Đề 12

:
Câu 1: Trình bày quy định pháp luật hiện hành về nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc, tự nguyện và thất nghiệp. Câu 2: Anh H vào làm việc ở công ty xây dựng T từ ngày 20/5/1989. Ngày 23/8/2009 theo yêu cầu của giám đốc công ty, anh ở lại công ty làm thêm giờ. Trong lúc làm thêm giờ, không may dàn giáo sập khiến anh bị thương phải vào viện điều trị mất 2 tháng. Ra viện, anh được xác định suy giảm 45% khả năng lao động. Tháng 7/2012, vết thương tái phát, anh phải vào viện điều trị mất 1 tháng. Sau khi ra viện, anh được xác định suy giảm 61% khả năng lao động. Mặc dù mới có 52 tuổi nhưng anh vẫn làm đơn xin nghỉ việc và đề nghị được giải quyết chế độ hưu trí. Anh/chị hãy tư vấn các quyền lợi về an sinh xã hội cho anh H theo quy định của pháp luật hiện hành.

1

Bài làm
Câu 1: 1. Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc: 1.1. Nguồn hình thành quỹ theo quy định của pháp luật:

- Theo Điều 88 Luật BHXH năm 2006 có quy định về các nguồn hình thành quỹ mà cụ thể là: “1. Người sử dụng lao động đóng theo quy định tại Điều 92 của Luật này. 2. Người lao động đóng theo quy định tại Điều 91 của Luật này. 3. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ. 4. Hỗ trợ của Nhà nước. 5. Các nguồn thu hợp pháp khác.” 1.2. Nhận xét:

- Quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc được lập ra như một lớp lưới đỡ đầu tiên và an toàn nhất khi có sự kiện rủi ro xảy ra với người lao động. Có thể thấy việc quy định 4 nguồn thu chính thức và 1 nguồn thu từ các nguồn hợp pháp khác thể hiện tính quy tắc cũng như mềm dẻo trong việc hình thành quỹ bảo hiểm xã hội bắt buộc. Với nguồn thu từ người sử dụng lao động,: Có thể thấy rằng đây là sự thể hiện mối liên kết giữa người lao động với chủ sử dụng lao động bằng cách tránh được các thiệt hại, rủi ro dẫn tới đình trệ sản hoặc phải đào tạo lại người lao động khi có sự kiện rủi ro xảy tới với họ. - Với nguồn tới từ người lao động: Đây là biểu hiện của sự gánh vác trực tiếp rủi ro của chính mình khi tham gia vào quan hệ lao động,
2

đồng thời ràng buộc chặt chẽ người lao động với các quyền và nghĩa vụ liên quan khi có sự kiện rủi ro xảy ra. - Với nguồn tới từ nhà nước: Điều này thể hiện vai trò then chốt và quan trọng của nhà nước trong trên cương vị của nhà quản lý xã hội với mục tiêu phát triển nền kinh tế, chính trị, xã hội ổn định; đồng thời việc có nguồn hình thành quỹ từ nhà nước cũng tránh cho quỹ không bị lạm chi dẫn tới tình trạng thiếu hoặc cạn kiệt. - Với nguồn từ việc sinh lời của các hoạt động đầu tư từ quỹ: Đây là một nét đặc trưng của bảo hiểm xã hội khi cho phép quỹ bảo hiểm xã hội có thể đầu tư và sinh lời, nhằm tránh tình trạng bị động dẫn tới sự mất ổn định của quỹ. - Ngoài ra thì còn nguồn thu từ các nguồn hợp pháp khác: Đây là một quy định mang tính chất mềm dẻo và linh hoạt của quỹ bảo hiểm xã hội, nhằm huy động được mọi tiềm lực trong nước cũng như ngoài nước trong công cuộc ổn định và phát triển quỹ BHXH nói chung và bảo hiểm xã hội bắt buộc nói riêng. 2. Quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện: 2.1. Nguồn hình thành quỹ theo quy định của pháp luật:

- Theo điều 98 Luật BHXH 2006 có quy định về các nguồn hình thành quỹ, cụ thể là: “1. Người lao động đóng theo quy định tại Điều 100 của Luật này. 2. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ. 3. Hỗ trợ của Nhà nước. 4. Các nguồn thu hợp pháp khác.” 2.2. Nhận xét:

- Không giống như quỹ bảo BHXH bắt buộc, quỹ BHXH tự nguyện được lập ra với vai trò đảm bảo sự an toàn đối với một số chế độ
3

nhất định (hiện tại mới có chế độ hưu trí và chế độ tử tuất là thuộc diện được đóng và chi trả của quỹ này) cho những ai có nhu cầu, không mang tính bắt buộc. - Về các nguồn thu của quỹ này thì tương đối giống của quỹ BHXH bắt buộc, tuy nhiên lại không quy định người sử dụng lao động như một nguồn thu. Điều này không khó hiểu khi mà đặc thù của BHXH tự nguyện không bắt buộc người sử dụng lao động phải chi trả, mà tùy thuộc vào các đối tượng người lao động có nhu cầu muốn tham gia. 3. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp 3.1. Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm thất nghiệp theo quy định pháp luật - Theo Điều 102 Luật BHXH 2006 thì nguồn hình thành quỹ được quy định như sau: “1. Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. 2. Người sử dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp. 3. Hằng tháng, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp và mỗi năm chuyển một lần. 4. Tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ. 5. Các nguồn thu hợp pháp khác.” 3.2. Nhật xét:

- Đây là một loại quỹ BHXH mang tính chất đặc biệt bởi rủi ro mà nó tính tới cụ thể ở đây là thất nghiệp. Đây có thể coi là sự đảm bảo cho người lao động có thể có được những sự hỗ trợ nhất định sau khi họ không còn việc làm vì lý do chủ quan cũng như khách quan.
4

- Về các nguồn thu của quỹ thì cũng tương tự như ở quỹ BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện. Câu 2: 1. Phân tích tình huống:
-

Đầu tiên phải khẳng định anh A là đối tượng có đầy đủ điều kiện hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội (từ đây gọi tắt là BHXH) theo điểm a khoản 1 Điều 2 Luật BHXH 2006, cụ thể là: “Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên”.

- Có thể thấy trong trường hợp đã cho, anh H đã bị tai nạn lao động vì đã có đầy đủ các điều kiện hưởng theo Điều 39 Luật BHXH 2006, mà cụ thể là: o Theo khoản 1 thì anh H đã đáp ứng được yêu cầu tại điểm b, khi mà công việc của anh thuộc vào trường hợp “ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động”. Áp dụng vào trường hợp của anh H, có thể thấy lý do bị tai nạn của anh là do sập dàn giáo do làm thêm giờ dưới yêu cầu của giám đốc công ty xây dựng T. o Thêm nữa là sau khi vào viện điều trị 2 tháng và được xác định lần đầu là suy giảm khả năng lao động tới 45% thì đã đồng thời thỏa mãn điều kiện thứ 2 được quy định tại khoản 2 là: “Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị tai nạn quy định tại khoản 1 Điều này”. - Với lần đầu tiên vào viện điều trị 2 tháng với tai nạn lao động do bị dàn giáo sập xuống thì anh H sẽ được hưởng theo chế độ “tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 Luật BHXH 2006.

5

-

Sau đó vào tháng 7/2012 thì vết thương của anh tái phát và phải vào điều trị thêm 1 tháng. Trong thời gian này thì anh đã đủ điều kiện hưởng theo chế chế độ “ốm đau” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 4 Luật BHXH 2006. Lý do anh được hưởng chế độ này là vì mặc dù việc vết thương tái phát là hệ quả của tai nạn lao động vào năm 2009 của anh, tuy nhiên lúc này anh sẽ chỉ được xác định là vào viện do ốm đau theo điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều 22 Luật BHXH 2006: “Điều kiện hưởng chế độ ốm đau: 1. Bị ốm đau, tai nạn rủi ro phải nghỉ việc và có xác nhận của cơ sở y tế.”

-

Cuối cùng sau khi ra viện sau 1 tháng điều trị vết thương tái phát thì anh H đã làm đơn xin nghỉ việc vào tuổi 52. Trong trường hợp này có thể thấy lần sau lần tái phát này thì anh H đã được xác định suy giảm khả năng lao động lên đến 61%, do đó theo quy định tại khoản 1 Điều 51 Luật BHXH 2006 thì anh đã đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động, mà cụ thể là: “Người lao động quy định tại các điểm a, b, c, d và e khoản 1 Điều 2 của Luật này đã đóng bảo hiểm xã hội đủ hai mươi năm trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên, hưởng lương hưu với mức thấp hơn so với người đủ điều kiện hưởng lương hưu quy định tại Điều 50 của Luật này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: 1. Nam đủ năm mươi tuổi, nữ đủ bốn mươi lăm tuổi trở lên”.

2. Tư vấn cụ thể về các quyền lợi về an sinh xã hội cho anh H theo quy định của pháp luật hiện hành 2.1. Quyền lợi về chế độ tai nạn lao động:

- Như đã nêu ở phần phân tích tình huống, có thể thấy rằng anh H đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện để được hưởng chế độ tai nạn lao động trong 2 tháng điều trị đầu tiên vào năm 2009. - Cụ thể về chế độ hưởng và mức hưởng:
6

o

Chế độ hưởng: Anh H được xác định là suy giảm 45% khả năng lao động, vì vậy theo khoản 1 Điều 43 Luật BHXH 2006 thì anh sẽ được nhận trợ cấp hàng tháng, cụ thể là: “Người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên thì được hưởng trợ cấp hằng tháng.”

o Mức hưởng: Cũng tại điều 43, ở khoản 2 có quy định về mức hưởng theo mức suy giảm khả năng lao động và theo số năm đóng bảo hiểm.  Theo mức suy giảm khả năng lao động: • Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 43 thì: “Suy giảm 31% khả năng lao động thì được hưởng bằng 30% mức lương tối thiểu chung, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 2% mức lương tối thiểu chung”. Ở đây anh H bị suy giảm 45% khả năng lao động, vậy có thể thấy mức trợ cấp sẽ là 58% lương tối thiểu chung, tính ra bằng tiền sẽ là 609.000 đồng (với mức lương tối thiểu chung là 1.050.000 đồng được quy định trong Nghị định số 31/2012/NĐCP của Chính phủ về mức lương tối thiểu chung). • Ở lần giám định thứ 2 sau khi tái phát thì mức suy giảm khảm khả năng lao động tăng lên 61% thì khi này mức trợ cấp thương tật của anh H cũng sẽ thay đổi và cụ thể ở đây là bằng 90% lương tối thiểu chung và quy ra tiền sẽ là 945.000 đồng.

Theo số năm đóng bảo hiểm: theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 43: “Ngoài mức trợ cấp quy định tại
7

điểm a khoản này, hằng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ cấp tính theo số năm đã đóng bảo hiểm xã hội, từ một năm trở xuống được tính bằng 0,5%, sau đó cứ thêm mỗi năm đóng bảo hiểm xã hội được tính thêm 0,3% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị.”. Trong trường hợp của anh H thì hàng tháng còn được hưởng thêm một khoản trợ bằng 6.2 % mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc để điều trị (số năm đóng bảo hiểm của anh H cụ thể ở đây là 20 năm). 2.2. Quyền lợi về chế độ ốm đau:

- Lần nhập viện thứ 2 của anh H vào tháng 7/2012 do tái phát vết thương trong vòng 1 tháng sẽ được xếp vào trường hợp được hưởng chế độ về ốm đau như đã phân tích ở phần đầu. - Cụ thể về thời gian hưởng và mức hưởng:
o

Thời gian hưởng: Theo điểm a khoản 1 Điều 23 Luật BHXH 2006 quy định: “1. Thời gian tối đa hưởng chế độ ốm đau trong một năm đối với người lao động quy định tại các điểm a, b và c khoản 1 Điều 2 của Luật này tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần và được quy định như sau: a) Làm việc trong điều kiện bình thường thì được hưởng ba mươi ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới mười lăm năm; bốn mươi ngày nếu đã đóng từ đủ mười lăm năm đến dưới ba mươi năm; sáu mươi ngày nếu đã đóng từ đủ ba mươi năm trở lên” . Trong trường hợp của anh H thì anh đã đóng bảo hiểm 20 năm, nên có thể thấy rằng thời gian hưởng chế độ ốm đau của anh sẽ là 40 ngày
8

o Mức hưởng: Tại khoản 1 Điều 25 Luật BHXH 2006 có quy định: “1. Người lao động hưởng chế độ ốm đau theo quy định tại khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 23 và Điều 24 của Luật này thì mức hưởng bằng 75% mức tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc.”. Có thể thấy ở đây mức hưởng của anh H sẽ bằng 75% mức tiền lương đóng bảo hiểm xã hội của tháng liền kề trước khi nghỉ việc, tức tháng 6/2012. 2.3. Quyền lợi về chế độ hưu trí:

- Sau lần điều trị tái phát trong 1 tháng thì khi ra viện anh H được xác định suy giảm 61% khả năng lao động, và đồng thời anh cũng làm đơn xin thôi việc ở tuổi 52 và đề nghị được giải quyết chế độ hưu trí. Có thể nhận thấy rằng đây là chế độ được anh H chú trọng, bởi sau khi nghỉ việc thì đây có thể là nguồn thu nhập quan trọng với gia đình anh, đặc biệt là sau khi anh H cũng bị suy giảm khả năng lao động ở mức cao. - Cũng như đã phân tích ở phần đầu tiên, anh H đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động theo Điều 51 Luật BHXH và Điều 27 Nghị định 152/2006 hướng dẫn một số điều về bảo hiểm bắt buộc. - Cụ thể về mức hưởng:
o

Tại khoản 1 và 2 Điều 52 về mức lương hưu hàng tháng Luật BHXH 2006 có quy định: “1. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 50 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 58, Điều 59 hoặc Điều 60 của Luật này tương ứng với mười lăm năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm
9

đóng bảo hiểm xã hội thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%; 2. Mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 51 của Luật này được tính như quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 1%.”. Theo đó thì anh H đã đóng bảo hiểm 20 năm, trong đó sẽ có 15 năm anh được hưởng 45% mức bình quân tiền lương, còn lại 5 năm thì anh sẽ được hưởng 10% mức bình quân tiền lương, tổng cộng lại thì mức hưởng hàng tháng của anh sẽ là 55% bình quân tiền lương; tuy nhiên do anh nghỉ hưu trước tuổi mất 8 năm nên sẽ bị trừ mất 8% bình quân tiền lương, nên con số cuối cùng của mức hưởng hưu trí của anh H sẽ là 47% bình quân tiền lương. 2.4. Quyền lợi về bảo hiểm y tế (BHYT)

- Anh H làm việc ở công ty xây dựng T được 20 năm, điều đó chứng tỏ anh đủ điều kiện để được coi là đối tượng tham gia BHYT theo khoản 1 Điều 12 Luật BHYT 2001, cụ thể là: “. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên theo quy định của pháp luật về lao động; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của pháp luật về tiền lương, tiền công; cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là người lao động).”. - Tuy nhiên không thấy nêu rõ rằng anh H có tham gia đóng BHYT với mức đóng cụ thể được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Luật BHYT 2001 theo nguyên tắc tối đa bằng 6% mức tiền lương, tiền công hàng tháng của anh H với tỷ lệ công ty xây dựng T đóng 2/3 và anh H đóng 1/3. Chính vì vậy mà sẽ có 2 trường hợp xảy ra:

10

o Trong thời gian 2 tháng vào năm 2009 khi anh H bị tai nạn lao động thì anh sẽ không được BHYT chi trả do thuộc vào một trong các trường hợp không đưởng hưởng BHYT mà cụ thể là tại khoản 9 Điều 23 Luật BHYT 2001, khi mà anh H khi đó nằm viện để “Khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng đối với bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, thảm họa.” . Toàn bộ chi phí cho đợt điểu trị này sẽ do chủ sử dụng lao động của anh H mà ở đây là công ty xây dựng T chi trả. Ở đây thì việc anh H có đóng BHYT hay không cũng không quan trọng vì anh đã thuộc diện không được BHYT chi trả cho tai nạn lao động. o Trong khoảng thời gian 1 tháng vào năm 2012 khi anh H phải điều trị tái phát thì khi này có 2 trường hợp xảy ra:  Nếu anh H có tham gia đóng BHYT thì anh sẽ được thanh toán viện phí theo quy định tại các điều 30, 31, 32 của Luật BHYT quy định về thanh toán chi phí khám chữa bệnh BHYT và có các mức hưởng được quy định cụ thể tại điều 7 Nghị định 62/2009/NĐ-CP quy định chi tiết về một số điều của Luật BHYT  Nếu anh H không tham gia đóng BHYT thì trong trường hợp này viện phí sẽ phải tự do bản thân anh chi trả. - Cuối cùng là chế độ được cấp thẻ BHYT cho người hưởng trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và nghỉ hưu trước tuổi.

11

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful