Thứ Bảy, 31/03/2007, 17:17 (GMT+7

)

Kỷ lục truyền tải dữ liệu mới: 25,6 terabit/giây
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=194003&Chann elID=16

Thành công mà tập đoàn Alcatel-Lucent vừa công bố được thực hiện qua một đường cáp quang đơn gồm ba chặng (80 km x 3) với 16 kênh phân tần WDM. Công suất thu được tương đương băng thông truyền tải hơn 600 đĩa DVD Ảnh: trong một giây. Preciosa. Bước đột phá của Alcatel-Lucent - vượt xa kỷ lục 14 Tb/giây (1 Tb tương đương 1.000 Gb) xác lập vào tháng 9 năm ngoái - bổ sung thêm vào danh sách dài những thành tựu truyền tải bằng cáp quang mặt đất và trên biển của tập đoàn này. Trước đó, họ đã thành công với thí nghiệm cấp độ terabit đầu tiên, là đơn vị đầu tiên vượt qua ngưỡng 10 Tb/giây khi truyền dữ liệu qua cáp quang đơn, đạt 6 Tb/giây truyền tải qua cáp biển, 100 Gb/giây qua cự ly 2.000 km... “Mạng cáp quang là nhân tố then chốt trong cuộc cách mạng băng thông rộng mà chúng ta đang chứng kiến hiện nay”, Romano Valussi, Giám đốc phụ trách công nghệ quang dẫn của Alcatel- Lucent, khẳng định. Theo VNExpress Thứ Bảy, 31/03/2007, 12:46 (GMT+7) Những dịch vụ chia sẻ hình ảnh tốt nhất TTO - Chia sẻ ảnh số cho bạn bè và người thân thông qua email thường gặp trở ngại khi số lượng và dung lượng ảnh nhiều hơn mức cho phép. Do đó, những dịch vụ chia sẻ và sao lưu hình ảnh trực tuyến là giải pháp tốt nhất cho vấn đề này. Giao diện webshots.com

Với giá thành của các máy ảnh số ngày càng giảm so với số lượng ảnh số từ người dùng tăng lên vùn vụt. Dung lượng lưu trữ cũng như cách thức chia sẻ những ảnh số này là một vấn đề đối với người dùng. Có khá nhiều dịch vụ lưu trữ ảnh số trực tuyến kèm theo chức năng chia sẻ cho bạn bè và người thân nhưng những dịch vụ sau đây được đánh giá là tốt nhất: Webshots (www.webshots.com) 1

Webshots cung cấp dịch vụ chia sẻ hình ảnh miễn phí với số lượng ảnh được lưu trữ lên đến 1000 hình (5000 cho tài khoản thương mại Premium). Hỗ trợ upload nhiều ảnh 1 lúc lên kho lưu trữ. Chất lượng hình ảnh sẽ được bảo đảm do webshots cho phép tải ảnh với dung lượng khá lớn (trên 2MB). Việc chia sẻ ảnh trên webshots cũng được chia làm nhiều cách thức: qua tin nhắn photo, album trực tuyến, slideshow và cả chức năng gởi ecard bằng hình ảnh tự tao khá hay. Ngoài ra, trong kho ảnh từ các nhiếp ảnh chuyên nghiệp, bạn có thể chọn để mua hoặc đăng ký in vì webshots cũng có hỗ trợ dịch vụ này. dotPhoto (www.dotPhoto.com) Một trong những website chia sẻ hình ảnh hàng đầu hiện nay. dotPhoto không chỉ là kho lưu trữ hình ảnh, mà còn là kho lưu trữ phim, video clip của người dùng. Giao diện dotPhoto có thể kéo thả trực tiếp hình ảnh, đặc biệt là có thể nhập âm thanh vào cho hình ảnh. dotPhoto hỗ trợ cả bộ chỉnh sửa trực tuyến cho hình ảnh, có thể gỡ bỏ lỗi “mắt đỏ” thường thấy trong các ảnh số, tăng ánh sáng… Flickr (www.flickr.com) Được sở hữu bởi Yahoo, Flickr hiện là một trong Flickr.com những dịch vụ chia sẻ hàng đầu hiện nay. Chức năng chính của Flickr cũng như các dịch vụ khác, tuy nhiên, công cụ quản lý của Flickr rất chuyên nghiệp nhưng lại khó sử dụng đối với người dùng chưa có nhiều kinh nghiệm. Yahoo đã khéo léo kết hợp Flickr làm kho ảnh và kênh chia sẻ ảnh cho các blogger từ dịch vụ Yahoo 360 của mình. Người dùng có thể hiệu chỉnh ảnh trực tuyến, đưa ảnh vào ĐTDĐ (ShoZu) hay blog (Nokia Lifeblog), thêm thẻ để có thể tìm kiếm dễ dàng hơn. Flickr còn có thêm chức năng bản đồ cho ảnh, tức là bạn đặt cho ảnh vị trí nơi mà nó được chụp qua công cụ bản đồ trực tuyến khá hay. Tuy vậy, Flickr giới hạn dung lượng băng thông tải lên tài khoản. SmugMug (www.smugmug.com) SmugMug không giống như các dịch vụ khác ở chỗ không cung cấp miễn phí. Một tài khoản trên SmugMug có giá 39.95 USD/năm. Tuy vậy, “tiền nào thì của nấy”, SmugMug cung cấp không giới hạn dung lượng lưu trữ, tạo mật khẩu riêng bảo mật gallery cũng như tùy chọn giao diện cho gallery, tạo địa chỉ web riêng trên SmugMug (URL), băng thông không giới hạn cho hình ảnh, tích hợp Web 2.0 nên SmugMug cũng hỗ trợ thêm API, Ajax, RSS…. Cuối cùng là bộ phận hỗ trợ của SmugMug sẽ phản hồi email của người dùng chỉ trong 30 phút. Snapfish (www.snapfish.com) Snapfish.com 2

Snapfish là một trong những dịch vụ lưu trữ, chia sẻ ảnh số trực tuyến lâu đời nhất (bắt đầu dịch vụ vào năm 2000). Số lượng người dùng snapfish đến hơn 30 triệu, do đó, “người khổng lồ” này cung cấp dung lượng lưu trữ là không giới hạn cho những người dùng đăng ký. Công cụ quản lý của snapfish không nhiều chức năng và chuyên nghiệp như dotPhoto hay Flickr nhưng đủ để có thể quản lý, chia sẻ hình ảnh dễ dàng. Dịch vụ trọng tâm của snapfish là cung cấp cho người dùng các dịch vụ liên quan đến in ấn, in hình ảnh lên các món quà như ly, áo thun, lịch treo tường, sách ảnh … Theo đánh giá chung thì các dịch vụ kể trên đều đáp ứng được nhu cầu người dùng như: chia sẻ ảnh trực tuyến qua album, slideshow, blog, có dung lượng tương đối để lưu trữ nhiều hình ảnh… Người xem có thể đặt lời bình cho ảnh. Bạn có thể dễ dàng quản lý ảnh thông qua các công cụ trực tuyến cũng như hiệu chỉnh đơn giản cho ảnh. Những hình ảnh chuyên nghiệp có thể được đặt mua hoặc đặt in với giá hợp lý thông qua dịch vụ của các nhà cung cấp trên. Ngoài các dịch vụ trên, bạn có thể tham khảo thêm các dịch vụ chia sẻ ảnh trực tuyến sau: Photobucket, Shutterfly, Fotki, Faces, Kodak EasyShare Gallery, Pixagogo. THANH TRỰC Thứ Bảy, 31/03/2007, 11:02 (GMT+7)

ZenZui - thế hệ trình duyệt kế tiếp của Microsoft
TTO - ZenZui là trình duyệt web mới của Microsoft hướng tới môi trường duyệt web trên các thiết bị di động dễ dàng hơn thông qua các widget (*). Chức năng Zooming User Interface của ZenZui là ZenZui, trình duyệt một công nghệ mới được phát triển bởi phòng web mới cho các thiết nghiên cứu công nghệ của Microsoft và được cấp bị di động bằng sáng chế. ZenZui là kết quả của việc kết hợp IP Ventures của Microsoft và công nghệ Zooming User Interface. Thông qua phần giao diện xếp kề nhau của ZenZui, người dùng thiết bị di động sẽ có thể đồng bộ hóa, duyệt web và chia sẻ dữ liệu số. Thao tác duyệt web sẽ rất dễ dàng qua các hình ảnh dạng thumbnail của từng website, chỉ cần chọn trong danh sách và duyệt web. Danh sách có thể lên đến con số 36, được xếp nằm kề nhau. (*) Widget: là ứng dụng nhỏ có thể chạy trong trình duyệt hoặc làm việc như chương trình độc lập. Widget có thể dùng để theo dõi thời tiết, giám sát nguồn pin, định dạng lại trang web và tìm kiếm các kết quả hay làm bất cứ điều gì khác mà người ta có thể nghĩ ra cách thực hiện với ngôn 3

ngữ kịch bản. Dưới đây là 3 trong số những widget thông dụng: Yahoo Widgets, Greasemonkey, Klipfollo. (Trích PCWorld VN) THANH TRỰC (Microsoft News) Thứ Năm, 22/03/2007, 15:56 (GMT+7)

Cách đơn giản để bảo mật dữ liệu cá nhân
TTO - Có thể dùng ngay chức năng mã hóa dữ liệu trong Windows là Encrypting File System (EFS) để bảo vệ dữ liệu nhạy cảm. Mã hóa dữ liệu đơn giản và hiệu quả với EFS.

Encrypting File System có trong các phiên bản của hệ điều hành Windows 2000/XP/Vista với chức năng chính là mã hóa nội dung cho các tập tin hay thư mục, khiến chúng khó có thể nhận dạng để đọc. EFS sử dụng thuật toán mã hóa DESX hoặc 3DES. Do đó, mã hóa là 1 bước quan trọng trong việc bảo mật dữ liệu. EFS có mặt trong Windows 2000, XP Pro và các phiên bản mới của Windows như Vista Business, Enterprise và Ultimate nhưng phiên bản XP Home lại thiếu chức năng này cũng như Vista Starter, Home Basic, Home Premium chỉ có thể giải mã, do đó, người dùng chỉ có thể đọc các tập tin đã được mã hóa nhưng không thể mã hóa dữ liệu. Để sử dụng EFS, định dạng cho partition phải là NTFS và việc mã hóa cũng yêu cầu bạn phải có đặt mật khẩu (password) cho tài khoản người dùng trên hệ thống.

Để mã hóa một tập tin hay thư mục, chỉ cần đơn giản chọn tập tin hay thư mục đó, phải chuột và chọn Properties. Trong thẻ General, chọn Advanced ngay phần Attributes (thuộc tính). Cửa sổ “Advanced Attributes” xuất hiện, đánh dấu chọn vào “Encrypt contents to secure data” rồi nhấn OK 2 lần để thực thi. Nếu bạn mã hóa 1 thư mục, bạn sẽ được hỏi có mã hóa cho các tập tin hay thư mục con bên trong hay không. Sau khi được mã hóa, các tập tin hay thư mục được mã hóa sẽ chuyển qua màu xanh lá cây. Bạn không cần phải có mật khẩu để mở hay sao lưu chúng bởi vì các tài khoản người dùng khác trên máy tính của bạn hoặc từ các máy tính khác trong mạng sẽ không thể xem được nội dung của tập tin hay thư mục đã mã hóa. Thậm chí nếu tài khoản thuộc nhóm Administrators nhưng không có khóa truy cập (access key) hoặc không được chỉ định thì vẫn không thể truy xuất. Chia sẻ tập tin mã hóa Để chia sẻ dữ liệu nhạy cảm đã được mã hóa, bạn chọn 1 tập tin (không chọn được cùng lúc nhiều tập tin hay thư mục), lặp lại thao tác mã hóa, phải chuột và chọn Properties. Trong thẻ General lại chọn Advanced, ngay phần “Encrypt contents to..” nhấn vào nút “Details”. Một hộp thoại mới sẽ xuất hiện, mặc định sẽ có 1 tài khoản hiện tại mà bạn đã sử dụng để mã hóa. Nhấn “Add” để thêm tài khoản muốn chia sẻ và nhấn OK. 4

Vì dữ liệu đã mã hóa bằng EFS có liên kết chặt chẽ với tài khoản người dùng tương ứng nên bạn lưu ý không xóa các tài khoản tương ứng vì nó sẽ làm mất trắng dữ liệu. Bạn chỉ nên khóa (Disable) tài khoản bằng cách vào Start – Run, gõ “lusrmgr.msc” rồi Enter. Trong hộp thoại Local User and Groups, chọn “Users” bên khung trái, chọn tiếp tài khoản cần khóa bên tay phải, double click vào tài khoản cần khóa, trong thẻ General chọn “Account is Disabled”.

Khóa tài khoản.

Thiết lập trong BitLocker.

Trong Windows Vista Ultimate và Enterprise, ta có thể tận dụng công cụ BitLocker để mã hóa toàn bộ ổ đĩa. Mặc định BitLocker không được kích hoạt nên ta phải thực hiện cách thủ công sau: vào Start – Run, gõ “gpedit.msc” để thực thi Group Policy Object Editor trong Vista. Ở khung trái, lần lượt tìm đến Computer Configuration, Administrative Templates, Windows Components, BitLocker Drive Encryption, và nhấn đúp vào Control Panel Setup: Enable advanced startup options. Kế đến, chọn Enabled và đánh dấu chọn “Allow BitLocker without a compatible TPM” sau đó nhấn OK. Thoát khỏi Group Policy. Sau khi kích hoạt, bạn đã có thể thực thi BitLocker Drive Encryption trong Control Panel. Muốn tìm hiểu thêm, bạn nên click vào liên kết “What should I know about BitLocker Drive Encryption before I turn it on?”. Ngoài ra, Bạn có thể sử dụng phần mềm miễn phí TrueCrypt với chuẩn mã hóa 256-bit AES và 448-bit Blowfish. Tham khảo thêm về EFS và phòng ngừa mất dữ liệu mã hóa khi sử dụng EFS tại PCWorld VN. THANH TRỰC (Tổng hợp) Thứ Tư, 28/03/2007, 19:13 (GMT+7)

SamSung giới thiệu ổ cứng SSD 64GB
TTO - SamSung tiếp tục trình làng ổ cứng SSD (Solid state drive) với dung lượng lên đến 64GB chỉ sau vài tuần SanDisk phát hành ổ đĩa flash 32GB. Ổ cứng SamSung SSD (Solid State Drive) 64GB. 5

Được phát triển trên nền tảng bộ nhớ Flash NAND, ưu điểm của ổ cứng SSD là không có đầu từ chuyển động, không quay, tiêu thụ rất ít năng lượng, hoạt động êm và nhẹ nhàng hơn. Hơn nữa, ổ cứng SSD có khả năng tìm tập tin khá nhanh, chống sốc do bản chất cấu thành là rắn. Ổ SSD 64GB mới của SamSung không chỉ tăng về dung lượng, mà cũng đã được cải thiện khả năng hoạt động. Cụ thể là tốc độ đọc và ghi đã tăng lên 20 và 60%: tốc độ đọc 64MB/giây, ghi 45MB/giây. Mức tiêu thụ năng lượng chỉ ở mức 0.5W khi hoạt động và 0.1W khi nghỉ, thấp hơn nhiều so với mức tiêu thụ của ổ cứng (1.8-inch) thông thường khác là 1.5w khi hoạt động lẫn khi nghỉ. Hiện tại giá cả của ổ Solid State Drive 64GB vẫn chưa được SamSung công bố và sẽ được chính thức phát hành rộng rãi vào cuối năm 2007. Thị trường ổ cứng SSD theo nhận định sẽ có mức phát triển vượt bậc (200% mỗi năm), doanh thu sẽ đạt mức 200 triệu USD vào năm 2007 đến 6.8 tỉ USD vào năm 2010 (theo đánh giá của SamSung). THANH TRỰC (Tổng hợp Thứ Sáu, 02/03/2007, 18:22 (GMT+7)

Siêu máy tính thế hệ mới của IBM
TTO - Hãng IBM hiện đang phát triển một siêu máy tính thế hệ mới và sẽ là siêu máy tính có sức Máy chủ hàng đầu thế mạnh nhất thế giới. giới hiện nay, BlueGene, cũng của Siêu máy tính với tên gọi Roadrunner này được dự IBM kiến sẽ đặt tại Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos bang New Mexico. Với sức mạnh tính toán vào khoảng 1 petaflop, tương đương 1 triệu tỷ phép tính mỗi giây, đây sẽ là máy tính có tốc độ xử lý tính toán hàng đầu thế giới. Roadrunner dự tính sử dụng kết hợp 16000 bộ vi xử lý AMD Opteron cùng với 16000 Cell B.E chip và cả hai loại bộ xử lý này sẽ cùng chia sẻ công việc tính toán của Roadrunner. Lý do để IBM bắt tay vào chế tạo Roadrunner là do vào tháng 9, Ủy ban năng lượng (DOE) đã liên hệ với hãng, yêu cầu một siêu máy tính hàng đầu thế giới với khả năng tối thiểu là 1 petaflop. Chi phí dự kiến ban đầu là 110 triệu USD trong vòng 3 năm. Việc sử dụng kết hợp hai loại bộ xử lý là nhằm giảm chi phí trong quá trình chế tạo. Theo như IBM cho biết, những bộ xử lý Cell B.E có trách nhiệm thực hiện các phép tính dấu chấm động chính, còn các bộ xử lý Opteron sẽ làm công việc trung chuyển, xử lý dữ liệu giữa các đầu nút. Đến khi hoàn thành, Roadrunner chắc chắn sẽ là siêu máy tính đứng đầu thế giới, dễ dàng bỏ xa kẻ đang giữ ngôi vị quán quân hiện nay là siêu máy tính BlueGene/L cũng của IBM. Hiện tại BlueGene/L đang được đặt 6

tại phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Livemore, với khả ngăng tính toán 280 nghìn tỷ phép tính một giây tức là chỉ bằng hơn ¼ sức mạnh của Roadrunner. Hiện nay vấn đề của Roadrunner chỉ còn là diện tích khổng lồ cũng như là nguồn năng lượng mà nó yêu cầu. Theo tính toán, Roadrunner sẽ chiếm 12000 feet vuông (tương đương khoảng 1114 m2) và sẽ được vận chuyển dần sang cho DOE trong quý 3 - 2007. Các siêu máy tính kết hợp hiện nay đang trở thành một xu hướng trong các nhà sản xuất máy tính hàng đầu. Khi đó các bộ xử lý chuyên biệt sẽ thực hiện công việc tính toán, còn các bộ xử lý cơ bản sẽ thực hiện những công việc còn lại qua đó tận dụng tối đa hiệu năng của hai loại bộ xử lý cũng như giảm thiểu chi phí. Theo như DOE, siêu máy tính Roadrunner sẽ được sử dụng để nghiên cứu quang phổ, cũng như để quản lý các loại vũ khí hạt nhân mà Mỹ đang cất giữ bởi với sức mạnh lớn lao, Roadrunner có thể giả lập “tuổi thọ” của vũ khí hạt nhân. Ngoài ra, siêu máy tính này còn có thể phục vụ cho việc thiết lập bản đồ gene, dự báo thời tiết… HOÀNG TÙNG (Theo Dailytech Thứ Sáu, 30/03/2007, 10:52 (GMT+7)

Khai thác các tính năng tuyệt vời của MS PowerPoint
TTO - Trong Microsoft Powerpoint có chức năng tạo hai màn hình khi báo cáo thuận lợi hơn cho người dùng: một màn hình hiển thị nội dung các đề mục và một màn hình báo cáo nội dung chi tiết hơn.

Chức năng này chỉ có trên các máy tính xách tay có màn hình LCD và một cổng VGA nối với máy chiếu.

Khai thác tính năng 2 màn hình.

1. Trợ giúp báo cáo dùng 2 màn hình trong PowerPoint Các bước thiết lập như sau Bước 1: bạn nhấn chuột phải trên màn hình desktop chọn Properties/ chọn thẻ settings Trong hộp thoại này bạn thấy xuất hiện hai màn hình 1 và 2 Trường hợp bạn chỉ thấy một màn hình thì phải cài đặt lại driver và các phần mềm tiện ích đi kèm cho phần điều khiển màn hình laptop của bạn

7

Extend my Windows desktop into this monitor.οBạn chọn màn hình số 2: đánh dấu check vào mục Bước 2: Vào trong chương trình PPT bạn chọn mục Slide Show / Setup Slide show

Bạn chọn mục Show presenter view / bạn chọn màn hình Monitor 2 cho bàn hình trình chiếu hoặc chọn Primary màn hình desktop của bạn đang sử dụng. Bấm OK. Bước 3: Soạn các chi tiết cho trang báo cáo của bạn: vào mục View / Notes page Bạn nhập các nội dung cần hỗ trợ cho các trang báo cáo của bạn. Bước 4: Trình chiếu: bạn bấm nút F5 hoặc Slide Show thì màn hình chiếu ra ngoài sẽ là trang chính ở giữa các thông tin khác không hiện lên bạn nhìn vào máy tính có các chú thích bên dưới trang hỗ trợ cho bạn nói nhiều hơn những gì có trên màn ảnh rộng. Lưu ý: khi thiết lập chế độ nhhiều màn hình (multimonitor) khi bạn nối máy chiếu vào máy laptop của bạn chỉ thấy được ảnh nền của màn hình desktop, nhưng khi trình chiếu thì có đầy đủ thông tin bạn cần. 2. Tạo nhiều hình nền trong các báo cáo dùng PowerPoint (PPT) Mặc định chương trình PPT có hai màn hình nền là trang đầu tiên và màn hình các trang kế tiếp. Để tăng sự hấp dẫn của bài báo cáo đôi khi chúng ta cần tạo cho mỗi chương một hình nền hoặc các slide có các hình nền tùy ý, cách thực hiện như sau: Bước 1: Trong màn hình soạn thảo PP bấm vào menu View/ Master /Slide Master Thấy xuất hiện 1 màn hình nhỏ ở bên trái màn hình đó là màn hình slide Master (màn hình nền của trang, màn hình này có chứa các định dạng font, màu, nền cho toàn bộ báo cáo) nếu bạn đã chọn một kiểu trang trí nào đó rồi thì ở đây xuất hiện 2 màn hình nhỏ, 1 của trang nhất và 1 của các trang tiếp theo. Bước 2: Bấm vào nút New slide master hoặc vào menu Insert/ New slide master

8

Bạn có thêm một màn hình nền mới và ở đây chúng ta chèn hình hoặc trang trí tùy ý. Bạn có thể tạo nhiều trang slide master ở mục này. Xong bạn bấm vào nút Close Master view Bước 3: Áp dụng các trang nền đã tạo cho các màn hình nội dung của bạn: Chọn menu Format/Slide design Bên màn hình bên trái phía trên các mẫu định dạng của máy có các trang mẫu định dạng mới mà bạn đã tạo sẵn, bạn chọn khối các trang slide cần định dạng (bên phải) và bấm mouse phải vào màn hình định dạng bến trái chọn Apply to Selected Slides 3. Di chuyển nhanh đến các trang cần báo cáo hoặc các hình, film minh họa. Trong một bài báo cáo cần đến các dữ liệu liên quan có trên máy tính của bạn hoặc trên mạng internet bạn có thể dùng chức năng hyperlink để di chuyển nhanh đến phần tham khảo đó bằng một cái bấm chuột. a. Di chuyển nhanh đến trang slide trong cùng một file. - Bạn chọn khối đoạn văn bản hoặc hình cần tham chiếu vào menu Insert /Hypert link – hộp thoại Hypert Link xuất hiện. - Bấm vào nút Bookmask bên phải hộp thoại trên hộp thoại mới xuất hiện tất cả các trang bạn đã soạn bạn chọn vào một trang nào cân liên kết đến, bấm OK - Một các khác bạn tạo một số nút trên trang màn hình slide master như : Đi đến trang kế NEXT, trang trước Previous, hoặc trang mục lục bạn vào mục View/master /Slide Master – sau đó chọn Slide show/ Action Button bạn chọn các nút lệnh có sẵn và chèn vào trang nền ấn định các lệnh như trên cho các nút. b. Tham khảo nhanh đến file hoặc đường dẫn trên mạng. - Bạn chọn khối văn bản hoặc hình và bấm vào Insert/Hypert link, Bấm vào danh mục các ổ đĩa trong lục Look in chọn đĩa, bấm đôi chuột vào các folder để chọn file có trong máy tính của bạn. Bấm OK. Nếu là đường dẫn trên mạng thì bạn mở chương trình xem trang web lên – truy cập đến trang cần tham khảo, chọn khối copy đường dẫn trên dòng Address của màn hình trang web đang xem đem dán vào dòng Address trong hộp thoại Hypert Link và bấm OK. Bạn bấm nút Slide show góc dưới bên trái màn hình kiểm tra xem đường dẫn đúng không bằng cách bấm chuột vào dòng liên kết trên màn hình. 9

- Lưu ý: trong khi soạn thảo các slide có liên kết đến trang trên mạng internet và trình chiếu nơi không có mạng sẽ bị lỗi, trong khi xem trang web bạn chọn đến mục Favorites/Add to Favorites đánh dấu vào mục Make Available offline, chờ cho máy tải toàn bộ trang web xuống máy tính của bạn xong bạn vào menu File dánh dấu chọn mục Work Offline, bây giờ bạn đem máy đến nơi cần trình chiếu mở file PPT lên và sử dụng như khi có nối mạng Internet. Chức năng này bạn có thể liên kết đến film MP4, AVI, hoặc file nhạc MP3, MIDI, WMA… trên máy của bạn rất nhanh. LÊ VĂN PHẬN Thứ Ba, 20/03/2007, 11:15 (GMT+7)

Định cỡ ảnh chỉ bằng vài cú nhắp chuột!
TTO - Định cỡ ảnh (resize) là một trong những công đoạn trong xử lý ảnh số. Nó sẽ làm thay đổi kích cỡ gốc của bức ảnh tùy theo mục đích của người dùng. Giao diện chương trình thay đổi kích thước ảnh Fotosizer.

Thông thường, tính năng tái định cỡ sẽ được tích hợp trong các trình duyệt hoặc trình biên tập ảnh số chuyên dụng. Tuy nhiên, nếu thường xuyên khai thác chỉ mỗi tính năng trên mà bạn phải chạy các ứng dụng nặng “đô”, thì bạn sẽ mất nhiều thời gian và làm tiêu hao tài nguyên của máy tính. Bạn nên chạy một công cụ gọn nhẹ hơn. Và Fotosizer chính là một trong số đó. Tiện ích này rất dễ sử dụng, không ngốn bộ nhớ máy tính, hỗ trợ cả chế độ xử lý thư mục, cho phép tái định cỡ ảnh theo giá trị cụ thể hoặc theo tỷ lệ phần trăm, áp dụng hiệu ứng ảnh đen trắng lên tập tin xuất và chất lượng của bức ảnh sau khi được tái định cỡ cũng được đảm bảo đến mức tối đa so với bức ảnh gốc. Fotosizer hỗ trợ tốt các chuẩn định dạng bao gồm .bmp, .jpg, .jpeg, .jif, .png, .gif và .tga, xuất kết quả xử lý sang chuẩn định dạng .jpeg. 1. Tái định cỡ cho một hoặc vài tập tin ảnh: Cài đặt và kích hoạt Fotosizer, nhắp chuột lên nút Add Image nằm ở góc dưới bên trái của giao diện, tìm đến địa điểm lưu trữ của những bức ảnh mà bạn muốn tái định cỡ, ấn giữ phím Shift đồng thời nhắp chuột lần lượt lên biểu tượng của chúng rồi chọn Open. Một danh sách sẽ được tạo lập trong vùng Image selection (có cả ảnh thumbnail của tất cả những tập tin vừa được nạp vào giao diện) để cung cấp đến người dùng một số thông tin quan trọng bao gồm đường dẫn của bức ảnh, kích cỡ hiện hành, định dạng và dung lượng của nó. Để tái định cỡ cho một bức ảnh cụ thể, trước tiên, bạn hãy nhắp chuột lên mẫu ghi tương ứng với nó, lựa chọn 1 trong 2 phương thức tái định cỡ được trình bày trong vùng Settings bao gồm tái định cỡ ảnh dựa theo giá trị do người dùng thiết lập (chế độ Custom size với 2 thông số kỹ 10

thuật bao gồm chiều rộng (Width) và chiều cao (Height) có đơn vị tính là ảnh điểm (pixel, được viết tắt là px), chẳng hạn như 1024 x 768, 800 x 600, 640 x 480, v.v…) hoặc tái định cỡ ảnh dựa theo tỷ lệ phần trăm do người dùng quy định (chế độ Percentage of original với 2 thông số kỹ thuật bao gồm chiều rộng (Width) và chiều cao (Height) có đơn vị tính là tỷ lệ phần trăm so với kích cỡ gốc của bức ảnh (percent, được viết tắt là %), chẳng hạn như 200, 50, 25, v.v…), đánh dấu kiểm trước tùy chọn Maintain aspect ratio of và giữ nguyên giá trị mặc định để đảm bảo tính cân đối của bức ảnh. Bạn đánh dấu kiểm trước tùy chọn Convert to Greyscale nếu như bạn muốn bức ảnh sau khi được tái định cỡ sẽ là ảnh đen trắng, nhắp chuột lên nút có biểu tượng là chiếc cặp đựng hồ sơ màu vàng nằm trong vùng Destination settings, tìm đến thư mục mà bạn muốn dùng làm nơi lưu trữ cho các bức ảnh sắp được tái định cỡ, nhắp chuột lên biểu tượng của thư mục này trong hộp thoại Browse For Folder, chọn OK rồi nhắp chuột lên nút Start để tiến hành công việc tái định cỡ ảnh. Bức ảnh sau khi được tái định cỡ sẽ có tên trùng với tên của tập tin ảnh gốc và sẽ được xuất sang chuẩn định dạng .jpeg. 2. Tái định cỡ cho cả thư mục ảnh: Từ giao diện tương tác của Fotosizer, bạn hãy nhắp chuột lên nút Add Folder nằm ở góc dưới bên trái của giao diện (đánh dấu kiểm trước tùy chọn Include Sub-folders nếu muốn nạp thêm cả những thư mục con của thư mục này), tìm đến thư mục có chứa tất cả những bức ảnh mà bạn muốn tái định cỡ, nhắp chuột lên biểu tượng của nó, chọn OK trong hộp thoại Browse For Folder rồi thực hiện các thao tác còn lại tương tự như đã trình bày trong mục 1. Với dung lượng nhỏ gọn (743 KB), tương thích trên hầu hết các phiên bản của hệ điều hành Microsoft Windows, phiên bản miễn phí (freeware) của Fotosizer đang được cung cấp tại đây. LÊ NGUYỄN BẢO NGUYÊN Thứ Tư, 14/03/2007, 13:36 (GMT+7)

Khôi phục Windows trong 10 phút
TTO - Để cài đặt lại hệ điều hành Windows, có nhiều giải pháp nhanh chóng và tốt nhất thay vì cho CD Windows vào rồi tiến hành cài đặt từ đầu. Acronis True Image Khi sử dụng máy tính nhiều năm, bạn sẽ luôn định 10, phiên bản mới hình trước những phần mềm nào sẽ được cài đặt tiếp nhất của Acronis theo sau Windows và driver cho các thiết bị phần Inc cứng. Kế đến là việc thiết lập cho Windows và những phần mềm hoạt động thích hợp theo ý muốn. Tốt nhất, những phần mềm nào bạn cảm thấy mình sẽ sử dụng hoặc chưa sử dụng mà cần thiết phải có trên hệ thống thì nên cài đặt luôn vào giai đoạn này.

11

Sau khi đã hoàn tất giai đoạn chuẩn bị và cài đặt, cập nhật, cấu hình, thiết lập toàn bộ hệ thống cũng như phần mềm, ta sẽ tiến hành sao lưu toàn bộ partition cài hệ điều hành mà ở đây là ổ C. Có khá nhiều chương trình sao lưu và khôi phục hệ thống như: Norton Ghost, Norton Save & Restore (mới), Paragon Drive Backup nhưng có nhiều tính năng ưu việt hơn là Acronis True Image. Người dùng Việt Nam trước đây thường quen dùng Norton Ghost nhưng Acronis True Image sẽ là chương trình thay thế khá tin cậy với giao diện đơn giản, dễ dùng. Tạo đĩa khởi động khôi phục hệ thống Chức năng chính của Acronis True Image là tạo một ảnh đĩa hay partition để có thể được khôi phục khi hệ thống có các lỗi hư hỏng nặng nề. Người dùng có thể chọn lựa để tạo đĩa (CD/DVD) khởi động (bootable) và đĩa này sẽ được dùng như là thiết bị cứu hộ khi hệ thống bị lỗi, nó sẽ khởi động hệ thống rồi khôi phục lại ảnh đĩa đã được sao lưu. Cài đặt Acronis True Image 10.0 Home từ website (bản dùng thử 15 ngày với dung lượng 102.2MB) và thực thi chương trình. Trên danh sách menu trái, chọn "Create bootable rescue media" để khởi động Acronis Media Builder hoặc vào Start - Program Files - . Công cụ này sẽ giúp bạn tạo một đĩa khởi động qua tập tin ảnh đĩa (ISO). Việc tạo và lưu giữ đĩa khởi động rất quan trọng, nếu cần thiết, bạn nên tạo 2 đĩa để phòng bị khi dữ liệu trên đĩa bị hư hỏng. Acronis Secure Zone Acronis Secure Zone là một partition ẩn với chức năng chính là lưu trữ sao lưu của hệ thống. Để bảo mật, các chương trình khác sẽ không có quyền truy xuất vào Secure Zone. Ta quản lý Secure Zone bằng cách thực thi Acronis True Acronis Secure Zone Image, trong giao diện chính của chương trình, giúp khôi phục nhanh chọn "Manage Acronis Secure Zone". Trình Wizard chỉ với một phím sẽ xuất hiện, giúp bạn chọn nhanh qua từng bước. nhấn F11 trong Acronis True Image Bước đầu tiên, danh sách các partition sẽ được hiển thị. Partition chính vẫn là phần có đánh dấu cờ đỏ và "Pri,Act". Bạn có thể đặt Secure Zone ở bất cứ partition nào tùy ý và mỗi máy tính chỉ có một Secure Zone duy nhất. Kế tiếp, ta chọn dung lượng cho Secure Zone để có thể sao lưu. Trường hợp dung lượng này không đủ, các bản sao lưu cũ sẽ được xóa đi để có dung lượng cho bản sao lưu kế tiếp.

12

Tiếp theo, chương trình sẽ yêu cầu bạn chọn lựa kích hoạt "Acronis Recovery Manager" hay không. Nếu kích hoạt, khi khởi động Windows, người dùng chỉ cần dùng phím F11 để khởi động Acronis True Image Home 10 mà không cần đĩa CD khởi động (Bootable Media). Tốt hơn hết, bạn nên sử dụng chức năng này để dễ dàng khôi phục hệ thống khi khởi động chỉ với một phím nhấn. Nhấn Next, bạn sẽ thấy một bảng tổng kết các hoạt động sẽ được thực thi trên partition như: Resizing partition (thay đổi kích thước partition), Creating partition (Tạo partition là Secure Zone). Nhấn "Proceed" để chương trình bắt đầu thực hiện công việc và hệ thống phải "restart". Sau khi tạo Acronis Secure Zone, bạn vẫn có thể thay đổi kích thước dung lượng bằng cách vào "Manage Acronis Secure Zone" chọn tăng/giảm cho Secure Zone. Hoặc ta có thể thay đổi mật khẩu bảo mật cho Secure Zone bằng cách nhấn "Change password". Cuối cùng, muốn gỡ bỏ Acronis Secure Zone, click chọn "Remove Acronis Secure Zone".

Acronis True Image Home 10.0 còn rất nhiều chức năng hỗ trợ quản lý partition cũng như sao lưu ổ đĩa cứng theo nhiều dạng. Chỉ với 49,99 USD, bạn đã có thể bảo vệ cho dữ liệu và hệ thống luôn luôn an toàn. Tham khảo chi tiết hướng dẫn sử dụng Acronis True Image 10 tại đây (Tập tin dạng PDF). THANH TRỰC Thứ Sáu, 09/03/2007, 22:01 (GMT+7)

Cách tạo đĩa Boot và khôi phục hệ thống từ Norton Ghost
TTO – Trả lời cho nhiều bạn đọc thắc mắc về cách khôi phục hệ thống đã được sao lưu với Norton Ghost theo các trường hợp. Nhịp cầu Nhịp sống số trả lời: Norton Ghost 9.0 với giao diện thân thiện và dễ sử dụng hơn trước.

Norton Ghost không còn xa lạ với người dùng máy tính, nó đã được dùng rất phổ biến với chức năng chính là sao lưu dữ liệu theo từng partition hay toàn bộ hệ thống, rồi có thể khôi phục nhanh dữ liệu đã sao lưu mà không cần cài đặt lại hệ điều hành, cho dù bạn đã format hay tái thiết lập lại hệ thống. 13

Bạn không cho biết rõ mình đang sử dụng phiên bản Norton Ghost mấy nên tạm thời lấy phiên bản Ghost 9 làm ví dụ. Khi muốn phục hồi hệ thống từ tập tin ghost đã được sao lưu từ trước, ta chọn “Restore a Drive” và nhấn Next. Tiếp theo, tìm đến tập tin đã sao lưu theo định dạng ghost (.gho). Nếu khi sao lưu, bạn có đặt mật khẩu (password) cho tập tin để bảo mật thì bước tiếp theo này bạn cần khai báo mật khẩu để có thể tiếp tục. Chọn ổ đĩa và phân vùng (partition) bạn muốn phục hồi trong cửa sổ tiếp theo rồi nhấn Next. Kế đó chọn một vài thiết đặt trước khi phục hồi như: Verify image file before restore (Kiểm tra tập tin sao lưu trước khi phục hồi), Check for file system errors (kiểm tra lỗi hệ thống tập tin), Set drive active (for booting OS) (đặt chế độ khởi động cho đĩa). Chọn xong nhấn Next hai lần để tiến hành phục hồi. Tham khảo thêm các thông tin về ghost đĩa cho các partition tại đây. Phục hồi những tập tin và thư mục chỉ định: Muốn thế, trước tiên bạn phải chạy Symantec Backup Image Browser bằng cách nhấp Restore Files or Folders tại giao diện chính của chương trình hoặc từ menu Start -> All Programs -> Norton Ghost. Tuy giao diện chương trình khá giống Ghost Explorer của các phiên bản Ghost trước song bạn lại không thể mở tập tin .gho trong đây, nếu bạn vẫn cố gắng mở thì một cửa sổ Ghost Explorer hiện ra chứ không phải Symantec Backup Image Browser. Symantec Backup Image Browser có khả năng ánh xạ tập tin sao lưu thành một ổ đĩa trên hệ thống bằng cách chọn gốc của cây thư mục (tức là tên của tập tin sao lưu) trong khung bên trái rồi nhấn nút Mount a v2i drive. Bạn chọn tên ổ đĩa ánh xạ trong danh sách Drive letter, nhấn OK là xong.

Bây giờ, muốn phục hồi thư mục hoặc tập tin nào trong tập tin sao lưu, bạn chỉ việc đánh dấu chọn chúng trong vùng bên phải tiếp đó vào menu File nhấp mục Restore rồi nhấn nút Restore. Phục hồi từ DOS: Để phục hồi với Norton Ghost trong DOS, bạn có thể tham khảo phần hướng dẫn tại đây. Tạo đĩa khởi động với Ghost (Boot CD): 14

Bạn có thể tham khảo các hướng dẫn cụ thể trên website Symantec (Tạo đĩa Boot CD - Khôi phục) hay chi tiết và thủ công hơn với các tiện ích tại đây. Đối với môi trường mạng thì Symantec Ghost cũng hỗ trợ việc boot với hướng dẫn của Scott Barker từ đại học Washington. Ngoài Symantec Norton Ghost, bạn có thể tham khảo một dạng phần mềm tương tự nhưng có vài tính năng nổi trội hơn là Acronis TrueImage với các phiên bản mới có thêm tính năng Secure Zone cho phép khôi phục toàn bộ hệ thống nhanh chóng. THANH TRỰC (Tổng hợp) Thứ Năm, 08/03/2007, 07:00 (GMT+7)

Empty folder nuker 1.2.0: tìm xóa nhanh và triệt để thư mục rỗng
TTO - Trong quá trình sắp xếp và di chuyển tập tin từ thư mục này sang thư mục khác, bạn đã vô tình tạo ra rất nhiều thư mục rỗng mà quên xóa chúng đi và chính điều này làm lãng phí dung lượng lưu trữ trên máy. Chương trình đơn giản với giao diện duy nhất và không cần cài đặt

Khi đến lúc cần dọn dẹp làm sạch đẹp hệ thống, bạn phải mất công mở từng thư mục nhằm tìm xóa những thư mục rỗng, công việc tuy đơn giản nhưng bạn sẽ mất khá nhiều thời gian và đôi khi sẽ để sót lại một số thư mục rỗng nằm sâu trong các thư mục con. Để thực hiện tác vụ này một cách nhanh chóng và triệt để, bạn có thể nhờ đến EFN 1.2.0 của nhà phát triển Simon Wai, dung lượng 260 KB và tương thích với mọi hệ điều hành Windows, tải về sử dụng miễn phí tại http://www.simonwai.com/bin/EmptyFolderNuker.exe. Sau khi tải về thành công, không cần cài đặt, bạn nhắp kép vào tập tin EmptyFolderNuker.exe để kích hoạt chương trình. Trong cửa sổ tương tác của chương trình, nhập vào đường dẫn thư mục mà bạn nghi là có chứa thư mục rỗng bên trong trong ô Base folder hay nhắp nút Browse… để xác định một cách trực quan và chính xác hơn thư mục cần tìm thư mục rỗng bên trong rồi nhấn OK để đóng cửa sổ Browse for Folder lại. Đánh dấu hộp kiểm Check subfolders để chương trình tìm kiếm luôn cả những thư mục rỗng bên trong các thư mục con của thư mục đã xác định và đánh dấu hộp kiểm Consider folders with only empty subfolders as empty để chương trình xem những thư mục chứa toàn chỉ các thư mục con rỗng là một thư mục rỗng. Sau đó nhấn nút Find để chương trình bắt đầu thực hiện quá trình tìm kiếm thư mục rỗng. Bạn có thể nhấn nút Shell Integration… rồi chọn Yes trong hộp thoại Add shell integration? để tích hợp chương trình vào trong trình đơn ngữ cảnh chuột phải trong Windows Explorer và ở đây, 15

bạn sẽ tiến hành việc tìm kiếm một cách nhanh chóng và đơn giản bằng cách nhắp phải vào thư mục cần tìm thư mục rỗng bên trong rồi chọn Find empty folders trong trình đơn xổ xuống. Sau khi chương trình tìm kiếm xong, trong cửa sổ kết quả xuất hiện, tất cả thư mục rỗng cùng với đường dẫn của chúng sẽ được liệt kê trong khung với hộp kiểm ở trước được đánh dấu sẵn, nếu muốn lọc lại bạn nhấn nút Uncheck All và sau đó tiến hành đánh dấu hộp kiểm từng thư mục rỗng cần xoá, xong nhấn nút Delete để xoá chúng đi. Bạn có thể đánh dấu hộp kiểm Exit EmptyFolderNuker after successful deletion để tự động thoát khỏi chương trình sau khi xoá, hay không đánh dấu nó nếu muốn trở lại cửa sổ ban đầu và thực hiện tiếp việc tìm kiếm. QUÁCH HÙNG Thứ Ba, 27/02/2007, 08:54 (GMT+7)

Phục hồi nhanh dữ liệu với NTFS Undelete
TTO - Khi bạn xóa một tập tin, nội dung của nó sẽ không mất hẳn, điều này giải thích tại sao chúng Giao diện đơn giản, ta có thể phục hồi những dữ liệu bị xóa. dễ sử dụng của NTFS Hiện nay, tìm lại những tập tin đã xóa do “lỡ tay” Undelete. đã trở nên khá đơn giản. Bạn có thể vào Google, tìm kiếm với các từ khóa “undelete”, “recovery” hoặc “backup”… để tải về và sử dụng rất nhiều phần mềm hỗ trợ công việc này. Tuy nhiên, khi cài đặt những phần mềm này, vô tình bạn đã làm giảm xác suất thành công của việc phục hồi dữ liệu đặc biệt là trong trường hợp tập tin bị mất của bạn nằm trên ổ đĩa hệ thống (thông thường là ổ C:). Khi đó, rất có thể dữ liệu cần phục hồi của bạn đã bị ghi đè lên bởi chính những tập tin mới của chương trình. Vì vậy, hãy thử cách dùng một máy tính khác để tải về tập tin ntfsundelete.iso (miễn phí, dung lượng 4,81 MB). Sau đó, ghi tập tin này lên một đĩa CD và chạy chương trình NTFS Undelete từ đĩa CD để phục hồi dữ liệu. NTFS Undelete là một sản phẩm của hãng Atola có khả năng “cải tử hoàn sinh” dữ liệu trên các phân khu đĩa được định dạng theo chuẩn NTFS. Chương trình này có giao diện đơn giản nên rất dễ sử dụng. Sau khi khởi động và ra lệnh cho chương trình rà soát lại những dữ liệu đã mất, bạn chỉ việc chỉ định nơi lưu trữ cho tập tin được phục hồi. Ngoài ra, chương trình còn hỗ trợ khả năng tìm kiếm giúp bạn nhanh chóng xác định những dữ liệu tưởng như đã “một đi không trở lại”. Nếu dữ liệu của bạn không nằm trên đĩa hệ thống, bạn có thể tải về tập tin cài đặt tại đây (dung lượng 1,66 MB) để cài và kích hoạt chương trình từ máy tính. ĐỒNG VĂN TÂM Thứ Ba, 27/03/2007, 17:18 (GMT+7) 16

Khắc phục lỗi “không thể chép vào ổ C” của Windows Vista
TTO - Tôi vừa cài Windows Vista nhưng vô cùng khó chịu khi không thể nào dùng ứng dụng Total Commander để chép file vào ổ C. Ngoài ra, Windows Vista cũng đưa ra nhiều thông báo bực mình khi tôi cài đặt ứng dụng mới. Xin chỉ cách khắc phục sao cho Windows Vista trở nên “dễ tính” như XP được không? (18Modern… @yahoo.com). Nhịp cầu Nhịp sống số xin trả lời như sau: Vì là một hệ điều hành thuộc dạng “siêu bảo mật” nên Windows Vista luôn tỏ ra rất “khó tính” khi bạn cố tình hoặc vô ý đưa bất kỳ thứ gì vào ổ đĩa C, tức phân vùng cài đặt của Windows Vista, để phòng ngừa mã độc xâm nhập. Đúng như bạn đã nhận định, khi tiếp xúc lần đầu tiên với Windows Vista, đa số người dùng sẽ cảm thấy rất khó chịu khi không thể nào dùng các trình quản lý file-folder quen thuộc để chép file vào ổ C. Ngoài ra, người dùng cũng phải đối mặt với khá nhiều cảnh báo bảo mật khó chịu như “An unidentified program wants access to your computer” hoặc “A program needs your permitsion to continue”… khi cài đặt ứng dụng mới vào Windows Vista. Cơ chế bảo mật này của Windows Vista có tên là “User Account Control” (UAC), có tác dụng hạn chế tối đa việc mã độc xâm nhập vào hệ điều hành do chính người dùng trực tiếp đưa vào. Nếu bạn muốn trở về kiểu sao chép thoải mái như Windows XP thì chỉ việc tắt đi cơ chế UAC là xong. Cách làm như sau: Nhấn vào nút “Start” -> chọn “Control Panel” -> Nhấp đúp vào biểu tượng “User Account” trong Control Panel để hiện ra giao diện “Make changes to your user account” -> chọn lấy “Turn User Account Control on or off” -> nhấn “Continue” trong giao diện cảnh báo để tiếp tục hiện ra giao diện mới -> bỏ chọn ở ô “Use UAC to help protect your computer” -> nhấn OK để hoàn tất việc vô hiệu hóa cơ chế UAC. Đến lúc này thì bản Windows Vista của bạn đã trở nên “dễ tính” hệt như Windows XP nhưng dĩ nhiên là độ bảo mật của Windows Vista chắc chắn sẽ kém đi khá nhiều.

Nếu bạn không thích kiểu tắt UAC hơi khó nhớ như đã kể trên thì nên tậu phần mềm “TweakVI for Windows Vista” về dùng. Ngay trong quá trình 17

cài đặt, TweakVI này đã mặc định vô hiệu hóa luôn cơ chế UAC của Windows Vista khi nó tự động đánh dấu vào chức năng “Turn Off User Account Control”. Khi cài đặt hoàn tất bản TweakVI này thì UAC cũng được vô hiệu hóa. Ngoài ra, “TweakVI for Windows Vista” cũng là một dạng tiện ích “All in One” dành cho Windows Vista, giúp bạn có thể can thiệp vào hầu hết các tính năng của hệ điều hành này, tương tự như các tiện ích “All in One” dành cho Windows XP mà Giao diện chương Nhịp Sống Số đã đăng tải. trình Tweak VI Công ty TotalIdea đang bán ra bản “TweakVI for Windows Vista - Basic Edition 1.0” với giá là 40 USD. Bạn đọc quan tâm có thể vào đây để tải về bản dùng thử với dung lượng khoảng 12 MB. Chúc bạn thành công! THIÊN TRANG Thứ Hai, 26/03/2007, 15:27 (GMT+7)

Gỡ bỏ Windows Media Player 9?
TTO - Chuyên mục cho tôi hỏi 2 câu hỏi: 1. Tôi đang sử dụng Windows Media 9, Nhịp cầu Nhịp sống số giúp tôi gỡ bỏ vì tôi đã thực hiện nhiều lần nhưng không được. 2. Khi mở các video được tải về trên mạng thì các file đó vẫn được lưu trong Gỡ bỏ Windows Media Player. phần "File" của Windows Media, làm thế nào để xóa chúng? (doinguyentan...@gmail.com) Nhịp cầu Nhịp sống số trả lời: 1. Để gỡ bỏ Windows Media Player trong Windows XP, bạn làm theo cách sau: - Vào Start - Settings - Control Panel, chọn Add/Remove Programs. Bên trái, ta chọn Add/Remove Windows Components. - Trình Windows Components Wizard xuất hiện, kéo rê danh sách xuống dưới cùng, bạn sẽ thấy có "Windows Media Player". Ta bỏ dấu chọn của nó đi rồi nhấn Next. - Trình Wizard sẽ tiến hành gỡ bỏ Windows Media Player theo các bước kế tiếp rất đơn giản. Khi muốn cài đặt lại, bạn chỉ cần cho đĩa CD Windows XP vào ổ đĩa CD-Rom, thực hiện lại các bước trên, đánh dấu chọn vào "Windows Media Player" trong danh sách Windows Components rồi nhấn Next thì Windows Media Player sẽ được cài đặt lại. 18

Hiện tại, phiên bản mới nhất của Windows Media Player là phiên bản 11, có giao diện rất đẹp và bổ sung thêm vài chức năng mới. Bạn có thể tải về cài đặt tại đây. Lưu ý là Windows của bạn phải có bản quyền để có thể kích hoạt cài đặt cho phiên bản mới này. 2. Trong Windows Media Player, để xóa danh sách các tập tin đã được thực thi trong menu File, phần Recently Played Files, ta vào Options trên menu. Tìm đến thẻ Privacy, ở phần dưới, lưu ý có phần History. Bạn chỉ cần nhấn "Clear History" và "Clear Cache" là xóa các tên tập tin đã chạy. Muốn cho Windows Media Player không tự động lưu lại các tập tin đã chạy thì bỏ chọn ở phần "Save file and URL history in the Player" rồi nhấn OK.

19

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful