HIEPKHACHQUAY

TUYỂN NHỮNG BÀI BÁO VẬT LÍ HAY VOL. 2

Kiên Giang, tháng 7/2009

Mục lục
Trang Thuyết lượng tử và giải thưởng Nobel .............................................................. 1 Nhìn lại lịch sử 50 năm đầu của giải thưởng Nobel Vật lí ............................. 15 Làm khoa học trong thời đại mở ..................................................................... 26 Simon Newcomb, nhà thiên văn học vĩ đại số một của nước Mĩ ................... 38 Arthur Robert Kantrowitz ............................................................................... 49 Kiểm tra thuyết tương đối từ kì nhật thực 1919 – một câu hỏi thành kiến ..... 52 John Wheeler và nghiên cứu về hạt cơ bản, hạt nhân và vũ khí ..................... 65 Sự sống lượng tử ............................................................................................. 75 Charles Darwin và vật lí học ........................................................................... 83 Vật lí đã truyền cảm hứng cho sinh học như thế nào? .................................... 89 Vũ trụ độc nhất ................................................................................................ 93

Thuyết lượng tử và giải thưởng Nobel
Robert Marc Friedman Thành kiến cá nhân và sự thiếu hiểu biết của ủy ban xét trao giải Nobel khiến cho nhiều nhà tiên phong của cơ học lượng tử không được nhận giải, mãi cho đến khi phát hiện ra phản vật chất vào năm 1932. Năm 1933, giải thưởng Nobel hình như cũng kém phần quan trọng đi so với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới và sự leo thang quyền lực của chế độ phát xít, nhưng nhiều nhà vật lí vẫn giữ cái nhìn thận trọng hướng về Stockholm . Họ cảm thấy hoang mang và tràn trề thất vọng trước những quyết định trước đó của Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy Điển. Không có giải thưởng cho ngành vật lí trong năm 1930, nhưng những thành tựu lí thuyết và thực nghiệm trong thời gian gần đấy đã dẫn đến cuộc cách mạng mô tả nguyên tử bằng cơ chế lượng tử mới. Liệu rồi cuối cùng Viện Hàn lâm có chịu công nhận những thành tựu này không ?

Các giải thưởng Nobel cho thấy lịch sử thật phức tạp (Nguồn: Nobel Foundation)

Sau cùng, khi Viện Hàn lâm công bố quyết định của họ vào tháng 11, kết quả làm một số người cảm thấy hài lòng, một số tỏ ra giận dữ và một số khác thì cảm thấy khó hiểu. Giải thưởng dành riêng cho năm 1932 trao cho một mình Werner Heisenberg, cho ―việc sáng tạo ra cơ học lượng tử, mà những ứng dụng của nó, không kể đến những thứ khác, đã dẫn đến việc khám phá ra hình thái đặc trưng của hydro‖. Trong khi đó, giải thưởng năm 1933 chia cho Erwin Schrödinger and Paul Dirac, cho việc ―khám phá ra hình thức hữu ích mới của thuyết nguyên tử‖.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

1

Giải thưởng Nobel dành cho cơ học lượng tử từ lâu luôn là đề tài mà nhiều người bàn tán và dị nghị. Tại sao cũng những nhà khoa học này nhưng có khi một người một mình một giải, có khi giải thưởng lại chia cho nhiều người, và tại sao lí do chính thức để trao giải lại linh tinh như vậy ? Nói chung, quyết định trao giải năm 1933 đã mang đến một câu hỏi lớn như rắc tiêu lên cả lịch sử đời thường và học thuật của nền vật lí hiện đại: tại sao có quá ít giải thưởng Nobel cho những đóng góp về mặt lí thuyết ? Liệu đây có phải là làm theo di chúc của Alfred Nobel, trong đó ghi rõ rằng giải thưởng được trao cho những ―khám phá hay phát minh trong lĩnh vực vật lí‖ ? Phải chăng vốn dĩ việc xác định một đột phá về mặt lí thuyết là một khám phá thì khó khăn hơn ? Tôi đã nghiên cứu những công trình đạt giải Nobel, cũng như thư từ trao đổi giữa các vị là cựu thành viên của ủy ban trao giải, trong một nỗ lực làm sáng tỏ lí do mà người ta đã xao lãng các công trình lí thuyết, cũng như để có một cảm nhận về giải thưởng năm 1933. Những hoạt động này sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn sâu sắc hơn về việc nhìn nhận các thành tựu lí thuyết của ủy ban cho đến trước năm 1933, giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của giải thưởng năm đó, kể cả việc bổ sung Paul Dirac vào danh sách những người đạt giải vào phút cuối.

Dirac (trái), Heisenberg (giữa) và Schrödinger (phải) đến Stockholm năm 1933 để nhận giải Nobel. (Nguồn: Max Planck Institute fur Physik/AIP Emilio Segrè Visual Archives)

Giải thưởng hàn lâm viện
Giải thưởng Nobel có quy mô quốc tế, nhưng từ khi bắt đầu trao giải đến nay, Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy Điển đưa ra quyết định của mình trên cơ sở tiến cử của năm thành viên trong ủy ban xét giải vật lí và hóa học.Chính kiến riêng của mỗi thành viên ủy ban người Thụy Điển này, cũng như sự hiểu biết khoa học và sở thích của họ ảnh hưởng

2

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

rất nhiều đến kết quả xét giải. Những nhà khoa học được mời chỉ định đó hiếm khi cho ủy ban một sự nhất trí cao. Và ngay cả khi một ứng cử viên nặng kí thật sự nổi trội – như Albert Einstein cho thuyết tương đối, hay Henri Poincaré cho những đóng góp đa dạng cho vật lí toán - ủy ban cũng thường bỏ qua. Đôi khi, một sự thay đổi nhỏ trong thành phần của ủy ban cũng có thể quyết định số phận của một ứng cử viên. Mặc dù năm thành viên ủy ban đánh giá các ứng cử viên và đề xuất ai là người nhận giải, nhưng sự tiến cử của họ vẫn phải được sự tán thành của 10 thành viên trong Ban Vật lí của Viện Hàn lâm, và sau đó là của 100 thành viên của cả Viện Hàn lâm.Thường thì uy quyền của ủy ban thắng thế, nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Đôi khi Viện Hàn lâm khoa học chống lại ủy ban của mình. Như trong trường hợp của Gustaf Dalén (1912) và Jean Perrin (1926), các thành viên của Viện Hàn lâm đã thành công trong việc tập hợp đồng nghiệp của mình để phản đối tuyên bố của ủy ban rằng những ứng cử viên này không xứng đáng để trao giải. Mặc dù có những quy định chính thức chỉ đạo mọi mặt của hệ thống trao giải, nhưng điều đó không có nghĩa là ủy ban trao giải được cung cấp quy chế rõ ràng để làm việc. Trong di chúc, một số cụm từ thiết yếu như ―khám phá hay phát minh có ý nghĩa nhất trong lĩnh vực vật lí‖, hoặc ―gần đây‖, hoặc ―có ích cho nhân loại‖ không được định nghĩa rõ ràng. Cho nên phát sinh nhiều cách hiểu và cách hiểu lại thay đổi theo thời gian. Nhưng ngay cả khi mọi thành viên đã cố gắng vượt qua định kiến và lòng ích kỉ, nhỏ nhen, thì công việc lựa chọn người thắng giải luôn luôn – và vẫn luôn luôn – là một việc hết sức khó khăn. Đôi lúc các thành viên ủy ban thổ lộ rằng, có khi, có một số ứng cử viên đều xứng đáng như nhau cả.

Khuynh hướng thực nghiệm
Những năm đầu thập niên 1900, các thành viên ủy ban đã cố gắng ủng hộ các ứng cử viên mà công trình nghiên cứu của họ phản ánh khuynh hướng khoa học riêng của họ. Đa số thành viên trong ủy ban thuộc về Khoa Vật lí thực nghiệm ở trường đại học Uppsala , họ xem phương pháp đo lường chính xác là mục tiêu cao nhất trong ngành của mình. Chẳng hạn, Bernhard Hasselberg – một thành viên từ năm 1901 đến 1922 – luôn xem Albert Michelson là một nhà vật lí mẫu mực vì những nghiên cứu của ông đã đẩy giới hạn của độ chính xác lên rất cao. Do đó, Michelson không có lí do gì mà chả nhận được giải. Nhưng thay vì chỉ nhận được một vài đề cử, đằng này ông bắt đầu nổi bật là một ứng cử viên đáng kể trong năm 1904 nhờ sự ủng hộ tích cực của Hasselberg. Các nhà vật lí Thụy Điển trao giải Nobel cho Michelson nhằm công nhận công dụng của cái giao thoa kế của ông trong khoa đo lường, và đặc biệt, cho việc xác định bằng thực nghiệm chiều dài của thanh mét chuẩn quốc tế. Năm 1907, Hasselberf thổ lộ rằng ông đã chuẩn bị ―làm mọi thứ trong quyền hạn của mình để mang giải thưởng đến cho ông ta (Michelson)‖. Tuy nhiên, Hasselberg đã phải thất bại trước thực tế rằng Michelson không phải là một ứng cử viên công chúng và công trình nghiên cứu của ông ta không đáp ứng được yêu cầu của quy định phải có một ―khám phá‖.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

3

Trong bản báo cáo của mình trước ủy ban, Hasselberg không úp mở rằng những nghiên cứu của Michelson xứng đáng được trao giải, mặc dù chúng không đưa tới một khám phá lớn nào. Ông khẳng định, phương pháp đo lường chính xác tự nó đã cấu thành một điều kiện tiên quyết cho việc khám phá. Một thành viên khác cố gắng giải thích rằng những quy định ngặt nghèo không đề cập đến vấn đề này, nhưng Hasselberg vẫn cứ khăng khăng với lí lẽ của mình. Ông biết rằng đa số trong ủy ban, kể cả ông chủ tịch Knut Ångström, chia sẻ quan điểm của ông về việc xem phương pháp đo lường chính xác là yếu tố tiên quyết cho sự tiến bộ trong vật lí học. Giải Nobel vật lí năm 1907 vì vậy được trao cho Michelson, cho ―những dụng cụ quang chính xác và những nghiên cứu về quang phổ học và đo lường được thực hiện với sự hỗ trợ của chúng‖. Thi nghiệm ête kéo theo nổi tiếng của ông vừa được nhắc đến trong đó. Việc trao giải cho Michelson khiến cho Hasselberg và những đồng nghiệp cùng quan điểm với ông ở Uppsala tranh luận rằng phương pháp đo lường chính xác ―là điều kiện rất căn bản, thiết yếu, để chúng ta thâm nhập sâu hơn vào những quy luật của vật lí – là con đường duy nhất để chúng ta đi đến những khám phá mới‖. Đây đúng là một cơ hội tốt để tán dương và khẳng định quan điểm này trong vật lí học. Khi mà một khuynh hướng thực nghiệm trong ủy ban làm lợi cho Michelson thì nó cũng gây tổn hại đến những ứng cử viên được đề cử cho những thành tựu lí thuyết. Năm 1911, Vilhelm Carlheim-Gyllensköld, một thành viên mới được bầu vào ủy ban đến từ trường đại học Stockholm, đã đệ trình một kháng nghị thư lên Viện Hàn lâm, trong đó ông nêu rõ sự đối lập giữa vị thế cao lớn của nền vật lí toán và vật lí lí thuyết trong thế giới khoa học với sự ít ỏi của những giải thưởng Nobel dành cho các lĩnh vực này. Ngoài việc Hendrik Lorentz cùng chia giải thưởng năm 1902 cho việc giải thích hiệu ứng Zeeman, và giải thưởng trao cho J J Thomson năm 1906 cho sự dẫn điện trong chất khí, Carlheim-Gyllensköld phàn nàn rằng ―giải Nobel hiện nay chỉ dành cho các nhà vật lí thực nghiệm‖. Ông nhấn mạnh rằng việc xao lãng vật lí toán và vật lí lí thuyết không phải là do thiếu người đề cử. Trong số những nhà lí thuyết nổi trội được đề xuất có thể kể đến Ludwig Boltzmann, Oliver Heaviside, William Thomson (huân tước Kelvin), Max Planck, Poincaré, John Poynting và Wilhelm Wien. Đa số những trường hợp này được đề cử từ những người có khả năng thực nghiệm không chê vào đâu được, như Henri Becquerel, Philipp Lenard, Wilhelm Röntgen and Pieter Zeeman, họ đều đã nhận giải Nobel. ―Hàng loạt phiếu bầu rất đáng được chú ý khi xét giải‖, Carlheim-Gyllensköld khẩn khoản. Nhưng các ủy ban sau đó liên tiếp phớt lờ số lượng đề cử không ngừng tăng lên dành cho Planck và những nhà vật lí lí thuyết khác. Nguyên nhân là vì một số, nếu không nói là tất cả, các thành viên trong ủy ban không đủ khả năng theo đuổi sự phát triển của cơ học lượng tử và thuyết tương đối. Thật vậy, cuối cùng thì giải thường được trao cho Planck – giải năm 1918, trao giải năm 1919 – công nhận vai trò của ông trong việc lãnh đạo nền khoa học Đức trong thời kì xảy ra thảm kịch quốc gia hơn là công nhận thuyết lượng tử. Thực ra thì những người theo chủ nghĩa thực nghiệm trong ủy ban muốn dành giải thưởng năm 1918 cho nhà vật lí nguyên tử Johanes Stark và giải thưởng năm 1919 mới trao cho Planck để nhấn mạnh

4

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

tầm quan trọng của những thí nghiệm chính xác so với việc nghiên cứu lí thuyết. Tất nhiên, lịch sử xảy ra như thế nào thì như chúng ta đã biết.

Thời khắc quyết định cho nền vật lí lí thuyết
Trường hợp của Einstein đánh dấu một bước ngoặt. Sau cuộc thám hiểm nhật thực vào tháng 11 năm 1919, xác nhận ánh sáng phát ra từ các ngôi sao ở xa bị trường hấp dẫn của Mặt Trời bẻ cong đi, Einstein bắt đầu nhận được số tiến cử tăng dần cho công trình của ông về thuyết tương đối. Tuy nhiên, Viện Hàn lâm công bố người thắng giải năm 1920 lại là Charles-Edouard Guillaume – người được chỉ có một mình nhà vật lí người Thụy Sĩ Charles Guye tiến cử - cho việc phát minh ra hợp kim thép – nickel, một phát minh không ảnh hưởng gì nhiều lắm đến những thay đổi trong ngành luyện kim. Mặc dù hợp kim ―invar‖ cho khả năng chế tạo nhiều loại thiết bị đo lường có độ chính xác rất cao, nhưng các quan sát viên nước ngoài, kể cả những người không thích công trình của Einstein, cũng nhận thấy Guillaume là một sự lựa chọn kì quặc. Vậy chuyện gì đang xảy ra ở Viện Hàn lâm ? Đơn giản thôi: một số, nếu không nói là tất cả, các thành viên của ủy ban chưa bị thuyết phục thích đáng bởi kì nhật thực năm 1919 để thay đổi thái độ phản đối đối với Einstein. Hơn nữa, đó là một trong những lời thỉnh cầu cuối cùng của Hasselberg, sau hai thập kỉ phục vụ trong ủy ban, muốn nhìn thấy người đồng nghiệp đo lường chính xác Guillaume của ông được trao giải. Năm 1921, những người tiến cử đã miêu tả Einstein như là một người khổng lồ trong thế giới vật lí mà người ta chưa từng thấy kể từ thởi Newton . Năm 1921, Allvar Gullstrand, giáo sư ngành quang lí và quang sinh lí thuộc trường đại học Uppsala và là một trong những thành viên có tư cách đàng hoàng nhất trong Viện Hàn lâm, yêu cầu muốn được nghe báo cáo về những đóng góp của Einstein cho thuyết tương đối và thuyết hấp dẫn. Đơn giản là Gullstrand không hiểu nổi công trình nghiên cứu của Einstein. Tuy vậy, ông vẫn kiên quyết rằng Einstein không thể nào nhận giải được. Trong khi chuẩn bị bản báo cáo đặc biệt trước ủy ban, Gullstrand chuyển sang cầu viện đồng nghiệp của ông ở Uppsala và là người bạn Carl Wilhelm Oseen, một giáo sư cơ học và vật lí toán. Ông đã trình bày một số đoạn phê bình với Oseen, và ông này đã chỉ ra cho Gullstrand thấy những sai lầm của ông. Chính Oseen cũng nghi ngờ lớn về giá trị của thuyết tương đối, nhưng ông vui lòng cho Einstein một bình phẩm hợp lí. Sau này, ông có thổ lộ rằng, thật là một thảm họa cho ủy ban xét giải vì có Gullstrand, người đại diện vật lí lí thuyết, ông ta phải thẩm định những thứ mà ông ta chả hiểu gì cả ! Gullstrand không việc gì phải cản trở Einstein trước ủy ban. Không thành viên nào tán đồng thuyết tương đối cả. Như lời Hasselberg viết từ giường bệnh năm 1921: ―Người ta không chắc lắm những nghiên cứu như thế này có phải là đối tượng trao giải như lời di chúc của Alfred Nobel hay không‖. Đa số các thành viên trong ủy ban đơn giản là không chấp nhận một công trình nghiên cứu như vậy là nền vật lí thật sự. Cách thức Einstein xem xét các giả thuyết cơ sở của mình và cách ông cố gắng hợp nhất các lí thuyết cho thấy chúng là công trình của một nhà siêu hình học hơn là một thành viên của cộng đồng khoa học đương thời.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

5

Carl Wilhelm Oseen, giáo sư cơ học và vật lí toán tại trường đại học Uppsala , người thống trị ủy ban Nobel từ năm 1922 - 1944

Nếu như bản báo cáo của Gullstrand có nhiều khiếm khuyết thì, về nguyên tắc, Viện Hàn lâm có quyền tự do hành động một khi điều đó mang đến ánh sáng giải quyết vấn đề. Nhưng đa số mọi người trong Viện không muốn trao giải cho Einstein, và không ai muốn làm phật lòng những thành viên kính mến trong ủy ban của mình. Như ―giới chuyên môn‖ Thụy Điển đã nói, Viện Hàn lâm giữ uy quyền và lẽ phải của mình để định giá và phán xét. Khi chiếc đồng hồ điểm đến nửa đêm ngày 21 tháng 11 năm 1921, Viện Hàn lâm đã bỏ phiếu không trao giải Nobel vật lí cho năm đó.

Carl Wilhem Oseen vào cuộc
Oseen gia nhập ủy ban năm 1922. Ông muốn có một giải thường cho Einstein, nhưng không phải cho nghiên cứu về thuyết tương đối. Ông cũng rất muốn được nhìn thấy Niels Bohr nhận giải. Với địa vị cao quý trong ban vật lí và năng lực phân tích sắc bén, Oseen đã tìm thấy một cách khéo léo để trao giải cho cả hai người họ. Chính ông đã tiến cử thành công Einstein cho việc khám phá ra định luật quang điện. Ông lí giải rằng, không kể đến phương pháp lí thuyết mà Einstein đã sử dụng – nó bao hàm quá nhiều thuyết lượng tử trong đó khiến ủy ban khó chấp nhận được – bản thân định luật quang điện đã được xác nhận bằng kinh nghiệm. Và với việc công nhận định luật quang điện là một chân lí cơ bản của tự nhiên, Oseen có thể biện hộ cho mẫu nguyên tử lượng tử của Bohr. Trước đây, ủy ban đã bác bỏ công trình này vì cho rằng nó mâu thuẫn với thực tế. Nay Oseen khẳng định rằng mẫu nguyên tử Bohr là dựa trên cơ sở chắc chắn – định luật quang điện của Einstein – và đã tập hợp được ủy ban và Viện Hàn lâm ủng hộ cho đề xuất của ông.

6

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Sự có mặt của Oseen trong ủy ban vào năm 1922 làm cho ủy ban lần đầu tiên có được sự tinh thông về vật lí lí thuyết, nhưng điều đó không có nghĩa là những công trình lí thuyết sẽ dễ được tán thành hơn. Oseen là một tri thức vừa nghiêm khắc vừa kiêu ngạo, và đây không nhất thiết là đức tính phải có ở một thành viên trong ủy ban. Ông thường giữ vai trò người phản biện, vừa là quan tòa vừa là đao phủ, khi đánh giá các ứng cử viên luôn nặng tay hơn so với những đồng sự khác. Khi có người phản đối quan điểm của ông thi ông cực lực chỉ trích lại, cũng như trả thù cá nhân. Oseen để lại tiếng tăm sâu sắc trong cuộc đua giảnh giải Nobel cả một thời gian dài sau khi ông không còn quyền hạn trong ủy ban vào năm 1944. Ông lãnh đạo phong trào thu hẹp lại quy mô của ―vật lí học‖ đủ tư cách cho việc nhận giải, trái với những hành động trước đây bao hàm những lĩnh vực như vật lí thiên văn và địa vật lí. Nhưng, điều quan trọng nhất, mặc dù nghiên cứu riêng của ông dẫn đến thủy động lực học và khoa vật lí nghiên cứu mạng tinh thể, nhưng ông vẫn ngồi ở ghế thẩm phán đối với hầu hết các vấn đề vật lí lí thuyết, đặc biệt là thuyết nguyên tử. Oseen không hài lòng với con đường mà nền vật lí đang tiến triển; quan điểm rằng mọi thứ cần phải kiên định, rõ ràng, hợp lí khiến ông thật sự thất vọng trước những giải pháp cục bộ và nhất thời trước cuộc khủng hoảng sâu sắc của nền vật lí nguyên tử trong thập niên 1920. Ông thấy không có chút lí do gì để tôn vinh những giải pháp nửa vời, những vật liệu nhất thời, và những bước tiến dò dầm về một tương lai chưa biết.

Từ trái sang: Carl Wilhelm Oseen, Niels Bohr, James Franck và Oskar Klein cùng với Max Born (ngồi) trong lễ kỉ niệm công trình của Bohr ở Göttingen năm 1922. Khi đó, Oseen đã coi mẫu nguyên tử lượng tử sơ khai của Bohr là “đẹp nhất” trong số những phát triển mới tuyệt vời trong vật lí lí thuyết. Oseen đã thuyết phục được ủy ban trao giải cho Bohr vào năm đó (Nguồn: AIP Emilio Segrè Visual Archives)

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

7

Thay vì tìm một giải pháp hòa giải giữa những cuộc tìm kiếm mang tính chất hỗn loạn của vật lí lượng tử với những cơ sở vật lí cổ điển, như Oseen hi vọng, các nhà nghiên cứu lại đề xuất những lí thuyết càng ngày càng kì dị hơn. Giữa thập niên 1920, Heisenberg đề xuất rằng mục tiêu lâu nay cố gắng mường tượng ra các quá trình nguyên tử cần phải vứt bỏ đi. Những phương trình toán học rắc rối lại cho đáp số phù hợp với dữ liệu quan sát. Điều này khiến Oseen không ưa. Và rồi người ta đi đến khẳng định rằng ở cấp độ nguyên tử thì xác suất thống trị chứ không phải là tính quyết định luận. Oseen đã phải khổ sở trước những phát triển này, nhưng ông vẫn không chịu rút lui vào hậu trường. Ông không muốn từ bỏ quyền lực trong ủy ban. Sự thiếu vắng giải thường dành cho những công trình nghiên cứu lí thuyết trong thời gian ngự trị của Oseen trong ủy ban phản ánh tính nhạy cảm của ông trước thời cuộc chứ không phải những cản trở nghi thức hay thiếu vắng ứng cử viên.

Sự chấp nhận cơ học lượng tử
Từ giữa thập kỉ 1920, Werner Heisenberg và Erwin Schrödinger bắt đầu đặt nền tảng mới cho việc hiểu các hiện tượng nguyên tử. Năm 1928 bắt đầu có một số lượng nhỏ đề cử cho cách tiếp cận vấn đề không giống ai của họ, và sau đó số tiến cử ngày càng thuyết phục hơn cả về số lượng và cơ sở tiến cử vào cuối thập kỉ đó. Một số nhà tiến cử thích sự miêu tả trực quan các quỹ đạo electron như một dạng cơ học sóng của Schrödinger hơn. Trong khi những nhà lí thuyết kì cựu như Einstein, Planck và Max von Laue lại thích cách tiếp cận phi trực quan triệt để hơn của Heisenberg. Hơn nữa, sự dấn ngày càng sâu từ nghiên cứu của Heisenberg hình như đã đánh đổ niềm tin lâu nay của các nhà vật lí về quan hệ nhân quả. Một số nhà vật lí làm việc thân cận với Heisenberg – gồm Bohr, Wolfgang Pauli và Max Born – đã mở ra một cánh cửa đi vào thế giới hạ nguyên tử, trong đó mọi hiện tượng xảy ra khác biệt tận gốc rễ với nền vật lí của thế giới vĩ mô. Tuy nhiên, các lí thuyết vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, và chúng bắt đầu được tiến cử bởi những nhà vật lí hàng đầu. Oseen đã làm những gì mà ông có thể làm để tránh phải công nhận Schrödinger và Heisenberg. Có lẽ ông có thiện ý với phương pháp của Schrödinger nhưng ông cũng đồng ý với số đông những người tiến cử rằng – nếu trao giải thưởng cho cơ học lượng tử - thì cả hai người này phải nhận chung. Không thèm đếm xỉa tới số đông, Oseen đã tạo ra cuộc đua giữa những người ủng hộ hai người này. Những cuộc đua tranh này có nguyên nhân từ tính khí hay đua tranh và thủ đoạn của ông. Đáp lại những sự tiến cử vào năm 1929, Oseen cho rằng lí thuyết của Schrödinger và Heisenberg chưa đủ chín chắn ―từ một góc nhìn hợp lí‖ để cho phép mô tả có hệ thống các nguyên tử. Hơn nữa, ông không thể tuyên bố họ đủ tư cách nhận giải khi mà lí thuyết của họ chưa thu được kết quả trong bất kì khám phá có tầm quan trọng cơ sở nào. Nói cách khác, ông cố làm ngăn trở họ bằng quy chế của giải. Hai nhà lí thuyết tiếp tục được ủng hộ trong năm 1930. Một lần nữa, một số người đề cử thích Schrödinger, một số khác thì thích Heisenberg, hoặc là chia hai giữa Heisenberg và
8
http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Born, người đã giúp sáng tạo ra lí thuyết. Nhưng những nhà vật lí đạt giải Nobel lắm đổi thay như Planck và Perrin lại tán thành việc trao giải cho Schrödinger và Heisenberg. Để chống lại tính cố chấp của Oseen, The Svedberg, một thành viên Viện Hàn lâm và là một nhà hóa lí, đề cử Heisenberg và nhấn mạnh rằng lí thuyết của ông đã tiên đoán và sau đó đưa tới một khám phá quan trọng – một dạng mới của phân tử hydro. Oseen đáp lại mỉa mai rằng như thế có lẽ Heisenberg phải được xem xét cho một giải thưởng về hóa học ! Mặc dù thừa nhận rằng việc trao giải thưởng vật lí cho một công trình lí thuyết thu được kết quả là một khám phá hóa học không phải là không có, nhưng một lần nữa ông lại từ chối chứng thực cho hai nhà vật lí này đạt giải. Có lẽ vấn đề là ở chỗ, như một số nhà đề cử đã đề cập, việc chia giải thưởng cho hai người thật là một sự bất công. Tại sao hai trí tuệ lớn như thế phải chấp nhận chia chung một giải thưởng, trong khi một số người khác sau này nhận trọn vẹn giải cho những thành tựu kém hơn ? Oseen và những người còn lại trong ủy ban đã tìm thấy một con đường vòng lảng tránh toàn bộ vấn đề này. Nhà vật lí thực nghiệm người Ấn Độ Chandrasekhara Raman đột ngột xuất hiện như một ứng cử viên công chúng cho việc khám phá ra một quá trình mới, nhờ đó các phân tử làm tán xạ ánh sáng; và ông nhận giải thưởng năm 1930. Năm 1931, số tiến cử cho những nhà tiên phong của cơ học lượng tử giảm xuống, có lẽ do những người đề cử không muốn lãng phí những phiếu bầu của họ cho những ứng cử viên mà ủy ban tỏ ra chống đối quá quyết liệt. Một lần nữa, thế giới vật lí thật nhỏ bé; nhiều nhà tiến cử đều biết ai đang ngồi ở ghế thẩm phán và xu hướng mà họ nắm giữ. Nhà lí thuyết bị chỉ trích mạnh mẽ, nhưng thông minh, Wolgang Pauli lúc ấy bình luận rằng không có nhà vật lí lí thuyết nào ở Thụy Điển cả, ông không thèm đếm xỉa tới cả Oseen. Một số nhà tiến cử cảm thấy bối rối và từ chối không đề cử ai hết. Nhưng, bất kể những chỉ trích ngày càng mạnh mẽ, Oseen tuyên bố rằng sự giảm sút số đề cử cho Heisenberg và Schrödinger là một dấu hiệu cho thấy sự nhiệt tình đối với công trình nghiên cứu của họ đã ―lạnh đi‖. Ông quy việc thiếu sự ủng hộ này là do thuyết lượng tử không bao hàm các hiệu ứng tương đối tính của chuyển động electron. ―Vấn đề này lún sâu đến nỗi cần có một ý tưởng hoàn toàn mới mới giải quyết được nó‖. Không ai có thể nói ý tưởng mới này và, cho đến tận bấy giờ, sự đột phá phi thường sẽ tác động như thế nào đến lí thuyết cơ học lượng tử. Do đó, ông thúc giục ủy ban rằng Heisenberg và Schrödinger phải chờ đã; giải thưởng năm 1931 đành gác lại cho năm sau.

Khẳng định vị thế vững chắc
Lại một lần nữa, các tiêu chuẩn cao không thể đạt được của Oseen thúc giục ông đòi hỏi một lí thuyết hoàn hảo. Hoặc lả một lí thuyết hoàn toàn có khả năng giải thích tất cả các hiện tượng có liên quan, hoặc là nó không được công nhận có giá trị. Không ai phủ nhận yêu cầu phải bao hàm các hiệu ứng tương đối tính, nhưng điều này không làm giảm bớt sự kính trọng mà nhiều nhà vật lí dành cho Heisenberg và Schrödinger. Có lẽ, như một số người nhận xét, Oseen và các thành viên trong ủy ban đang cố mua thời gian để cho Heisenberg và Schrödinger có thể mỗi người nhận một giải trọn vẹn vào năm sau.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

9

Năm 1932, một số nhà đề cử bắt đầu tỏ ra thiếu kiên nhẫn. Một số người thậm chí còn chất vấn thiện ý và năng lực của ủy ban trong việc định giá nghiên cứu của Heisenberg và Schrödinger. Pauli chỉ tiến cử một mình Heisenberg. Ông tự hỏi không biết ủy ban có thể quyết định chọn được một trong hai cách tiếp cận vấn đề. Trong trường hợp đó, ông cho rằng đóng góp của Heisenberg là cơ bản hơn, vì Schrödinger xuất phát nghiên cứu từ Louis de Broglie. Có thể thấy rõ giọng điệu cộc cằn của Pauli trong bức thư tiến cử tràn đầy bực dọc. Ông lớn tiếng rằng Heisenberg dễ dàng đáp ứng mọi điều kiện của mọi thứ quy định cũng như di chúc của Alfred Nobel. Hãy trao cho ông ta một giải ! Ngay cả Einstein, người chỉ thỉnh thoảng mới đề cử, cũng dành thời gian gởi một bản kiến nghị cho cả hai người. Ông nhấn mạnh rằng, về mặt cá nhân, ông thích sự trình bày rõ ràng, chính xác của Schrödinger hơn, nhưng thừa nhận rằng ông thực là sai lầm khi đã đứng về một phía. Vì cả hai nhà lí thuyết đều có đóng góp quan trọng, nên ông không muốn hai người chia chung một giải. Einstein muốn thấy Schrödinger nhận giải trước, nếu như chỉ có một trong hai người được trao giải. Bohr cũng đề cử cả hai nhà tiên phong của cơ học lượng tử. Ông hiểu rõ những giới hạn của lí thuyết và đồng ý rằng chúng không phải là dấu chấm hết mà là một điểm khởi đầu quan trọng. Bohr vẫn giữ quan điểm rằng những đóng góp của Heisenberg và Schrödinger đã bất ngờ mang đến một viễn cảnh thỏa đáng về nhưng hiện tượng nguyên tử đã biết và cũng dẫn tới một lọat những tiên đoán mới. Ông đề nghị dành hai giải thưởng có sẵn đó cho cả hai người. Ủy ban đồng ý cho một thành viên tương đối mới, nhà vật lí nguyên tử thực nghiệm Eric Hulthén, chuẩn bị một bài báo cáo đặc biệt về mối liên hệ giữa cơ học lượng tử và các nghiên cứu nguyên tử thực nghiệm. Hulthén đã phân tích mối quan hệ qua lại giữa lí thuyết và thực nghiệm; lí thuyết của Heisenberg và Schrödinger đã cho những dữ liệu quyết định và đã kích động đáng kể những nghiên cứu lí thuyết và thực nghiệm.. Trong khi đồng ý cần có thêm những đột phá mới để áp dụng cơ học lượng tử cho các electron lớp trong cùng gần hạt nhân nguyên tử nhất, thì những thành công đáng chú ý của lí thuyết phải được đánh giá đúng là một chương mở ra một thời kì mới trong nền vật lí nguyên tử. Nhưng Oseen lại không chịu thua. Oseen cố làm hết sức tìm mọi lí lẽ ngăn cản việc trao giải. Ông lại yêu cầu phải hiểu chặt chẽ từ ―khám phá‖. Thật thú vị, chỉ mấy năm trước đó, ông còn hô hào phải hiểu sao cho thoáng, nhưng đó là để cho người đồng nghiệp của ông ở Uppsala có đủ tư cách nhận giải cho những cải tiến đáng kể đối với độ chính xác của quang phổ kế tia X. Một mặt, Oseen lại yêu cầu một khám phá có ý nghĩa phải xuất phát từ lí thuyết. Nhưng mặt khác, ông vẫn giữ quan điểm phải hiểu từ ―khám phá‖ trong quy chế giống như cách hiểu của công chúng nói chung – tức là ―những tiến bộ có ý nghĩa trong việc hiểu biết thực tại khách quan‖ – và do đó quy chế không được thỏa mãn. Tại sao Oseen, trong bài báo cáo của ông trước ủy ban, lại cảm thấy biết ơn đối với cụm từ thực tại khách quan mà ông nhấn mạnh ? Hình như là ông không thể nào chấp nhận một số hàm ý rộng hơn của cơ học lượng tử. Cũng như Einstein đã bị dội trước cách hiểu xác suất của thực tại khách quan hạ nguyên tử, Oseen đã nghĩ tới nhánh văn hóa và thần học của lí thuyết. Nhưng, dù Einstein không tán thành, nhưng ông vẫn xem những đóng góp của

10

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Heisenberg là đáng kể. Cả Einstein và Oseen đều cần chờ phương thức chữa trị của tương lai, nhưng Oseen dường như đã chuyển sang hờn dỗi, mãi cho đến khi ông ra đi.

Khi bước vào ngành vật lí, Dirac (trái) đã dành hết nghị lực và óc sáng tạo của mình đẻ hiểu hết lí thuyết do Heisenberg (phải) phát triển (Nguồn: AIP Emilio Segrè Visual Archives)

Cứu tinh xuất hiện
Trong số những người tiến cử kêu gọi một giải thưởng cho cơ học lượng tử có hai giáo sư vật lí lí thuyết ở Stockholm . Mặc dù không phải là thành viên trong ủy ban, nhưng Oskar Klein và David Enskog đã tranh luận hết sức thuyết phục trong thư đề cử của mình. Klein nổi tiếng thế giới là một người có đóng góp đáng kể cho nền vật lí nguyên tử mới. Đã từng làm việc tại Viện Bohr trong nhiều năm, ông nằm trong ―vòng‖ trao đổi thông tin thân mật giữa các nhà vật lí nguyên tử. Ông thừa nhận tính non yếu của cơ học lượng tử, nhưng cho rằng các thách thức trước mắt không hề làm giảm đi những thành tựu của Heisenberg và Schrödinger. Enskog cũng đề cử Heisenberg và Schrödinger trong một bức thư tiến cử dài dòng. Trong một số đoạn, ông nhắc nhở Oseen rằng ông này rất có thể phạm sai lầm khi đánh giá các công trình vật lí. Một thập kỉ trước đó, Oseen đã đánh rớt luận án của Enskog và có vẻ đã đặt dấu chấm hết cho sự nghiệp học thuật của ông. Tuy nhiên, sau đó Enskog đã đi ra nước ngoài nghiên cứu và được xem là một người có đóng góp lớn cho lí thuyết khuếch tán chất khí. Oseen vẫn được giữ lại ngồi chiếc ghế quan tòa Thụy Điển xét xử nền vật lí lí thuyết. Ông không thèm để ý tới những ý kiến của họ. Oseen nhắc lại rằng một lí thuyết thỏa mãn nền vật lí nguyên tử phải tính đến các hiệu ứng tương đối tính, vì thế Heisenberg và Schrödinger đơn giản là chưa đạt yêu cầu đó. Ông hối thúc ủy ban đưa khoản tiền giải thưởng năm 1931 vào nguồn quỹ đặc biệt và hoãn giải
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2 11

thưởng năm 1932 sang năm 1933. Lãnh đạo ủy ban đồng ý với Oseen; Hulthén thì không tán thành việc chia giải cho Heisenberg và Schrödinger. Khi toàn Viện Hàn lâm bỏ phiếu về ý kiến của ủy ban, nhiều thành viên mới hiểu rằng Oseen không phải là nhà chuyên môn duy nhất ở Thụy Điển. Trong bài báo nghi thức do thư kí thường trực của Viện viết, số phiếu – thường chưa bao giờ được ghi nhận – cho thấy một sự phân chia sâu sắc: 40 người bỏ phiếu bác bỏ việc trao giải, còn 23 người muốn trao giải cho Heisenberg và Schrödinger.

Nhiều nhà vật lí thấy lí thuyết cơ học sóng do Schrödinger phát triển mang tính trực quan hơn so với phương pháp ma trận của Heisenberg (Nguồn: Lotte Meitner-Graf/AIP Emilio Segrè Visual Archives)

Cuối cùng, năm 1933, Oseen chấp nhận rằng thời điểm cần thiết đã đến. Một vị cứu tinh đã lờ mờ hiện ra phía chân trời. Oseen đã học được qua người học trò nhiều năng khiếu Ivar Waller của mình rằng những tiến bộ đáng chú ý của cơ học lượng tử về phía thuyết tương đối là có thể đạt được. Không giống như Oseen, Waller thường tham dự các hội nghị quốc tế và đi thăm những trung tâm nghiên cứu vật lí quan trọng. Ông gởi tin tức từ Cambrige và Copenhagen về kiệt tác lí thuyết của Paul Dirac, bắt đầu với bài báo năm 1928: ―Thuyết lượng tử của electron‖, cũng như các kết quả thực nghiệm củng cố thêm lí thuyết. Thật ra, Waller và Dirac chơi khá thân; những bài bình luận gay gắt của những người đi trước về các bài báo ban đầu của Dirac lại còn giúp đặt nền tảng cho lí thuyết hố năng lượng nổi tiếng đã đưa đến việc tiên đoán sự tồn tại của phản vật chất. Tất nhiên, Oseen vẫn thận trọng trước những kết luận của Dirac. Với số đông áp đảo, những nhà đề cử vẫn bộc lộ nguyện vọng của họ muốn trao giải thưởng năm 1933 cho Heisenberg và Schrödinger trước khi cân nhắc đến những người khác hoạt động trong lĩnh vực này, cho dù là Dirac, Pauli hay Born. Chỉ có hai nhà đề cử -

12

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

William Lawrence Bragg and Czeslaw Bialobrzeski – bổ sung thêm Dirac vào danh sách ứng cử viên của họ. Tại cuộc họp trù bị thảo luận việc trao giải, ủy ban đã bỏ phiếu thăm dò khả năng trao giải năm 1932 cho Heisenberg và giải năm 1933 cho Schrödinger.

Dirac phá vỡ sự bế tắc
Đánh giá của Oseen về Dirac dần dần đã hiện rõ. Ông tự hỏi không biết nhà lí thuyết lỗi lạc người Anh này có thể sánh với Planck, Einstein và Bohr – những người hội đủ tiêu chuẩn nhận giải Nobel – hay không. Oseen làm việc rất có nguyên tắc. Nhưng ông muốn chọn thời gian hợp lí: khi bước vào làm vật lí, Dirac đã phải đương đầu với Heisenberg và đã dành hết công sức và trí tuệ cho việc giải quyết những mâu thuẫn trong lí thuyết của nhà khoa học Đức. Lưu ý thấy đa số các nghiên cứu của Dirac chỉ mới được công bố, nên Oseen cảm thấy chắc chắn rằng ngôi sao mới nổi trên bầu trời vật lí này sẽ còn gặt hái được nhiều thành tựu to lớn trong tương lai. Sang tháng 9, Oseen thay đổi hẳn tâm tính. Đột nhiên ông hối thúc chia bổng lộc Nobel cho Dirac. Tiên đoán kì cục của Dirac về một hạt electron mang điện tích dương đã được xác nhận bởi hai thí nghiệm độc lập nhau. Oseen cảm thấy hài lòng, đây đúng là một ―thực tại khách quan‖ quan trọng được khám phá như một thành quả của cơ học lượng tử một khám phá ―đã dẹp bỏ một trong những dè dặt khó khăn nhất chống lại thuyết nguyên tử mới nhằm khẳng định lí thuyết này‖. Chuẩn bị cho cuộc họp ủy ban vào đầu tháng 9, Oseen kể cả Dirac vào cùng bản báo cáo đặc biệt về Heisenberg và Schrödinger. Ông liên hệ ba ứng cử viên này như đầu và vai của cơ thể người. Oseen kêu gọi trao giải năm 1932 cho Heisenberg, nhấn mạnh việc khám phá ra dạng thù hinh hydro mới hơn là nguyên lí bất định. Tuy nhiên, ông cho phép trích dẫn để mô tả Heisenberg là nhà sáng lập ra cơ học lượng tử. Còn Schrödinger và Dirac cùng nhận giải năm 1933 cho những đóng góp quan trọng cho nền vật lí nguyên tử. Oseen bảo đảm rằng cả Pauli và Born – hai người giữ vai trò trong sự phát triển cơ học lượng tử - sẽ không được nhận giải, ít nhất là trong thời gian ông còn sống.Theo Oseen, Pauli là người vừa mới trưởng thành. Và mặc dù Waller đã hết sức cố gắng thuyết phục ông rằng việc Pauli chậm cho xuất bản các công trình nghiên cứu vào lúc đó là vì ông còn gặp phải nhiều vấn đề tương đối tính khó giải quyết chứ không phải là do cạn kiệt sức sáng tạo, nhưng Oseen vẫn nhất quyết Pauli không thể nào chia giải được. Mãi đến cuối năm 1944 – năm ông qua đời – Oseen vẫn tiếp tục gạt sang một bên những đóng góp của Pauli cho cơ học lượng tử, ông coi Pauli là một nhà lí thuyết suông. Vào năm sau đó, Waller gia nhập ủy ban và góp phần đảm bảo một giải thưởng cho Pauli vào năm 1945. Born thì phải chờ lâu hơn – mãi đến năm 1954. Mặc dù Heisenberg có viết thư cho Born vào năm 1933 để bày tỏ sự tiếc nuối vì họ không cùng nhận giải được, nhưng ông chẳng làm gì để cứu vãn tình hình cả. Chẳng hạn, ông đã không bỏ phiếu tiến cử cho Born, người lúc ấy phải đi tị nạn bởi chế độ phát xít bài Do Thái. Dirac, Schrödinger và Heisenberg nhận giải là hoàn toàn xứng đáng, nhưng việc người ta xét trao giải cho những nhà tiên phong của cơ học lượng tử có lẽ là chưa hợp lí.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

13

Vỡ một giấc mộng dài
Như phần giữa bài viết đã cho thấy, để trả lời những câu hỏi ―tại sao và do đâu‖ của giải thưởng Nobel, việc nhìn vào ủy ban xét giải và ngữ cảnh Thụy Điển của nó là đúng bản chất vấn đề. Lịch sử trao giải trong 50 năm đầu – mà hồ sơ lưu trữ vẫn còn khai thác được – cho thấy một số thành viên trong ủy ban quá thiên vị và thật sự có vấn đề, còn một số thành viên khác thì đơn giản là vì họ không thể nảo nắm bắt được những thành tựu nằm ngoài chân trời hiểu biết của họ. Tất nhiên, cả trong thời gian gần đây, sự càu nhàu, nghi vấn vẫn không ngừng gia tăng. Dirac đã mất hết tinh thần khi cố gắng vận động trao giải cho những thành tựu vật lí hạt cơ bản lí thuyết vào cuối những năm 1960 và 1970. Ông nhận thấy một số thành viên ủy ban đơn giản là vì họ không muốn trao giải cho lí thuyết, trong khi những thành viên khác thì ưu tiên cho những nghiên cứu theo lối kinh nghiệm trước rồi mới tính đến chuyện trao giải cho nghiên cứu lí thuyết. Chỉ vào năm 1933, Dirac mới nhận ra rằng giải thưởng Nobel đúng là một tấm huy chương vàng được khắc bằng tính nhu nhược của con người. hiepkhachquay dịch (theo Physics World)

14

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Nhìn lại lịch sử 50 năm đầu của giải thưởng Nobel Vật lí 1901 – 1950
Elisabeth Crawford Hơn 100 năm đã trôi qua kể từ ngày giải Nobel đầu tiên được trao. Elisabeth Crawford sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về giải thưởng được trao hàng năm và rất có uy tín này. Cơ cấu giới tính, quốc tịch, màu da trong lịch sử trao giải tự nó đã nói lên nhiều điều. Elisabeth Crawford cũng sẽ điểm qua top những người được đề cử nhiều nhất trong 50 năm đầu trao giải, trong số đó có nhiều người không được nhận giải… Ngày 10 tháng 12 năm 2001, Quỹ Nobel đã tổ chức lễ kỉ niệm 100 năm kể từ ngày giải thưởng Nobel đầu tiên được trao. Với tư cách là những người thắng giải trong năm - Eric Cornell, Wolfgang Ketterle và Carl Wieman – tụ họp ở Stockholm và Oslo, cùng với những người thắng giải khác của năm 2001 và những người đã từng đạt giải trong những năm trước đã tham gia buổi lễ kỉ niệm. Cũng đừng quên rằng họ là phần nổi của tảng băng chìm thể chế Nobel. Vì chỉ có tối đa ba người có thể chia chung một giải thưởng, cho nên người ta có thể đếm được số ứng cử viên kém may, những người thường ít được mời đến. Giải thưởng Nobel được xem như một tòa tháp cao hơn tất cả những giải thưởng khác trong khoa học và y học là vì lịch sử lâu đời của nó. Thậm chí khi giải thưởng này chưa tròn 10 tuổi thì một nhà báo người Mĩ đã viết: ―Không thể viết về lịch sử của nền khoa học hiện đại mà không nhắc đến danh tiếng của giải thưởng Nobel dành cho những khám phá có ích cho con người trong lĩnh vực vật lí, hóa học và y học‖. Một số người có thể không đồng ý với nhận định này, chẳng hạn, họ có thể cãi lại rằng những giải thưởng vật lí đã trao trong thế kỉ qua đã chỉ giới hạn trong nền vật lí nguyên tử và hạt nhân, mà bỏ sót đa số các thành tựu thuộc lĩnh vực địa vật lí, thiên văn vật lí và toán lí. Tuy nhiên, người ta cũng có thể công bằng mà nói rằng, đa số những nhà vật lí lớn của thế kỉ qua đã được trao giải Nobel.

Năm 1974, Quỹ Nobel đã thay đổi quy chế, cho phép toàn bộ hồ sơ lưu trữ - thuộc quyền sở hữu của Viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy Điển, đối với giải thưởng vật lí và

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

15

hóa học – được công bố để các nhà sử học khai thác, sau 50 năm giải thưởng đã trao. Quy định này có nghĩa là toàn bộ hồ sơ lưu trữ sẽ được đưa ra công chúng sau khi 50 ròng đã trôi qua. Ví dụ, hồ sơ liên quan đến giải thưởng năm 1951 sẽ được công bố vào ngày 1/1/2002. Tất nhiên, sự thay đổi quy chế này đã cho phép những người viết lịch sử khoa học nghiên cứu xem từng cá nhân nào đó đã thẳng giải như thế nào. Nhưng thực ra những nghiên cứu này còn đi xa hơn. Các nhà lịch sử cũng xem xét cái gì đã giới hạn ―tính công chúng của giải Nobel‖, và xem những người thắng giải, những người đề cử và cả những người kém may mắn đã tham gia vào quá trình xét trao giải như thế nào. Trong bài báo này, chúng ta gộp chung cả các nhà vật lí và hóa học, xem như là thành viên trong ―công chúng Nobel‖ của chúng ta. Lí do là trong phạm vi mà ủy ban Nobel quan tâm, một số vấn đề thường được xem là thuộc vật lí - như sự phóng xạ chẳng hạn – có khi trở thành thuộc hóa học. Hơn nữa, giải thưởng hóa học năm 1908 và 1935 tương ứng được trao cho Ernest Rutherford và cho Frédéric Joliot và Irène Joliot-Curie, cho nghiên cứu của họ trong lĩnh vực này.

Cơ cấu giới tính, màu da và trường viện nghiên cứu
Trụ cột của công chúng Nobel là những người được đề cử cho giải thưởng vật lí, hóa học – hoặc đôi khi cả hai ngành – bởi những nhà đề cử được mời. Những ai có quyền đề cử được giới thiệu trong bảng bên dưới. Từ 1901 đến 1950, có khoảng 598 cá nhân được đề cử, 104 trong số họ - chừng 1/6 – đã thắng giải. Vậy thì họ gồm những ai ? Một điều rõ như ban ngày. Đa phần họ là đàn ông (99%). Chỉ có vỏn vẹn 8 ứng cử viên là nữ, trong đó chỉ có 3 người thắng giải. Đó là Marie Curie, giải Nobel vật lí 1903 và giải Nobel hóa học 1911, Irène Joliot-Curie (giải hóa học 1935) và Dorothy Hodgkin (giải hóa học 1964). Mặc dù chỉ có vài ứng cử viên nữ, nhưng họ nhận được nhiều đề cử hơn (trung bình 10 đề cử/ ứng cử viên nữ, trong khi chỉ có 7 đề cử/ ứng cử viên nam). Sự chênh lệch này chủ yếu là do một số lượng lớn phiếu đề cử từ phía Lise Meitner, người chưa bao giờ thắng giải nào (Bà nhận được tổng cộng 20 đề cử cho giải thưởng vật lí, 21 đề cử cho giải thưởng hóa học – chiếm hơn phân nửa số đề cử dành cho những ứng cử viên nữ trong giai đoạn 19011950). Buộc phải trốn chạy khỏi chế độ phát xít Đức không bao lâu trước khi khám phá ra sự phân hạch hạt nhân vào tháng 12/1938, những đóng góp của bà không được ủy ban xét giải vật lí và hóa học kể đến, và năm 1945, chỉ một mình Otto Hahn nhận giải Nobel hóa học. Những ứng cử viên nữ kém may khác có thể kể ra đây là nhà hóa học người Đức Ida Noddack, nhà hóa sinh và toán học người Anh-Mĩ Dorothy Wrinch, và hai nhà vật lí nguyên tử người Áo Marietta Blau và Hertha Wambacher. Những ứng cử viên giai đoạn 1901-1950 cũng đến từ một phạm vi hẹp các quốc gia. Trong số 2416 đề cử trong lĩnh vực vật lí, ba phần tư là dành cho các nhà khoa học thuộc 4 nước: Đức (25%), Mĩ (21%), Pháp (16%) và Anh (13%). Trong những năm đầu, người Đức

16

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

được đặc biệt ưu ái. Một phần tư còn lại phân đều cho các nước châu Âu, nhất là vùng Scandinavi, Đông Âu, Hà Lan và Italia. Ứng cử viên đến từ những lục địa khác – như Mĩ Latinh ( Peru và Brazil ) hay châu Á (Ấn Độ và Nhật Bản) – chiếm chưa tới 2% số đề cử. Châu Phi thì hoàn toàn không có mặt trong bản đồ Nobel. Đại đa số các đề cử trong lĩnh vực vật lí (67%) dành cho những ứng cử viên đang làm việc ở các khoa giảng dạy của trường đại học và các phòng thí nghiệm. Nhóm nhiều đứng vào hàng thứ hai (10%) là những người làm việc ở các viện công nghệ - từ các trường kĩ thuật đến các trường đại học công nghệ. Chỉ một vài đề cử dành cho những viện nghiên cứu độc lập và phòng thí nghiệm thuộc chính phủ, như James Dewar thuộc Viện Hoàng gia London, và Friedrich Kohlrausch thuộc Cục Tiêu chuẩn Đức, cả hai người này đều không được giải. Các nhà vật lí làm việc trong lĩnh vực công nghiệp cũng ít và hiếm. Guglielmo Marconi, người cùng nhận giải thường vật lí năm 1909 cho khám phá ra điện báo không dây, là một thí dụ hiếm hoi. Phần đề cử còn lại bao gồm những nhà vật lí như Oliver Heaviside và William Crookes, những người ―không đủ tư cách‖ và làm việc trong các phòng thí nghiệm tự xây dựng tại nhà, một chuyện không phải hiếm thấy vào thời gian đầu thế kỉ 20.

Tháng 6/1920, một nghi thức đặc biệt đã được tổ chức ở Stockholm để tôn vinh giải thưởng Nobel trao trong thời kì và ngay khi vừa kết thúc Thế chiến thứ nhất. 5 trong số 9 người đạt giải trong thời kì này là người Đức. Họ là (từ trái sang phải): Max von Laue (giải vật lí 1914), Fritz Haber (giải hóa học 1918), Max Planck (giải vật lí 1918), Richard Willstätter (giải hóa học 1915) và Johannes Stark (giải vật lí 1919). Những người phụ nữ trong hình là vợ của họ.

Vậy thì những đại biểu đại diện cho chuyên ngành của họ được tiến cử giải thưởng vật lí và hóa học như thế nào ? Câu trả lời phụ thuộc vào từng thời kì. Chẳng hạn, người ta ước tính có đến 1000 hay ngần ấy nhà vật lí đang hoạt động ở châu Âu và Bắc Mĩ vào đầu thế kỉ 20, khoảng giữa một phần tư và một phần ba trong số đó có thể đóng vai trò là ứng cử viên hoặc nhà tiến cử cho giải thưởng vật lí. Thật vậy, quy chế Nobel trước Thế chiến thứ nhất đã tiến rất gần tới ý tưởng về một ―nền cộng hòa khoa học quốc tế‖.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

17

Tuy nhiên, sự phát sinh chủ nghĩa phát xít trong Thế chiến thứ hai đã dẫn tới việc phân chia nền khoa học thế giới thành những nền khoa học mang tính ―quốc gia‖. Hậu quả trực tiếp của việc Hitler lên nắm quyền là nền khoa học Đức bị cắt rời khỏi thể chế Nobel. Nổi giận trước việc trao giải Nobel hòa bình năm 1936 cho nhà hoạt động hòa bình cánh tả, chống phát xít, Carl von Ossietzky, Hitler đã ban hành một đạo luật cấm công dân Đức nhận giải thưởng Nobel. Bằng sự khắc kỉ, các nhà khoa học Đức tuân thủ đạo luật đó khá tốt. Do đó, từ 1937 đến 1945, những nhà khoa học Đức chỉ được đề cử từ những nhà nghiên cứu ở các nước khác. Sự suy giảm địa vị khoa học của Đức sau khi chế độ phát xít lên nắm quyền vào năm 1933 có thể thấy rõ trong hồ sơ của giải Nobel (xem hình). Biểu đồ cũng cho thấy sự tăng trưởng ngoạn mục của Mĩ như một lực lượng khoa học quan trọng. Vào đầu thập niên 1900, các nhà vật lí người Mĩ chỉ nhận được một phần rất nhỏ đề cử từ phía các đồng nghiệp ở Đức, Pháp và Anh. Nhưng, vào cuối Thế chiến thứ hai, họ nhận được số đề cử nhiều hơn cả của ba nước này cộng lại. Đây chỉ mới là sự bắt đầu của quyền bá chủ Mĩ trong tổ chức Nobel. Chẳng hạn, trong 10 năm vừa qua (bài báo viết năm 2001 – ND), 15 trong tổng số 24 người nhận giải Nobel là người Mĩ.

Những người được mời đề cử giải Nobel vật lí và hóa học
1. Thành viên người Thụy Điển và người nước ngoài của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển. 2. Thành viên của ủy ban Nobel xét giải vật lí và hóa học. 3. Các nhà khoa học đã nhận giải Nobel từ Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển. 4. Giáo sư và phó giáo sư vật lí và hóa học ở các trường đại học và viện công nghệ thuộc Thụy Điển, Đan Mạch, Phần Lan, Iceland và Na Uy, cũng như viện Karolinska – khoa y học của trường đại học Stokholm. 5. Những người giữ chức giáo sư ở ít nhất 6 trường đại học hoặc cao đẳng do Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển lựa chọn, qua một cuộc phỏng vấn để đảm bảo tính phân bố đều cho những nước khác và địa vị học thuật của họ. 6. Những nhà khoa học khác mà Viện lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển thấy xứng đáng để mời đề cử.

Các nhà đề cử thuộc nhóm 1-4 có quyền đề cử vĩnh viễn. Những người còn lại trong nhóm 5 và 6 thì được mời theo hàng năm. Hơn 500 cá nhân đã được mời đề cử giải thưởng vật lí và hóa học năm 1950. Hiện nay, số người đề cử có lẽ đã lên tới con số ngàn. Xem trang web của quỹ Nobel (http://nobelprize.org) để biết thêm chi tiết.

18

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Kẻ chiến thắng và người thua cuộc
Do tính công chúng của giải thưởng Nobel được tạo ra từ cả những người chiến thắng lẫn những người thất bại trong cuộc đua giành giải, nên chúng ta có thể khảo sát sự chênh lệch giữa những ứng cử viên đạt giải và những ứng cử viên không đạt giải. Trong tổng số 278 ứng cử viên cho giải thưởng vật lí từ năm 1901 đến 1950, chỉ có chừng 55 người – tức là cỡ 1/5 – thành công (kể cả một vài người được trao giải thưởng hóa học). Tất nhiên, sự chênh lệch giữa số người đạt giải và thất bại thực tế còn nhạy cảm hơn nhiều so với số liệu lưu trữ cho thấy. Đặc biệt, nó phụ thuộc nhiều vào tư chất khoa học của các ứng cử viên và sự đánh giá của ủy ban Nobel về khả năng của họ. Cũng còn một số yếu tố nữa phải kể đến, chẳng hạn như quan điểm của các thành viên trong ủy ban nghiêng về phía thực nghiệm nhiều hơn so với lí thuyết. Điều đáng nói là những ngăn trở ban đầu đối với việc trao giải cho các nhà lí thuyết đã bị phá vỡ sau Thế chiến thứ nhất, khi Carl Wilhelm Oseen – nhà vật lí lí thuyết ở trường đại học Uppsala, Thụy Điển – được bầu vào ủy ban Nobel vật lí. Nhà vật lí lí thuyết thuần túy đầu tiên được trao giải là Max Planck, ông đạt giải thưởng vật lí năm 1918 cho việc khám phá ra thuyết lượng tử. Albert Einstein và Niels Bohr cũng đạt giải 3 năm sau đó. Những thay đổi như thế này trong chính sách của ủy ban chỉ có thể được đánh giá đúng qua việc nghiên cứu kĩ lưỡng các văn bản trong hồ sơ lưu trữ Nobel. Một yếu tố cũng quan trọng nữa là phải tìm hiểu sở thích khoa học của năm nhà khoa học người Thụy Điển có mặt trong ủy ban khi đó. Mặc dù việc phân tích định lượng tính công chúng của giải Nobel cho thấy số lượng phiếu đề cử mà mỗi nhà vật lí nhận được, nhưng các đề cử cho giải Nobel không giống như việc ―bầu cử‖. Như quy chế đã nêu, chỉ cần một đề cử cũng đủ để trao giải. Số lượng lớn đề cử không nhất thiết sẽ cho cơ hội thắng giải nhiều hơn. Thí dụ, nhà phát minh người Thụy Điển Nils Dalén được trao giải năm 1912 cho phát minh ra phao hải đăng tự động mặc dù trong năm đó, ông chỉ nhận được duy nhất một đề cử, và chẳng nhận được đề cử nào trong những năm trước đó. Tuy nhiên, Dalén là một trường hợp ngoại lệ, vì đa số những ứng cử

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

19

viên khác – cả người đạt giải và không đạt giải – đều nhận được nhiều đề cử trong nhiều năm. Hồ sơ Nobel cũng có thể sử dụng để dựng nên một ―top hit‖ 40 nhà vật lí được đề cử nhiều nhất trong giai đoạn 1901 – 1950 (xem bảng bên dưới). Trong đó có 22 ứng cử viên nhận giải vật lí, 3 người nhận giải hóa học (mặc dù họ nhận được số đề cử cho giải thường vật lí nhiều hơn), và 15 người thất bại, không nhận được giải thưởng nào hết. Những người không đạt giải trong danh sách bên dưới cho thấy ba khó khăn chính mà những ứng cử viên phải đối mặt. Cái khó thứ nhất – và là cái khó thường thấy nhất – là ứng cử viên nghiên cứu trong lĩnh vực không có người đại diện trong ủy ban Nobel vật lí. Đây là trường hợp của nhà toán học và vật lí toán người Pháp Henri Poincaré, người nhận được đến 51 đề cử trong các năm nhưng chưa hề nhận được giải thưởng nào. Đó cũng là trường hợp của nhà khí tượng học người Na Uy Vilhelm Bjerknes (48 đề cử và không giải thưởng), và nhà thiên văn vật lí người Mĩ George Ellery Hale (33 đề cử nhưng không may mắn). Một rào cản nữa là có thể thành tựu của các ứng cử viên – mặc dù có chất lượng khoa học cao – làm cản trở ủy ban trao giải. Nói cụ thể thì quy chế Nobel quy định giải thưởng phải được trao cho những khám phá đặc biệt, đúng hơn là cho những nghiên cứu phục vụ cuộc sống con người. Chướng ngại này được minh họa bằng sự ―thiếu hụt giải thưởng‖ dành cho những nhà vật lí đa tài như Arnold Sommerfeld (81 đề cử), Robert Williams Wood (38) và Paul Langevin (25). Thật vậy, Sommerfeld là trường hợp đáng nghi ngờ nhất, vì ông nhận đến 81 đề cử - nhiều nhất trong giai đoạn 1901-1950 – mà chả hề nhận giải thưởng nào. Thử thách sau cùng trong việc giành giải thưởng là các nhà đề cử quyết định khởi động chiến dịch vận động cho ứng cử viên nào đó trong thời gian bao lâu. Hình như ứng cử viên sẽ có lợi thế hơn nếu như người đề cử họ tiến hành bỏ phiếu theo kiểu ―công kích‖, đúng hơn là một ―cuộc chiến tinh thần‖ kéo dài. Thực tế cho thấy rõ phải gần 5 năm qua đi từ sự tiến cử đầu tiên cho đến khi giải thưởng được trao cho James Chadwick, Enrico Fermi, Werner Heisenberg, Ernest Lawrence và Erwin Schrödinger. Và thậm chí Planck và Einstein phải chờ mất 12 năm mới được nhận giải – vì ủy ban vật lí nhìn nhận vật lí lượng tử và thuyết tương đối với thái độ hoài nghi cao độ - sự tích góp những phiếu ủng hộ cho họ cũng giống như một cuộc chiến khải hoàn. Ngược lại, có những chiến dịch kéo dài và không hiệu quả đối với những người không đạt giải như Paul Langevin (36 năm trôi qua tính từ đề cử đầu tiên đến đề cử cuối cùng), Aimé Cotton (34 năm), Arnold Sommerfeld (33 năm) và Robert Williams Wood (24 năm).

20

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Top 40 nhà vật lí được đề cử nhiều nhất trong giai đoạn 1901-1950
Họ tên 1 Otto Stern 2 Arnold Sommerfeld [7] 3 Max Planck 4 Albert Einstein 5 Henri Poincaré 6 Vilhelm Bjerknes 7 Friedrich Paschen 8 Clinton Joseph Davisson 9 Percy Williams Bridgman 10 Erwin Schrödinger 11 Augosto Righi 12 Robert Williams Wood 13 Jean Perrin 14 Enrico Fermi 15 Carl David Anderson 16 George Ellery Hale 17 Peter Debye 18 Walter Gerlach 19 Werner Heisenberg Số đề cử 81 81 74 62 51 48 45 44 41 41 40 38 36 35 34 33 31 30 29 Năm đề cử 1925 - 1944 1917 - 1950 1907 - 1919 1910 - 1922 1904 - 1912 1923 - 1945 1914 - 1933 1929 - 1937 1919 - 1946 1928 - 1933 1905 - 1920 1926 - 1950 1913 - 1926 1935 - 1939 1934 - 1950 1909 - 1934 1916 - 1936 1925 - 1944 1928 - 1933 Vật lí [5] 1932 Hóa học 1936 Vật lí 1926 Vật lí 1938 Vật lí [4] 1936 Vật lí 1937 Vật lí 1946 Vật lí 1933 Vật lí [2] 1918 Vật lí [3] 1921 Giải thưởng và năm trao giải Vật lí [1] 1943 Nước Mĩ Đức Đức Đức Pháp Na Uy Đức Mĩ Mĩ Áo Italia Mĩ Pháp Italia Mĩ Mĩ Đức Đức Đức

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

21

20 Wolfgang Pauli 21 Aimé Cotton 22 Lester Halbert Germer 23 Paul Langevin 24 Gabriel Lippmann 25 Pierre Weiss 26 Patrick Blackett 27 James Chadwick 28 Valdemar Poulsen 29 Isidor Isaac Rabi 30 Joseph John Thomson

28 26 26 25 23 23 21 21 21 21 20

1933 - 1946 1915 - 1949 1929 - 1937 1910 - 1946 1901 - 1908 1916 - 1937 1935 - 1949 1934 - 1935 1909 - 1923 1939 - 1945 1902 - 1906

Vật lí 1945

Thụy Sĩ Pháp Mĩ Pháp

Vật lí 1908

Pháp Pháp

Vật lí 1948 Vật lí 1935

Anh Anh Đan Mạch

Vật lí 1944 Vật lí 1906

Mĩ Anh Đức/ Thụy Điển

31 Lise Meitner

20

1937 - 1949

32 Ernest Rutherford 33 Heike Kamerlingh-Onnes

20 20

1907 - 1937 1909 - 1913

Hóa học [6] 1908 Vật lí 1913

Anh Hà Lan Đan Mạch Anh Nhật Bản Mĩ

34 Niels Bohr 35 John William Strutt (huân tước Rayleigh) 36 Hideki Yukawa 37 Robert Millikan

20

1917 - 1922

Vật lí 1922

20

1902 - 1904

Vật lí 1904

20 17

1940 - 1949 1916 - 1923

Vật lí 1949 Vật lí 1923

22

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

38 Ernest Orlando Lawrence 39 Wander Johannes de Haas 40 Irène Joliot-Curie Ghi chú:

17 16 16

1938 - 1940 1935 - 1945 1934 - 1935

Vật lí 1939

Mĩ Hà Lan

Hóa học 1935

Pháp

[1] Giải thưởng trao năm 1944 [2] Giải thưởng trao năm 1919 [3] Giải thưởng trao năm 1922 [4] Anderson cũng nhận được 14 đề cử cho giải Nobel vật lí thứ hai [5] Giải thưởng trao năm 1933 [6] Rutherford cũng nhận được 8 đề cử cho giải Nobel thứ hai, nhưng thuộc lĩnh vực vật lí. [7] Arnold Sommefeld đúng là kẻ kém may nhất trong lĩnh vực vật lí. Nổi tiếng với việc hiệu chỉnh mẫu nguyên tử Bohr để xét đến các quỹ đạo elip của electron (chứ không phải quỹ đạo tròn), ông cũng là người có danh vọng không rõ ràng khi là nhà vật lí được đề cử nhiều nhất trong thời kì 1901-1950 nhưng chẳng nhận được giải thưởng nào. Ông cũng nhận được tổng số 81 đề cử từ năm 1917 đến 1950 nhưng chẳng lần nào thành công. Ông cũng là một người mệnh yểu, qua đời năm 1951 trong một vụ tai nạn xe hơi. Danh sách ở trên bao gồm 40 nhà vật lí đã nhận được đề cử nhiều nhất từ năm 1901 đến 1950, cùng với số phiếu đề cử và năm họ được đề cử lần đầu tiên và lần cuối cùng. Danh sách cũng cho biết năm họ nhận giải thưởng (nếu có), loại giải thưởng mà họ nhận, và ―quốc gia nơi họ đang làm việc‖, tức là đất nước có viện nghiên cứu mà ứng cử viên đang hoạt động khi được đề cử. Đối với những nhà khoa học di chuyển thường xuyên – nhất là trong thập niên 1930 và 1940 – họ được giữ quốc tịch gốc trong thời gian 7 năm. Nếu họ sinh sống ở đất nước nào đó từ 8 năm trở lên, thì họ phải mang quốc tịch mới.

Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa quốc tế trong các đề cử
Bất kì ai được mời làm người đề cử cho giải Nobel cũng phải, về nguyên tắc, tuân theo di chúc của Nobel quả quyết rằng ―không xét đến quốc tịch của ứng cử viên‖. Tuy nhiên, quốc tịch của ứng cử viên vẫn luôn luôn đóng một vai trò quan trọng. Thứ nhất là các nhà đề cử có xu hướng đề xuất ứng cử viên của nước mình – tôi tạm gọi họ là những nhà đề cử ―quốc nội‖. Kế đến là việc tập trung số đề cử đến từ nước ―mình‖ hay nước ―khác‖ dành cho một ứng cử viên nào đó có ảnh hưởng lớn đến việc quyết định trao giải. Tôi sẽ phân tích kĩ từng vấn đề này. Nếu chúng ta giới hạn chỉ phân tích 4 nền khoa học chủ đạo là Đức, Pháp, Anh và Mĩ – những nước chiếm tới ba phần tư số lượng đề cử và một phần ba số người đề cử trong giai đoạn 1901-1950 – chúng ta sẽ thấy sự chênh lệch đáng kể về mức độ tham gia của các nhà vật lí đến từ những nước này trong quá trình đề cử giải thưởng. Các nhà khoa học Đức hoạt động tích cực nhất, họ chiếm tới 34% số lượng đề cử. Người Mĩ đứng thứ hai với 28%, theo sau là Pháp (21%) và Anh (17%). Sự chênh lệch này không phải do sự chênh lệch số lượng
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

23

thư mời đề cử gởi tới từng nước – ít nhất là đối với các nước Pháp, Anh và Mĩ. Chỉ có người Đức hơi chiếm thế thượng phong hơn một chút, chủ yếu do họ có nhiều người đạt giải Nobel hơn ba nước kia. Sự chênh lệch đó cũng có nguyên nhân do quan điểm của giới khoa học mỗi nước đối với việc đề cử giải thưởng, và nó cho chúng ta biết được đôi điều về nền văn hóa khoa học ở mỗi nước. Chỉ trên phân nửa (51%) số nhà đề cử ở bốn nước trên có thiện ý với những người đồng bào của họ, mặc dù quan điểm của họ cũng thay đổi theo từng nước và từng thời gian cụ thể. Từ năm 1901 đến 1950, người Pháp mang tính chất Sô vanh nhất, với chừng 60% số lượng đề cử đến từ chính các nhà khoa học Pháp. Người Anh thẳng thắn nhất, với chỉ 35% số lượng đề cử dành cho những người bạn đồng chí nước họ. Người Đức và người Mĩ thì nằm giữa hai thái cực này, tương ứng là 53% và 49%. Tuy nhiên, ở cả 4 nước đều thấy có sự tăng bộc phát số lượng đề cử quốc nội trong thời gian và sau hai cuộc chiến tranh thế giới. Khuynh hướng này đặc biệt mạnh mẽ trong thời gian Thế chiến thứ hai ở Pháp, Anh và Mĩ, và có lẽ là do lòng yêu nước, cũng như giới khoa học ở từng nước đã bị cô lập với giới khoa học nước ngoài. Sự vắng mặt các nhà đề cử người Đức từ 1937 đến 1945 là do đạo luật chống lại giải Nobel của Hitler, và tất nhiên, không có nhân vật người Đức nào xuất hiện trong thời kì này. Tuy nhiên, sự bất đồng giữa người Anh và người Pháp trong việc đề cử ngày càng phức tạp hơn so với khi nó mới xuất hiện. Chẳng hạn, khi phát hiện không có nhà khoa học hay tác giả người Anh nào được kể đến trong số những người thắng giải năm 1901, một cuộc tranh luận gay gắt đã bùng nổ trên trang điểm thư của tạp chí Times. Một số phóng viên giữ quan điểm cho rằng sự thiếu vắng một tổ chức trung tâm để sắp xếp quá trình đề cử của người Anh là bất lợi, trong khi theo họ thì người Pháp có cả một hệ thống học viện được tổ chức tốt để làm việc này. Nhưng, trong khi đúng là có nhiều chiến dịch ủng hộ ứng cử viên người Pháp tập trung ở Viện Hàn lâm Khoa học Paris , thì không gì phải nghi ngờ việc họ hay viện hàn lâm có tiếp tay thêm bằng cách này hay không. Thật vậy, điều đáng nói là không có ứng cử viên người Anh nào thành công trong số top 40 nhà vật lí, còn người Pháp thì có 4 người: Poincaré, Cotton, Langevin và Weiss. Sự bất đồng chiến lược đề cử ở người Anh và người Pháp thấy rõ nhất trong lĩnh vực nổi bật nhất – số giải Nobel thực tế nhận được. Như chúng ta đã thấy, các nhà đề cử người Pháp hoạt động tích cực hơn những đồng nghiệp người Anh của mình. Hệ quả của tỉ lệ đề cử quốc nội cao là ứng cử viên người Pháp thường nhận được nhiều hơn ứng cử viên người Anh gần một phần ba số đề cử. Tuy nhiên, sự thuận lợi qua những con số này cũng khác biệt nhiều. Ví dụ, trong lĩnh vực vật lí, từ năm 1901 đến 1950, Pháp chỉ nhận được có 7 giải, so với 13 giải dành cho Anh, 12 giải cho Mĩ, và 10 cho Đức. Tất nhiên, còn có những nguyên nhân khác đã mang đến sự thành công của người Anh ở số lượng giải Nobel thực tế được nhận. Điều này chỉ có thể bàn luận trong phạm vi rất rộng, đối với những trường hợp và cơ hội mang đến giải thưởng, nếu không có gì bất ngờ, thường thì là độc nhất vô nhị đối với một ứng cử viên nào đó. Tuy nhiên, thực tế thì ứng cử viên người Anh, thay vì nhận được nhiều đề cử từ phía những người trong nước, họ lại nhận
24
http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

được sự ủng hộ hết sức thuyết phục – đặc biệt là từ phía nước ngoài, điều đó mới là quan trọng. Một lí do nữa là do quy mô, sức mạnh và Anh là nơi khởi sinh các nghiên cứu vật lí nguyên tử và hạt nhân, lĩnh vực mà ủy ban Nobel vật lí quan tâm trong nửa đầu thế kỉ 20. Các thành viên ủy ban cũng có quan hệ gắn kết chặt chẽ hơn với nền khoa học Anh so với với những người đồng nghiệp Pháp, họ thấy xa lạ với ngôn ngữ và nền văn hóa khoa học Pháp. Trong thời kì sau Thế chiến thứ hai, quan hệ chặt chẽ của các thành viên ủy ban với Đức, và một số với Anh, bị thay thế bằng quan hệ trên quy mô lớn với người Mĩ. Tuy nhiên, tinh thần dân tộc chủ nghĩa của các nhà đề cử thật ra không sai khiến được việc quyết định trao giải. Cho dù có chủ ý hay không có chủ ý, ủy ban xét trao giải vẫn sử dụng đặc quyền của họ ra phán quyết cuối cùng, san phẳng quyết định trao giải cho mang tính chất quốc tế. Một số đo thô của cơ chế này có thể thu được bằng cách so sánh số lượng đề cử nhận được giải và không nhận được giải trong giai đoạn 1901-1950, trong cả lĩnh vực vật lí và hóa học. Trong khi những người thắng giải nhận được 83% số đề cử dành cho họ từ các nước khác, thì những người thất bại chỉ nhận được phân nửa số đó (43%) từ phía giới khoa học nước ngoài. Khi chỉ tính riêng với 4 nước đã giới hạn thì tương ứng là 53% cho những người thắng cuộc và 40% cho những người thua cuộc. Điều này cho thấy kết quả phụ thuộc nhiều vào mong muốn của những người xét trao giải ủng hộ tinh thần quốc tế trong khoa học, chứ không phải ứng cử viên nào nhận được nhiều ―phiếu‖ là sẽ thắng. ―Tiến ra quốc tế‖ tỏ ra là một lợi thế thực sự trong chiến lược tranh giành giải thưởng Nobel.

Hồ sơ từ năm 1951: một chút suy đoán
Sau đợt sụt giảm số lượng đề cử do Thế chiến thứ hai, số lượng đề cử thường niên trong lĩnh vực vật lí nhanh chóng tăng vọt trở lại như thời trước chiến tranh, ở mức từ 50 đến 75. Khi nào hồ sơ lưu trữ của thập niên 1950 và 1960 được mở, chúng ta có thể trông đợi tính công chúng của giải thưởng Nobel sẽ còn tăng nhanh hơn – và sau cùng thì số đề cử đã lên tới hàng trăm cho một năm. Do tính công chúng của giải Nobel mang đến nhiều cơ hội nghiên cứu không chỉ về quy chế Nobel, mà còn phản ánh cả cộng đồng vật lí quốc tế rộng lớn hơn nhiều, nên nó vẫn là nguồn thông tin có giá trị cho các nhà lịch sử khoa học, rất lâu sau khi những tai tiếng rùm beng xung quanh giải thưởng đã lắng dịu. Các nghiên cứu này sẽ được làm phong phú thêm bằng những ấn phẩm có liên quan và tỉ lệ trích dẫn đã bắt đầu đánh lừa cộng đồng khoa học – và đặc biệt là những nhà tài trợ - trong thập niên 1950 và sau đó. Tất cả những thông tin này thật tuyệt vời, nhưng các nhà nghiên cứu vẫn có nhận thức sâu sắc về những giới hạn của các loại dữ liệu định lượng này. Tuy vậy, việc nghiên cứu lịch sử trên kho tư liệu Nobel giúp chúng ta tiến gần hơn đến việc hiểu được những người thắng giải đã được bầu chọn như thế nào. Còn lại, mọi thông tin khác chỉ thuần túy là suy đoán mà thôi. hiepkhachquay dịch (theo Physics World)

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

25

Làm khoa học trong thời đại mở
Michael Nielsen Các công cụ mạng trực tuyến thật có tính lan tỏa, nhưng tại sao các nhà khoa học lại quá chậm chạp trước việc tiếp nhận phần nhiều trong số chúng ? Michael Nielsen giải thích làm thế nào chúng ta có thể xây dựng một nền văn hóa hợp tác trực tuyến tốt hơn. Trong lớp học khoa học thời phổ thông của mình, hẳn bạn đã từng học về định luật Hooke, liên hệ chiều dài của một cái lò xo với mức độ mạnh mà bạn kéo nó ra. Cái mà người thầy giáo thời phổ thông của bạn có lẽ đã không cho bạn biết là khi Robert Hooke khám phá ra định luật của ông vào năm 1767, ông đã công bố nó dạng một phép đảo tự, ―ceiiinossssttuv‖, ông tiết lộ vào hai năm sau đó là từ Latin ―ut tensio, sic vis‖, nghĩa là ―kéo căng, cũng là lực‖. Điều này đảm bảo rằng nếu như có một ai đó khác thực hiện khám phá giống như vậy, thì Hooke có thể tiết lộ phép đảo tự và khẳng định ưu thế, nhờ đó có thời gian để ông có thể một mình xây dựng lí thuyết dựa trên khám phá đó.

Sự hợp tác trực tuyến sẽ làm thay đổi nền khoa học (Ảnh: physicsworld.com)

Tính giữ kẽ của Hooke chẳng có gì lạ cả. Nhiều nhà khoa học lớn của thời đại đó, như Leonardo da Vinci, Galileo Galilei và Christiaan Huygens, đã sử dụng phép đảo tự hoặc mật mã cho những mục đích tương tự. Cuộc tranh luận Newton – Leibniz xem ai đã phát minh ra phép tích giải tích xảy ra là vì Newton khẳng định đã phát minh ra phép tính giải tích trong những năm 1660 và 1670, nhưng đã không công bố nghiên cứu của ông mãi cho đến năm 1693. Trong khi đó, Gottfried Leibniz đã phát triển và công bố phiên bản giải tích của riêng ông rồi. Hãy tưởng tượng nền sinh học hiện đại nếu như bộ gen loài người đã được công bố dạng một phép đảo tự, hoặc nếu như việc công bố bị hoãn lại 30 năm thử xem. Tại sao Hooke, Newton và những người đương thời của họ lại hay giấu giếm như vậy ? Thật ra, cho đến thời điểm này, các khám phá thông thường vẫn được giữ kín. Các nhà giả kim thuật dự định biến chì thành vàng hoặc tìm kiếm bí mật của sự trường sinh bất lão

26

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

thường mang những khám phá của họ theo họ xuống mồ. Một nền văn hóa khám phá giữ kín là một hệ quả tất nhiên của một xã hội trong đó lợi ích cá nhân từ việc chia sẻ các khám phá chứa đầy sự bất định. Những tiến bộ khoa học to lớn trong thời đại của Hooke và Newtons sau này đã thúc đẩy những kẻ bảo trợ giàu có, như chính phủ, bắt đầu bao cấp cho khoa học như một nghề. Phần nhiều động cơ xuất phát từ lợi ích chung do khám phá khoa học mang lại, và lợi ích đó vững mạnh nhất nếu như các khám phá được chia sẻ. Kết quả là một nền văn hóa khoa học mà cho đến ngày nay đã thưởng công xứng đáng cho sự chia sẻ các khám phá với công ăn việc làm và uy tín cho người khám phá. Sự chuyển tiếp văn hóa này đã bắt đầu vào thời đại của Hooke và Newton, nhưng muộn hơn một chút, hơn một thế kỉ sau đó, nhà vật lí vĩ đại Michael Faraday đã có thể khuyên một cộng sự trẻ tuổi là hãy ―Làm việc. Hoàn tất. Công bố‖. Nền văn hóa khoa học đã thay đổi đến mức một khám phá không được công bố trên một tập san khoa học không được xem là thật sự trọn vẹn. Sự chấp nhận và lớn mạnh của các tập san khoa học đã tạo ra một cơ thể kiến thức chia sẻ cho nền văn minh của chúng ta, một kí ức chung trong thời gian dài là nền tảng cho nhiều tiến bộ của loài người. Hệ thống này đã thay đổi có phần nào đó bất ngờ trong 300 năm qua. Ngày nay, Internet mang lại cho chúng ta cơ hội số một nhằm cải thiện bộ nhớ chung lâu dài này, và để tạo ra một bộ nhớ chung hoạt động ngắn hạn – một thường dân đóng góp cho sự phát triển hợp tác nhanh chóng của các ý tưởng. Sẽ không có sự thay đổi này nếu như không có sự nỗ lực to lớn. Nhìn từ bên ngoài, các nhà khoa học hiện nay dường như chậm chạp một cách bối rối trước việc thích ứng với nhiều công cụ trực tuyến. Như chúng ta sẽ thấy, đây là một hệ quả của một số rào cản quan trọng đã ăn sâu trong nền văn hóa khoa học. Việc thay đổi nền văn hóa này sẽ chỉ thu được với sự nỗ lực to lớn, nhưng tôi tin rằng tiến trình khám phá khoa học – cách thức chúng ta làm khoa học – sẽ còn tiếp tục thay đổi nhiều hơn nữa trong hai thập kỉ tới so với trong 300 năm qua.

Làm thế nào Internet có thể cải thiện cách thức chúng ta làm khoa học ?
Có hai con đường hữu dụng để trả lời câu hỏi này. Con đường thứ nhất là xem các công cụ trực tuyến là một phương thức mở rộng tầm với của kiến thức khoa học có thể chia sẻ với toàn thế giới. Nhiều công cụ trực tuyến đúng là chỉ làm việc này, và một số đã có tác động to lớn lên cách thức các nhà khoa học làm việc. Hai thí dụ thành công là server bản thảo vật lí arXiv, cho các nhà vật lí chia sẻ bản thảo các bài báo của họ mà không mất hàng tháng trời chờ đợi như khi đăng tạp chí tiêu biểu, và GenBank, một cơ sở dữ liệu trực tuyến nơi các nhà sinh học có thể kí gởi và tìm kiếm các chuỗi ADN. Nhưng đa phần các công cụ trực tuyến thuộc loại này vẫn là những ứng dụng hiếm, bất chấp thực tế nhiều nhà khoa học tin rằng sự chấp thuận ở nước ngoài là có giá trị. Hai thí dụ là Journal of Visualized Experiments, cho các nhà khoa học tải lên các video trình diễn cách thức các thí nghiệm của họ hoạt động, và ―Open Notebook Science‖, do các nhà khoa học như Claude Bradley và Garrett Lisi trình bày, họ thể hiện các ghi chú nghiên cứu của mình trước toàn thế giới. Trong

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

27

những năm tới, chúng ta sẽ thấy một sự tăng trưởng nhanh chóng của các công cụ thuộc loại này, mỗi công cụ hướng tới chia sẻ những loại kiến thức khác nhau.

Wikipedia có vô số mục từ về khoa học; các liên kết giữa chúng được thể hiện ở đây; nhưng các nhà khoa học dường như vẫn còn miễn cưỡng đóng góp cho site này (Ảnh: Chris Harrison, Carnegie Mellon University)

Có một cách thứ hai và cơ bản hơn nghĩ về cách thức Internet có thể làm thay đổi nền khoa học, và đó là thông qua sự thay đổi tiến trình và quy mô của bản thân sự hợp tác sáng tạo, cho phép bởi các phần mềm xã hội như wiki, các diễn đàn trực tuyến và hậu duệ của chúng. Có nhiều thí dụ đã được nhiều người biết tới nhưng vẫn gây ấn tượng của sự thay đổi này trong các bộ phận của nền văn hóa ngoài khoa học (được minh chứng rõ trong cuốn sách rất hay của Clay Shirk, Here Comes Everybody). Chẳng hạn, năm 1991, một chàng sinh viên người Phần Lan không ai biết tới tên là Linus Torvalds đã post lên một đoạn ngắn trên một diễn đàn trực tuyến, nhờ giúp đỡ mở rộng một hệ điều hành đồ chơi mà anh ta đã lập trình trong thời gian rỗi của mình; một nhóm tình nguyện viên đã đáp lại bằng việc đưa ra Linux, một trong những tạo tác kĩ thuật phức tạp nhất từng được xây dựng. Năm 2001, một nhân vật trẻ tuổi không danh tiếng nữa tên là Larry Sanger đã post một đoạn ngắn nhờ hỗ trợ xây dựng
28
http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

một từ điển bách khoa trực tuyến; một nhóm tình nguyện viên đã đáp lại bằng việc trình làng Wikipedia, cuốn từ điển bách khoa toàn diện nhất của thế giới. Một thí dụ nữa cho sức mạnh của sự hợp tác trực tuyến đến từ thế giới cờ vua. Năm 1999, Garry Kasparov, kì thủ nổi tiếng nhất của mọi thời đại, đã đương đầu với ―World Team‖ — một đội gồm hàng nghìn người chơi cờ, nhiều tay chơi nghiệp dư, quyết định bước đi của họ bằng cách bỏ phiếu. Kasparov đã thắng, nhưng thay vì chiến thắng dễ dàng như ông trông đợi, ông đã có một ván chơi thử thách nhất của sự nghiệp của mình, và ông đã gọi nó là ―ván cờ vĩ đại nhất trong lịch sử ngành cờ‖. Những thí dụ này không phải là những trường hợp hiếu kì hay đặc biệt gì đó; chúng là đầu ngọn sóng của một sự thay đổi to lớn trong tiến trình sáng tạo. Khoa học là một thí dụ đặc biệt của sự hợp tác sáng tạo, nhưng sự hợp tác khoa học vẫn diễn ra chủ yếu thông qua những cuộc họp mặt-đối-mặt quy mô nhỏ. Với ngoại lệ email, chỉ một vài công cụ xã hội mới được các nhà khoa học chấp nhận rộng rãi, mặc dù nhưng công cụ này có tiềm năng to lớn trong việc tăng tốc độ khám phá khoa học. Tại sao các nhà khoa học lại chậm thích ứng với những công cụ nổi trội này? Có phải đơn giản là vì họ quá bảo thủ trong thói quen của mình, hay là những công cụ mới không tốt hơn cái chúng ta đã có? Cả hai câu trả lời nhanh trơn tru này đều sai cả. Chúng ta có thể đi giải câu đố này bằng cách xem xét chi tiết hai thí dụ trong đó các công cụ trực tuyến tuyệt vời đã không được các nhà khoa học chấp thuận. Hóa ra là có những rào cản văn hóa lớn ngăn các nhà khoa học tham gia vào, vì thế làm chậm lại sự tiến bộ của khoa học.

Một thất bại của khoa học trực tuyến: các site bình luận trực tuyến
Cũng giống như nhiều người, khi tôi xem xét mua một quyển sách hay một thiết bị điện tử, trước tiên tôi thường lướt qua các nhận xét bình phẩm tại Amazon. Được truyền cảm hứng bởi sự thành công của Amazon, một số tổ chức đã tạo các site bình phẩm trong đó các nhà khoa học có thể chia sẻ quan điểm của họ về các bài báo khoa học. Có lẽ được biết tới nhiều nhất là thử nghiệm 2006 của Nature cho bình luận mở về các bài báo đang trong giai đoạn đánh giá ngang hàng tại tạp chí này (xem Physics World January 2007 pp29—30). Lần thử nghiệm đó không thành công, như bản báo cáo cuối cùng của Nature đã giải thích: ―Có một mức độ lớn thích thú thể hiện rõ trong việc đánh giá ngang hàng mở. Một phần nhỏ trong số những tác giả đó đã thật sự tham gia nhận các bình luận, nhưng thường thì rất ít, mặc dù lưu lượng web lớn. Đa số bình phẩm không quan trọng về mặt kĩ thuật. Phản hồi cho thấy có một sự miễn cưỡng rõ rệt trong số các nhà nghiên cứu đưa ra các bình luận mở‖. Thử nghiệm Nature chỉ là một trong nhiều cố gắng ở các site bình phẩm dành cho các nhà khoa học. Thí dụ sớm nhất mà tôi biết là site Quick Reviews ra đời năm 1997 và ngừng hoạt động năm 1998. Physics Comments được phát triển vài năm sau đó, và đã ngừng hoạt động vào năm 2006. Một site mới hơn, Science Advisor, vẫn đang hoạt động, nhưng có nhiều thành viên (1139) hơn số bình luận (1008). Hình như người ta muốn đọc nhận xét của các bài báo khoa học, nhưng không viết ra chúng. Một thí nghiệm đang triển khai kết hợp bình luận trực tuyến và nhiều đặc điểm cách tân khác là PLoS ONE, nhưng hãy còn quá sớm để nói phần bình phẩm của nó sẽ thành công như thế nào.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

29

Vướng mắc mà tất cả các site này đều có là trong khi sự bình luận vô tư về các bài báo khoa học nhất định là có ích đối với các nhà khoa học khác, nhưng có ít động cơ cho người ta viết ra những lời bình phẩm đó. Tại sao phải viết bình phầm trong khi bạn có thể làm cái gì đó ―có ích‖ hơn, chẳng hạn như viết một bài báo hay một đề xuất tài trợ? Hơn nữa, nếu bạn công khai chỉ trích bài báo của một ai đó, thì có cơ may người đó sẽ là một vị trọng tài nặc danh trong vai trò đâm thọc bài báo hay tài liệu yêu cầu tài trợ tiếp theo của bạn. Để tóm bắt vấn đề ở đây, bạn cần phải hiểu tính mãnh liệt mà các nhà khoa học trẻ nhiều tham vọng theo đuổi những ấn phẩm khoa học và tài trợ. Để có một chỗ đứng tại một trường đại học lớn, điều quan trọng nhất là một con số bài báo khoa học kỉ lục gây ấn tượng. Những bài báo này sẽ mang lại tiền tài trợ nghiên cứu và những bức thư giới thiệu cần thiết để được thuê mướn. Sự cạnh tranh địa vị dữ dội đến mức tuần làm việc 70 – 80 giờ là phổ biến. Tốc độ đua tranh giảm đi chút ít sau khi đã chiếm được địa vị, nhưng sự ủng hộ tài chính liên tục sẽ vẫn yêu cầu một đạo lí làm việc tích cực. Chẳng có gì phải ngạc nhiên khi mà người ta ít có xu hướng nghiêng về việc đóng góp cho các site bình luận trực tuyến. Sự tương phản giữa các site bình luận khoa học và sự thành công của các đánh giá tại Amazon thật rõ rệt. Lấy thí dụ, bạn sẽ tìm thấy chừng 1500 sản phẩm Pokemon trên Amazon, nhiều hơn tổng số nhận xét trên tất cả các site bình luận khoa học tôi đã mô tả ở trên. Sự thoái chí trước mặt các nhà khoa học đã dẫn đến một tình huống buồn cười trong đó nền văn hóa công chúng đủ mở để người ta cảm thấy thoải mái khi viết các nhận xét về Pokemon, nhưng nền văn hóa khoa học thì kín đến mức người ta sẽ không sẵn lòng chia sẻ quan điểm của họ về các bài báo khoa học. Một số người thấy sự tương phản này thật kì lạ hoặc tức cười; còn tôi tin rằng nó thể hiện cái gì đó rất không thích hợp với khoa học, cái chúng ta cần phải tìm hiểu và thay đổi.

Một thất bại của khoa học trực tuyến: Wikipedia
Wikipedia là một thí dụ thứ hai trong đó các nhà khoa học đã bỏ lỡ cơ hội đổi mới trực tuyến. Wikipedia có một phát biểu chắc nịch làm ấm lòng nhà khoa học: ―Hãy tưởng tượng một thế giới trong đó mỗi người có thể tự do chia sẻ toàn bộ tổng kiến thức. Đó là cam kết của chúng tôi‖. Bạn có thể đoán rằng Wikipedia đã được các nhà khoa học hăm hở bắt tay vào thu thập toàn bộ kiến thức của loài người vào một nguồn duy nhất. Thật ra, người sáng lập ra Wikipedia, Jimmy Wales, có kiến thức căn bản về tài chính và là một nhà phát triển web cho một ―động cơ tìm kiếm erotic‖, chứ không phải khoa học. Người đồng sáng lập Wikipedia, Larry Sanger, là một nhà triết học đã rời bỏ giới học thuật. Trong những ngày đầu ấy, một số nhà khoa học danh tiếng đã tham gia. Giống như các site bình luận khoa học, việc đó chỉ làm khuấy động sự nghi ngờ từ phía các đồng nghiệp rằng bạn đang lãng phí thời gian đúng ra có thể tiêu xài tốt hơn là viết các bài báo và đơn xin tài trợ. Một số nhà khoa học sẽ phản đối rằng việc đóng góp cho Wikipedia thật sự chẳng phải là khoa học. Và, tất nhiên, nó chẳng phải khoa học nếu như bạn có quan điểm hẹp xem khoa học là cái gì, và cứ cho rằng khoa học chỉ là việc công bố trên những tập san khoa học chuyên môn hóa. Nhưng nếu bạn có cái nhìn rộng hơn, nếu bạn tin rằng khoa học không chỉ là khám phá xem thế giới hoạt động như thế nào, mà còn chia sẻ sự hiểu biết với phần còn lại của nhân loại, thì sự thiếu ủng hộ khoa học ban đầu danh cho Wikipedia trông như một cơ hội bị đánh mất. Ngày nay, sự thành công của Wikipedia phải có sự đóng hợp pháp trong chừng

30

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

mực nào đó trong cộng đồng khoa học. Nhưng thật kì lạ là Thư viện Alexandria thời hiện đại đó đã phải xuất phát từ giới học thuật bên ngoài.

Thử thách: đạt được tính mở tột cùng trong khoa học
Những thất bại này của khoa học trực tuyến đều là những thí dụ trong đó các nhà khoa học thể hiện một sự miễn cưỡng đáng ngạc nhiên với việc chia sẻ kiến thức có thể hữu ích cho những người khác. Điều này thật mỉa mai, vì giá trị của tính mở văn hóa đã được tìm hiểu cách đây hàng thế kỉ bởi nhiều nhà sáng lập của khoa học hiện đại; thật vậy, hệ thống tạp chí có lẽ là hệ thống mở nhất đối với sự truyền tải kiến thức có thể xây dựng với phương tiện thế kỉ thứ 17. Sự chấp thuận hệ thống tạp chí đã thu được bằng cách bao cấp cho các nhà khoa học công bố các khám phá của họ trên các tạp chí. Cũng chính khoản trợ cấp này ngày nay đã ngăn cản sự chấp thuận các công nghệ hiệu quả hơn, vì nó tiếp tục yêu cầu các nhà khoa học chia sẻ nghiên cứu của họ trên các tập san truyền thống và không chia sẻ trên các phương tiện hiện đại hơn. Chúng ta phải nhắm tới tạo ra một nền văn hóa khoa học mở trong đó càng nhiều thông tin được mang ra khỏi đầu óc và phòng thí nghiệm càng tốt, mang vào hệ thống mạng và vào những công cụ có thể hỗ trợ chúng ta cấu trúc và lọc lấy thông tin. Điều này có nghĩa là mọi thứ - dữ liệu, quan điểm khoa học, câu hỏi, ý tưởng, kiến thức chung, dòng chảy công việc và mọi thứ khác. Thông tin không ở trong mạng lưới đó chẳng thể làm cái gì tốt hết. Trên lí tưởng, chúng ta sẽ thu được một loại tính mở tột cùng: tạo ra nhiều loại thông tin sẵn dùng hơn so với chỉ các bài báo khoa học; cho phép tái sử dụng một cách sáng tạo và cải biến công trình hiện có thông qua bản quyền mở hơn và các tiêu chí cộng đồng; làm cho toàn bộ thông tin không chỉ dễ đọc với mọi người mà còn dễ đọc với máy móc; cung cấp những giao diện mở cho phép xây dựng các dịch vụ gia tăng trên các tác phẩm khoa học, và có khả năng còn có nhiều lớp dịch vụ ngày càng mạnh. Tính mở tột cùng như vậy là biểu hiện tối hậu của quan điểm rằng những người khác có thể xây dựng dựa trên và mở rộng công trình nghiên cứu của từng nhà khoa học cá lẻ theo những cách mà bản thân họ chưa bao giờ hình dung ra. Để tạo ra một nền văn hóa khoa học mở bao quát những công cụ trực tuyến mới, người ta cần đạt được hai nhiệm vụ đầy thử thách: thứ nhất, xây dựng các công cụ trực tuyến xuất sắc; và thứ hai, gây ra những thay đổi văn hóa cần thiết cho những công cụ này được chấp nhận. Tính cần thiết của việc hoàn thiện cả hai nhiệm vụ này là hiển nhiên, nhưng các dự án về khoa học trực tuyến thường chủ yếu tập trung vào việc xây dựng công cụ, với sự thay đổi văn hóa đến sau ý nghĩ. Đây là một sai lầm, vì các công cụ đó chỉ là một phần của toàn bộ bức tranh. Chỉ mất một vài năm cho các tập san khoa học đầu tiên (một công cụ) phát triển, nhưng mấy nhiều thập kỉ biến đổi văn hóa trước khi ấn phẩm khoa học được chấp nhận là tiêu chuẩn vàng cho việc phán xét các đóng góp khoa học. Không có cái nào trong số này làm giảm bớt thách thức của việc xây dựng các công cụ trực tuyến xuất sắc. Để phát triển những công cụ cụ đó đòi hỏi sự kết hợp hiếm hoi của các kĩ năng thiết kế và công nghệ tinh xảo, và sự hiểu biết sâu sắc về cách thức khoa học hoạt động. Khó khăn thêm chồng chất vì những người hiểu rõ nhất cách thức khoa học hoạt động lại là chính bản thân các nhà khoa học, nhưng việc xây dựng những công cụ đó không phải là

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

31

cái các nhà khoa học thường được khích lệ hoặc sẵn lòng làm. Các tổ chức khoa học trao giải thưởng cho các nhà khoa học vì đã thực hiện khám phá trong hệ thống khám phá hiện có; có ít chỗ cho những người đang nghiên cứu cách làm thay đổi hệ thống đó. Một vị trưởng khoa công nghệ thử thách không chắc gì có cái nhìn tử tế trên một nhà khoa học đề xuất rằng thay vì viết các bài báo, họ thích bỏ ra thời gian nghiên cứu của mình phát triển các công cụ đa năng nhằm cải thiện cách thức khoa học được tiến hành. Còn về nhiệm vụ thứ hai, thu được sự thay đổi văn hóa? Như mọi cuộc cách mạng có thể chứng thực, đó là một yêu cầu cao. Tôi sẽ mô tả hai chiến lược đã thành công trong quá khứ, và mang lại khuôn mẫu cho sự thành công trong tương lai. Thứ nhất là một chiến lược từ-trên-xuống đã được sử dụng thành công bởi phong trào truy cập mở (OA). Mục tiêu của phong trào OA là làm cho nghiên cứu khoa học tự do sử dụng trực tuyến với mọi người trên thế giới. Nó là một mục tiêu đầy cảm hứng, và phong trào OA đã thu được một số thành công bất ngờ. Có lẽ đáng chú ý nhất, tháng 4 năm 2008, Viện Sức khỏe Quốc gia Mĩ (NIH) đã ủy thác rằng mỗi bài báo được viết với sự ủng hộ của tiền tài trợ của họ cuối cùng phải được đưa ra thành truy cập mở. NIH là cơ quan tài trợ lớn nhất thế giới; quyết định này là một đương lượng khoa học của một trận đột kích thành công vào Pháo đài mở.

Bản đồ cách thức các blog liên kết; nhưng việc viết blog có được xem là một phương thức thật sự góp phần cho khoa học? (Ảnh: Matthew Hurst/Science Photo Library)

32

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Chiến lược thứ hai là từ-dưới-lên. Nó dành cho những ai đang xây dựng các công cụ trực tuyến mới đồng thời phát triển và táo bạo truyền bá các phương thức đo lường sự đóng góp được thực hiện với những công cụ đó. Để tìm hiểu xem điều này nghĩa là gì, hãy tưởng tượng bạn là một nhà khoa học đang ngồi ở một ủy ban ra quyết định xem nên hay không nên thuê một nhà khoa học. Bản lí lịch của họ nói rằng họ đã hỗ trợ xây dựng một wiki khoa học mở, và họ còn viết một blog. Thật không may, ủy ban chẳng có cách thức dễ dàng nào tìm hiểu tầm quan trọng của những đóng góp này, vì cho đến nay chẳng có thước đo được chấp nhận rộng rãi nào cho việc ước định những đóng góp như thế. Hệ quả tất nhiên là những đóng góp như thế thường bị xem nhẹ. Để làm cho thách thức thêm cụ thể, hãy tự hỏi bản thân bạn xem người ta sẽ cần gì cho một mô tả của sự đóng góp đó thực hiện thông qua viết blog mà nhà khoa học báo lại trong bản lí lịch của họ. Làm thế nào bạn có thể đo lường những loại đóng góp khác nhau mà một nhà khoa học có thể thực hiện trên một blog – tầm với, giáo dục và nghiên cứu? Đây không phải là những câu hỏi dễ trả lời. Nhưng chúng phải được trả lời trước khi việc viết blog khoa học được xem là một đóng góp khoa học chuyên nghiệp có giá trị.

Câu chuyện thành công: arXiv và SPIRES
Một thí dụ minh họa cho chiến lược từ-dưới-lên đang hoạt động là server bản thảo vật lí nổi tiếng arXiv. Kể từ năm 1991, các nhà vật lí đã tải các bài báo của họ lên arXiv, thường thì cùng lúc khi họ đăng kí bài viết với một tập san nào đó. Các bài báo đó được đưa ra sử dụng tự do trong vòng hàng giờ cho mọi người đọc. arXiv không phải là không có chứng thực, mặc dù một sự kiểm tra nhanh được thực hiện bởi các mod điều hành nhằm loại trừ những đề xuất kì quặc. arXiv là một công cụ tuyệt vời và được sử dụng rộng rãi, với hơn một nửa trong số toàn bộ các bài báo mới trong ngành vật lí xuất hiện ở trang đó trước tiên. Nhiều nhà vật lí bắt đầu ngày làm việc của họ bởi việc xem qua cái đã xuất hiện trên site đó trong đêm hôm trước. Như vậy, arXiv là thí dụ minh họa cho bước tiến bộ đầu tiên hướng tới thu được một nền văn hóa mở hơn: nó là một công cụ xuất sắc. Không bao lâu sau khi arXiv bắt đầu sự nghiệp, một dịch vụ theo dấu trích dẫn tên gọi là SPIRES đã quyết định sẽ mở rộng dịch vụ của nó để bao gồm cả những bài báo arXiv và các bài báo đăng trên tập san bình thường. SPIRES chuyên về các bài báo vật lí, và kết quả là ngày nay người ta có thể tìm kiếm tên tuổi của một nhà vật lí hạt và xem mức độ thường xuyên mà những bài báo của họ, kể cả các bản thảo arXiv, được các nhà vật lí khác trích dẫn. SPIRES đã đi vào hoạt động từ năm 1974 bởi một trong những cơ quan danh vọng và đáng kính nhất trong ngành vật lí hạt, Phòng thí nghiệm Máy gia tốc quốc gia SLAC. Nỗ lực mà SLAC đã đưa vào phát triển SPIRES nghĩa là thước đo tác động trích dẫn của nó là đáng tin cậy và được sử dụng rộng rãi bởi cộng đồng vật lí hạt. Giờ thì một nhà vật lí hạt đã có thể chứng minh một cách thuyết phục rằng nghiên cứu của họ có một sức ảnh hưởng cao, mặc dù nó chỉ mới được công bố trên arXiv và chưa hề được đăng tải trên một tập san khoa học bình thường. Khi thuê các ủy ban họp đánh giá các ứng cử viên trong ngành vật lí hạt, người ta thường có laptop của họ mở sẵn, xác định và so sánh các kỉ lục trích dẫn SPIRES của các ứng cử viên.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

33

SPIRES và arXiv không ngăn các nhà vật lí hạt công bố trên các tập san đánh giá ngang hàng. Khi bạn đi xin việc, hoặc chuẩn bị bổ nhiệm, mỗi một mớ quân dụng là cần thiết, nhất là khi ủy ban đánh giá có thể gồm ai đó từ lĩnh vực khác đến miễn cưỡng xem dữ liệu trích dẫn SPIRES là nghiêm túc. Tuy nhiên, một số nhà vật lí đã trở nên thoải mái hơn với việc đăng tải, và không hiếm khi xem xét cả lí lịch bao gồm các bản thảo chưa từng được đăng tải trên các tập san thông thường.

Vấn đề hợp tác
Cho dẫu là Albert Einstein thỉnh thoảng cũng cần sự hỗ trợ. Năm 1912, khi Einstein lần đầu tiên nhận ra rằng mội loại hình học mới là cần thiết để mô tả không gian và thời gian, ông đã có chút ít ý tưởng làm thế nào để tiến lên. May mắn thay, ông đã chia sẻ những khó khăn của ông với một người bạn là nhà toán học, Marcel Grossman, người biết đúng cái Einstein cần và đã giới thiệu với ông công trình của nhà toán học Bernhard Riemann. Einstein đã mất ba năm để đưa ra lí thuyết đầy đủ, nhưng Grossman đã đúng, và đây là một điểm quan trọng trong sự phát triển của thuyết tương đối rộng. Nan đề của Einstein tương tự như bất kì nhà khoa học nào. Khi làm nghiên cứu, các vấn đề con liên tục phát sinh trong chỗ không trông đợi trước. Chẳng ai có thể là chuyên gia trong toàn bộ những lĩnh vực đó. Đa số chúng ta thường nghiêng về một mảng nào đó, nhặt lấy những kĩ năng cần thiết để thực hiện bước phát triển hướng tới những mục tiêu lớn hơn của chúng ta, thật khoan khoái khi hệ tư tưởng của thời đại nghiên cứu của chúng ta thỉnh thoảng ném ra một vấn đề con trong đó chúng ta là chuyên gia thật sự. Giống như Einstein, chúng ta có một nhóm nhỏ cộng tác viên đáng tin cậy, với họ chúng ta có thể trao đổi các câu hỏi và ý tưởng khi chúng ta bị vướng mắc. Thật không may, đa phần thời gian các cộng tác viên của chúng ta không có mặt ở đó để giúp đỡ nhiều. Vậy liệu người ta có thể tăng quy mô mô hình thảo luận này, và xây dựng một chợ hợp tác trực tuyến để trao đổi các câu hỏi và ý tưởng, một loại bộ nhớ hoạt động chung cho cộng đồng khoa học, hay không ? Thật tự nhiên nếu như người ta nghi ngờ ý tưởng này, nhưng một nền văn hóa đòi hỏi sự sáng tạo hết sức khắt khe đã tồn tại cho thấy một chợ hợp tác như vậy là khả thi – nền văn hóa tự do và phần mềm nguồn mở. Các nhà khoa học lần đầu tiên xem lướt qua các diễn đàn phát triển của các dự án lập trình nguồn mở thường bị sốc ở mức độ cao của sự thảo luận. Họ trông đợi hàng giờ nghiệp dư ở quán bar karaoke địa phương; thay vì thế, họ tìm thấy các lập trình viên chuyên nghiệp thường xuyên chia sẻ câu hỏi và ý tưởng của họ, giúp giải quyết vướng mắc của người khác, thường đưa ra nỗ lực trí tuệ lớn và khéo léo. Thay vì gìn giữ các câu hỏi và ý tưởng của họ, như các nhà khoa học vẫn làm vì sợ bị đánh cắp ý tưởng, các lập trình viên say sưa chia sẻ chúng. Một số lập trình viên giỏi nhất thế giới thường lang thang trong những diễn đàn này, chia sẻ mánh khóe, trả lời những câu hỏi và tham gia tranh luận. Bây giờ tôi sẽ mô tả hai thí dụ đang ở trong thời kì đầu của sự phát triển cho thấy các chợ hợp tác trực tuyến dành cho khoa học có thể là có giá trị. Thứ nhất là InnoCentive, cho phép các công ti như Eli Lilly và Protor và Gamble đưa ra những ―thử thách‖ trên Internet: các vấn đề nghiên cứu khoa học đi cùng với giải thưởng cho lời giải của chúng, thường trị giá nhiều nghìn đô la. Chẳng hạn, một trong những thử thách hiện đang có mặt trên InnoCentive yêu cầu những người tham gia đi tìm chất đánh dấu sinh học cho chứng bệnh động cơ neuron, với giải thưởng 1 triệu đô la. Nếu bạn đăng kí trên site đó, bạn có thể nhận

34

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

được một mô tả chi tiết của những yêu cầu thử thách, và nỗ lực giành giải thưởng. Hơn 140.000 người từ 175 quốc gia đã đăng kí, và giải thưởng cho hơn 100 thử thách đã được trao.

InnoCentive (trái) và FriendFeed (phải) trình làng những bệ đỡ mới cho sự hợp tác.

InnoCentive là một thí dụ của một chợ các vấn đề khoa học và giải pháp có thể được thiết lập như thế nào. Tất nhiên, nó có những thiếu sót với tư cách là một mô hình dành cho sự hợp tác trong nghiên cứu cơ bản. Chỉ một số lượng nhỏ công ti có thể đưa ra thử thách, và họ có thể làm như thế chỉ sau một quá trình xem xét lâu dài. Mô hình kinh doanh của InnoCentive nhắm tới các công ti trong hoạt động công nghiệp thay vì nghiên cứu cơ bản, và vì thế động cơ làm việc là tiền bạc và tính chất trí tuệ, chứ không phải danh tiếng và trích dẫn. Nó chắc chắn không phải là một công cụ thảo luận nảy lửa như các diễn đàn lập trình; người ta không thức dậy vào sáng sớm với một vấn đề gì đó trong đầu và đưa nó lên InnoCentive, hi vọng sự giúp đỡ với một giải pháp nhanh chóng. FriendFeed là một công cụ linh hoạt hơn nhiều, được các nhà khoa học sử dụng làm một môi trường giao tiếp để thảo luận các vấn đề nghiên cứu. Cái FriendFeed cho phép người dùng làm là thiết lập cái gọi là lifestream. Lấy ví dụ, lifestream của tôi là thành lập một tập hợp tự động đủ thứ mà tôi đưa lên web, gồm các bài đăng blog của tôi, các liên kết del.icio.us, các video YouTube và một vài loại nội dung khác nữa. Tôi còn liệt kê một danh sách chừng 100 hay ngần ấy ―bạn bè‖ có lifestream mà tôi có thể gom vào một dòng sông thông tin to lớn – toàn bộ các bức ảnh Flick, bài đăng blog của họ, vân vân. Những người này không nhất thiết là những người bạn thật sự - tôi không quen biết riêng tư với ―ông bạn‖ Barack Obama của tôi – nhưng nó là một phương thức khó tưởng tượng để theo vết một khối lượng lớn hoạt động từ số lượng lớn con người. Là bộ phận của lifestream, FriendFeed cho phép các tin nhắn được gởi tới lui thoải mái, nên cộng động có thể hình thành xung quanh những sở thích chung và bạn bè chia sẻ. Tháng 4 năm 2008, Cameron Neylon, một nhà hóa học ở trường Đại học Southampton, đã sử dụng FriendFeed nhắn một tin tìm người trợ giúp xây dựng các mô hình phân tử. Khá nhanh chóng, Pawel Szczesny, một nhà sinh vật học tại Viện Sinh học Phát triển Max Planck ở Tübingen, Đức, đã phúc đáp, và nói rằng ông có thể hỗ trợ. Thế là một sự hợp tác khoa học hiện giờ vẫn còn đang triển khai.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

35

FriendFeed là một dịch vụ lớn, nhưng nó cũng đã trải qua nhiều vướng mắc gây khổ ải cho các site bình luận và Wikipedia. Thiếu thước đo được chấp nhận rộng rãi để đo lường sự đóng góp, nên các khoa học không muốn công nhận tổng thể FriendFeed là một môi trường dành cho hợp tác khoa học. Và vì không có sự chấp thuận rộng rãi, nên tính thiết thực của FriendFeed cho sự hợp tác khoa học sẽ vẫn tương đối thấp.

Tính kinh tế của sự hợp tác
Người ta đã mất mát bao nhiêu do tính không hiệu quả trong hệ thống hợp tác hiện nay? Để trả lời câu hỏi này, hãy tưởng tượng một nhà khoa học tên là Alice. Giống như đa số các nhà khoa học, các dự án nghiên cứu của Alice tự động phát sinh thành những vấn đề trong những lĩnh vực trong đó cô ta chẳng phải là một chuyên gia. Cô ta tung hứng hàng trăm hoặc hàng nghìn vấn đề như vậy, thỉnh thoảng xem xét lại từng vấn đề và tìm kiếm sự tiến bộ, nhưng biết rằng chỉ hiếm khi cô ta mới là người thích hợp nhất để giải quyết một vấn đề cho trước nào đó. Giả sử rằng đối với một vấn đề nhất định, Alice ước tính mất khoảng 4 – 5 tuần của cô ta để đạt được sự thành thạo cần thiết và giải quyết vấn đề. Đó là một thời gian dài, và vì thế vấn đề đó bị gác qua một bên. Dẫu vậy, không hề biết tới Alice, có một nhà khoa học khác thuộc một bộ phận khác của thế giới, Bob, có đúng những kĩ năng cần thiết để giải quyết vấn đề đó chưa tới trong một ngày. Điều này thật ra chẳng có gì lạ. Khá đối lập; theo kinh nghiệm của tôi thì đây là một tình huống thông thường. Hãy xét thí dụ Grossman, người đã tiết kiệm cho Einstein hàng năm trời nghiên cứu thêm nếu như không có ông. Vậy Alice và Bob có trao đổi các câu hỏi và ý tưởng, và bắt đầu sự hợp tác hướng tới một lời giải cho bài toán của Alice hay không? Thật không may, chín trên mười lần họ chưa hề gặp mặt nhau, hoặc nếu họ có gặp nhau, thì họ chỉ trao đổi đôi điều nhỏ thôi. Đó cũng là một sự mất mát lớn cho xã hội chịu lấy phí tổn của việc làm khoa học. Việc chăm sóc chuyên gia, nguồn tài nguyên tối hậu không dễ gì kiếm được trong khoa học, được thực thi rất không hiệu quả dưới thực tiễn hiện nay dành cho sự hợp tác. Một chợ hợp tác hiệu quả sẽ cho phép Alice và Bob tìm thấy mối quan tâm chung này, và trao đổi kiến thức-phương pháp của họ, theo kiểu y hệt như eBay và Craiglist cho phép mọi người trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Không có sự ủy thác như thế, sẽ chẳng có cách nào cho Alice quảng bá những câu hỏi của cô trước toàn thể cộng đồng. Sự nguy hiểm của những tay đua tự do khai thác tiện lợi cho quyền lợi riêng của họ (và phương hại đến Alice) đúng là quá cao. Trong khoa học, chúng ta đã quen với tình huống này đến mức chúng ta công nhận là như vậy. Nhưng chúng ta hãy so sánh nó với vấn đề rõ ràng rất khác là đi mua giày. Alice thả bộ vào một hiệu giày với một số tiền trong túi. Alice muốn có giày mang hơn là giữ tiền trong túi, trong khi Bob, người chủ cửa hàng, thì muốn có tiền hơn là giữ giày lại. Kết quả là Bob thì hạ giày xuống, còn Alice thì trao tiền, và mỗi người bước ra trong hạnh phúc sau 10 phút. Phiên giao dịch nhanh chóng này xảy ra vì có một cơ sở hạ tầng tin cậy của các luật lệ và việc thực thi đảm bảo rằng nếu có bên nào lừa đảo, thì có khả năng bên đó sẽ bị bắt và bị trừng phạt.

36

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Nếu như các hiệu giày hoạt động giống như các nhà khoa học giao dịch các ý tưởng, thì trước tiên Alice và Bob cần phải biết nhau, có thể họ đi uống vài ba cốc bia ở một quán bar gần đó. Chỉ khi đó, Alice mới nói ―Anh biết không, tôi đang đi tìm mua giày‖. Sau đó một chút, và thêm vào cốc bia nữa, Bob sẽ nói ―Cô biết đó, tôi vừa mới có số giày đang tính bán đi‖. Mỗi nhà khoa học đang còn làm việc đều nhận ra vũ điệu này; tôi biết các nhà khoa học ít lo lắng về việc bán nhà của họ hơn là khi họ thực hiện trao đổi thông tin khoa học. Trong kinh tế, người ta đã hiểu trong hàng trăm năm qua rằng sự thịnh vượng được tạo ra khi chúng ta hạ thấp các rào cản mậu dịch, mang lại có một cơ sở hạ tầng tin cậy của các luật lệ và sự thực thi nhằm chống lừa đảo và đảm bảo sự giao dịch tự nguyện. Ý tưởng căn bản, quay trở lại với nhà kinh tế học David Ricardo hồi năm 1817, là tập trung vào những lĩnh vực chúng ta có lợi thế cạnh tranh, và tránh những lĩnh vực mà chúng ta có bất lợi cạnh tranh. Mặc dù nghiên cứu của Ricardo thuộc về kinh tế học, nhưng phân tích của ông cũng hoạt động tốt như vậy trong trường hợp mua bán ý tưởng. Thật vậy, cho dù Alice có thành thạo hơn Bob đi nữa, thì phân tích của Ricardo cho thấy cả Alice và Bob cùng có lợi nếu như Alice tập trung vào những lĩnh vực mà cô ta có lợi thế cạnh tranh nhất, và Bob thì tập trung vào những lĩnh vực mà anh ta có lợi thế cạnh tranh. Thật không may, nền khoa học hiện nay thiếu cơ sở hạ tầng lòng tin và những khích lệ cần thiết cho sự giao dịch tự do, không cấm đoán của các ý tưởng và câu hỏi. Một chợ hợp tác lí tưởng sẽ cho phép trao đổi các câu hỏi và ý tưởng. Nó sẽ có thước đo sự đóng góp sao cho những người tham gia có thể chứng minh tầm ảnh hưởng mà nghiên cứu của họ đang có. Các đóng góp sẽ được lưu trữ, dán tem thời gian và đóng dấu, cho nên thật dễ dàng là ai nói cái gì, và khi nào. Kết hợp với các công cụ tìm kiếm và tinh lọc chất lượng cao, kết quả sẽ là một nền văn hóa mở của lòng tin cho các nhà khoa học một sự khích lệ thật sự để vượt qua các trở ngại, và đóng góp vào những lĩnh vực trong đó họ có lợi thế cạnh tranh lớn. Điều này sẽ làm thay đổi nền khoa học.
Nền khoa học mở
• Internet mang lại cơ hội tạo ra một nền tảng thảo luận cho các nhà khoa học phát triển các ý tưởng một cách nhanh chóng và mang tính hợp tác. • Tuy nhiên, các nhà khoa học tương đối chậm thích ứng với các công cụ trực tuyến như các site bình luận và Wikipedia. • Internet có thể cải tiến cách thức chúng ta làm khoa học theo hai kiểu. Thứ nhất, các công cụ trực tuyến là một phương thức mở rộng phạm vi của kiến thức khoa học có thể chia sẻ với thế giới. Thứ hai, Internet có thể làm thay đổi tiến trình và quy mô của bản thân sự hợp tác sáng tạo, sử dụng các phần mềm xã hội như wiki, các diễn đàn trực tuyến và hậu duệ của chúng. • Những ứng dụng trực tuyến lớn sẽ không hiệu quả để làm thay đổi sự hợp tác khoa học. Chúng ta vẫn cần một sự thay đổi văn hóa theo lối một nền văn hóa khoa học mở. Việc này sẽ bao gồm những thước đo mới thừa nhận sự hợp tác trực tuyến là một đóng góp khoa học chân chính – thứ sẽ có tác dụng như một sự khích lệ đối với các nhà khoa học chia sẻ quan điểm của họ trực tuyến.

Michael Nielsen là giáo sư sáng lập của Khoa Khoa học Thông tin Lượng tử tại trường Đại học Queensland, Australia, và là thành viên thâm niên tại Viện Vật lí Lí thuyết Perimeter ở Waterloo, Canada. Ông hiện đang viết một cuốn sách về tương lai của khoa học.

HiepKhachQuay dịch (theo Physics World, tháng 5/2009)
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2 37

Simon Newcomb, nhà thiên văn học vĩ đại số một của nước Mĩ
William E. Carter & Merri Sue Carter
Vào cuối thế kỉ 19, Newcomb đã xác định kích thước của hệ mặt trời với độ chính xác vô địch mãi cho đến tận hàng thập niên sau khi ông qua đời.
Bill Carter là phó giáo sư ở khoa Kĩ thuật dân sự và miền duyên hải tại trường Đại học Florida ở Gainessville. Con gái của ông, Merri Sue Carter, là một nhà thiên văn tại Đài quan sát Hải quân Mĩ ở Arizona.

Năm 1854, ở tuổi 19, Simon Newcomb đứng bên ngoài những cánh cổng của Đài quan sát Hải quân Mĩ ở thủ đô Washington khát khao được vào bên trong để xem những chiếc kính thiên văn và có lẽ còn gặp mặt một trong các nhà thiên văn ở đó. Nhưng ông chẳng biết làm sao mình được nhận vào; ông không phải là công dân Mĩ và chỉ có chút kiến thức thiên văn học mà ông có thể khẳng định rằng là do ông tự lượm lặt từ một vài cuốn sách đã cũ rích. Ông không thể mạo hiểm chịu nhục bị người ta đuổi ra, ông quyết định, và ông đã rời bước không tham gia cuộc thẩm vấn.1 Bảy năm sau, mùa thu năm 1861, Newcomb trở lại Đài quan sát Hải quân nhận vai trò giáo sư toán học. Sinh ra ở Canada, ông vẫn không phải là công dân Mĩ, nhưng quyết định bổ nhiệm ông làm sĩ quan hải quân do chính tay tổng thống Abraham Lincoln kí. Trong những năm tháng giữa hai lần đó, ông đã bỏ ra không biết bao nhiêu thời gian một mình nghiên cứu toán học và thiên văn học; làm việc như một ‗máy tính‘ tại Văn phòng Niên giám Hàng hải ở Cambridge, Massachusetts; tốt nghiệp Khoa Khoa học Lawrence ở trường Đại học Harvard; và đã thực hiện một chuyến hành trình gian khổ dài 4000km từ Cambridge đến các miền hoang dã ở miền trung Canada với tư cách là thành viên của đội khoa học người Mĩ tổ chức quan sát nhật thực toàn phần của Mặt trời.2 Chẳng phải Newcomb muốn tìm một chỗ đứng nào đó tại Đài quan sát Hải quân sau chuyến viếng thăm hụt của ông. Ông xem Cambridge là trung tâm trí tuệ của quốc gia và thích có một chỗ đứng ở Harvard hơn, hay có lẽ còn là một nhà toán học tại Văn phòng Niên giám Hàng hải nữa; nhưng cả hai điều đó đã không xảy ra. Là một giáo sư tại Đài quan sát Hải quân sẽ mang lại cho ông sự an toàn và một địa vị tôn kính trong cộng đồng khoa học, với thu nhập đủ để kết hôn và xây dựng gia đình. Và với đất nước ở vào những ngày đầu của một cuộc nội chiến, có nhiều lí do để người ta làm việc cho một cơ quan thiết yếu phục vụ cho chiến tranh.

38

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Một thế kỉ sau khi ông qua đời, thật khó mà tưởng tượng làm thế nào Newcomb có thể tìm được một vị trí phù hợp tốt hơn với những tài năng ngoại hạng và các tham vọng của ông. Thủ đô Washington không phải là trung tâm trí tuệ của quốc gia, nhưng nó là trung tâm quyền lực, nơi những mối giao tiếp thích hợp có thể mang lại sự ủng hộ cho nghiên cứu khoa học vượt xa những phương tiện mà đa số các viện học thuật có được. Chỉ vài tháng sau chuyến trở lại Washington của ông, Newcomb đã có đủ vận may gặp được người anh hùng thời Nội chiến General James Abram Garfield. Sau đó, Garfield thắng cử chương trình Sao Kim đi qua Mặt trời của người Mĩ và phụ trách việc mua sắm chiếc kính thiên văn khúc xạ có độ mở ống kính lớn nhất thế giới cho Đài quan sát Hải quân. Vào cuối thế kỉ 19, người ta cho rằng Newcomb là thiên văn học lừng danh nhất thế giới. Các học viện và hiệp hội khoa học châu Âu liên tục trao cho ông các vinh dự cao nhất của họ, trong đó có Huy chương Copley 1890, do Hội Hoàng gia London trao tặng. Những người bạn Mĩ thì tôn vinh những thành tựu của ông với những mức độ danh dự, và khi trao cho ông Huy chương vàng Catherine Wolfe Brune đầu tiên, Hội Thiên văn học Thái Bình Dương đã tuyên bố trong phần biểu dương của mình rằng ―ông đã đóng góp nhiều hơn bất kì người Mĩ nào khác kể từ thời [Benjamin] Franklin để làm cho nền khoa học Mĩ được tôn vinh và trọng vọng trên toàn khắp thế giới‖.

Hình 1. Simon Newcomb, khoảng năm 1871, năm ông được bổ nhiệm làm thư kí Ủy ban Sao Kim đi qua Mặt trời của Mĩ. Ông sinh ở Wallace, Nova Scotia, Canada, vào ngày 12/03/1835, là con của John Burton Newcomb, một giáo viên tiểu học công tác lưu động, và Emily Prince, con gái của chánh án New Brunswick (Ảnh: Đài quan sát Hải quân Mĩ)

Một bản kê đầy đủ nhiều thành tựu của Newcomb về thiên văn học, toán học, vật lí học và kinh tế học nằm ngoài phạm vi của bài báo này. Thật vậy, bộ sưu tập các công trình nghiên cứu của ông lưu giữ ở Thư viện Quốc hội chứa hơn 46.000 đề mục. Chúng ta tập trung vào những đóng góp của Newcomb cho một trong những vấn đề thiên văn học trọng điểm của thời kì ông: đó là xác định chính xác đơn vị thiên văn, khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời. Newcomb đã làm mọi thứ ông có thể để đảm bảo cho sự thành công của những chiến dịch to lớn của người Mĩ nhằm xác định chính xác hơn đơn vị thiên văn bằng cách quan sát sự đi qua của Kim tinh vào năm 1874 và 1882. Tuy vậy, ông cũng đã sắp đặt một cách độc lập một con đường khác để đi đến cùng mục tiêu đó. Cuối cùng, ông đã thành công trong việc suy luận ra một giá trị chính xác hơn sớm hơn, với chi phí rất thấp, và không phải rời khỏi Washington3.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

39

Sự đi qua của Kim tinh
Trong số những cuốn sách Newcomb đọc và tìm ra lối đi cho mình là cuốn Những nguyên lí toán học của Triết học tự nhiên của Isaac Newton, thường được gọi gọn là cuốn Principia. Ông bị gây ấn tượng sâu sắc bởi phát triển của Newton về các phương trình của chuyển động đối với các vật thể trong hệ mặt trời (xem phần chữ trong bảng bên dưới), nhưng ông đã thất vọng, giống như những người khác trước ông từng như thế, nhận thấy giá trị của hằng số hấp dẫn vũ trụ G và khối lượng M của Mặt trời – hay ít nhất là tích của chúng, GM – là cần thiết để tính toán rõ ràng bán trục lớn của quỹ đạo Trái đất, hoặc bán trục lớn của bất kì hành tinh nào khác. Mặt trời vẫn là một bí ẩn, và cho đến khi cơ sở vật lí của phần bên trong của nó được hiểu tốt hơn, vẫn có một chút hi vọng cho người ta ước tính chính xác khối lượng của nó.
Hình 2. Camera do Simon Newcomb thiết kể để chụp ảnh các lần Kim tinh đi qua Mặt trời năm 1874 và 1882. Một chiếc kính định nhật dõi theo Mặt trời và phản xạ ánh sáng của nó qua một kính thiên văn đặt cố định, nơi đó ảnh được tập trung lên một tấm kính ảnh thủy tinh. Một tấm kính khác, được kẻ một mạng lưới các đường ngang dọc và một sợi dây mỏng thẳng đứng gắn với một quả lắc thẳng đứng, nằm ngay phía trước tiêu diện, tạo ra các đường ngang dọc trên ảnh của Mặt trời, như thể hiện trong hình 3. Các đường ngang dọc được dùng để xác định vị trí của Kim tinh tương đối so với tâm của Mặt trời thay vì so với các rìa biên khó định rõ của nó. Hàng trăm ảnh chụp phim như vậy có thể thực hiện khi Kim tinh đi qua phía trước Mặt trời (Ảnh: Đài quan sát Hải quân Mĩ)

Người cuối cùng trong số những người vĩ đại
Simon Newcomb chưa bao giờ nghi ngờ tính đúng đắn cơ bản của vật lí học Newton và cho rằng bất kì dị thường biểu kiến nào trong chuyển động quan sát thấy của các hành tinh và vệ tinh trong hệ mặt trời đều có thể giải thích bởi những tính toán không hoàn hảo các tương tác hấp dẫn giữa chúng. Nghĩa là, cho đến khi ông xét lại vấn đề tiến động dị thường của quỹ đạo Thủy tinh, do nhà thiên văn học người Pháp Urbain Le Verrier khám phá ra năm 1855. Sử dụng những quan sát tốt nhất mà ông có thể thu được, năm 1882, Newcomb đã tìm thấy sự không khác nhau ở độ tiến động 43 giây mỗi thế kỉ, thậm chí còn lớn hơn giá trị 38 giây mỗi thế kỉ do Le Verrier tìm ra. Vật lộn để giải thích những kết quả tìm kiếm của mình, Newcomb đề xuất rằng phải có một đĩa vật chất nằm ở những vùng bên trong của hệ mặt trời với khối lượng đủ để làm nhiễu quỹ đạo của Thủy tinh. Ông còn sẵn sàng xem xét khả năng lực hút hấp dẫn không giảm chính xác theo bình phương khoảng cách giữa các vật thể. Một sự gia tăng nhỏ ở số mũ sẽ giải thích được các quan sát đó. Nhưng Newcomb tiếp tục xem sự tiến động dị thường của quỹ đạo Thủy tinh là một bài toán chưa có lời giải để dành cho các nhà thiên văn 8 học tương lai giải quyết . Vấn đề được làm sáng tỏ năm 1915 khi Albert Einstein công bố lí thuyết tương đối rộng của ông. Sự méo không-thời gian gây ra bởi trường hấp dẫn của Mặt trời làm thay đổi sự tiến động như trông đợi của quỹ đạo Thủy tinh đến gần như đúng bằng giá trị mà Newcomb tìm ra. Tất nhiên Einstein cảm thấy hài lòng với sự phù hợp gần gũi giữa những kết quả tìm kiếm của Newcomb và lí thuyết tương đối rộng của ông. Những năm sau này, trả lời một câu hỏi của người con gái trưởng của Newcomb, Anita Newcomb McGee, Einstein đã viết rằng cuộc đời nghiên cứu của Newcomb “có tầm quan trọng bất hủ đối với thiên văn học” và rằng ông là “người cuối cùng trong số những người vĩ đại… từng tính toán thận trọng các chuyển động trong hệ mặt trời”.

40

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Trong cuốn sách năm 1663 của ông, Optica Promota, nhà toán học và thiên văn học người Scotland, James Gregory, đề xuất rằng người ta sẽ có thể xác định chính xác khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời, bằng cách so sánh các quan sát, thực hiện ở các trạm phân bố rộng rãi có kinh độ và vĩ độ đã biết, khi Kim tinh đi qua giữa hai vật thể đó. Những lần đi qua đó của Kim tinh hiếm gặp trong vòng tuổi thọ của một người. Chúng xảy ra thành cặp, một lần đi qua cách lần kia tám năm, nhưng bản thân các cặp cách nhau hơn một thế kỉ. Năm 1716, Edmond Halley đã đệ trình lên Hội Hoàng gia London một đề xuất gồm một kế hoạch chi tiết nhằm thu thập các quan sát đi qua đó, mặc dù ông biết rằng ông không có khả năng sống để mà thấy cặp đi qua tiếp theo vào năm 1761 và 1769. Halley mất năm 1742, nhưng phần nhiều chương trình quan sát do ông đề xuất đã được thực hiện.
Hình 3. Tấm phim chụp này, chụp Kim tinh ở gần điểm chính giữa trong lần nó đi qua Mặt trời năm 1882, là một trong số vài tấm phim ít ỏi như thế còn lưu giữ được đến nay. Ban đầu, hàng ngàn tấm phim đã được các đội người Mĩ chụp trong các lần đi qua năm 1874 và 1882 (Ảnh: Đài quan sát Hải quân Mĩ)

Newcomb có lí do để cho rằng ông sẽ sống để nhìn thấy những lần đi qua năm 1784 và 1882 của Kim tinh và ông sẽ có khả năng tham gia vào bất kì chiến dịch quan sát nào do người Mĩ thực hiện. Thập niên đầu tiên của ông tại Đài quan sát Hải quân đã trôi qua. Về mặt nhân cách của cuộc đời ông, ông đã trở thành một công dân Mĩ, đã lấy vợ, hoan hỉ với sự ra đời của ba cô con gái và thương tiếc tiễn đưa người con trai mới sinh đã qua đời. Về phương diện sự nghiệp, ông đã bắt đầu các quan sát cho một catalog sao sáng cơ bản mới, hoàn thành một nghiên cứu về quỹ đạo của Thiên vương tinh và Hải vương tinh, và đã đến Iowa để quan sát một lần nhật thực. Năm 1869, ông được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học quốc gia, và năm 1870, ông đã thực hiện chuyến hành trình xuyên Đại Tây Dương đầu tiên của mình sang châu Âu để quan sát một kì nhật thực và gặp gỡ các nhà thiên văn học hàng đầu của nước Anh, Pháp, Đức, và Nga.
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

41

Mặc dù bị bao vây bởi công việc, nhưng Newcomb vẫn tìm được thời gian nghĩ tới sự tiếp cận nhanh chóng lần đi qua năm 1874 của Kim tinh. Ông biết rằng các quốc gia châu Âu sẽ tổ chức những chương trình đặc biệt nhằm quan sát sự kiện đó. Nếu Quốc hội có thể phê chuẩn tài trợ cho một chương trình của người Mĩ, Newcomb muốn làm mọi thứ ông có thể để đảm bảo rằng các kết quả ít nhất là có chất lượng ngang bằng, nếu không tốt hơn, kết quả của người châu Âu. Các phương pháp truyền thống quan sát một lần đi qua là ghi lại những khoảng thời gian chính xác khi rìa của hành tinh và Mặt trời dường như đi vào tiếp xúc nhau – hai lần khi hành tinh đi lên bề mặt Mặt trời và hai lần khi nó đi ra khỏi4. Chuyển động tương đối giữa Kim tinh và Mặt trời, khi nhìn từ Trái đất, thật chậm. Thông thường, mất khoảng 20 phút giữa lần tiếp xúc thứ nhất và thứ hai, và 20 phút giữa lần tiếp xúc thứ ba và thứ tư, xảy ra vài giờ sau đó. Newcomb biết rằng các nhà quan sát khác nhau ở cùng một nơi thường không đồng ý với nhau về thời gian của mỗi lần tiếp xúc. Sự khác biệt đủ lớn cho thuyền trưởng James Cook ghi lại mối quan ngại của ông về độ chính xác của các quan sát do các thành viên của đội thám hiểm của ông thu nhặt ở Papeete, Tahiti, năm 1769. Các ước tính của đơn vị thiên văn do các nhà quan sát khác nhau suy luận ra bằng các quan sát của lần đi qua năm 1769 chênh lệch nhau đến 5% - xấp xỉ 7,5 triệu kilomet. Một trở ngại trong việc quan sát các lần đi qua bằng mắt là không có cách nào cho các quan sát thực hành cả. Bốn lần tiếp xúc hành tinh-Mặt trời xảy ra một lượt, hay nhiều nhất là hai lượt, trong một đời người khó mà mang lại cơ hội để rèn kĩ năng. Nhưng có một trở ngại còn cơ bản hơn nữa: Mặt trời không có biên ngoài rõ nét, cố định. Mỗi người quan sát phải vạch ra một rìa bằng mắt riêng của mình. Newcomb kết luận rằng hi vọng duy nhất của việc thu thập quan sát của những lần đi qua sắp tới sẽ mang lại một ước tính của đơn vị thiên văn tốt hơn 1%, khoảng 1,5 triệu kilomet, là sử dụng công nghệ chụp ảnh đang ra đời. Newcomb được bổ nhiệm làm thư kí của Ủy ban về Sự đi qua của Kim tinh của người Mĩ vào năm 1871 (hình 1). Trách nhiệm của ông là chuẩn bị thông tin mang tính chương trình và dự toán ngân quỹ để đệ trình với Quốc hội. Garfield, chủ tịch Ủy ban phân bổ ngân sách của Thượng viện Mĩ, đã mời Newcomb đến nhà riêng của ông để thảo luận công việc trong buổi ăn tối. Không có chuyện các chính khách tra hỏi các nhà khoa học về từng đồng tiền đầu tư. Bản thân Garfield sẽ lái hướng các yêu cầu ngân sách trước Quốc hội, với Newcomb cung cấp bất kì thông tin nào cần thiết khi quá trình được triển khai. Trong quãng thời gian tồn tại của chương trình tám năm, chỉ riêng các phân bổ đặc biệt, không bao gồm tài trợ chung, đã cộng lên tới 375000 đô la, tức hơn 7 triệu đô la theo mệnh giá năm 2009. Dựa trên lời khuyên từ các chuyên gia có kinh nghiệp chụp ảnh Mặt trời, Newcomb đã thiết kế ra một chiếc camera mới và độc nhất vô nhị gồm một kính thiên văn định nhật tiêu cự dài, và một tấm phim lắp ráp5 (xem hình 2 và 3). Trong khi camera đang được chế tạo thì ông chuẩn bị những tài liệu chi tiết để đảm bảo rằng các quan sát do những đội người Mĩ thực hiện sẽ có độ chính xác cao nhất khả dĩ.

42

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Việc xác định kinh độ ở những nơi xa xôi vẫn là một thách thức. Ngay cả những chiếc đồng hồ tốt nhất có sẵn khi đó cũng sẽ bị lệch hàng giây trong hàng tuần mà các đội quan sát di chuyển đến những nơi xa xôi hơn. Các so sánh thời gian điện báo thì không tiện lợi cho lắm và thường không xác thực, hoặc không thể thực hiện, đặc biệt khi chúng hoạt động trên các tuyến cáp xuyên đại dương hỏng hóc thường xuyên. Bằng cách quan sát những lần che khuất Mặt trăng khi những ngôi sao đã biết đi phía sau rìa của Mặt trăng, các nhà quan sát có thể xác định chính xác kinh độ, sử dụng một đồng hồ vẫn giữ ổn định trong những khoảng thời gian ngắn cỡ vài giờ. Newcomb đã khổ sở nhận thấy các bảng số liệu Mặt trăng tốt nhất sẵn có khác đáng kể với những quan sát gần đó, nên ông đã sáng tạo ra những bảng đặc biệt cho các đội quan sát sự đi qua sử dụng.
Hình 4. Đo vận tốc ánh sáng. Trong thí nghiệm của Simon Newcomb, một kính định nhật phản xạ ánh sáng mặt trời lên một khe có thể điều chỉnh nằm ở tiêu diện của một thấu kính, tạo ra một chùm sáng chuẩn trực. Ánh sáng phản xạ khỏi một cái gương quay bốn mặt, truyền đến và phản xạ khỏi một gương ở xa, và sau đó phản xạ lên thị kính của người quan sát. Góc giữa đường truyền và đường nhận, được bù theo phương thẳng đứngd để tránh ánh chói ở thị kính, được chỉnh sao cho ảnh phản hồi của khe có thể tập trung lên bằng cách điều chỉnh tinh vi vận tốc góc của gương quay. Số vòng quay của gương trong khi ánh sáng truyền đến và phản xạ khỏi gương phản xạ ở xa chia cho vận tốc góc của nó cho ta thời gian truyền trọn một vòng của ánh sáng. Gương quay nằm trên một trục kim cương và được lái – thông thường ở tốc độ 200-250 vòng/s – bằng một cặp tuabin khí, một ở trên và một ở dưới, hoạt động phối hợp với nhau để giảm tối đa sự xoắn của gương. Mỗi tuabin có các cặp dòng khí có thể điều chỉnh được cho phép người quan sát xoay gương theo mọi hướng và điều chỉnh tinh vi vận tốc góc của nó.

Newcomb không hề tham gia bất kì đội nào gửi đi quan sát sự đi qua năm 1874. Ông cũng không tiến hành các quan sát ước tính đơn vị thiên văn – nhiệm vụ đó giao cho William Harkness, một giáo sư toán học khác tại Đài quan sát Hải quân. Newcomb thật sự có đi Nam Phi để quan sát sự đi qua năm 1882, nhưng chủ yếu là để gặp David Gill, giám đốc Đài quan sát Hoàng gia tại Mũi Hảo Vọng, người chia sẻ niềm say mê của Newcomb tìm kiếm kết quả

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

43

tốt hơn cho kích thước của hệ mặt trời. Newcomb cũng muốn đi khỏi Washington và thư giãn đầu óc của ông sau cái chết của Garfield. Garfield được bầu làm tổng thống năm 1880. Ngày 02/07/1881, ông bị một kẻ ám sát bắn trúng. Newcomb đã hỗ trợ sáng chế ra một đơn vị điều hòa không khí cho phòng bệnh ở Nhà Trắng và sắp xếp cho Alexander Bell chế tạo một cái cân cảm ứng để giúp các bác sĩ tìm kiếm viên đạn nằm trong bụng của vị tổng thống. Thật thảm thương, Garfield đã chịu đựng hơn 10 tuần trước khi qua đời vì bị nhiễm trùng bụng quá nặng. Newcomb hết sức đau lòng trước cái chết của vị chính khách ―duy nhất thật sự đáng kính‖ mà ông từng biết.

Các thí nghiệm vận tốc ánh sáng
Bắt đầu với những ý tưởng rất sớm của ông về việc suy luận ra đơn vị thiên văn từ các quan sát những lần đi qua của Kim tinh, Newcomb đã nghi ngờ sâu sắc về độ chính xác mà phương pháp đó có thể thu được. Ông đã khảo sát những cách tiếp cận khác nhằm giải quyết vấn đề và dừng lại ở một phương pháp khác. Năm 1725, nhà thiên văn học người Anh James Bradley phát hiện thấy toàn bộ các sao mà ông quan sát dường như chuyển động trong những elip nhỏ có chu kì hàng năm và bán trục lớn khoảng 20,5 giây cung. Ông kết luận rằng hướng biểu kiến của ánh sáng sao đi đến Trái đất bị biến đổi bởi vận tốc của Trái đất trên quỹ đạo quay của nó, tương đối so với vận tốc hữu hạn của ánh sáng. Bradley gọi hiệu ứng đó là sự quang sai của ánh sáng, và ông đã sử dụng một giá trị gần đúng cho vận tốc của Trái đất để ước tính vận tốc ánh sáng. Newcomb thì đưa ra thủ tục ngược lại, kết hợp một giá trị chính xác hơn cho vận tốc của ánh sáng với những phép đo mới cải tiến gần đó của sự quang sai ánh sáng để ước tính chính xác hơn vận tốc của Trái đất trên quỹ đạo của nó. Việc kết hợp vận tốc ánh sáng với chu kì quỹ đạo sẽ mang lại chu vi và bán trục lớn của quỹ đạo. Chẳng có quyền lực gì để buông lơi nhiệm vụ được phân công của ông tại Đài quan sát Hải quân, cũng chẳng có thiết bị cần thiết để kiểm tra các thí nghiệm vận tốc ánh sáng, Newcomb đành cố gắng khuấy động niềm say mê trong cộng đồng vật lí học. Thật không may, một thập niên trôi qua và chẳng ai dừng bước đoái hoài gì tới nhiệm vụ đó. Năm 1877, khi Newcomb trở thành sĩ quan thuộc Văn phòng Niên giám Hải quân, cơ quan đã chuyển từ Cambridge về thủ đô Washington, ông lập tức bắt đầu đi tìm tài trợ để tự ông tiến hành các thí nghiệm. Newcomb thật ngạc nhiên khi ông nhận được một bức thư, đề ngày 26 tháng 4 năm 1878, gửi từ Albert Michelson, một viên sĩ quan hải quân trẻ được phân công đến giảng dạy vật lí tại Học viện Hải quân Mĩ. Michelson lưu ý rằng ông đã đọc các kế hoạch của Newcomb nhằm đo chính xác hơn vận tốc của ánh sáng và sau đó mô tả các thí nghiệm ông đang thẩm tra. Newcomb đã đi thăm Michelson ở Annapolis, Maryland, và hết sức có ấn tượng. Khi Thượng viện cuối cùng đã phê chuẩn đề xuất của Newcomb về số tiền tài trợ 5000 đô la, Michelson đã được điều động đến Washington để hỗ trợ cho các thí nghiệm.

44

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Mùa hè năm 1880, Newcomb và Michelson đã làm việc cùng nhau để lắp đặt thiết bị của Newcomb trong một đài quan sát tạm thời, nhỏ, nằm cao trên thượng nguồn con sông Potomac, trên nền đất Fort Whipple (được đặt tên lại là Fort Myer vào năm 1881), cách Nghĩa trang quốc gia Arlington không xa lắm6. Các thí nghiệm đã sử dụng gương quay bốn mặt như trong hình 4 để gửi các xung ánh sáng đến một kính phản xạ đặt tại Đài quan sát Hải quân cũ ở Foggy Bottom, hoặc đến một kính phản xạ ở xa hơn nằm cách góc phía tây bắc của Đài tưởng niệm Washington chỉ vài mét. Các đoạn đường thẳng được xác định chính xác bởi Cục khảo sát đo đạc và miền duyên hải, sử dụng một vạch ranh giới thiết lập trên đảo Analostan (nay là đảo Theodore Roosevelt), và phép đo tam giác đạc. Bản đồ chi tiết xem ở hình 5. Cách thức Newcomb làm chủ để đo chính xác những khoảng thời gian một vài chục micro giây – cho đến chưa đầy một micro giây – cần giải thích một chút. Vào nửa cuối thế kỉ 19, sự kết hợp các tiếp xúc điện, hay các điểm ngắt, và rơle hay solenoid được định lượng như công nghệ gờ trước cánh máy bay. Nó cho phép tắt mở nhanh chóng, xác thực, và tự động các dụng cụ điện trước khi có phát triển bóng chân không hay transistor.

Hình 5. Địa điểm của đài quan sát tạm thời và các gương phản xạ do Simon Newcomb và Albert Michelson sử dụng trong các thí nghiệm vận tốc ánh sáng ở thủ đô Washington. Bản đồ cũng cho thấy mạng lưới tam giác đạc do Cục Khảo sát đo đạc và miền duyên hải sử dụng để đo khoảng cách từ gương quay (minh họa trong hình 4) ở Fort Myer, đến các gương phản xạ tại Đài quan sát Hải quân (2550,95 mét) và Đài tưởng niệm Washington (3721,21 mét). Các thí nghiệm được thực hiện trước khi các đầm lầy theo triền sông Potomac bị lấp đầy và trước khi các tượng đài Jefferson và Lincoln được xây dựng (Nguồn: Đài quan sát Hải quân)

Newcomb đã sử dụng một đồng hồ cơ có các kim lắp đặt trong trạng thái hoạt động của nó. Các kim được sử dụng để kích hoạt một solenoid trong bộ phận bút ghi của một trống thì kế và tạo những dấu tíc ở những thời điểm đã biết trên trục thời gian do thì kế vẽ nên. Tín hiệu từ các kim trên bộ phận gương quay cũng được nối với thì kế, và những dấu tíc chúng tạo ra được ghi lại trên cùng trục đó. Sau khi hoàn thành một bộ quan sát, Newcomb đã có thể xác định thời điểm của những dấu tíc tạo ra bởi gương quay bằng cách đo vị trí tương đối của chúng so với những thời điểm đã biết của các dấu tíc đồng hồ. Bằng cách lấy trung bình trên nhiều nghìn sự kiện như vậy, Newcomb có thể xác định vận tốc góc trung bình của

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

45

gương quay và thu được độ phân giải thời gian cần thiết cho các thí nghiệm vận tốc ánh sáng của ông. Newcomb và Michelson đã phối hợp chặt chẽ với nhau chỉ trong vài tháng, nhưng sự hợp tác chính của họ tỏ ra là một điểm mốc quan trọng trong cuộc đời của Michelson. Sau khi nhận được tài trợ rời khỏi cơ quan hải quân đến theo đuổi nghiên cứu tiến sĩ ở châu Âu, Michelson đã rời bỏ trọng trách của ông vào năm 1881 và chấp nhận một vị trí làm giáo sư tại Khoa Khoa học ứng dụng ở Cleveland, Ohio. Newcomb đã khuyến khích ông tiếp tục các thí nghiệm vận tốc ánh sáng – thậm chí còn giúp tìm tài trợ và cho ông mượn thiết bị. Cuối cùng, Newcomb và Michelson đã thống nhất với nhau kết hợp các giá trị thu được từ Annapolis, Washington, và các thí nghiệm Cleveland. Giá trị thu được được chấp nhận rộng rãi và vẫn được xem là chuẩn trong hơn bốn thập kỉ7.

Ước tính đơn vị thiên văn
Khi Newcomb trở lại từ Nam Phi vào năm 1883, ông đã hoàn thành phân tích của ông về các thí nghiệm vận tốc ánh sáng Washington và đã công bố một báo cáo chi tiết8. Sau khi xem xét những ước tính mới được công bố về quang sai ánh sáng, ông đã chọn giá trị mà nhà thiên văn học người Thụy Điển Magnus Nyren tìm ra, người có các quan sát được thu thập tại Đài quan sát Pulkovo ở Saint Peterburg, Nga. Kết hợp các giá trị vận tốc ánh sáng của ông và quang sai ánh sáng của Nyren, Newcomb đã ước tính đơn vị thiên văn vào khoảng 149,59 triệu km, nằm trong khoảng 0,005% giá trị được sử dụng ngày nay. Năm năm sau đó, vào tháng 10 năm 1888, Harkness đã công bố những kết quả ban đầu của những phân tích của ông về các quan sát sự đi qua; ông ước tính đơn vị thiên văn là 148,572 triệu km, nhỏ hơn tới 1 triệu km9. Mặc dù Harkness và các đồng sự của ông đã trau chuốt các tính toán của họ vào năm sau đó, nhưng độ chính xác của giá trị mới của họ vẫn không đạt tới giá trị mà Newcomb thu được với chi phí thấp hơn nhiều.

Sự sụp đổ chính trị
Một người tài năng như Simon Newcomb, phần nhiều sự thăng tiến nhanh chóng của ông trong cộng đồng khoa học quốc gia và quốc tế là nhờ sự ủng hộ của những người bạn đầy quyền lực và những người cố vấn, trong đó có Josseph Henry (thư kí của Viện Smithsonian), Benjamin Peirce (sĩ quan Cục đo đạc và Miền duyên hải), George Airy (nhà thiên văn học hoàng gia ở nước Anh), và đặc biệt là James Garfield. Cuối năm 1881, Henry, Peirce, và Garfield đều qua đời, còn Airy thì nghỉ hưu. Những khinh suất trước đây, cho dù tưởng tượng hay thực sự, không dễ gì được tha thứ ở thủ đô của quốc gia, và Newcomb nhận thấy nguồn quỹ của ông bị đe dọa. Thay vì dành thời gian của ông để tranh giành chính trị, Newcomb quyết định làm khoa học tốt nhất mà ông có thể với các tài nguyên ông tranh thủ được. Với sự chấp thuận của thư kí hải quân, ông đảm nhận vị trí giáo sư toán học và thiên văn học tại trường Đại học Johns Hopkins ở Baltimore, Maryland, đồng thời vẫn giữ vai trò sĩ quan thuộc Văn phòng
46
http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Niên giám Hàng hải. Với tư cách là giáo sư, Newcomb đã thuyết giảng, phục vụ trong các ủy ban cố vấn cho sinh viên, viết một cuốn sách vi tích phân, lấy lại niềm say mê của ông với kinh tế học, và giữ vai trò biên tập viên của Tập san Toán học Hoa Kì. Năm 1893, Đài quan sát Hải quân chuyển đến những cơ sở mới ở tây bắc thủ đô Washington, nơi nó tồn tại cho đến ngày nay; năm sau đó, thư kí hải quân đã thực hiện một điều chỉnh đưa Văn phòng Niên giám Hàng hải thành một cơ sở của Đài quan sát Hải quân. Newcomb khinh khỉnh trước cấu trúc quan liêu mới đó, dẫu vậy, ông vẫn tiếp tục theo đuổi kế hoạch riêng của mình, thường trao đổi trực tiếp với thư kí hải quân. Tập trung vào những mục tiêu mà ông đặt ra cho bản thân mình trước đó hàng thập kỉ, ông đã làm việc không biết mệt mỏi để suy ra một bộ hằng số thiên văn thích hợp và hoàn thành một bản phân loại sao sáng cơ bản hầu như sử dụng hết các quan sát thu thập tại các đài quan sát hàng đầu của thế giới kể từ năm 1750. Năm 1896, tại Hội nghị quốc tế Paris về các hằng số cơ bản, các đại biểu đến từ các quốc gia hàng đầu châu Âu đã phê chuẩn, về nguyên tắc, hệ thống Newcomb – tức là bảng các thông số hệ mặt trời của ông (khối lượng các hành tinh, chu kì quay, và đơn vị thiên văn) và các vị trí sao. Newcomb bị buộc nghỉ hưu khỏi lực lượng hải quân vào năm sau đó, nhưng Thượng viện tài trợ thích đáng cho ông để triển khai tiếp tục những phần việc còn lại của công trình nghiên cứu của ông. Hệ thống của ông trở thành chuẩn quốc tế vào năm 1901 – trừ ở Mĩ. Những oán thù cũ, phát sinh bởi việc Newcomb tham gia với các nhà thiên văn khác thúc đẩy việc đưa Đài quan sát Hải quân dưới sự lãnh đạo của một nhà thiên văn danh tiếng và có lẽ còn chuyển nó sang một bộ khác thuộc chính phủ, khiến ông không còn được hoan nghênh ở đó nữa. Ông chắc chắn không thể toại nguyện nhìn thấy hệ thống của ông được sử dụng ở Phòng Niên giám Hàng hải Mĩ. Mãi cho đến năm 1912, sau khi ông qua đời, thì hệ thống của Newcom mới thật sự trở thành chuẩn tại phòng Niên giám Hàng hải. Newcomb đã bỏ ra thập kỉ cuối cùng của cuộc đời ông nghiên cứu về cái ông xem là thách thức tối hậu – tiên đoán chính xác các chuyển động của Mặt trăng. Không có tài trợ để thuê một đội máy tính, ông buộc phải từ bỏ phương pháp mới mà ông đã thiết lập ba thập kỉ trước đó và theo đuổi một phương pháp đã được chứng minh và ít tính toán hơn. Năm 1903, Học viện Carnege ở Washington bắt đầu tài trợ cho nghiên cứu của ông. Ngày 11 tháng 7 năm 1909, chỉ vài ngày sau khi hoàn thành các tính toán mặt trăng của ông, Newcomb đã không thể kháng nổi sự tàn phá đau đớn của chứng ung thư bàng quang. Ba ngày sau, tổng thống William Howard Taft, thư kí hải quân George Meyer, các đại sứ và bộ trưởng của một số nước, cùng với gia đình của ông, các đồng nghiệp trong lĩnh vực khoa học, và bạn bè, đã dành cho một phút mặc niệm sau khi an táng ông với đầy đủ nghi thức quân sự tại Nghĩa trang quốc gia Arlington. Thật hợp lí, mộ táng của Newcomb nằm cao phía trên dòng sông Potomac trên cùng dải đất nơi ông đã dựng lên một đài quan sát tạm thời để tiến hành các thí nghiệm cho phép ông xác định kích cỡ của hệ mặt trời tốt hơn bất kì ai có thể làm trước đó – thật vậy, tốt hơn cả bất kì ai sẽ làm được trong hàng thập kỉ sau khi ông qua đời.
Tài liệu tham khảo: © hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

47

HiepKhachQuay dịch (theo Physics Today, số tháng 2/2009)

48

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Arthur Robert Kantrowitz
Arthur Robert Kantrowitz, một nhà vật lí và kĩ sư lỗi lạc, đã qua đời vì chứng liệt tim, ở tuổi 95, tại New York, vào hôm 29 tháng 11 năm 2008. Những đóng góp quan trọng nhất của Arthur cho vật lí học gồm có công trình mang tính đột phá của ông về các chùm phân tử cường độ cao, vật lí học sóng xung kích, và động lực học chất khí nhiệt độ cao. Arthur sinh ngày 20 tháng 10 năm 1913, ở Bronx, New York. Sau khi tốt nghiệp trung học, cha mẹ của ông muốn ông học y khoa. Mặc dù ông và người em trai Andrian của mình có chung một ước mơ thời thơ ấu là chế tạo một trái tim nhân tạo giúp ích cho nhân loại vào một ngày nào đó, nhưng Arthur yêu thích vật lí và khoa học kĩ thuật hơn. Năm 1930, ông vào trường Đại học Columbia học vật lí. Người thầy mà ông quý mến, I.I Rabi, sau này trở thành cố vấn và người bạn tốt của ông. Sau khi lấy bằng cử nhân, năm 1934, và bằng thạc sĩ, cũng ngành vật lí, năm 1936, Arthur làm việc với tư cách một nhà vật lí hàng không tại Trung tâm Nghiên cứu Langley thuộc Ủy ban cố vấn quốc gia về Hàng không (NACA), tiền thân của NASA. Ông làm việc ở đó cho đến năm 1946. Tại NACA, Arthur nhanh chóng thể hiện bản thân ông là một chuyên gia trong lĩnh vực động lực học chất khí. Nghiên cứu của ông về sự hình thành, truyền sóng xung kích, và tính ổn định trong các dòng chảy siêu thanh là một đóng góp quan trọng cho nỗ lực Thế chiến thứ hai. Trong hàng thập kỉ sau đó, nghiên cứu của Arthur tỏ ra thiết yếu cho sự thiết kế và phát triển các máy khuếch tán và máy bay phản lực siêu thanh, các máy nén, và động cơ phản lực tuabin. Năm 1941, Arthur quyết định làm việc bán thời gian tại Columbia và lấy bằng tiến sĩ. Rabi đề nghị ông kiến nghị Edward Teller làm người hướng dẫn luận án của ông. Teller lúc đầu từ chối, nhưng ông đã thay đổi quan điểm sau khi đọc qua dự thảo luận án của Arthur về phép đo thời gian hồi phục dao động của các phân tử cacbon đi-ôxit, sử dụng các phép đo hàng không đơn giản. Teller ấn tượng trước tài năng và sự khéo léo của Arthur nên ông không những đồng ý làm hướng dẫn của Arthur mà còn cho ông trở lại Langley để hoàn tất nghiên cứu của mình và viết luận án của ông mà không cần giám sát. Năm 1946, năm trước khi ông lấy bằng tiến sĩ, Arthur bắt đầu làm việc với tư cách giáo sư tại khoa kĩ thuật hàng không mới mở của trường Đại học Cornell. Ông còn được bổ nhiệm làm giáo sư vật lí kĩ thuật.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

49

Tại Cornell, Arthur đã chỉ dẫn nghiên cứu mang tính đột phá về các chùm phân tử với chàng nghiên cứu sinh đầu tiên của ông, Jerry Grey. Bằng cách sử dụng tính chất tự chuẩn trực của các dòng chảy vòi siêu âm mạnh, họ đã chứng minh được rằng cường độ chùm phân tử có thể tăng lên hàng bậc độ lớn so với các dòng tuôn trào mà Otto Stern và Rabi đã sử dụng đưa đến giải thưởng Nobel tương ứng của họ vào năm 1943 và 1944. Các mở rộng thêm nữa của phương pháp ―chùm vòi‖ của Arthur đã mang lại ít nhất là hai giải Nobel khác, cho Yuan Tseh Lee và Dudley Herschbach năm 1986 và John Fenn năm 2002. Là một người thầy đầy cảm hứng, Arthur đã đào tạo nhiều sinh viên xuất sắc sau này giữ vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp hàng không và giáo dục học bậc cao. Để chống lại mối đe dọa chiến lược tiềm tàng từ phía Liên Xô, vào cuối năm 1954, Arthur đã đảm đương thách thức đi giải trong thời gian ngắn nhất có thể bài toán giữ đầu nổ của một tên lửa đạn đạo xuyên lục địa khỏi bốc cháy trong hành trình siêu thanh quay trở lại khí quyển. Ông đã thuyết phục chính phủ Mĩ rằng thông tin quan trọng để thiết kế lá chắn nhiệt có thể tồn tại cho các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa có thể thu được hiệu quả hơn từ phương pháp ống xung kích mới được nhóm của ông phát triển gần đấy tại Cornell để tái tạo sóng xung kích mạnh và các mẫu không khí nhiệt độ cao (hơn 104 K) so với các thí nghiệm tên lửa siêu thanh nhiều tầng. Một ―chương trình cấp tốc‖ sáu tháng đã được Không quân Mĩ tài trợ cho mục đích đó đã hoàn thiện thành công vào năm 1955. Công việc được thực hiện tại Phòng Nghiên cứu Avco Everett mới mở do Arthur lãnh đạo và bố trí nhiều nhân viên là sinh viên tốt nghiệp ở Cornell. Năm 1956, Arthur rời Cornell đến làm việc trọn thời gian tại Avco Corp, ban đầu là giám đốc chi nhánh AERL của nó, sau đó là phó giám đốc rồi giám đốc công ti. Sau khi Liên Xô phóng Sputnik 1 vào tháng 10 năm 1957, nghiên cứu tăng cường về nền vật lí quay về khí quyển tại AERL dưới sự lãnh đạo của Arthur đã dẫn tới sự hiểu biết tốt hơn về tính phức tạp của việc nhận ra toàn bộ các đầu nổ hạt nhân trong pha cuối của những đợt tấn công vệ tinh hoặc tên lửa đạn đạo xuyên lục địa sao cho chúng có thể bị phá hủy hoặc vô hiệu hóa trước khi chạm tới mục tiêu dự định của chúng. Nghiên cứu sau đó về sự ăn mòn dần, động lực học sóng xung kích, và bức xạ phi cân bằng đã giúp Avco thiết kế và chế tạo thành công các lá chắn nhiệt cho sự quay về khí quyển của phi thuyền Apollo. Từ giữa thập niên 1960 đến cuối thập niên 1970, AERL đã mở rộng khi nó đảm nhận nhiều dự án nghiên cứu hơn nữa. Lúc ấy, danh tiếng của phòng thí nghiệm đã đảm bảo một dòng liên tục những tài năng trẻ đến tăng cường cho đội ngũ kĩ sư và nhà khoa học tại đó. Arthur tiếp tục chỉ đạo các dự án nghiên cứu và lập ra cho mỗi dự án một ủy ban kĩ thuật được phân bố tối ưu các tài năng chuyên môn và liên ngành. Sự lãnh đạo của ông đối với sự cách tân và sở trường chuyên nghiệp trong những dự án đó đã đảm bảo cho chúng luôn thành công cao độ. Trong số nhiều thành tựu của Arthur trong thời kì đó là bơm động mạch chủ do ông và đội y sinh của ông thiết kế và phát triển tại AERL với sự đánh giá lâm sàng do các bác sĩ chuyên khoa tim tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts hợp tác thực hiện. Trong sự hiện thực

50

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

hóa ước mơ thời thơ ấu của Arthur, chiếc bơm đó vẫn được sử dụng rộng rãi trên thế giới để điều trị chứng liệt tim. Niềm hứng khởi lâu dài của Arthur đối với vật lí học plasma và những ứng dụng kĩ thuật có liên quan có thể lần ngược lại những năm tháng đầu tiên của ông tại Columbia, NACA Langley và Cornell. Nghiên cứu của ông về máy phát từ thủy động lực học, có thể tăng thêm hiệu suất nhiệt động lực học của các nhà máy điện có đốt nhiên liệu lên nhiều lần, và về các nam châm siêu dẫn ổn định bằng đồng đã lên đến cực điểm trong một loạt thí nghiệm chứng minh năm 1978-79 trong đó 200 kW đã được hòa vào mạng lưới điện Massachusetts trong thời gian lên tới 15 giờ. Những thí nghiệm đó đã đặt nền tảng cho nhiều phát triển sau đó của các máy phát từ thủy động lực học ở nước Mĩ và khắp thế giới. Nghiên cứu laser khí công suất cao tại AERL trong những năm 1970 và 1980 đã liên tục phá kỉ lục thế giới về năng lượng xung và thu được công suất phát trung bình lên tới mức nhiều megawatt, ở hiệu suất chuyển đổi năng lượng cao. Khi tiến bộ đó tiếp tục phát triển, Arthur đã mường tượng ra việc phóng phi thuyền không gian giá thành thấp qua động cơ đẩy laser, mặc dù cho đến khi ấy việc chứng minh tính khả thi của nó chỉ được thực hiện trong những thí nghiệm quy mô nhỏ. Sau khi đến tuổi nghỉ hưu bắt buộc của Avco vào năm 1978, Arthur đến làm việc cho Khoa Kĩ thuật của trường cao đẳng Dartmouth, ở đó ông đã có những buổi giảng về khoa học, kĩ thuật và chính sách công cộng. Trong những mối quan tâm của ông có vai trò của giới hàn lâm và cộng đồng khoa học trong sự nhận thức xã hội về công nghệ. Ông đã phát triển các thủ tục đánh giá khoa học, còn gọi là ―quan tòa khoa học‖, cái được thiết kế để cung cấp thông tin xác thực về phạm vi và những hạn chế của kiến thức khoa học trong việc đưa ra những chính sách chung có liên quan đến khoa học. Arthur Kantrowitz là một con người thận trọng và giàu lòng trắc ẩn. Sự uyên thâm và nhân đạo của ông rất đáng được tôn vinh. Tinh thần đổi mới, khuynh hướng nhìn xa trông rộng, những thành tựu to lớn, và lòng can đảm của ông trong việc khai phá những mảnh đất mới sẽ còn được người ta nhớ mãi. Shao Chi Lin (Đại học California, San Diego) Derek Teare (Viện Công nghệ Massachusetts, Cambridge) HiepKhachQuay dịch (thep Physics Today, tháng 4/2009)

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

51

Kiểm tra thuyết tương đối từ kì nhật thực 1919 – một câu hỏi thành kiến
Daniel Kennefick
Khi giải thích các kết quả thực nghiệm, ngữ cảnh là tất cả. Các nhà nghiên cứu thu thập và phân tích dữ liệu nhật thực quan trọng nhất đó có lí do hợp lí khi phán xét thí nghiệm đó là một chiến thắng của Albert Einstein.

Daniel Kennefick là phó giáo sư vật lí tại trường Đại học Arkansas ở Fayetteville. Một trong những phép đo nổi tiếng nhất trong lịch sử thiên văn học thế kỉ 20 đã được tiến hành trong hành trình kéo dài vài tháng vào năm 1919. Các đội quan sát đến từ các trường đại học Greenwich và Cambridge ở Anh đã đến Brazil và Tây Phi để quan sát một kì nhật thực toàn phần xảy ra vào hôm 29 tháng 5 năm 1919. Mục tiêu của họ là xác minh xem đường đi của các tia sáng có bị lệch khi đi qua trường hấp dẫn mạnh của Mặt trời hay không. Các quan sát của họ sau đó được xem là sự xác minh hoàn hảo của thuyết tương đối rộng; nghĩa là các quan sát đó phù hợp với những tiên đoán của lí thuyết hấp dẫn mới do Albert Einstein phát triển hơn so với lí thuyết Newton truyền thống. Trong những thập niên gần đây, nhiều nhà vật lí và nhà nghiên cứu lịch sử khoa học đã nghi ngờ về tính xác thực của thí nghiệm nổi tiếng đó. Họ khẳng định rằng các phép đo thực hiện năm 1919 không đủ chính xác để quyết định giữa các lí thuyết hấp dẫn của Einstein và của Newton. Một số người còn tuyên bố không có căn cứ, nhất là một số nhà triết lí khoa học, rằng kết luận nghiêng về phía Einstein đó bị thôi thúc bởi thành kiến từ phe của thành viên nổi tiếng nhất của các chuyến thám hiểm, Arthur Stanley Eddington. Eddington được biết là một người nhiệt tình ủng hộ của thuyết tương đối rộng, và người ta nói ông khắc khoải muốn làm một động thái hòa giải giữa nước Anh và nước Đức vào thời hậu Thế chiến thứ nhất, bằng việc xác nhận lí thuyết của một trong những nhà khoa học hàng đầu của nước Đức, người, giống như bản thân Eddington, là một người yêu chuộng hòa bình1. Vì thế, kì nhật thực năm 1919 ngày nay thỉnh thoảng được xem là một thí dụ hoàn hảo của các nhà thực nghiệm làm phù hợp dữ liệu của họ với kết quả mong đợi – cái gọi là hiệu ứng tiên tri. Câu chuyện rằng kì nhật thực năm 1919 không phải là một thí nghiệm có tính quyết định có hai phiên bản. Phiên bản thứ nhất, phổ biến trong số các nhà vật lí ít nhất là kể từ thập niên 1970, bàn về độ chính xác: Các nhà thí nghiệm đơn giản là đã may mắn khi đã tiến gần một cách hợp lí đến một trong hai tiên đoán, cho nên thí nghiệm đó không cấu thành một phép kiểm nghiệm thực sự có giá trị của các lí thuyết. Phiên bản thứ hai, phổ biến trong số các nhà triết học và nhà nghiên cứu lịch sử khoa học nhưng bắt đầu đi tìm một tiếng nói chung, xuất phát từ một bài báo năm 1980 của các nhà triết học John Earman và Clark Glymour2. Họ buộc tội cụ thể Eddington và các đồng sự của ông đã vứt bỏ các số liệu dường như ủng hộ Isaac Newton chứ không phải Einstein. Một số nhà phê bình hiện đại còn chỉ

52

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

trích rằng hành động như thế không thể bào chữa được trên cơ sở khoa học và có khả năng nó bị thôi thúc bởi thành kiến chính trị và thiên hướng lí thuyết của Eddington.

Arthur Stanley Eddington (1882 – 1944). Năm 1919, Eddington trở nên nổi tiếng là hệ quả của nghiên cứu của ông về cấu trúc bên trong của các sao. Sự nhiệt tình của ông với thuyết tương đối rộng khiến một số nhà sử học buộc tội ông có thiên kiến trong phân tích dữ liệu nhật thực năm 1919 (Ảnh: AIP Emilio Segrè Visual Archievs)

Frank Watson Dyson (1868 – 1939). Nhà thiên văn học hoàng gia Anh và là giám đốc Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich, Dyson là người chịu trách nhiệm chính cho việc tổ chức chuyến thám hiểm năm 1919. Có kinh nghiệm cả về đo đạc sao và thám hiểm nhật thực, ông phụ trách phân tích số liệu của chuyến thám hiểm Greenwich đến Sobral, Brazil (Ảnh của Thư viện Quốc hội, Bộ sưu tập George Grantham Bain).

Tất nhiên, người ta không thể chắc chắn lắm về bất kì khả năng xây dựng lại nào của các phán xét thực nghiệm đã gần một thế kỉ tuổi, nhưng tôi cho rằng sự cân bằng bằng chứng chủ yếu nằm ở thiên hướng quan điểm của những người lãnh đạo nhóm thám hiểm năm 1919, Frank Watson Dyson và Eddington, có cơ sở hợp lí cho việc phán quyết rằng các kết quả của họ là không phù hợp với tiên đoán của lí thuyết Newton. Thật vậy, cách xử lí số liệu của họ dường như được minh oan bởi một bản phân tích lại hồi năm 1979 các tấm phim chụp của họ bằng phương pháp trắc sao hiện đại. Tuy vậy, hai nhà nghiên cứu đó không tin họ đã nói lên lời cuối cùng. Thật vậy, Dyson và các cộng sự của ông đã tiến những bước dài để cố gắng dựng lại thí nghiệm đó vào kì nhật thực năm 1922.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

53

Chuyến thám hiểm
Trong một bài báo năm 1911, Einstein lần đầu tiên tiên đoán rằng ánh sáng sẽ rơi trong một trường hấp dẫn, cho nên ánh sáng sao đi qua gần rìa Mặt trời sẽ bị lệch khỏi quỹ đạo của nó3. Ông tính ra được vị trí quan sát thấy của một ngôi sao có ánh sáng đi qua gần Mặt trời sẽ thay đổi một lượng 0,87 giây cung (0,87‘‘). Phân tích của ông xây dựng trên hiểu biết của ông về những đặc trưng cơ bản mà một lí thuyết tương đối tính của sự hấp dẫn phải có, nhất là nguyên lí tương đương. Nguyên lí tương đương đòi hỏi tất cả các khối lượng phải rơi ở tốc độ như nhau trong một trường hấp dẫn. Eddington và Dyson đã gán giá trị Einstein tính được năm 1911 là giá trị ―Newton‖, một tên gọi hợp lí bởi khám phá tiếp sau đó rằng một giá trị tương tự chỉ dựa trên vật lí học Newton đã được công bố năm 1804 bởi nhà thiên văn người Đức Johann Georg Soldner4. Năm 1916, sau khi đã phát triển phiên bản cuối cùng của lí thuyết tương đối rộng của ông, Einstein nhận ra còn có một thành phần nữa đối với hiệu ứng làm lệch ánh sáng gây ra bởi cách khối lượng Mặt trời làm bẻ cong không thời gian xung quanh nó. Như vậy, một đường thẳng ở gần Mặt trời bị cong đi so với một đường thẳng trong không gian phẳng. Sự lệch thêm do độ cong đó gây ra có thể sánh với sự lệch chỉ do chuyển động rơi gây ra, cho nên tiên đoán của thuyết tương đối rộng yêu cầu một độ lệch vị trí sao lớn gấp hai lần – khoảng 1,75‖ tại rìa của Mặt trời – so với yêu cầu của lí thuyết Newton5. Ngay từ năm 1913, Einstein đã viết thư cho các nhà thiên văn học hàng đầu, cố gắng thuyết phục họ thực hiện một phép đo của hiệu ứng mà ông tiên đoán. Tuy nhiên, các ngôi sao ở gần Mặt trời thường không nhìn thấy được, nên vấn đề là các nhà thiên văn cần phải chụp ảnh một vùng sao xung quanh Mặt trời trong một kì nhật thực toàn phần. Điều đó có nghĩa là phải thực hiện những chuyến đi vất vả đến nơi nhật thực được tiên đoán xảy ra. Trước năm 1919, một số nỗ lực nhằm đo hiệu ứng đó đã bị cản trở bởi thời tiết xấu lẫn Thế chiến thứ nhất6. Vả lại, Einstein đã thay đổi tiên đoán của ông vào năm 1916, nên có lẽ thật là may mắn khi những cuộc thám hiểm trước thời điểm đó đã không thành công. Nhật thực năm 1919 được công nhận là một cơ hội đặc biệt thuận lợi do sự có mặt của những ngôi sao sáng bất thường thuộc cụm Hyades ở gần Mặt trời trong lúc nhật thực. Hơn nữa, lúc ấy lí thuyết của Einstein đã thu được sự nổi bật đáng kể do thành công của nó ở việc giải thích sự tiến động không bình thường của Thủy tinh là một nhiễu loạn trong quỹ đạo của nó do Mặt trời bẻ cong không thời gian gây ra. Người nhận ra tầm quan trọng của nhật thực năm 1919 là Dyson (không có liên quan gì đến nhà vật lí Freeman Dyson), nhà thiên văn học hoàng gia của nước Anh và là giám đốc Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich7. Người chỉ cho Dyson thấy tầm quan trọng của lí thuyết mới của Einstein là Eddington, giám đốc Đài thiên văn Đại học Cambridge. Dyson, chủ tịch Liên ủy ban thường trực về nhật thực của Hội Hoàng gia và Hội Thiên văn học Hoàng gia, đã chọn Eddington vào một ủy ban con thành lập ra để chuẩn bị cho chuyến thám hiểm quan sát nhật thực năm 1919. Mặc dù có vẻ như chiến tranh sẽ làm hỏng mất những nỗ lực của họ, nhưng sự kết thúc đột ngột của các hành vi thù địch vào tháng 11/1918 xảy ra vừa kịp lúc cho chuyến thám hiểm khả dĩ thực hiện được. Eddington, mang theo một người thợ đồng hồ
54
http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

xứ Northamptonshire tên là Edwin Turner Cottingham, đã đi đến một trạm trên hòn đảo Hoàng tử nằm ngoài khơi vùng duyên hải Tây Phi, ở gần xích đạo. Dyson đã gửi hai trong số các phụ tá Greenwich của ông, Charles Davidson và Andrew Crommelin, đến một trạm tại Sobral ở miền bắc Brazil. Có khả năng câu chuyện nổi tiếng nhất về thiên hướng vô cớ của Eddington nghiêng về lí thuyết của Einstein là một câu chuyện do chính Eddington tường thuật lại trong đó Dyson, trong khi giải thích thí nghiệm với Cottingham trước chuyến đi, đã bảo người thợ đồng hồ rằng có ba khả năng hợp lí về mặt lí thuyết: không bị lệch; lệch một nửa, cho thấy ánh sáng có khối lượng, và chứng minh Newton đúng; và bị lệch hoàn toàn, chứng minh Einstein đúng. Biết rằng sự lệch càng lớn thì kết quả càng hấp dẫn và mới lạ về mặt lí thuyết, Cottingham đã hỏi chuyện gì sẽ xảy ra nếu họ thu được gấp đôi độ lệch Einstein. ―Khi đó‖, Dyson trả lời, ―Eddington sẽ phát rồ, còn anh sẽ phải trở về một mình‖. Hai đoàn thám hiểm rời nước Anh vào tháng ba và đến các trạm của họ đúng thời gian thích hợp cho kì nhật thực. Vào ngày nhật thực, 29/5, Eddington đã thất vọng vì những đám mây nặng nề, nhưng chúng đã kịp mỏng đi trong lúc nhật thực để ông thu được ảnh của những ngôi sao sáng nhất vào những phút phơi sáng sau cùng ông thực hiện. Trong khi đó, đội Greenwich ở Sobral được thời tiết tốt ủng hộ nhưng lại gặp rắc rối bởi thiết bị chính của đội không hoạt động, một thấu kính chụp ảnh thiên văn. Được chế tạo để dùng trong các nghiên cứu chụp ảnh toàn bầu trời, các thấu kính ảnh thiên văn được thiết kế có một trường nhìn rộng khác thường. Thiết bị hỗ trợ, một thấu kính 4 inch, thì hoạt động tốt. Nhưng với trường nhìn hẹp hơn của nó, thấu kính 4 inch mang lại ít sao hơn trên phim chụp của nó so với thấu kính ảnh thiên văn.

Phân tích số liệu
Trường hợp may mắn Mặt trời nằm trong vùng có những ngôi sao tương đối sáng đã cho các nhà thiên văn một cơ hội tuyệt vời để đạt được những bức ảnh chất lượng tốt của các ngôi sao ở gần Mặt trời, nơi những ngôi sao mờ hơn sẽ bị dìm mất bởi ánh sáng của vành nhật hoa của Mặt trời. Độ lệch biểu kiến đã tiên đoán về vị trí của các sao, họ tin tưởng, nằm trong mức độ chính xác có thể thu được bằng các kĩ thuật đo đạc thiên văn đương thời, thậm chí còn cho phép khó khăn kĩ thuật được khắc phục bằng cách chuyên chở thiết bị tinh vi đến những địa phương xa xôi trước khi lắp đặt. Parsec được định nghĩa là khoảng cách mà một ngôi sao, nhìn từ Trái đất, sẽ chịu chuyển động biểu kiến, do thị sai, một giây cung trong hành trình một năm. Không có ngôi sao nào nằm trong vòng một parsec của hệ Mặt trời của chúng ta; vì thế, toàn bộ nghiên cứu thị sai sao về bản chất là dưới giây cung, phần nhiều trong số đó được biết rõ chưa tới một giây cung. Dyson có nhiều kinh nghiệm trong nghiên cứu thị sai sao. Thật vậy, cả Dyson lẫn Eddington đều đã bắt đầu sự nghiệp của họ nghiên cứu các vấn đề đo đạc thiên văn, trong đó có chuyển động thị sai và chuyển động thực của các sao và các vật thể khác.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

55

Phương pháp sử dụng để xác định độ lệch biểu kiến là phơi sáng các bức ảnh của vùng sao trong lúc nhật thực và sau đó so sánh với sự phơi sáng của cùng vùng sao đó vào ban đêm, lúc không có Mặt trời. Hiển nhiên, các tấm phim so sánh được thực hiện ở một thời điểm khác của năm, vì phải mất một thời gian cho Mặt trời di chuyển ra khỏi vùng sao Hyades. Người ta còn muốn chúng được chụp vào thời điểm khi vùng sao đó ở cùng một vị trí trên bầu trời; nghĩa là chờ đợi tại địa điểm nhật thực cho đến khi Mặt trời di chuyển ra đủ xa theo đường hoàng đạo để cho ngôi sao đó mọc lên đúng độ cao đó trên bầu trời trước lúc bình minh.

Một số ngôi sao sáng bất thường từ chòm sao Hyades đã chiếm đầy bầu trời ở tất cả các bên của Mặt trời trong kì nhật thực năm 1919. (a) Trong hình vẽ minh họa này, sự lệch hướng của ánh sáng sao do lực hấp dẫn của Mặt trời đã làm lệch các vị trí sao ban đầu (màu xanh) một cách đáng kể khỏi tâm của Mặt trời; những ngôi sao gần tâm nhất chịu sự lệch nhiều nhất. (b) Một sự thay đổi tỉ lệ giữa một phần phơi sáng và một lần khác làm lệch các vị trí sao một cách đáng kể khỏi tâm của bức ảnh này; những ngôi sao cách xa tâm biểu hiện sự lệch nhiều nhất.

Đối với đội Sobral, những người thấy nhật thực xảy ra vào buổi sáng, điều đó nghĩa là chỉ cần chờ hai tháng, đó là cái họ đã làm. Nhưng với đội Hoàng tử, những người thấy nhật thực toàn phần xảy ra lúc giữa trưa, thì sẽ phải chờ gần nửa năm để so sánh các phim chụp tại cùng địa điểm, đó là cái Eddington đã không làm. Thay vì thế, các phim chụp so sánh đã được thực hiện ở Anh trước chuyến đi. Vì những thay đổi khó hiểu về tỉ lệ và những phức tạp khác có thể phát sinh từ việc so sánh các sự phơi sáng ở những thời điểm và địa điểm khác nhau và với những lắp đặt khác nhau của cùng một thiết bị, nên đội Cambridge chọn cái gọi là các tấm chụp kiểm tra của một vùng sao khác cả ở Anh và trên đảo Hoàng tử. Những tấm phim đó cho đội nghiên cứu biết bất cứ sự thay đổi lớn bất ngờ nào về tỉ lệ giữa kì nhật thực và các tấm phim so sánh. Và vì Mặt trời không hề xuất hiện trong bộ phim chụp kiểm tra nào, nên chúng tạo thành một đối chứng trên thí nghiệm của Eddington. Thật vậy, vai trò thụ động đó dường như là kế hoạch ban đầu của Eddington dành cho chúng.

56

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Khi so sánh hai hình ảnh khác nhau của cùng một vùng sao chụp ở những thời điểm khác nhau, người ta phải giải thích những sự lệch nhất định về vị trí sao gây ra bởi các hiệu ứng thiên văn và khí quyển có thể đoán trước được. Ngay cả khi chụp với cùng một thiết bị, hai ảnh của cùng một vùng cũng bị quay đi một chút so với nhau hoặc, tệ hết thảy, có thể thay đổi độ phóng đại, mang lại một sự thay đổi tương đối của tỉ lệ giữa hai bức ảnh. Sự thay đổi tỉ lệ đó là hiệu ứng nguy hiểm nhất nhìn từ quan điểm của người muốn đo độ lệch ánh sáng, vì nó nhạy lại rất giống hiệu ứng làm lệch ánh sáng. Sự lệch ánh sáng đưa ngôi sao ra xa khỏi Mặt trời trên ảnh chụp. Một sự thay đổi tỉ lệ làm di chuyển ngôi sao ra xa khỏi chính giữa bức ảnh, nơi Mặt trời nằm tốt nhất để thu được một vùng sao đối xứng ở gần nó. May thay, có một sự khác biệt đặc trưng giữa hai hiệu ứng. Sự lệch ánh sáng là lớn nhất đối với những ngôi sao ở gần rìa của Mặt trời nhất và là nhỏ nhất đối với những ngôi sao ở xa nó. Điều ngược lại đúng đối với một sự thay đổi tỉ lệ: Các ngôi sao ở xa vùng giữa tấm phim chịu sự thay đổi lớn nhất về vị trí, còn những ngôi sao ở gần chính giữa tấm phim chịu ảnh hưởng ít nhất. Như vậy, việc so sánh trực tiếp vị trí của một số ngôi sao trên hai tấm phim có thể, về nguyên tắc, gỡ rối các hiệu ứng đó. Khó khăn của Eddington với các tấm phim chụp nhật thực của ông thực hiện trên đảo Hoàng tử là chỉ những ngôi sao sáng nhất mới nhìn thấy trên cặp phim chụp qua những đám mây mỏng dần vào cuối kì nhật thực toàn phần. Chỉ có một vài ngôi sao để làm việc, cơ hội của ông gỡ rối các sự lệch gây ra bởi sự thay đổi tỉ lệ với sự lệch gây ra bởi sự lệch ánh sáng bị giảm đi nhiều. Thực tế thì một nửa thông tin quý giá của ông dành để đo một con số, sự thay đổi tỉ lệ, là cái chẳng có gì hấp dẫn đối với ông. Vì thế, Eddington chuyển sang một phương pháp khác giảm bớt số liệu, trong đó ông đã đo sự thay đổi tỉ lệ giữa các tấm phim chụp ở Oxford và các tấm chụp trên đảo Hoàng tử. Sau đó, ông có thể đưa giá trị số đó vào trong các phương trình của ông cho các tấm phim. Như vậy, toàn bộ thông tin số đo mà ông có sẽ hướng tới thiết lập những con số mà ông thật sự cần đến – độ lệch ánh sáng đối với từng ngôi sao. Như bản thân Eddington biết rõ, phương pháp đó không nằm trong kế hoạch ban đầu của ông. Cả hai đội đều dự định ngăn chặn trước mọi luận cứ chống lại sự thu giảm số liệu của họ bằng cách đo trực tiếp sự thay đổi tỉ lệ giữa các phim chụp nhật thực của họ và các tấm phim so sánh. Sau hết thảy, các tấm phim chụp kiểm tra của Eddington trên đảo Hoàng tử được chụp vào ban đêm, và các tấm phim chụp nhật thực chụp vào ban ngày của một vùng sao nằm trong một phần khác của bầu trời. Người ta thật sự chẳng thể biết các thay đổi nhiệt độ và những điều kiện môi trường khác có làm thay đổi tỉ lệ trong hai bộ phim chụp đó hay không. Đối với sai số, Eddington nhấn mạnh vào tính ổn định nhiệt độ của bầu không khí nhiệt đới ẩm ở cả hai địa điểm. Một đặc điểm đã biết của các kì nhật thực là sự giảm đột ngột của nhiệt độ đi một vài độ trong kì toàn phần, khi cái bóng của Mặt trăng, rộng vào cỡ một trăm dặm, quét qua mặt đất. Nhưng trên đảo Hoàng tử, với điều kiện nhiệt đới ẩm của nó và thời tiết có nhiều mây, nhiệt độ chẳng thay đổi bao nhiêu trong lúc nhật thực, theo

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

57

Eddington; nên sự biến đổi là chưa tới một độ giữa nhiệt độ ban ngày vào lúc nhật thực và nhiệt độ ban đêm trong lúc các tấm phim được chụp9. Như vậy, Eddington cảm thấy chắc chắn rằng sự thay đổi tỉ lệ đo từ các tấm phim chụp kiểm tra có thể áp dụng thành công cho các tấm phim chụp nhật thực so sánh. Trong khi Eddington đang ngồi ở Cambridge nghiên cứu khuôn khổ phân tích số liệu sửa lại của ông, thì Crommelin và Davidson ở Sobral đang chụp các tấm phim so sánh của họ và sau đó gửi về Anh, chúng tới nơi vào hôm 25 tháng 8. Vào tháng 9, ở Greenwich, Davidson và người trợ lí người Greenwich khác, Herbert Henry Furner, bắt đầu đo các vị trí sao trên các tấm phim dưới sự giám sát của đích thân Dyson. Một ít còn lại của dữ liệu Cambridge, nhưng gần như toàn bộ các tấm phim và hàng tá các bản suy luận số liệu hiện vẫn còn lưu giữ ở các bộ sưu tập Greenwich. Khối tư liệu đó mang lại một bức tranh đẹp của cái đã tiết lộ ở đó. Đáng chú ý nhất, không có bằng chứng nào cho thấy Eddington từng có mặt, hay tham gia vào, bất kì phép suy luận Sobral nào. Chữ viết tay của Dyson xuất hiện trong các phần ghi chú suy luận số liệu Sobral ở nhiều điểm quan trọng, nhưng không có chữ viết của Eddington ở chỗ nào cả. Ngoài ra, về phía Eddington, việc trao đổi thư từ giữa hai người được lưu giữ trong các bộ sưu tập. Hãy xem lá thư hồi âm ngày 03/10/1919 cho một lá thư đã mất từ Dyson: Dyson thân mến, Tôi rất hài lòng với lá thư và những số đo của anh. Tôi hài lòng là các phim chụp Cortie đã cho thấy sự lệch trọn vẹn không chỉ vì lí thuyết, mà còn vì tôi đang lo lắng về các tấm phim chụp trên đảo Hoàng tử và không thể tìm ra cách thức khả dĩ nào hòa giải chúng với sự lệch một nửa. Tôi nghĩ có lẽ mình đã hấp tấp trong việc chọn ra tỉ lệ của mình từ một vài số đo. Tôi vừa hoàn thành xác định rõ ràng của mình về A (5 tấm phim chụp trên đảo Hoàng tử khác so với 5 tấm phim chụp khác ở Oxford), nó không khác biệt gì đáng kể so với dự liệu mặc dù nó làm giảm các giá trị lệch của tôi đi một chút (Arthur S. Eddington gởi cho Frank W. Dyson, ngày 3/10/1919, MS.RGO.8/150, Thư viện Đại học Cambridge). Trích dẫn ở trên phần nào cho thấy phương pháp tập trung vào lí thuyết của Eddington đối với việc phân tích dữ liệu. Nhưng nó cũng làm sáng tỏ sự hiểu biết của ông về việc thu nhỏ dữ liệu từ các tấm phim chụp 4 inch (nhắc tới ở đây là các tấm phim Cortie, đặt theo tên Aloysius Cortie, vị linh mục Thiên chúa giáo đã cho mượn các thấu kính 4 inch để khảo sát) trong một lá thư từ Dyson gửi tới. Rõ ràng trước đó Eddington đã được báo cho biết các kết quả của việc thu nhỏ dữ liệu thiên văn Sobral, nhưng phản ứng của ông là không can thiệp vào phân tích của các tấm phim Greenwich. Thay vì vậy, ông xem xét các tấm phim chụp của riêng ông trong một nỗ lực nhằm hòa giải chúng với các kết quả đã báo cáo từ Sobral nghiêng về kết quả Newton lệch một nửa thôi. Như vậy, chúng ta phải tin rằng chính Dyson là người đưa ra quyết định bỏ qua kết quả từ các tấm phim chụp thiên văn và thay vào đó chỉ phân tích dựa trên các tấm phim phơi

58

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

sáng với thấu kính 4 inch. Vì thế, có vẻ thích hợp là chúng ta hãy tìm hiểu xu hướng của Dyson ủng hộ hay chống lại lí thuyết nào để xem khuynh hướng của Eddington là gì. Thật vậy, giống như phần đông các nhà thiên văn học thời kì ấy, Dyson có phần hoài nghi thuyết tương đối rộng. Trong một lá thư đề ngày 18 tháng 3 năm 1920 gửi cho Frank Schlesinger, giám đốc Đài thiên văn Yale, ông đã phát biểu, Kết quả đó trái với sự trông đợi của tôi, nhưng vì tôi đã thu được nó nên tôi cố gắng tìm hiểu lí thuyết tương đối, và lí thuyết đó chắc chắn rất toàn diện, mặc dù khó hiểu và khó nắm bắt (MS.RGO.8/123, Thư viện Đại học Cambridge). Eddington đã viết những điều tương tự cho Hermann Weyl vào ngày 18 tháng 8 năm 1920: Sự nhiệt tình của Dyson đã làm cho các chuyến thám hiểm nhật thực sẵn sàng bắt đầu hoạt động, bất chấp rất nhiều khó khăn. Lúc ấy, ông rất ngờ vực về lí thuyết tương đối mặc dù hết sức hứng thú với nó; và ông đã nhận ra tầm quan trọng rất lớn của nó (Hermann Weyl Nachlass, Hs 91:523 ETH-Bibliothek Zurich).

Vết nhô mặt trời nổi bật xuất hiện trong kì nhật thực 1919, chụp từ đảo Hoàng tử, một hòn đảo nằm ngoài khơi bờ biển Tây Phi (Ảnh: Hội Thiên văn học Hoàng gia, London)

Còn về nghi vấn muốn hòa giải với nước Đức, thường được trích dẫn là một động cơ khác nữa cho khuynh hướng của Eddington nghiêng về lí thuyết của Einstein, có khả năng là trong trường hợp đó, Dyson cũng giữ vai trò chủ đạo. Thông cáo của Dyson (công bố năm 1939) phát biểu rằng ông đã hỗ trợ hòa giải thời hậu chiến, nhưng điều đó phải xét trong bối cảnh cụ thể. Trong vài năm đầu tiên tồn tại của nó, Hiệp hội Thiên văn học quốc tế, một tổ chức mà ông giữ vai trò then chốt trong sự ra đời của nó sau Thế chiến thứ nhất, không thừa nhận nước Đức hay các đồng minh của nó. Một thí dụ tuyệt vời cho quan điểm của nhà vật lí

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

59

Anh tiêu biểu nghiêng về lí thuyết tương đối lẫn nền khoa học Đức được cho trong một lá thư giữa hai nhà thiên văn vẫn được bảo quản ở phòng trưng bày của Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich nói về nhật thực: Lí thuyết thứ hai của Einstein [thuyết tương đối rộng]…còn mang nhiều tính suy đoán và tôi chỉ sợ rằng sự phù hợp với các quan sát sẽ làm cho tôi chấp nhận nó. Tôi có thể hiểu rõ những người đồng bào của Riemann và Christoffel đã thiêu Louvain và nhận chìm Lusitania (Rudolph Moritz gửi cho Phillip H. Cowell, ngày 01/03/1918, MS.RGO.8/132, Thư viện Đại học Cambridge). Nhưng cho dẫu lúc đầu Dyson không nghiêng về thuyết tương đối đi chăng nữa, thì liệu ông có bị dao động bởi sai số quan sát của người đồng nghiệp trẻ tuổi hơn và người đồng nghiệp cho đến khi ấy vẫn mang nặng tính lí thuyết Eddington ? Có chút ít lí do để nghĩ như thế. Dyson là nhân vật thâm niên trong làng thiên văn học Anh quốc, và mặc dù tên tuổi của Eddington ngày nay nổi tiếng hơn, nhưng hai người dường như vẫn ngang ngửa địa vị với nhau tính theo tiếng tăm xã hội của họ và danh vọng khoa học vào lúc xảy ra nhật thực. Ngoài ra, còn có những cơ sở tốt để tin rằng Dyson đã đưa ra quyết định chính xác về mặt khoa học trong việc chọn cách bỏ qua dữ liệu phim chụp thiên văn.

Các thiết bị tại Sobral, Brazil. Thấu kính 4 inch nằm trong ống vuông ở phía bên phải, và thấu kính ảnh thiên văn, được chọn vì trường nhìn rộng của nó, nằm trong ống tròn ở phía bên trái. Ở trước các ống là các gương được điều khiển bẳng một cơ chế giữ cho các ảnh sao nằm trên cùng vị trí trên phim chụp trong suốt thời gian phơi sáng. Chiếc gương ở bên trái là mối ngờ vực chủ yếu trong các ảnh chụp bằng thấu kính thiên văn chất lượng nghèo nàn trong kì nhật thực năm 1919 (Ảnh: Bảo tàng Khoa học, London)

60

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Phân tích lại năm 1979
Đội Greenwich đã lên kế hoạch bắt đầu đưa thấu kính chụp ảnh thiên văn của đội vào thiết bị chính của đội. Nhưng thấu kính đó không hề được sử dụng tại kì nhật thực nào, và các e ngại với chiếc gương và cơ chế điều khiển của nó đã khuyến khích đội Sobral mang theo một thiết bị dự phòng hoạt động trên thấu kính 4 inch Cortie. Vào giữa kì nhật thực, việc phát triển tại chỗ một số tấm phim đã nhắc Crommelin và Eddington rằng cấu hình chụp ảnh thiên văn đó đã mất rõ nét trong lúc nhật thực. Các ngôi sao có vết sọc đáng để ý, vấn đề đã được Dyson báo cáo tại một cuộc họp của Hội Thiên văn học Hoàng gia từ hôm 13 tháng 6.10 Thật rắc rối, khi các tấm phim chụp so sánh được thực hiện hai tháng sau đó, người ta thấy thiết bị lại rõ nét trở lại.11 Bất chấp những e ngại về chất lượng của các tấm phim chụp, Dyson và đội của ông vẫn tiến lên và thu nhỏ dữ liệu ảnh chụp thiên văn trước. Tuy nhiên, họ đã gặp phải những khó khăn đáng kể trong việc đo các tấm phim. Do tính mơ hồ của những bức ảnh sọc dưa và mất nét, họ đã đo vị trí sao trên tấm phim chụp thiên văn của kì nhật thực chỉ trong một tọa độ. Ném đi một nửa dữ liệu của họ vào lúc bắt đầu, họ đã công bố và thu được kết quả gây tranh cãi là 0,93‘‘, họ đã báo kết quả đó cho Eddington trước ngày 3 tháng 10. Một lần nữa, họ đã thu nhỏ dữ liệu thấu kính 4 inch, được hỗ trợ bởi sự sắc nét thu được trên các tấm phim chụp nhật thực, và họ phải đương đầu với vấn đề là hai thiết bị của họ mang lại những số đo rất không ăn khớp với nhau. Thật thú vị, đội Greenwich đã thử một phương pháp phân tích khác với dữ liệu ảnh chụp thiên văn. Trong đoạn báo cáo mấu chốt của Dyson, ông trình bày rằng một phương pháp phân tích khác đã thu được kết quả 1,52‖ từ dữ liệu ảnh chụp thiên văn Sobral. Một bài báo năm 1921 sau này về cơ bản đã lặp lại nhận xét đó (trích dẫn những con số hơi khác vì những lí do không trình bày): Nếu như cho rằng tỉ lệ đã thay đổi, thì độ lệch Einstein từ loạt phim chụp là 0,90”; còn nếu như cho rằng không có một sự thay đổi thật sự nào của sự rõ nét của ảnh xảy ra, mà đơn thuần chỉ là sự nhòe ảnh, thì kết quả đó là 1,56”; tuy vậy, một chút trọng lượng đã gắn với loạt ảnh chụp này. Điều đó có nghĩa là Dyson và các cộng sự của ông đã nỗ lực làm một cái gì đó cho gần với phương pháp phân tích của Eddington. Họ đã không kiểm tra các tấm phim chụp, như ông đã làm, nhưng họ thật sự đã chụp các tấm phim so sánh ở cùng địa điểm và với cùng thiết bị như các tấm phim chụp nhật thực. Nếu như Eddington có thể thừa nhận rằng không có sự thay đổi tỉ lệ nào xảy ra giữa các tấm phim chụp nhật thực ban ngày và các tấm phim chụp kiểm tra vào ban đêm trên đảo Hoàng tử, thì thủ thuật tương tự có xảy ra với Sobral, nơi mà các điều kiện thời tiết nhiệt đới cũng làm thay đổi ít nhiều ở nhiệt độ ? Họ đã tính được sự thay đổi tỉ lệ do các hiệu ứng thiên văn đã biết và áp dụng sự thay đổi đó cho các sai lệch vị trí sao giữa các tấm phim chụp nhật thực và phim chụp so sánh. Kết quả là một giá trị lớn hơn 1,5‘‘ cho sự lệch ánh sáng, kết quả lệch khỏi kết quả trên đảo Hoàng tử của Eddington là mấy. Như vậy, có khả năng là việc phân tích dữ liệu của các tấm phim chụp thiên văn đã làm hé lộ một sự thay đổi tir lệ lớn bất ngờ do một số khiếm khuyết trong thiết bị đo đạc.
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2 61

Dyson và các cộng sự của ông có thể đã tranh luận theo những hướng sau đây. Nếu tính toán của họ về một sự thay đổi lớn tỉ lệ trong các tấm phim chụp thiên văn là đúng, thì thiết bị phải chịu một sự thay đổi lớn về độ phóng đại do sự biến thiên nhiệt độ trong kì nhật thực. Điều đó nghĩa là giá trị sai lệch đo được phù hợp với lí thuyết Newton. Mặt khác, nếu ai đó tranh luận rằng thiết bị có thể đơn giản là bị mất nét, thì kết quả mặc nhiên phù hợp hơn với lí thuyết Einstein và với các kết quả thu được bởi các thấu kính thiên văn Sobral 4 inch và trên đảo Hoàng tử. Như vậy, việc ủng hộ cho lí thuyết Newton, trong một chừng mực nào đó, là không tương thích về mặt lôgic với các thiết bị đã hành xử theo kiểu như dự tính. Tôi cho rằng hướng lập luận đó đã có tác động mạnh lên quyết định của đội Greenwich loại trừ dữ liệu ảnh chụp thiên văn ra khỏi báo cáo sau cùng của họ. Thật thú vị, một phép phân tích lại dữ liệu vào năm 1979 với phương pháp hiện đại do Đài thiên văn Hoàng gia Greenwich thực hiện đã ủng hộ cho quan điểm đó. Theo lệnh của vị giám đốc khi ấy, Francis Braham Smith và Andrew Murray, vị chuyên gia trắc sao của đài, Geoffrey Harvey và A.D. Clements đã đưa các tấm phim năm 1919 ra khỏi hai thiết bị Sobral và đã đo vị trí sao bằng một cỗ máy đo phim hiện đại. Dữ liệu sau đó được phân tích lại bằng phần mềm thu giảm dữ liệu thiên văn do Murray viết. Bảng dưới đây so sánh các kết quả của Harvey với kết quả của đội khảo sát năm 1919 (toàn bộ các đại lượng đo theo đơn vị giây cung).12 So sánh dữ liệu Thiết bị Thấu kính 4 inch Thấu kính ảnh thiên văn Kết quả 1919 1,98‖ ± 0,18‖ 0,93‖ Kết quả 1979 1,90‖ ± 0,11‖ 1,55‖ ± 0,34‖

Lưu ý kết quả khác của Dyson cho dữ liệu ảnh chụp thiên văn là 1,52‖ (không cho biết sai số). Kết quả của thiết bị thấu kính 4 inch phù hợp khá tốt với các số đo ban đầu. Cái nổi bật nhất là sự phù hợp gần gũi giữa kết quả đối với thấu kính ảnh thiên văn và giá trị khác cho bởi Dyson và Crommelin năm 1919. Mặc dù nó có thể là sự trùng khớp ngẫu nhiên, nhưng việc phân tích lại đã cung cấp một sự xác thực sau rốt cho quan điểm rằng vấn đề trở ngại thật sự với dữ liệu ảnh thiên văn Sobral là sự khó khăn, với các phương tiện hạn chế có sẵn vào năm 1919, của việc phân tách sự thay đổi tỉ lệ ra khỏi sự lệch ánh sáng. Tuy nhiên, trớ trêu thay, bài báo năm 1979 chẳng có tác động gì lên câu chuyện đang nổi lên rằng có cái gì đó ám muội xung quanh thí nghiệm năm 1919. Thật vậy, trong chừng mực tôi có thể nói, bài báo đó chưa hề được trích dẫn bởi bất kì ai, trừ một đoạn tham khảo ngắn, không rõ ràng trong cuốn Lược sử thời gian của Stephen Hawking.13 Tuy nhiên, Hawking đã nhắc lại phép phân tích đó để chứng minh rằng phép đo ban đầu không thể nào thu được độ chính xác mà người ta đã khẳng định, khiến một thành viên của đội thám hiểm năm 1919 phải trình làng một bức thư phân bày.14

62

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Đạt tới viễn cảnh
Khi giải thích các kết quả thực nghiệm, ngữ cảnh là tất cả. Chuyến thám hiểm nhật thực chuyên nghiệp cuối cùng để tiến hành thí nghiệm bẻ cong tia sáng là vào năm 1973, do một đội thuộc trường Đại học Texas dẫn đầu được thúc đẩy một phần bởi khát vọng muốn kiểm tra lí thuyết của Einstein chống lại lí thuyết tensor vô hướng Jordan-Fierz-Brans-Dicke. Sự khác biệt giữa các tiên đoán của hai lí thuyết đó đòi hỏi độ chính xác cao hơn cái có thể thu được hồi năm 1919 và có thể còn cổ vũ cho một ước lượng quan trọng hơn của thí nghiệm trước. Kể từ năm 1973, các nhà thiên văn học vô tuyến đã có thể tiến hành những phép đo chính xác hơn bằng cách các quasar đang bị Mặt trời che khuất.15 Tương tự như thế, các nhà triết học như Earman và Glymour đang túm lấy vấn đề nhận thức luận rằng thật ra có khả năng nào cho các lí thuyết bị đánh đổ bởi từng thí nghiệm cá lẻ hay không. Các phép đo năm 1919 tự chúng không đủ để lật đổ Newton. Thật đáng tiếc, chỗ có phần tế nhị đó đã trở thành thô tục bởi việc người ta nhai đi nhai lại rằng Eddington và Dyson đã bị thành kiến bởi vì đơn giản là họ không có khả năng thực hiện những phép đo có độ chính xác cần thiết. Tôi thì cho rằng họ có cơ sở hợp lí trong việc đưa ra khẳng định trọng tâm của họ rằng các kết quả của họ không phù hợp với lí thuyết Newton mà đại thể lại phù hợp với lí thuyết của Einstein. Theo ý nghĩa đó, những nỗ lực của họ là quan trọng trong việc thay thế lí thuyết Newton bằng thuyết tương đối rộng giống như bất kì một thí nghiệm cá lẻ nào có thể làm được. Dyson và các cộng sự của ông đã nóng lòng lặp lại các phép đo của họ và đã sử dụng các phương pháp dựa trên việc sử dụng các tấm phim chụp kiểm tra để mang lại một số đo độc lập của sự thay đổi tỉ lệ tại kì nhật thực năm 1922. 16 Họ đã bị đẩy lùi bởi thời tiết xấu, mặc dù một nhóm đến từ Đài thiên văn Lick thật sự mang lại những số đo mới phù hợp với các kết quả năm 1919. Mặc dù họ không có được kết luận cuối cùng về thí nghiệm bẻ cong ánh sáng, và dẫu cho họ đã may mắn thu được dữ liệu như họ đã làm, nhưng những con người của năm 1919 đó vẫn được ghi nhận vì đã chỉ đạo một thí nghiệm khó với kĩ năng, sự thông suốt và lòng trung thực dưới những điều kiện hết sức khó khăn. Công trình của họ là một đóng góp trọng yếu cho sự xuất hiện của thuyết tương đối rộng với tư cách là một trong những lí thuyết hàng đầu của vật lí học hiện đại. HiepKhachQuay dịch (theo Physics Today, tháng 3/2009)

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

63

Tài liệu tham khảo:

64

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

John Wheeler và nghiên cứu về hạt cơ bản, hạt nhân và vũ khí
Kenneth W. Ford Có một thời, Wheeler đã xem vật lí hạt nhân là phương thức tốt nhất để “chiến đấu với tự nhiên”. Nhưng sau đó ông đã bị thu hút bởi tính đơn giản của muon, loại hạt miễn trừ lực hạt nhân mạnh. Tuy nhiên, bản thân ông không thể thoát khỏi sự phân chia thế lực trong một thế giới đang có chiến tranh. John Wheeler mất tại nhà riêng của ông ở gần Princeton, New Jersey, vào hôm 13 tháng 4 năm 2008, ở tuổi 96. Mười năm trước, ông đã cho xuất bản một quyển tự truyện với tựa đề rất hợp ―A Life in Physics‖ (Một đời dành cho Vật lí học).1 Ông đã có một cuộc hôn nhân hạnh phúc kéo dài 72 năm và ông rất tự hào với ba người con và những thành tích của họ. Nhưng cuộc đời của ông và sự nghiệp vật lí của ông thật ra không thể phân biệt rạch ròi được. Từ khi ông là đồng tác giả của bài báo đầu tiên của ông cùng với William Meggers2 lúc ông 19 tuổi cho đến khi ông viết xong đề mục cuối cùng của mình trong sổ tay3 lúc ông 95 tuổi, ông chưa một lúc nào ngừng suy nghĩ về vật lí học – hay, như ông đã bày tỏ, là ―chiến đấu với tự nhiên‖. Wheeler thích nói rằng cuộc đời của ông được phân chia thành ba thời kì. Thứ nhất là thời kì ―mọi thứ đều là hạt‖, kéo dài từ đầu thập niên 1930 đến đầu thập niên 1950, trong thời gian đó ông tập trung làm việc với electron, positron, photon, muon, và hạt nhân nguyên tử, với thời gian dành cho nghiên cứu vũ khí. Sau đó là thời kì ―mọi thứ là trường‖, từ 1952 đến cuối thập niên 1970, khi sự hấp dẫn nằm ở chủ điểm quan tâm của ông – với vấn đề quốc phòng cũng được ông quan tâm. Thời kì đó hòa mình vào thời kì ―mọi thứ là thông tin‖ của những năm tháng sau này của đời ông, khi ông khảo sát các cơ sở của sự đo lường lượng tử và đưa ra những ý tưởng ví dụ như tính hay thay đổi của định luật vật lí và cái ông mô tả là ―từ bit mà ra‖.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

65

Trong bài báo này, tôi mô tả một số thành tựu chủ yếu của John Wheeler trong giai đoạn đầu của sự nghiệp khoa học của ông. Bài báo tiếp theo ở trang 40 [Physics Today, số tháng 4/2009] của Charles Misner, Kip Thorne, và Wojciech Zurek sẽ tiếp tục câu chuyện, điểm lại những thành tựu quan trọng trong những năm tháng sau này của cuộc đời ông. Tôi phải nhận xét ngay từ đầu rằng sự nghiệp vật lí của Wheeler không thể tách rời với sự nghiệp giảng dạy và học thuật của ông. Ông đã từng phát biểu quả quyết: ―Nếu anh muốn học cái gì thì tôi dạy cái nấy!‖. Có trên một trăm nhà vật lí đã hàm ơn ông, tình yêu vật lí của họ, và có lẽ rất nhiều thành tựu khoa học của họ là nhờ sự chỉ dẫn trực tiếp của ông lúc họ mới vào nghề. Tôi là một trong số những người đó, cả Misner, Thorne và Zurek cũng vậy. Và ngoài những cá nhân đó, còn có hàng nghìn người hay nhiều hơn, theo năm tháng, đã được truyền cảm ứng từ những lớp học do ông giảng dạy. Trong phần sau này, tôi đã ám chỉ đâu đó đến công trình hợp tác quan trọng mà ông đã thực hiện cùng với học trò của ông hoặc với những đồng nghiệp trẻ. Nhưng tôi để việc đó lại cho Terry Christensen, một nhà lịch sử khoa học, sẽ trình bày về sự thông thái của Wheeler một cách cụ thể hơn trong một phần khác của số báo này (trang 55).

“Mọi thứ đều là hạt”
Khi Wheeler lấy bằng tiến sĩ từ trường Đại học Johns Hopkins năm 1933, ông vẫn chưa tròn 22 tuổi. Trong luận án của ông, do Karl Herzfeld hướng dẫn, ông đã sử dụng cơ học lượng tử hãy còn tương đối mới mẻ để nghiên cứu sự tán xạ và hấp thụ ánh sáng bởi nguyên tử helium. Trong quá trình đó, ông đã có được cảm giác yêu thích lâu dài đối với các quan hệ tán sắc. Với một suất học bổng của Hội đồng Nghiên cứu quốc gia (NRC) trong tay, ông đã xem xét, nhưng rồi từ chối, thực hiện một năm hậu tiến sĩ với J. Robert Oppenheimer lúc ấy 30 tuổi. Có cái gì đó về Oppenheimer khiến Wheeler lo ngại – điều đó được khắc phục bởi những tiếp xúc thường xuyên của họ trong những thập niên sau này. Như Wheeler sau này đã đưa nó vào trong quyển tự truyện của ông: ―Ông ấy không mang vẻ khiêm tố hay cảm giác phi thường hoặc khó hiểu‖.1 Thay vì thế, Wheeler đã chọn làm việc với Gregory Breit 33 tuổi tại Đại học New York. ―Giống như tôi‘, Wheeler sau này viết về Breit, ―ông ta thường hoang mang và không e ngại thể hiện sự hoang mang đó ra bên ngoài‖1. Cùng với Breit, Wheeler đã học được cái sau này gọi là ―lí thuyết cặp‖ (lí thuyết lượng tử của electron, positron và photon), và cùng nhau họ đã tính được tiết diện cho sự tán xạ ánh sáng bởi ánh sáng, một quá trình chưa rõ trong vật lí cổ điển.4 Mãi đến năm 1997, với sự có mặt của laser công suất cao, quá trình đó mới được người ta quan sát thấy5. Thật may mắn cho sự truyền thông không dây lan tỏa khắp nơi hiện nay là các photon phần lớn bỏ qua nhau. Với một suất học bổng NRC mới, Wheeler quyết định trải qua năm nghiên cứu hậu tiến sĩ thứ hai của mình với Niels Bohr ở Copenhagen. Đó dường như là một năm chủ yếu học tập và củng cố dành cho ông. Wheeler, như ở hình 1, và một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ
66
http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

khác, Milton Plesset, đã cùng đứng tên ba bài báo trong năm đó, viết về những khía cạnh khác về các tương tác của tia gamma với nguyên tử nặng. Một trong những bài báo đó vẫn nằm trên giá, mãi mãi như nó như thế, vì Bohr thấy nó đơn thuần chỉ là ―lí thú‖. Một bài báo khác bị gạt ra rìa vì nó đòi hỏi nhiều phép tính hơn những gì mà các giả của nó có thể hoàn thiện. Bài báo thứ ba, về sự tạo cặp bởi sự tán xạ phi đàn hồi của các tia gamma, thì được xuất bản thật sự.6 Sự phủ quyết triệt để của Bohr không hề làm giảm đi chút nào lòng thán phục và sự ảnh hưởng to lớn mà Wheeler dành cho Bohr. Wheeler tiếp tục xem ông là một trong những vị tiền bối đáng kính nhất. Thậm chí còn có một số bằng chứng cho rằng, trong những năm sau này, phản ứng im lặng của Wheeler trước việc người học trò của ông, Hugh Everett, đưa ra cái sau này gọi là cách hiểu ―đa thế giới‖ của cơ học lượng tử, đã được định hình bởi mối quan tâm của ông về cái mà Bohr đã nghĩ tới. Trong những năm tháng sau này của Wheeler tại Đại học Princeton, ông đã trưng bày chân dung của đúng hai con người trên tường phòng làm việc của ông, Bohr và Johannes Kepler. Trước đấy, tại Đại học Texas, Charles Darwin và Abraham Licoln đã có vị trí trang trọng trong phòng làm việc của ông. Ngay sau khi từ Copenhagen trở về, tháng 6 năm 1935, Wheeler đã cưới Janette Hegner, người ông đã đính hôn một năm trước đó. Họ chuyển đến Chapel Hill, nơi Wheeler là giảng viên của trường Đại học Bắc Carolina trong ba năm tiếp theo. Hai người con đầu tiên của họ, Letitia và James, ra đời ở Bắc Carolina năm 1936 và 1938.

Hình 2. Trích từ bài báo 1939 của John Wheeler và Niels Bohr về lí thuyết phân hạch hạt nhân9, biểu đồ này ngụ ý một kết luận quan trọng mà các tác giả đã không nêu ra. Trục thẳng đứng đánh dấu năng lượng ngưỡng ước tính Ef mà một neutron bị bắt phải cung cấp để gây ra sự phân hạch. Trục nằm ngang biểu diễn x là bình phương của điện tích hạt nhân Z chia cho số khối A (tính luôn neutron bị bắt), chia cho giới hạn bền của thương số đó. Đối với hạt nhân giả thuyết khi ấy 23994, ngày nay gọi là plutonium, x bằng 0,770, lớn hơn thấy rõ so với giá trị đối với uranium-235. Cho nên năng lượng ngưỡng phân hạch của nó ngụ ý bởi đường cong lí thuyết trong hình bên sẽ nhỏ hơn năng lượng ngưỡng phân hạch của 235U, đồng vị hiếm mà các tác giả quy cho sự phân hạch quan sát thấy gần đấy.

Sở thích của Wheeler lúc ấy là tập trung vào các lực hạt nhân và cấu trúc hạt nhân, đơn giản vì ông xem những đề tài ấy là trọng tâm của vật lí học cơ bản thời kì đó. Có lẽ bài báo nổi tiếng nhất của ông tại Bắc Carolina là nói về cái ông gọi là cấu trúc nhóm cộng hưởng trong hạt nhân,7 tiền thân của nghiên cứu sau này hợp nhất các mặt hạt đơn và chung
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2 67

của cấu trúc hạt nhân. Chính trong bài báo này ông đã đưa ra ma trận S (S là viết tắt của ―scaterring‖ – tán xạ). Thật thú vị, nghiên cứu sinh đầu tiên của Wheeler là một phụ nữ, Katharine Way, người đã tiếp tục một sự nghiệp quan trọng trong ngành vật lí hạt nhân. Trong thời kì đó, Wheeler hợp tác với Edward Teller, khi ấy tại Đại học George Washington, viết một bài báo về các trạng thái quay của hạt nhân, có lẽ là nghiên cứu đầu tiên được xuất bản về đề tài đó.8 Chuyển động quay hạt nhân sau này trở thành một phần quan trọng của mô hình ―tập thể‖ của hạt nhân. Wheeler đã gặp Teller ở Copenhagen (ai mà chẳng ở Copenhagen?) và họ đã kết giao một tình bằng hữu lâu dài. Như người ta biết, họ có chung quan điểm về các vấn đề quốc phòng và ranh giới giữa chính trị và khoa học. Họ viết chung những bài báo không riêng trong lĩnh vực vật lí thuần túy, mà còn hợp tác trong những nghiên cứu khác liên quan đến nghiên cứu quốc phòng.

Princeton và sự phân hạch
Năm 1938, Wheeler chuyển đến Princeton, nơi là ngôi nhà của ông trong chừng 50 đến 70 năm sau đó. Ông thật sự chỉ rời Princeton trong những khoảng thời gian ngắn: cho Dự án Manhattan trong Thế chiến thứ hai, cho nghiên cứu về bom H vào đầu thập niên 1950, cho những chuyến viếng thăm những trường đại học khác nhau ở Mĩ, châu Âu, và Nhật Bản, và năm 1976 cho một chức vụ bổ nhiệm 10 năm làm giáo sư vật lí tại trường Đại học Texas ở Austin. Ông gọi toàn bộ nghiên cứu của ông về vật lí học thuần túy sau thời Bắc Carolina và trước Texas, bất kể ông đã thực hiện nó ở đâu, là ―nền vật lí Princeton‖ của ông. Thật tình cờ, Wheeler là người đầu tiên ở nước Mĩ nghe nói về sự phân hạch hạt nhân (xem hồi kí của Wheeler, in lại ở trang 35). Bohr chẳng nói gì về nó khi Wheeler gặp ông tại bến tàu ở New York vào hôm 16/01/1939, mặc dù rõ ràng ông đã có chút ít nghĩ tới nó trong chuyến băng Đại Tây Dương. Bohr muốn giữ bí mật thông tin cho đến khi Otto Frisch và Lise Meitner có thời gian chuẩn bị và công bố một bài báo cung cấp cách giải thích của họ cho các kết quả tháng 12/1938 của Otto Hahn và Fritz Strassman ở Berlin. Nhưng Leon Rosenfeld, người đi cùng với Bohr, không biết về ―lệnh cấm vận‖ này, nên ông ta đã hào hứng mô tả sự phân hạch cho Wheeler khi hai người họ ngồi xe lửa đến Princeton trong chiều hôm ấy. Bohr không ở trên xe cùng với họ. Ông và người con trai Erik ở lại New York gặp gỡ Enrico Fermi trước khi tiếp tục đi Princeton. Tối hôm ấy, các nhà vật lí ở Princeton đã biết. Ngày hôm sau, những người ở New York đã biết. Trong vòng hai tuần lễ, cả thế giới đã biết. Khi Bohr đến Princeton, ông đã đề nghị Wheeler tham gia cùng với ông trong việc đưa ra một lí thuyết của sự phân hạch hạt nhân. Chắc chắn đó không phải là mục đích dự định ban đầu của chuyến viếng thăm của ông. Sự hợp tác kéo dài hơn 5 tháng, nửa thời gian đầu Bohr vẫn ở Princeton nên họ làm việc trực tiếp với nhau, nửa thời gian còn lại, họ trao đổi thư từ sau khi Bohr trở về Đan Mạch. Từ đó đã xuất hiện bài báo ngày nay nổi tiếng ―Cơ chế của Sự phân hạch hạt nhân‖9 đăng ngày 01/09/1939, sát kề ngày nước Đức tấn công Ba Lan, mở màn Thế chiến thứ hai.

68

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Thật là một sự kì thú của lịch sử khi mà bài báo Bohr-Wheeler chẳng hề đề cập rõ ràng chút nào đến nguyên tố 94, ngày nay gọi là plutonium, mặc dù hiển hiện từ một hình vẽ và những con số trong bài báo ấy rằng đồng vị của nguyên tố đó với số khối 239 sẽ, giống như uranium-235, có khả năng phân hạch bởi neutron chậm (xem hình 2). Wheeler từng nói với tôi rằng ông và Bohr nhận thức được rằng 23994 sẽ có khả năng sẵn sàng phân hạch, nhưng họ đã chọn không nhắc đến nó vì họ không nghĩ ra được khả năng sản xuất đồng vị chuyển tiếp đó với số lượng lớn. Vấn đề đó để lại cho Louis Turner tại Princeton vào mùa xuân 1940 chỉ ra rằng không những đồng vị chưa được tạo ra này có khả năng phân hạch mà, quan trọng hơn, nó còn có thể sản xuất trong các lò phản ứng (chưa được chế tạo) – khối lượng hàng kilogram sẽ thích hợp cho vũ khí hạt nhân. Như người ta biết, nhiệm vụ chính của Wheeler trong Dự án Manhattan là góp phần thiết kế và điều hành các lò phản ứng sản xuất plutonium ở Hanford, Washington. Trong khoảng giữa công trình của ông về lí thuyết phân hạch năm 1939 và sự tham gia của ông trong Dự án Manhattan đầu năm 1942, những đóng góp nổi trội nhất của Wheeler có mặt trong công trình hợp tác với người nghiên cứu sinh tiến sĩ của ông, Richard Feynman, người hoàn thành luận án tiến sĩ vào năm 1942. Theo Wheeler thuật lại trong quyển tự truyện của ông, trong năm 1940 hoặc 1941 ông đã nghĩ ra ý tưởng rằng một positron có thể xem là một electron đang chuyển động ngược lại đồng thời. Ông thật sự bị kích thích bởi ý tưởng đó, ông viết, nên mỗi khi nó đến với ông tại nhà, ông đã đánh thức Feynman dậy ở khu nội trú, nơi Feynman ở. ―Dick‖, ông nói, ―tôi biết tại sao toàn bộ electron và toàn bộ positron đều có cùng khối lượng và điện tích. Chúng là cùng một hạt!‖1 Trong bài thuyết trình nhận giải Nobel năm 1965 của ông, Feynman đã ghi nhận Wheeler với ý tưởng là chìa khóa cho những thành tựu của riêng ông trong lĩnh vực sắc động lực học lượng tử. Wheeler và Feynman còn theo đuổi nghiên cứu về điện động lực học cổ điển, bao gồm việc đưa ra một lí thuyết trường tự do của tác dụng xa – trong đó, thật vậy, ―mọi thứ đều là hạt‖. Công trình đó bị gián đoạn bởi cuộc tấn công ngày 07/12/1941 của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng. Nhưng Wheeler và Feynman có thể tiếp tục phát triển nó trong những cuộc gặp mặt thỉnh thoảng của họ ở Los Alamos trong thời chiến. Kết quả là hai bài báo quan trọng, một bài năm 1945 về phản ứng bức xạ và một bài năm 1949 về tác dụng xa.10 Cũng trong những năm tháng chiến tranh, Wheeler đã hưởng ứng một cuộc thi của Viện Hàn lâm Khoa học New York và gởi một bài báo nhan đề ―Polyelectron‖11, bài báo giành giải thưởng và công bố năm 1946. Trong bài báo đó, ông đã đưa ra lí thuyết positronium và còn tính ra những tính chất của một ion positronium (hai electron và một positron), một thực thể cuối cùng đã được phát hiện năm 1981 bởi Allen Mills, người cách đây chừng 20 năm đã hoàn thành bài báo khoa học và luận án tốt nghiệp tại Princeton dưới sự hướng dẫn của Wheeler. Bài báo polyelectron, Wheeler thú nhận, khiêm tốn hơn nhiều so với tầm nhìn to lớn mà ông hằng ấp ủ trong nhiều năm rằng có lẽ vũ trụ trong tổng thể của nó chỉ cấu thành từ electron, positron và photon.
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2 69

Thời hậu chiến
Không bao lâu sau chiến tranh, Wheeler tiếp tục nghiên cứu về vật lí hạt nhân, lĩnh vực đã thu hút ông nhiều nhất trong thập niên 1930. Mùa thu năm 1952, ông và David Hill đã viết một bài báo dài về sự phân hạch và mô hình tập thể.12 Và tại cuộc gặp mặt tháng 1 năm 1953 của Hội Vật lí Hoa Kì, Wheeler đã có một bài nói chuyện về chủ đề đó. Nhưng dần dần ông đi đến cảm thấy rằng vật lí hạt nhân không phải là lĩnh vực dẫn tới những kiến thức sâu sắc cơ bản về tự nhiên.

Hình 3. “Tam giác Tiomno”, trích từ bài báo năm 1949 của John Wheeler và Jayme Timono, minh họa cho đề xuất của họ rằng một tương tác yếu phổ quát của hằng số ghép cặp g chi phối không chỉ phân rã beta hạt nhân (cạnh bên phải của tam giác) mà còn cả phân rã muon (cạnh dưới) và sự bắt muon hạt nhân (cạnh bên trái). Kí hiệu 0 chỉ neutrino muon, các tác giả giả sử là khác với , hạt giả định là neutrino phân rã beta. Công trình nghiên cứu cùng thời của Giampietro Puppi đã khái quát tính phổ quát của tương tác yếu để bao gộp cả phân rã pion.15

Đặc biệt, Wheeler vẫn ở ngoài ngành vật lí pion, hay cái ông gọi là ―ngành công nghiệp pion‖. Ông bị kích động nhiều hơn bởi việc nhận ra ―electron nặng‖ (muon) vào năm 1947 trong tia vũ trụ. Giống electron nhưng không giống pion, muon chẳng có tương tác hạt nhân mạnh. Điều đó mang lại cho nó, cho Wheeler, loại tính đơn giản mà ông cảm thấy cuốn hút. Ông cũng nhận ra rằng các muon âm, bởi thực tế nó nặng hơn electron 200 lần, có thể là một đối tượng khảo sát rất có ích của hạt nhân, và ông bắt tay vào nghiên cứu các nguyên tử muon tính vào năm 1953.13 Trước đấy 4 năm, Wheeler và cậu sinh viên chưa tốt nghiệp Jayme Tiomno của ông đã đưa ra tương tác Fermi yếu phổ quát14 và trình làng một biểu đồ, mà Wheeler thích gọi là tam giác Tiomno, để minh họa cho tính phổ quát đó (xem hình 3). Nhưng một phiên bản khác của biểu đồ, dựa trên công trình tương tự của Giampietro Puppi ở Italy, trở nên nổi tiếng hơn là tam giác Puppi. Ấn phẩm đầu tiên của Puppi về tương tác Fermi phổ quát đề ngày tháng sớm hơn bài báo Wheeler-Tiomno chừng một tháng, nhưng cả nó lẫn mô tả sau này của Puppi về ý tưởng của ông về chủ đề đó đều không có một biểu đồ như vậy.15 Ngay trong những năm tháng đầu tiên của ông với tư cách nhà nghiên cứu trong thập niên 1930, Wheeler đã có thể thấy rằng tia vũ trụ mang lại một nguồn hạt giàu năng lượng tính hơn nhiều so với cái có thể hình dung ra từ bất cứ cỗ máy gia tốc nào khi ấy. Ngay sau

70

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

chiến tranh, ông đã xúc tiến và đạt được một phòng thí nghiệm tia vũ trụ tại Princeton. ―Tôi thật vội vàng‖, ông viết, ―và tôi muốn thấy nghiên cứu hạt cơ bản bước vào bậc cửa nhà tôi‖. Còn có một câu chuyện nữa để kể từ thời kì ―mọi thứ đều hạt‖ của Wheeler. Hè năm 1949, có trong tay một vé mời Guggemheium, ông và gia đình, với cậu sinh viên chưa tốt nghiệp John Toll đi cùng, đã sang châu Âu. Wheeler dự định phân chia thời gian của ông giữa một số ý tưởng rất xa vời (một thế giới điện từ thuần túy và một thế giới không có không-thời gian) và nền vật lí thế tục hơn về cấu trúc hạt nhân. Ông chọn ở Paris, từ đó ông có thể đi về Copenhagen lúc nào cũng được. Như ông viết sau này, ―Tôi không muốn quay lại hoàn toàn với nền văn hóa đàm thoại của viện [Bohr]‖.1 Mùa xuân năm ấy, ông gởi một bản thảo đến Bohr, đề nghị nó được đứng tên đồng tác giả bởi Bohr, Wheeler và Hill. Bohr đồng ý, và trong một lá thư đã nói ―Tôi muốn suy nghĩ vài ngày xem tôi có đổi ý hay đề xuất thêm bớt gì hay không‖1. Ba năm sau, Bohr, vẫn không hài lòng hoàn toàn với bài báo, đề nghị nó được công bố chỉ bởi Wheeler và Hill thôi, như cuối cùng nó như vậy.12 Mùa thu 1949, ngay trong thời gian gián đoạn ấy, Wheeler đã đi đến một cách giải thích cho những biến dạng lớn quan sát thấy ở một số hạt nhân. Ông chuyển ý tưởng ấy đến Bohr với hi vọng nó sẽ được đưa vào bài báo chung của họ. Bohr bỏ qua ý tưởng đó và một năm sau Wheeler nhận được một bản thảo từ James Rainwater đưa ra chính ý tưởng đó.16 Với công trình đó, Rainwater cùng chia sẻ giải thưởng Nobel vật lí năm 1975. Vậy Wheeler có bực bội chút nào với Bohr không? Chẳng phải là không có, như tôi có thể xác minh. Cùng lắm là Wheeler nói ―Tôi đã học được một bài học. Khi một người phát hiện ra cái gì đó quan trọng, tốt nhất là hãy công bố nó ngay và đừng chờ việc đưa nó vào chung với một kế hoạch có phần to lớn hơn. Việc chờ đợi thu thập tất cả các mảnh có thể thích hợp cho một nhà triết học, nhưng nó không sáng suốt đối với một nhà vật lí‖.1

Nghiên cứu vũ khí
Đa số các nhà vật lí quá tuổi vị thành niên vào năm 1941, cho dù chỉ hơn một chút, đều tham gia vào công cuộc chiến tranh. Tháng 1 năm 1942, một tháng sau sự kiện Trân Châu Cảng, Wheeler tham gia ―Phòng thí nghiệm luyện kim‖ của Arthur Compton tại Đại học Chicago, ban đầu để vợ và hai con của ông ở lại Baltimore, nơi cuối năm đó người con thứ ba của ông, Alison, chào đời. Với phong cách tiêu biểu, Wheeler nhìn xa hơn lò phản ứng (hay ―cột‖) đầu tiên mà trên đó Fermi và một số đồng nghiệp của ông đang nghiên cứu. Ông bắt đầu nghĩ tới những lò phản ứng sản xuất plutonium cỡ lớn theo sau đó. Sau khi được Compton phân công làm nhà khoa học liên lạc chính của phòng thí nghiệm với DuPont, công ti tham gia thiết kế và chế tạo các lò phản ứng mới, năm 1943, Wheeler đến trụ sở của công ti ở Wilmington, Delaware. Ông nhận ra khả năng một số mảnh vỡ phân hạch khi ấy chưa biết có thể có tiết diện hấp thụ neutron lớn bất thường và do đó có thể gây tổn hại cho phản ứng dây chuyền. Vì thế, ông ủng hộ việc thiết kế lại các lò phản ứng – thứ công việc mà các kĩ sư bảo thủ của DuPont chẳng hề muốn làm.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

71

Hình 4. Dự án Dây thừng, đội B và lực lượng ủng hộ ở Đại học Princeton năm 1952. Đội B, do John Wheeler đứng đầu, dành nỗ lực của mình cho vũ khí nhiệt hạch. Đa phần các nhà khoa học của đội ở trong độ tuổi đôi mươi của mình. Từ trái sang phải, hàng đầu tiên: Margaret Fellows, Peggy Muray, Dorothea Reiffel, Audrey Ojala, Christine Shack, Roberta Casey. Hàng thứ hai: Walter Aron (với các cuộn dây thừng đúng như tên gọi của dự án), William Glendenin, Solomon Bochner, John Toll, Wheeler, Kenneth Ford. Hàng thứ ba và thứ tư: David Layzer, Lawrence Wilets, David Carter, Edward Rieman, Jay Berger, John McIntosh, Ralph Pennington, người chưa nhận ra, Robert Goerss (Ảnh: Howard Schrader, Lawrence Wilets)

Cảnh báo của Wheeler đã được trả giá. Ngày 27/09/1944, lò phản ứng Hanford đầu tiên, trong vòng hàng giờ tăng công suất lên trạng thái bình ổn ban đầu của nó là 9 MW, bắt đầu xì xèo và tắt ngấm. Sau khi ngừng chạy và ―yên nghỉ‖ cả đêm, lò phản ứng bắt đầu hoạt động trở lại, mang lại sự lo lắng về sự chết dần từ từ. Wheeler, phân tích sự lên xuống hành trạng của lò phản ứng trong hai ngày đầu tiên của nó, kết luận rằng thủ phạm là một đồng vị có chu kì bán rã chưa tới 11 giờ, bản thân nó là con của một đồng vị phóng xạ khác. Ông chỉ mất vài phút đứng trước biểu đồ hạt nhân trên tường phía ngoài văn phòng Hanford của ông để kết luận rằng đồng vị thủ phạm đó là xenon-135, có chu kì bán rã 9,2 giờ, là con của iodine-135. Kết luận đó tỏ ra chính xác và vấn đề được giải quyết bằng cách thêm các thỏi

72

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

uranium trong các ống rỗng đã được cấp trong lò phản ứng cho những sự kiện bất ngờ như thế. Nhưng hoạt động sau đó của lò phản ứng đòi hỏi điều khiển thận trọng hơn các thỏi điều khiển đó, vì trong thực tế, lò phản ứng có hai mode hoạt động: một mode không độc khi khởi động ở công suất thấp và một mode nhiều chất độc khi hoạt động ở công suất cao. Bốn năm sau khi chiến tranh kết thúc bất ngờ với việc nổ bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagasaki, tiếng nổ của vụ thử hạt nhân do Liên Xô thực hiện mùa hè năm 1949 đã đưa Wheeler trở lại nghiên cứu vũ khí. Chú ý tới lời kêu gọi của Teller, ông đã bở dỡ một năm Guggenheim của mình ở Paris để cùng Teller và những người khác ở Los Alamos nghiên cứu nhắm tới bom khinh khí. Một năm sau, sau một ý tưởng thiết kế quan trọng được Teller và Stanislaw Ulam giúp đỡ có khả năng sẽ thành công, Wheeler được phê chuẩn thiết lập một tổ chức vệ tinh ở Princeton, tổ chức đi vào hoạt động cuối xuân 1951. Gọi tên là Dự án Dây thừng, tổ chức Princeton có hai bộ phận. Bộ phận A, như tôi nhớ như vậy, đứng đầu là Lyman Spitzer và dành cho năng lượng nhiệt hạch điều khiển được. Một số người nói với tôi nó được gọi là bộ phận S, theo tên gọi Stellarator của Spitzer. Gọi như thế nào cũng vậy, bộ phận đó còn tồn tại cho đến ngày nay với tên gọi là Phòng thí nghiệm vật lí plasma Princeton. Bộ phận B, do Wheeler đứng đầu, dành cho nghiên cứu bom. Đa phần nhân sự ít ỏi của Wheeler là các sinh viên chưa tốt nghiệp và nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ mới tinh (xem hình 4). Việc thuyết phục các nhà khoa học lớn tham dự án, cho dù là với tư cách hàn lâm của Princeton, tỏ ra thật khó như việc mang họ trở lại Los Alamos. Tuy vậy, Wheeler và lực lượng nhân sự trẻ của ông đã có những đóng góp quan trọng cho thiết kế dụng cụ thử nghiệm nhiệt hạch đầu tiên và, với một thành tựu điện toán, đã tiên đoán thành công kết quả của nó trong vòng 30%. Đóng góp cá nhân của Wheeler cho nỗ lực đó là làm giảm cái đã biết hay đã dự đoán về tốc độ phản ứng và tính chất của vật chất lúc sắp phân hủy với một hệ phương trình vi phân kép đơn giản có thể giải được bằng số trên một máy tính có sẵn khi ấy – máy SEAC của Cục Tiêu chuẩn quốc gia – với tổng dung lượng bộ nhớ chưa tới 3 kilobyte. Dây thừng B ngừng hoạt động năm 1953, sau đó Wheeler chuyển hướng sự nghiệp mới của ông sang thuyết tương đối và sự hấp dẫn, đó là đề tài của bài báo của Misner, Thorne và Zurik. HiepKhachQuay dịch (theo Physics Today, tháng 4/2009)

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

73

Tài liệu tham khảo

74

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Sự sống lượng tử
Quan niệm rằng cơ học lượng tử có thể giải thích nhiều khía cạnh căn bản của sự sống đang được hồi sinh trở lại, như Paul Davies hé mở trong bài viết sau đây. Đối với nhà vật lí, sự sống trông có chút gì đó thật diệu kì – tất cả các nguyên tử ngu ngốc kia đang tụ tập lại cùng nhau để thực hiện những thủ thuật mới khéo léo làm sao! Trong hàng thế kỉ, các sinh vật sống được xem là thuộc một số dạng vật chất thần kì. Ngày nay, chúng ta biết rằng chẳng có ―lực sự sống‖ đặc biệt nào đang tác dụng trong thế giới sinh vật; chỉ có vật chất bình thường đang thực hiện những công việc khác thường, tất cả vẫn tuân theo các định luật quen thuộc của vật lí học. Vậy thì, đâu là bí mật của những tính chất khác thường của sự sống ?

Vật lí lượng tử có thể giải thích cho sự quang hợp (Ảnh: Gustoimages/Science Photo Library)

Vào cuối những năm 1940 và 1950, mốt hợp thời là cho rằng cơ học lượng tử - hay có lẽ cả một số ―cơ học hậu-lượng tử‖ sớm được thiết lập – giữ vai trò quan trọng đối với bí mật của sự sống. Bị khích động với sự thành công của chúng trong việc giải thích những tính chất của vật chất không sống, các nhà sáng lập của cơ học lượng tử hi vọng lí thuyết của họ đủ kì lạ và đủ mạnh để giải thích trạng thái sống khác thường của vật chất. Niels Bohr, Werner Heisenberg và Eugene Wigner đều đưa ra các lập luận, còn cuốn sách nổi tiếng của Erwin Schrödinger, Sự sống là gì ?, xuất bản năm 1944, đặt nền tảng cho sự ra đời của sinh học phân tử trong thập niên 1950. Nửa thế kỉ sau, giấc mơ rằng cơ học lượng tử bằng cách này hay cách khác giải thích được sự sống ―ngay tức khắc‖ – như nó đã giải thích những trạng thái khác của vật chất thật
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2 75

rõ ràng và toàn diện – đã không thu được kết quả. Không hoài nghi gì nữa, cơ học lượng tử là cần thiết để giải thích kích cỡ và hình dạng của các phân tử và các chi tiết của liên kết hóa học của chúng, nhưng chẳng có ―nguyên lí sống‖ rõ ràng nào xuất hiện từ thế giới lượng tử chi phối trạng thái sống theo một cách đặc biệt nào đó. Hơn nữa, các mô hình cổ điển quả cầu và keo dính dường như thích hợp cho đa số cách giải thích trong sinh học phân tử.

Hóa học protein xét một bố trí protein phức tạp trong một diện mạo năng lượng phức tạp. Các nhà vật lí đã tìm thấy bằng chứng mạnh mẽ rằng sự chui hầm lượng tử là cơ sở cho tính hiệu quả của những quá trình này. (Ảnh: Pasieka/Science Photo Library)

Bất chấp như vậy, có những khẳng định dai dẳng cho rằng cơ học lượng tử có thể giữ vai trò cơ sở trong sinh học, ví dụ qua sự chồng chất kết hợp và sự rối. Những khẳng định này đa dạng từ những quan điểm hợp lí, kiểu như sự gấp nếp protein có lượng tử tham dự, cho đến những đề xuất mang tính suy đoán nhiều hơn, ví dụ như đề xuất bởi Roger Penrose thuộc trường đại học Oxford và Stuart Hameroff thuộc trường đại học Arizona rằng cơ học lượng tử giải thích được ý thức bởi sự hoạt động trong não trên những chiều kích vĩ mô. Thật đáng tiếc, các hệ sinh học quá phức tạp nên khó mà tách các hiệu ứng lượng tử ―thuần túy‖ ra khỏi mớ lộn xộn đang chuyển dịch của những tiến trình về cơ bản là kinh điển cũng đang có mặt. Vì thế, có nhiều quan điểm bất đồng về phạm vi mà sự sống tận dụng những tiến trình lượng tử không tầm thường. Nhưng tại sao cơ học lượng tử lại liên quan đến sự sống, ngoài việc giải thích cấu trúc cơ bản và tương tác của các phân tử? Một lập luận phổ biến cho rằng các hiệu ứng lượng tử có thể đóng vai trò hỗ trợ các tiến trình hoặc là chậm xảy ra hoặc là không thể xảy ra theo vật lí cổ điển. Các nhà vật lí đã quen thuộc với thực tế sự gián đoạn, sự chui hầm lượng tử, sự chồng chất và sự rối tạo ra những hiện tượng mới lạ và bất ngờ. Sự sống đã có ba tỉ rưỡi năm để giải những bài toán và tối ưu hóa hiệu năng. Nếu cơ học lượng tử có thể làm tăng thêm hiệu năng của nó, hay mở ra những khả năng mới, thì có khả năng là sự sống sẽ khám phá ra thực tế đó và khai thác các cơ hội. Biết rằng những quá trình cơ bản của sinh học xảy ra ở cấp độ phân tử, việc khai thác các hiệu ứng lượng tử không phải là không có cơ sở.

76

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Cho dù sự sống không chủ động khai thác ―phép thần lượng tử‖, thì chúng ta cũng không thể bỏ qua sự tác động của cơ học lượng tử lên sinh học. Sự bất định lượng tử đặt ra một ranh giới cơ bản lên tính chính xác của tất cả các quá trình phân tử. Một đặc điểm nổi bật của sinh học là sự bố cục khéo léo ở cách tự lắp ráp và tự tổ chức phân tử phức tạp cao độ của nó. Để cho tế bào hoạt động được, điều quan trọng là những bộ phận thích hợp phải nằm ở nơi thích hợp vào thời điểm thích hợp. Cơ học lượng tử đặt ra những giới hạn cơ bản lên độ chính xác mà các phân tử có thể kết hợp lại theo một kiểu tập thể và có tổ chức. Chúng ta có thể trông đợi một số tiến trình của sự sống tiến hóa ít nhất là xa đến ―bến bờ lượng tử‖, ở đó sự thỏa hiệp được dàn xếp giữa tốc độ và độ chính xác. Quan điểm của thế kỉ 19 xem sự sống là ―vật chất thần kì‖, thí dụ bởi việc sử dụng thuật ngữ ―hóa học hữu cơ‖, đã bị thay thế bởi mô hình tế bào là một hệ phức tạp của những cỗ máy nano liên kết hoạt động dưới sự điều khiển của phần mềm kĩ thuật số mã hóa trong ADN. Những thành phần Lilliputian này, cấu tạo chủ yếu từ protein, gồm các máy bơm, rôto, bánh cóc, dây cáp, đòn bẫy, bộ cảm biến và những cơ chế khác quen thuộc với nhà vật lí và nhà kĩ sư. Sự thiết kế khéo léo của chúng, được trau chuốt bởi những kỉ nguyên tiến hóa, biểu hiện hiệu năng và tính biến hóa khôn lường, và là một nguồn cảm hứng cho các nhà công nghệ nano học. Trực giác thu được từ các cơ chế vĩ mô và vi mô có thể sai lệch ở cấp độ nano, nơi các hiện tượng lượng tử như hiệu ứng Casimir có thể phát huy vai trò và làm thay đổi ngoạn mục bản chất của các lực có liên quan.

Những lập luận ban đầu
Một ý tưởng sớm về các hiệu ứng lượng tử trong sinh học được đề xuất bởi Herbert Fröhlich ở trường đại học Liverpool, người hồi năm 1968 đã cho rằng các mode dao động của một số màng trong tế bào có thể biểu hiện hiện tượng hóa đặc Bose–Einstein, trong đó nhiều lượng tử được đưa vào một trạng thái lượng tử với sự kết hợp tầm xa. Hóa đặc BoseEinstein thường đi cùng với những nhiệt độ rất thấp, nhưng Fröhlich cho rằng sự ghép cặp phi tuyến giữa một tập hợp các dao động tử lưỡng cực bị điều khiển bởi một môi trường nhiệt có thể chuyển năng lượng vào một dao động tử kết hợp thậm chí ở nhiệt độ sinh học. Sinh vật thu được lợi thế gì từ mode dự trữ năng lượng này thì không rõ, mặc dù nó có thể được sử dụng cho các phản ứng hóa học có điều khiển. Một lập luận sớm và thường được nhắc lại nữa là một số đột biến sinh học xuất hiện là kết quả của sự chui hầm lượng tử. Cơ sở gen của sự sống được viết bằng bốn kí tự nucleotide A, G, C và T ghép cặp với nhau tạo thành các thành nối của cấu trúc thang xoắn kép của ADN. Sự sắp xếp bình thường là T ghép cặp với A và G ghép cặp với C, với các cặp được giữ với nhau lần lượt bằng hai hoặc ba liên kết hydrogen. Tuy nhiên, các nucleotide base còn có thể tồn tại những dạng khác, liên quan về mặt hóa học, gọi là tautomer, theo vị trí của một proton. Cơ học lượng tử tiên đoán rằng một proton có thể chui hầm với một xác suất hữu hạn qua hàng rào thế phân cách hai trạng thái này, dẫn đến sự ghép cặp sai, ví dụ, của T với G thay vì A. Các đột biến là động lực của tiến hóa, cho nên theo ý nghĩa hạn chế này, cơ học lượng tử nhất định là một yếu tố góp phần cho sự biến đổi tiến hóa. Nhà vật lí Johnjoe McFadden thuộc trường đại học Surrey đã xây dựng trên quá trình này để đề xuất một mô hình lượng tử của sự biến hóa thích nghi, trong đó các vi khuẩn bị tác động bởi môi

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

77

trường dường như có thể chọn lọc nhưng đột biến thích hợp làm tăng khả năng sống sót của chúng. Một ví dụ khác của sự chui hầm lượng tử với mối liên quan đến sinh học là về cơ sở hóa học protein – những phân tử lớn gấp nếp thành những hình dạng 3D phức tạp. Một số protein chứa những vị trí hoạt tính liên kết với hydrogen, và để đi tới những vị trí này, nguyên tử hydrogen phải vượt qua được một địa hình thế năng lượng phức tạp và đang chuyển dịch. Sự chui hầm lượng tử có thể làm tăng tốc quá trình này. Việc nghiên cứu xem sự chui hầm lượng tử có thể quan trọng như thế nào thật khó khăn, vì nhiều tương tác phức tạp xảy ra khi phân tử protein đung đưa lòng vòng và biến đổi hình dạng là kết quả của sự thăng giáng nhiệt. Một cách tiếp cận được nhà hóa học Judith Klinman thuộc trường đại học California, Berkeley, chọn là làm việc với deuterium thay cho hydrogen. Vì deuteron nặng chừng gấp đôi proton, nên việc sử dụng nó mang lại sự chênh lệch lớn cho tốc độ chui hầm. So sánh tốc độ phản ứng tương đối của hydrogen và deuterium trên một ngưỡng nhiệt độ rộng, vì thế, cho phép các nhà thực nghiệm tách ra được tầm quan trọng tương đối của các hiệu ứng lượng tử. Các kết quả dường như xác nhận rằng sự chui hầm lượng tử thật sự quan trọng, làm gia tăng nghi vấn đầy quyến rũ rằng không biết một số protein có thật sự tiến hóa để khai thác hiệu ứng này, biến chúng thành ―bộ tăng cường chui hầm‖ hay không. Trong sự tiến hóa, ngay cả một lợi thế nhỏ về tốc độ hay độ chính xác cũng có thể vượt lên thành sự thành công lấn át, vì sự chọn lọc tự nhiên khai triển theo hàm mũ tỉ lệ tương đối của những kẻ chiến thắng trong nhiều thế hệ.

Sự quang hợp và điểu cầm học
Mặc dù những thí dụ trước đã đi vào văn chương trong nhiều năm rồi, nhưng chúng không đưa đến sự chấp nhận rộng rãi rằng vật lí lượng tử thật quan trọng đối với sinh học. Tuy nhiên, chủ đề đó đủ hấp dẫn để tôi tổ chức hẳn một cuộc hội thảo về sinh học lượng tử tại Trung tâm BEYOND Các khái niệm cơ bản trong khoa học ở trường đại học bang Arizona hồi tháng 12 năm 2007, sau đó là một hội thảo nữa tổ chức bởi các nhà vật lí Vlatko Vedral và Elisabeth Rieper tại trường đại học quốc gia Singapore vào tháng 1 năm 2009. Sự xôn xao hoạt động này được thúc đẩy bởi hai phát triển thực nghiệm mới và khá ngoạn mục. Thứ nhất là một nghiên cứu về sự quang hợp thực hiện bởi nhà hóa học Berkeley, Graham Fleming, và nhóm của ông. Quang hợp là một cơ chế tinh vi và phức tạp cao độ khai thác năng lượng ánh sáng để phân tách nước bằng cách sử dụng từng photon riêng rẻ tạo ra một thác phản ứng. Quá trình đó cực kì hiệu quả, và tiêu biểu cho một thí dụ cổ điển về cách thức sự tiến hóa trau chuốt mẫu thiết kế của một hệ vật chất nhằm đạt được hiệu quả gần như tối ưu. Cơ quan nhận chủ yếu của năng lượng ánh sáng là một phức hợp phân tử sắc tố gọi là chromophore. Những cơ quan này có thể trở nên bị kích thích và giải phóng năng lượng kích thích trong một quá trình nhiều giai đoạn đến một trung tâm phản ứng cuối cùng, nơi xảy ra sự phân tách. Vì bước sóng của photon lớn hơn nhiều so với tập hợp phân tử, nên một trạng thái chồng chất của nhiều phân tử sắc tố bị kích thích thoạt đầu được tạo ra, và trạng thái này tiếp tục tiến triển trong khoảng thời gian hàng trăm femto giây. Fleming và nhóm của ông đã sử dụng kích thích laser và khảo sát các xung để nghiên cứu hành trình dịu đi của những

78

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

phức hợp khai thác ánh sáng này, và quan sát thấy một loại hiệu ứng ―cú đấm lượng tử‖ trong đó biên độ cực đại của kích thích đến gặp và lại đến gặp các phân tử khác nhau trong hệ một cách kết hợp. Fleming khẳng định rằng, với việc định thời gian thích hợp, hệ có thể ―chộp lấy‖ trạng thái kết hợp (tồn tại trong vài trăm femto giây) với xác suất lớn hơn nếu nó chỉ được phân bổ theo cơ học thống kê cổ điển. Ông tin rằng kết quả này có thể dẫn đến sự tăng nhiều bậc ở tốc độ chuyển hóa năng lượng. Các kết quả gần đây đã được bổ sung bởi công trình của Elisabetta Collini và Gregory Scholes tại trường đại học Toronto, họ đã chứng minh được sự kết hợp ở nhiệt độ phòng trong sự chuyển hóa electron-kích thích dọc theo các chuỗi polymer. Một đặc điểm quan trọng của sự quang hợp là kiến trúc phân tử được cấu trúc theo kiểu nhỏ gọn và khác lạ, cho thấy nó đã được ―tùy biến‖ để khai thác các hiệu ứng lượng tử tầm xa. Có thể là cấu hình đặc biệt đó hiệu quả ở việc bảo toàn sự kết hợp trong những khoảng thời gian dài bất ngờ, nhờ đó cho phép hệ ―khảo sát‖ nhiều lộ trình đồng thời và do đó tăng tốc độ ―giải quyết‖ (tức là phân phối năng lượng đến trung tâm phản ứng).

Những nghiên cứu gần đây cho thấy chim cổ đỏ châu Âu có một dãy protein thẳng hàng trong võng mạc của nó đóng vai trò bộ cảm ứng từ trường giúp nó định hướng (Ảnh: Anthony Cooper/Science Photo Library)

Sự phát triển thứ hai gần đây cho rằng vật lí lượng tử liên quan đến sinh học về chim định hướng. Người ta biết rõ rằng một số loài chim thực hiện những kì công dò đường thật đáng ngạc nhiên, sử dụng nhiều tín hiệu đa dạng, trong đó có định hướng cục bộ của từ trường của Trái đất. Tuy nhiên, bản chất của bộ cảm biến từ tính này vẫn là cái gì đó bí ẩn và vấn đề đó đặc biệt sâu sắc vì từ trường thâm nhập toàn bộ cơ thể sinh vật. Chẳng hạn, làm thế nào góc của từ trường so với con chim lại được dịch thành thông tin thần kinh? Một nghiên cứu của Thorsten Ritz tại trường đại học California, Irvine, nhóm của Christine Timmel tại trường đại học Oxford và Elisabeth Rieper tại trường đại học quốc gia Singapore đã đưa ra một trường hợp đáng tin cậy, ít nhất là đối với chim cổ đỏ châu Âu, rằng vấn đề nằm ở chỗ một lớp protein tìm thấy trên võng mạc của chim. Cơ chế đang nghiên cứu hiện nay yêu cầu sự quang hoạt hóa ở trên nền nhiệt của một dãy 2D protein sắp thẳng hàng, tạo ra các cặp ion căn bản bao gồm các trạng thái bộ đơn hai
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

79

electron. Spin của những electron vướng víu này liên hệ với nhau, và trong sự có mặt của một từ trường đều, chúng sẽ tiến động đồng bộ, duy trì cấu hình bộ đơn. Tuy nhiên, nếu electron vọt ra vì lí do gì đó di chuyển đi quá xa, thì hai electron có thể chịu những môi trường từ tính khác nhau. Mặc dù cả hai electron đều là đối tượng với cùng một cùng một trường bao quanh của Trái đất, nhưng electron gắn chặt với ion trong protein cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi từ trường hạt nhân của ion, tạo ra sự phân tách siêu tinh tế. Sự khác biệt từ trường chịu bởi các electron vướng víu làm cho trạng thái bộ đơn dao động với một trạng thái bộ ba, với chu kì phụ thuộc một phần vào cường độ và định hướng của từ trường Trái đất so với dãy protein. Hệ khi đó có thể thôi kích thích thành các giai đoạn và bắt đầu một phản ứng trên thực tế tác dụng như một la bàn hóa học, vì tỉ lệ tương đối của các sản phẩm phản ứng có thể phụ thuộc vào tần số dao động bộ đơn-bộ ba. Vẫn còn đó những bất định đáng kể về cơ chế lẫn sự nhận dạng chính xác các phân tử tham gia. Tuy vậy, bằng chứng chung nghiêng về một mô hình lượng tử thuộc một số loại xuất phát từ các thí nghiệm dẫn ra bởi Wolfgang và Roswitha Wiltschko thuộc trường đại học Frankfurt, họ đã nghiên cứu hành trạng của chim cổ đỏ trong sự có mặt của một từ trường nhỏ, đang dao động. Họ nhận thấy đối với những tần số gần 1,315 MHz, khả năng tìm đường đáng biểu dương của loài chim này bị tổn hại nghiêm trọng. Một lời giải thích khả dĩ của những thí nghiệm đó là từ trường nhiễu loạn tạo ra ―cộng hưởng‖gây ra các chuyển tiếp bộ đơn-bộ ba, từ đó phá vỡ la bàn hóa học.

Làm thế nào tránh được sự phá vỡ kết hợp
Mặc dù ít nhất thì một số trong những thí dụ này thoạt nhìn qua đã ủng hộ cho trường hợp cơ học lượng tử có vai trò trong sinh học, nhưng chúng đều phải đương đầu với một vấn đề cơ bản và nghiêm trọng. Các hiệu ứng như sự kết hợp, sự rối và sự chồng chất chỉ có thể duy trì nếu như hệ lượng tử tránh được sự phá vỡ kết hợp gây ra bởi các tương tác với môi trường của nó. Trong sự có mặt của tín hiệu nhiễu môi trường, mối quan hệ pha phức tạp đặc trưng cho các hiệu ứng lượng tử bị khuấy động, chuyển các trạng thái lượng tử thuần túy thành hỗn hợp và trên thực tế đánh dấu một chuyển tiếp từ hành trạng lượng tử sang cổ điển. Chỉ chừng nào ngăn không cho sự phá vỡ kết hợp xuất hiện thì các hiệu ứng lượng tử rõ ràng mới tồn tại được. Các khẳng định của sinh học lượng tử, do đó, đứng vững hay đổ ngã trên cỡ thời gian phá vỡ kết hợp chính xác. Nếu một hệ phá vỡ kết hợp quá nhanh, thì nó sẽ cổ điển hóa trước khi bất cứ mối quan tâm hóa sinh hay sinh học nào xảy ra. Trong những năm gần đây, đã có nhiều chú ý tới sự phá vỡ kết hợp, và giải pháp phòng tránh nó, bởi các nhà vật lí nghiên cứu trong lĩnh vực đang đâm chồi nảy mộc: điện toán lượng tử và khoa học thông tin lượng tử. Máy tính lượng tử là một phương thức xử lí thông tin hiệu quả hơn vật lí cổ điển cho phép bằng cách sử dụng các trạng thái lượng tử được phép để tiến hành các toán tử lôgic qua sự tiến triển kết hợp của sự chồng chất lượng tử. Sự phá vỡ kết hợp tương ứng với một nguồn sai số điện toán, cho nên các nhà vật lí đã và đang bận rộn thiết kế các môi trường trên lí thuyết không bị phá vỡ kết hợp, hoặc giảm bớt tác động của nó. Một thông số chủ chốt đó là nhiệt độ: nhiệt độ càng cao, thì sự phá vỡ kết hợp càng mạnh. Vì lí do này, đa số những nỗ lực điện toán lượng tử sử dụng các môi trường nhiệt độ cực thấp, ví dụ như các chất siêu dẫn hay các bẫy nguyên tử lạnh.

80

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Thoạt nhìn, phần nội bào ấm áp và ẩm ướt của tế bào sống dường như là một môi trường rất không triển vọng cho sự phá vỡ kết hợp thấp. Các tính toán sơ bộ cho thấy thời gian phá vỡ kết hợp chưa tới 10–13 s đối với những quá trình hóa sinh ở nhiệt độ của máu. Tuy nhiên, có những nguyên do lí giải vì sao các hệ sinh học thực tế kém nhạy với sự phá vỡ kết hợp hơn các mô hình đơn giản luận tiên đoán. Một nguyên do là vì các cơ thể sinh vật là những hệ có điều khiển, mở, phi tuyến cao, hoạt động ngoài sự cân bằng nhiệt động. Cơ sở vật lí của những hệ như vậy không được hiểu rõ cho lắm và có thể che đậy những tính chất lượng tử kì lạ mà sự sống đã khám phá ra trước khi chúng ta có. Thật vậy, các tính toán phức tạp cho thấy các mô hình đơn giản thường đánh giá quá cao tốc độ phá vỡ kết hợp. Chẳng hạn, Jianming Cai Hans Briegel ở trường đại học Innsbruck và Sandu Popescu ở trường đại học Bristol vừa tìm thấy rằng một hệ lượng tử hai spin được điều khiển động ngoài trạng thái cân bằng có thể biểu hiện sự kết hợp tiếp diễn ngay cả khi bắt ghép vơi một môi trường nóng và nhiễu sẽ nhanh chóng phá vỡ kết hợp một hệ tĩnh. Một tính toán dựa trên cái gọi là mô hình spin-boson của Anthony Leggett tại trường đại học Illinois ở Urbana-Champaign còn đề xuất những thời gian phá vỡ kết hợp động kéo dài cho các phonon tần số thấp. Ngoài ra, không nhất thiết mọi mức tự do phải khuất phục sự phá vỡ kết hợp: các hiệu ứng sinh lượng tử quan trọng có thể chỉ yêu cầu một tập con nhỏ được bảo vệ thôi.

Sinh học lượng tử chỉ có thể nếu như tránh được sự phá vỡ kết hợp, cái dường như không thể trong môi trường ấm áp của tế bào sống. Tuy nhiên, các kết quả điện toán lượng tử cho thấy các hệ sinh học có thể kém nhạy với sự phá vỡ kết hợp hơn các mô hình đơn giản tiên đoán. (Ảnh: Isaac Chuang/IBM Almaden Research Center/Science Photo Library)

Nguồn gốc của sự sống
Một thế kỉ rưỡi sau khi Charles Darwin xuất bản cuốn Về nguồn gốc các loài, nguồn gốc của bản thân sự sống vẫn còn là một bí ẩn ngoan cố, và hết sức khó hiểu. Cơ thể sống đơn giản nhất được biết là những phức hợp lạ lùng, và người ta không thể hình dung nổi là một thực thể như vậy sẽ phát sinh tự phát bởi sự tự lắp ráp tình cờ. Đa số các nhà nghiên cứu cho rằng sự sống đã bắt đầu hoặc với một tập hợp phân tử tự sao chép, mang thông tin dạng số đơn giản hơn ADN nhiều lần, hoặc với một chu trình hóa học tự xúc tác không lưu trữ thông tin gen chính xác mà có khả năng tạo ra những lượng hỗn hợp hóa chất khác nữa. Cả

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

81

hai cách tiếp cận này đều tập trung vào sự tái sản xuất các chất, điều đó chỉ là tự nhiên bởi vì, suy cho cùng, sự sống đã biết tái tạo bằng cách sao chép chất liệu gen. Tuy nhiên, những tính chất chủ yếu của sự sống – tái tạo với biến thể, và chọn lọc tự nhiên – không yêu cầu bản thân các cấu trúc vật chất phải được sao chép. Chỉ cần thông tin được sao chép là đủ. Điều này mở ra khả năng là sự sống có lẽ đã bắt đầu với một số dạng bộ sao chép lượng tử: gọi là Q-life, nếu bạn thích. Người ta biết rõ rằng những hàm sóng như vậy không thể khép kín, nhưng thông tin lượng tử gián đoạn, ví dụ như hướng spin hay sự chiếm giữ giếng năng lượng, có thể được sao chép. Lợi thế của sự sao chép đơn giản thông tin ở mức độ lượng tử, so với việc xây dựng các cấu trúc phức tạp tinh vi, là tốc độ nhanh. Một sự kiện sao chép có thể tiến triển trên một hóa chất hoặc cỡ thời gian chui hầm femto giây. Thời gian này so sánh được với 10 ms cần thiết để tái tạo một cặp base ADN. Vì thế, Q-life có thể phát triển nhanh hơn nhiều bậc độ lớn so với sự sống hóa chất. Ngoài ra, các thăng giáng lượng tử mang lại một cơ chế tự nhiên cho sự biến hình, còn sự chồng chất kết hợp cho phép Q-life tiến hóa nhanh chóng bằng cách khảo sát toàn bộ địa hình những khả năng thích nghi một cách đồng thời. Tất nhiên, môi trường Q-life giả thuyết này là chưa biết, nhưng bề mặt của một hạt bụi giữa các sao hay lõi bên trong của một sao chổi trong đám mây Oort mang lại những môi trường nhiệt độ thấp giàu thế vật lí và thế hóa học. Vậy Q-life sẽ tiến hóa thành sự sống hóa học quen thuộc như thế nào? Một kịch bản có khả năng là các phân tử hữu cơ bị Q-life trưng dụng để lưu trữ thông tin dự phòng cường tráng hơn. Một vật tương tự là máy vi tính. Bộ vi xử lí nhỏ và nhanh đến khó tin, nhưng tinh vi: tắt máy tính thì dữ liệu bị mất. Vì thế, các máy tính sử dụng đĩa cứng để sao lưu và lưu trữ thông tin số. Các ổ đĩa cứng thì tương đối lớn và cực kì chậm chạp, nhưng chúng tráng kiện và xác thực, và chúng vẫn giữ được thông tin của chúng dưới một ngưỡng rộng chấn động môi trường. Sự sống hữu cơ có thể đã bắt đầu dưới dạng ―ổ đĩa cứng‖ chậm-nhưng-xác-thực của Q-life. Do tính linh hoạt và bền bỉ của nó, nên cuối cùng nó có thể đúng là ―sống cuộc đời riêng của nó‖, tách rời khỏi tổ tiên Q-life của nó và phân tán đến những môi trường kém chuyên biệt và hạn chế hơn – ví dụ như Trái đất. Hành tinh của chúng ta được bồi một cơn mưa không ngớt các hạt giữa các sao và bụi sao chổi, cho nên sự phân tán chẳng là vấn đề gì. Như là số mệnh của Q-life, thật tiếc là nó bị phá hủy hoàn toàn khi đi vào bầu khí quyển của Trái đất. Có bằng chứng tích góp và trêu ngươi rằng cơ học lượng tử giữ vai trò then chốt ở đâu đó trong sinh học. Cái hiện thiếu là bất kì một trường hợp rõ ràng nào cho một ―nguyên lí sự sống lượng tử‖ khái quát có thể mang lại một khuôn khổ khái niệm mới trong đó những tính chất nổi trội của các hệ sống có thể được hiểu rõ, như Schrödinger và những người khác hi vọng. Tuy nhiên, cơ sở vật lí của các hệ lượng tử phức tạp nằm ngoài trạng thái cân bằng với những kết hợp phi tuyến vẫn còn trong giai đoạn trứng nước của nó, và chắc chắn còn có những bất ngờ mới. Trong khi đó, các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực khoa học thông tin lượng tử đang mải mê làm suy giảm sự phá vỡ kết hợp có thể tìm thấy trong nghiên cứu về các cỗ máy nano sinh học món quà bất ngờ. Paul Davies, nhà vật lí và nhà sinh vật học vũ trụ, và là giám đốc BEYOND: Trung tâm Các Khái niệm Cơ bản trong Khoa học tại trường Đại học Arizona, Mĩ.

82

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Charles Darwin và Vật lí học
Leonard Susskind (Physics World, 07/2009) Ra đời cách đây 200 năm, Charles Darwin nổi tiếng với công trình nghiên cứu của ông giải thích nguồn gốc của các loài. Nhưng khi đặt ra một tiêu chuẩn mới cho cái mà một sự giải thích của tự nhiên sẽ phải như vậy, ông còn có sự tác động to lớn lên vật lí học và vũ trụ học, như Leonard Susskind giải thích sau đây. Charles Darwin không phải nhà vật lí lí thuyết, và tôi chẳng phải là nhà sinh học. Nhưng, với tư cách là nhà vật lí lí thuyết, tôi tìm thấy nhiều thứ để nghĩ về di sản của Darwin – và cả di sản của nhà tự nhiên học đồng chí của ông, Alfred Russell Wallace. Phong cách khoa học của Darwin thường không được xem là mang tính lí thuyết và nhất định không có tính toán học: ông là một người quan sát tự nhiên thận trọng, ghi chép nhiều, đóng góp cho các bộ sưu tập động vật học; và cuối cùng từ vô số mục quan sát của ông đã suy luận ra quan điểm rằng sự chọn lọc tự nhiên là nguồn gốc của các loài. Giá trị của sự lí thuyết hóa thường bị bỏ qua trong khoa sinh học vì nó kém quan trọng hơn việc quan sát; và Darwin là nhà quan sát bậc thầy.

Ảnh: Bill Sanderson/Science Photo Library

Tôi nghĩ quan điểm đó thiếu mất một số điều căn bản, đó là vẻ đẹp trang nghiêm và tính chắc chắn hầu như toán học của các quan niệm Darwin. Giống như các quan niệm vĩ đại của Einstein, lí thuyết tiến hóa dựa trên một trải nghiệm đơn giản: bắt đầu với một sinh vật tự sao chép rất đơn giản, cộng thêm các định luật di truyền và biến dị của Mendel, và rồi hệ đó chắc chắn phân nhánh thành một cây tiến hóa.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

83

Darwin chẳng hứng thú đặc biệt gì với thiên văn học hay vật lí học, nhưng sự tác động của ông lên ngành vũ trụ học là rất lớn, nhưng theo một kiểu mang tính tiềm thức. Trong khi giải thích thành công nguồn gốc của các loài, ông đã bài trừ mê tín dị đoan và đặt ra một chuẩn mới cho cái mà một lời giải thích của tự nhiên phải như thế. Như tôi đã viết trong cuốn sách của mình, Cuộc chiến Lỗ đen (Little Brown, 2008), kì công của Darwin là đã ―tiễn Chúa ra khỏi khoa học của sự sống‖. Đúng vậy, Darwin không phải là nhà khoa học đầu tiên bác bỏ các niềm tin siêu nhiên. Hai thế kỉ trước đó, Newton – một nhà khoa học Cambridge vĩ đại khác – đã làm việc đó nhiều hơn bất kì ai trước thời kì của ông. Quán tính (khối lượng), gia tốc và định luật vạn vật hấp dẫn đã thay thế bàn tay của Chúa, Chúa không còn cần thiết để chỉ dẫn các hành tinh chuyển động nữa. Nhưng như các nhà viết sử khoa học thế kỉ 17 chưa hề mệt mỏi nhắc nhở chúng ta, Newton là một tín đồ Cơ đốc và là một con chiên ngoan đạo số một. Ông đã mất nhiều thời gian, công sức và giấy mực cho thần học Cơ đốc hơn là cho vật lí học. Đối với Newton và những người đương thời của ông, sự tồn tại của một đáng sáng tạo thông minh phải là một nhu cầu trí tuệ: nếu không thì làm sao bạn giải thích được sự tồn tại của loài người? Chẳng có gì trong quan điểm của Newton về thế giới có thể giải thích sự sáng tạo, từ vật chất vô tri vô giác cho đến đối tượng phức tạp như con người có khả năng nhận thức. Newton có nhiều lí do để tin vào một nguồn gốc thần thánh.

Phân tử ADN (trái) với, nói ví dụ, một trăm triệu cặp base khác nhau A, G, C và T có thể sắp thành theo 4 cách khác nhau. Để cho cái gì đó lí thú – sự sống – phát sinh từ vô số kiểu hình của những mẫu thiết kế sinh học khả dĩ, cả sự chọn lọc tự nhiên Darwin lẫn khả năng ADN đột biến đều cần thiết. Trong khi đó, lí thuyết dây (phải) phát biểu rằng vũ trụ gồm các dòng chảy, các brane và những thành phần khác sắp xếp trên một nơ gút nhỏ xíu của không gian nhiều chiều hơn. Vô số ―kiểu hình‖ thuộc những cách khác nhau trong đó những thành phần này có thể là những dạng sắp xếp tương ứng kì lạ với nhiều sắp xếp khả dĩ khác của các cặp base trên một phân tử ADN (Ảnh (trái): Pasieka/Science Photo Library; (phải): Mehau Kulyk/Science Photo Library)
100 000 000

Nhưng cái Newton thất bại, hai thế kỉ sau đó cuối cùng (và bất đắc dĩ) Darwin đã thành công. Quan niệm của Darwin về sự chọn lọc tự nhiên – cùng với khám phá sau đó bởi James Watson và Francis Crick (cũng ở Cambridge) về cấu trúc chuỗi xoắn kép của ADN – đã thay thế sự thần kì sáng tạo bằng các định luật xác suất và hóa học.

84

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Nói cách khác, trước Darwin, ngay cả những nhà vật lí vĩ đại nhất cũng ít có khả năng thay thế một lời giải thích siêu nhiên của nguồn gốc của sự sống, và do đó nguồn gốc của bản thân tự nhiên. Sự thành công của học thuyết Darwin đã giải quyết được vấn đề và đặt ra tiêu chuẩn cho các lí thuyết tương lai về nguồn gốc, cho dù là nguồn gốc của sự sống hay của vũ trụ. Những lời giải thích phải xây dựng trên các định luật vật lí, tians học và xác suất – và không dựa vào bàn tay của Chúa.

Loại bỏ người thợ đồng hồ vĩ đại
Lúc còn nhỏ, Darwin đã ấn tượng sâu sắc bởi các lập luận của Reverend William Paley (1743–1805), một giáo sĩ đã biện hộ cho cái ngày nay chúng ta gọi là ―thiết kế thông minh‖. Paley tưởng tượng tìm thấy một đồng hồ bỏ túi nằm trên mặt đất, có lẽ trong khi đang tản bộ trong rừng. Ông có thể tự hỏi chẳng biết làm sao mà một vật phức tạp, tinh vi như vậy lại có thể tồn tại. Một câu trả lời khả dĩ là nó là kết quả của một biến cố ngẫu nhiên; một lượng lớn phân tử thuộc những loại khác nhau kết hợp lại bởi vận may hình thành nên chiếc đồng hồ. Paley phát biểu chí lí rằng điều này khó mà xem xét một cách nghiêm túc được. Phải có một cách giải thích khác. Điều duy nhất có ý nghĩa là cái đồng hồ được chế tạo vì một số mục đích bdi nào đó bởi một người thợ thủ công khéo tay – người thợ đồng hồ. Paley tiếp tục theo đuổi ý tưởng đó. Chúng ta tìm thấy trong tự nhiên những cơ chế nhất định phức tạp đến mức khó tin, ví dụ như sự tồn tại của loài người, có khả năng thuộc những hoạt động còn phức tạp hơn nhiều so với cái đồng hồ bỏ túi. Bằng sự tương tự, Paley cho rằng sự sáng tạo tình cờ rất ít có khả năng và con người tồn tại phải được tạo ra bởi một đấng tạo hóa thông minh vì một số mục đích nào đó. Vậy làm thế nào và tại sao Darwin lại đi đến bác bỏ luận lập thuyết phục của Paley đã được mọi người biết rõ, nhưng cái ít được chú ý hơn là vật lí học và vũ trụ học có những câu hỏi rất giống như vậy, ví dụ như tại sao vũ trụ dường như tinh vi quá mức kinh ngạc cho sự tồn tại của sự sống. Lời giải thích duy nhất, nếu chúng ta có thể gọi nó là một lời giải thích, là nếu như vũ trụ kém tinh vi hơn thì những người quan sát thông minh kiểu như chúng ta sẽ không thể có mặt. Tôi, tất nhiên, đang nói tới hằng số vũ trụ, L. Trên lí thuyết, người ta muốn L là đơn vị trong hệ đơn vị Planck tự nhiên. Nhưng nếu nó lớn hơn giá trị được biết hiện nay của nó một chút - 10–123 - nó sẽ cản trở sự tiến hóa của các thiên hà, các sao và chúng ta. Giống như Paley, chúng ta gặp phải cái dường như là một biến cố cực kì không có khả năng xảy ra. Đa số các nhà vật lí bác bỏ một lời giải thích siêu nhiên – một người thợ đồng hồ vũ trụ - để giải thích cho thực tế điều chỉnh tinh vi này. Nhưng nếu không phải là người thợ đồng hồ, vậy thì là cái gì chứ? Cho đến gần đây, đa số nhà vật lí vẫn nói rằng đó là ngẫu nhiên, là một sự trùng hợp số học. Tham vọng của ngành vật lí lí thuyết là khám phá ra một lời giải thích toán học độc nhất, chẳng có gì để làm với sự tồn tại của bản thân chúng ta, cho toàn bộ các hằng số của tự nhiên. Đúng là một biến cố may mắn vì chúng dường như rơi vào ngưỡng giá trị hẹp trong đó sự sống thông minh có thể tồn tại. Nhưng như Paley than phiền, các biến cố có đến 123 chữ số thập phân rất không có khả năng.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

85

Tính đa dạng của kiểu hình
Trong thập kỉ vừa qua, một quan niệm mới đã và đang được định hình, một quan điểm cho rằng theo những cách nhất định có những đặc điểm chung với sự tiến hóa sinh học. Darwin và Wallace nhấn mạnh đột biến và sự chọn lọc tự nhiên là những động cơ chính của sự tiến hóa, nhưng có một số thứ còn cơ bản hơn nữa. Đột biến và chọn lọc tự nhiên sẽ không có sức mạnh sáng tạo ra loài người nếu như không có một thực tế quan trọng: tính đa dạng kiểu hình của các mẫu thiết kế sinh học. Các mẫu thiết kế sinh học được mã hóa trong các phân tử ADN, ADN chứa hai chuỗi polynucleotide xoắn lại, mỗi chuỗi có bốn cặp base khác nhau (A, G, C và T) gắn vào. Trong một sinh vật phức tạp, mỗi một phân tử ADN này có thể chứa nhiều triệu cặp base. Những sắp xếp khả dĩ của những cặp base này xác định kiểu hình sinh học, và số khả năng là cực kì lớn. Một trăm triệu cặp base, chẳng hạn, có thể sắp xếp theo 4100 000 000 cách. Giả sử tại một thời điểm nào đó chỉ có một nghìn mẫu thiết kế có khả năng, hay thậm chí là một triệu. Vậy thì mẫu nào trong số chúng có khả năng tạo ra một dạng sống thông minh? Hoàn toàn không đáng kể. Nhưng cho dù những thiết kế may rủi như vậy là cực kì hiếm, thì 4100 000 000 kết hợp sẽ là một con số rất lớn trong số chúng. Nguyên lí đầu tiên của sự tiến hóa sinh học – còn cơ bản hơn cả sự chọn lọc tự nhiên – là tính đa dạng kiểu hình của các mẫu sinh học. Nguyên lí thứ hai là sự biến dị: thực tế thì trong khi tái tạo, những chỉ dẫn mã hóa trong ADN có thể nhảy rời rạc sang những cấu hình mới. Sự chọn lọc tự nhiên tất nhiên là quan trọng, nhưng không có kiểu hình biến dị thì chẳng có cái gì lí thú phát sinh cả. Mô hình đang xuất hiện giải thích những tính chất đặc biệt của vũ trụ của chúng ta, theo một ý nghĩa nào đó, là một nỗ lực nhằm làm sống dậy tiêu chuẩn đặt ra bởi thuyết tiến hóa Darwin: để cung cấp một lời giải thích tự nhiên (đối lập với siêu nhiên) không ngẫu nhiên cho sự đặc biệt rõ ràng rất không có khả năng của vũ trụ và các định luật của nó. Thật bất ngờ, nó cũng gồm hai nguyên lí trọng tâm: một địa hạt vô số khả năng và biến dị ngẫu nhiên. Nó còn gồm một cơ chế tương tự như ADN.

Các tiêu chuẩn Darwin
Chúng ta hãy bắt đầu với ADN của một vũ trụ. Nó là cái gì và tại sao chúng ta tin rằng một cái như thế là có ý nghĩa? Lí thuyết dây là một chìa khóa mở vấn đề này. Nó giả sử rằng ở những khoảng cách cực kì nhỏ, không gian là một đa diện nhiều chiều phức tạp với nhiều – thường là sáu – chiều ―thêm vào‖ nhỏ xíu ngoài ba chiều chúng ta thấy trong cuộc sống hàng ngày. Nếu chúng ta nhìn vũ trụ qua một kính hiển vi siêu mạnh, thì chúng ta sẽ thấy nó gồm những thành phần ―Tinkertoy‖ gọi là thông lượng, brane, mô-đun, mặt định hướng (và vân vân), tất cả sắp xếp trên một gút thắt nhỏ xíu của không gian nhiều chiều hơn gọi là đa diện Calabi–Yau. Đa diện Calabi–Yau giống như cái xương sống cơ bản của phân tử ADN, và những thành phần khác có thể sắp xếp và sắp xếp lại theo vô số cách khác nhau; có lẽ nhiều cách như một phân tử ADN thật sự.

86

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Giống như các chi tiết của ADN xác định các chi tiết sinh học của một cơ thể sống, các chi tiết của thông lượng, brane và những thành phần khác xác định các tính chất của vũ trụ. Một lần nữa, các con số lại gây choáng, mặc dù thế giới như chúng ta biết dường như cực kì không có khả năng, nhưng sẽ vẫn có nhiều cách sắp xếp các thành phần để làm cho các hằng số của tự nhiên phù hợp với sự sống. Đặc biệt, sẽ có nhiều cấu hình trong đó hằng số vũ trụ sẽ được điều chỉnh tinh vi đến 123 chữ số thập phân.

Thường thì một vùng không gian mới được tin là đã tạo ra trong vũ trụ sơ khai đang giãn nở, với những tính chất và hằng số khác. Cái bọt nhỏ xíu này lớn lên và trở thành một vũ trụ mới tự nó sinh sôi nảy nở và biến dị cuối cùng dẫn đến một đa vũ trụ rất lớn, những nhánh hiếm của chúng cho phép sự sống phức tạp. (Ảnh: Detlev van Ravenswaay/Science Photo Library)

Còn sự sinh sôi và biến dị thì sao? Đây là nơi lí thuyết lạm phát của vũ trụ học phát huy tác dụng. Có nhiều bằng chứng rằng trong kỉ nguyên sớm nhất của vũ trụ, không gian tự nó giãn nở theo hàm mũ. Lạm phát là một quá trình trong đó không gian lớn dần lên giống như bề mặt của một quá bóng đang bơm căng lên, nhưng thay vì mỏng dần đi, giống như lớp cao su của quả bóng, nhưng mảnh không gian mới sẽ được tạo ra để lấp đầy những chỗ trống. Đối với đa số bộ phận, những mảnh không gian mới có ADN giống như những vùng xung quanh chúng, nhưng thường thì biến dị xuất hiện. Một chút không gian với những tính chất mới, những hằng số mới và một giá trị mới cho hằng số vũ trụ được tạo ra. Theo thuyết tương đối tổng quát chuẩn, thì cái bọt nhỏ xíu này lớn dần lên và cuối cùng trở thành một vũ trụ lạm phát mới, sinh sôi nảy nở và biến dị. Toàn bộ quá trình này được gọi là sự lạm phát vĩnh viễn và nó tạo ra một đa vũ trụ rất lớn phong phú và đa dạng như cây sự sống, mỗi nhánh có những định luật vật lí, các hằng số tự nhiên và các hạt sơ cấp riêng của nó. Đây đó có một nhánh rất hiếm được tạo ra có những tính chất đặc biệt sẽ cho phép sự sống phức tạp. Không biết lí thuyết dây với vô số kiểu hình của nó, và sự lạm phát vĩnh viễn vởi những gói không gian đang sinh sôi của nó, có đúng hay không, vấn đề đó hãy để cho tương
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2 87

lai quyết định. Cái đúng chính xác là ở thời điểm hiện nay, chúng đang mang lại lời giải thích tự nhiên duy nhất của vũ trụ làm sống dậy các tiêu chuẩn do Darwin lập ra. Leonard Susskind (Khoa Vật lí, Đại học Stanford, Mĩ)

88

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Vật lí đã truyền cảm hứng cho sinh học như thế nào ?
Alexei Korrnyshev cho rằng các nhà vật lí và nhà sinh học hiện đang làm việc gần gũi với nhau hơn bao giờ hết, nhưng vẫn còn tồn tại những rào cản để hợp tác chặt chẽ hơn.

Nhà vật lí và nhà sinh học cần phải học hỏi để hiểu nhau hơn (Ảnh: Photolibrary)

Tháng 7 năm 1997, Adrian Parsegian, một nhà sinh lí học tại Viện Y tế Quốc gia ở Mĩ và là cựu chủ tịch Hội Sinh lí học, đã cho ra một bài báo trên tờ Physics Today, trong đó ông phác họa những suy nghĩ của ông về những chướng ngại vật chủ yếu cho mối lương duyên giữa vật lí học và sinh học. Parsegian bắt đầu bài báo của ông với câu chuyện vui về một nhà vật lí trao đổi với người bạn đã qua trường lớp sinh học của ông. Nhà vật lí: ―Tôi muốn nghiên cứu não. Hãy nói với tôi đôi điều có ích đi nào‖. Nhà sinh học: ―À, trước hết, não có hai bán cầu‖. Nhà vật lí: ―Thôi đi! Anh nói với tôi nhiều quá rồi đấy!‖. Parsegian tiếp tục liệt kê ra một vài lĩnh vực thuộc sinh học trong đó thông tin cung cấp từ phía các nhà vật lí đặc biệt được hoan nghênh. Nhưng kết luận chính của ông là các nhà vật lí thật sự phải học sinh học trước khi muốn đóng góp cho lĩnh vực đó. Ông còn cảnh báo rằng có thể như thế là không đủ cho một nhà vật lí có một người bạn là nhà sinh học đóng vai trò ―người phiên dịch‖ để dịch một vấn đề thành ngôn ngữ vật lí. Mặc dù được viết thật nhẹ nhàng và tao nhã, nhưng bài báo đó đã khiêu khích một phản ứng dữ dội từ phía Robert Austin, một nhà vật lí tại Đại học Princeton, ông cáo buộc rằng Parsegian ngăn cấm các nhà vật lí xử lí những vấn đề lớn trong sinh học. Quan điểm của tôi không nghiêng về Parsegian hay Austin và, theo quan điểm của tôi, mối quang học giữa các nhà vật lí học và nhà sinh học đã được cải thiện phần nào trong 12 năm qua kể từ khi bài báo của Parsegian xuất hiện lần đầu tiên. Tuy nhiên, tôi tin rằng các quan hệ đó vẫn bị tiêm nhiễm bởi một số niềm tin sai lầm đang cản trở các nhà vật lí và nhà sinh học làm việc gần gũi với nhau hơn.

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

89

Hơn cả đức tin?
Trở lại đầu những năm 1970, khi tôi còn là nghiên cứu sinh năm thứ nhất tại Viện Frumkin ở Moscow, tôi thường tham dự các buổi seminar lí thuyết do Benjamin Levich – học trò cũ của Lev Landau – chủ trì, ông được nhiều người biết tới là cha đẻ sáng lập của thủy động học hóa-lí. Mỗi khi một người thuyết trình nào đó say mê quá mức bảo chúng tôi với độ tin cậy 100% cách thức, nói ví dụ, các electron và nguyên tử hành xử trong một dung môi ở gần một điện cực, Levich sẽ cắt ngang buổi seminar bằng cách pha trò ―Làm sao anh biết thế? Anh đã có mặt ở đó à?‖ Gần bốn thập niên đã trôi qua, các nhà vật lí giờ đã có nhiều công cụ thực nghiệm để ―đi tới đó‖. Chẳng hạn, các nguồn synchrotron tia X hiện đại cho phép các nhà nghiên cứu nhìn vào cấu trúc tinh thể, khám phá cách thức các mẫu sinh vật đột biến và còn định vị được nơi ion hút bám trên ADN; trong khi các kĩ thuật như chụp ảnh huỳnh quang với độ chính xác nano mét (FIONA) cho phép chuyển động của các protein như myosin hay actin được theo dõi trong thời gian thực. Nhưng mặc dù những kĩ thuật này thường mang lại những kết quả đầy quyến rũ, nhưng chúng là không đủ nếu không có một phân tích lí thuyết sâu sắc của các thật sự ―đang trông thấy‖. Cho nên, đứng đầu trong số những quan niệm sai lầm này là ―thấy là tin‖. Một bức tranh đẹp có thể có một sự duyên dáng hấp dẫn, nhưng chỉ có thế là không đủ. Niềm tin thứ hai gây nguy hại cho sự hợp tác là thói hình thức cho rằng một lí thuyết sinh học phải thật đơn giản – nó phải không có gì nhiều hơn các hàm mũ và logarithm (làm ơn đừng có hàm Bessel!). Nếu không thì công việc hãy để cho máy tính thực hiện. Quan điểm này được ủng hộ bởi Rod Philips ở Viện Công nghệ California, người đi đến tìm yêu mới của mình – sinh học – từ lí thuyết chất rắn. Tuy nhiên, tôi rất không tán thành với quan điểm đó và tôi thường tranh luận với ông về nó khi chúng tôi đều nghỉ phép tại Viện Vật lí Lí thuyết Kavli ở Santa Barbara. Như tôi thường vạch ra, James Watson và Francis Crick có thể chưa bao giờ giải mã được cấu trúc của ADN từ hình ảnh tán xạ tia X thu được bởi Rosalind Franklin và Maurice Wilkins nếu họ chẳng các công cụ toán học phát triển bởi Crick, William Cochran và Vladimir Vand một năm trước đó (1952 Acta. Crystollograph. 5 581). Thật vậy, các hàm Bessel nằm ngay trung tâm của phân tích đó. Niềm tin thứ ba là các nhà sinh học sẽ không bao giờ đọc các bài báo khoa học chứa các công thức toán học. Như Don Roy Forsdyke, một nhà hóa sinh tại trường Đại học Queen ở Ontario, Canada, có lần bảo tôi, ―Tư liệu sinh học thật vô bờ bến. Các nhà sinh học có quá nhiều báo để đọc và quá nhiều thí nghiệm để thực hiện. Họ sẽ gác qua một bên mọi bài viết trông khó khăn‖. Nếu điều này đúng, và tôi nghĩ nó đúng, thì các nhà vật lí đang gặp rắc rối to rồi. Điều này đưa chúng ta thẳng đến niềm tin kế tiếp, cho rằng nhà vật lí không thể nào công bố một bài báo lí thuyết quan trọng trên một tập san sinh học. Các nhà lí thuyết cần các phép đạo hàm toán học để chứng minh kết quả tìm kiếm của họ, nhưng bất kì bài báo nào có chứa đạo hàm sẽ bị từ chối. Nếu khi ấy bạn công bố bài báo trên một tập san vật lí, thì nó sẽ không được đọc bởi những người mà nó nhắm tới. Thật ra, những bài báo hay thuộc loại đó thỉnh thoảng vẫn được công bố và đọc, nhưng đây vẫn là một vấn đề khó khăn.

90

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Cuộc cách mạng ADN
Các nhà vật lí muốn đơn giản hóa và thống nhất mọi thứ, càng nhiều càng tốt, trong khi các nhà sinh học thì phản đối phương pháp giản hóa luận và vui vẻ với sự đa dạng hóa và phức tạp. Cho nên, niềm tin thứ năm của nhà sinh học là các nhà vật lí quá dốt nát về tính đa dạng để mang lại cho chúng bất cứ thứ gì có ý nghĩa. Các nhà sinh học thừa nhận rằng nhà vật lí có thể mang lại, nói ví dụ, một kĩ thuật quang phổ mới hay các thiết bị đo lường lực, nhưng đó là vì họ không không hiểu tính đa dạng. Theo quan điểm của họ, sinh học chẳng có gì là chuyên nghiệp cả. Niềm tin cuối cùng là các nhà sinh học nghĩ rằng các nhà vật lí đã thực hiện một đột phá to lớn – giải thích cấu trúc và chức năng của ADN – nhưng một cuộc cách mạng tương tự không có khả năng xảy ra lần nữa. Tuy nhiên, vấn đề then chốt là khám phá đó là sự ―pha trộn‖ giữa Watson (một nhà sinh học) và Crick (một nhà vật lí), giúp họ tìm ra một ngôn ngữ chung và mang lại ý tưởng nhân bản ADN và các nguyên tắc sau đó của sinh học phân tử. Tôi tin rằng chúng ta có thể trông đợi vào những đột phá khác thuộc loại này bởi vì vật lí học và toán học đã có một lịch sử cách mạng lâu dài không chỉ trong khoa học mà còn trong cuộc sống của chúng ta nữa.

Những sự hợp tác đầy ý nghĩa
Bất chấp tất cả những điều này, cảm giác của tôi là các nhà vật lí và nhà sinh học đang ngày càng hiểu nhau hơn. Ví dụ, hồi tháng rồi, cùng với Parsegian và Wilma Olson ở trường Đại học Rutgers, người là cựu chủ tịch Hội Sinh lí học, tôi đã tổ chức một cuộc hội thảo chủ đề ―Từ nền vật lí được truyền cảm hứng bởi ADN đến nền sinh học được truyền cảm hứng bởi vật lí‖. Có chừng 140 nhà nghiên cứu tham dự, cuộc hội thảo tổ chức tại Trung tâm Vật lí Lí thuyết quốc tế (ICTP), ở Trieste, Italy, được ICTP bảo trợ và Wellcome Trust đồng bảo trợ. Nhưng hội thảo ấy không chỉ dành các nhà vật lí có hứng thú với sinh học. Nó còn nhắm tới các nhà sinh học hứng thú với việc học hỏi những cái do các phương pháp vật lí mới và kiến thức hiện có có thể mang lại cho họ, đồng thời còn xác định cho các nhà vật lí những vấn đề mà nhà sinh học nghĩ rằng có thể thu lợi từ dữ liệu vào từ phía vật lí học. Hội thảo có hơn 60 bài tham luận – chứng minh cho sự tác động lẫn nhau giữa vật lí học và sinh học – về mọi thứ từ cơ chế, cấu trúc, tương tác và sự kết tập ADN cho đến sự thu gọn ADN ở virus, tương tác ADN-protein và sự nhận dạng, ADN bị giam giữ (các lỗ và túi) và ADN thông minh (rô-bôt, kiến trúc nano, công tắc, bộ cảm biến và điện tử học ADN). Thông tin cụ thể các bạn có thể tìm đọc online. Trích dẫn câu nói nổi tiếng của Rutherford rằng có vật lí học thì mọi thứ khác thuộc khoa học chỉ là trò sưu tập tem, Paul Selvin, một nhà vật lí tại trường Đại học Illinois, mới đây phát biểu rằng nếu như Rutherford còn sống cho đến ngày nay, ông ta sẽ phải nói rằng ―mọi khoa học hoặc là sinh học, hoặc là công cụ sáng tạo cho sinh học, hoặc là chẳng đáng đồng tiền bát gạo‖. Ngày nay, nói chung, sự kiêu ngạo hiếm gặp trên gương mặt của các nhà vật lí. Nhưng để vượt qua rào cản của chủ nghĩa hoài nghi, các nhà vật lí cần phải chứng minh (hay, tốt hơn nữa, truyền cảm hứng cho các nhà sinh học chứng minh) rằng sự hiểu biết
© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2 91

sâu sắc từ vật lí học không chi áp dụng cho các hệ mô hình trong phòng thí nghiệm mà còn áp dụng tốt bên trong thế giới thật của tế bào. Crick không những có trí tuệ lớn và rất nghiêm túc với sinh học, mà ông còn may mắn gặp được người hợp tác đúng lúc là Watson. Nhiều người trong chúng ta đang tìm cách thực hiện công việc quan trọng thuộc về sinh học sẽ không thể nào thực hiện công việc ấy một mình trừ khi chúng ta tìm sự được sự hưởng ứng thích hợp. Tương lai thật triển vọng – và những cuộc gặp như hội thảo tổ chức ở Trieste hồi tháng rồi có lẽ sẽ tạo ra sự khác biệt. Như nhà vật lí Cambridge, Stephen Hawking, có lần nói, ―Những khám phá vĩ đại nhất của thế kỉ 21 sẽ xuất hiện ở nơi chúng ta chẳng ngờ đến‖. Tương tự, tôi thật sự bị thuyết phục rằng những bất ngờ và khám phá lớn trong sinh học sẽ bắt nguồn từ vật lí học. Tác giả Alexei Kornyshev là nhà lí thuyết vật chất hóa đặc tại trường Imperial College London, đang nghiên cứu ở ranh giới của vật lí học, hóa học và sinh học. (theo Physics World, tháng 7/2009)

92

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Vũ trụ độc nhất
Lee Smolin Nhiều lí thuyết vũ trụ không chỉ xem vũ trụ của chúng ta là một trong nhiều vũ trụ mà còn khẳng định thời gian chẳng hề tồn tại. Lee Smolin không ủng hộ quan niệm đa vũ trụ phi thời gian đó. Hồi ba thập kỉ trước, việc nói về những vũ trụ khác không được đa số các nhà vật lí xem là một bộ phận của khoa học. Đa số nghiên cứu trong ngành vật lí lí thuyết và vũ trụ học bàn về những đặc điểm có thể quan sát được trong vũ trụ của chúng ta và đa số các bài báo và thuyết trình seminar đều nhắc đến các kết quả thực nghiệm. Tuy nhiên, kể từ đấy đã có một sự chuyển hướng từ từ, trong đó ban đầu người ta trở nên chấp nhận nghiên cứu về những lí thuyết không chỉ mô tả vũ trụ của chúng ta, mà còn cả những vũ trụ khả dĩ khác nữa, những vũ trụ có ít chiều hoặc nhiều chiều hơn, hoặc những vũ trụ có những loại hạt và loại lực khác. Trong vài năm qua, chúng ta đã tiến xa hơn khỏi các lí thuyết của một vũ trụ của chúng ta, khi những thế giới khác này phát triển từ thực tế có khả năng hợp lí đến thực tế giả thuyết. Giờ thì người ta đã quen nghe nói về đa vũ trụ - một vũ trụ học lượng tử giả thuyết rằng vũ trụ khả kiến mà chúng ta trông thấy xung quanh mình chỉ là một trong hằng hà sa số hay một số vô hạn các vũ trụ.

Ảnh: physicsworld.com

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

93

Giả thuyết đa vũ trụ thường đi song hành với một giả thuyết siêu hình học về bản chất của thời gian. Nhiều chuyên gia cho rằng trong vũ trụ học lượng tử thời gian không phải là một khái niệm cơ bản, mà là một khái niệm gần đúng và phát sinh. Nếu điều này đúng, thì chúng ta trải nghiệm thời gian trong một vũ trụ phi thời gian vì những nguyên do tương tự như nguyên do chúng ta, những người sống trong một vũ trụ lượng tử, trải nghiệm thời gian tuân theo vật lí học cổ điển: chúng ta gồm một số lượng rất lớn các hạt cơ bản và những sự hài hòa thống kê phát sinh xác định phần nhiều cái chúng ta trải nghiệm. Ngoài ra, việc kết hợp giả thuyết đa vũ trụ và giả thuyết phi thời gian thực sự mang lại cho chúng ta một siêu vũ trụ tĩnh tại. Cho dù vũ trụ của riêng chúng ta có tiến triển theo thời gian, thì ở một mức độ sâu sắc hơn, nó là một phần của một tập hợp vũ trụ phi thời gian, bất diệt. Có những lí giải hợp lí đưa đến những kết luận này, và giống như nhiều người khác trong ngành vũ trụ học lượng tử, tôi đã xem xét đến chúng. Tuy nhiên, trong vài năm vừa qua, tôi đã đi đến chỗ tin rằng những kết luận này là hết sức sai lầm. Cùng cộng tác với nhà triết học người Brazil, Roberto Mangabeira Unger, chúng tôi đã thử tìm hiểu nguồn gốc của các vấn đề và phát triển một khái niệm thay thế khác của thời gian và quy luật về quy mô vũ trụ. Nguyên do chúng tôi làm như thế một phần là do những lo ngại về những lí thuyết này không biết có kiểm tra được hay không bằng những quan sát có thể làm được, một phần vì những kết quả hiện nay của những nỗ lực nhằm hiện thực hóa cách tiếp cận phi thời gian và một phần do những cân nhắc mang tính triết học.

Vấn đề đi cùng với đa vũ trụ phi thời gian
Trong một thế giới phi thời gian trong đó vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong nhiều vũ trụ thực ngang hàng nhau, các định luật vật lí phải rất khác với các định luật mà đa số các nhà vật lí đã từng có thể nghĩ ra. Đây là vì các định luật vật lí không còn có thể xác định được bởi cái chúng ta quan sát thấy trong vũ trụ của riêng chúng ta, vì chúng phải áp dụng được cho toàn bộ những tập hợp vũ trụ khổng lồ kia. Một định luật cơ bản khi đó không còn bài trừ cái xảy ra trong vũ trụ của chúng ta nữa; thay vào đó, nó mang lại những phân bố xác suất cho những tính chất của một tập hợp vũ trụ. Để tìm hiểu nguyên do, thật hữu ích là hãy phân biệt giữa khái niệm một định luật cơ bản và một định luật có hiệu lực. Một định luật cơ bản được ấn định để giữ tính ―siêu phổ biến‖ từ những nguyên lí đầu tiên và phải là độc nhất. Lí thuyết dây, chẳng hạn, là một nỗ lực nhằm khám phá ra những định luật cơ bản như vậy của tự nhiên. Mặt khác, các định luật có hiệu lực thì chi phối những thí nghiệm ở quy mô chúng ta quan sát thấy trực tiếp bên trong vũ trụ của chúng ta, xuống tới những cấp độ nhỏ khảo sát bởi Máy Va chạm Hadron Lớn và lên tới những cấp độ khảo sát bởi những quan sát về phông nền vi sóng vũ trụ. Chúng ta chỉ có thể quan sát thấy các định luật có hiệu lực, nhưng chúng ta hi vọng có thể suy luận ra chúng từ những định luật cơ bản – nếu không thì cái vừa nói chẳng có liên hệ gì với cái chúng ta quan sát thấy. Nghi vấn là chẳng biết mối liên hệ gián tiếp đó có cung cấp đủ cơ sở cho các phép kiểm tra thực nghiệm các định luật cơ bản sao cho chúng thích hợp với sự hiểu biết khoa học của chúng ta về thế giới.

94

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Thật không may, dường như nếu như lí thuyết dây, hay một lí thuyết tương tự, là đúng, thì lí thuyết cơ bản đó thật ra không tiên đoán được các định luật có hiệu lực của tự nhiên là những định luật nào. Thay vào đó, nó làm phát sinh vô số kiểu hình của những định luật có hiệu lực khả dĩ – khái niệm tôi đã giới thiệu trong cuốn sách của mình, Life of the Cosmos (Cuộc sống của Vũ trụ - từ kiểu hình là một sự liên tưởng tới những dạng thức tồn tại thích ứng trong sinh học). Như vậy, chúng ta phải có giả thuyết về cách thức các định luật có hiệu lực riêng lẻ mô tả vũ trụ của chúng ta được chọn ra từ bản danh sách vô tận những khả năng cho phép bởi lí thuyết cơ bản. Đây là một trong những động cơ chính cho sự tranh luận về đa vũ trụ. Một vài ý tưởng đã được đề xuất cho cách thức chọn ra những định luật có hiệu lực áp dụng cho vũ trụ của chúng ta từ tập hợp lớn hơn các khả năng có thể. Một khả năng, đã được nghiên cứu nhiều, là dàn đồng ca vũ trụ bị chi phối bởi các định luật bởi một quá trình thực sự ngẫu nhiên. Một thí dụ là sự lạm phát vĩnh viễn. Trong kịch bản này, quá trình tạo ra dàn đồng ca đó xảy ra ở những mức năng lượng cao đến mức làm mất hết tác dụng bất kì tiến trình nào mà chúng ta truy xuất thực nghiệm đến. Kết quả là một vũ trụ giống như vũ trụ của chúng ta, được phân bố bởi những cấu trúc tùy thuộc vào điều kiện vật lí ở những thang năng lượng thấp hơn nhiều, là rất không điển hình trong dàn đồng ca vũ trụ. Khi đó, người ta phải tùy thuộc vào nguyên lí nhân bản để nhặt ra rất ít vũ trụ thích hợp cho sự sống, chúng rất hiếm trong dàn đồng ca thật sự. Chẳng có gì ngạc nhiên, biết rằng các đặc trưng của dàn đồng ca đó không phải là đề tài cho các phép kiểm tra thực nghiệm, kết quả là chúng ta không thể đưa ra các tiên đoán chính xác và rõ ràng về bất cứ thứ gì có thể quan sát thấy trong vũ trụ của riêng chúng ta. Một cách tiếp cận khác, thật sự đưa đến ít nhất là một vài tiên đoán, là sự chọn lọc tự nhiên vũ trụ mà tôi đã đưa ra hồi năm 1992. Ý tưởng này dựa trên một kịch bản vũ trụ học được xây dựng tương tự như trong sinh học quần thể. Các vũ trụ ra đời từ những ―bất chợt‖ ở sâu bên trong các lỗ đen, thế chỗ những kì dị của chúng, nơi thời gian được giả thuyết là kết thúc, với những vũ trụ mới đang giãn nở. Ý tưởng này đưa đến một tiên đoán rằng một vũ trụ tiêu biểu là một vũ trụ trong đó các thông số được điều chỉnh để tối đa hóa sự hình thành các lỗ đen. Thật vậy, có bằng chứng cho thấy điều này đúng với các định luật chi phối vũ trụ của chúng ta. Quan trọng nhất, trong lí thuyết này, vũ trụ của chúng ta được cho là thuộc loại tiêu biểu của dàn đồng ca, đưa đến một vài tiên đoán thật sự có thể kiểm tra, toàn bộ chúng vẫn được duy trì kể từ lần đầu tiên chúng được công bố, ví dụ như tiên đoán rằng giới hạn khối lượng trên của các sao neutron bền là khoảng 1,6 khối lượng mặt trời. Sự trái ngược giữa hai loại lí thuyết đa vũ trụ này dẫn tới một nghi vấn: tại sao lí thuyết dựa trên sự chọn lọc tự nhiên có tính chất tiên đoán – nhưng lí thuyết dựa trên sự sản sinh ngẫu nhiên của các vũ trụ thì không có tính tiên đoán? Câu hỏi này giúp chúng ta tìm hiểu tại sao tính xác thực của thời gian là cần thiết để giải thích xem các định luật vật lí được chọn ra như thế nào. Rõ ràng là một kịch bản trong đó một quần thể vũ trụ tiến hóa, thay vì chỉ là một sự phân bố ngẫu nhiên phi thời gian, cần đến một khái niệm thời gian có thật ở mức độ trên từng vũ trụ cá lẻ. Nhưng để hiểu được tại sao bức tranh phi thời gian đó thất bại, chúng ta phải tiến sâu hơn vào các cơ sở của thuyết lượng tử. Ví dụ, không có thời gian, và không có giả thuyết rằng cái tồn tại là vũ trụ đơn nhất mà chúng ta quan sát thấy, thì khó mà đưa ra những phát

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

95

biểu có nghĩa về xác suất tương quan với cái chúng ta quan sát thấy trong vũ trụ của chúng ta. Vì cơ học lượng tử là một lí thuyết mang tính xác suất, cho nên chúng ta gặp phải rắc rối khi cố mở rộng nó sang địa hạt trong đó xác suất dường như chẳng có ý nghĩa gì. Một số tác giả đã cố xử lí câu hỏi này, bằng cách đề xuất những số đo đặc biệt dùng để suy luận ra các tiên đoán từ dàn đồng ca của các đa vũ trụ. Ít nhất thì cho đến thời khắc hiện tại, không có ai trong số này được những người khác chứng minh là hợp lí ngoài yêu cầu phải tái dựng lại cái chúng ta quan sát thấy. Một vấn đề có liên quan là sự hồi sinh của không gian và thời gian cổ điển, cái thuyết tương đối rộng mô tả, là một phần của một lí thuyết có hiệu lực. Đây phải là những mặt nổi trội của một lí thuyết lượng tử cơ bản, giống hệt như các khái niệm cổ điển về một hạt nằm tại một nơi xác định và đang chuyển động theo những quỹ đạo xác định nổi lên từ cơ học lượng tử. Điều này không phải không quan trọng, vì các khái niệm không-thời gian lượng tử, phát sinh trong các lí thuyết lượng tử của hấp dẫn, là rất khác. Cho đến nay, những tiếp cận đến sự lượng tử hấp dẫn đều giả sử rằng cả không gian và thời gian đều thất bại rõ nét trước việc tái dựng lại không-thời gian mà chúng ta biết. Mặt khác, hai phương pháp giả sử rằng thời gian là cơ bản và không rõ nét thì lại thành công, ít ra là trong chừng mực nào đó, trong việc mô tả cách thức không-thời gian có thể xuất hiện. Được phát triển nhất trong số này là các tam giác đạc động học nhân quả, chúng có những kết quả ấn tượng gợi đến sự xuất hiện của không-thời gian cổ điển. Một nỗ lực gần đây hơn, graphity lượng tử, cũng có những dấu hiệu sơ bộ cho sự xuất hiện của không gian cho trước sự tồn tại của thời gian. Ngoài ra, thời gian cơ bản còn cần thiết để nhận thức xác suất và mô tả sự tiến hóa của các định luật có hiệu lực, chúng gắn liền với vấn đề đầu. Những kết quả này là bằng chứng số một khiến tôi xét đến ý tưởng rằng có thể phải có một khái niệm cơ bản chung của thời gian trong bất kì cấp tiếp cận hoàn toàn phù hợp nào với sự hấp dẫn lượng tử có thể hồi sinh thuyết tương đối rộng một cách gần đúng trong đó vũ trụ là rộng lớn. Giả thuyết này được củng cố bởi những kết quả mới đây về sự hấp dẫn cải biến, mà một số tác giả cho rằng giải được bài toán tồn tại lâu nay về hằng số vũ trụ - cái cần thiết cho một không-thời gian cổ điển lớn xuất hiện. Cái đáng chú ý, như đã chỉ rõ bởi các nhà vật lí Rafael Sorkin thuộc Viện Vật lí Lí thuyết Perimeter, William Unruh thuộc trường Đại học British Columbia, Vancouver, và những người khác, là phương pháp này mô tả sự tiến hóa trong một thời gian chung liên hệ với thể tích không-thời gian của quá khứ.

Hằng số vũ trụ là gì ?
Để tìm hiểu sự khác biệt giữa hai mô hình thời gian ló so với thời gian cơ bản, chúng ta cần phải đánh giá đúng có bao nhiêu khái niệm thông thường của chúng ta về định luật vật lí đã tiến triển về mặt lịch sử từ kinh nghiệm quan sát trong phòng thí nghiệm của chúng ta. Trong phòng thí nghiệm, chúng ta không, bằng định nghĩa, nghiên cứu toàn bộ vũ trụ. Chúng ta nghiên cứu một hệ thống con nhỏ bé của vũ trụ mà, với một sự gần đúng có phần hợp lí, có thể xem là cô lập (tách biệt khỏi thiết bị đo chúng ta sử dụng để quan sát nó). Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta khảo sát khả năng chúng ta có thể làm cho hệ đó kín mãi mãi, ở những thời khắc khác và ở những địa điểm khác, với những yếu tố giống như vậy và những cấu hình sắp xếp khác. Chúng ta rút ra các quy luật vật lí từ cái chung trong một tập hợp lớn các thí nghiệm, và nghiên cứu cái trở nên khác đi khi những điều kiện ban đầu khác đi. Điều này cho

96

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

phép chúng ta đưa ra một sự phân biệt rõ ràng giữa các định luật và các điều kiện ban đầu. Các định luật được giữ bất biến, ít nhất là ở cấp độ thời gian và không gian lớn hơn cấp độ gắn với các thí nghiệm của chúng ta. Tình huống này hầu như giống nhau đối với đa số quan sát thiên văn học. Chúng ta không thể làm cho các ngôi sao và thiên hà ở vào bất kì trạng thái nào chúng ta muốn, nhưng chúng ta có thể quan sát số lượng khổng lồ của chúng và chúng ta có thể xem chúng là cô lập một cách gần đúng. Vì thế, trong thiên văn học, chúng ta còn có một minh chứng cho sự phân biệt giữa các định luật và các điều kiện ban đầu. Sự phân tách lời giải thích khoa học thành quy luật và các điều kiện ban đầu dẫn tới một trong những khái niệm thông dụng và có sức mạnh nhất trong vật lí học – khái niệm không gian cấu hình. Đây là không gian của tất cả những cấu hình, hay trạng thái, khả dĩ có, của hệ. Trong vật lí cổ điển và vật lí lượng tử, chúng ta giả sử rằng không gian tồn tại tiên nghiệm và nằm ngoài thời gian, và người ta có thể nghiên cứu độc lập các định luật của chuyển động. Những định luật này sau đó sẽ chỉ rõ các quy tắc cho điểm mô tả các điều kiện ban đầu trong không gian cấu hình tiến triển theo thời gian như thế nào. Chúng ta gọi đây là khuôn khổ Newton luận cho lời giải thích. Khuôn khổ Newton luận là cơ sở cho khẳng định rằng thời gian không phải là cơ bản trong vũ trụ học. Từ quan điểm này, thời gian được xem đơn thuần là một thông số trên một quỹ đạo trong không gian cấu hình, và không phải là một bộ phận nội tại của quy luật vật lí. Thời khắc hiện tại, thời gian chúng ta trải nghiệm, không có chỗ trong mô tả này. Các nhà triết học không tin vào dòng chảy của thời gian thì nhắm đến quỹ đạo trong không gian cấu hình và nói rằng thứ duy nhất có thực đó là toàn bộ lịch sử của vũ trụ tồn tại độc lập với thời gian – cái trong thuyết tương đối rộng gọi là bức tranh ―vũ trụ tảng‖. Nhiều nhà vật lí và nhà triết học đã sụp ngã vì sức cám dỗ của niềm tin vào bức tranh ―vũ trụ tảng‖. Với họ, kinh nghiệm của chúng ta về dòng chảy của thời gian chỉ là một ảo tưởng. Lập luận này thật sai lầm vì hai nguyên do. Thứ nhất, nó không chứng tỏ được rằng thời gian không phải là cơ bản. Khi chúng ta quan sát chuyển động, chúng ta ghi lại một loạt số đo vị trí của một hệ. Những vị trí này có thể vẽ ra trên không gian cấu hình, mang lại một đường cong biểu diễn số đo của chuyển động. Đồ thị này độc lập thời gian, vì nó là biểu diễn của một số đo của một chuyển động quá khứ, chuyển động đó, tất nhiên, không còn đang diễn tiến. Sự tương ứng đó ở giữa một đối tượng toán học, là đối tượng tĩnh, và một loạt số ghi các quan sát, cũng là đối tượng tĩnh. Thực tế chúng ta có thể tạo ra sự tương ứng này giữa một đối tượng toán học và một số ghi của chuyển động quá khứ không nói lên rằng chuyển động thật, mà các quan sát thu được, là phi thời gian. Nó cũng chẳng nói lên rằng đằng sau sự tiến triển thật sự trong thời gian của một thế giới thật có tồn tại một sự tương ứng hoàn hảo với một đối tượng toán học phi thời gian. Việc thừa nhận mối liên hệ mở rộng này là một liên tưởng thuần túy siêu hình học, nó không được gợi lên bởi bất cứ thứ gì trong khoa học (Xem ―Nguyên tắc thứ tư: toán học và chủ nghĩa Platon‖, phần bên dưới).

Những nguyên lí mới

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

97

Sai lầm thứ hai của lập luận cho thời gian không phải là cơ bản là ở chỗ nó không rõ ràng rằng khuôn khổ Newton luận áp dụng trên quy mô vũ trụ như một tổng thể. Hầu như mọi nghiên cứu vũ trụ học cổ điển và hiện đại đều giả sử khuôn khổ đó áp dụng được. Nhưng biết trước những khó khăn mà những đề tài này gặp phải, tôi thiết nghĩ có khả năng hơn đó là câu trả lời là không. Một lí do ngờ vực khuôn khổ Newton luận không áp dụng được cho vũ trụ học là ngữ cảnh thực nghiệm mang lại ý nghĩa cho sự phân tách các nguyên nhân ra thành các định luật và các điều kiện ban đầu là hoàn toàn bị thiếu. Chẳng có khả năng nào đưa vũ trụ vào những cấu hình ban đầu khác, và không có cách nào xác định bằng quan sát toàn bộ những điều kiện ban đầu. Bất kể nhà quan sát nào, bên trong vũ trụ, chỉ có thể nhìn thấy một phần của bất kì bề mặt giá trị ban đầu nào. Như vậy, khái niệm điều kiện ban đầu không dễ gì hiện thực hóa trong vũ trụ học. Nếu như chỉ có một vũ trụ, thì chẳng có lí do gì cho sự phân tách thành các định luật và các điều kiện ban đầu, vì chúng ta muốn có một định luật để giải thích đúng một lịch sử của một vũ trụ. Điều tương tự đúng cho không gian cấu hình của vũ trụ. Vũ trụ đã có mặt rồi, vậy thì đâu là ý nghĩa của tất cả những trạng thái tồn tại trong không gian trạng thái nhưng chưa hề được nhận ra trong lịch sử của vũ trụ? Khái niệm ―trạng thái lượng tử của vũ trụ‖ là điều hư cấu, tách rời khỏi cái có thể chuẩn bị hay đo đạc trong thực tiễn. Những những cân nhắc này cho thấy các khái niệm không gian cấu hình và không gian trạng thái tương ứng với những phép đo và những sự chuẩn bị chỉ có thể nhận thức bằng hành động trong trường hợp một hệ thống con nhỏ bé của vũ trụ. Những khái niệm này – hay ít nhất là cơ sở hoạt động của chúng – đã đánh trượt chúng ta khi chúng ta cố gắng mở rộng chúng cho toàn bộ vũ trụ. Vấn đề thời gian trông cũng khác đi từ viễn cảnh này. Thời gian trong khuôn khổ Newton luận là một thông số dùng để đánh dấu các điểm trên một quỹ đạo mô tả hệ đang tiến triển trong không gian cấu hình. Khi hệ là nhỏ và cô lập, thì thông số thời gian này gợi tới số chỉ của đồng hồ trên tường phòng thí nghiệm của nhà quan sát, nó không phải là một thuộc tính của hệ. Khi chúng ta cố áp dụng khái niệm này cho vũ trụ xét như một tổng thể, thì thông số thời gian phải biến mất. Một số người đã cố gắng tranh luận rằng điều này có nghĩa là thời gian bản thân nó không tồn tại ở cấp độ vũ trụ học, nhưng đó là kết luận sai lầm. Cái biến mất không phải là thời gian, mà là cái đồng hồ nằm bên ngoài hệ - điều đó thật vô lí vì hệ là toàn bộ vũ trụ kia mà. Thật vậy, nó có thể gắn chặt với khuôn khổ Newton luận, khi nó chẳng có tầm quan trọng thực tiễn, khiến chúng ta xem xét kịch bản đa vũ trụ một cách nghiêm túc. Nếu phương pháp luận khoa học của chúng ta chỉ có ý nghĩa khi áp dụng cho các hệ con của một vũ trụ mênh mông hơn, thì thật hấp dẫn là hãy phản bác lại những vấn đề phát sinh khi chúng ta cố mở rộng nó một cách không thích hợp cho toàn bộ vũ trụ bằng cách ấn định vũ trụ của chúng ta thật ra ở trong một hệ con của một vũ trụ còn rộng lớn hơn nữa. Chúng ta làm vật lí như chúng ta đã được đào tạo, nhưng đây là một cái bẫy vì làm như vậy chúng ta phải sử dụng những cấu trúc không có tầm quan trọng thực tiễn. Tốt hơn hết, theo quan điểm của chúng tôi, là xem khuôn khổ Newton luận là không thể áp dụng được cho vũ trụ học, và hãy đi tìm một khái niệm quy luật khác có thể có ý nghĩa khi áp dụng cho toàn bộ vũ trụ, nhưng đơn lẻ, của chúng ta.

98

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

Nhưng một khi chúng ta phát biểu rằng sự khác biệt giữa các định luật và các điều kiện ban đầu chẳng có đối tác tương ứng trong ngữ cảnh vũ trụ học, thì phát biểu này mang lại cho cuộc tranh luận một vài thách đố mà sự mở rộng mô hình Newton luận sang vũ trụ học mang đến. Trạng thái lượng tử ban đầu của vũ trụ là gì? Chúng ta giải thích nó như thế nào? Làm thế nào chúng ta định nghĩa các xác suất trong vũ trụ học lượng tử? Chúng ta làm vật lí như thế nào khi mà thời gian đã biến mất?

Quy luật vật lí trong một vũ trụ đơn, gắn liền với thời gian
Bằng cách bác bỏ khuôn khổ Newton luận cho vũ trụ học và miễn trừ khái niệm đa vũ trụ, chúng ta cũng chẳng còn có lí do gì cho rằng thời gian là một ảo tưởng. Điều này đưa Unger và tôi đến chỗ xem xét các hàm ý của triết học tự nhiên dựa trên một tập hợp những nguyên lí khác. 1. Chỉ có một vũ trụ duy nhất. Không có vũ trụ nào khác, cũng chẳng có cái gì khác đồng hình với nó. Nguyên lí này ngụ ý một cách hợp lí rằng chẳng có vũ trụ nào khác, hay những bản sao khác của vũ trụ của chúng ta, dù là bên trong hay bên ngoài. Cái thứ nhất không thể vì chẳng có hệ con nào có thể mô phỏng chính xác hệ lớn hơn mà nó là một phận trong đó, còn cái thứ hai không thể vì một vũ trụ được định nghĩa là toàn bộ những gì có mặt. Nguyên lí này cũng bác bỏ khái niệm một đối tượng toán học đồng hình trong mỗi phần tương ứng với lịch sử của toàn bộ vũ trụ, một khái niệm mang tính siêu hình học hơn là khoa học. 2. Mọi thứ có thật là có thật tại một thời khắc, đó là một sự liên tục của những thời khắc. Bất cứ thứ gì đúng là đúng thuộc thời khắc hiện tại. Nguyên lí này không chỉ phát biểu cho thời gian thật, mà còn cho mọi thứ khác có thật ở trong thời gian. Không có cái gì tồn tại phi thời gian. 3. Mọi thứ có thật ở một thời khắc là một quá trình biến đổi dẫn tới những thời khắc kế tiếp hay tương lai. Bất kì cái gì đúng khi đó là một đặc điểm của một tiến trình, trong tiến trình này gây ra hay ngụ ý tới những thời khắc tương lai. Nguyên lí thứ ba sáp nhập luôn khái niệm rằng thời gian là một mặt của các quan hệ nhân quả. Một nguyên do xác nhận nó là mọi thứ chỉ tồn tại ở một thời khắc, không có căn nguyên hay gợi đến một mặt trạng thái ở một thời khắc tương lai, sẽ trôi vào thời khắc kế tiếp. Mọi thứ vẫn diễn tiến phải được xem là những tiến trình dẫn tới những tiến trình biến đổi mới. Một nguyên tử ở một thời khắc là một tiến trình dẫn tới một nguyên tử khác hay một nguyên tử biến đổi ở thời khắc tiếp theo. Khuôn khổ siêu hình học thay thế này có những ngụ ý cho bản chất của quy luật vật lí. Vì chẳng có gì là đúng hay có thật nằm ngoài thời gian, cho nên không có khả năng nói tới những định luật bất diệt. Các định luật là những quy tắc mà chúng ta phát hiện phát huy trong những nhánh rất dài của thời gian, nhưng chẳng có lí do nào cho các định luật là đúng một cách phi thời gian – thật vậy, chẳng có cách nào làm cho khái niệm đó có nghĩa. Điều này mở ra khả năng rằng các định luật đó tiến triển theo thời gian, đó là một quan niệm đã được đưa lên bàn nghị sự kể từ khi nhà lôgic học vĩ đại người Mĩ Charles Sanders Peirce viết hồi năm 1891 rằng ―Việc giả sử những định luật chung của tự nhiên có khả năng nhận thức bởi trí tuệ con người và cho đến nay chẳng có nguyên do nào cho những dạng thức đặc biệt của chúng,

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

99

nhưng tồn tại một cách không thể giải thích và thật vô lí, khó là một quan điểm có thể bào chữa được. Những tính chất không biến hóa đúng là loại thực tế cần được giải thích. Quy luật trên hết là vạn vật cần có một nguyên do. Giờ thì cách duy nhất giải thích cho các định luật của tự nhiên, và cho tính đều đặn nói chung, là giả sử chúng là kết quả của sự tiến hóa‖. Từ quan điểm này, khái niệm vượt lên những trải nghiệm gắn liền với thời gian của chúng ta để khám phá ra những thực tại phát huy một cách phi thời gian là một ý tưởng không thực tiễn. Khi khoa học vận động, chúng ta chẳng làm gì thuộc loại ấy; cái chúng ta, những nhà vật lí, thực hiện là khám phá ra những quy luật chi phối trong vũ trụ mà chúng ta trải nghiệm trong thời gian. Tôi khẳng định như vậy đã là đủ; bất cứ thứ gì nằm ngoài điều ấy đều mang tính siêu nghiệm do động cơ tôn giáo hơn là vì khoa học. Vậy thì, nền vật lí không có sự phân tách rõ ràng thành các định luật và các điều kiện ban đầu, và do đó, không có khái niệm rằng có một không gian những cấu hình tồn tại phi thời gian, là gì ? Chúng ta không biết trọn vẹn câu trả lời cho câu hỏi này, nhưng chúng ta có một vài quan sát. Trước tiên, bằng cách bác bỏ khuôn khổ Newton luận cho vũ trụ học, chúng ta có ít lí do để xem vũ trụ của chúng ta là một trong nhiều vũ trụ thực khác. Thật vậy, chúng ta cũng có thể miễn trừ khái niệm một số lượng lớn những vũ trụ khả dĩ khác, thứ chẳng hiểu vì sao chẳng hề được nhận ra. Thay vào đó, chúng ta có thể tưởng tượng ra một khái niệm định luật chỉ áp dụng được cho vũ trụ đơn nhất thật sự tồn tại. Chúng ta chẳng còn lí do gì để cho rằng thời gian là một ảo giác vì, như đã chỉ rõ ở trên, những lập luận chủ yếu từ cơ sở vật lí cho thời gian xuất hiện và không phải là cơ bản xuất phát từ sự áp dụng sai khuôn khổ Newton luận cho vũ trụ xét như một tổng thể. Khi chúng ta cố gắng nhận ra những nguyên lí đó, chúng ta đi tìm một khái niệm định luật không thể áp dụng cho một vũ trụ tưởng tượng bên trong một đa vũ trụ. Biết rằng vũ trụ chỉ xuất hiện một lần, chúng ta phải cố tưởng tượng ra một loại định luật chỉ áp dụng một lần thôi. Một định luật như thế không cần – và không nên – có chút ý nghĩa nào trong đó nó tồn tại bên ngoài thời gian. Cũng không nên quan niệm nó tách rời với vũ trụ mà nó mô tả. Thật ra, nó có thể là một định luật tiến hóa theo thời gian; nghĩa là, một định luật trong đó sự khác biệt giữa một câu chuyện một-thời gian của lịch sử của một vũ trụ và phát biểu của những nguyên lí chi phối lịch sử ấy mờ hẳn đi. Nếu như mô hình đa vũ trụ phi thời gian hiện nay có ưu thế là đúng, thì chúng ta đang tiến tới phần kết của một tiến trình sẽ loại trừ thực tại thời gian và thay thế nó bằng một loại ―tồn tại‖ mờ nhạt bên trong một thế giới giá băng vĩnh viễn gồm những lượng lớn các xác suất. Mặt khác, nếu như các nguyên lí mà Unger và tôi đề xuất gần với sự thật hơn, thì chúng ta đang ở vào giai đoạn bắt đầu của một cuộc phiêu lưu mới trong khoa học, nơi chúng ta phải nhận thức lại khái niệm định luật áp dụng cho một đơn vũ trụ chỉ xảy ra một lần. Trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta cũng sẽ đi đến nhận thức vũ trụ của chúng ta với những thuật ngữ rất khác và kém quen thuộc hơn so với trước đây. Nhưng chúng ta có thật sự hình dung được rằng việc hoàn thành cuộc cách mạng do Einstein khởi xướng là có thể mà không cần phải bác bỏ một số trong những niềm tin dễ chịu của chúng ta nghiêng về sự náo loạn và những ý tưởng mới hầu như không thể hiểu nổi ? Ở

100

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

cấp độ này, chúng ta làm khoa học không phải cho chúng ta, mà cho những thế hệ tương lai sẽ sống thoải mái trong những thế giới ý niệm mà tốt nhất chúng ta chỉ có thể đại khái nhắm tới mà thôi.

Nguyên lí thứ tư: toán học và chủ nghĩa Platon

Ảnh: Michael Maggs

Những người tin vào thực tại vĩnh viễn thường xem toán học là một mô hình của một thế giới có những thực tại phi thời gian. Cái gọi là quan điểm Platon của toán học cho rằng các đối tượng toán học (những thứ mà các định lí toán học nói tới, ví dụ như những con số, hình cầu, mặt phẳng, đường cong, và vân vân) tồn tại trong một vương quốc tách rời phi thời gian của thực tại. Các nhà toán học khảo sát vương quốc này với trí tuệ của họ và phát hiện ra những sự thật tồn tại bên ngoài thời gian, theo cách giống như cách chúng ta khám phá ra các định luật vật lí bằng thí nghiệm. Nhưng toán học không chỉ nhất quán, nó còn giữ vai trò

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

101

trung tâm trong việc thiết lập các định luật vật lí cơ bản, cái mà nhà vật lí đạt giải Nobel Eugene Wigner có lần đã xem là ―sự thành công vô lí của toán học trong vật lí học‖. Một cách giải thích sự thành công này trong mô hình siêu hình học thống trị của đa vũ trụ phi thời gian là giả sử thực tại vật lí là mang tính toán học, tức là chúng ta là những sinh vật trong vương quốc Platon luận phi thời gian. Nhà vũ trụ học Max Tegmark gọi đây là giả thuyết vũ trụ toán học. Một phương pháp kém kích thích hơn là thừa nhận rằng vì các định luật vật lí có thể biểu diễn bằng toán học, nên không chỉ sự thật bản chất của chúng nằm ngoài thời gian, mà trong địa hạt Platon luận còn có một đối tượng toán học, một lời giải cho các phương trình của lí thuyết cuối cùng, nghĩa là ―đẳng cấu‖ trong mỗi tương ứng với lịch sử của vũ trụ. Nghĩa là, bất kì sự thật nào về vũ trụ cũng có thể lập thành một định lí về đối tượng toán học tương ứng. Nếu như chẳng có gì tồn tại hay có thực nằm ngoài thời gian, thì điều này hoàn toàn sai lầm. Tuy nhiên, nếu toán học không phải là sự mô tả của địa hạt phi thời gian khác của thực tại, vậy thì nó là cái gì? Cái gì sẽ xảy ra nếu như các định lí toán học về những con số, công thức và đường cong không tồn tại bên ngoài thế giới của chúng ta? Điều này dẫn Unger và tôi đến một quan điểm mới về toán học có thể tóm tắt thành một nguyên lí thứ tư như sau. 4. Toán học suy luận ra từ kinh nghiệm là một khái quát hóa của những sự đều đặn quan sát thấy khi thời gian và tính cá biệt bị loại trừ. Hãy xem xét một trò chơi, ví dụ cờ vua. Nó được phát minh ra tại một thời điểm đặc biệt, trước đó chẳng có lí do gì để nói về bất kì sự thật nào của cờ vua. Nhưng một khi trò chơi đó được phát minh ra, một danh sách dài những sự thật trở nên có thể giải thích được. Những sự thật này có thể chứng minh từ những quy tắc, và có thể gọi một cách hợp lí là những định lí của cờ vua. Những thực tế này là khách quan, theo đó bất kì hai trí tuệ nào luận giải hợp lí từ những quy tắc giống nhau đều sẽ đi tới những kết luận giống nhau về một định luật phỏng chừng là đúng hay không. Giờ thì một người theo chủ nghĩa Platon sẽ nói rằng cờ vua luôn luôn tồn tại phi thời gian trong một không gian vô hạn của những trò chơi có thể mô tả bằng toán học. Chúng ta chẳng thu được bất cứ thứ gì bằng cách tin vào đó, ngoại trừ một xúc cảm làm một cái gì đó phấn chấn. Hơn nữa, rõ ràng là nhiều thứ bị mất đi; chẳng hạn, chúng ta phải giải thích làm thế nào chúng ta dìm mình tồn tại hữu hạn trong thời gian lại có thể thu được kiến thức về địa hạt phi thời gian này. Chúng ta thấy dễ hơn nhiều là hãy suy nghĩ theo hướng trò chơi đó được phát minh là một tập hợp lớn những thực tế trở nên có thể giải thích khách quan, là một hệ quả của việc phát minh ra trò chơi. Chúng ta chẳng cần nghĩ đến chúng là những sự thật tồn tại vĩnh viễn, cái có thể phát hiện ra đột ngột, thay vì thế chúng ta nói chúng là những thực tế khách quan đã được gọi vào tồn tại bởi việc phát minh ra trò chơi cờ vua. Quan điểm của chúng tôi là khối kiến thức toán học có thể xem xét theo kiểu tương tự, mặc dù các đối tượng toán học, ví dụ như những con số và hình học, được truyền cảm hứng bởi những quan sát cơ bản nhất của chúng ta về tự nhiên. Toán học chẳng kém khách quan hơn, có ích hay đúng đắn vì được gọi ra bởi và phụ thuộc vào những khám phá của những trí tuệ đang sinh sống trong tiến trình khảo sát vũ trụ độc nhất, gắn liền với thời gian đó.
 Nhiều nhà vũ trụ học ngày nay tin rằng chúng ta sóng trong một đa vũ trụ phi thời gian – một vũ trụ trong đó vũ trụ của chúng ta chỉ là một trong một dàn đồng ca vũ trụ, và trong đó thời gian không tồn tại.

102

http://www.scribd.com/hiepkhachquay & http://thuvienvatly.com

  

Tuy nhiên, cái đa vũ trụ phi thời gian đó có rất nhiều vấn đề. Các định luật vật lí của chúng ta không còn có thể xác định được từ thí nghiệm, và người ta chẳng rõ đâu là mối liên hệ giữa các định luật cơ bản và các định luật có hiệu lực. Hơn nữa, các lí thuyết không thừa nhận thời gian là một thuộc tính cơ bản đã thất bại trước việc tái dựng lại không-thời gian mà chúng ta đã quen thuộc. Nhiều câu hỏi trong những nan đề này có thể tránh được nếu chúng ta công nhận một tập hợp những nguyên lí khác phát biểu rằng chỉ có một vũ trụ duy nhất và thời gian là một thuộc tính cơ bản của tự nhiên. Kịch bản này cũng mở đường cho khả năng các định luật vật lí tiến hóa theo thời gian.

Tài liệu tham khảo:
R Bousso, B Freivogel and I-S Yang 2008 Boltzmann babies in the proper time measure Phys. Rev. D 77 103514 R Loll 2008 The emergence of spacetime or quantum gravity on your desktop Class. Quantum Grav. 25 114006 F Markopoulou 2008 Space does not exist, so time can www.fqxi.org/community/essay/winners/2008.1 L Smolin 2000 The present moment in quantum cosmology: challenges to the arguments for the elimination of time Time and the Instant (ed) R Durie (Manchester, Clinamen Press) L Smolin 2006 The status of cosmological natural selection arXiv:hep-th/0612185 R M Unger 2007 The Self Awakened: Pragmatism Unbound (Harvard University

Lee Smolin là thành viên sáng lập và là nhà vật lí nghiên cứu tại Viện Vật lí Lí thuyết Perimeter ở Waterloo, Canada. HiepKhachQuay dịch (theo Physics World, số tháng 6/2009)
[Bài này có nhiều chỗ dịch không chính xác, mong các bạn thông cảm!]

© hiepkhachquay | Tuyển báo hay vật lí | Vol. 2

103

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful