Tracker, SatusBar, Display, Audio.. cuối cùng nhấn Ok để chấp nhận các bước. - Thẻ Dream: Tại đây bạn sẽ được cung cấp 4 theme với các hiệu ứng động và hiệu ứng âm thanh khá hay, để thiết lập bạn hãy chọn 1 trong 4 màn hình theme động ở mục Plese choose an scene, click tiếp vào mục As Desktop nếu muốn áp dụng theme này cho các icon, As Wallpaper nếu muốn áp dụng theme cho màn hình desktop, As ScreenSaver nếu muốn chuyển theme này sang ScreenSaver. Đánh dấu vào Add sound nếu muốn áp dụng âm thanh tương ứng cho từng theme, cuối cùng nhấn Ok để chấp nhận các bước. - Thẻ Flash: Với chức năng chính là biến các files Flash thành màn hình động cho desktop của bạn, tại đây bạn hãy nhấn vào tuỳ chọn Add rồi chọn một hoặc nhiều files Flash mà bạn ưng ý, nhập độ rộng tương ứng trước mục Width và Height cuối cùng nhấn Ok để chương trình bắt đầu có hiệu lực. Ngoài ra, chương trình còn có thêm một công cụ ghi chú trên màn hình desktop khá hữu ích, để khai thác chức năng này bạn hãy click vào thẻ Toy & Tool chọn Note. Sau đó bạn chỉ cần nhập nội dung cần chú thích trong hộp thoại vừa mới xuất hiện ngoài desktop mà thôi. Khi nào bạn muốn màn hình desktop trở về vị trí ban đầu, hãy truy xuất vào Display Properties rồi chọn lại một màn hình tĩnh mà bạn ưng ý. Chương trình Fun4Desktop có dung lượng 6.1MB tương thích tốt với các hệ điều hành Windows 9x/Me/2000/Xp. Bạn có thể tải phiên bản dùng thử của chương trình này về từ địa chỉ: http://www.musiccard.com/fun4desktopen.zip Thành Luân 10

Định cỡ ảnh chỉ bằng vài cú nhắp chuột!
TTO - Định cỡ ảnh (resize) là một trong những công đoạn trong xử lý ảnh số. Nó sẽ làm thay đổi kích cỡ gốc của bức ảnh tùy theo mục đích của người dùng. Giao diện chương trình thay đổi kích thước ảnh Fotosizer.

Thông thường, tính năng tái định cỡ sẽ được tích hợp trong các trình duyệt hoặc trình biên tập ảnh số chuyên dụng. Tuy nhiên, nếu thường xuyên khai thác chỉ mỗi tính năng trên mà bạn phải chạy các ứng dụng nặng “đô”, thì bạn sẽ mất nhiều thời gian và làm tiêu hao tài nguyên của máy tính. Bạn nên chạy một công cụ gọn nhẹ hơn. Và Fotosizer chính là một trong số đó. Tiện ích này rất dễ sử dụng, không ngốn bộ nhớ máy tính, hỗ trợ cả chế độ xử lý thư mục, cho phép tái định cỡ ảnh theo giá trị cụ thể hoặc theo tỷ lệ phần trăm, áp dụng hiệu ứng ảnh đen trắng lên tập tin xuất và chất lượng của bức ảnh sau khi được tái định cỡ cũng được đảm bảo đến mức tối đa so với bức ảnh gốc. Fotosizer hỗ trợ tốt các chuẩn định dạng bao gồm .bmp, .jpg, .jpeg, .jif, .png, .gif và .tga, xuất kết quả xử lý sang chuẩn định dạng .jpeg. 1. Tái định cỡ cho một hoặc vài tập tin ảnh: Cài đặt và kích hoạt Fotosizer, nhắp chuột lên nút Add Image nằm ở góc dưới bên trái của giao diện, tìm đến địa điểm lưu trữ của những bức ảnh mà bạn muốn tái định cỡ, ấn giữ phím Shift đồng thời nhắp chuột lần lượt lên biểu tượng của chúng rồi chọn Open. Một danh sách sẽ được tạo lập trong vùng Image selection (có cả ảnh thumbnail của tất cả những tập tin vừa được nạp vào giao diện) để cung cấp đến người dùng một số thông tin quan trọng bao gồm đường dẫn của bức ảnh, kích cỡ hiện hành, định dạng và dung lượng của nó. Để tái định cỡ cho một bức ảnh cụ thể, trước tiên, bạn hãy nhắp chuột lên mẫu ghi tương ứng với nó, lựa chọn 1 trong 2 phương thức tái định cỡ được trình bày trong vùng Settings bao gồm tái định cỡ ảnh dựa theo giá trị do người dùng thiết lập (chế độ Custom size với 2 thông số kỹ thuật bao gồm chiều rộng (Width) và chiều cao (Height) có đơn vị tính là ảnh điểm (pixel, được viết tắt là px), chẳng hạn như 1024 x 768, 800 x 600, 640 x 480, v.v…) hoặc tái định cỡ ảnh dựa theo tỷ lệ phần trăm do người dùng quy định (chế độ Percentage of original với 2 thông số kỹ thuật bao gồm chiều rộng (Width) và chiều cao (Height) có đơn vị tính là tỷ lệ phần trăm so với kích cỡ gốc của bức ảnh (percent, được viết tắt là %), chẳng hạn như 200, 50, 25, v.v…), đánh dấu kiểm trước tùy chọn Maintain aspect ratio of và giữ nguyên giá trị mặc định để đảm bảo tính cân đối của bức ảnh. Bạn đánh dấu kiểm trước tùy chọn Convert to Greyscale nếu như bạn muốn bức ảnh sau khi được tái định cỡ sẽ là ảnh đen trắng, nhắp chuột lên nút có biểu tượng là chiếc cặp đựng hồ sơ màu vàng nằm trong vùng Destination settings, tìm đến thư mục mà bạn muốn dùng làm nơi lưu trữ cho các bức ảnh sắp được tái định cỡ, nhắp chuột lên biểu tượng của thư mục này trong hộp thoại Browse For Folder, chọn OK rồi nhắp chuột 11

lên nút Start để tiến hành công việc tái định cỡ ảnh. Bức ảnh sau khi được tái định cỡ sẽ có tên trùng với tên của tập tin ảnh gốc và sẽ được xuất sang chuẩn định dạng .jpeg. 2. Tái định cỡ cho cả thư mục ảnh: Từ giao diện tương tác của Fotosizer, bạn hãy nhắp chuột lên nút Add Folder nằm ở góc dưới bên trái của giao diện (đánh dấu kiểm trước tùy chọn Include Sub-folders nếu muốn nạp thêm cả những thư mục con của thư mục này), tìm đến thư mục có chứa tất cả những bức ảnh mà bạn muốn tái định cỡ, nhắp chuột lên biểu tượng của nó, chọn OK trong hộp thoại Browse For Folder rồi thực hiện các thao tác còn lại tương tự như đã trình bày trong mục 1. Với dung lượng nhỏ gọn (743 KB), tương thích trên hầu hết các phiên bản của hệ điều hành Microsoft Windows, phiên bản miễn phí (freeware) của Fotosizer đang được cung cấp tại đây. LÊ NGUYỄN BẢO NGUYÊN

Khôi phục Windows trong 10 phút
TTO - Để cài đặt lại hệ điều hành Windows, có nhiều giải pháp nhanh chóng và tốt nhất thay vì cho CD Windows vào rồi tiến hành cài đặt từ đầu. Acronis True Image Khi sử dụng máy tính nhiều năm, bạn sẽ luôn định 10, phiên bản mới hình trước những phần mềm nào sẽ được cài đặt tiếp nhất của Acronis theo sau Windows và driver cho các thiết bị phần Inc cứng. Kế đến là việc thiết lập cho Windows và những phần mềm hoạt động thích hợp theo ý muốn. Tốt nhất, những phần mềm nào bạn cảm thấy mình sẽ sử dụng hoặc chưa sử dụng mà cần thiết phải có trên hệ thống thì nên cài đặt luôn vào giai đoạn này. Sau khi đã hoàn tất giai đoạn chuẩn bị và cài đặt, cập nhật, cấu hình, thiết lập toàn bộ hệ thống cũng như phần mềm, ta sẽ tiến hành sao lưu toàn bộ partition cài hệ điều hành mà ở đây là ổ C. Có khá nhiều chương trình sao lưu và khôi phục hệ thống như: Norton Ghost, Norton Save & Restore (mới), Paragon Drive Backup nhưng có nhiều tính năng ưu việt hơn là Acronis True Image. Người dùng Việt Nam trước đây thường quen dùng Norton Ghost nhưng Acronis True Image sẽ là chương trình thay thế khá tin cậy với giao diện đơn giản, dễ dùng. 12

Tạo đĩa khởi động khôi phục hệ thống Chức năng chính của Acronis True Image là tạo một ảnh đĩa hay partition để có thể được khôi phục khi hệ thống có các lỗi hư hỏng nặng nề. Người dùng có thể chọn lựa để tạo đĩa (CD/DVD) khởi động (bootable) và đĩa này sẽ được dùng như là thiết bị cứu hộ khi hệ thống bị lỗi, nó sẽ khởi động hệ thống rồi khôi phục lại ảnh đĩa đã được sao lưu. Cài đặt Acronis True Image 10.0 Home từ website (bản dùng thử 15 ngày với dung lượng 102.2MB) và thực thi chương trình. Trên danh sách menu trái, chọn "Create bootable rescue media" để khởi động Acronis Media Builder hoặc vào Start - Program Files - . Công cụ này sẽ giúp bạn tạo một đĩa khởi động qua tập tin ảnh đĩa (ISO). Việc tạo và lưu giữ đĩa khởi động rất quan trọng, nếu cần thiết, bạn nên tạo 2 đĩa để phòng bị khi dữ liệu trên đĩa bị hư hỏng. Acronis Secure Zone Acronis Secure Zone là một partition ẩn với chức năng chính là lưu trữ sao lưu của hệ thống. Để bảo mật, các chương trình khác sẽ không có quyền truy xuất vào Secure Zone. Ta quản lý Secure Zone bằng cách thực thi Acronis True Acronis Secure Zone Image, trong giao diện chính của chương trình, giúp khôi phục nhanh chọn "Manage Acronis Secure Zone". Trình Wizard chỉ với một phím sẽ xuất hiện, giúp bạn chọn nhanh qua từng bước. nhấn F11 trong Acronis True Image Bước đầu tiên, danh sách các partition sẽ được hiển thị. Partition chính vẫn là phần có đánh dấu cờ đỏ và "Pri,Act". Bạn có thể đặt Secure Zone ở bất cứ partition nào tùy ý và mỗi máy tính chỉ có một Secure Zone duy nhất. Kế tiếp, ta chọn dung lượng cho Secure Zone để có thể sao lưu. Trường hợp dung lượng này không đủ, các bản sao lưu cũ sẽ được xóa đi để có dung lượng cho bản sao lưu kế tiếp.

Tiếp theo, chương trình sẽ yêu cầu bạn chọn lựa kích hoạt "Acronis Recovery Manager" hay không. Nếu kích hoạt, khi khởi động Windows, người dùng chỉ cần dùng phím F11 để khởi động Acronis True Image Home 10 mà không cần đĩa CD khởi động (Bootable Media). Tốt hơn hết, bạn nên sử dụng chức năng này để dễ dàng khôi phục hệ thống khi khởi động chỉ với một phím nhấn. Nhấn Next, bạn sẽ thấy một bảng tổng kết các hoạt động sẽ được thực thi trên partition như: Resizing partition (thay đổi kích thước partition), Creating partition (Tạo partition là Secure Zone). Nhấn "Proceed" để chương trình bắt đầu thực hiện công việc và hệ thống phải "restart". 13

Sau khi tạo Acronis Secure Zone, bạn vẫn có thể thay đổi kích thước dung lượng bằng cách vào "Manage Acronis Secure Zone" chọn tăng/giảm cho Secure Zone. Hoặc ta có thể thay đổi mật khẩu bảo mật cho Secure Zone bằng cách nhấn "Change password". Cuối cùng, muốn gỡ bỏ Acronis Secure Zone, click chọn "Remove Acronis Secure Zone".

Acronis True Image Home 10.0 còn rất nhiều chức năng hỗ trợ quản lý partition cũng như sao lưu ổ đĩa cứng theo nhiều dạng. Chỉ với 49,99 USD, bạn đã có thể bảo vệ cho dữ liệu và hệ thống luôn luôn an toàn. Tham khảo chi tiết hướng dẫn sử dụng Acronis True Image 10 tại đây (Tập tin dạng PDF). Cách tạo đĩa Boot và khôi phục hệ thống từ Norton Ghost TTO – Trả lời cho nhiều bạn đọc thắc mắc về cách khôi phục hệ thống đã được sao lưu với Norton Ghost theo các trường hợp. Nhịp cầu Nhịp sống số trả lời: Norton Ghost 9.0 với giao diện thân thiện và dễ sử dụng hơn trước.

Norton Ghost không còn xa lạ với người dùng máy tính, nó đã được dùng rất phổ biến với chức năng chính là sao lưu dữ liệu theo từng partition hay toàn bộ hệ thống, rồi có thể khôi phục nhanh dữ liệu đã sao lưu mà không cần cài đặt lại hệ điều hành, cho dù bạn đã format hay tái thiết lập lại hệ thống. Bạn không cho biết rõ mình đang sử dụng phiên bản Norton Ghost mấy nên tạm thời lấy phiên bản Ghost 9 làm ví dụ. Khi muốn phục hồi hệ thống từ tập tin ghost đã được sao lưu từ trước, ta chọn “Restore a Drive” và nhấn Next. Tiếp theo, tìm đến tập tin đã sao lưu theo định dạng ghost (.gho). Nếu khi sao lưu, bạn có đặt mật khẩu (password) cho tập tin để bảo mật thì bước tiếp theo này bạn cần khai báo mật khẩu để có thể tiếp tục. Chọn ổ đĩa và phân vùng (partition) bạn muốn phục hồi trong cửa sổ tiếp theo rồi nhấn Next. Kế đó chọn một vài thiết đặt trước khi phục hồi như: Verify image file before restore (Kiểm tra tập tin sao lưu trước khi phục hồi), Check for file system errors (kiểm tra lỗi hệ thống tập tin), Set drive active (for booting OS) (đặt chế độ khởi động cho đĩa). Chọn xong nhấn Next hai lần để tiến hành phục hồi. Tham khảo thêm các thông tin về ghost đĩa cho các partition tại đây. 14

Phục hồi những tập tin và thư mục chỉ định: Muốn thế, trước tiên bạn phải chạy Symantec Backup Image Browser bằng cách nhấp Restore Files or Folders tại giao diện chính của chương trình hoặc từ menu Start -> All Programs -> Norton Ghost. Tuy giao diện chương trình khá giống Ghost Explorer của các phiên bản Ghost trước song bạn lại không thể mở tập tin .gho trong đây, nếu bạn vẫn cố gắng mở thì một cửa sổ Ghost Explorer hiện ra chứ không phải Symantec Backup Image Browser. Symantec Backup Image Browser có khả năng ánh xạ tập tin sao lưu thành một ổ đĩa trên hệ thống bằng cách chọn gốc của cây thư mục (tức là tên của tập tin sao lưu) trong khung bên trái rồi nhấn nút Mount a v2i drive. Bạn chọn tên ổ đĩa ánh xạ trong danh sách Drive letter, nhấn OK là xong.

Bây giờ, muốn phục hồi thư mục hoặc tập tin nào trong tập tin sao lưu, bạn chỉ việc đánh dấu chọn chúng trong vùng bên phải tiếp đó vào menu File nhấp mục Restore rồi nhấn nút Restore. Phục hồi từ DOS: Để phục hồi với Norton Ghost trong DOS, bạn có thể tham khảo phần hướng dẫn tại đây. Tạo đĩa khởi động với Ghost (Boot CD): Bạn có thể tham khảo các hướng dẫn cụ thể trên website Symantec (Tạo đĩa Boot CD - Khôi phục) hay chi tiết và thủ công hơn với các tiện ích tại đây. Đối với môi trường mạng thì Symantec Ghost cũng hỗ trợ việc boot với hướng dẫn của Scott Barker từ đại học Washington. Ngoài Symantec Norton Ghost, bạn có thể tham khảo một dạng phần mềm tương tự nhưng có vài tính năng nổi trội hơn là Acronis TrueImage với các phiên bản mới có thêm tính năng Secure Zone cho phép khôi phục toàn bộ hệ thống nhanh chóng.

Empty folder nuker 1.2.0: tìm xóa nhanh và triệt để thư mục rỗng

15

TTO - Trong quá trình sắp xếp và di chuyển tập tin từ thư mục này sang thư mục khác, bạn đã vô tình tạo ra rất nhiều thư mục rỗng mà quên xóa chúng đi và chính điều này làm lãng phí dung lượng lưu Chương trình đơn giản với giao diện duy trữ trên máy. nhất và không cần cài đặt Khi đến lúc cần dọn dẹp làm sạch đẹp hệ thống, bạn phải mất công mở từng thư mục nhằm tìm xóa những thư mục rỗng, công việc tuy đơn giản nhưng bạn sẽ mất khá nhiều thời gian và đôi khi sẽ để sót lại một số thư mục rỗng nằm sâu trong các thư mục con. Để thực hiện tác vụ này một cách nhanh chóng và triệt để, bạn có thể nhờ đến EFN 1.2.0 của nhà phát triển Simon Wai, dung lượng 260 KB và tương thích với mọi hệ điều hành Windows, tải về sử dụng miễn phí tại http://www.simonwai.com/bin/EmptyFolderNuker.exe. Sau khi tải về thành công, không cần cài đặt, bạn nhắp kép vào tập tin EmptyFolderNuker.exe để kích hoạt chương trình. Trong cửa sổ tương tác của chương trình, nhập vào đường dẫn thư mục mà bạn nghi là có chứa thư mục rỗng bên trong trong ô Base folder hay nhắp nút Browse… để xác định một cách trực quan và chính xác hơn thư mục cần tìm thư mục rỗng bên trong rồi nhấn OK để đóng cửa sổ Browse for Folder lại. Đánh dấu hộp kiểm Check subfolders để chương trình tìm kiếm luôn cả những thư mục rỗng bên trong các thư mục con của thư mục đã xác định và đánh dấu hộp kiểm Consider folders with only empty subfolders as empty để chương trình xem những thư mục chứa toàn chỉ các thư mục con rỗng là một thư mục rỗng. Sau đó nhấn nút Find để chương trình bắt đầu thực hiện quá trình tìm kiếm thư mục rỗng. Bạn có thể nhấn nút Shell Integration… rồi chọn Yes trong hộp thoại Add shell integration? để tích hợp chương trình vào trong trình đơn ngữ cảnh chuột phải trong Windows Explorer và ở đây, bạn sẽ tiến hành việc tìm kiếm một cách nhanh chóng và đơn giản bằng cách nhắp phải vào thư mục cần tìm thư mục rỗng bên trong rồi chọn Find empty folders trong trình đơn xổ xuống. Sau khi chương trình tìm kiếm xong, trong cửa sổ kết quả xuất hiện, tất cả thư mục rỗng cùng với đường dẫn của chúng sẽ được liệt kê trong khung với hộp kiểm ở trước được đánh dấu sẵn, nếu muốn lọc lại bạn nhấn nút Uncheck All và sau đó tiến hành đánh dấu hộp kiểm từng thư mục rỗng cần xoá, xong nhấn nút Delete để xoá chúng đi. Bạn có thể đánh dấu hộp kiểm Exit EmptyFolderNuker after successful deletion để tự động thoát khỏi chương trình sau khi xoá, hay không đánh dấu nó nếu muốn trở lại cửa sổ ban đầu và thực hiện tiếp việc tìm kiếm.

Cách gỡ bỏ thủ công Symantec Antivirus an toàn (Phần I)

16

TTO - Symantec Antivirus hay Norton Antivirus là chương trình chống virus được sử dụng rất phổ biến. Tuy nhiên, khi người dùng gỡ bỏ (Uninstall) thì thường hệ thống sẽ bị lỗi và đôi khi dẫn đến việc cài đặt lại toàn bộ hệ điều hành.

Giao diện trình Symantec AntiVirus

Đối với các phiên bản khác nhau thì ta cũng có cách gỡ bỏ khác nhau. Do đó, bạn cần kiểm tra kỹ phiên bản mình đang sử dụng là phiên bản mấy bằng cách vào phần About và xem số phiên bản (version). Bài viết sẽ hướng dẫn bạn cách gỡ bỏ các phiên bản mới. Symantec AntiVirus 10.1 Client Phiên bản này dành cho các máy trạm, thường được dùng trên các hệ thống sử dụng phiên bản hệ điều hành 2000/XP/2003. Cách gỡ bỏ bao gồm 5 bước: Khóa Tamper Protection: bạn cần phải khóa Tamper Protection trước khi khóa các dịch vụ của Symantec AntiVirus. - Mở Symantec AntiVirus, ở phần menu cấu hình (Configure), chọn Tamper Protection. - Bỏ chọn “Enable Tamper Protection” rồi nhấn OK. Khóa các chương trình của Symantec AntiVirus: Những chương trình đang được thực thi cần được khóa là: ccApp.exe, Vpc32.exe, Vptray.exe. Để tắt các “process” này, bạn chọn Start - Run, trong hộp thoại gõ “taskmgr.exe” và Enter hoặc phải chuột lên khay hệ thống và chọn “Task Manager”. Trong cửa sổ “Windows Task Manager”, chọn thẻ “Processes” rồi lần lượt chọn ccApp.exe, phải chuột “End Process”, tiếp tục với 2 process còn lại. Khóa các dịch vụ Symantec AntiVirus: Ta cần ngưng hoạt động các dịch vụ của Symantec AntiVirus trước khi tiến hành xóa giá trị registry. Nhấn chọn Start - Run, gõ "services.msc" trong hộp thoại Run rồi OK. Tìm và chọn các dịch vụ sau rồi phải chuột lên Khóa các dịch vụ của chúng, chọn "Stop" để ngưng hoạt động: Symantec AntiVirus SAVRoam, Symantec AntiVirus, Symantec trong Services AntiVirus Definition Watcher, Symantec Event Manager, Symantec Settings Manager. Đối với phiên bản Symantec AntiVirus 10.2 Client thì 2 bước trên sẽ được thu ngắn lại như sau: - Không có process: Vpc32.exe - Phần dịch vụ, sẽ bao gồm: SavRoam, Symantec AntiVirus, DefWatch, ccEvtMgr, ccSetMgr.

17

Gỡ bỏ khóa Registry: Đây là thao tác quan trọng và phức tạp nhất. Tốt nhất, bạn cần sao lưu lại toàn bộ registry trước khi thực hiện các bước dưới đây. Chọn Start - Run, gõ "regedit" rồi OK. Trong cửa sổ Registry Editor, tìm đến khóa HKEY_CLASSES_ROOT\*\Shellex\ContextMenuHandlers, ở khung bên trái, phải chuột chọn LDVPMenu và chọn Delete. Tìm đến khóa HKEY_CLASSES_ROOT\Installer\Features. Tại đây, có rất nhiều khóa là các ký tự số dạng 32F36B64A4B252548A72860862EBE504. Click chọn lên từng khóa và đồng thời nhìn ở khung bên phải. Khóa nào có "SAVMain" thì xóa toàn bộ khóa đó. Mở tiếp đến HKEY_CLASSES_ROOT\Installer\Products, và ta lại bắt gặp nhiều khóa mang ký tự số chữ hỗn hợp như ở "Features". Cũng thực hiện thao tác dò tìm từng khóa và nhìn bên khung phải xem giá trị nào có dạng "ProductName - Symantec AntiVirus" thì xóa cả khóa (bên trái) đó đi. Mở rộng khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\In staller\UserData\S-1-5-18\Products, khóa này cũng bao gồm các khóa ký tự số. Tại khung trái, mở rộng từng khóa bằng cách nhấn vào dấu (+) trước tên khóa, chọn khóa InstallProperties. Nếu bên phải có phần "DisplayName - Symantec AntiVirus" thì xóa toàn bộ khóa đó đi. Mở rộng khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\U ninstall, thực hiện tìm từng khóa và lưu ý bên khung phải có Symantec AntiVirus thì xóa toàn bộ khóa đó đi.

Xóa các khóa sau: # HKEY_CLASSES_ROOT\Installer\UpgradeCodes\20A7FB42A06BB49448A39 7B3CB77ED4D # HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Classes\Installer\UpgradeCodes\20A7 FB42A06BB49448A397B3CB77ED4D # HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\INTEL\DllUsage\VP6 # HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\In staller\UpgradeCodes\20A7FB42A06BB49448A397B3CB77ED4D # HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Symantec\SPBBC 18

# HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Symantec\Symantec AntiVirus # HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Symantec\SymNetDrv # HKEY_LOCAL_MACHINE\System\CurrentControlSet\Services\EventLog\Sys tem\SAVRT Mở rộng khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Classes\Installer\Features, tìm trong các khóa và lưu ý khung bên phải, khóa nào có "SAVMain" thì xóa toàn bộ khóa đó. Tiếp theo, tìm khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Classes\Installer\Products và cũng giống như trên, tìm đến khóa nào mà bên khung phải có Symantec AntiVirus thì xóa toàn bộ khóa đó. Tìm khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\R un, trong khung bên phải, xóa giá trị vptray. Tiếp tục với khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Symantec\InstalledApps, ở khung phải, xóa các giá trị sau: AVENGEDEFS, Common Client, Common Client Data, Common Client Decomposers, NAVNT, SAV Install Directory, SAVCE, Savrt, SPBBC, SymNetDrv, VP6ClientInstalled, VP6UsageCount. Tìm khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\System\CurrentControlSet\Services, xóa các khóa phụ sau: ccEvtMgr, ccSetMgr, DefWatch, NAVENG, NAVEX15, SavRoam, SAVR T, SAVRTPEL, SNDSrvc, SPBBCDrv, SPBBCSvc, Symantec AntiVirus, SYMREDRV, SYMTDI. Tìm khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\System\CurrentControlSet\Services\EventLog\Ap plication, xóa các khóa phụ sau: ccEvtMgr, ccSetMgr, DefWatch, LiveUpdate, SavRoam, Symantec AntiVirus.

Gõ từ khóa cần tìm để có thể kiếm chính xác và nhanh chóng hơn trong Registry Editor Bên khung trái của Registry Editor, bạn tìm đến phần trên cùng là My Computer, trên thanh menu Edit, chọn Find, bạn gõ "VirusProtect6", xóa tất cả các khóa chứa chuỗi này. Tiếp tục thao tác trên với từ khóa tìm là "933187C5788574F4889B3B1FBB35638A".

19

Cách gỡ bỏ Symantec Antivirus an toàn (Phần II)
Phần I TTO - Ở phần trước, ta đã tiến hành các bước để gỡ bỏ thủ công chương trình Symantec AntiVirus ra khỏi hệ thống một cách an toàn. Giao diện quét virus Trong phần này sẽ là các bước xóa hẳn các tập tin trong Norton của Symantec AntiVirus trên ổ đĩa cứng. AntiVirus 2007 Tiếp theo thao tác xử lý trong Registry ở phần trước, ta tiến hành các bước còn lại để gỡ bỏ Symantec AntiVirus 10.1 Client. Tuy nhiên, 2 bước bên dưới đây có thể sẽ làm ảnh hưởng đến các chương trình khác của Symantec cùng được cài đặt trên hệ thống. Do đó, bạn phải kiểm tra lại xem có ứng dụng nào khác của Symantec ngoài AntiVirus 10.1 Client hay không. 1. Mở Registry Editor, xóa các khóa: HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Symantec\SharedDefs HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Symantec\Common Client HKEY_LOCAL_MACHINE\Software\Symantec\SymEvent HKEY_LOCAL_MACHINE\System\CurrentControlSet\Services\SymEvent

2. Tìm đến khóa HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\R un, trong khung bên phải, xóa giá trị ccApp. Khởi động lại máy tính. Symantec AntiVirus đã được khóa hoàn toàn các giá trị, dịch vụ lẫn chương trình. Bước tiếp theo sẽ là xóa bỏ trong menu Start và trên ổ cứng. Phải chuột lên Start trên thanh tác vụ, chọn "Explorer All Users". Cửa sổ Windows Explorer sẽ xuất hiện, đường dẫn sẽ là C:\Documents and Settings\All Users\Start Menu\Programs (C là partition cài đặt hệ điều hành). Chọn Programs - Symantec Client Security. Nếu đang dùng nhiều ứng dụng của Symantec thì bạn chỉ xóa Symantec AntiVirus. Nếu chỉ có Symantec AntiVirus trong thư mục này thì bạn xóa Symantec Client Security. Thao tác tiếp theo sẽ là xóa các tập tin trên ổ cứng bằng cách nhấn phím Windows + E hoặc Start - Programs - Accessories - Windows Explorer để mở Windows Explorer. Mở partition cài đặt hệ điều hành, ở đây là ổ C:\Program Files\Symantec, xóa thư mục này. Tiếp tục tìm thư mục Program Files\Common Files\Symantec Shared, nếu Symantec AntiVirus là ứng dụng Symantec duy nhất trên hệ thống thì xóa các thư mục sau: Decomposers, SPBBC, SPManifests, SSC, VirusDefs. Cuối cùng, tìm đến thư mục C:\Documents and Settings\All Users\Application Data\Symantec và xóa 2 thư mục con là Common Client và Symantec AntiVirus Corporate Edition. Ta hoàn tất quá trình gỡ bỏ thủ công cho Symantec AntiVirus 10.1 Client hay Symantec Client Security 3.1. 20

Các hệ thống cài đặt Symantec AntiVirus 10.2 Client hay Symantec AntiVirus 10.1 và Symantec Client Security 3.1 server có thể tham khảo tại đây.

Norton Removal Tool 2007.2.02.14 Đối với các máy đã gỡ bỏ các phiên bản Norton 2003/2004/2005/2006/2007 mà bị lỗi hệ thống, gỡ bỏ không hoàn tất, có thể dùng tiện ích miễn phí của Symantec là Norton Removal Tool tùy theo phiên bản hệ điều hành là Me/98 hay 2000/XP/Vista mà tải về tại đây. Sau khi tải về, thực thi, tiện ích sẽ tự dò tìm các chương trình thuộc Symantec trên máy và đưa ra giải pháp, bạn sẽ làm theo các bước mà tiện ích yêu cầu cũng như sẽ phải khởi động lại hệ thống nhiều lần theo từng bước tiến hành.

DVDFab Platinum - Công cụ cho người thích sưu tập phim DVD
Sao chép nguyên đĩa phim DVD, sao chép những phần chọn lọc, sao chép đĩa có chỗ bị trầy xước, cắt bỏ những đoạn phim không thích, cắt đĩa DVD-9 thành 2 đĩa DVD-5, chuyển 1 đĩa DVD thành 1 đĩa VCD, tạo file ISO, chuyển đổi ra các dạng phim chiếu được Giao diện chương trình trên máy iPos, PSP... là những tính năng DVDFab Platinum. chính của DVDFab Platinum 3. Với dung lượng chỉ 5,57 MB nhưng DVDFab Platinum 3.0.70 có tất cả các tính năng mà bạn cần như: sao chép đĩa phim DVD và tự động loại bỏ tất cả các loại mã vùng, mã bảo mật, tạo file ISO cho đĩa DVD phim..., nhân bản đĩa phim DVD với chất lượng 1/1, hay cắt đĩa phim DVD-9 thành 2 đĩa DVD-5 mà vẫn giữ nguyên cấu trúc menu trên các đĩa đã được chia ra. Ngoài ra với tính năng Write Data, bạn dễ dàng chuyển phim DVD trong máy thành file ISO dữ liệu rồi ghi đĩa CD/DVD dữ liệu từ file ISO này. Chương trình còn có thể chuyển đổi đĩa phim DVD sang MP4 để dùng được trên máy Ipod, Sony PSP..., hay chuyển một đĩa DVD phim thành vừa đúng dung lượng một đĩa VCD. Một tính năng rất đáng chú ý là chương trình có khả năng đánh giá chất lượng đĩa phim DVD tốt hay xấu bao nhiêu phần trăm khi bạn đưa đĩa vào, để từ đó chọn tính năng nào để sao chép (Full Disk hay Clone). 21

Chương trình tương thích với mọi phiên bản của hệ điều hành Windows, kể cả Vista. Bạn tải có thể tải DVDFab Platinum 3.0.70 cho dùng thử 30 ngày tại trang chủ hay tải trực tiếp tại đây. Xác lập các tùy chọn: Khởi động DVDFab Platinum. Bấm nút Common Settings có hình bánh răng ở góc trên bên phải giao diện. ở hộp Common Preferences xuất hiện, bạn có thể tùy chọn lại như sau: - Bấm chọn mục General bên trái, bên cửa sổ phải bấm nút có hình 3 dấu chấm của mục Ouput directory và Temporary directory để ấn định thư mục lưu phim DVD trong ổ cứng, chương trình sẽ tạo thư mục DVDFab để chứa dữ liệu khi bạn chép từ đĩa DVD sang. Đánh dấu kiểm vào tất cả các mục bên dưới như Add autoPlay handler để khi đưa đĩa DVD vào thì chương trình sẽ được khởi động từ hộp thoại Autorun của Windows. - Bấm nút hình dấu cộng (+) của mục DVD bên trái. Trong menu thả xuống bấm chọn Protection, đánh dấu kiểm vào tất cả các ô như Remove CSS... để chương trình khi sao chép phim DVD vào đĩa cứng hay khi ghi đĩa DVD sẽ tự loại bỏ tất cả các loại mã vùng, khóa bảo vệ... - Bấm chọn mục DVD to Mobile bên trái. Bên phải gõ vào ô "1 CD" dung lượng là 650 MB hay 700 MB... để khi chuyển từ DVD sang VCD sẽ có dung lượng file tạo thành đúng như đã chọn. Sau cùng, bấm OK để xác nhận và đóng hộp thoại này lại. Chép toàn bộ nội dung DVD: Bỏ đĩa DVD vào ổ đĩa, chương trình sẽ tự khởi động thông qua hộp thoại Autorun. Bạn nhìn vào góc trái bên dưới sẽ biết đĩa đưa vào là DVD-5 hay DVD-9. Mục Quality bên cạnh sẽ cho biết chất lượng (phần trăm) tốt hay xấu đĩa phim DVD. Mục Source sẽ tự động thể hiện tên đĩa và ổ đĩa DVD. Bạn có thể bấm nút mũi tên nhỏ quay xuống của Target, chọn tên ổ ghi DVD để sao chép và ghi đĩa. Nếu muốn tạo file ISO, bạn bấm nút Choose ISO Image File có hình cái đĩa và tờ giấy của Target rồi chọn nơi lưu file ISO là xong. Bây giờ bạn có thể sao chép đĩa DVD phim bằng các cách sau: - Nếu máy của bạn có 2 ổ ghi DVD, bạn có thể chép toàn bộ nội dung đĩa phim DVD từ ổ này sang ổ kia. Để thực hiện, bạn bấm chọn mục Full Disk ở cửa sổ trái. Bỏ đĩa DVD trắng vào ổ ghi DVD. Bấm nút Start ở góc dưới cửa sổ phải để tiến hành sao chép và ghi đĩa. Chương trình sẽ tạo file ISO rồi mới ghi vào đĩa DVD. Khi ghi xong nếu muốn ghi tiếp bạn bấm nút Burn Again còn không thì bấm Finish để về lại giao diện chính. - Trường hợp máy chỉ có một ổ ghi DVD, bạn có thể tạo file ISO bằng cách bấm nút Choose ISO Image File có hình cái đĩa và tờ giấy, chọn Target để chỉ định nơi lưu file rồi bấm Start để tạo file ISO. Sau khi tạo file ISO, bạn bấm nút Open có hình cái đĩa và tờ giấy của Source để chọn file ISO phim vừa tạo. Bấm nút Choose ISO Image File 22

của Target, chọn tên ổ ghi DVD rồi bỏ đĩa DVD trắng vào ổ đĩa. Bấm nút Start để ghi file ISO vào đĩa DVD trắng. Lưu ý: Với những đĩa phim DVD bị cũ hay trầy xước nhẹ, chất lượng đĩa còn dưới 95% (xem tại mục Quality) thì khi tạo file ISO, có thể chương trình sẽ báo lỗi. Bạn nên dùng tính năng Clone để tạo file ISO cho đĩa phim DVD rồi ghi đĩa như trên. Chỉ sao chép phần movie: Một đĩa phim DVD ngoài phần chính là movie còn có các nội dung khác như Trailer (quảng cáo), Extra features... Để sao chép riêng phần movie, bạn bấm chọn mục Main Movie bên cửa sổ trái. Bên cửa sổ phải bạn chọn lựa tiêu đề bằng cách đánh dấu kiểm vào ô của cột Title. Xem lại nội dung phim đã chọn ở cửa sổ trái bên dưới. Đánh dấu kiểm vào phần audio tương ứng bên cửa sổ phải Audio rồi lưu thành file ISO phim hay ghi đĩa DVD như nói trên. Chương trình còn cho phép bạn lựa chọn cao hơn nữa bằng tính năng Customize. Với tính năng này bạn có thể biết chi tiết nhiều hơn nữa về đĩa DVD phim cần trích xuất, sao chép. Cách dùng tương tự như Main Movie. Nhân bản phim DVD: Để tạo một đĩa DVD giống y hệt đĩa DVD phim gốc, bạn bấm chọn mục Clone bên trái. Bỏ đĩa phim DVD vào ổ đọc rồi đưa đĩa DVD trắng vào ổ ghi DVD. Bấm nút mũi tên nhỏ quay xuống của Target, chọn tên ổ ghi DVD. Bấm nút Start bên dưới để chương trình tạo file ảnh rồi tự động ghi file ảnh này vào đĩa DVD trắng. Sau cùng bạn cũng bấm Finish để quay lại giao diện chính chương trình. Còn nếu muốn chỉ tạo file ISO phim DVD, bạn bấm nút Choose ISO Image File của Target để chọn nơi lưu file rồi bấm Start để chương trình tạo file ISO. Lưu ý: Nếu chỉ muốn ghi đĩa phim DVD ở dạng dữ liệu, bạn hãy đánh dấu kiểm vào ô Copy DVD-Video Data Only ở cửa sổ DVD to DVD - Clone. Cắt đĩa: Bạn có thể cắt đĩa DVD-9 thành 2 đĩa DVD-5 mà cách bố trí menu trên các đĩa phim DVD sẽ như nhau. Để cắt, bạn bấm chọn Split bên cửa sổ trái. Đưa đĩa DVD-9 vào ổ đĩa DVD. Bên cửa sổ DVD to DVD - Split bên phải, bấm nút mũi tên nhỏ quay xuống của cột Split Chapter, chọn số chapter sẽ cắt ra cho 2 đĩa (bạn cần chú ý đến dung lượng thể hiện khi chia cắt ở các ô Disk1 và 2 ở góc bên dưới). Xong, bấm Start để tiến hành chia cắt và ghi đĩa. Tạo và ghi CD/DVD dữ liệu: Để tạo file ISO dữ liệu cho phim DVD có sẵn trong máy hay ghi đĩa CD/DVD dữ liệu từ file ISO dữ liệu, bạn bấm chọn Write Data bên trái. Bên cửa sổ phải:

23

- Bấm nút Browse For Folder có hình thư mục của Source. ở hộp Browse For Folder xuất hiện, bạn tìm đến thư mục có chứa phim DVD (Video_TS) để đưa vào. Bạn cũng có thể bấm nút Open có hình cái đĩa và tờ giấy bên cạnh để đưa file ISO dữ liệu, phim vào Source. - Bấm nút mũi tên nhỏ quay xuống của Target, chọn tên ổ ghi CD/DVD, bỏ đĩa CD/DVD trắng vào ổ ghi rồi bấm Start để ghi đĩa. Nếu muốn chuyển phim DVD sang file ISO, bạn hãy bấm nút Chose ISO Image File của Tartget, chọn nơi lưu file rồi bấm Start để tiến hành chuyển đổi. Bạn có thể dùng chức năng Write Data để ghi bất kỳ file ISO dữ liệu nào vào đĩa CD/DVD-R/RW với tốc độ ghi đĩa rất nhanh và an toàn. Chuyển đổi DVD: Với các tính năng Generic, iPod, PSP bạn dễ dàng chuyển đổi phim DVD sang MP4, VCD... để sử dụng trên các đầu máy VCD gia đình hay trên các máy Ipod, PSP... Bạn cần chú ý các tính năng sau: - Generic: dùng để chuyển đĩa phim DVD sang AVI/MP4... để có thể ghi file chuyển vào đĩa VCD. - iPod: chuyển đĩa DVD phim thành dạng MPEG-4/H.264, MP4... để xem trên máy iPod của Apple. - PSP: chuyển đĩa DVD phim thành dạng MPEG-4/H.264, MP4... để chơi được trên máy PSP của Sony. Cách chuyển đĩa phim DVD hay phim DVD có sẵn trong máy cũng giống như phần trên, nghĩa là sau khi đưa đĩa phim DVD vào ổ đĩa, bạn sẽ lưu phim vào thư mục mặc định hay bấm nút Browse For Folder của Target để chọn nơi lưu khác. Chọn Title ở cửa sổ DVD to Mobile rồi bấm Next và Start để tiến hành chuyển đổi.

Cùng “vọc” Vista với Vista Smoke Pro (Phần I)
TTO - Windows Vista đang là phiên bản hệ điều hành “nóng” nhất và số lượng người sử dụng không ngừng tăng lên. Không chỉ nhờ giao diện theo dạng Aero 3D Giao diện trình "đa năng" đẹp mắt, Windows Vista còn được Microsoft Vista Smoke Pro. tích hợp khá nhiều chức năng mới mạnh mẽ hơn. Vista Smoke Pro sẽ giúp bạn “vọc” vào tận trong “lòng” của Vista . Hỗ trợ 8 ngôn ngữ cho giao diện, Vista Smoke Pro có thể dành cho nhiều đối tượng người dùng như: Anh, Pháp, Hà Lan, Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha (Brazil), Ailen. Chức năng chính của Vista Smoke Pro (VSP) là hiệu chỉnh những tính năng, dịch vụ của hệ thống sử dụng Windows Vista với các phần: Tweaks (hiệu chỉnh thiết lập hệ thống ), Maintenance (bảo dưỡng hệ thống), Security (bảo mật), Passwords (Tạo mật khẩu quản lý Vista Smoke Pro), Restore Points (tạo điểm khôi phục hệ thống).

Tweaks – Hiệu chỉnh thiết lập hệ thống
24

Trong Tweaks bao gồm các phần và chức năng như tăng tốc hệ thống (Auto Tuner), quản lý các chương trình khởi động (Startup Manager) nhưng lại khác biệt với các trình quản lý khác ở điểm VSP nắm bắt ngay từ các khóa registry được đưa vào danh sách “startup”. Điều này sẽ giúp ngăn chặn các spyware hay trojan “ẩn” mình trong danh sách startup vì chúng buộc phải lộ diện trong registry. Việc hiệu chỉnh chính nằm ở tùy chọn “Performance” bao gồm: - Disable “Last Access” Attribute..: Khóa thuộc tính dò tìm lần truy xuất cuối cùng, áp dụng đối với partition sử dụng NTFS. - Clear pagefile on shutdown: Xóa các tập tin ghi tạm khi tắt máy - Disable 8+3 filenames…: Khóa các tập tin có tên dài quá 8+3 ký tự. Tuy nhiên, không nên sử dụng chức năng này. - Optimize Hard Drive when idle: tối ưu đĩa cứng khi nó ở trạng thái “rỗi”. - Optimize I/O page, Prefetch, SuperPrefetch, Graphic Effects: là các tùy chọn tối ưu thư mục tạm Prefetch, hiệu ứng đồ họa, trang Input / Output. - Disable Low Disk Space Warning: khóa chức năng cảnh báo hết dung lượng ổ cứng nhưng tốt nhất là không sử dụng. Trong các tùy chọn cho Memory (bộ nhớ) thì có chức năng sử dụng bộ nhớ ảo lớn cho hệ thống, khóa bộ nhớ đánh số trang, không tải trực tiếp các tập tin thư viện động (DLL). Ngoài ra, còn các thiết lập TimeOuts (mức thời gian cho dịch vụ, chương trình trong hệ thống), tối ưu CD Rom, CD-RW, quản lý mức vận hành CPU cũng thuộc nhóm “Performance”. Lựa chọn tốt nhất cho bạn nếu không am hiểu nhiều về việc thiết lập là nút “Recommended Settings” (Những thiết lập được đề nghị). Tùy chọn "Performance II" sẽ giúp ích cho các game thủ với khả năng tối ưu cho bộ nhớ và đĩa cứng, hỗ trợ chơi các game cần khai thác tài nguyên bộ nhớ. Chức năng chống phân mảnh đĩa Chức năng Game (Disk Defrag) cũng được đưa vào tùy chọn này. Boost trong tùy chọn Chức năng kiểm tra khả năng vi xử lý thì không Performance II rất nên sử dụng vì sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến bộ xử lý. hữu ích cho các game thủ. Tùy chọn "Miscellaneous" giúp bạn thiết lập những phần "linh tinh" trong hệ thống như: khóa các "bong bóng" hiển thị các thủ thuật (balloon tips), khóa trình tin nhắn mặc định Windows Messenger, khóa cả "thùng rác" (Recycle Bin), khóa dò tìm thao tác người dùng, gỡ bỏ mũi tên đối với các "shortcut". Có thể thay đổi thông tin đăng ký hệ thống khi cài đặt Windows ở phần "Owner Information" với Name và Company. "Shell Tweaks" là các thiết lập tắt/mở cập nhật Windows Update, xóa các lưu trữ tìm kiếm, khôi phục thanh công cụ của Internet Explorer trở về trạng thái mặc định ban đầu. "Services" phần này hỗ trợ quản lý các dịch vụ trong Windows Vista. Có thể dễ dàng tắt/mở, kiểm tra các dịch vụ đang được thực thi. 25

"Internet Explorer" đây sẽ là phần thiết lập nhanh cho trình duyệt Internet Explorer. Có khá nhiều tùy chọn đóng các phần thừa thải tùy thuộc vào người dùng. "UAC" viết tắt của từ User Account Control, là phần quản lý tài khoản người dùng trên hệ thống. Restore Points Chức năng hoạt động của Restore Points trong Vista Smoke Pro cũng giống với chức năng restore point có sẵn trong Windows. Nó giúp người dùng tạo 1 điểm khôi phục hệ thống, có nghĩa là khi người dùng tạo 1 điểm khôi phục, hệ thống sẽ đánh dấu ngày giờ vào thời điểm đó cùng những thiết lập, chương trình được cài đặt. Khi muốn hệ thống khôi phục lại trạng thái cũ ngay tại thời gian tạo điểm, chỉ cần kích hoạt Restore point. Chức năng này rất hữu ích khi hệ thống gặp trục trặc, người dùng muốn khôi phục nhanh mà không cần phải cài đặt lại toàn bộ hệ điều hành. Tuy nhiên, khi sử dụng, các chương trình cũng như thiết lập sau khi tạo điểm khôi phục cũng sẽ mất đi.

Tạo khung hình chuyên nghiệp dễ dàng
TTO - Với sự trợ giúp của chương trình PhotoFrameShow, bạn có thể làm cho những bức ảnh của mình thêm phần sinh động cùng hơn 100 mẫu khung phong phú được cập nhật hàng ngày Tạo khung hình với PhotoFrameShow. tại website. 1. Cài đặt chương trình: Chương trình tương thích với mọi phiên bản của hệ điều hành Windows, tải bản dùng thử (trial) 15 ngày có dung lượng 7.7MB về tại đây. Sau đó tiến hành cài đặt chương trình theo từng bước hướng dẫn. 2. Sử dụng chương trình: - Khởi động PhotoFrameShow. Giao diện chương trình sẽ xuất hiện, bạn hãy bấm vào mục "Click here to insert your photo" để chọn hình cần chèn khung. - Một bảng tùy chọn xuất hiện, bạn hãy tìm đến thư mục hình của bạn bằng cách chọn "Browse". Khi đã tìm được hình cần thiết, bạn hãy bấm chuột vào hình đó, chọn OK. - Tiếp theo,chương trình sẽ đưa bạn trở lại giao diện chính với hình ảnh mà bạn đã chọn. Bạn hãy bấm vào mục Open frame để chọn khung cho hình của bạn. Chương trình sẽ liệt kê ra tất cả các khung được sắp xếp theo nhiều chủ đề khác nhau. Bấm tiếp vào khung mà mình yêu thích.

26

Chọn lựa hình ảnh trong PhotoFrameShow.

Chọn lựa khung hình.

- Trở lại giao diện chính của chương trình, có thể hiệu chỉnh kích thước khung ảnh bằng cách kéo các thanh trượt trong mục Resize image và Resize frame. Bạn cũng có thể xoay khung hoặc xoay hình bằng cách xoay 2 nút quay ở bên trái. - Cuối cùng, sau khi đã chỉnh sửa khung và hình vừa vặn, bạn có thể lưu lại bằng cách bấm vào nút Save. Chương trình sẽ đưa ra nhiều lựa chọn về định dạng tập tin ảnh cần lưu. Ngoài ra, để tải thêm những khung ảnh mới, bạn có thể vào trang web của FrameShow để tải thêm.

Windows Vista: thách thức lớn nhất là bảo mật
TTO - Sau nhiều lần trì hoãn với lý do cần củng cố tính năng bảo mật, ngày 30-1-2007, Windows Vista chính thức ra mắt người sử dụng. Nhưng “áo giáp” của hệ điều hành mới này liệu có thật sự không thể bị chọc thủng? Trước khi phát hành Vista, Microsoft khẳng định đây là phiên bản Windows có tính năng bảo mật mạnh nhất từ trước tới nay của họ. Bill Gates, khi trả lời phỏng vấn của BBC, đã tuyên bố hùng hồn rằng hệ điều hành mới này “an toàn ghê gớm” (nguyên văn: “dramatically more secure”). Mặc dù không quên nhấn mạnh thêm rằng Vista không hề hoàn hảo, Microsoft vẫn ngay lập tức nhận được một “trận bom” của dư luận. Các hãng bảo mật không bỏ lỡ thời cơ. Một vài hãng như iDefense thậm chí treo giải thưởng cho các chuyên viên săn lỗi từ 4000 đến 8000 USD cho mỗi lỗ hổng họ phát hiện. Không lâu sau, các chuyên gia của Trend Micro nhận được lời “chào hàng” từ một diễn đàn tin học: 50.000 USD cho lỗ hổng của Vista. Cộng đồng ảo ngay từ đầu đã tỏ ra không mặn mà với hệ điều hành mới. Một blogger viết trên Windows Live Spaces (mạng cộng đồng của Microsoft): “5 năm và 6 tỷ USD, Microsoft cuối cùng đã tạo ra một sản phẩm thua xa Macintosh của Apple cách đây vài năm". Đây hẳn là một lời chào mừng không mấy thân thiện dành cho Bill Gates. 27 Giao diện của Windows Vista

Giám đốc hãng bảo mật F-Secure, Mikko Hypponen nói: “Nó an toàn hơn rất nhiều so với Windows 3.x, Windows 95, Windows NT, Windows 2000 hay Windows XP. Nhưng về cơ bản nó không hề an toàn hơn các hệ điều hành như FreeBSD, QNX, AS/400,… Tôi có thể nói rằng nó thậm chí không an toàn bằng một hệ điều hành khác của chính Microsoft, đó là hệ điều hành của máy Xbox 360”. Một số chuyên gia khác vừa khuyến cáo rằng hệ thống User Account Control (quản lý tài khoản người sử dụng) của Vista không hiệu quả như Microsoft quảng cáo. Hệ thống này có tác dụng ngăn chặn các phần mềm độc hại tự động cài đặt vào máy tính. Vấn đề là nó sẽ hỏi người sử dụng có đồng ý cho phần mềm cài đặt hay không và yêu cầu xác nhận (bằng lựa chọn hoặc bằng cách nhập mật khẩu quản trị). Tính năng PatchGuard (chống rootkit) của Vista cũng không được đánh giá cao vì trong khi nhiều người sử dụng tưởng rằng nó có thể loại bỏ tất cả các loại rootkit thì thật ra chỉ có một số loại bị chặn lại. Chuyên gia phân tích virus Alisa Shevchenko của Kaspersky Lab tin rằng sẽ có rất nhiều phần mềm hoàn toàn vô hại bị Vista “bắt nhầm”. Người sử dụng sẽ ngập trong đống yêu cầu xác nhận. Kết quả là họ sẽ tắt hệ thống quản lý tài khoản hoặc nhập mật khẩu quản trị. Lớp “áo giáp” mà Microsoft tạo ra cho Vista coi như xếp xó. Ông Shevchenko nói: “Một hệ thống được thiết lập để khóa tất cả mọi thứ trừ việc tiếp cận các site định sẵn có thể được coi là tuyệt đối an toàn”. Đương nhiên là người sử dụng sẽ không chấp nhận điều này. Kaspersky Lab còn đưa ra một báo cáo về khả năng chống chọi với virus của Vista, đánh giá tất cả các tính năng bảo mật của hệ điều hành này (gồm User Account Control System (UACS), PatchGuard và Internet Explorer 7) tại địa chỉ này. Bản báo cáo kết thúc bằng lời nhận xét: “Khi sự giới hạn đóng vai trò quá quan trọng trong hệ thống bảo mật, chúng ta sẽ có một bức tranh như sau: rất nhiều cơn đau đầu và các cửa sổ báo động dành cho những "người tốt", người sử dụng và nhà phát triển chẳng hạn, và rất nhiều bối rối liên quan đến phần mềm độc hại, và rất ít cơn đau đầu cho hacker và những kẻ viết virus, ít nhất là vào lúc này.” Dù sao thì Windows Vista cuối cùng cũng đã đến tay người sử dụng và cộng đồng IT có những cách khác nhau để ăn mừng sự kiện này. Trong khi các chuyên gia săn lỗi miệt mài theo đuổi món tiền thưởng hấp dẫn, các hacker cố gắng tìm ra khe hở để tấn công, các hãng bảo mật ra sức cảnh báo, các trang tin điện tử đua nhau đưa tin,... thì thành viên các mạng cộng đồng rỉ tai nhau chẳng việc gì phải phí tiền cho Vista và Office 2007 vì bản bẻ khóa đã nhan nhản khắp các mạng p2p rồi.

28

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful