You are on page 1of 85

MỤC LỤC

MỤC LỤC i
DANH SÁCH HÌNH iii
DANH SÁCH BẢNG iv
CÁC TỪ VIẾT TẮT v
GIỚI THIỆU CHUNG vi
CHƯƠNG 1 1
HÓA HỌC CỦA KHÍ QUYỂN (ATMOSPHERE CHEMISTRY) 1
1 Thành phần của khí quyển 1
2 Sự phân tầng của khí quyển 3
3 Hóa học khí quyển của Cacbon, các hợp chất Nitơ và lưu huỳnh 5
3.1 Metan (CH4) và cacbon monoxit (CO) 5
3.2 Các hợp chất Nitơ 7
4 Các hợp chất lưu huỳnh trong khí quyển 9
5 Các khí nhân tạo gây ô nhiễm không khí 11
6 Hiệu ứng nhà kính 13
7 Tầng Ozon 13
8 Mưa axit 15
9 Sương khói quang hóa (Photochemical Smog) 16
CHƯƠNG 2 18
HÓA HỌC CỦA ĐỊA QUYỂN (SOIL CHEMISTRY) 18
1 Các nguyên tố hóa học trong đất 18
2 Các nguyên tố đa lượng 19
2.1 Nitơ 19
2.2 Photpho 21
2.3 Kali 22
2.4 Canxi và Magie 22
2.5 Lưu huỳnh 22
3 Nguyên tố vi lượng trong đất 23
4 Tính chất hóa học của dung dịch đất 24
4.1 Tính đệm của dung dịch đất 24
4.2 Đệm do tác dụng trao đổi cation trong đất 24
4.3 Tác dụng đệm của các axit và muối của chúng trong đất 25
4.4 Đệm do tác dụng của Al3+ linh động 25
4.5 Đệm do dung dịch đất chứa một số chất có khả năng trung hòa 26
5 Tính chất của đất 26
5.1 Khả năng trao đổi ion 26
5.2 Khả năng hấp thụ 27
5.3 Độ pH của đất 27
6 Sự trao đổi các khí nhà kính giữa đất và khí quyển 27
CHƯƠNG 3 32
HÓA HỌC CỦA THỦY QUYỂN (WATER CHEMISTRY) 32
1 Tính chất hóa học của nước tự nhiên và nước biển 32
1.1 Nước tự nhiên (Natural Water) 32
1.2 Nước biển (Sea Water) 34
2 Các thông số đánh giá mức độ ô nhiễm nước 36
2.1 Độ đục (Turbidity) 36

i
2.2 Độ màu (Color) 37
2.3 pH 38
2.4 Độ axit (Acidity) 40
2.5 Độ kiềm (Alkalidity) 42
2.6 Độ cứng (Hardness) 44
2.7 DO (Dissolved Oxygen) 47
2.8 BOD/COD (Biochemical Oxygen Demand/ Chemical Oxygen Demand) 49
2.9 Nitơ (Nitrogen) 51
2.10 Chất rắn (Solid) 52
2.11 Sắt (Iron) 53
2.12 Mangan (Manganese) 54
2.13 Sunfat và photpho 55
2.14 Các chỉ tiêu vi sinh 55
CHƯƠNG 4 57
CÁC CHU TRÌNH TRONG TỰ NHIÊN 57
1 Tổng quan 57
2 Vòng tuần hoàn nước 58
3 Chu trình Cacbon 61
4 Chu trình oxi 63
5 Chu trình Nitơ 66
6 Chu trình Photpho 68
7 Chu trình Sunfua 72
PHỤ LỤC TIÊU CHUẨN VIỆT NAM 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

ii
DANH SÁCH HÌNH

Hình 1.1: Các chất khí ở tầng đối lưu 1


Hình 1.2: Sự phân tầng khí quyển của trái đất 5
Hình 1.3: Cây bị ảnh hưởng bởi mưa axit 16
Hình 1.4: Sương khói quang hóa 17
Hình 2.1: Vòng khoáng hóa và đồng hóa nitơ trong đất 20
Hình 2.2: Chu trình Nitơ trong đất và cây 21
Hình 3.1: Các khoảng pH làm đổi màu thuốc thử 40
Hình 3.2: Nguồn gốc của CO2 và sự hòa tan của các chất gây nên độ cứng 45
Hình 3.3: Sự thay đổi các dạng của Nitơ trong nước nhiễm 52
Hình 4.1: Sơ đồ vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên 58
Hình 4.2: Nước trên trái đất 59
Hình 4.3: Chu trình cacbon 61
Hình 4.4: Quá trình phân hủy và tổng hợp của gluco 64
Hình 4.5: Chu trình oxi trong tự nhiên 65
Hình 4.6: Chu trình Ozon-oxi 65
Hình 4.7: Chu trinh Nitơ 66
Hình 4.8: Nguồn cung cấp photphat trong môi trường 68
Hình 4.9: Chu trình photpho trong tự nhiên 68
Hình 4.10: Các hoạt động của con người ảnh hưởng đến chu trình photpho 70
Hình 4.11: Vòng tuần hoàn photpho trong nước và trên cạn 71
Hình 4.12: Sơ đồ chuyển hóa sunfua trong môi trường 72
Hình 4.13: Chu trình sunfua 73
Hình 4.14: Vòng tuần hoàn sinh học của lưu huỳnh 74

iii
DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1.1: Thành phần cấu tạo của không khí sạch 2
Bảng 1.2: Nồng độ của các chất khí ở tầng đối lưu và trong không khí bị ô nhiễm ở các
khu đô thị (New York, Mexico City) 3
Bảng 1.3: Nguồn gốc và thành phần của bụi 12
Bảng 2.1: Hàm lượng trung bình của nguyên tố hóa học trong đá và đất (% khối lượng
theo Vinogradov, 1950) 18
Bảng 3.1: Thành phần hóa học của nước sông hồ 32
Bảng 3.2: Sự phân tầng nhiệt độ trong hồ và các liên kết phản ứng lý hóa sinh 33
Bảng 3.3: Thành phần của nước biển 35
Bảng 3.4: Các nguồn nước được phân loại theo các mức độ của độ cứng 44
Bảng 3.5: Các cation gây nên độ cứng và các anion liên kết với chúng 45
Bảng 3.6: Hàm lượng oxi hòa tan DO bão hòa trong nước sạch ở áp suất 1atm 47
Bảng 4.1: Ước tính phân bố nước toàn cầu 60
Bảng 4.2: Các nguồn sinh và giảm oxi trong khí quyển 64

iv
CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt Chú thích Từ viết tắt Chú thích

Ar Acgon Mo Molipđen

Ne Neon B Bo

Kr Krypton Co Coban

Xe Xenon Zn Kẽm

He Heli Cu Đồng

N2 Nitơ P Photpho

O2 Oxi Mn Mangan

CH4 Metan S Lưu Huỳnh

CO2 Cacbon dioxit C Cacbon

CO Cacbon monoxit Ti Titan

H2 Hydro Mg Magie

N2O Nitrous Oxit Si Silic

SO2 Sulfur Dioxit Al Nhôm

NH3 Amonia Fe Sắt

NO Nitơ monoxit Ca Canxi

NO2 Nitơ Dioxit Na Natri

O3 Ozon K Kali

HNO3 Axit Nitric BOD Biochemical Oxygen Demand

HCHO Formaldehyt COD Chemical Oxygen Demand

HCOOH Axit Formic C2H3O5N PAN (Peroxyacetyl nitrat)

HNO2 Axit Nitrous CFC Clorofluorocarbon

yrs Năm day Ngày

ppb phần tỷ ppm Phần triệu

hv Năng lượng bức xạ M Năng lượng

Q Nhiệt lượng Me2+ Kim loại hóa trị 2

KĐ Keo đất Atm Đơn vị áp suất

v
GIỚI THIỆU CHUNG

Hóa học môi trường là một ngành khoa học nghiên cứu các hiện tượng hóa học xảy ra
trong môi trường tự nhiên.
Hóa học môi trường nghiên cứu nguồn gốc, các chu trình biến đổi của các chất hóa học
và ảnh hưởng của hoạt động con người đến môi trường không khí, đất và nước.
Hóa học môi trường là một khoa học liên ngành bao gồm hóa học khí quyển, nước, đất
đồng thời, hóa phân tích và các chuyên ngành khoa học khác sẽ hỗ trợ cho Hóa môi
trường nhằm giải thích sự hình thành và biến đổi hàm lượng các chất có mặt trong môi
trường.
Hóa học môi trường còn giúp chúng ta biết cách nào để ngăn ngừa các hoạt động gây ô
nhiễm. Giúp biết được với nồng độ và liều lượng của các chất hóa học hiện diện trong
tự nhiên

vi
CHƯƠNG 1

HÓA HỌC CỦA KHÍ QUYỂN (ATMOSPHERE CHEMISTRY)

Khí quyển Trái Đất là lớp các chất khí bao quanh hành tinh Trái Đất và được giữ lại
bởi lực hấp dẫn của Trái Đất. Phạm vi của khí quyển trải rộng ra bắt đầu từ phía dưới
mặt đất, nơi khí xâm nhập vào những chỗ rỗng như các hang động thiên nhiên trong
Thạch quyển và các hang trú ngụ của động vật trong Thổ quyển, cho đến độ cao hơn
10,000km trên bề mặt của Trái đất, nơi mà khí cứ loãng dần đi và trở nên không thể
phân biệt được với bầu khí quyển của mặt trời.
Khí quyển được cấu tạo từ nitơ (78,1% theo thể tích) và oxi (20,9%), với một lượng nhỏ
acgon (0,9%), cacbon dioxit (dao động, khoảng 0,035%), hơi nước và một số chất khí
khác. Bầu khí quyển bảo vệ cuộc sống trên Trái Đất bằng cách hấp thụ các bức xạ tia
cực tím của mặt trời và tạo ra sự thay đổi về nhiệt độ giữa ngày và đêm.

1 Thành phần của khí quyển

Thành phần khí quyển trái đất khá ổn định theo phương nằm ngang và thay đổi theo
phương thẳng đứng. Phần lớn khối lượng 5.1015 tấn của toàn bộ khí quyển tập trung ở
tầng đối lưu và bình lưu.

Hình 1.1: Các chất khí ở tầng đối lưu

1
Bảng 1.1: Thành phần cấu tạo của không khí sạch

Khí Nồng độ (ppm) Thời gian tồn tại

Ar 9.340 ---

Ne 18 ---

Kr 1,1 ---

Xe 0,09 ---

N2 780.840 106 yrs

O2 209.460 10 yrs

CH4 1,65 7 yrs

CO2 332 15 yrs

CO 0,05-0,2 65 days

H2 0,58 10 yrs

N2O 0,33 10 yrs

SO2 10-5 – 10-4 40 days

NH3 10-4 – 10-3 20 days

NO + NO2 10-6 – 10-2 1 day

O3 10-2 - 10-1

HNO3 10-5 – 10-3 1 day

H2O Đa dạng 10 days

He 5,2 10 yr

(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2006)

2
Bảng 1.2: Nồng độ của các chất khí ở tầng đối lưu và trong không khí bị ô nhiễm ở
các khu đô thị (New York, Mexico City)

Loại Tầng đối lưu (ppb) Không khí bị ô nhiễm (ppb)

SO2 1 – 10 20 – 200

CO 120 1.000 – 10.000

NO 0,01 – 0,05 50 – 750

NO2 0,1 – 0,5 50 – 250

O3 20 – 80 100 – 500

HNO3 0,02 – 0,3 3 – 50

NH3 1 10 – 25

HCHO 0,4 20 – 50

HCOOH 1 – 10

HNO2 0,001 1–8

CH3C(O)O2NO2 5 – 35

Các Hydrocacbon
500 - 1200
không metan

(Nguồn: Air pollution - Mc Graw Hill)

2 Sự phân tầng của khí quyển

Cấu trúc tầng của khí quyển được hình thành do kết quả của lực hấp dẫn và nguồn phát
sinh khí từ bề mặt trái đất, có tác động to lớn trong việc bảo vệ và duy trì sự sống trái
đất. Khí quyển trái đất có cấu trúc phân lớp với các tầng đặc trưng từ dưới lên trên như
sau: tầng đối lưu, tầng bình lưu, tầng trung gian, tầng nhiệt và tầng điện ly.
• Tầng đối lưu là tầng thấp nhất của khí quyển, ở đó luôn có chuyển động đối lưu của
khối không khí bị nung từ mặt đất, thành phần khí khá đồng nhất. Ranh giới trên của
tầng đối lưu trong khoảng 7 - 8km ở hai cực và 16 - 18km ở vùng xích đạo. Tầng đối
lưu là nơi tập trung nhiều nhất hơi nước, bụi và các hiện tượng thời tiết chính như mây,
mưa, tuyết, mưa đá, bão...
Trong tầng đối lưu, thành phần các chất khí chủ yếu tương đối ổn định, nhưng nồng độ
CO2 và hơi nước dao động mạnh. Lượng hơi nước thay đổi theo thời tiết khí hậu, từ 4%
thể tích vào mùa nóng ẩm tới 0,4% khi mùa khô lạnh. Trong không khí tầng đối lưu
thường có một lượng nhất định khí SO2 và bụi.
Chất oxi hóa cơ bản ở tầng thấp của khí quyển là ozon (O3) và gốc hydroxyl. Ozon được
sinh ra trong tầng đối lưu do sự oxi hóa gốc peroxyl của NO

3
NO + RO2 NO2 + RO*
NO2 + hv NO + O*
O* + O2 + M O3
• Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh giới trên dao động trong khoảng độ cao
50km. Không khí tầng bình lưu loãng hơn, ít chứa bụi và các hiện tượng thời tiết. Ở độ
cao khoảng 25km trong tầng bình lưu tồn tại một lớp không khí giàu khí Ozon (O3)
thường được gọi là tầng Ozon.
Trong tầng bình lưu luôn tồn tại quá trình hình thành và phá hủy khí ozon, dẫn tới việc
xuất hiện một lớp ozon mỏng với chiều dày trong điều kiện mật độ không khí bình
thường khoảng vài chục centimet. Lớp khí này có tác dụng ngăn các tia tử ngoại chiếu
xuống bề mặt trái đất. Hiện nay, do hoạt động của con người, lớp khí ozon có xu hướng
mỏng dần, có thể đe doạ tới sự sống của con người và sinh vật trên trái đất.
Ở tầng bình lưu, cấu trúc của ozon bị phá hủy và là nguồn vật liệu đầu tiên hình thành
OH

O3 + hv O2 + O*
O* + H2O 2OH

Những nguồn cung cấp OH* khác là do các chất hữu cơ bị phân hủy

HCHO + hv H* + CHO*
H* + O2 + M HO2*
CHO* + O2 HO2* + CO
Các quá trình tiếp theo là

HO2* + HO2* H2O2 + O2


H2O2 + hv OH* + OH*
HO2* + NO NO2 + OH*

• Bên trên tầng bình lưu cho đến độ cao 80km được gọi là tầng trung gian. Nhiệt độ
tầng này giảm dần theo độ cao.
• Từ độ cao 80km đến 500km gọi là tầng nhiệt, ở đây nhiệt độ ban ngày thường rất cao,
nhưng ban đêm xuống thấp.
• Từ độ cao 500km trở lên được gọi là tầng điện ly. Do tác động của tia tử ngoại, các
phân tử không khí loãng bị phân hủy thành các ion nhẹ như He+, H+, O++. Tầng điện ly
là nơi xuất hiện cực quang và phản xạ các sóng ngắn vô tuyến. Giới hạn bên ngoài của
khí quyển rất khó xác định, thông thường người ta ước tính vào khoảng từ 1000 -
2000km.

4
Hình 1.2: Sự phân tầng khí quyển của trái đất

3 Hóa học khí quyển của Cacbon, các hợp chất Nitơ và lưu huỳnh

3.1 Metan (CH4) và cacbon monoxit (CO)

Các hợp chất cacbon ở vòng tuần hoàn cacbon trong khí quyển bao gồm CO, CH4, CO2
và các hợp chất hydrocacbon không phải metan - NonMetanhydrocacbon (NMHC)
Cacbon monoxit không có tác động qua lại với cân bằng bức xạ của khí quyển vì nó
nhanh chóng bị oxi hóa thành CO2. Do vậy CO chỉ có ý nghĩa lớn và làm tăng CO2
trong khí quyển.
Hầu hết CH4 có mặt trong tầng đối lưu sẽ bị oxi hóa thành CO. Tất cả các phản ứng đều
hình thành chất trung gian là formaldehyt HCHO. Nhưng các phản ứng tiếp theo là khác
nhau phụ thuộc vào nồng độ NOx trong khí quyển. Theo Bouwman (1990), các quá
trình này xảy ra như sau:

CH4 + OH* CH3* + H2O


CH3* + O2 + M CH3O2 + M
Khi NO > 10ppt (ppt = 10-12gram/m3)

CH3O2* + NO CH3O + NO2


CH3O2* + O2 HCHO + HO2*
HO2* + NO OH* + NO2
2[NO2 + hv NO + O*]
2[O + O2 O 3]
CH4 + 4O2 HCHO + 2O3 + H2O

5
Khi NO < 10ppt

CH3O2 + HO2* CH3O2H + O2


CH3O2H + hv CH3O* + OH*
CH3O* + O2 HCHO + HO2*
CH3O2H + O2 HCHO + H2O

Metylhydroperoxyt (CH3O2H) bị oxi hóa chậm trong vòng 1 tuần. Nó có thể bị mất đi
do nước mưa hoặc do bị hấp phụ bởi đất hay các phân tử rắn khác trong không khí (sol
khí). Trong trường hợp này, CH3O2H có thể mất đi một nhóm OH hoặc HO2. Ở điều
kiện môi trường nghèo NO, vòng tuần hoàn phụ sau đây cũng góp phần làm mất OH* và
HO2*

CH3O2* + HO2* CH3O2H + O2


CH3O2H + OH* CH3O2* + H2O

Phản ứng oxi hóa tiếp theo của HCHO là như nhau trong các điều kiện khác nhau của
NO
HCHO + hv H* + CHO*
H* + O2 + M HO2*
HCHO + OH* H2O + CHO*
CHO* + O2 CO + HO2*

Chính vì vậy mà quá trình oxi hóa HCHO sẽ làm tăng thêm lượng CO trong khí quyển.
CO trong khí quyển tiếp tục bị oxi hóa thành CO2.

CO + OH* CO2 + H*

Phụ thuộc vào NO trong khí quyển mà có thể diễn ra các quá trình sau
Khi NO > 10ppt

H* + O2 HO2*
3[HO2* + NO NO2 + OH*]
3[NO2 + hv NO + O*]
3[O* + O2 O 3]
HCHO + 6O2 CO2 + 3O3 + 2OH

6
Khi NO < 10ppt
2[H* + O2 HO2*
3[HO2* + O3 HO* + 2O2]
HCHO + 3O3 CO2 + 3O2 + 2OH

Trong điều kiện có đủ NO, mỗi phân tử CH4 bị oxi hóa sẽ sinh ra 3,7 phân tử O3 và 0,5
nhóm OH-. Khi thiếu NO quá trình oxi hóa một phân tử CH4 sẽ tiêu thụ 1,7 phân tử O3
và 3,5 nhóm OH- (theo Crutzen và Graedel, 1986). Như vậy quá trình oxi hóa CH4 sẽ
làm ảnh hưởng đến nồng độ của CO và OH- trong khí quyển. Lượng khí CH4 và CO
tăng sẽ dẫn đến làm giảm lượng OH-.
Phản ứng giữa CH4 và Cl cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong tầng đối lưu vì nó làm
mất hoạt tính của Cl nguyên tử

CH4 + Cl CH3 + HCl


Đối với hợp chất chứa hydrocacbon khác (RH), quá trình oxi hóa cũng diễn ra tương tự
như CH4

RH + OH* R* + H2O
R* + O2 RO2*

Phụ thuộc vào hàm lượng NO có trong khí quyển mà phản ứng tiếp theo sẽ xảy ra theo
2 con đường như sau:

RO2* + NO RO* + NO2 RO2* + R’OO ROOR’ + O2


RO* + O2 Ri*CHO + HO2* ROOR’ + hv RO + R’O*

3.2 Các hợp chất Nitơ

Các quá trình ở tầng đối lưu


NOx có vai trò rất quan trọng trong quá trình oxi hóa CH4 và CO. Các quá trình phản
ứng của NO và NO2 là rất khác nhau và chúng đóng vai trò như là các chất xúc tác quan
trọng trong nhiều phản ứng quang hóa. Ở tầng đối lưu, NOx làm tăng quá trình hình
thành O3, trong khi ở tầng bình lưu thì ngược lại. Theo Bouwman (1990) các phản ứng
biến đổi của các hợp chất nitơ trong khí quyển xảy ra như sau:
Vào ban ngày HNO3 được hình thành theo phản ứng:

NO2 + OH* + M HNO3


Còn vào ban đêm sẽ có các phản ứng:

NO2 + O3 NO3* + O2
NO3* + NO2 N2O5
N2O5 + H2O 2HNO3

7
Trong phản ứng quang hóa nhiều hợp chất hydrocacbon (không phải CH4) có khả năng
hình thành các chất hữu cơ chứa nitơ. Trong đó peroxyacetylnitrat [CH3C(O)O2NO2] là
nguồn quan trọng giải phóng ra NOx ở các vùng đô thị. Chúng tập trung nhiều ở tầng
giữa và cao trong tầng đối lưu (Levine and et al, 1984).

CH3C(O)O2NO2 CH3(C(O)O2* + NO2

NH3 không có khả năng hấp thụ bức xạ nhiệt, nhưng nó có khả năng bị oxi hóa thành
oxit nitơ có khả năng hấp thụ nhiệt. Trong khí quyển khoảng 10 – 20% NH3 bị oxi hóa
bởi OH.

OH* + NH3 NH2 + H2O

NH2 có thể bị oxi hóa theo các con đường khác nhau

NH2 + O2 NH2O2
Hoặc

NH2 + NO Các sản phẩm (N2, N2O)


NH2 + NO2 Các sản phẩm (N2, N2O)
NH2 + O2 Các sản phẩm (NH*, HNO, NO)

NH3 cũng có khả năng phản ứng với khí HNO3 để hình thành dạng sol khí nitrat

NH3 + HNOx NH4NOx


Các quá trình ở tầng bình lưu
Nguồn cung cấp NOx cho tầng bình lưu là do quá trình phân hóa N2O

O3 + hv O * + O2
O* + N2O 2NO
NO làm tăng quá trình phá hủy tầng Ozon theo các phản ứng sau:

O3 + hv O* + O2
O* + NO2 NO + O2
NO + O3 NO2 + O2
2O3 3O2

8
Ở độ cao dưới 40km, O3 được hình thành từ quá trình liên kết phân tử O2 với O nguyên
tử

O2 + hv 2O*
2[O* + O2 + M O3 ]
3O2 2O3
Lượng O3 trong khí quyển tập trung chủ yếu ở độ cao 10 – 40km. Dưới 25km, NOx có
tác dụng tăng cường quá trình hình thành O3 nhờ tác dụng của ánh sáng mặt trời.

HO2* + NO OH* + NO2


NO2 + hv NO + O*
O* + O2 + M O3
HO2* + O2 OH* + O3
Trong phạm vi độ cao 10 – 40km, OH* tham gia vào quá trình làm phân hủy O3

OH* + O3 HO2* + O2
HO2* + O3 OH* + 2O2
2O3 3O2

Thông thường, ở độ cao trên 25km thì NOx làm giảm nồng độ O3, còn ở độ cao dưới
25km, NOx có tác dụng bảo vệ O3 khỏi bị phá hủy.

4 Các hợp chất lưu huỳnh trong khí quyển

Trong khí quyển, SO2 có thể tham gia một số phản ứng sau
SO2 tham gia phản ứng quang hóa khi hấp thụ tia bức xạ mặt trời trong khoảng bước
sóng λ = 300 – 400nm, ở áp suất thấp và sinh ra SO2 kích hoạt

hv
SO2 SO2*

Trong điều kiện bình thường, với nồng độ 5 – 30ppm khi độ ẩm không khí là 32 – 90%
và có mặt NOx, CxHy cùng các thành phần quang hóa khác thì SO2 tham gia phản ứng
tạo thành H2SO4
SO2 + ½ O2 + H2O → H2SO4

9
SO2 tham gia phản ứng hóa học với một số gốc sinh ra từ quá trình quang hóa

SO2 + H2O* → OH + SO3


SO2 + RO2 → RO + SO3
SO2 + HO* + M → HOSO2* + M
HOSO2* + O2 → HOSO2O2*
HOSO2O2* + NO → HOSO2O* + NO2
SO2 phản ứng với nước chứa muối kim loại hoặc với NH3 tạo nên sunfat

2NH3 + SO2 + H2O → 2NH4+ + SO32-


SO32- + H2O → H2SO4
2NH3 + H2SO4 → (NH4)2SO4
SO3 + MeO → MeSO4

Trong đó Me là các ion kim loại như: Mn2+, Fe2+, Ni2+, Cu2+…
Trong khí quyển SO2 có thể bị hấp thụ vào các hạt rắn như bồ hóng, bụi than và một số
chất rắn khác. Các oxit kim loại là chất rắn đóng vai trò xúc tác phản ứng SO2 với nước.

SO2 + ½ O2 → SO3
SO3 + H2O → H2SO4
H2SO4 + Me+2 → MeSO4 + H2

SO2 là một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con
người, độ bền vật liệu và là nguyên nhân gây mưa axit. Trong than đá và dầu mỏ lưu
huỳnh chiếm khoảng 0,5 – 6% dưới dạng chất vô cơ hoặc hữu cơ. Khi nhiên liệu này bị
đốt cháy, lưu huỳnh sẽ chuyển thành SO2 và một lượng nhỏ SO3

11
2MeS2 + /2O2 → 4SO2 + Me2O3 + Q
SO2 + ½ O2 → SO3
Ở những điều kiện thích hợp, SO2 có thể biến đổi một phần thành SO3 theo phản ứng
sau:

SO2 + OH- → HOSO2-


HOSO2- + O2 → SO3 + HO2-

10
SO2 phản ứng với nước trong khí quyển tạo thành hơi axit H2SO4

SO2 + H2O → H2SO3


H2SO3 → H+ + HSO3- → 2H+ + SO32-
SO32- + H2O → H2SO4
Hơi axit gặp lạnh sẽ ngưng tụ thàn sương mù axit, chúng tồn tại lơ lững trong không khí
hoặc hấp thụ thêm hơi nước tạo thành những giọt axit loãng H2O – H2SO4 và đây chính
là nguyên nhân gây mưa axit ở một số vùng công nghiệp.
Trong khí quyển còn tồn tại một số hợp chất lưu huỳnh khác như H2S, COS (cacbonyl
sunfit), CS2 (carbua sunfua)… Khí quyển ở bề mặt các đại dương còn xuất hiện (CH3)2S
và CH3S2.

5 Các khí nhân tạo gây ô nhiễm không khí

Các khí nhân tạo nguy hiểm nhất đối với sức khỏe con người và khí quyển trái đất đã
được biết đến gồm: Cacbon dioxit (CO2); Dioxit Sunfua (SO2); Cacbon monoxit (CO);
Nitơ oxit (N2O); Clorofluorocarbon (CFC) và Metan (CH4).
Cacbon dioxit (CO2): CO2 với hàm lượng 0,03% trong khí quyển là nguyên liệu cho
quá trình quang hợp để sản xuất năng suất sinh học sơ cấp ở cây xanh. Thông thường,
lượng CO2 sản sinh một cách tự nhiên cân bằng với lượng CO2 được sử dụng cho quang
hợp. Hai hoạt động của con người là đốt nhiên liệu hóa thạch và phá rừng đã làm cho
quá trình trên mất cân bằng, có tác động xấu tới khí hậu toàn cầu gây hiện tượng hiệu
ứng nhà kính
Dioxit Sulfua (SO2): Dioxit sulfua (SO2) là chất gây ô nhiễm không khí có nồng độ
thấp trong khí quyển, tập trung chủ yếu ở tầng đối lưu. Dioxit sunfua sinh ra do núi lửa
phun, do đốt nhiên liệu than, dầu, khí đốt, sinh khối thực vật, quặng sunfua... SO2 rất
độc hại đối với sức khoẻ của người và sinh vật, gây ra các bệnh về phổi khí, phế quản.
SO2 trong không khí khi gặp oxi và nước tạo thành axit, hòa tan vào nước mưa gây ra
hiện tượng mưa axit.
Cacbon monoxit (CO): CO được hình thành do việc đốt cháy không hoàn toàn nhiên
liệu hóa thạch như than, dầu và một số chất hữu cơ khác. Khí thải từ các động cơ xe
máy là nguồn gây ô nhiễm CO chủ yếu ở các thành phố. Hàng năm trên toàn cầu sản
sinh khoảng 600 triệu tấn CO. CO không độc với thực vật vì cây xanh có thể chuyển
hóa CO thành CO2 và sử dụng nó trong quá trình quang hợp. Vì vậy, thảm thực vật
được xem là tác nhân tự nhiên có tác dụng làm giảm ô nhiễm CO. Khi con người tiếp
xúc nguồn không khí có nồng độ CO khoảng 250ppm sẽ bị tử vong.
Nitơ oxit (N2O): N2O là loại khí gây hiệu ứng nhà kính, được sinh ra trong quá trình
đốt các nhiên liệu hóa thạch. Hàm lượng của N2O đang tăng dần trên phạm vi toàn cầu,
hàng năm khoảng từ 0,2 -0,3%. Một lượng nhỏ N2O khác xâm nhập vào khí quyển do
kết quả của quá trình nitrat hóa các loại phân bón hữu cơ và vô cơ. N2O xâm nhập vào
không khí sẽ không thay đổi trong thời gian dài, chỉ khi đạt tới những tầng trên của khí
quyển nó mới được chuyển hóa khi phản ứng với nguyên tử oxi.
Clorofluorocarbon (CFC): CFC là những hóa chất do con người tổng hợp để sử dụng
trong nhiều ngành công nghiệp và từ đó xâm nhập vào khí quyển. CFC 11 hoặc CFCl3
hoặc CFCl2 hoặc CF2Cl2 (còn gọi là freon 12 hoặc F12) là những chất thông dụng của

11
CFC. Một lượng nhỏ CFC khác là CHC1F2 (hoặc F22), CCl4 và CF4 cũng xâm nhập
vào khí quyển. Cả hai hợp chất CFC 11 và CFC 12 hoặc freon đều là những hợp chất có
ý nghĩa kinh tế cao, việc sản xuất và sử dụng chúng đã tăng lên rất nhanh trong hai thập
kỷ vừa qua.
Chúng tồn tại cả ở dạng sol khí và không khí. Dạng sol khí là nguyên nhân làm giảm
nồng độ ozon, do nhu cầu sử dụng của con người ngày càng cao, những dạng không sol
khí vẫn được tiếp tục sản xuất và ngày càng tăng về số lượng. CFC có tính ổn định cao
và không bị phân huỷ. Khi CFC đạt tới thượng tầng khí quyển chúng sẽ được các tia
cực tím phân huỷ. Tốc độ phân huỷ CFC sẽ rất nhanh nếu tầng ozon bị suy giảm và các
bức xạ tia cực tím tới được những tầng khí quyển thấp hơn.
Metan (CH4): Metan là một loại khí gây hiệu ứng nhà kính. Nó được sinh ra từ các quá
trình sinh học, như sự men hóa đường ruột của động vật có guốc, cừu và những động
vật khác, sự phân giải kỵ khí ở đất ngập nước, ruộng lúa, cháy rừng và đốt nhiên liệu
hóa thạch.
CH4 thúc đẩy sự oxi hóa hơi nước ở tầng bình lưu. Sự gia tăng hơi nước gây hiệu ứng
nhà kính mạnh hơn nhiều so với hiệu ứng trực tiếp của CH4. Hiện nay hàng năm khí
quyển thu nhận khoảng từ 400 đến 765x1012g CH4.
Bụi và sol khí
Bụi là những chất dạng rắn hay lỏng có kích thước nhỏ. Do sự chuyển của không khí,
bụi có thể phân tán trong một diện rộng. Bụi sinh ra do hoạt động của con người từ quá
trình sản xuất công nghiệp và sinh hoạt.
Bảng 1.3: Nguồn gốc và thành phần của bụi
Nguồn Dạng bụi Thành phần chính
Sản xuất năng lượng SiO2, 2CaO.SiO2, CaO,
Bụi tro, bồ hống CaSO4, CaCO3, C,
Ca(AlO2)2
Chế biến than Bụi than Cacbon, bụi than cốc
Luyện kim Oxit kim loại, kim loại, bụi
Bụi lò
quặng
Công nghiệp hóa chất Sulfat, Clorit, photphat, Ca,
Bụi công nghiệp
Oxit kim loại, nhựa
Công nghiệp xây dựng Bụi khoáng Ximăng, thạch cao, xỉ
Công nghiệp thủy tinh Thạch anh, silicat, oxit kim
Bụi thủy tinh
loại, phi kim
Giao thông Dầu, mồ hống, cặn cao su,
Bụi đường phố
hơi hữu cơ, hợp chất chì
Nông nghiệp Bón bón, bụi lúa Phân bón, thuốc trừ sâu
Công nghiệp dệt Bụi sợi Vải lông, vải sợi nhân tạo

12
Tác hại của bụi và sol khí
- Tạo hợp chất với một số kim loại hiếm (Cd, Pb, Zn, Cu,…)
- Ô nhiễm khí quyển, sương mù
- Gây độc với cây trồng, vật nuôi
- Ăn mòn da, gây hại mắt và cơ quan hô hấp, gây bệnh ung thư phổi

6 Hiệu ứng nhà kính

Nhiệt độ bề mặt trái đất được tạo nên do sự cân bằng giữa năng lượng mặt trời với bề
mặt trái đất và năng lượng bức xạ của trái đất vào khoảng không gian giữa các hành
tinh. Năng lượng mặt trời chủ yếu là các tia sóng ngắn dễ dàng xuyên qua cửa sổ khí
quyển. Trong khi đó, bức xạ của trái đất với nhiệt độ bề mặt trung bình +16oC là sóng
dài có năng lượng thấp, dễ dàng bị khí quyển giữ lại. Các tác nhân gây ra sự hấp thụ bức
xạ sóng dài trong khí quyển là khí CO2, bụi, hơi nước, khí metan, khí CFC…
"Kết quả của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian
xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất. Hiện tượng này diễn
ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là hiệu ứng nhà kính".
Sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch của loài người làm cho nồng độ khí CO2 của
khí quyển tăng lên. Sự gia tăng khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển trái
đất làm nhiệt độ trái đất tăng lên. Theo tính toán của các nhà khoa học, khi nồng độ CO2
trong khí quyển tăng gấp đôi, thì nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên khoảng 3oC. Các số
liệu nghiên cứu cho thấy nhiệt độ trái đất đã tăng 0,5oC trong khoảng thời gian từ 1885
đến 1940 do thay đổi của nồng độ CO2 trong khí quyển từ 0,027% đến 0,035%. Dự báo,
nếu không có biện pháp khắc phục hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ trái đất sẽ tăng lên 1,5 –
4,5oC vào năm 2050.
Vai trò gây nên hiệu ứng nhà kính của các chất khí được xếp theo thứ tự như sau: CO2,
CFC, CH4, O3, NO2. Sự gia tăng nhiệt độ trái đất do hiệu ứng nhà kính có tác động
mạnh mẽ tới nhiều mặt của môi trường trái đất.
- Nhiệt độ trái đất tăng sẽ làm tan băng và dâng cao mực nước biển. Như
vậy, nhiều vùng sản xuất lương thực trù phú, các khu đông dân cư, các đồng
bằng lớn, nhiều đảo thấp sẽ bị chìm dưới nước biển.
- Sự nóng lên của trái đất làm thay đổi điều kiện sống bình thường của các
sinh vật trên trái đất. Một số loài sinh vật thích nghi với điều kiện mới sẽ thuận
lợi phát triển. Trong khi đó nhiều loài bị thu hẹp về diện tích hoặc bị tiêu diệt.
- Khí hậu trái đất sẽ bị biến đổi sâu sắc, các đới khí hậu có xu hướng thay
đổi. Toàn bộ điều kiện sống của tất cả các quốc gia bị xáo trộn. Hoạt động sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy hải sản bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
- Nhiều loại bệnh tật mới đối với con người xuất hiện, các loại dịch bệnh
lan tràn, sức khoẻ của con người bị suy giảm.

7 Tầng Ozon

Tầng Ozon là gì?


Khí ozon gồm 3 nguyên tử oxi (O3). Tầng bình lưu nằm trên tầng đối lưu với ranh giới
trên dao động trong khoảng độ cao 50km. Ở độ cao khoảng 25km trong tầng bình lưu

13
tồn tại một lớp không khí giàu khí ozon (O3) thường được gọi là tầng ozon. Hàm lượng
khí ozon trong không khí rất thấp, chiếm một phần triệu, chỉ ở độ cao 25 - 30km, khí
ozon mới đậm đặc hơn (chiếm tỉ lệ 1/100.000 trong khí quyển).
Nếu tầng ozon bị thủng, một lượng lớn tia tử ngoại sẽ chiếu thẳng xuống Trái đất. Tia tử
ngoại khi đến Trái đất gây ra các ảnh hưởng như sau:
- Gây ung thư da, hủy hoại mắt.
- Mất dần khả năng miễn dịch của thực vật
- Các sinh vật dưới biển bị tổn thương và chết dần (khi O3 giảm 10%, bức
xạ cực tím gây hủy hoại 20%)
Nguyên nhân nào dẫn đến thủng tầng Ozon
Tháng 10 năm 1985, các nhà khoa học Anh phát hiện thấy tầng khí ozon ở Nam cực
xuất hiện một "lỗ thủng" rất lớn, bằng diện tích nước Mỹ. Năm 1987, các nhà khoa học
Ðức lại phát hiện tầng khí ozon ở vùng trời Bắc cực có hiện tượng mỏng dần.
Các nhà khoa học đều cho rằng, nguyên nhân này có liên quan tới việc sản xuất và sử
dụng tủ lạnh trên thế giới. Sở dĩ tủ lạnh có thể làm lạnh và bảo quản thực phẩm được lâu
là vì trong hệ thống ống dẫn khép kín phía sau tủ lạnh có chứa loại dung dịch freon thể
lỏng (thường gọi là "gas"). Nhờ có dung dịch hóa học này tủ lạnh mới làm lạnh được.
Dung dịch freon có thể bay hơi thành thể khí. Khi chuyển sang thể khí, freon phá vỡ kết
và làm giảm nồng độ khí ozon.
Không những tủ lạnh, máy lạnh cần dùng đến freon mà trong dung dịch giặt tẩy, sơn,
bình cứu hỏa cũng sử dụng freon và các chất thuộc dạng freon. Trong quá trình sản xuất
và sử dụng các hóa chất đó không tránh khỏi thất thoát một lượng lớn freon vào khí
quyển. Freon là chất khí trơ đối với phản ứng hóa học, lý học thông thường. Khi thải
vào tầng đối lưu, chúng khuếch tán chậm chạp sang tầng bình lưu. Dưới tác dụng của tia
tử ngoại, freon bị phân hủy thành tạo ra các nguyên tử clo tự do, mỗi nguyên tử clo lại
phản ứng dây chuyền với phân tử ozon biến chúng thành oxi.
Cl + O3 → ClO* + O2
ClO* + O → Cl* + O2
Nguyên nhân thứ hai có thể là do Cl2 hoặc HCl sinh ra từ quá trình tự nhiên (núi lửa) và
nhân tạo trực tiếp đi vào tầng bình lưu. Cl2 tác dụng với tia tử ngoại và HCl phản ứng
với OH tạo thành Clo nguyên tử làm phân hủy ozon.

Cl2 + hv → Cl* + Cl*


Cl* + O3 → ClO* + O2
ClO* + hv → Cl + O*
λ < 303.5nm
Hoặc ClO* + O* * → Cl*
*
+ O2
HCl + OH → Cl + H2O
Cl* + O3 → ClO* + O2
ClO* + O* → Cl* + O2

14
Nếu trong khí quyển có tồn tại CH4 và NO2 thì sẽ xảy ra phản ứng giữa Cl và ClO với
chúng

Cl* + CH4 → HCl + CH3* (tạo mưa axit)


ClO* + NO2 → ClONO2 (Clorinitrat)

Clorinitrat là hợp chất tương đối bền, nó có ý nghĩa trong việc làm giảm chu trình phân
hủy ozon do giảm việc tạo thành Cl* qua phản ứng với NO2.
Sớm ngừng sản xuất và sử dụng các hóa chất dạng freon là biện pháp hữu hiệu nhất để
cứu tầng ozon. Nhiều hội thảo quốc tế đã bàn tính các biện pháp khắc phục nguy cơ
thủng rộng tầng ozon. 112 nước thuộc khối Cộng đồng Châu Âu (EEC) đã nhất trí đến
cuối thế kỷ 20 sẽ chấm dứt sản xuất và sử dụng các hóa chất thuộc dạng freon. Vì vậy
các nhà khoa học đang nghiên cứu sản xuất loại hóa chất khác thay thế các hóa chất ở
dạng freon, đồng thời sẽ chuyển giao công nghệ sản xuất cho các nước đang phát triển.
Nguyên nhân thứ 3 là do các khí sinh ra bởi các hoạt động nhân tạo như CO, CH4, NOx,
và các chất hữu cơ (khói quang hóa). Các chất này tham gia phản ứng với các gốc tồn
tại ở tầng bình lưu trở thành các chất hoạt hóa và tham gia quá trình phân hủy ozon.

8 Mưa axit

Mưa axit là mưa bị axit hóa bởi các oxit của sunfua và nitơ. Mưa axit được hình thành
khi các oxit của sunfua va nitơ được sản sinh ra từ khói thải của nhà máy, động cơ đốt
trong của xe ôtô phản ứng với độ ẩm cao trong không khí. Quá trình lắng động khô ở
dạng bồ hóng, tro, bụi, mưa tuyết, mưa đá, sương khói và ozon ở tầng thấp là những
dạng dẫn đến hình thành mưa axit
Mưa axit được phát hiện ra đầu tiên năm 1948 tại Thụy Ðiển. Nguyên nhân do con
người đốt nhiều than đá, dầu mỏ phục vụ cho các hoạt động của con người như:
- Nhà máy công nghiệp và nhiệt điện
- Phương tiện giao thông
- Các hoạt động trong nhà (nấu nướng, lò sưởi…)
- Núi lửa, đầm lầy, thực vật bị phân hủy (thiên nhiên chiếm 10% nguồn ô
nhiễm gây mưa axit)
Trong than đá và dầu mỏ thường chứa một lượng lưu huỳnh, còn trong không khí lại rất
nhiều khí nitơ. Trong quá trình đốt cháy sản sinh ra các khí Sunfua dioxit (SO2), Nitơ
dioxit (NO2). Các khí này hòa tan với hơi nước trong không khí tạo thành các hạt axit
sulfuric (H2SO4), axit nitric (HNO3). Khi trời mưa, các hạt axit này tan lẫn vào nước
mưa, làm độ pH của nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới 5,6 được gọi là mưa
axit. Do có độ chua khá lớn, nước mưa có thể hòa tan được một số bụi kim loại và oxit
kim loại có trong không khí như oxit chì... làm cho nước mưa trở nên độc hơn đối với
cây trồng, vật nuôi và con người.
Mưa axit nhiều khi xuất hiện rất xa nguồn thải có hàm lượng cao của các chất khí axit,
vì quá trình oxi hóa và hình thành axit kéo dài, có khi kéo dài đến vài ngày và trong thời
gian đó các khí đã di chuyển rất xa nguồn thải hàng trăm ngàn km. Trong các khí oxit
tạo nên mưa axit gây ô nhiễm thì các hợp chất lưu huỳnh chiếm trên 80%, còn lại là các
oxit nitơ 12% và axit HCl 5%.

15
Mưa axit ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực (ao, hồ). Các dòng chảy do mưa axit đổ vào
ao, hồ sẽ làm độ pH giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết
hoàn toàn. Hồ, ao trở thành các thủy vực chết.
Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngấm xuống đất làm tăng độ chua của đất,
hòa tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi (Ca), magie (Mg)... làm suy
thoái đất, thực vật kém phát triển. Lá cây gặp mưa axit sẽ bị "cháy" lấm chấm, mầm sẽ
chết khô, khả năng quang hợp của cây giảm, cho năng suất thấp, hủy diệt mùa màng.
Khi đất bị axit hóa sẽ làm tăng khả năng hòa tan của một số kim loại nặng vào trong
nước, gây ô nhiễm hóa học. Cây cối hấp thụ kim loại nặng như Cd, Zn…đi vào nguồn
thực phẩm, gây nhiễm độc cho người và gia súc. Mưa axit còn phá hủy các vật liệu làm
bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm... làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, đền
đài…

Hình 1.3: Cây bị ảnh hưởng bởi mưa axit

9 Sương khói quang hóa (Photochemical Smog)

Sương khói (smog) là một hiện tượng ô nhiễm không khí. Hỗn hợp của khói và SO2 sản
sinh ra từ hoạt động đốt than là nguyên nhân của hiện tượng sương khói được định
nghĩa đầu tiên. Từ những năm 1950, hiện tượng sương khói và quang hóa
(photochemical smog) được biết đến là kết quả của sự hòa trộn của các chất khí ô nhiễm
độc hại dưới ánh nắng mặt trời bao gồm:
- NOx (nitơ oxit)
- Ozon ở tầng đối lưu (tropospheric ozon )
- Các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (volatile organic compounds - VOCs)
- Các hợp chất Peroxyacyl nitrat (PAN)
- Bụi và sol khí
Tất cả các hợp chất trên đều có hoạt tính oxi hóa rất cao do đó hiện tượng sương khói và
quang hóa được xem là một trong những vấn đề của công nghiệp hóa thời kỳ hiện đại.
Sương khói quang hóa thường xãy ra ở các khu trung tâm đô thị lớn, tuy nhiên, chất ô
nhiễm cũng phát tán ra các khu vực xung quanh do ảnh hưởng của gió.

16
Hai chất ô nhiễm gây nên hiện tượng sương khói là ozon ở tầng thấp và các hạt bụi -
particulate matter (PM). Mức độ cao của sương khói thường xảy ra vào mùa hè khi
không khí bị đốt nóng dưới ánh sáng mặt trời. Tuy nhiên hiện tượng này cũng xảy ra
trong mùa đông khi nhu cầu đốt nguyên liệu sưởi ấm tăng lên. Các hạt bụi là nguyên
nhân chính gây ra hiện tượng sương khói trong những tháng mùa đông.
Hiện tượng ô nhiễm môi trường này ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ của con người;
nhất là các bệnh về đường hô hấp.

Hình 1.4: Sương khói quang hóa

17
CHƯƠNG 2

HÓA HỌC CỦA ĐỊA QUYỂN (SOIL CHEMISTRY)

Địa quyển là lớp vỏ cứng ngoài cùng nhất của Trái đất, bao gồm cả Thạch quyển và
Thổ quyển, tại đây con người có thể khai thác thức ăn, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,
năng lượng và các dạng tài nguyên khác phục vụ sự tồn tại và phát triển của mình.. Trên
Trái Đất, địa quyển bao gồm lớp vỏ và tầng trên cùng nhất của lớp phủ (lớp phủ trên
hoặc thạch quyển dưới), được kết nối với lớp vỏ. Độ dày của địa quyển dao động từ
khoảng 1,6km ở các sống lưng giữa đại dương tới khoảng 130km gần lớp vỏ đại dương
cũ. Độ dày của mảng thạch quyển lục địa là khoảng 150km.

1 Các nguyên tố hóa học trong đất

Các nguyên tố hóa học trong đất là các nguyên tố chứa trong phần khoáng, hữu cơ của
đất. Nguồn gốc của chúng có từ đất đá và khoáng tạo thành đất. Hàm lượng trung bình
của thành phần nguyên tố hóa học ở trong đất và đá được trình bày trong bảng sau:

Bảng 2.1: Hàm lượng trung bình của nguyên tố hóa học trong đá và đất (% khối
lượng theo Vinogradov, 1950)

Nguyên tố Trong đá Trong đất


O 47,2 49
Si 27,6 33
Al 8,8 7,13
Fe 5,1 3,8
Ca 3,6 1,37
Na 2,64 0,63
K 2,6 1,36
Mg 2,1 0,6
Ti 0,6 0,64
H 1,5
C 0,01 2
S 0,09 0,085
Mn 0,09 0,085
P 0,08 0,08
N 0,01 0,01
Cu 0,01 0,002
Zn 0,005 0,005
Co 0,003 0,0008
B 0,0003 0,001
Mo 0,0003 0,0003
Trong đá gần một nửa là oxi (47,2%), tiếp theo là silic (27,6%), tổng sắt và nhôm là
13% và các nguyên tố Ca, Na, K, Mg, mỗi loại chiếm từ 2 – 3%. Các nguyên tố còn lại
ở trong đá chiếm gần 1%.
Thành phần trung bình của các nguyên tố hóa học trong đất khác với đá. Oxi và Hydro
(thành phần của nước) chiếm tỉ trọng lớn nhất. Cacbon trong đất gấp 20 lần trong đá,
nitơ gấp 10 lần và chủ yếu chứa trong các chất hữu cơ. Thành phần hóa học của các

18
nguyên tố trong đất và đá có liên quan chặt chẽ với nhau nhất là ở giai đoạn đầu của quá
trình hình thành đất. Các giai đoạn sau của quá trình phát triển lại chịu sự chi phối của
các quá trình lý hóa sinh học và hoạt động sản xuất của con người tác động lên.
Ví dụ như silic giữa đá và đất gần giống nhau, chứng tỏ tính bền vững và sự tái trầm
tích của nó trong quá trình hình thành đất. Sắt và nhôm cũng được tích lũy trong quá
trình phong hóa nhiệt đới. Trong khi đó các nguyên tố khác như Ca, Na, K, Mg…lại bị
giải phóng và rửa trôi nên hàm lượng của chúng ít hơn nhiều so với trong đá. Các
nguyên tố có ý nghĩa sinh học như C, S, N, P được tích lũy trong đất nhờ vào các quá
trình sinh học (cố định và hấp thu chọn lọc). Tỷ lệ C/N trong chất hữu cơ trong đất thay
đổi trong khoảng từ 8 – 15, lượng photpho hữu cơ nhỏ hơn lượng nitơ 4 – 5 lần, tỷ lệ
C/S là 100/1.
Phụ thuộc vào hàm lượng, tính chất và đặt biệt là nhu cầu dinh dưỡng của thực vật, các
nguyên tố hóa học trong đất được chia thành nhóm nguyên tố đa lượng, vi lượng và
nhóm nguyên tố phóng xạ.

2 Các nguyên tố đa lượng

Các nguyên tố đa lượng cần thiết cho đời sống cây trồng là H, C, O, N, Ca, Mg, P, S và
Na.

2.1 Nitơ

Nguyên tố đa lượng rất cần cho mọi sinh vật, không có nitơ thì không có bất cứ một tế
bào thực vật, động vật nào phát triển được. Trong protein có 16 – 18% nitơ.
Trong đất, hợp chất chứa nitơ có hóa trị -3 và +5. Hợp chất có mức độ hóa khác nhau
của nitơ được gặp với số lượng nhỏ. Amoniac ở dạng tự do thực tế không gặp, nó là sản
phẩm khi phân giải chất hữu cơ, được hòa tan nhanh vào nước (50 – 60gNH3/100g nước
ở 10 – 20oC)
NH3 + H2O → NH4+ + OH-
Dạng nitơ khoáng hóa trong đất ngoài NH4+, NO3-, NO2- còn gặp các oxit nitơ. Hàm
lượng dể tiêu của chúng nhỏ, chỉ chiếm khoảng 1 - 3% so với nitơ tổng. Nitơ dự trữ
trong đất dưới dạng chất hữu cơ thích hợp cho cây trồng, có khoảng 93 – 99% tổng nitơ
tồn tại dạng hữu cơ trong tầng mùn của đất. Sự chuyển hóa hóa học hay sinh học của
các hợp chất hữu cơ này để tạo thành nitơ dễ tiêu gọi là quá trình khoáng hóa. Ví dụ
trong một loại đất nhiệt đới có 1,5% mùn chứa trung bình 6%N. Với hệ số khoáng hóa
hàng năm trung bình 2% thì số lượng nitơ khoáng giải phóng sẽ là:
1.5 2 6
N khoáng
= 4 × 106 × × × = 72kgN .ha −1.năm −1
100 100 100

Trong đó 4x106 là số kg đất/ha ở độ sâu 0 – 25cm. Quá trình khoáng hóa hợp chất Nitơ
hữu cơ thành NH4+ gọi là quá trình amon hóa do nhóm sinh vật dị dưỡng (vi khuẩn và
nấm) thực hiện. Đây là bước đầu tiên trong quá trình khoáng hóa.
C2H5NO2 + 3[O] + H+ → 2CO2 + NH4+ + H2O
(glyxin)

19
Amon hóa

N – hữu cơ N – NH4+

Đồng hóa

Hình 2.1: Vòng khoáng hóa và đồng hóa nitơ trong đất
+
NH4 được tạo thành có thể bị hấp phụ do keo đất và một phần trong dung dịch ở thế
cân bằng. Đồng thời NH4+ cũng có nhu cầu cho các cơ thể dị dưỡng khác để sinh
trưởng. Quá trình này gọi là tái sử dụng hay quá trình đồng hóa NH4+ (Hình 2.1)
NH4+ được hình thành cũng có thể được sử dụng bởi các vi sinh vật tự dưỡng. Vi sinh
vật này chuyển hóa NH4+ thành NO2- và NO3-. Quá trình này gọi là quá trình nitrat hóa

Nitrosomonas
2NH4+ + 2OH- + 3O2 2H+ + 2NO2- + 4H2O + Q
Nitrobacter
NO2- + O2 2NO3- + Q

NH4+ + 2O2 HNO3 + H3O+ + Q

NO3- không bị giữ bởi các hạt keo đất và tồn tại rất linh động, chúng bị mất đi do rửa
trôi. Quá trình amon hóa và nitrat hóa phụ thuộc vào cường độ phân hủy của các quần
thể sinh vật, nhiệt độ, độ ẩm, pH và tỉ lệ C/N.
Nitơ hữu cơ trong đất luôn biến đổi, một phần nitơ có thể mất đi do sự bay hơi của NH3
ở pH cao (pH > 9,4). Sự mất nitơ do phản ứng nitrat hóa được thực hiện do vi khuẩn kị
khí khử nitrat thành NO2, NO, N2O và N2.

-2[O] -2[O] -[O] -[O]


2HNO3 2HNO2 N2O NO N2
-[H2O]

Trong đất cũng thường xuyên xảy ra quá trình cố định nitơ sinh học. Đây là quá trình vi
sinh vật (hiếu khí, kỵ khí và một số vi khuẩn ưa sáng) sử dụng năng lượng dự trữ của
sản phẩm quang hợp để đồng hóa N2 thành NH3

Men
N2 + 3H2 2NH3

20
Chu trình chuyển hóa nitơ trong đất và cây được thể hiện theo sơ đồ sau:
N2 Khí quyển

N-Đất Protein cây


NH4+

pH kiềm C/N thấp Khử NO3


NH3 NH4+ NO3- N2, N2O, NO
C/N cao

N – Vi sinh vật Rửa trôi

Hình 2.2: Chu trình Nitơ trong đất và cây

2.2 Photpho

Photpho là nguyên tố đa lượng quan trọng thứ hai đối với đời sống sinh vật sau Nitơ.
Các hoạt động sống như phân chia tế bào, quá trình phân giải, tổng hợp các chất và sự
hình thành đất đều có sự tham gia của photpho.
Hai dạng photphat chủ yếu trong đất là photphat hữu cơ và vô cơ. Tỷ lệ giữa photphat
hữu cơ và vô cơ phụ thuộc vào thành phần cấu tạo của các loại đất khác nhau.
Dạng photphat vô cơ chủ yếu là apatit chiếm 95% photpho của vỏ trái đất. Các dạng bao
gồm: strengit (Fe(OH)2H2PO4), vivianit (Fe3(PO4)2.8H2O), varaxyt (Al(OH)2H2PO4) và
các dạng photphat canxi, sắt, nhôm. Các photphat thứ sinh của Fe, Al chứa chủ yếu
trong đất chua và chua mạnh (pH = 3,5 – 4,5). Độ bền của những photphat này sẽ bị
giảm nếu giảm độ chua của đất. Bón vôi cho đất chua có ý nghĩa tăng photphat cho cây
trồng.
Photphat hữu cơ chủ yếu là phytin, photphatit, axit nucleic. Dưới tác dụng phân giải của
vi sinh vật, photphat vô cơ sẽ được giải phóng cung cấp cho cây trồng.
Sự chuyển hóa photphat khó hòa tan thành photphat hòa tan phụ thuộc vào pH, sự có
mặt của Fe, Al, Mn, Ca và vi sinh vật. Trong đất chua, Fe3+ và Al3+ sẽ phản ứng với
H2PO4- tạo thành photphat kiềm không hòa tan.

Al3+ + H2PO4- + H2O H+ + Al(OH)2H2PO4 ↓

Trong đất có pH cao và có sự hiện diện của Ca ở trạng thái hấp thụ trao đổi thì Ca2+ sẽ
phản ứng với H2PO4- tạo thành kết tủa Ca3(PO4)2

Ca(H2PO4)2 + 2Ca2+ Ca3(PO4)2 ↓ + 4H+

Hay Ca(H2PO4)2 + CaCO3 Ca3(PO4)2 ↓ + 2CO2 + 2H2O

Quá trình hấp phụ hóa học tạo thành các dạng photphat kết tủa gọi là sự cố định
photphat. Khi bón phân superphotphat thì sự cố định này làm giảm hiệu quả sử dụng

21
phân bón. Ngoài ra, photpho trong đất còn bị lôi kéo vào quá trình hấp phụ và phản hấp
phụ do các hạt keo tích điện dương.

[Al – H2O]+ + H2PO4- [Al – H2PO4] + H2O

[Al – OH]+ + H2PO4- [Al – H2PO4] + OH

2.3 Kali

Kali là một nguyên tố dinh dưỡng rất cần thiết cho cây và có nhiều chức năng sinh lý
đặc biệt. Kali không có mặt trong cấu trúc của bất kỳ một hợp chất hữu cơ nào của cơ
thể nhưng nó giúp hoạt hóa các phản ứng của enzym, điều hòa áp suất thẩm thấu, tăng
khả năng chống chịu của cơ thể.
Kali trong đất được cung cấp chủ yếu do quá trình phong hóa đá và khoáng, trao đổi hòa
tan. Kali tồn tại trong đất có thể ở dạng muối đơn giản hòa tan (nitrat, photphat hoặc
sulphat), trong mạng lưới khoáng nguyên sinh, thứ sinh (kali khoáng) và trong xác hữu
cơ và cơ thể sống của vi sinh vật. Kali được hấp thụ bởi các hạt keo đất ở trạng thái trao
đổi hay không trao đổi. Khi bón phân kali vào đất, kali hòa tan rất nhanh và chuyển
thành trạng thái hấp phụ. Nhờ khả năng giữ kali mà cây trồng có thể sử dụng được 60 –
70% trong năm đầu tiên sau khi bón phân.

2.4 Canxi và Magie

Ca và Mg là hai nguyên tố dinh dưỡng trung lượng. Canxi tham gia cấu trúc màng tế
bào, trong cofecmen của một số enzym và là nguyên tố giảm độc kim loại nặng. Mg là
thành phần cấu tạo của diệp lục, enzym và đặc biệt tham gia vào phản ứng tạo adenozin
triphotphat (ATP). Sự thoái hóa đất, chua hóa là do mất và thiếu các kim loại mà quan
trọng nhất là Ca và Mg.
Trong đất Ca, Mg tồn tai ở các dạng: phức hệ hấp phụ trao đổi (Ca2+, Mg2+) trong các
hợp chất hữu cơ (mùn, xác động thực vật và vi sinh vật) và trong dung dịch đất. Việc
bón vôi để giảm độ chua của đất là một giải pháp quan trọng nhất để cải thiện độ phì
nhiêu của đất.

2.5 Lưu huỳnh

S chứa trong thành phần một số axit amin, coenzym A và vitamin. Nguồn lưu huỳnh
trong đất chủ yếu được cung cấp từ khoáng vật, các hợp chất khí chứa S trong khí quyển
và các hợp chất hữu cơ. Hợp chất lưu huỳnh ở các dạng muối sulphat (SO42-), sulphit
(SO32-) và các chất hữu cơ. Các hợp chất lưu huỳnh trong đất luôn luôn bị biến đổi từ
lưu huỳnh vô cơ thành hữu cơ và ngược lại bởi hoạt động chuyển hóa của các vi sinh
vật. Phản ứng oxi hóa hợp chất S khử xảy ra nhanh trong điều kiện hiếu khí.

S S2O32- S4O62- SO32- SO42-


Thiosulphat Tetrathionat Sulphit Sulphat

22
Phản ứng oxi hóa pyrit là phổ biến xảy ra ở đất phèn dẫn đến sự hình thành H2SO4

FeS2 + H2O + 7H2O FeSO4 + 7H2SO4


Thiobalillus
FeSO4 + O2 + 7H2SO4 2Fe2(SO4)3 + 2H2O

Trong điều kiện yếm khí, lưu huỳnh sulphat không bền vững bị khử bởi vi khuẩn
desulfovibrio theo phản ứng sau:

Na2SO4 + Fe(OH)2 + 9H+ FeS + 2NaOH + 5H2O

3 Nguyên tố vi lượng trong đất

Các nguyên tố vi lượng trong đất bao gồm Mn, Zn, Cu, Co, B, Bo…là những cation có
đường kính rất nhỏ từ 0,8 – 1Ao phần lớn chứa trong mạng lưới tinh thể khoáng. Các
nguyên tố vi lượng được giải phóng do quá phong hóa phụ thuộc vào các phản ứng của
môi trường và điện thế oxi hóa khử (Eh). Ở trong đất, các nguyên tố vi lượng tồn tại ở
dạng vô cơ và hữu cơ. Chúng có ý nghĩa quan trọng khác nhau đối với cây trồng. Tầng
bề mặt giàu mùn cũng thường giàu các nguyên tố vi lượng hơn tầng sâu vì liên quan đến
hệ thống rễ thực vật. Độ chua của đất cũng ảnh hưởng đến sự tồn tại của các nguyên tố
vi lượng.
Mangan (Mn) trong vỏ trái đất có thể gặp ở 3 dạng hóa trị là Mn2+, Mn3+, Mn4+. Các
khoáng thứ sinh chứa Mn như pyrolusit (MnO2), manganit (MnO2H), braunit (Mn2O3),
hausmanit (Mn3O4) và oxit manganazit (MnO)…Trong quá trình phong hóa Mn chuyển
thành Mn2+ ở dạng muối cacbonat (MnCO3) và bicacbonat (Mn(HCO3)2), hoặc trạng
thái hấp phụ trao đổi trên keo đất, hoặc bị kết tủa dạng mangan hydroxit (Mn(OH)2).
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính dễ tiêu của Mn, pH càng cao thì tính linh động của
Mn càng kém dẫn đến thiếu Mn cho cây trồng. Ngược lại đất giàu axit thì có nguy cơ
thừa Mn và gây độc với môi trường. Hàm lượng chất hữu cơ, thành phần cơ giới, độ
ẩm, sự có mặt của các chất dinh dưỡng khác cũng ảnh hưởng đến Mn dễ tiêu (Mn2+).
Đồng (Cu): Trong đất Cu cùng với S tập trung trong hợp chất sunfit – phổ biến nhất là
chalcopyrit (CuFeS2). Đồng chứa trong mạng lưới tinh thể khoáng nguyên sinh và thứ
sinh, trong trạng thái hấp phụ trao đổi của keo đất.
Mức độ dễ tiêu của đồng phụ thuộc vào pH, hàm lượng chất hữu cơ, thành phần cơ giới
và các ion đối khác. Đất có pH > 7 thường thiếu Cu và ngược lại, thừa Cu khi pH < 4,5
(tính hòa tan của Cu tăng ở pH thấp). Cu cũng như Zn, Mn, Fe liên kết rất bền với chất
mùn, vì vậy đất nhiều mùn (đất than bùn) thường thiếu Cu đối cây. Hàm lượng N và P
cao trong đất góp phần cải thiện tình trạng thiếu Cu.
Molipđen (Mo): Mo là nguyên tố vi lượng tham gia vào quá trình oxi hóa khử trong cơ
thể thực vật. Mo rất cần cho sự chuyển hóa từ NO3- thành axit amin và cần cho sự cố
định nitơ bằng con đường sinh học. Do kết quả của quá trình phong hóa, Mo tồn tại
trong đất chủ yếu ở dạng anion molipđat (MoO42-). Trong điều kiện axit, anion MoO42-
có thể bị hấp thụ bởi các hạt keo dương của đất.
Sắt (Fe): Fe chứa trong hệ thống enzym xúc tác cho quá trình oxi hóa khử, quang hợp,
khử NO3-, SO42-, đồng hóa N2 và sinh tổng hợp clorophin.

23
Trong đất, dạng Fe tồn tại chủ yếu là hematit (Fe2O3) và siderit (FeCO3), trong liên kết
với các chất hữu cơ và một phần nhỏ ở dạng hấp thụ trao đổi (Fe2+). Độ hòa tan của Fe
phụ thuộc rất lớn vào pH. Thiếu Fe thường gặp ở đất chứa cacnonat. Đất ít chất hữu cơ
thì Fe dễ tiêu cũng thấp, đất giàu photpho làm giảm sự hấp thu của Fe vào cây. Trong
đất, Fe rất nhạy cảm với sự thay đổi độ ẩm và điều kiện oxi hóa khử. Fe bị khử về Fe2+
và ngược lại bị oxi hóa về Fe3+ khi đất thừa độ ẩm và tăng quá trình khử.

4 Tính chất hóa học của dung dịch đất

Nước mưa xâm nhập vào đất và mang theo một số chất hòa tan: O2, CO2, N2, NH3…
cũng như một số muối ở dạng bụi. Khi xâm nhập vào đất nước mưa hòa tan thêm một
số chất ở thể rắn và thể khí. Vì vậy nước ở trong đất được gọi là dung dịch đất.

4.1 Tính đệm của dung dịch đất

Phản ứng của dung dịch đất hầu như không thay đổi dưới tác dụng của dung dịch bên
ngoài gọi là tính đệm của dung dịch đất
Tính đệm của dung dịch là khả năng giữ cho pH ít thay đối khi tác động của các yếu tố
hóa và sinh học làm tăng cường độ H+ và OH- trong đất.
Tính đệm trong đất liên quan đến quá trình trao đổi ion và có khả năng chống lại axit
hoặc kiềm hóa dung dịch.

4.2 Đệm do tác dụng trao đổi cation trong đất

Trong đất có chứa các hạt keo vô cơ và hữu cơ, trên bề mặt nó hấp thụ các cation kiềm
như Ca2+, Mg2+, H+. Do keo đất (KĐ) đồng thời chứa các cation kiềm và cation axit nên
khi có một lượng ion H+ hoặc OH- thêm vào dung dịch đất sẽ làm mất cân bằng, khi đó
xảy ra sự trao đổi cation. Kết quả làm phản ứng dung dịch đất không thay đổi.

Ca2+ 2H+
[KĐ] + + 2HCl [KĐ] + + CaCl2
H H
Hay khi bón vôi
Ca2+ Ca2+
[KĐ] + + NaOH [KĐ] + + H2O
H Na
[KĐ] 2H+ + Ca(OH)2 [KĐ] Ca2+ + 2H2O

Khả năng đệm này là do keo sét gây ra, nếu đất có nhiều sét, nhiều mùn thì khả năng
đệm càng lớn. Đất có khả năng đệm càng lớn thì dung dịch đất có tính hấp phụ càng
cao.

24
4.3 Tác dụng đệm của các axit và muối của chúng trong đất

Các axit amin có thể đệm với axit và bazơ

NH2 NH3Cl
R CH + HCl R CH Chống lại sự axit hóa
COOH COOH

NH2 NH2
R CH + NaOH R CH Chống lại sự kiềm hóa
COOH COONa

Axit humic cũng có tác dụng đệm hai chiều

OH Cl
R CH + HCl R CH + H2O
COOH COOH

OH Na
R CH + 2NaOH R CH + 2H2O
COOH COONa
Trong đất luôn có mặt hỗn hợp đệm H2CO3 + Ca(HCO3)2
Tác dụng của hỗn hợp đệm này như sau:
H2CO3 H+ + HCO3-
Khi có mặt của một kiềm NaOH thì

NaOH Na+ + OH- thì

H+ + OH- H2O Kết quả là pH ít thay đổi


Khi có mặt của một axit HCl

HCl H+ + Cl-

Ca(HCO3)2 + 2H+ + 2 Cl- = 2H2CO3 + CaCl2

4.4 Đệm do tác dụng của Al3+ linh động

Khi đất có pH < 4 thì Al3+ xung quanh có 6 phân tử H2O bao bọc gọi là ion nhôm hydrat
hóa (Al(H2O)63+). Khi tăng lượng kiềm trong dung dịch thì một số phân tử nước này
phân ly ra H+ và OH- trung hòa chất kiềm, còn OH- được Al3+ giữ lại trên bề mặt của
nó.

2[Al(H2O)6]3+ + 2OH- [Al2(OH)2(H2O)8]4+ + 4H2O

25
Lúc này, 2OH- chiếm chỗ những phân tử nước trước đây liên kết với Al3+ còn 2 ion Al3+
hợp lại thành ion kép có hóa trị 4. Khi môi trường tiếp tục bị kiềm hóa (gia tăng OH-)
thì các phân tử nước xung quanh Al3+ tiếp tục phân ly để tạo ra H+ trung hòa OH- làm
cho pH của đất không thay đổi.

4.5 Đệm do dung dịch đất chứa một số chất có khả năng trung hòa

Trong đất luôn chứa một số chất có khả năng trung hòa axit xâm nhập vào đất. Các hợp
chất như CaCO3, Na2CO3 có tác dụng đệm khi có axit xuất hiện trong đất

CaCO3 + 2HNO3 = Ca(NO3)2 + CO2 + H2O


5 Tính chất của đất

5.1 Khả năng trao đổi ion

Các thành phần vô cơ và hữu cơ trong đất có khả năng trao đổi ion và tạo thành các hợp
chất hóa học dưới dạng các hạt keo đất. Các alumino sillicat là những anion đa điện
tích, điện tích âm của chúng được tích tụ lại nhờ những cation có khả năng trao đổi ion
trong các mạng lưới không gian của đất.
Nhóm OH- là nhóm có thể nhận proton hoặc khử proton trong những điều kiện pH thích
hợp. OH- có thể làm cho các kim loại tích điện hoặc liên kết với nhau nhờ quá trình hấp
thụ đặc biệt. Nhóm hydroxyl của các axit hữu cơ trong đất cũng có khả năng tương tự.
Phản ứng trao đổi cation trong đất có thể được diễn tả như sau:

Đất sét – M → Đất sét + M+


Đất sét – M1 + M2 + → Đất sét – M2 + M+1
Đất sét – OH + M+ → Đất sét – OM + H+
2(Đất sét – K) + M+ → Đất sét – Đất sét – M + 2K+
R – COOH + M+ → R-COOM + H+

Khả năng trao đổi anion của các khoáng phù hơp theo phương trình sau:
Đất sét – OH + A- → Đất sét - A + OH-
Liên kết anion do các hạt keo trong đất sẽ ảnh hưởng mạnh bởi khả năng trao đổi anion
bất kể là liên kết do hấp phụ điển hình hay không điển hình. Liên kết điển hình do tác
dụng tĩnh điện của các nhóm anion trong axit mạnh với bề mặt khoáng bên trong các
lớp và khuếch tán kép theo sơ đồ sau:

Đất sét – OH + H+ + X- → Đất sét – OH2+X-


Liên kết hấp phụ điển hình do tác dụng trao đổi anion với bề mặt khoáng dưới sự tạo
thành liên kết bề mặt

Đất sét – OH + HnX- → Đất sét – XNn-1 + H2O

26
Nitrat có liên kết yếu hơn photphat và là chất có khả năng hấp thụ cao nhất với các
khoáng chứa nhôm và sắt. Vì thế đối với đất có khả năng hấp thụ mạnh, chỉ cần một
phần nhỏ nitrat là có giá trị cho cây trồng.
Các axit humic có khả năng trao đổi cation rất cao. Các cation trong đất sẽ trao đổi với
ion H+ nhờ CO2 và nước

Đất – Ca2+ + 2CO2 + H2O → Đất – H+ + 2HCO3-

Nhờ quá trình trao đổi theo cơ chế trên mà các nguyên tố vi lượng Bo, Cl, Na, Cu, Fe,
Mn, Zn, … trở nên có giá trị dinh dưỡng đối với thực vật.

5.2 Khả năng hấp thụ

Đất có khả năng giữ lại các phân tử vật chất trong đất thông qua các cơ chế hấp thụ khác
nhau:
- Hấp thụ sinh học giữ lại các phân tử vật chất nhỏ nhờ các vi sinh vật
trong đất tham gia tiêu thụ hoặc liên kết.
- Hấp thụ lý học giữ lại các phân tử vật chất nhờ năng lượng tự do trên bề
mặt.
- Hấp thụ hóa học là quá trình hóa học biến đổi các chất không tan thành
chất tan có trong đất.
- Hấp thụ do trao đổi ion như các cation, anion nằm trên bề mặt hạt keo.
Nhờ khả năng hấp thụ, thành phần vật chất được giữ lại và làm thay đổi thành phần cấu
trúc của đất.

5.3 Độ pH của đất

Độ pH quyết định hàm lượng các chất trong đất (dạng tan hoặc không tan của các kim
loại nặng).
Khi pH trong đất thấp, làm tăng khả năng hấp thụ các cation, giảm khả năng hấp thụ
anion, kìm hãm sự phân giải của các chất, tăng độ linh động của các kim loại (Al+3,
Cd+2, Cr+3…
Độ pH còn ảnh hưởng đến sự phát triển của các vi sinh vật khác nhau trong đất. Khi pH
nằm trong khoảng 3 – 6, các nấm mốc, nấm men có thể phát triển; khi pH nằm trong
khoảng 6,5 – 7,5, vi khuẩn xạ khuẩn phát triển tốt; khi pH nằm trong khoảng 7,4 – 7,6,
vi khuẩn cố định đạm , nitrat và vi khuẩn gây thối phát triển rất mạnh.

6 Sự trao đổi các khí nhà kính giữa đất và khí quyển

Khí Cacbonic (CO2)


Quá trình khoáng hóa các hợp chất hữu cơ và giải phóng CO2 trong đất phụ thuộc vào
các điều kiện khác nhau: vi sinh vật, độ ẩm, cấu trúc, thành phần cơ giới, khoáng hóa,
không khí trong đất…Các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp, sử dụng đất cũng có
tác động rất mạnh đến quá trình phân giải hữu cơ và giải phóng CO2 từ đất.

27
Các quá trình cải tạo đầm lầy, các đất giàu hữu cơ, chặt cây rừng cũng góp phần đáng
kể vào việc tăng lượng CO2 trong khí quyển. Ước tính khoảng 0,3 – 1,7GtC/năm, hầu
hết từ vùng nhiệt đới phát thải vào khí quyển (Detwiler and Hall, 1988). Ngược lại, quá
trình trồng rừng lại có tác dụng hấp thụ CO2. (6.240kg C/ha/năm, Sedjo, 1989).
Trao đổi Cacbon Monoxit (CO)
Hầu hết các loại đất đều có khả năng hấp thụ khí CO, trong khi đất khô mới có khả
năng sinh CO. Vì vậy quá trình tạo CO trong đất chủ yếu xảy ra ở vùng khô hạn vá bán
khô hạn. Quá trình sản sinh CO là quá trình hóa học trong khi đó quá trình oxi hóa CO
trong đất lại là kết quả của các hoạt động của vi sinh vật.
Ở vùng khí hậu ôn đới ẩm, quá trình sản sinh CO rất hạn chế, ngược lại quá trình tiêu
thụ CO xảy ra mạnh mẽ hơn. Quá trình sản sinh CO từ đất trên phạm vi toàn cầu được
ước tính khoảng 17 triệu tấn/năm, lượng CO được tiêu thụ khoảng 300 – 500 triệu
tấn/năm trong đó 70 – 140 triệu tấn được oxi hóa từ vùng nhiệt đới ẩm.
Trao đổi khí Metan (CH4)
Các quá trình phân giải chất hữu cơ trong điều kiện kỵ khí đều dẫn đến hình thành CO2
và CH4. Tỷ lệ giữa CO2 và CH4 phụ thuộc vào mức độ oxi hóa các chất hữu cơ ban đầu.
- Quá trình giải phóng CH4 từ đất lúa
Trong phẫu diện đất ngập nước thường được chia thành các tầng khác nhau với mức độ
khử khác nhau. Tầng mặt được xem là tầng oxi hóa, tiếp đến là tầng khử chứa nhiều
Fe2+, Mn2+, NO3-, tiếp theo là tầng khử SO42- và cuối cùng là tầng sản sinh khí CH4, đây
là tầng có điện thế oxi hóa khử thấp nhất. Một phần CH4 được hình thành ở tầng sản
sinh có thể bị phân hủy ngay ở tầng đất oxi hóa. Khoảng 67% khí CH4 sinh ra ở ruộng
lúa bị oxi hóa, 23% thoát vào khí quyển. Trong trường hợp không có cây lúa, khoảng
35% lượng khí này sẽ thoát vào khí quyển. CH4 được giải phóng vào khí quyển theo 3
con đường sau:
ƒ Sủi bọt: hiện tượng hình thành các bọt khí (sủi tăm) từ các trầm tích
chiếm khoảng 49 – 70% lượng CH4 phát thải từ đất. Có ý nghĩa rất lớn ở đất
không trồng lúa.
ƒ Khuếch tán: CH4 khuếch tán vào nước đến bề mặt nước và thoát vào khí
quyển.
ƒ Được vận chuyển thông qua cây trồng, đặc biệt là các cây sống trong
nước như lúa. Có đến 95% tổng số CH4 được giải phóng từ đất vào khí
quyển thông qua các mô khí của cây lúa. Khi cây lúa chín có khả năng giải
phóng lượng CH4 nhiều gấp 20 lần khi cây lúa 2 tuần tuổi.
- Quá trình giải phóng CH4 từ đất ướt không trồng lúa
Đất than bùn nước ngọt trong điều kiện ngập nước sẽ giải phóng khoảng 0,001 –
0,02gCH4/m2/ngày. Ngược lại đất đầm lầy khô hạn sẽ hấp thụ khoảng 0,001 –
0,005gCH4/m2/ngày. Lượng CH4 tích lũy trong đất sẽ giảm khi có hàm lượng SO42- cao,
Nguyên nhân là do:
ƒ Sự cạnh tranh chất nền giữa vi khuẩn SO42- và vi khuẩn sinh metan.
ƒ Ảnh hưởng kìm hãm của sunfat và sunfit đối với quá trình sinh metan.
ƒ Khả năng phụ thuộc giữa quá trình sinh metan và các sản phẩm của vi
khuẩn khử sunfat.

28
ƒ Metan có thể bi oxi hóa bởi vi khuẩn dinh dưỡng metan hiếu khí và kỵ
khí.
ƒ Quá trình giải phóng CH4 trong môi trường nước ngọt mạnh hơn nước
mặn. Nguyên nhân là do nước ngọt chứa hàm lượng SO42- ít hơn nước mặn.
Quá trình giải phóng CH4 thay đổi khác nhau tùy thụôc vào lượng nước, nhiệt độ, các
yếu tố khí hậu khác và mùa…
- Sự sản sinh metan do các động vật ăn cỏ
Động vật nhai lại như trâu bò là nguồn phát thải CH4 quan trọng. Ước tính trên toàn thế
giới, lượng CH4 thải ra từ các loại động vật nhai lại khoảng 2 – 6 triệu tấn CH4/năm. Từ
con người sản sinh khoảng 1triệu tấn CH4/năm. Ngoài ra CH4 cũng được sinh ra từ ruột
của mối và các loài côn trùng khác như gián, cánh cứng…
Ngoài các nguyên nhân trên, CH4 còn được sản sinh việc đốt cháy sinh khối và bãi rác
và quá trình oxi hóa khí metan ở đất khô.
Trao đổi Dinitro oxit (N2O)
Quá trình giải phóng và oxi hóa các oxit nitơ trong đất (N2O, NO, NO2) có sự tham gia
tích cực của các vi sinh vật phản nitrat hóa (Denitrification)
- Quá trình phản nitrat sinh học (Biological Denitrification)
Quá trình phản nitrat là quá trình khử NO3- hoặc NO2- thành các dạng khí N2 hoặc các
nitơ oxit chủ yếu do các vi khuẩn kỵ khí như Pseudomonas, Bacillus và Parococus. Các
loài Thiobacillus denitrificans, Chromobacterium, Corynebacterium, Hyphomicrobium
Serratia có khả năng xúc tiến quá trình khử. Các vi khuẩn phản nitrat sử dụng nitrat
như chất nhận electron trong điều kiện thiếu oxi.
Quá trình khử nitrat xảy ra trong điều kiện thiếu oxi, đặc biệt ở vùng đất ngập nước.
Ước tính có khoảng 10 – 30% lượng nitơ trong phân bón bị mất đi do quá trình này gây
nên, một phần nitơ bị mất dưới dạng NH3 bay hơi. Quá trình khử nitrat được diễn tả
theo phản ứng sau:
NO3- → NO2- → NO → N2O → N2 + H2O
Năng lượng từ quá trình này được cung cấp từ sự phân hủy các hydrate cacbon. Khí NO
và N2O có thể được giải phóng vào khí quyển trước khi bị khử tiếp tục thành N2. Tỉ lệ
N2: N2O trong khí sản sinh ra phụ thuộc vào các yếu tố môi trường như pH, độ ẩm đất,
điện thế oxi hóa khử, nhiệt độ, nồng độ của NO3- và hàm lượng C hữu cơ.
Các vi khuẩn cố định nitơ ở đốt sần của cây họ đậu có khả năng thực hiện 2 chức năng
sinh lý khác nhau: cố định N2 và khử nitrat. Quá trình khử nitrat có khả năng làm giảm
lượng NO3-, NO2- và N2O. Chúng là những chất kìm hãm quá trình cố định nitơ từ khí
quyển. Trong điều kiện kỵ khí, sự hô hấp của các vi sinh vật khử NO2- có thể cung cấp
ATP (Adenozintriphotphat) cho hoạt động của các nitrogenaza của vi khuẩn nốt sần.
- Quá trình phản nitrat hóa
Trong trường hợp hàm lượng NO2- trong đất cao có thể kìm hãm khả năng oxi hóa
chúng bằng con đường sinh học hay gặp trong đất ở trạng thái khử và có nhiều NH4+/
NH3 do sử dụng phân bón. NO2- sẽ tham gia phản ứng với các phân tử chất hữu cơ hình
thành các nhóm nitroso (-N=O) kém bền vững. Từ các hợp chất này có thể sinh ra các
khí N2O, N2. Trong điều kiện có mặt HNO2 thì NO và NO2 cũng có thể được hình
thành.

29
- Quá trình nitrat hóa
Là quá trình oxi hóa sinh học NH4+ thành NO2- và NO3-. Các vi sinh vật Nitrosomonass,
Nitrosococus, Nitrospira, Nitrosolobus thực hiện quá trình oxi hóa NH4+ đến NO2-, còn
Nitrobacter oxi hóa NO2- thành NO3-. Đây là những sinh vật tự dưỡng hóa năng nitơ.
Trừ đất ngập nước, NH3 được hình thành sẽ biến đổi thành NO3- theo sơ đồ sau:

+H+ Nitrosomonas Nitrobacter


NH3 NH4+ NO2- NO3-
-H+

Những phản ứng phụ xãy ra như sau:

+
+1/2O2
NH4 NH2OH NOH NO2- NO3-
-H+

Trong trường hợp hiếu khí, NH2OH có thể tham gia phản ứng với NO2- hình thành N2O.
Quá trình này xảy ra với sự tham gia của các vi sinh vật hoặc quá trình hóa học. Năng
lượng được giải phóng trong quá trình hình thành NO2- được sử dụng bởi Nitrosomonas
và Nitrobacter.
Nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các vi sinh vật chuyển hóa nitơ.
Nitrobacter nhạy cảm với nhiệt độ hơn so với Nitrosomonas. Trong điều kiện khí hậu
lạnh sẽ dẫn đến sự tích lũy nhiều NO2- trong đất.
N2O cũng được hình thành ngay cả ở đất có điều kiện hiếu khí, đặc biệt khi bón nhiều
phân urê và phân nitơ dạng NH4+. N2O cũng là sản phẩm phụ của quá trình oxi hóa
NH4+ và khử NO3- bởi các vi sinh vật dị dưỡng. Quá trình tưới nước cho đất khô làm
tăng cường sự hình thành cả NO3- và N2O.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ giải phóng N2O
- Hàm lượng oxi và độ ẩm trong đất có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình
hình thành N2O. Quá trình này sẽ bị hạn chế khi độ ẩm trong đất nhỏ hơn 2/3 độ
trữ ẩm toàn phần và xảy ra mạnh ở các vùng đất ngập nước.
- Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến quá trình giải phóng N2O. Nhiệt độ thích
hợp cho quá trình khử nitrat từ 25oC – 65oC. Ở 2oC quá trình này xảy ra rất
chậm. Đối với quá trình nitrat hóa thì nhiệt độ thích hợp khoảng 30 – 35oC.
Dưới 5oC và trên 40oC quá trình này xảy ra rất chậm. Quá trình hình thành N2O
thay đổi theo các yếu tố khí hậu, phụ thuộc vào lượng mưa, ban ngày và ban
đêm.
- Độ pH, thành phần các nguyên tố hóa học cũng ảnh hưởng đến quá trình
giải phóng N2O. Khi pH < 6 quá trình này bị giảm và pH < 5 sẽ bị kìm hãm.
- Việc sử dụng phân bón photphat và vôi làm tăng khả năng hoạt động của
các vi khuẩn chuyển hóa nitơ và làm tăng quá trình giải phóng N2O. Phân bón
nitơ dạng NO3- làm tăng nhanh quá trình hình thành N2O so với dạng NH4+

30
Tốc độ giải phóng N2O từ đất rất khác nhau tùy thuộc vào loại đất, điều kiện khí hậu,
cây trồng. N2O được giải phóng từ rừng nhiệt đới ẩm lớn hơn so với vùng ôn đới, đồng
cỏ
Trao đổi amoniac (NH3)
Trong đất NH3 có ý nghĩa quan trọng trong quá trình axit hóa đất và gây ô nhiễm không
khí. Nguồn phát thải NH3 vào khí quyển bao gồm các quá trình trong đất, chất thải từ
động vật, sử dụng phân bón, đốt cháy nhiên liệu và sinh khối và từ quá trình sản xuất
phân bón nitơ.

31
CHƯƠNG 3

HÓA HỌC CỦA THỦY QUYỂN (WATER CHEMISTRY)

Thuỷ quyển là một vùng có chiều dày khoảng 10 đến 20km bắt đầu từ độ sâu khoảng
dăm bảy kilômét trong vỏ trái đất tiến lên phía trên khoảng 12km trong khí quyển. Hầu
hết lượng nước này (97%) là nước ở các đại dương và là nước mặn. Trong số 3% còn lại
thì 2,7% là ở trạng thái rắn - khối băng, 0,3% là nước ngọt ở các lục địa (nước mặt và
nước ngầm) và hơi nước trong khí quyển.

1 Tính chất hóa học của nước tự nhiên và nước biển

1.1 Nước tự nhiên (Natural Water)

1. Thành phần nước tự nhiên


Nước tự nhiên chiếm 1% tổng lượng nước trên trái đất gồm nước sông hồ, nước bề mặt
và nước ngầm. Thành phần hóa học của nước sông hồ được trình bày trong bảng sau:
Bảng 3.1: Thành phần hóa học của nước sông hồ

Thành phần % Trọng lượng Thành phần % Trọng lượng

CO32- 32,5 Ca2+ 20,4

SO42- 12,4 Mg2+ 3,4

Cl- 5,7 Na+ 5,8

SiO2 11,7 K+ 2,1

NO3- 0,9 (FeAl2)O3 2,7

2. Sự phân lớp của nước bề mặt


Đặc trưng chất lượng nước phụ thuộc nhiều vào các tương tác vật lý, hóa học và sinh
học. Chúng có thể biến động do các quá trình biến đổi địa chất, địa hóa thể hiện thông
qua sự lưu thông, vận chuyển, chuyển hóa, tích tụ vật chất và năng lượng thông qua các
hoạt động của cơ thể sống và môi trường. Nước bề mặt được phân bố thành các lớp như
sau:
- Lớp bề mặt: có bề dày từ 50 đến 500µm. Ở lớp này xảy ra sự cân bằng
động giữa không khí và nước.
- Lớp chính: tùy theo độ sâu có thể phân chia lớp này theo sự phân bố
nhiệt độ. Lớp trên: chịu ảnh hưởng của tia sáng mặt trời, ở đây xảy ra phần lớn
các hoạt động sinh học. Lớp dưới: ít chịu ảnh hưởng của tia sáng mặt trời nên có
nhiệt độ thấp hơn.

32
- Lớp đáy: nơi xảy ra các phản ứng trao đổi giữa trầm tích và nước, quá
trình sinh học phân hủy các hợp chất hữu cơ tiêu thụ oxi hòa tan, kết quả là hàm
lượng oxi giảm, quá trình yếm khí tăng và xảy ra các quá trình khử
NO3- → NO2- → N2 và SO42- → H2S
Sự phân tầng nhiệt độ trong hồ và các liên kết phản ứng lý hóa sinh được trình bày
trong bảng 3.2
Bảng 3.2: Sự phân tầng nhiệt độ trong hồ và các liên kết phản ứng lý hóa sinh

Nhiệt độ Vùng Độ sâu, m Trạng thái

Hiếu khí, quang hợp, tồn tại các động


20oC Vùng nóng ẩm 0
thực vật phù du

Nhiệt độ giảm, tạo vùng gián đoạn


17oC Vùng gián đoạn 12
vật lý

Trạng thái yếm khí, kết tủa sulfit kim


7oC Vùng lạnh 21
loại, phát triển vi sinh vật yếm khí

Thành phần hữu cơ bậc cao, sulfit


4oC Vùng lắng 36
kim loại, vi sinh vật yếm khí, nước tù

3. Phức chất trong nước


Các hợp chất humic là các hợp chất không bị phân hủy được tạo nên từ sự phân hủy xác
của thực vật. Chúng xuất hiện như một chất lắng đọng trong đầm lầy hoặc lớp trầm tích
của nước hay bất cứ nơi nào có nhiều thực vật bị phân hủy.
Các hợp chất humic được phân loại theo độ tan bao gồm: humin là những sản phẩm gốc
thực vật không chiết suất được, axit humic là sản phẩm kết tủa trong quá trình axit hóa,
axit fulvic là chất hữu cơ còn lại trong dung dịch axit. Các hợp chất humic ảnh hưởng
rất lớn đến tính chất của nước như: tính bazơ, tính hấp phụ và đặc tính tạo phức.
Các hợp chất humic là những chất có phân tử lượng cao từ vài trăm (axit fulvic) đến vài
chục ngàn (axit humic và humin). Ví dụ phân tử C20H15(COOH)6(OH)3(CO)2 có phân tử
lượng là 666. Các hợp chất humic liên kết với nhau hình thành một bộ khung cacbon có
chứa các gốc thơm, một nhóm oxi hoạt động và có thể có cả những nhóm giống protein
và cacbohydrat. Các thành phần này có thể dể dàng bị hydro hóa từ các hạt nhân thơm
nhưng lại rất bền với các phản ứng sinh học
Các hợp chất humic khi tạo phức với ion kim loại sẽ tạo nên các nhóm cacboxyl và
phenol hydroxyl. Các hợp chất humic không tan, humin và axit humic trao đổi cation
với nước và có khả năng tích lũy (tạo phức) với một số lượng lớn.

33
1.2 Nước biển (Sea Water)

1. Thành phần của nước biển


Nước biển là sản phẩm của sự kết hợp những khối lượng khổng lồ các axit và bazơ từ
những giai đoạn đầu hình thành Trái đất. Các axit HCl, H2SO4 và CO2 sinh ra do hoạt
động của núi lửa kết hợp với bazơ sinh ra do quá trình phong hóa đá thời nguyên thủy
tạo nên muối và nước.
Thành phần chủ yếu của nước biển là các anion Cl-, SO42-, CO32-, SiO32-… và các cation
như Na+, Ca2+… Nồng độ muối trong nước biển lớn hơn trong nước ngọt 2000 lần.
Trong nước biển ngoài H2 và O2 thì Na, Cl2, Mg chiếm 90%; K, Ca, S (SO42-) chiếm
3%; các chất còn lại chiếm 7% tổng lượng các chất. Thành phần của nước biển với các
dạng cơ bản được trình bài trong bảng 3.3.
2. Cân bằng trong nước biển
Cân bằng nước biển rất phức tạp vì nó là hỗn hợp của hệ thống phức tạp vì nó là hỗn
hợp của một hệ thống các nguyên tố với các thông số: nhiệt độ trung bình 5oC (0oC –
30oC), áp suất trung bình 200atm, (1atm ở bề mặt và 1000 atm ở đáy). Độ pH của nước
biển dao động ổn định trong khoảng 8,1 ± 0,2 được giải thích bởi sự tồn tại các hệ đệm
như sau:
(1) Do có sự tồn tại của hệ H2CO3 - HCO3- - CO32-
pH < 5 pH > 5
CO2 + H2O H2CO3 H+ + HCO3-
pH > 8.3
HCO3- H+ + CO32-
(2) Do có sự tồn tại của hệ B(OH)3 - B(OH)4-

B(OH)3 + H2O B(OH)4- + H+

(3) Do có sự tồn tại của hệ trầm tích đáy biển, các cation hòa tan tác dụng với sillicat
trong đất và lắng xuống đáy biển hình thành các khoáng chất trong tự nhiên.

3Al2Si2O5(OH)4(r) + SiO2(r) + 2K+ + 9H2O + 2Ca2+ 2KCaAl2SiO16(H2O)6(r) + 6H+

34
Bảng 3.3: Thành phần của nước biển
Nguyên Hàm lượng, Nguyên Hàm lượng, Dạng phổ
Dạng phổ biến
tố g/m3 tố g/m3 biến
SO42-, MgSO4,
Li 0,17 Li+ S 2460
NaSO4-
HPO43-,
Na 10,5x103 Na+ P 0,07 H2PO42-,
MgPO4-
K 380 K+ F 1,3 F-, MgF+
Rb 0,12 Rb+ Cl 18980 Cl-
Cs 0,0005 Cs+ Br 65 Br-
Mg 1270 Mg2+ (MgSO4) I 0,06 I-, IO3-
Fe(OH)2+,
Ca 400 Ca2+, CaSO4 Fe 0,01
Fe(OH)4-
2+ Zn2+, ZnOH+,
Sr 8 Sr , SrSO4 Zn 0,01
ZnSO4
Ba 0,03 Ba2+, BaSO4 Mo 0,01 MoO42-
B(OH)3, Cu2+, CuOH+,
B 20 Cu 0,003
[B(OH)4]- CuSO4
Al 0,01 [Al(OH)4]- Mn 0,002 Mn2+, MnSO4
Pb2+, [PbSO4],
Pb 0,003 Cd 0,0001 Cd2+, CdCl+
[Pb(CO3)2]2-
NO3-, NO2-, HgCl3-,
N 0,6 Hg 0,00003
NH4-, N2 HgCl42-
(Nguồn: Đặng Kim Chi, 2006)

35
2 Các thông số đánh giá mức độ ô nhiễm nước

2.1 Độ đục (Turbidity)

1. Giới thiệu chung


Thuật ngữ độ đục trong nước được nói đến khi trong nước chứa các chất lơ lững, các
chất hữu cơ phân rả hoặc do các động thực vật. Độ đục ngăn cản sự truyền thẳng ánh
sáng vào trong nước. Độ đục được gây ra bởi các chất lơ lững với kích thước đa dạng từ
dạng huyền phù (colloidal) đến các hạt thô (coarse) phụ thuộc vào mức độ khuấy trộn
trong nước.
Ở hồ và các thủy vực nước tĩnh, độ đục được gây ra bởi các hạt có kích thước rất nhỏ ở
dạng huyền phù. Còn các con sông nhất là trong mùa lũ, hầu hết độ đục được gây ra bởi
các hạt phù sa có kích thước rất lớn. Ngoài ra trong quá trình chảy ra biển các con sông
còn nhận các chất ô nhiễm từ các khu đô thị, công nghiệp, nông nghiệp mà chúng chảy
qua. Quá trình này làm tăng thêm độ đục của sông bởi các nguồn ô nhiễm trên.
Các chất lơ lững gây nên độ đục còn được chia làm hai loại: các chất vô cơ và hữu cơ.
Các chất vô cơ bao gồm các khoáng, sét, phù sa. Các chất hữu cơ bao gồm các vi khuẩn,
tảo vi sinh vật trong nước…
Nguồn gốc của độ đục
(1) Nguồn tự nhiên: chủ yếu là các chất vô cơ bao gồm các hạt keo, các vật chất lơ lững
mịn và thô (vi khuẩn, sét, đất, cát trong nước…)
(2) Nguồn nhân tạo: độ đục sơ cấp được gây ra bởi nước rửa từ mặt đường, các vật chất
hữu cơ từ nước thải sinh hoạt và công nghiệp. Các vi sinh vật lơ lửng lấy thức ăn từ các
vật chất hữu cơ trên gây ra độ đục thứ cấp
2. Tầm quan trọng của độ đục trong môi trường
Độ đục ngăn cản sự truyền thẳng ánh sáng vào trong nước, ảnh hưởng đến quá trình
quang hợp, gây mất thẩm mỹ khi sử dụng nước, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Các vi khuẩn gây bệnh có thể xâm nhập vào các hạt rắn, sẽ không được khử trùng có
thể trở thành vi khuẩn gây bệnh trong nước.
Độ đục là một nhân tố quan trọng được xem xét trong cấp nước sinh hoạt bởi 3 nguyên
nhân sau:
(1) Tính thẩm mỹ: bất kỳ độ đục nào trong nước cấp cũng không được chấp nhận.
Người dân ý thức được rằng nguồn nước với độ đục cao đồng nghĩa với nước bị ô
nhiễm và chứa nhiều chất độc nguy hại cho sức khỏe.
(2) Khả năng lọc: quá trình lọc nước sẽ gặp nhiều khó khăn và gia tăng chi phí khi độ
đục gia tăng. Trong trường hợp bể lọc chậm được sử dụng thì thời gian lọc sẽ ngắn và
gia tăng chi phí làm sạch vật liệu lọc.
(3) Khả năng diệt trùng: quá trình khử trùng trong nước cấp thường đươc thực hiện
bằng các hóa chất bao gồm chlorine (Cl2), ozon (O3), chlorine dioxit (ClO2) hoặc tia cực
tím. Để quá trình khử trùng đạt kết quả cao cần phải có sự tiếp xúc hoàn toàn của hóa
chất và bề mặt của tế bào vi sinh vật. Khi độ đục trong nước cao sẽ ngăn cản sự tiếp xúc
của hóa chất đến vi sinh vật làm quá trình khử trùng không đạt kết quả cao.

36
Đơn vị đo độ đục và 1 đơn vị độ đục = 1mg SiO2/lít nước. Đơn vị chuẩn của độ đục là
sự cản trở quang học do 1mg SiO2 hòa tan trong một lít nước cất gây ra.
Theo hướng dẫn của tổ chức y tế thế giới (WHO), độ đục trong nước uống không được
vượt quá từ 1 – 5NTU (Nephelometric Turbidity Unit).

2.2 Độ màu (Color)

Độ màu biểu thị độ lệch quang phổ từ dung dịch chuẩn


1. Giới thiệu chung
Nhiều nguồn nước mặt, đặc biệt là các nguồn nước từ vùng đầm lầy thường có độ màu
rất cao không thích hợp dùng để cấp nước cho sinh hoạt cũng như công nghiệp nếu
không được xử lý để loại bỏ màu. Nguồn gây màu chủ yếu trong nước là các chất mùn,
chúng được tạo thành từ bởi quá trình hòa trộn giữa nước và các chất hữu cơ phân hủy
từ lá, cành cây trong tất cả các giai đoạn phân hủy của chúng trong nước. Ngoài ra các
hợp chất mùn chứa sắt cũng tạo ra độ màu rất cao trong nước.
Màu tự nhiên tồn tại trong nước là các hạt keo mang điện tích âm. Việc loại bỏ màu có
thể được thực hiện bằng phương pháp keo tụ. Quá trình này dùng các muối có chứa ion
kim loại mang hóa trị ba như sắt hoặc nhôm cho vào trong nước.
Nguồn gốc của màu trong nước được chia làm hai loại
Nguồn tự nhiên: nước mặt có độ màu rất cao do chứa hàm lượng rất lớn của các chất lơ
lững. Đặc biệt, các sông chảy qua khu vực đất sét màu đỏ thì độ màu tăng rất cao nhất là
trong mùa lũ. Màu trong nước được gây ra bởi các vật chất lơ lững được gọi là màu biểu
kiến (apparent color). Màu gây ra bởi các loại thực vật, các chất hữu cơ (axit mùn, các
hạt keo…) được gọi là màu thật (true color). Cường độ màu thật gia tăng cùng với sự
gia tăng của pH trong nước.
Nguồn nhân tạo: Màu trong nước còn được gây ra các chất ô nhiễm có độ màu cao như
nước thải của công nghiệp dệt nhuộm, chế tạo giấy. Quá trình nghiền gỗ đã tạo ra một
lượng lớn nước thải chứa dẫn xuất của lignin và các vật liệu khác. Chúng hòa tan hoàn
toàn trong nước, không bị phân hủy sinh học và có độ màu rất cao. Khi nước thải này
được thải vào nguồn nước tự nhiên sẽ làm tăng rất lớn độ màu trong nước.
2. Tác động đến sức khỏe cộng đồng của độ màu trong nước
Màu được gây ra bởi các chất hữu cơ tự nhiên trong nước sẽ ảnh hưởng đến tính thẩm
mỹ của nguồn nước. Ngoài ra nó còn ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng thông qua
việc hình thành các hợp chất chứa chlorine qua quá trình khử trùng.
Khi nguồn nước chứa các chất hữu cơ tự nhiên (gây ra độ màu) được khử trùng bằng
chlorine. Kết quả dẫn đến sự hình thành của chloroform gồm các dạng của trihalometan
và các hợp chất hữu cơ chlor hóa khác. Đây là những chất gây ung thư cho con người và
rất bền trong tự nhiên.
Quá trình chlor hóa

Cl2 + CH3 - nhóm các hợp chất hữu cơ

CHCl3 (Chloroform, trichloromethan) nguồn gốc gây bệnh ung thư

37
Tổ chức y tế thế giới khuyến cáo độ màu cho phép trong nước uống không vượt quá 15
đơn vị màu [màu của 1mg/lPt (Platine) trong dung dịch chuẩn K2PtCl6 (Kali
chloroplatinate)].

2.3 pH

1. Giới thiệu chung


pH được dùng để đo nồng độ của dung dịch axit hoặc bazơ. pH được đo bằng nồng độ
của ion H+ trong dung dịch.
Trong lĩnh vực cấp nước, pH được xem là nhân tố quan trọng được xem xét tính toán
lượng hóa chất dùng trong quá trình keo tụ, khử trùng, làm mềm nước và kiểm soát sự
ăn mòn.
Trong quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học, giá trị pH được kiểm soát ở
giá trị thích hợp cho hoạt động của vi sinh vật. Các quá trình hóa học như keo tụ, tách
nước trong bùn thải, các quá trình oxi hóa….đòi hỏi giá trị pH phải được kiểm soát
trong một giới hạn nghiêm ngặt. Vì vậy tìm hiểu quan hệ của pH, độ axit, độ kiềm có ý
nghĩa rất quan trọng trong cấp nước cũng như quá trình xử lý nước thải.

2. Ý nghĩa của sự hiểu biết giá trị pH

Giá trị của pH luôn được biểu hiện qua nồng độ của ion H+ trong dung dịch. Ví dụ như
ở giá trị pH = 2 → [H+] = 10-2, pH = 10 → [H+] = 10-10.
pH không đo tổng độ axit hay độ kiềm của dung dịch. Điều này có thể chứng minh bằng
việc so sánh giá trị pH của dung dịch axit sulfuric và axit acetic 0,01N .Giá trị pH của
axit sulfuric bằng 1 bởi vì mức độ ion hóa cao còn pH của axit acetic bằng 3 bởi mức độ
ion hóa thấp hơn. Trong một số trường hợp giá trị pOH, hoạt tính của ion OH-, cũng
được quan tâm. Nó được tính từ giá trị pH bởi sử dụng mối quan hệ pH + pOH = 14
hoặc pOH = 14 – pH. Nồng độ của H+ và OH- trong dung dịch không bao giờ giảm đến
0. Tuy nhiên giá trị pH có thể đạt đến 0 hoặc giá trị âm trong điều kiện dung dịch có
tính axit cao ([H+]≥1,0).

38
3. Dung dịch đệm
Dung dịch đệm là dung dịch chứa các chất có khả năng chống lại sự thay đổi pH của
dung dịch.
Dung dịch đệm thường bao gồm hỗn hợp của
- Hỗn hợp của axit yếu và muối của nó (điều kiện axit)
- Hỗn hợp của bazơ yếu và muối của nó (điều kiện bazơ)
- Hỗn hợp muối hoạt động như bazơ và muối hoạt động như axit
Các dung dịch đệm tiêu biểu
(1) Potassium axit phthalate (KHC8H4O4) đệm cho môi trường có khoảng pH = 4,01

-
COOH + OH- H2O + OOC
R R
+ -
COO-H+ K OOC

(2) Na2HPO4 và KH2PO4 đệm cho môi trường có khoảng pH = 6,89


Nếu H+ được thêm vào: HPO42- (hoạt động như bazơ) + H+ → H2PO4-
Nếu OH- được thêm vào: H2PO4- (hoạt động như axit) → H+ + HPO42-

OH- + H+ → H2O
(3) Quá trình phân hủy yếm khí
Gluco C6H12O6 → CO2 + RCOO-H+ (axit aceitc, propionic…)
Vôi (CaO) được thêm vào giúp trung hòa axit tạo môi trường thuận lợi cho vi sinh vật
phân hủy chất hữu cơ.

CaO + CO2 ←
→ CaCO3 ↓
CaO + H 2O ←
→ Ca(OH)2
Ca(OH)2 + CO2 ←
→ OH- + CaHCO3+
4. Tầm quan trọng của pH
- Quá trình keo tụ hóa học: Al(OH)3 kết tủa ở pH < 4,5và Fe(OH)3 kết tủa ở pH<3,5
- Quá trình làm mềm nước

Ca(HCO3)2 + Ca(OH)2 ←
→ 2CaCO3 ↓ + 2H2O
Mg(HCO3)2 + Ca(OH)2 ←
→ CaCO3 ↓ + MgCO3↓ + 2H2O

Mg(HCO3)2 kết tủa ở pH = 10,8, điều kiện này đạt được bằng cách thêm một lượng thừa
Ca(OH)2

39
- Kiểm soát sự ăn mòn
Sulfide ở pH thấp: S2- + 2H+ ←
→ H2S ↑
Sulfide ở pH cao: H2S + 2OH- ← 2-
→ S + 2H2O
- Quá trình kết tủa của các kim loại nặng
S2- + Zn2+ ←
→ ZnS ↓ (ZnS kết tủa ở môi trường pH mang tính kiềm)
- Các hoạt động sinh học trong nước: Hầu hết các vi sinh vật thích môi trường axit hơn
điều kiện bazơ. Giá trị pH nên được duy trì trong khoảng từ 6,5 đến 8,0.
- Quá trình clor hóa trong khử trùng
+ - + -
Cl2 + H2O ←
→ H OCl (hypochlorous) + H + Cl
Cl2, HOCl và OCl- có hoạt tính mạnh ở pH thấp (môi trường không mang tính kiềm).
Nước trong hồ bơi được khuyến cáo nên duy trì ở độ pH không quá 7,5.

2.4 Độ axit (Acidity)

1. Giới thiệu chung


Độ axit đo lường một lượng axit được dùng để trung hòa dung dịch. Độ axit không
mang ý nghĩa là điều kiện axit hoặc thể hiện giá trị pH của dung dịch. Hình 3.1 thể hiện
các tính axit quan trọng trong nước và nước thải cùng với các điểm pH đổi màu của
chúng

10
9
8 Điểm đổi màu của Phenolphthalein
7
6 Khoảng hoạt động của độ axit gây ra bởi CO2
5
4
3 Điểm đổi màu của Methyl da cam
2
1 Khoảng hoạt động của độ axit gây ra bởi axit vô cơ

Hình 3.1: Các khoảng pH làm đổi màu thuốc thử

Độ axit được gây ra bởi các axit mạnh (Mineral acidity hoặc Methyl acidity) có điểm
kết thúc chuẩn độ ở pH = 4,4 với chỉ thị màu là methyl da cam. Tổng độ axit
(Phenolthalein acidity) trong dung dịch bằng tổng độ axit được tạo ra bởi các axit vô cơ,
CO2 và các axit yếu với điểm pH kết thúc chuẩn độ ở 8,3 và được nhận biết bằng sự
thay đổi màu của chỉ thị phenolthalein

40
2. Nguồn gốc và đặc điểm của độ axit
Độ axit của trong tự nhiên là do CO2 hoặc các axit vô cơ gây ra. CO2 là thành phần cơ
bản trong nước. CO2 đi vào nước từ khí quyển bằng quá trình hấp thụ trên bề mặt. Theo
định luật Herry thì quá trình này chỉ xảy ra khi nồng độ cân bằng của CO2 trong nước
nhỏ hơn nồng độ cân bằng trong khí quyển. Ngoài ra, CO2 còn được tạo thành từ quá
trình hô hấp của các sinh vật sống trong nước, sự phân hủy các chất hữu cơ nhất là trong
môi trường nước bị ô nhiễm.
Khi nồng độ cân bằng của CO2 trong nước lớn hơn trong khí quyển thì CO2 sẽ được giải
phóng ra từ bề mặt nước. Bề mặt nước đóng vai trò hấp thụ cũng như giải phóng CO2 để
duy trì sự cân bằng nồng CO2 trong nước.
Nước ngầm và nước từ các hồ chứa kín thường chứa CO2 với nồng độ cao. CO2 được
tạo ra từ quá trình phân hủy chất hữu cơ của vi sinh vật sống trong nước mà không được
giải phóng vào khí quyển. CO2 là sản phẩm cuối cùng của cả quá trình phân hủy hiếu
khí và thiếu khí do đó nó không phụ thuộc vào nồng độ của O2 trong nước. Nồng độ của
CO2 trong nước ngầm dao động từ 30 – 50mg/l mặt dù đã được lọc và chuyển hóa thành
bicacbonat khi nước ngầm được lọc qua các tầng đất.
CO2 + CaCO3↓ + H2O → Ca2+ + 2HCO3-
Độ axit gây ra từ các axit vô cơ có nguồn gốc chủ yếu từ nước thải công nghiệp đặc biệt
là các ngành công nghiệp luyện kim và quá trình sản xuất các vật liệu hữu cơ tổng hợp.
Trong tự nhiên các axit mạnh cũng được tạo ra từ nước rò rỉ của các quặng mỏ, đặc biệt
là axit sulfuric, muối của axit sulfuric, các dạng sunfua, sulfide hoặc perit sắt. Sự
chuyển hóa của các hợp chất trên thành axit sulfuric và sunfat được thực hiện bởi vi
khuẩn oxi hóa sunfua (sulfur oxidazing bacteria) trong môi trường hiếu khí.
2S↓ + 3O2 + 2H2O → 4H+ + 2SO42-
FeS2↓ + 7/2O2 + H2O → Fe3+ + 2H+ + 2SO42-
Muối của các kim loại nặng đặc biệt là các ion kim loại hóa trị ba Fe (III) và Al (III) khi
bị thủy phân trong nước sẽ giải phóng ra các axit vô cơ

FeCl3 + 3H2O ←
→ Fe(OH)3↓ + 3H+ + 3Cl-

3. Tầm quan trọng của việc xác định độ axit gây ra bởi CO2 và các axit vô cơ
Ảnh hưởng của độ axit đến vệ sinh và sức khỏe con người vẫn chưa có nghiên cứu nào
tìm ra. Đặc biệt ảnh hưởng của CO2 được sinh ra với nồng độ rất lớn trong quá trình lên
men bia vẫn chưa được nghiên cứu. Việc kiểm soát nguồn nước mang tính axit liên
quan đến đặc điểm ăn mòn và kinh phí cho việc kiểm soát và loại bỏ nguồn gây ăn mòn
vật liệu.
Nhân tố ăn mòn trong nước mặt được tính đến nhiều nhất là CO2, trong công nghiệp là
các axit vô cơ. CO2 cần phải được tính toán trong quá trình làm mềm nước khi dùng
sođa hoặc hỗn hợp vôi – sođa để làm mềm nước.
Trong quá trình xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học, pH của môi trường phải
được kiểm soát trong khoảng 6 – 9,5. Điều kiện này thường yêu cầu phải điều chỉnh giá
trị pH thích hợp. Việc tính toán lượng hóa chất được thêm vào trước tiên cần phải xác
định được độ axit của môi trường.

41
Ngoài ra việc đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch trong nhà máy nhiệt điện và động cơ ôtô
dẫn đến sự hình thành các oxit của nitơ và sunfua. Khi các hợp chất này hòa trộn với
nước mưa sẽ được thủy phân thành axit sunfuric và axit nitric. Nước mưa chứa các axit
này sẽ làm giảm độ pH nước của các sông, hồ làm ảnh hưởng đến đời sống của các sinh
vật trong nước.
Nguồn gây mưa axit từ động cơ đốt trong
3
N2(air) + /2O2 → NO + NO2
4NO2 + O2 → 2N2O5
N2O5 + H2O → HNO3 axit Nitric

Nguồn gây mưa axit từ việc đốt than có chứa lưu huỳnh

S + O2 → SO2
2SO2 + O2 → 2SO3
SO3 + H2O → H2SO4 axit Sunfuric
Trong lĩnh vực cấp nước, việc xác định độ axit rất quan trọng trong việc quyết định
phương pháp xử lý, loại và lượng hóa chất sử dụng.
Đối với nước thải công nghiệp có chứa các axit vô cơ, trước khi thải ra sông, đường ống
hoặc các quá trình xử lý sinh học tiếp theo cần phải được xử lý đến giá trị pH thích hợp.
Lúc này lượng hóa chất, nồng độ, kích thước của các bể xử lý cũng như chi phí để vận
hành và bảo trì các công trình này được tính toán từ dữ liệu độ axit được phân tích từ
phòng thí nghiệm.

2.5 Độ kiềm (Alkalidity)

1. Giới thiệu chung


Độ kiềm đo lường khả năng trung hòa axit (acid neutralizing capacity) của một dung
dịch. Khả năng trung hòa axit còn được gọi là khả năng đệm. Độ kiềm trong nước được
gây ra phần lớn từ các muối của axit yếu và các bazơ mạnh. Là các chất có khả năng
đệm chống lại sự thay đổi giá trị pH khi axit được thêm vào môi trường.
Độ kiềm trong tự nhiên được tạo ra chủ yếu bởi muối của axit yếu. Bicacbonat là nguồn
chủ yếu gây ra độ kiềm trong nước bởi vì bicacbonat được hình thành với một lượng rất
lớn từ phản ứng của cacbon dioxit với các vật chất trong nước. Các muối khác của axit
yếu như borat, silicat, photphat…cũng hiện diện với lượng rất nhỏ gây ra độ kiềm trong
nước. Ngoài ra các axit hữu cơ khá bền trong môi trường – ví dụ như axit humic – hình
thành các dạng muối hữu cơ là những nguồn đóng góp vào độ kiềm trong nước tự
nhiên.
Trong nguồn nước bị ô nhiễm hoặc trong môi trường yếm khí, muối của các axit yếu
như axit acetic, propionic, hydrogen sunfit…được sinh ra trong quá trình phân hủy chất
hữu cơ là những sản phẩm đóng góp vào độ kiềm trong nước. Thêm vào đó, ammonia
hoặc hydroxit cũng đóng góp vào tổng độ kiềm trong nước.

42
Các nguồn nước tự nhiên thường chứa một lượng nhất định độ kiềm cacbonat (CO2) và
hydroxit (OH-) nhất là trong điều kiện có sự phát triển của tảo. Giá trị pH của môi
trường có thể dao động từ 9 đến 10. Nước trong các lò hơi luôn luôn chứa một lượng
lớn cacbonat và hydroxit. Đặc biệt nguồn nước sau khi đã được xử lý bằng vôi hoặc hỗn
hợp vôi – sođa sau quá trình làm mềm nước.
Tóm lại có 3 loại độ kiềm trong nước được xếp theo các thứ tự sau:
(1) Độ kiềm Hydroxit – có khoảng giá trị pH cao nhất (pH > 8,3)
(2) Độ kiềm Cacbonat – có khoảng giá trị pH ở mức trung bình (5 < pH <
8,3)
(3) Độ kiềm Bicacbonat – có khoảng giá trị pH thấp nhất (pH < 5)
2. Các áp dụng của việc phân tích giá trị của độ kiềm trong nước
Các thông tin liên quan đến độ kiềm được sử dụng rất nhiều trong thực tế bao gồm
Quá trình keo tụ hóa học (Chemical Coagulation)
Hóa chất được sử dụng keo tụ trong quá trình xử lý nước cấp cũng như nước thải sẽ
phản ứng với nước và tạo thành các hợp chất hydroxit kết tủa không hoàn toàn.
Hydrogen được giải phóng phản ứng với các chất gây ra độ kiềm trong nước. Khi đó độ
kiềm trong nước có tác dụng đệm chống lại sự thay đổi pH tạo môi trường thích hợp
cho các chất keo tụ hoạt động hiệu quả hơn và phản ứng xảy ra hoàn toàn.
Quá trình làm mềm nước (Water Softening)
Độ kiềm là một trong những nhân tố quan trọng phải được xem xét để tính toán liều
lượng và nồng độ của vôi và sođa được dùng trong quá trình làm mềm nước bằng
phương pháp kết tủa. Độ kiềm trong nước sau khi được làm mềm cũng phải được xác
định để tuân theo tiêu chuẩn chất lượng nước uống.
Ngoài ra trong các quá trình kiểm soát sự ăn mòn (Corrosion Control), khả năng đệm
(Buffer Capacity) của môi trường cũng như các quá trình xử lý nước thải công
nghiệp…giá trị của độ kiềm cũng là một trong những nhân tố quan trọng phải được biết
chính xác.
3. Tầm quan trọng của độ kiềm trong nước
Quan hệ giữa sự phát triển của tảo và độ kiềm
Trong môi trường nước có sự phát triển nhanh của tảo – hiện tượng tảo nở hoa (Algal
Bloom) – giá trị pH của môi trường thường gia tăng rất cao lên đến 10 đặc biệt là các
thủy vực nước nông. Nguyên nhân là do tảo sử dụng CO2 trong quá trình quang hợp.
Bởi vì CO2 trong nước hoạt động như một axit, sự giảm CO2 trong nước sẽ dẫn đến
giảm nồng độ ion H+ và đồng thời làm tăng giá trị pH của môi trường. Khi giá trị pH
gia tăng dẫn đến độ kiềm trong nước cũng thay đổi. Cùng với sự phát triển của tảo, CO2
trong nước cũng bị giải phóng khỏi mặt nước từ quá trình chuyển hóa của cacbonat và
bicacbonat theo phản ứng cân bằng sau:

2HCO3- ←
→ CO32- + H2O + CO2
CO32- + H2O ←
→ 2OH- + CO2

43
Do đó quá trình loại bỏ CO2 trong nước bởi hoạt động của tảo có xu hướng dẫn đến sự
thay đổi các dạng độ kiềm hiện diện trong nước. Độ kiềm bicacbonat chuyển thành
cacbonat, và cacbonat sẽ chuyển thành hydroxit. Trong quá trình chuyển đổi này tổng
độ kiềm trong nước không thay đổi. Sự phát triển của tảo tiếp tục làm giảm CO2 trong
nước cho đến giới hạn giá trị pH đạt từ 10 đến 11.
Vào ban đêm khi hoạt động hô hấp diễn ra rất mạnh thì CO2 cũng được tạo ra để bù lại
phần đã sử dụng cho quang hợp vào ban ngày. Quá trình này giúp làm giảm giá trị pH
của môi trường.
Trong tự nhiên luôn tồn tại một lượng nhất định ion Ca2+, ion Ca2+ sẽ phản ứng với ion
cacbonat tạo thành CaCO3 (canxi cacbonat) là một hợp chất kết tủa. Quá trình này làm
giảm độ kiềm trong nước theo phản ứng sau:

Ca2+ + CO32- ←
→ CaCO3↓ phản ứng xảy ra ở pH > 10

Độ kiềm của lò hơi


Nước trong các lò hơi thường chứa cả cacbonat và hydroxit. Chúng tạo ra từ phản ứng
của bicacbonat có trong nguồn nước. CO2 không hòa tan trong nước đun sôi và được
giải phóng thông qua quá trình bốc hơi nước. Chính điều kiện này đã làm tăng pH và
thay đổi các dạng độ kiềm giống như trong môi trường có sự phát triển mạnh của tảo.
pH của nước có thể lên đến 11, nếu nồng độ Ca2+ cao thì quá trình kết tủa CaCO3 sẽ xảy
ra. Độ kiềm cao trong nước còn là nguyên nhân gây nên độ cứng trong nước.

2.6 Độ cứng (Hardness)

Độ cứng là tổng nồng độ ion Ca2+ và Mg2+ được biểu thị dưới dạng mg/l của CaCO3
trong dung dịch.
Bảng 3.4: Các nguồn nước được phân loại theo các mức độ của độ cứng

mg/l CaCO3 Mức độ của độ cứng

0 – 75 Nước mềm

75 – 150 Nước cứng vừa phải

150 – 300 Nước cứng

> 300 Rất cứng

1. Nguyên nhân và nguồn gốc gây ra độ cứng trong nước


Độ cứng được gây ra bởi các cation kim loại đa hóa trị. Những ion này có khả năng tạo
phản ứng với xà phòng hình thành các chất kết tủa cũng như phản ứng với các anion
trong nước tạo thành cặn lắng trong các đường ống dẫn nước nóng, nồi đun, lò hơi…
Các cation gây ra độ cứng trong nước chủ yếu là các Ca2+, Mg2+, Sr2+, Fe3+ và Mn2+.
Những cation này phản ứng với các anion có sẵn trong nước bảng 3.5. Các ion Al3+ và
Fe3+ cũng đóng góp vào nguyên nhân gây ra độ cứng. Tuy nhiên khả năng hòa tan của
chúng bị giới hạn bởi giá trị pH của nước tự nhiên và nồng độ của các ion này trong
nước rất nhỏ.

44
Bảng 3.5: Các cation gây nên độ cứng và các anion liên kết với chúng

Cation gây ra độ cứng Anion

Ca2+ HCO3-

Mg2+ SO42-

Sr2+ Cl-

Fe2+ NO3-

Mn2+ SiO32-

Độ cứng chủ yếu bắt nguồn từ sự liên kết của quá trình hình thành đất đá. Nước mưa
không có khả năng hòa tan hoàn toàn một lượng lớn chất rắn trong nước tự nhiên. Khả
năng hòa tan chỉ đạt được khi có nhiều CO2 được tạo ra từ các hoạt động của các vi
khuẩn trong đất.
Nước trong đất chứa một lượng lớn CO2 và khi đó hình thành sự cân bằng dưới dạng
axit cacbonic. Dưới điều kiện pH thấp, đá vôi sẽ bị hòa tan. Bởi vì thành phần cấu tạo
của đá vôi không chỉ có CO32- mà còn bao gồm các ion khác như SO42, Cl-, SiO32-…Các
vật chất trên sẽ được giải phóng từ phản ứng hòa tan của nước khi cacbonat bị hòa tan.
Tóm lại nước cứng bắt nguồn từ các khu vực có lớp đất bề mặt dày và có sự hình thành
của đá vôi.
Mưa

Lớp đất
Khu vực hoạt động mạnh của vi sinh vật → một lượng lớn CO2
Xảy ra phản ứng CaCO3↓ + H2CO3 → Ca(HCO3)2

Tầng chuyển
Khu vực hoạt động yếu hơn của vi sinh vật → một lượng nhỏ CO2
Tiếp tục xảy ra phản ứng CaCO3↓ + H2CO3 → Ca(HCO3)2

Đường nứt

Khu vực các phản ứng hóa học xảy ra rất mạnh
CaCO3↓ + H2CO3 → Ca(HCO3)2
MgCO3↓ + H2CO3 → Mg(HCO3)2

Hình 3.2: Nguồn gốc của CO2 và sự hòa tan của các chất gây nên độ cứng

45
2. Phân loại độ cứng trong nước
Độ cứng được chia làm 2 loại: (1) dựa theo các ion kim loại, (2) dựa theo các anion liên
kết với các ion kim loại
(1) Độ cứng Canxi và độ cứng Magnesium
Canxi và Magnesium là nguồn chủ yếu gây nên độ cứng trong nước tự nhiên.
Tổng độ cứng = Độ cứng Calcium + Độ cứng Magnesium
(2) Độ cứng Cacbonat và độ cứng Noncacbonat
Độ kiềm cacbonat và bicacbonat hiện diện trong nước được xem là độ cứng cacbonat.
Độ cứng cacbonat còn được gọi là độ cứng tạm thời (temporary hardness)
Khi độ kiềm < tổng độ cứng

Độ cứng Carbonat (mg/l) = Độ kiềm (mg/l)

Khi độ kiềm ≥ Tổng độ cứng


Độ cứng Cacbonat (mg/l) = Tổng độ cứng (mg/l)
Độ cứng cacbonat được đặc biệt chú ý bởi vì ion cacbonat và bicacbonat có xu hướng
phân ly tạo thành kết tủa ở nhiệt độ cao. Quá trình này thường xảy ra trong các nồi đun,
lò hơi và quá trình làm mềm nước bằng vôi.
Ca2+ + 2HCO32- → CaCO3↓ + CO2 + H2O
Ca2+ + 2HCO32- + Ca(OH)2↓ → 2CaCO3↓ + 2H2O
Độ cứng được gây ra bởi các ion khác cacbonat và bicacbonat được gọi là độ cứng
Noncacbonat hay còn gọi là độ cứng vĩnh cữu (permanent hardness) bởi vì không thể
loại bỏ hay lắng chúng bằng đun sôi. Các ion gây nên độ cứng noncacbonat thường là
Cl-, SO42-, NO3-…
Độ cứng Noncacbonat = Tổng độ cứng - Độ cứng Cacbonat
(3) Độ cứng giả (Pseudo Hardness)
Sự hiện diện của ion Na+ trong nước biển và các nguồn nước khác làm giảm hiệu quả sử
dụng của xà phòng. Khi Na+ hiện diện trong nước với nồng cao sẽ tạo nên độ cứng giả
mặc dù Na+ không phải là ion gây ra độ cứng trong nước.
3. Tầm quan trọng của độ cứng trong nước
Độ cứng trong nước là nhân tố quan trọng trong đánh giá chất lượng nguồn nước sử
dụng cho sinh hoạt cũng như cho mục đích công nghiệp.
Việc lựa chọn biện pháp thích hợp và hiệu quả kinh tế trong quá trình làm mềm nước
cũng dựa vào kết quả phân tích độ cứng trong nước.
Mg(HCO3)2 + Ca(OH)2 → CaCO3↓ + MgCO3↓ + H2O
Ca(HCO3)2 + Ca(OH)2 → 2CaCO3↓ + H2O

46
Ngoài ra độ cứng trong nước còn ảnh hưởng đến chi phí sử dụng xà phòng cho giặt giũ.

Mg2+ + R-COO-Na+ → R-COO-Mg2+ + Na+


Xà phòng - Dạng hòa tan Dạng không hòa tan
2.7 DO (Dissolved Oxygen)

1. Giới thiệu chung


Oxi là chất khí quan trọng nhất để duy trì sự tồn tại, tạo năng lượng và tái sản xuất của
tất cả các sinh vật sống trên trái đất. Trong nước sự tồn tại của oxi xác định điều kiện
hiếu khí hay yếm khí và là nhân tố ảnh hưởng đến đời sống của các loài thủy sinh vật.
Các chất khí trong khí quyển có một mức độ hòa tan trong nước nhất định.
Oxi có mức độ hòa tan trong nước rất thấp bởi vì chúng không phản ứng với các hóa
chất trong nước. Ở điều kiện bảo hòa, oxi chiếm tỉ lệ 38% trong nước gấp gần hai lần tỉ
lệ trong khí quyển. Nồng độ hòa tan của oxi trong nước ngọt thay đổi từ 14,6mg/l ở 0oC
đến 9,2mg/l ở 20oC và khoảng 7mg/l ở 35oC với áp suất 1atm.
Bảng 3.6: Hàm lượng oxi hòa tan DO bão hòa trong nước sạch ở áp suất 1atm

Nhiệt độ, oC 0 5 10 15 20 25 30

Nước ngọt, mg/l 14,6 12,8 11,3 10,2 9,2 8,4 7,6

Nước mặn, mg/l 11,3 10,0 9,0 8,1 7,1 6,7 6,1

Hầu hết các chất khí trong khí quyển điều có mặt trong nước do kết quả của hai quá
trình cơ bản là khuếch tán và đối lưu.
Độ hòa tan của các chất khí trong nước phụ thuộc vào nhiệt độ, áp suất. Độ hòa tan của
các chất khí tăng khi nhiệt độ giảm và áp suất tăng. Giá trị của các thông số hòa tan có
thể xác định theo định luật Henry

Pi = H.ai
Trong đó
H: Hằng số Henry (atm.l/mol)
Pi: Áp suất riêng phần của chất (atm)
ai: Nồng độ chất i trong chất lỏng (mol/l)
Ngoài ra độ hòa tan của chất khí trong nước còn phụ thuộc vào nồng độ muối trong
dung dịch, chiều sâu của lớp nước bề mặt và mức độ ô nhiễm của nguồn nước
Sự hòa tan của O2 tỉ lệ với áp suất riêng phần và thay đổi theo nhiệt độ của nguồn nước.
Bởi vì quá trình phân hủy sinh học gia tăng theo nhiệt độ và nhu cầu oxi cũng gia tăng
cùng với quá trình oxi hóa. Nồng độ hòa tan của oxi trong nước đạt giá trị thấp nhất
trong các tháng mùa hè khi nhiệt độ gia tăng cao. Khi đó nồng độ hòa tan của oxi đạt
giá trị cao nhất khoảng 8mg/l. Ngoài ra khả năng hòa tan của oxi cũng giảm dần từ vùng
nước ngọt đến vùng nước mặn.

47
Nồng độ oxi trong nước giảm dần theo chiều sâu của lớp nước. Nếu nước bị ô nhiễm
bởi các chất hữu cơ có khả năng oxi hóa bằng con đường sinh học (chỉ số BOD cao) thì
hàm lượng oxi trong nước giảm do bị tiêu thụ bởi các hoạt động của vi sinh vật. Khi
lượng oxi trong nước quá ít (< 2ppm), các vi khuẩn sẽ lấy oxi của các hợp chất chứa oxi
để oxi hóa SO42- → H2S → S…tạo thành vùng yếm khí trong nước.
Khi chỉ số DO thấp có nghĩa là nước có nhiều chất hữu cơ, nhu cầu oxi hóa tăng nên
tiêu thụ nhiều oxi trong nước. Khi chỉ số DO cao chứng tỏ nước có nhiều rong tảo tham
gia quá trình quang hợp giải phóng oxi. Chỉ số DO rất quan trọng để duy trì điều kiện
hiếu khí, là cơ sở để xác định nhu cầu oxi hóa sinh học (BOD)
Oxi là nhân tố giới hạn khả năng tự làm sạch của nguồn nước. Chính vì thế mà các chất
ô nhiễm chứa các chất hữu cơ phải được xử lý trước khi thải vào môi trường. Trong xử
lý sinh học, khả năng hấp thụ vào nước thấp của oxi làm tăng chi phí của quá trình sục
khí.
Tỉ lệ của nồng độ oxi hòa tan trong nước bị ô nhiễm và nước sạch được biểu thị bằng
giá trị β. Tỉ lệ hấp thụ của oxi vào nguồn nước bị ô nhiễm so với nguồn nước sạch được
biểu thị bằng giá trị α. Trong nước thải β = 0,8 và α = 0,4. α và β là hai hệ số thiết kế
quan trọng trong sự lựa chọn thiết bị sục khí.
Giá trị β được tính bằng công thức sau

[O2 ]SAT .SAPLE


β=
[O2 ]SAT .WATER
Trong đó
[O2]SAT.SAMPLE là nồng độ bão hòa của oxi trong mẫu nước thải
[O2]SAT.WATER là nồng độ bão hòa của oxi trong nước sạch
Giá trị α được tính bằng công thức sau

[O2 ] ABSORP.SAMPLE
α=
[O2 ] ABSORP.WATER
Trong đó
[O2]ABSORP.SAMPLE là nồng độ của oxi hấp thụ vào mẫu nước thải
[O2]ABSORP.WATER là nồng độ của oxi hấp thụ vào mẫu nước sạch
Nồng độ hòa tan của oxi trong nước phụ thuộc vào
- Quá trình quang hợp của các loài thủy sinh thực vật
- Sự chuyển hóa oxi từ khí quyển thông qua bề mặt nước
- Nhiệt độ (khả năng hòa tan tăng với nhiệt độ giảm)
- Độ mặn (độ mặn càng cao khả năng hòa tan càng kém)
- Áp suất riêng phần trên bề mặt nước (lượng oxi hòa tan vào nước tỉ lệ
nghịch với cao độ vì càng lên cao áp suất riêng phần càng giảm)
- Sự khuấy trộn trên bề mặt nước

48
2. Tầm quan trọng của oxi hòa tan trong môi trường
- Oxi hòa tan là nhân tố xác định điều kiện hiếu khí hay kị khí
- Quá trình oxi hóa các chất hữu cơ và vô cơ trong môi trường hiếu khí sẽ
tạo ra các sản phẩm cuối cùng không độc với môi trường.
- Khả năng tự làm sạch và đồng hóa các chất thải sinh hoạt, công
nghiệp…phụ thuộc vào nồng độ hòa tan của oxi trong môi trường nguồn nước
tiếp nhận.
- Duy trì điều kiện thích hợp cho sự sinh sản và phát triển của các loài
thủy sinh vật.
- BOD được xác định thông qua DO là nhân tố đánh giá mức độ ô nhiễm
của nguồn thải.
- Oxi là nguyên tố gây ăn mòn kim loại đặc biệt là sắt, thép dùng trong hệ
thống cấp nước và nồi hơi nước.

2Fe + O2 2Fe2+O
4Fe2+ + 3O2 2Fe23+O3 (rỉ)

2.8 BOD/COD (Biochemical Oxygen Demand/ Chemical Oxygen Demand)

1. Nhu cầu oxi sinh hóa (BOD)


Nhu cầu oxi sinh hóa (BOD): nồng độ khối lượng của oxi hòa tan bị tiêu thụ bởi sự oxi
hóa sinh học các chất hữu cơ và hoặc vô cơ trong nước trong những điều kiện xác định.
(ISO 6107-2).
Trong tiêu chuẩn này, "sự oxi hóa sinh học" mang ý nghĩa "sự oxi hóa sinh hóa".
BOD được hiểu là nhu cầu oxi sinh hóa (BOD) là lượng oxi cần thiết cung cấp để vi
khuẩn phân hủy các chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian.
BOD phản ánh được lượng các chất hữu cơ dễ bị phân hủy sinh học có trong mẫu nước,
đơn vị tính là mg/l.
Tốc độ oxi hóa sinh học khác nhau phụ thuộc vào
- Đặc điểm của các chất hữu cơ và vô cơ trong môi trường
- Loại vi sinh vật thích hợp
- Nhiệt độ của môi trường
Quá trình oxi hóa các chất hữu cơ trong nước được chia thành 2 giai đoạn
Giai đoạn 1: Chủ yếu là oxi hóa các hợp chất hydrocacbon, quá trình này kéo dài
khoảng 20 ngày ở nhiệt độ 20oC

⎛ m⎞ m
Cn H m + ⎜ n + ⎟ O2 → nCO2 + H 2O
⎝ 2⎠ 2
Giai đoạn 2: Oxi hóa các hợp chất nitơ, bắt đầu sau ngày thứ 10. Quá trình oxi hóa nitơ
thường xảy ra sau 8 – 16 ngày

49
Vi khuẩn oxi hóa nitơ
- Vi khuẩn hình thành Nitrit (Nitrosomanas Sp.)
2NH3 + 3O2 2NO2- + 2H+ + 2H2O
- Vi khuẩn hình thành Nitrat (Nitrobacter Sp.)
2NO2- + O2 2NO3-
Để xác định gần đúng như cầu oxi sinh hóa, cần phải đo sau 20 ngày vì thực tế tại thời
điểm đó khoảng 98 – 99% lượng chất hữu cơ trong nước thải sẽ bị oxi hóa. Việc xác
định theo phương pháp này cần quá nhiều thời gian để có được kết quả, để đánh giá gần
đúng giá trị BOD được xác định sau 5 ngày. Tại thời điểm này có khoảng 70 – 80% các
chất hữu cơ bị oxi hóa.
Mặt khác có thể loại trừ được ảnh hưởng lượng oxi tiêu thụ cho quá trình oxi hóa nitrat.
BOD được xác định sau 5 ngày được ký hiệu là BOD5. (BOD5: nhu cầu oxi cần thiết để
oxi hóa chất hữu cơ trong 5 ngày. Sau 5 ngày khoảng 80% các chất hữu cơ bị oxi hóa và
không có sự oxi hóa của các hợp chất nitơ).
2. Tầm quan trọng xác định BOD trong nước và nước thải
- BOD là chỉ thị của sự hiện diện các vi sinh vật, mầm bệnh
- Xác định mức độ ô nhiễm hữu cơ của nước thải sinh hoạt, công nghiệp…
trong điều kiện yếm khí
- Khả năng phân hủy sinh học của các chất hữu cơ trong nước thải
- Đo lường khả năng tự làm sạch của nguồn tiếp nhận ô nhiễm
- Kiểm tra chất lượng đầu ra của nước thải sau xử lý
- Chọn lựa các phương pháp xử lý thích hợp
- Thông số thiết kế nhà máy xử lý nước thải
Tuy nhiên việc xác định BOD cho kết quả trong thời gian dài. Kết quả không bao gồm
nhu cầu oxi cho các chất hữu cơ khó hoặc không phân hủy sinh học.
3. Nhu cầu oxi hóa học - Chemical Oxygen Demand (COD)
COD là lượng oxi cần thiết để oxi hóa hoàn toàn các chất hữu cơ và vô cơ có trong mẫu
thành CO2 và nước.
COD biểu thị lượng chất hữu cơ có thể oxi hóa bằng hóa học. Trong thực tế COD được
dùng rộng rãi để đặc trưng cho mức độ các chất hữu cơ trong nước ô nhiễm (kể cả chất
hữu cơ dễ phân hủy và khó phân hủy sinh học). Chỉ số COD có giá trị cao hơn BOD vì
nó bao gồm cả lượng chất hữu cơ không thể bị oxi hóa bằng vi sinh vật. Tỉ lệ giữa BOD
và COD nằm trong khoảng 0,5 – 0,7.
Thuận lợi của phân tích COD là thời gian cho kết quả ngắn chỉ trong 3h trong khi BOD
cho kết quả sau 5 ngày. Tuy nhiên phân tích COD lại tạo ra chất thải độc hại không có
khả năng phân hủy sinh học (hóa chất oxi hóa các chất hữu cơ chứa Hg)

50
2.9 Nitơ (Nitrogen)

1. Giới thiệu chung


Nitơ là nguyên tố quan trọng trong đất, nước, khí quyển và là thành phần dinh dưỡng
cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của các loài động thực vật trên Trái đất. Tính chất
hóa học của Nitơ rất phức tạp do có nhiều số oxi hóa thay đổi từ (-III) đến (V).

-III 0 I II III IV V

NH3 N2 N2O NO N2O3 NO2 N2O5

Ba dạng nitơ kết hợp với nước tạo thành các ion vô cơ và có thể đạt đến nồng độ rất cao
như sau:
NH3 + H2O → NH4+ + OH-
N2O3 + H2O → 2H+ + 2NO2-
N2O5 + H2O → 2H+ + 2NO3-
Các dạng oxi hóa khác của nitơ là N2, N2O (nitrous oxit), NO (nitric oxit) và NO2 (nitơ
oxit) tồn tại ở dạng khí. Nitơ là thành phần cấu tạo của nhiều chất hữu cơ. Dạng khử N
(III) là nguyên tố chính cấu tạo của protein, amino axit và nucleic axid.
Nitơ trong nước có thể xảy ra các quá trình biến đổi như sau:
Pr otein → NH 3 → NO2− → NO3− → N 2
- Nếu trong nước chứa hầu hết các hợp chất nitơ hữu cơ, ammoniac và
NH4OH, thì chứng tỏ nguồn nước mới bị ô nhiễm, NH3 trong nước sẽ nhiễm độc
đến cá và các sinh vật trong nước.
- Nếu nước chứa nitơ dạng nitrit (NO2-) là nước đã bị ô nhiễm một thời
gian dài hơn.
- Nếu nguồn nước chứa nitơ dạng nitrat (NO3-) chứng tỏ quá trình oxi hóa
đã kết thúc. Tuy nhiên, nitrat chỉ bền ở điều kiện hiếu khí. Trong điều kiện yếm
khí nitrat nhanh chóng bị khử thành nitơ tự do giải phóng ra khỏi nước.
2. Tầm quan trọng của nitơ trong môi trường
(1) Trong môi trường không khí
Có ba vấn đề môi trường quan trọng liên quan đến các loại nitơ trong không khí là các
hiện tượng:
- Sương khói và quang hóa
- Sự nóng lên toàn cầu
- Thủng tầng ozon
(2) Trong môi trường nước
- Chỉ thị chất lượng nước
Nitơ trong nước tồn tại các dạng NH3, NO3-, NO2-. Khi nồng độ NO3- trong nước uống
vượt giới hạn 45mg/l sẽ gây độc hại với người vì khi vào cơ thể trong điều kiện thích

51
hợp, ở hệ tiêu hóa chúng sẽ chuyển hóa thành nitrit, kết hợp với hồng cầu tạo thành chất
không vận chuyển oxi gây bệnh xanh xao thiếu máu.
Trong quá trình khử trùng nước, clorin dư sẽ phản ứng với NH3 tạo thành NH2Cl
(cloramin) là hợp chất gây bệnh ung thư. Nồng độ giới hạn của NH3 trong nước là 0,2
mg/l, NH4+ là 3mg/l. Nồng độ thông thường của các dạng nitơ trong nước thải sinh hoạt:
NH4+ ≈ 25mg/l; N-hữu cơ ≈ 25mg/l; NO3- ≈ 0mg/l.

Ammonia, N

Nitrat, N
N (mgl)

Hữu cơ, N

Nitrit, N

Thời gian (ngày)


Hình 3.3: Sự thay đổi các dạng của Nitơ trong nước nhiễm
- Nitơ là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng cho sự phát triển của tảo. Do đó
việc phân tích hàm lượng nitơ trong nước thải đã được hoặc chưa được xử lý
trước khi thải ra môi trường rất quan trọng.
- Quá trình chuyển hóa dị dưỡng của ammonia thành nitrat và nitrit làm
giảm oxi hòa tan trong nước. Trong xử lý nước thải bằng phương pháp phân hủy
hiếu khí phải tính đến lượng oxi cần cung cấp cho sự oxi hóa của nitơ.
- Nitơ rất cần cho sự phát triển của vi sinh vật, cần tính lượng nitơ cần
thiết được thêm vào để làm tăng hiệu quả của hệ thống xử lý. Ngoài ra lượng
nitơ còn lại trong bùn thải là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả làm
phân bón của bùn thải sau xử lý.

2.10 Chất rắn (Solid)

Chất rắn có trong nước có thể là do


- Các chất vô cơ ở dạng hòa tan (các muối) hoặc các chất không tan như
đất đá ở dạng huyền phù.
- Các chất hữu cơ như các vi sinh vật (vi khuẩn, tảo, động vật nguyên
sinh…) và các chất hữu cơ tổng hợp như phân bón, chất thải công nghiệp…

52
Chất rắn ảnh hưởng tới chất lượng nước khi sử dụng cho sinh hoạt, sản xuất, cản trở
hoặc tiêu tốn thêm nhiều hóa chất trong quá trình xử lý
(1) Tổng chất rắn lơ lững (TS – Total Solid)
Tổng lượng chất rắn là trọng lượng khô tính bằng mg của phần còn lại sau khi bay hơi 1
lít mẫu nước và sấy khô ở 103oC cho đến khi trọng lượng không đổi, đơn vị tính bằng
mg/l.
(2) Chất rắn lơ lững (SS – Suspended Solid)
Hàm lượng chất rắn lơ lững là trọng lượng khô của phần chất rắn còn lại trên giấy lọc
khi lọc 1 lít mẫu nước qua phễu lọc rồi sấy khô đến trọng lượng không đổi ở nhiệt độ
103 – 105oC, đơn vị tính bằng mg/l
(3) Chất rắn hòa tan (DS – Dissolved Solid)
Hàm lượng chất rắn hòa tan chính là hiệu số của tổng lượng chất rắn và hàm lượng chất
rắn lơ lững, đơn vị tính bằng mg/l. DS = TS - SS
(4) Chất rắn bay hơi (VS – Volatile Solid)
Chất rắn bay hơi là trọng lượng mất đi khi nung chất rắn lơ lững ở 550oC trong một
khoảng thời gian nhất định. Thời gian nung tùy thuộc vào loại nước cần xác định (nước
thải, bùn, nước uống). Đơn vị có thể là mg/l hoặc %SS hay %TS. Hàm lượng chất rắn
bay hơi thường biểu thị cho hàm lượng chất hữu cơ trong nước.
(5) Chất rắn có thể lắng
Chất rắn có thể lắng là thể tích (tính bằng ml) phần chất rắn của 1 lit mẫu nước đã lắng
xuống đáy phễu sau một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 giờ), đơn vị tính bằng
ml/l.

2.11 Sắt (Iron)

1. Giới thiệu chung


Sắt hiện diện trong đất, khoáng và thường ở dạng ít hòa tan như sắt sunfit (pyrite). Ở
điều kiện yếm khí có sự hiện diện một lượng lớn CO2, khi đó ferric (Fe3+) không hòa tan
sẽ bị khử thành dạng hòa tan ferrous (Fe2+) theo phản ứng sau:
FeCO3↓ + CO2 + H2O → Fe2+ + 2HCO3-
Ở điều kiện hiếu khí tất cả Fe2+ bị oxi hóa thành Fe3+ không tan (FeCO3)
Fe2+ + O2 → Fe3+ (màu nâu đỏ)
2. Ảnh hưởng sức khỏe của sắt
Fe có thể được tìm thấy trong thịt, khoai tây và các loại rau. Cơ thể con người hấp thụ
sắt trong sản phẩm thịt nhanh hơn trong thức ăn từ thực vật. Fe là thành phần thiết yếu
cấu tạo nên tế bào hồng cầu, là nguyên tố tạo màu đỏ cho máu và vận chuyển oxi cho tế
bào cơ thể.
Nếu Fe được giữ lâu trong tế bào sẽ gây ra bệnh viêm màng kết, màng lưới, võng
mạc…Hít thở thường xuyên hơi hoặc bụi chứa các oxit sắt là nguyên nhân gây bệnh dị
ứng nhiễm sắt, làm suy giảm chức năng của phổi và dẫn đến ung thư phổi. Liều lượng
gây chết của sắt ở chuột là LD50 = 30g/kg (LD50: liều lượng gây chết 50% vật thí

53
nghiệm khi tiếp xúc với chất với liều lượng nhất định). Thiếu sắt sẽ dẫn đến bệnh thiếu
máu. Ở người trung bình nam cần 7mgFe/ngày và phụ nữ cần 11mgFe/ngày.
3. Ảnh hưởng đến môi trường của Fe
Iron (III)-O-arsenite, pentahydrate là các độc chất trong môi trường đặc biệt khi đi vào
cây trồng, nước và không khí. Chúng là các chất rất bền trong môi trường.

2.12 Mangan (Manganese)

1. Giới thiệu chung


Mangan tồn tại trong đất dưới dạng Mangan dioxit (MgO) không hòa tan khi trong nước
chứa CO2. Ở điều kiện yếm khí MgO sẽ bị khử thành các dạng Mg (IV) và Mg (II), lúc
này quá trình hòa tan xảy ra.
Mn2+ → Mn4+ (màu đen)
Mangan là nguyên tố thiết yếu cho tất cả các loài. Một số sinh vật như tảo cát, động vật
thân mềm, hải miên có khả năng tích tụ Mn. Mn có thể đạt 5ppm trong cơ thể cá và
3ppm trong tế bào của động vật hữu nhũ.
Mn đi vào không khí từ nhà máy luyện sắt, thép và nhiệt điện, lò than và bụi từ quá
trình khai thác mỏ. Quá trình tích tụ, phát thải của nước thải là nguồn gia tăng Mn trong
đất và nước. Trong tự nhiên Mn tồn tại ở sông, hồ, nước ngầm…
2. Ảnh hưởng đến sức khỏe của Mn
Mn rất cần thiết cho sự sống, tuy nhiên nó cũng là một chất độc khi tích tụ trong cơ thể
nồng độ cao và thời gian dài. Mn đi vào cơ thể chủ yếu từ nguồn thực phẩm: trà và các
loại rau, gạo, đậu nành, đậu xanh, dầu oliu, hàu…Sau khi được hấp thụ vào cơ thể con
người, Mn sẽ được máu vận chuyển vào gan, thận, lá lách và các tuyến nội tiết.
Tác hại của việc hấp thụ thừa Mn chủ yếu lên hệ nội hô hấp và não gây ra ảo giác, hay
quên và các triệu chứng về thần kinh. Mn còn là nguyên nhân gây bệnh Parkison, tắt
mạch phổi và viêm cuốn phổi, gây bệnh ở gan, rối loạn mạch máu, giảm huyết áp
Ngoài ra khi thiếu Mn cũng gây ra các tác hại không nhỏ đến sức khỏe, gây ra các bệnh
như béo phì, không hấp thu tinh bột, tắt nghẽn mạch máu, các vấn đề về da, giảm lượng
Cholesterol, rối loạn chức năng của xương, đổi màu tóc, sinh non…
3. Ảnh hưởng môi trường của Mn
Hợp chất Mn tồn tại ở dạng rắn trong đất, các hạt nhỏ trong nước và bụi trong không
khí. Nguồn Mn đi vào không khí, nước mặt, nước ngầm, nước thải từ công nghiệp, đốt
cháy các nguyên liệu hóa thạch. Việc sử dụng thuốc trừ sâu là nguyên nhân làm gia tăng
nồng độ của Mn trong đất.
Ở động vật, Mn là thành phần cấu tạo của hơn 36 enzym chuyển hóa cacbohydrat,
protein và mở. Ở thực vật, Mn được hấp thu từ đất và vận chuyển đến lá. Khi Mn trong
đất không đủ cho thực vật sẽ ảnh hưởng đến cơ chế tổng hợp của cây. Nồng độ cao của
Mn trong đất là nguyên nhân gây phồng màng tế bào, héo lá, đốm nâu…
Tóm lại sắt và mangan hòa tan vào nước theo sự thay đổi của điều kiện môi trường.
Nước ngầm thường chứa một lượng đáng kể sắt và mangan với điều kiện yếm khí và sự
hiện diện của CO2. Sắt và mangan hiện diện dưới dạng Fe (II) và Mn (II) hòa tan hoàn
toàn trong nước.

54
Theo EPA, Mn trong nước uống không được vượt quá nồng độ 0,05mg/l và Fe là
0,3mg/l. Nước có hàm lượng lớn hơn nồng độ tiêu chuẩn cho phép sẽ có mùi tanh khó
chịu, làm nước có màu. Khi bị oxi hóa chúng còn chuyển thành các hợp chất sắt và
mangan có hóa trị cao gây kết tủa hoặc hình thành các dạng keo làm tắc đường ống.

2.13 Sunfat và photpho

Ion sunfat (SO42-) thường có trong nước cấp và nước thải. Nước uống có chứa SO42- <
250mg/l sẽ có tác dụng tẩy nhẹ với người.
Hàm lượng sunfit trong nước cao sẽ ảnh hưởng đến việc hình thành H2S trong nước gây
mùi khó chịu, nhiễm độc với cá, ngoài ra còn có hiện tượng đóng cặn lắng trong nồi
đun, ăn mòn đường ống. Sunfat bị khử sinh học ở điều kiện yếm khí theo phản ứng sau:

SO42- + Hợp chất hữu cơ Vi khuẩn S2- + H2O + CO2

S2- + 2H+ Yếm khí H 2S

Photpho tồn tại trong nước dưới các dạng H2PO4-, HPO42-, PO43-, polyphotphat
(Na3(PO3)6) và photpho hữu cơ.
Photpho là nguồn dinh dưỡng cho các thực vật dưới nước, khi nồng độ vượt qua tiêu
chuẩn cho phép sẽ gây ô nhiễm và góp phần thúc đẩy hiện tượng phì dưỡng ở các ao hồ.
Chỉ tiêu photpho thường được quan tâm đối với chất lượng nước cấp và xử lý nước
bằng phương pháp sinh học.

2.14 Các chỉ tiêu vi sinh

Trong nước tự nhiên còn có nhiều loại vi trùng, siêu vi trùng, rong tảo và các sinh vật
đơn bào. Chúng xâm nhập vào nước từ môi trường xung quanh hoặc sống và phát triển
trong nước. Các vi sinh vật trong nước có thể được phân loại thành 2 dạng: loại vi sinh
vật có hại và rong tảo.
(1) Loại vi sinh vật có hại
Vi sinh vật có hại là các loại vi trùng gây bệnh từ các nguồn rác, bệnh của người và
động vật như bệnh tả, thương hàn, bại liệt… Có 3 nhóm vi sinh vật chỉ thị ô nhiễm có
trong phân người và động vật như sau:
- Nhóm Coliform đặc trưng là Escherichia Coli (E.Coli)
- Nhóm Streptococci đặc trưng là Streptococcus fecalis
- Nhóm Clostridca khử sunfit đặc trưng là Clostridium Perfringents
Trong ba nhóm vi sinh chỉ thị trên, nhóm Coliform thường được dùng nhiều vì chúng là
nhóm vi sinh quan trọng nhất (chiếm 80% số vi khuẩn) và có đầy đủ tiêu chuẩn của loại
vi sinh lý tưởng, dể dàng xác định hơn trong điều kiện thực địa so với các vi sinh khác.
Trong nhóm Coliform chia làm hai loại:
- Fecal Coliform (gọi là E-coli) có nguồn gốc từ phân người và động vật,
chúng thường sống trong ruột người, động vật có vú và chim. E-coli gây ra các

55
bệnh như viêm dạ dày, nhiễm khuẩn đường tiết niệu, sinh dục, tiêu chảy cấp
tính. E-coli ở điều kiện ngoại cảnh được tìm thấy trong nước và đất.
- Non-fecal Coliform có thể đi vào nước từ các nguồn thực vật mục ruỗng
và đất.
Chỉ số E-coli chính là số lượng vi khuẩn có trong 1 lit nước. Vi khuẩn E-coli là vi khuẩn
đặc trưng cho mức độ nhiễm trùng trong nước. Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN),
nước cấp cho sinh hoạt phải có chỉ số E-coli nhỏ hơn 20.
(2) Các loài rong tảo làm nước có màu xanh, khi bị phân hủy làm tăng chất hữu cơ
trong nước. Các chất hữu cơ này khi phân hủy sẽ tiêu thụ oxi gây hiện tượng thiếu oxi
trong nước dẫn đến ô nhiễm nước.

56
CHƯƠNG 4

CÁC CHU TRÌNH TRONG TỰ NHIÊN

1 Tổng quan

Tổng khối lượng của một nguyên tố hóa học trên Trái đất có thể coi như không đổi. Sự
phân bố các nguyên tố trong các thành phần khác nhau của môi trường (khí quyển, thủy
quyển, địa quyển, sinh quyển). Tốc độ của quá trình truyền khối giữa các thành phần
môi trường phụ thuộc vào những biến đổi nhanh hay chậm của những quá trình tự nhiên
và những tác động của con người.
Vòng tuần hoàn vật chất của những nguyên tố khác nhau có liên quan đến những phản
ứng hóa học. Con người tác động đến tất cả các vòng tuần hoàn thông qua các hoạt
động nhân tạo. Mức độ tác động của con người vào tự nhiên được xác định bằng nồng
độ trung bình của các nguyên tố và tỷ lệ nồng độ của nguyên tố do con người đưa vào
môi trường.
Vòng tuần hoàn của một nguyên tố được xác định bởi các yếu tố sinh học, hóa học, vật
lý và kỹ thuật.
(1) Các yếu tố sinh học
- Thành phần nguyên tố trong cấu trúc sinh khối
- Tính oxi hóa khử của nguyên tố trong hệ thống sinh học
- Mức độ hoạt hóa sinh học và tính đa dạng hóa sinh học
- Độ độc của nguyên tố và liên kết của chúng
(2) Các yếu tố hóa học
- Tính oxi hóa khử trong môi trường vô sinh
- Diễn biến của quá trình quang hóa
- Điều kiện tạo thành và độ bền của các liên kết hóa học
- Khả năng tạo phức và độ phân ly hoặc kết hợp trong môi trường nước
- Khả năng hấp phụ, trao đổi ion của một số hình thái hóa học quan trọng
- Độ hòa tan của các nguyên tố phổ biến
(3) Các yếu tố vật lý
- Tính phổ biến của nguyên tố trong vỏ Trái đất
- Độ bay hơi và liên kết vật lý
- Sự phân bố trong những pha khác nhau
- Khả năng vận chuyển trong hệ thống sinh học và phi sinh học
(4) Các yếu tố kỹ thuật
- Nhu cầu sử dụng và mức độ sản xuất
- Đặc tính kỹ thuật của các quá trình sản xuất, làm giàu và biến đổi nguyên
tố
- Khả năng ứng dụng của nguyên tố hay hợp chất

57
2 Vòng tuần hoàn nước

Vòng tuần hoàn nước là sự tồn tại và vận động của nước trên mặt đất, trong lòng đất và
trong bầu khí quyển của trái đất. Nước trái đất luôn vận động và chuyển từ trạng thái
này sang trạng thái khác, từ thể lỏng sang thể hơi rồi thể rắn và ngược lại. Vòng tuần
hoàn nước đã và đang diễn ra từ hàng tỉ năm và tất cả cuộc sống trên trái đất đều phụ
thuộc vào nó, trái đất chắc hẳn sẽ là một nơi không thể sống được nếu không có nước.

Hình 4.1: Sơ đồ vòng tuần hoàn nước trong tự nhiên

Vòng tuần nước không có điểm bắt đầu nhưng chúng ta có thể bắt đầu từ các đại dương.
Mặt trời điều khiển vòng tuần hoàn nước bằng việc làm nóng nước trên những đại
dương, làm bốc hơi nước vào trong không khí. Những dòng khí bốc lên đem theo hơi
nước vào trong khí quyển, gặp nơi có nhiệt độ thấp hơn hơi nước bị ngưng tụ thành
những đám mây. Những dòng không khí di chuyển những đám mây khắp toàn cầu,
những phân tử mây va chạm vào nhau, kết hợp với nhau, gia tăng kích cỡ và rơi xuống
thành mưa.
Mưa dưới dạng tuyết được tích lại thành những núi tuyết và băng hà có thể giữ nước
đóng băng hàng nghìn năm. Trong những vùng khí hậu ấm áp hơn, khi mùa xuân đến,
tuyết tan và chảy thành dòng trên mặt đất, đôi khi tạo thành lũ. Phần lớn lượng mưa rơi
trên các đại dương; hoặc rơi trên mặt đất và nhờ trọng lực trở thành dòng chảy mặt.
Một phần dòng chảy mặt chảy vào trong sông theo những thung lũng sông trong khu
vực, với dòng chảy chính trong sông chảy ra đại dương. Dòng chảy mặt, và nước thấm
được tích lũy và được trữ trong những hồ nước ngọt. Mặc dù vậy, không phải tất cả
dòng chảy mặt đều chảy vào các sông. Một lượng lớn nước thấm xuống dưới đất. Một
lượng nhỏ nước được giữ lại ở lớp đất sát mặt và được thấm ngược trở lại vào nước mặt
(và đại đương) dưới dạng dòng chảy ngầm.

58
Một phần nước ngầm chảy ra thành các dòng suối nước ngọt. Nước ngầm tầng nông
được rễ cây hấp thụ rồi thoát hơi qua lá cây. Một lượng nước tiếp tục thấm vào lớp đất
dưới sâu hơn và bổ sung cho tầng nước ngầm sâu để tái tạo nước ngầm (đá sát mặt bảo
hoà), nơi mà một lượng nước ngọt khổng lồ được trữ lại trong một thời gian dài. Tuy
nhiên, lượng nước này vẫn luân chuyển theo thời gian, có thể quay trở lại đại dương,
nơi mà vòng tuần hoàn nước “kết thúc” … và lại bắt đầu.

Hình 4.2: Nước trên trái đất

59
Bảng 4.1: Ước tính phân bố nước toàn cầu

% Tổng lượng
Nguồn nước Thể tích, km3 % Nước ngọt
nước

Đại dương, biển, và


1.338.000.000 -- 96,5
vịnh

Đỉnh núi băng, sông


băng, và vùng tuyết phủ 24.064.000 68,7 1,74
vĩnh cửu

Nước ngầm 23.400.000 -- 1,7

Ngọt 10.530.000 30,1 0,76

Mặn 12.870.000 -- 0,94

Độ ẩm đất 16.500 0,05 0,001

Băng chìm và băng tồn


300.000 0,86 0,022
tại vĩnh cửu

Các hồ 176.400 -- 0,013

Ngọt 91.000 0,26 0,007

Mặn 85.400 -- 0,006

Khí quyển 12.900 0,04 0,001

Nước đầm lầy 11.470 0,03 0,0008

Sông 2.120 0,006 0,0002

Nước sinh học 1.120 0,003 0,0001

Tổng số 1.386.000.000 - 100

60
3 Chu trình Cacbon

Cacbon trong cơ thể sống chiếm 18% gấp 100 lần so với nồng độ của chúng trên trái
đất. Chính vì thế các sinh vật sống lấy nguồn cacbon chủ yếu từ môi trường bên ngoài
(nonliving environment). Để cho cuộc sống tiếp tục được duy trì, nguồn cacbon phải
được tái sinh. Quá trình cung cấp nguồn cacbon cho sinh vật sống được thể hiện qua
chu trình cacbon theo hình sau:

Hình 4.3: Chu trình cacbon


Cacbon hiện diện trong môi trường với các dạng như:
- Cacbon dioxit (CO2) trong khí quyển và dạng hòa tan trong nước (HCO3)
- Đá vôi và san hô (CaCO3)
- Than đá, dầu mỏ, các khí gas tự nhiên
- Xác của sinh vật sống ví dụ như mùn hữu cơ trong đất…
Cacbon đi vào thế giới sinh vật thông qua hoạt động của sinh vật tự dưỡng. Sinh vật
quang tự dưỡng (thực vật, tảo) và hóa tự dưỡng (vi khuẩn, sinh vật thời cổ) sử dụng
năng lượng ánh sáng mặt trời chuyển cacbon vô cơ thành các hợp chất hữu cơ.
Nguồn cacbon cung cấp trở lại vào không khí và nuớc bởi các hoạt động:
- Hô hấp (thải ra CO2)
- Đốt cháy các chất hữu cơ
- Sự phân hủy của các chất hữu cơ, xác chết của sinh vật (thải ra CO2 ở
điều kiện hiếu khí và CH4 trong điều kiện hiếu khí).
Sự gia tăng CO2 trong không khí bắt đầu với sự phát triển của công nghiệp. Hàm lượng
CO2 được phát hiện trong mẫu băng hà không thay đổi cho đến cách đây 300 năm. Đến
cuối thế kỷ XIX, nồng độ CO2 tăng 20% bởi các hoạt động của con người bao gồm:

61
- Đốt nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, khí đốt…)
- Đốt phá rừng làm nương rẫy đặc biệt là vùng nhiệt đới
Các nghiên cứu cho thấy rằng sự gia tăng CO2 trong không khí sẽ dẫn đến sự gia tăng
sinh khối từ các sinh vật quang tự dưỡng. CO2 trong không khí giảm bởi quá trình:
- Tăng phát triển rừng (đặc biệt ở Nam Mỹ)
- Sự phát triển của phù du sinh vật ở biển
Hóa học của vòng tuần hoàn cacbon
(1) Quá trình tổng hợp quang hóa
Quá trình tổng hợp quang hóa thực vật là những phản ứng sinh hóa rất có ý nghĩa. Là
hình thức diễn tả sự oxi hóa cưỡng bức do bổ sung năng lượng bên ngoài của H2O và
CO2 nhờ chuyển hóa năng lượng mặt trời thành năng lượng hóa học.
Ánh sáng
6CO2 + 6H2O C6H12O6 + 6O2
Mặt trời
Quá trình quang hóa là kết quả của một phản ứng dây chuyền từ 3 quá trình: quang hóa
photpho tuần hoàn, phân ly H2O và hấp thụ CO2.
(2) Quá trình phân hủy sinh khối
Vòng tuần hoàn của cacbon sinh học thực chất là vòng tuần hoàn của CO2. Dưới những
điều kiện của môi trường oxi hóa thì tất cả các chất hữu cơ biến đổi thành CO2 bởi sự
phân hủy của các sinh vật. Trong quá trình phân hủy có xảy ra quá trình nhận các chất
dinh dưỡng và tạo thành năng lượng do hô hấp (đồng hóa và dị hóa).
Quá trình phân hủy gluco có dạng tổng quát như sau:
1
Cn H 2 nOn + H 2O → CO2( k ) + 4 H + + 4e −
n
Động lực của quá trình này là sự tách hóa sinh của các chất hữu cơ do các vi sinh vật
không tham gia phản ứng quang hợp với mục đích thu năng lượng.
(3) Chu kỳ Metan – Cacbonic
Metan và cacbonic là những chất đại diện đơn giản nhất của cacbon với hóa trị của
cacbon là -4 và +4. Metan được sử dụng trong sinh quyển như nguồn năng lượng và
nguồn cacbon đối với vi khuẩn Methylotrophen và được oxi hóa thành CO2. Ở điều kiện
yếm khí CH4 trơ và có thể được oxi hóa sinh học trong thủy quyển hoặc bởi các ion
sunfat. Lượng metan trong khí quyển chiếm khoảng 1% tổng lượng cacbon trong khí
quyển.

62
Bên cạnh oxi hóa bằng vi sinh vật thì việc oxi hóa metan ở tầng đối lưu là sự oxi hóa
bởi các gốc có xúc tác quang học qua bước trung gian tạo thành H2CO và CO thành
CO2. Đây là nguồn giảm CH4 một cách đáng kể trong khí quyển và quá trình xảy ra như
sau:

CH4 + OH HCH2* + H2O


HCH2* + O2 HCHO + O
HCHO + OH H2O + HCO
HCO + O2 CO + HO2
Hay hv Ho + CHO
HCHO
Λ = 295nm H2 + CO

Bên cạnh quá trình oxi hóa quang học ở tầng đối lưu còn có những biến đổi sinh hóa
trong lòng đất, dưới tác dụng của vi khuẩn yếm khí (pseudomonas, azobacter). Quá
trình tạo này cũng tạo ra CO2 sau đó nhờ tác động của một số vi khuẩn lại tạo thành
CO2 và CH4

Pseudomonas
CO + ½ O2 CO2
Vi khuẩn Metan
4CO + 2H2O CH4 + 3CO2

4 Chu trình oxi

Chu trình oxi trong tự nhiên được xác định bằng quá trình hô hấp và quang hợp. Quá
trình hô hấp, gluco và O2 được các loài động vật sử dụng tạo ra sản phẩm cuối cùng là
CO2 và nước.
O2 + Carbohydrates → CO2 + H2O + năng lượng

Ngược lại quá trình quang hợp, cây xanh sẽ sử dụng CO2 và nước để tổng hợp nên các
sản phẩm hữu cơ (đường) và phân tử O2.

63
Hình 4.4: Quá trình phân hủy và tổng hợp của gluco

Bảng 4.2: Các nguồn sinh và giảm oxi trong khí quyển

Khối lượng O2 Khối lượng O2


Nguồn sinh Nguồn giảm
(triệu tấn/năm) (triệu tấn/năm)

Tổng hợp quang


268.500 Hô hấp 215.000
học

Phân ly quang học


11 Nitrat hóa sinh học 38.000
của N2O

Phân ly quang học


<1 Sản xuất năng lượng 14.000
của H2O

Oxi hóa các hợp chất


12.000
hữu cơ

Các số liệu trong bảng 3.7 chứng minh rằng quá trình tổng hợp quang học và hô hấp là
cơ chế chủ yếu của vòng tuần hoàn oxi. Oxi là chất có thể tham gia vào rất nhiều các
hợp chất trong những điều kiện tự nhiên. Thời gian lưu trung bình của phân tử oxi trong
khí quyển dựa trên những phản ứng tổng hợp quang học là 4500 năm, trong khi đó thời
gian lưu của nước trong thủy quyển là 500.000 năm.
Trong hàng loạt các phản ứng tiêu thụ oxi thì quá trình sản xuất năng lượng đứng thứ ba
sau quá trình hô hấp và quá trình oxi hóa sinh học của NH3. Quá trình oxi hóa này có

64
thể không ảnh hưởng tới nguồn oxi trong khí quyển vì thực tế sự tăng nồng độ CO2
ngay lập tức dẫn đến sự tăng sản phẩm oxi của quá trình tổng hợp quang học.
Các phản ứng hóa học sinh thái của oxi gắn liền với các vòng tuần hoàn vật chất của
nhiều nguyên tố khác. Điều này làm khó khăn cho việc định tính hóa của từng vòng
tuần hoàn riêng biệt nhưng mặt khác lại đặc ra một khả năng điều chỉnh của hệ sinh
thái.

Hình 4.5: Chu trình oxi trong tự nhiên

Chu trình Ozon-oxi

Hình 4.6: Chu trình Ozon-oxi

Chu trình Ozon - Oxi là quá trình Ozon được tạo thành liên tiếp ở tầng bình lưu của trái
đất.

65
Ozon được hình thành theo qui trình sau: Tia cực tím với bước sóng ngắn (nhỏ hơn
240nm) sẽ cắt phân tử O2 thành hai nguyên tử oxi. Khi đó nguyên tử oxi sẽ kết hợp với
phân tử oxi tạo thành hai phân tử O3.
O2 + bức xạ < 240nm → 2O
2(O2 + O + M) → 2(O3 + M)
*M là nhân tố thứ 3 có vai trò gia tăng nguồn năng lượng cho phản ứng và thường là N2
hoặc O2. O3 được hình thành rất chậm vì rất ít năng lượng mặt trời với bước sóng nhỏ
hơn 240nm.
Vai trò của ozon
Ở tầng bình lưu, O3 sẽ bị phân ly thành O2 và oxi nguyên tử dưới tác dụng của bức xạ
mặt trời. O3 + bức xạ → O2 + O. Năng lượng hóa học được tạo ra khi O liên kết với O2.
Hiệu quả của quá trình này là chuyển bức xạ mặt trời có hại thành vô hại đối với hoạt
động sống của sinh vật ở mặt đất. Phản ứng trên cũng là một trong những nguồn nhiệt ở
tầng bình lưu.
Khi nguyên tử Oxi và O3 gặp nhau, chúng liên kết với nhau để tạo thành 2 phân tử O2.
Nồng độ O3 ở tầng bình lưu được xác định bằng cân bằng giữa O3 được tạo thành và O3
bị giảm đi do quá trình liên kết với O nguyên tử. Tỉ lệ mất đi của O3 phải thấp hơn chu
kỳ của chu trình O3 – O2. Ngoài ra các gốc tự do như OH, NO, Cl, Br cũng là những tác
nhân xúc tác làm tăng phản ứng tái tổ hợp dẫn đến tầng ozon ngày càng mỏng hơn.

5 Chu trình Nitơ

Hình 4.7: Chu trinh Nitơ


Từ chu trình Nitơ, khí quyển đóng vai trò quan trọng trong việc nhận các nguồn nitơ từ
sự phóng điện, vi khuẩn - tảo cố định nitơ, quá trình đốt cháy...

66
Nitơ bị oxi hóa thành NO bởi tác dụng của bão điện từ, NO sẽ bị oxi hóa thành NO2 bởi
sự hiện diện của Ozon trong không khí. NO2 sẽ bị khử trở lại thành NO bởi quá trình
quang hóa.
Quá trình đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch (động cơ đốt trong của ôtô) cũng chuyển
hóa N2 thành NO và NO2. Các phản ứng tiếp theo trong khí quyển sẽ oxi hóa NO2 thành
N2O5. N2O5 sẽ liên kết với nước trong không khí tạo thành nitrat (NO3-) của axit nitric
(HNO3). Đây là một trong những nguyên nhân gây ra mưa axit. Nitrat cũng được tạo ra
từ quá trình oxi hóa trực tiếp nitơ hoặc ammonia từ phân bón hóa học. Nitrat đóng vai
trò quan trọng cung cấp nguồn dinh dưỡng cho cây trồng và được hấp thu để chuyển
hóa thành protein (nitơ hữu cơ).
NO3- + CO2 + thực vật xanh + ánh sáng mặt trời → protein
Ngoài ra nitơ trong khí quyển được chuyển hóa thành protein bởi sự tham gia của vi
khuẩn cố định đạm Cyanobacteria, một loài vi khuẩn có nhiều đặc điểm giống tảo
N2 + Vi khuẩn cố định đạm → protein
Ammonia (NH3) và hợp chất ammonium (NH4+) chứa trong urea là nguồn dinh dưỡng
được dùng để bón cho đất cung cấp nguồn nitơ cho cây trồng chuyển hóa thành protein.
NH3 + CO2 + thực vật + ánh sáng → protein
Thực vật và con người không có khả năng chuyển sử dụng nitơ và các hợp chất vô cơ để
tổng hợp thành protein mà phải dựa vào động vật khác. Trong cơ thể động vật, protein
được sử dụng với một lượng lớn cho sự phát triển và hình thành tế bào mới. Cùng với
quá trình sử dụng, các hợp chất nitơ được thải ra trong suốt quá trình sống. Urine là hợp
chất chứa nitơ được thải ra qua quá trình phân giải protein. Urine (urea) nhanh chóng bị
thủy phân tạo thành ammonium cacbonat. Quá trình vi khuẩn phân hủy xác động thực
thực vật sẽ trả về nguồn nitơ cho đất dưới dạng NH3

NH2
Urease enzyme
C=O + 2H2O (NH4)2CO3
NH2

Một số nitơ hữu cơ không phân hủy sinh học tồn tại ở dạng cặn lắng trong nước và mùn
bã trong đất.
Ammonia được giải phóng từ quá trình phân hủy urea và protein được thực vật sử dụng
để tổng hợp nên protein cho tế bào. Khi nguồn cung cấp ammonia nhiều hơn nhu cầu sử
dụng của thực vật, ammonia sẽ được sử dụng bởi vi khuẩn nitrat hóa tự dưỡng (nhóm).
Vi khuẩn Nitrosomonas sẽ chuyển hóa ammonia thành nitrit (NO2-) dưới điều kiện hiếu
khí.
2NH3 + 3O2 2NO2- + 2H+ + 2H2O
Nitrit được tạo thành sẽ bị oxi hóa thành nitrat bởi sự tham gia của nhóm vi khuẩn
Nitrobacter.

2NO2- + O2 2NO3-

67
Nitrat được hình thành cung cấp chất dinh dưỡng cho đất. Khi nitrat trong đất thừa, nó
sẽ thấm vào nước bởi vì đất không có khả năng lưu giữ nitrat. Quá trình này sẽ làm gia
tăng nồng độ nitrat trong nước ngầm. Dưới điều kiện yếm khí nitrat sẽ bị khử thành
nitrit, quá trình khử tiếp tục xảy ra chuyển hóa nitrit thành N2 và được giải phóng vào
khí quyển. Quá trình này làm mất chất dinh dưỡng của phân bón cho đất nhất là khi điều
kiện yếm khí xảy ra.

6 Chu trình Photpho

Hình 4.8: Nguồn cung cấp photphat trong môi trường

Hình 4.9: Chu trình photpho trong tự nhiên

68
Photpho là một trong các nguyên tố rất cần thiết cho sự sống. Photpho giúp giữ các
phân tử DNA và RNA lại với nhau và cũng là nguyên tố đóng vai trò quan trọng trong
chuyển hóa và dự trữ năng lượng trong ATP và ADP. Giống như Canxi, Photpho là
thành phần cấu tạo của xương của các loài động vật có xương sống (mặc dù thừa
photpho sẽ dẫn đến mất canxi). Photpho cũng là nguồn dinh dưỡng quan trọng trong
nông nghiệp.
Chu trình photpho rất đặc biệt so với các chu trình sinh hóa cơ bản nhất trong tự nhiên
vì nó không có sự chuyển hóa sang pha khí, mặc dù một lượng nhỏ hơi axit H3PO4 bay
vào khí quyển và là nguồn gốc của hiện tượng lắng động axit. Do đó trong khí quyển
thành photpho rất ít có ý nghĩa. Nền tảng của liên kết photpho trong môi trường là axit
photphoric, H3PO4 (axit orthophotphoric). Axit này tạo thành liên với hơn 200 loại
khoáng tồn tại trong tự nhiên, trước hết là với các cation như Na+, Mg+2, Ca+2, Al+3,
Pb+2, Fe+2, Fe+3, Mn+4, Cu+2, Zn+2,…trong số đó canxi photphat là khoáng có ý nghĩa là
nguyên liệu của công nghiệp photpho.
Quá trình phân hủy photpho qua oxi hóa kết hợp với nước tạo thành axit
orthophotphoric sau đó thành các muối orthophotphat. Các muối photphat là dẫn xuất
của các axit photpho ở dạng chung Hn+2PnO3n+1 (n=2: axit diphotphoric, n=3: axit
triphotphoric) và chứ cầu liên kết P--O--P. Ví dụ:
2HPO4-2 ↔ P2O7-4 + H2O
Axit Photphoric có thể liên kết với các hợp chất hữu cơ hydroxyl tạo thành những hợp
chất có ý nghĩa nền tảng trong tất cả hệ thống sinh học. Ví dụ như ATP
(Adenozintriphotphat).
Vòng tuần hoàn photpho bao gồm các quá trình trao đổi photpho giữa các photphat vô
cơ và hữu cơ trong quá trình sống của sinh vật. Vòng tuần hoàn sinh hóa của photpho có
thể chia làm 2 phần riêng: đất – cây trồng và nước – cặn lắng.
Chu trình photpho bắt đầu từ nguồn photphat (PO4) trong đất được sản sinh từ quá trình
phong hóa đá. Photphat đi vào hệ sinh thái khi thực vật hấp thu nguồn dinh dưỡng từ
đất. Photphat chuyển vào tế bào động vật khi động vật ăn thực vật và từ động vật ăn
động vật. Photphat giữ trong tế vào động vật được trả lại cho đất thông qua quá trình bài
tiết của nước tiểu và phân cũng như quá trình phân hủy xác của các động vật chết.
Photphat trong thực vật cũng được trả vào đất qua quá trình phân hủy.
Trong hệ sinh thái dưới nước, thực vật hấp thu photphat hòa tan trong nước sau đó đi
vào chuỗi thức ăn. Lượng Photphat không đi vào chuỗi thức ăn và các photphat được
phân hũy từ xác các sinh vật chết sẽ lắng xuống đáy sông, hồ biển…Khi các cặn lắng
được khuấy trộn, photphat sẽ được hấp thu trở về với chu trình sinh học của nó trong
nước.
Giống như nitơ, photpho cũng là chất ô nhiễm nước mặt khi nồng độ vượt quá giới hạn
cho phép. Là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước. Khả năng
hòa tan của photpho trong nước không cao nhưng lại kết hợp chặt chẽ với các phân tử
trong đất. Photpho đi vào nước không phải bằng quá trình hòa tan mà được vận chuyển
bởi các hạt đất thông qua quá trình rửa trôi.
Tác động của con người đến chu trình photpho
Con người tác động vào chu trình photpho trong tự nhiên từ việc sử dụng các sản phẩm
phân bón hóa học tổng hợp. Nguồn photphat làm phân bón được khai thác từ quặng
apatite chứa chủ yếu là canxi photphat. Trong quá trình sản xuất, một lượng lớn axit

69
sulfuric được sử dụng để chuyển hóa đá chứa photphat thành phân bón super photphat.
Thực vật không hấp thu hoàn toàn lượng phân bón photphat sử dụng, phần còn lại bị rửa
trôi vào nguồn ngước và tích tụ ở nền đáy ao hồ gây ô nhiễm nguồn nước.
Xác động vật và phân gia xúc cũng được dùng làm phân bón nhằm cung cấp thêm
lượng photphat cho đất. Nếu dùng quá mức trong mùa đông thì đến mùa xuân khi tuyết
tan, một lượng lớn photphat sẽ bị rửa trôi làm tăng nồng độ photphat và nitrat trong
dòng nước. Ngoài ra, nguồn góp phần làm tăng lượng photphat là nước thải đầu ra của
nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt không có hệ thống xử lý bậc ba (tertiary treatment).
Photphat trong nước thải sẽ không được loại bỏ hoàn toàn trong các quá trình xử lý
thông thường. Đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn
nước tiếp nhận. Photphat được sử dụng trong bột giặt, phân bón trong nông nghiệp góp
phần làm tăng nồng độ trong sông, hồ…

Hình 4.10: Các hoạt động của con người ảnh hưởng đến chu trình photpho

70
Trong đất Trong đại dương

Động thực vật Động thực vật

Bài tiết
Photpho vô cơ, hữu cơ
Sinh vật chết hòa tan và lơ lững trên
lớp mặt

Photphat hóa Nổi Lắng


Hòa tan
trong nước Photpho trong đáy đại
Photphat trong đất dương

Photpho trầm tích


Lắng

Cây trồng, động vật Đất Biển


Động thực vật

Các động, thực vật chết


và photpho trên lớp
Sinh vật chết nước mặt

Sông

Photpho ở vùng
Photphat trong đất nước sâu

Phân hủy Phong hóa


Photpho trầm tích
Lắng

Hình 4.11: Vòng tuần hoàn photpho trong nước và trên cạn

71
7 Chu trình Sunfua

Hình 4.12: Sơ đồ chuyển hóa sunfua trong môi trường

72
Hình 4.13: Chu trình sunfua
Sự phát sinh các hợp chất lưu huỳnh trong khí quyển là do các hoạt động nhân tạo, hóa
sinh và hóa địa. Do hoạt động của núi lửa dưới những dao động mạnh về địa hình và
nhiệt độ. Hàng năm có khoảng 2 – 3 triệu tấn lưu huỳnh dưới dạng SO2 đi vào khí
quyển. Do hoạt động nhân tạo mà hàng năm có khoảng 75 – 80 triệu tấn SO2 được phát
xạ vào khí quyển (nhu cầu công nghiệp), trong đó 90% SO2 đi vào khí quyển là do quá
trình sản xuất năng lượng khi đốt các nhiên liệu gốc cacbon (than đá, dầu mỏ…). Hàng
năm quá trình luyện quặng sulfit thải vào khí quyển 6 triện tấn lưu huỳnh và sản xuất
H2SO4 thải 0,5 triệu tấn lưu huỳnh dạng SO2 vào khí quyển.
Các khí có thành phần lưu huỳnh là kết quả do quá trình khuấy động và bay hơi nước bề
mặt đại dương, sau khoảng trung bình một ngày các khí này lại ngưng tụ, khoảng 10%
lượng lưu huỳnh bốc hơi được vận chuyển từ ngoài đại dương vào lục địa và được tích
tụ ở các dòng sông sau đó chảy ra biển.
Do kết quả của quá trình phân hủy và biến đổi vi sinh đối với các chất sinh học tạo
thành các chất lưu huỳnh dạng khí với hóa trị thấp như H2S, dimetylsunfit (CH3)2S,
CS2… đi vào khí quyển. Sản phẩm chính của các phản ứng sinh học của lưu huỳnh
trong biển, bờ biển, đầm lầy và bùn là (CH3)2S và H2S phát sinh từ quá trình thối rữa
sinh vật trong đất. Ngoài ra trong môi trường còn có các hợp chất lưu huỳnh dạng
metylmercaptane và dimetylsunfit do quá trình oxi hóa mercaptane tạo thành:
2CH3SH + 1/2O2 → H3C – S – S – CH3 + H2O
Một lượng đáng kể hợp chất lưu huỳnh được tạo thành do quá trình phong hóa, xói mòn
hoặc do công nghiệp sản xuất phân bón. Cuối cùng là sự tích tụ các nguyên tố lưu
huỳnh từ đá macma sang đá trầm tích vận chuyển qua các dòng sông mà đi vào thủy
quyển.

73
Vòng tuần hoàn sinh học của lưu huỳnh
Hàng loạt các vi khuẩn hiếm khí sử dụng sunfat như là chất nhận điện tử và chuyển hóa
sunfat thành H2S (quá trình khử phân giải, khử sunfua hóa). H2S tạo thành là chất độc
đối với hệ hô hấp và sự tồn tại oxi trong nước. Quá trình khử sunfua hóa có thể xâm
nhập vào các liên kết S-O của các đồng vị lưu huỳnh.
Các chất hưu cơ chứa lưu huỳnh (thành phần protein như cystein hay methionin) được
tạo thành do quá trình khử sunfat có tích tụ và các chất này lại phân hủy hiếu khí thành
sunfat hoặc quá trình thối rữa yếm khí thành H2S. Quá trình thối rữa chiếm khoảng 5%
sản phẩm H2S sinh học trong toàn cầu.
Quá trình oxi hóa sinh học của H2S thành S và SO42- có thể thực hiện được nhờ quá
trình tổng hợp hóa học hoặc tổng hợp sinh học.

+ ½ O2 + ½ O2
H2S S + H2O H2SO4

Các vi khuẩn quang hợp (vi khuẩn lưu huỳnh) dùng năng lượng mặt trời để tạo ra các
hợp chất carbuahydro của quá trình tổng hợp quang học:
1
2H2S + CO2 → /n (H2CO)n + 2S + H2O
Lượng lưu huỳnh sinh ra lại bị giảm đi qua phản ứng sinh học S→SO42-→H2S, nên quá
trình tạo thành các hợp chất hữu cơ có thể xãy ra liên tục. Tại một khu vực nào đó các
phản ứng không liên tục thì ở đó sẽ dư thừa lưu huỳnh và là nguyên nhân tạo nên các
nguồn tích lũy lưu huỳnh.

Hình 4.14: Vòng tuần hoàn sinh học của lưu huỳnh

74
Các phản ứng quan trọng trong chu trình sunfua sinh học bao gồm
- Đồng hóa sunfat: Sufate (SO42-) bị khử thành các nhóm sunhydryl hữu
cơ (R-SH) bởi sự tham gia của thực vật, nấm và các sinh vật chưa có nhân. Số
oxi hóa của sunfua chuyển từ +6 sang -2 trong nhóm R-SH.
- Sự khử sunfua: các phân tử hữu cơ chứa sunfua bị khử thành khí H2S với
số oxi hóa -2.
- Quá trình oxi hóa H2S sẽ tạo thành sunfua nguyên tử (S) với số oxi hóa
bằng 0. Phản ứng trên được hoàn thành bởi các vi khuẩn sunfua có khả năng
quang hợp tím và xanh.
H2S → So + 2H+ + 2e-
1
H2S + /2O2 → So + H2O + năng lượng
- Quá trình tiếp theo là oxi hóa sunfua nguyên tử tạo thành sunfat (SO42)
- Phản ứng khử sunfua bằng quá trình dị hóa sẽ chuyển sunfua nguyên tử
thành hydrogen sunfit.
- Quá trình khử dị hóa sẽ tạo thành hydrogen sunfit từ sunfat.
So + 1
/2O2 + H2O → SO42- + 2H+ + năng lượng

75
PHỤ LỤC TIÊU CHUẨN VIỆT NAM

Bảng 1: Tiêu chuẩn phát thải nước thải công nghiệp của Việt Nam
(TCVN 5945, 1995)
Giá trị giới hạn
No. Thông số Đơn vị
A B C
1 Nhiệt độ ºC 40 40 45
2 pH -- 6–9 5,5 – 9 5-9
3 BOD5 (20ºC) mg/l 20 50 100
4 COD mg/l 50 100 400
5 Chất rắn lơ lững mg/l 50 100 200
6 Arsen mg/l 0,05 0,1 0,5
7 Cađimi mg/l 0,01 0,02 0,5
8 Chì mg/l 0,1 0,5 1
9 Clorua mg/l 1 2 2
10 Crom (VI) mg/l 0,05 0,1 0,5
11 Crom (III) mg/l 0,2 1 2
12 Dầu mỡ khoáng mg/l Không phát hiện 1 5
13 Dầu mỡ thực động vật mg/l 5 10 30
14 Đồng mg/l 0,2 1 5
15 Kẽm mg/l 1 2 5
16 Mangan mg/l 0,2 1 5
17 Niken mg/l 0,2 1 2
18 Photpho hữu cơ mg/l 0,2 0,5 1
19 Photpho tổng mg/l 4 6 8
20 Sắt mg/l 1 5 10
21 Tetracloroetylen mg/l 0,02 0,1 0,1
22 Thiếc mg/l 0,2 1 5
23 Thủy ngân mg/l 0,005 0,005 0,01
24 Nitơ tổng mg/l 30 60 60
25 Tricloroetylen mg/l 0,05 0,3 0,3
26 N-NH4 mg/l 0,1 1 10
27 Florua mg/l 1 2 5
28 Phenol mg/l 0,001 0,05 1
29 Sunfit mg/l 0,2 0,5 1
30 Xyanua mg/l 0,05 0,1 0,2
31 Coliform MPN/100ml 5000 10000 --
Nguồn: Bộ Xây Dựng Việt Nam, 1995

76
Bảng 2: Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt (TCVN 5942, 1995)

Giá trị giới hạn


No. Thông số Đơn vị
A B
1 pH -- 6 – 8,5 5,5 - 9
2 BOD5 (20ºC) mg/l <4 <25
3 COD mg/l <10 <35
4 DO mg/l >6 >2
5 Chất rắn lơ lững mg/l 20 80
6 Arsen mg/l 0,05 0,1
7 Bari mg/l 1 4
8 Cađimi mg/l 0,01 0,02
9 Chì mg/l 0,05 0,1
10 Crom (VI) mg/l 0,05 0,05
11 Crom (III) mg/l 0,1 1
12 Đồng mg/l 0,1 1
13 Kẽm mg/l 1 2
14 Mangan mg/l 0,1 0,8
15 Niken mg/l 0,1 1
16 Sắt mg/l 1 2
17 Thủy ngân mg/l 0,001 0,002
18 Thiếc mg/l 1 2
19 N-NH4 mg/l 0,05 1
20 Florua mg/l 1 1,5
21 N-NO3 mg/l 10 15
22 N-NO2 mg/l 0,01 0,05
23 Xyanua mg/l 0,01 0,05
24 Phenol mg/l 0,001 0,02
25 Dầu mỡ mg/l Không phát hiện 0,3
26 Bột giặt mg/l 0,5 0,5
27 Coliform MPN/100ml 5000 10000
Tổng thuốc trừ sâu (không
28 mg/l 0,15 0,15
chứa DDT)
29 DDT mg/l 0,01 0,01
Nguồn: Bộ Xây Dựng Việt Nam, 1995
Chú thích: Giá trị cột A được áp dụng cho nguồn nước mặt sử dụng cho cấp nước sinh
Giá trị cột B được áp dụng cho nguồn nước mặt sử dụng cho tưới tiêu, nuôi trồng thủy
sản và giao thông thủy
Giá trị cột C giới hạn của nguồn thải nước thải công nghiệp thải vào môi trường.

77
Bảng 3: Tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm (TCVN 5944, 1995)

No. Thông số Đơn vị Giá trị giới hạn

1 pH -- 6,5 – 8,5

2 Màu Pt - Co 5 – 50

3 Độ cứng (CaCO3) mg/l 300 – 500

4 Tổng chất rắn mg/l 750 – 1500

5 Arsen mg/l 0,05

6 Cađimi mg/l 0,01

7 Clorua mg/l 200 – 600

8 Chì mg/l 0,05

9 Crom (VI) mg/l 0,05

10 Xyanua mg/l 0,01

11 Đồng mg/l 1

12 Florua mg/l 1

13 Kẽm mg/l 5

14 Mangan mg/l 0,1 – 0,5

15 N-NO3 mg/l 45

16 Phenol mg/l 0,001

17 Sắt mg/l 1–5

18 Sunfat mg/l 200 – 400

19 Thủy ngân mg/l 0,001

20 Selen mg/l 0,01

21 Fecal coli MPN/100ml Không phát hiện

22 Coliform MPN/100ml 3
Nguồn: Bộ Xây Dựng Việt Nam, 1995

78
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đặng Kim Chi. 2006. Hóa học môi trường. Nhà xuất bản Xây dựng

Lê Văn Khoa. 2000. Hóa học môi trường đất. Nhà xuất bản Giáo dục

Mc Graw Hill. 2003. Air pollution

Mc Graw Hill. 2003. Chemistry for Environmental Engineering and Science

Mc Graw Hill. 2003. Wastewater treatment

Nguyễn Thị Thu Lan. 2000. Giáo trình hóa môi trường. Trường Đại học Cần Thơ

Website TUhttpHHTU://UTHHTUenvironmentalchemistryHHTU.UTHHTUcomH

79