You are on page 1of 4

Subject: Fwd: Bùi Viện, người trí thức Việt Nam đầu tiên đi Mỹ

From: jovitran@gmail.com
To: jovitran@gmail.com

Bùi Viện, người trí thức Việt Nam đầu tiên đi Mỹ


Cao Linh Quân
Bước vào năm 1873 (Tự Đức thứ 26), tình hình Việt Nam trở nên hết sức nghiêm trọng. Ở
Nam Kỳ thực đân Pháp đã hạ thành Sài Gòn và chiếm gọn 6 tỉnh. Ở Bắc kỳ, Đồ Phổ Nghĩa
(Jean Dupuis) liên tiếp kiếm chuyện để gây sự với triều đình phong kiến. Tướng Gạc Nhe
(F.Garnier) đã chỉ huy quân chiếm thành Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn. Và
tiếp theo đó quân Cờ đen đã phục kích giết chết Gạc Nhe…
Đất nước đen tối, chính sự rối mù. Triều đình nhà Nguyễn đành phải chịu ép kí hòa ước Giáp
Tuất (1874) nhượng bộ pháp đến mức tối đa.
Phong trào cần vương nổi lên khắp nước vừa chống Pháp vừa biểu thị ý thức bất đồng, phản
kháng lại triều đình bất lực. Vua Tự Đức trằn trọc nhiều đêm trắng. Thánh thượng bất chợt
nghĩ tới Đức Gia Long và trong đầu lóe lên một ánh chớp hy vọng , có thể đi cầu viện một
nước mạnh nào đó để đánh bại Pháp quốc chăng? Muốn vậy, trước hết phải cử một sứ thần
bí mật lên đường tìm cách gặp gỡ họ? Nhưng nước mạnh đó là ai? Ông vua khốn khổ không
còn nghĩ ra ai khác ngoài nước Anh-cát-lợi! Tự Đức điểm tên khắp lượt các văn võ bá quan.
Cuối cùng, Ngài chọn Bùi Viện để trao cho sứ mạng khó khăn và mạo hiểm này.
Bùi Viện người làng Trình Phố, Huyện Trực Ninh, phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, đậu Cử
nhân năm 1868. Năm đó Bùi Viện mới 29 tuổi (bước vào độ “tam thập nhi lập”) nhưng đã
biểu lộ rõ một con người đảm lược, kinh bang tế thế. Bùi đã có công dẹp loạn Tàu Ô, truy
quét bọn hải tặc vùng duyên hải, ấy là chưa nói đến công đầu trong việc khai khẩn đất
hoang, làm hệ thống thủy lợi ở Ninh Hải (Hải Dương), đặt nền móng cho việc xây cất cảng
Hải Phòng… Năng lực về quân sự, tư duy mới về kinh tế biến anh trở thành một con người
hành động thực tiễn khác xa loại khuyển nho dài lưng tốn vải, thuyết lý suông hồi đó. Chính
vì thế trong con mắt bọn người “chi hồ giả dã” thánh hiền này, Bùi Viện trở thành một hiện
tượng “kỳ dị”. Trong những cuộc đàm đạo, những ý kiến mới mẻ táo bạo về công cuộc cứu
nguy dân tộc thoát khỏi thảm trạng mất nước của Bùi cứ khiến cho bọn hủ nho choáng đầu
khó chịu và tìm mọi cách chống phá. Vậy là cuộc gặp gỡ kín giữa Vua Tự Đức và Bùi Viện
đã diễn ra vào đầu tháng 7 năm 1873!
Trước lúc lên đường nhà vua còn căn dặn “thuyết khách” của mình khi đặt chân tới đất lạ
không nên và đừng có bao giờ để lộ thực trạng kém cỏi và tiêu cực của đất nước, khi cần tiêu
xài để giao dịch cũng đừng “cá gỗ ” quá mà ảnh hưởng tới quốc thể …
Bùi Viện ra cửa Thuận An. Một chiếc thuyền gỗ, dăm người tháp tùng một gói vàng bạc,
tặng phẩm… đã chuẩn bị sẵn. Họ dăng buồm, mượn gió Đông Nam vượt sóng lênh đênh…
Bùi viện đi đâu? That is the question ! Đó là cả vấn đề. Điều đó hoàn toàn do anh quyết định.
Anh quyết định cho thuyền nhắm về phía Hương Cảng. Hương Cảng, theo anh là đô thị lớn,
nơi tụ hội của các nước Âu, Á là chính trường quốc tế mới mẻ sôi động thời nay.
Sau hai tháng vượt trùng dương, Hương Cảng huy hoàng hiện ra trước mắt những đại biểu
dân Việt Nam. Cảnh tượng trên bờ lâu đài tráng lệ nguy nga, người đi lại đông như kiến cỏ,
dưới nước tàu thuyền mới lạ đồ sộ, san sát bên nhau, khiến Bùi Viện vừa vui lại vừa buồn.
Con thuyền gỗ nhỏ nhoi, cổ lỗ của anh như trở thành chiếc lá rơi mất hút trong cơn bão biển.
1/4
Lên tới bờ cái cảm giác mới lạ kinh ngạc lại càng tăng. Khách sạn nhiều tầng ngất trời, các
loại xe cộ kỳ quái tự động chạy trên đường phố không cần người đẩy và nhất là khách bộ
hành, những con người khác màu da, y phục tân kỳ, tiếng nói ríu rít như chim!
Thế giới nhân sinh thật là khác lạ trước mắt Bùi Viện.
Một lần nữa, anh muốn thét to lên để cho bọn triều thần hủ nho ở quê nhà nghe thấy “Các
ngài ơi! Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Phan Thanh Giản không có bịa đặt ra đâu. Họ
nói đúng đấy!”. Ở Hương Cảng Bùi Viện tìm cách giao du với các thân sĩ Trung Hoa. Không
nói được tiếng Tàu, anh phải dùng bút đàm để giao dịch. Trung Hoa thời ấy đã “đổi mới”.
Hai lý thuyết gia nổi tiếng Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi đã hô hào Duy tân qua những
“tân thư” của họ.
Những buổi bút đàm từ thâu đêm tới sáng đối với Bùi Viện thật thú vị, bổ ích. Tình cờ, anh
làm quen được với viên Lãnh sự Sứ quán Hoa Kỳ ở Hương Cảng. Đó là một người Mỹ mang
hai dòng máu (bố Hoa Kỳ, mẹ Trung Hoa) sinh ra và lớn lên tại đất Tàu cho nên không chỉ
nói sõi tiếng Tàu mà còn am hiểu Hán học. Bùi Viện giao thiệp được với người Mỹ này lại
cũng nhờ bút đàm không cần tới người phiên dịch. Một điều kỳ lạ nữa lại đến với anh. Hóa
ra ngoài các nước Châu Âu văn minh ta thường nói tới như Anh, Pháp, Bồ, Ý… còn một
nước khác ở Mỹ châu còn văn minh và trẻ trung hơn: Hoa Kỳ!
Trái tim anh đập rộn. Nghĩ tới lịch sử quá khứ bị đô hộ, cuộc đấu tranh giành độc lập tự do
và nhất là bước tiến xây dựng đất nước văn minh hiện đại của Hoa Kỳ, tự nhiên anh có cảm
tình với xứ sở xa lạ này. Rất có thể nhân dân và Chính Phủ của đất nước không có vua này sẽ
thông cảm và có tình có nghĩa với dân tộc ta hơn. Bùi Viện tha thiết yêu cầu viên Lãnh sự
Hoa Kỳ bày cách để mình có thể đi Mỹ, sang cầu viện Tổng thống Hoa Kỳ. Viên Lãnh sự
đồng ý và nhiệt tình giúp đỡ. Ông ta viết thư tay giới thiệu Bùi Viện với một người bạn hiện
đang làm việc trong tòa Bạch Ốc..
Bùi Viện tức tốc lên thuyền đi Hoành Tân (Yokohama), từ đó đáp tàu sang San Fransisco rồi
thẳng đường tới Washington.
Trái với nỗi lo của mình, anh đặt chân tới thủ đô Hoa Kỳ không đến nỗi lạ lùng bơ vơ lắm.
Trên đất hiệp chủng quốc, người ngoại lai từ khắp nơi Âu, Á, Phi sang sống và làm ăn không
phải hiếm. Một người Việt Nam, một trí thức Đại Việt cũng không đến nỗi khiến cho dân Mỹ
ngạc nhiên tò mò. Tuy nhiên có những khó khăn thực sự đã đến với anh là, đường phố
Washington còn lớn hơn gấp bội đường phố Hương Cảng, anh không dám đi dạo phố bởi sợ
lạc đường; hơn nữa lại không nói được tiếng Anh và người Mỹ thì có bói cũng không tìm ra
ai nói tiếng Việt lúc bấy giờ. Vậy mà nước Mỹ vẫn say mê cuốn hút Bùi Viện. Anh nghĩ nếu
tranh thủ được sự giúp đỡ của dân tộc trẻ trung, đất nước giàu có văn minh này thì công cuộc
đánh Pháp giành độc lập còn kiến hiệu và năng động hơn là chính sách đi cầu viện Trung
Hoa và Anh quốc nhiều. Tuy nhiên, những khó khăn có thể thấy trước khi được gặp Tổng
thống Mỹ đã làm anh trằn trọc bao đêm. Việt Nam là một nước nhỏ bao đời lệ thuộc Trung
Hoa, hiện đang bị Pháp chiếm, mình lại chỉ là một “đại sứ đặc mệnh toàn quyền” không
chính thức, đi thương thuyết một cách lén lút. Sự thể rồi sẽ ra sao? Cho nên không thể nóng
vội được. Trước hết mình phải kết thân với các nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ. Rồi qua
họ sẽ liệu tính sau. Việc kết thân không khó vì bản tính người Mỹ ưa xả láng, cởi mở. Rốt
cuộc, cái khó khăn lớn nhất vẫn là mình không nói được tiếng Anh. Bùi Viện lại cứ phải nhờ
tới một thông dịch viên người Trung Hoa. Lại bút đàm ghi chữ Hán lên giấy, lại chuyển ngữ
từ Hoa sang Anh. Rồi ngược lại … Công việc thông dịch ngoại giao kỳ cục, trường kỳ gian
khổ này kéo dài cả tới năm ròng!
2/4
Cuối cùng Bùi Viện được Tổng thống Mỹ mời vào tiếp kiến. Anh trình bày tình cảnh đất
nước đau khổ của mình và sự lấn chiếm phi nghĩa của thực dân Pháp, điều được thể hiện rõ
rệt nhất ở các hiệp ước mạo danh là “bảo hộ” đầy phi lý vô nhân đạo vừa ký kết gần đây…
Anh yêu cầu Tổng thống Mỹ viện trợ cho Việt Nam để chống lại cuộc xâm lăng mà cả loài
người cần phải lên án này. Tổng thống GRANT [*] xúc động. Ông tỏ vẻ công phẫn về cuộc
xâm lăng của Pháp. Chính phủ Mỹ, nhân dân Mỹ cũng đang sôi sục bất bình về chuyện Pháp
hiện đang can thiệp sâu vào Mehico. Máu nhà binh bốc lên, vị Tổng thống Mỹ 52 tuổi muốn
nhân dịp này trả đũa Pháp một cú đích đáng tại Việt Nam. GRANT nói cho Bùi Viện biết
đường lối chính trị của Hoa Kỳ trước sau vẫn căn cứ vào bản Tuyên ngôn nhân quyền, bởi
thế nên Hoa Kỳ sẵn sàng giúp đỡ những nước nào bị nô lệ áp bức miễn là sau đó Hoa Kỳ
được tự do thông thương với nước ấy…
Được lời như cởi tấm lòng. Bùi Viện sung sướng tưởng phát khóc lên. Tuy nhiên Tổng thống
Mỹ vẫn còn dè dặt và anh cũng hiểu ý. Cuộc tiếp kiến này vẫn mang tính chất không chính
thức. Anh không phải là đại sứ đặc mệnh toàn quyền có mang trình Quốc thư ủy nhiệm.
GRANT muốn Bùi hãy trở về nước, lấy Quốc thư ủy nhiệm của vua Tự Đức, để được công
khai về mặt pháp lý quốc tế, sau đó sẽ mở hội nghị họp bàn quyết định về các điều ước và
tuyên bố chung…
Bùi Viện tức tốc xuống tàu về nước. Anh như đang sống trong mơ? Làm sao có thể tưởng
tượng nổi cuộc phiêu lưu của mình lại có thể đạt kết quả đáng kể, thành công rực rỡ đến thế?
Phải chăng lòng trời xui khiến ngầm giúp đỡ cho quốc dân ta, cho nên một chức quan nhỏ
nhoi như anh mà lại thuyết phục được cả nguyên thủ của một đại cường quốc.
Tàu Mỹ đưa anh cập bến Yokohama. Lại từ đây đi Hương cảng về lại Hải Phòng…
Từ Hải Phòng Bùi Viện vội vã lên bộ trở về Huế.. Vua Tự Đức hết sức vui mừng. Cuộc bệ
kiến được cử hành trong một buổi đại triều. Bùi Viện tạ tội với Vua Tự Đức về việc Đức Vua
sai đi cầu viện người Anh mà rốt cuộc mình lại tìm tới người Mỹ. Anh trình bày lý do, truyền
đạt lại những sự kiện trọng đại đã xảy ra tại Hoa Kỳ cùng tất cả những chuyện tai nghe mắt
thấy về cuộc sống ở Mỹ. Anh xin Đức Vua cho ủy nhiệm thư để tiếp tục sang Mỹ điều đình
và cầu viện.
Cả triều đình Huế như nằm trong chảo nóng. Họ nhao nhao phản đối. Họ sợ Hoa Kỳ giúp ta
khí giới tàu chiến để đánh Pháp, đến khi đánh Pháp xong chắc Hoa Kỳ lại ở lại chiếm cứ
luôn, lại đem “tà đạo” truyền bá… Vậy thì còn đâu là nền độc lập tự chủ? Lại xôi hỏng bỏng
không? Tấm gương Lê Chiêu Thống vẫn còn treo giữa trời đó! Trăm thứ sợ gieo lên đầu đám
già nua quần thần. Lại còn cái sợ nữa không tiện nói ra ấy là sợ một chàng tuổi trẻ đầu xanh,
đang từ một quan nhỏ bỗng chốc được Thiên tử phong chức cho làm Khâm sứ đại thần! Cái
sợ này làm máu ghen bốc hỏa lên đầu, làm mờ mắt cả đám đại quan…
Tự Đức cũng suy nghĩ nhiều. Hình như vị con trời cũng đã mệt mỏi, chán ngấy lũ quần thần
đa ngôn vô dụng, nên cuối cùng vẫn quyết định hạ chỉ phong cho Bùi Viện làm “Đại sứ toàn
quyền đại thần” đem Quốc thư sang trình tổng thống Mỹ.
Bùi Viện lạy tạ Thánh thượng, đoạn trở về khẩn trương chuẩn bị lên đường..
Lần thứ hai đi Mỹ này Bùi Viện thấy vững tâm hơn.
Bước chân tới Washington anh cảm thấy như có phần quen thuộc. Anh vội vàng xin tiếp kiến
GRANT. Nhưng chẳng hiểu vì sao chờ đợi mãi vẫn không thấy Văn phòng nhà Trắng trả lời?
Lòng anh quay cuồng nôn nao như đường phố thủ đô. Phải đến mấy tháng sau anh mới được
Tổng thống Mỹ tiếp. Thật ứng nghiệm với niềm khắc khoải, nỗi dằn vặt trong lòng anh bấy
lâu nay. Thời tiết chính trị đã đổi thay! chính phủ Mỹ thấy ông bạn Pháp đã ổn định được
3/4
tình thế, củng cố được nền bảo hộ ở Việt Nam nên cũng thôi không tiện can thiệp vào Việt
Nam nữa. GRANT tỏ vẻ hờ hững lạnh nhạt. Cái hờ hững lạnh nhạt vẫn thường có duyên cớ
bất chợt của anh nhà giàu trước kẻ nghèo.
Mối tình Việt Mỹ từ đó bị đứt đoạn.
Bùi Viện xuống tàu. Tim anh dường như tan nát. Nỗi tuyệt vọng, mối hờn vong quốc theo
chân anh về tới tận quê nhà. Đến Hải Phòng, chỉ còn cách mái nhà xưa một quãng đường anh
nhận được tin sét đánh, mẹ kính yêu của mình đã từ trần! Nhẩm tính lại mẹ mất đúng vào lúc
con đang trôi nổi lênh đênh ở đất Phù Tang. Nước cũng đã mất vào tay ngoại bang có tới ba
phần dư. Hai cái tang Nước, tang Nhà cùng lúc quấn quanh mái đầu xanh.
Những năm cuối đời của Bùi Viện không phải là những năm sống hoài sống phí. Sau hai lần
phiêu lưu, anh đã trau dồi thêm được bao kiến thức. Lại những đêm trăn trở dằn vặt. Mặc
cho nỗi đau lớn trong tim, anh vẫn gắng sống hết mình để “còn nước còn tát”. Những ý kiến
mới mẻ táo bạo của Bùi Viện được Vua Tự Đức xem trọng. Con người mệt mỏi vô vọng này
vẫn cảm thấy có cái gì xa lạ thậm chí hoang tưởng. Tuy nhiên, Thiên tử vẫn cho thực thi một
số đề nghị của họ Bùi về thủy lợi và quốc phòng ở mặt biển.
Bùi Viện mất sau một cơn bệnh nặng vào ngày 2/11 – năm Tự Đức thứ 31 (1878). Một cuộc
đời với 34 năm! Nhưng nỗi đau mất nước và niềm mơ ước về một công cuộc đổi mới xứ sở
của anh vẫn còn sống mãi với thời gian.
Mối tình Việt Mỹ bị đứt đoạn và dở dang?
Có lẽ, chỉ có Thượng đế mới giải tỏa được câu chuyện này!
CLQ (nhà văn)
[*] Đại tướng,Tổng thống thứ 18 của Hoa Kỳ, nhiệm kỳ từ 1869 đến 1877.
HT Bauxite Việt Nam biên tập.

4/4