Một bài tập nhỏ dành cho những sinh viên thần học

Helmut Thielicke (1908-1986) là một trong những nhà thần học có ảnh hưởng lớn trong thế kỷ 20. Ông là giáo sư môn Thần học Hệ thống và là Hiệu trưởng Đại học Hamburg của Đức từ năm 1960 đến 1978. Cuốn sách mỏng “Một bài tập nhỏ dành cho những sinh viên thần học” khởi đầu là một tài liệu mà các sinh viên phải đọc trước khi tham dự giờ lên lớp đầu tiên của giáo sư Thielicke trong mỗi khoá học, bắt đầu từ năm 1959 trở đi. Hơn 40 năm sau, cuốn sách mỏng chưa đến 40 trang đã này đã gần như được xem là một tác phẩm kinh điển dành cho nhiều đối tượng. Những sinh viên mới bắt đầu, những nhà thần học dày dạn kinh nghiệm, và những mục sư đã rời giảng đường từ rất lâu, tất cả đều nhận được nhiều điều sâu sắc khi đọc tập sách này.

Nội Dung
1: Thỏa thuận sơ bộ đối với người đọc........................................................................................ 2 2: Mối lo âu về thần học của những Cơ Đốc nhân thông thường ................................................. 3 3: Những kinh nghiệm không vui khi đón một sinh viên thần học trở về ..................................... 4 4: Sự biến đổi khẩu âm thần học ................................................................................................. 5 5: Cú sốc với những khái niệm thần học ..................................................................................... 7 6: Lối nẻo kiêu ngạo của những sinh viên thần học ..................................................................... 8 7: Sự khôn ngoan của thế gian trở thành đồng minh của đức tin ................................................ 10 8: Thiên hướng của con cái Đức Chúa Trời .............................................................................. 11 9: Giáo lý học – một môn nghệ thuật cao quí và đầy khó khăn .................................................. 12 10: Sự nguy hiểm của cái đẹp ................................................................................................... 14 11: Học thần học đi đôi với sự cầu nguyện ............................................................................... 15 12: Căn tính thiện/ác của thần học ............................................................................................ 16 13: Kinh nghiệm những cao độ thần học ................................................................................... 17

và làm thế nào sự sống Cơ Đốc có thể sống sót trong môi trường thần học – không chỉ sống sót. . Trong khi đó. chỉ có thể trình bày mà hiếm khi có các luận cứ đi kèm. phong phú hơn. Nhưng có lẽ đa số những gì tôi trình bày cũng có thể áp dụng cho các mục sư.1: Thỏa thuận sơ bộ đối với người đọc Là một giáo sư từng trải tại Tubingen. điều đó không có hại gì cho cả các giáo sư lẫn sinh viên. Với môn thần học. Hy vọng độc giả tốt bụng sẽ hiểu và khoan dung với điều này. và chính mình vẫn thường bày tỏ ra rằng thần học cần phải đi liền với sự sống. những ý kiến ngoài lề này. Vượt khỏi cái nhìn của một giáo sư thần học. do bản chất đặc biệt của chúng. mà đặc biệt là trong xã hội ngày nay nó càng trở nên rõ rệt hơn. chúng ta sẽ bắt đầu bằng cách suy gẫm về việc làm thế nào mọi chuyện có thể phù hiệp với đời sống Cơ Đốc của mình đang khi chúng ta học thần học. Và phần linh hồn của mọi sinh viên thần họ c thì thường đang ở tình trạng bị đe dọa về mặt thuộc linh. về cả nội dung lẫn hình thức. Theo thiển ý của tôi. và giúp họ nhìn thấu qua những hạn chế của chính họ thời còn là những sinh viên. có thể xem tập sách này như là một báo cáo nhỏ về những gì đang diễn ra trong các trường thần học của chúng ta. Đây là chủ đề chính mà tôi sẽ trình bày. vì thế. Có lẽ qua những sự suy gẫm này các mục sư đang thi hành chức vụ sẽ không chỉ thấy những hồi ức được sống lại – mặc dù điều đó là chắc chắn – nhưng cũng cảm thấy những khó khăn cụ thể về mặt thần học của họ đang được chỉ ra. Tôi cũng thường đi lan man ra khỏi bài giảng trong lớp học của mình như vậy. Một cách tự nhiên. tập sách này cũng có chức năng tương tự như là những lời suy gẫm thuộc linh và cầu nguyện mà Anselm đã viết trong Lời mở đầu (Prologue) của những công trình nghiên cứu của ông. nhưng làm thế nào để nó có thể trở nên sâu sắc hơn. Xin nhớ rằng một bài giảng trong lớp học không thể tách rời khỏi những phương pháp suy luận chặt chẽ và giới hạn an toàn cho phép của nó. những người đang ở trong chức vụ mục sư có thể tìm thấy ở đây những lời giải thích về những cung cách lạ lùng của một sinh viên thần học hay một phụ tá non nớt của mình. Xin hãy xem tập sách mỏng này như là một bài tập thuộc linh nhỏ mà tôi muốn dùng để bắt đầu lớp học. Không phải chỉ trong xã hội ngày nay điều này mới xảy ra. đều khác biệt rất rõ rệt so với phong cách và chủ đề của các bài giảng thần học chính qui. họ còn là những linh hồn mà mình đang phải chịu trách nhiệm. bởi vì những ý kiến ngoài lề này. Johann Tobias Beck đã nhiều lần dùng bục giảng như là tòa giảng trong các buổi lên lớp của ông. Các mục sư. và có kết quả hơn. Chúng ta vẫn thường nghe. Lắm lúc tôi phải tự nhắc mình rằng những thính giả mà tôi đang nhìn thấy và lắng nghe không chỉ là những sinh viên.

hoặc giả kiêu ngạo cho rằng những vấn đề thần học đó không can hệ gì đến những người thường. . sự hồ nghi đó hoàn toàn không phải là ngờ nghệch. là những người nghiên cứu thần học. và nếu người đó nghĩ rằng (dù hiếm khi nói ra) rằng những người vô sản thuộc linh không thể hiểu được những vấn đề thần học tinh tế. và càng dễ dàng cho anh ta lên mình kiêu ngạo tự cho mình là thành viên đã được kết nạp vào một tổ chức thần học cao cấp. nếu một nhà thần học lại không lắng nghe một cách nghiêm túc những lời chỉ trích của một người thợ giặt hay một người làm công ăn lương. Và chúng ta. Người đó thậm chí có thể cảm thấy rằng những Cơ Đốc nhân thông thường không thể hiểu được một số điều nào đó. Ở đây tôi chỉ cần gợi ý để bạn có thể nhớ lại trường hợp của chính mình. nếu như một hội chúng bình thường đôi khi bày tỏ sự nghi ngờ về việc học thần học. và chống lại việc các sinh viên nầy đang quăng mình vào những chiếc vòi bạch tuộc của các giáo sư không tin kính. Những lời cảnh báo. Khó mà tìm được một sinh viên thần học nào mà lại chưa từng được những tín đồ mộ đạo cảnh báo một cách tha thiết và mạnh mẽ. Người ta chống lại việc sử dụng những công cụ khoa học trong việc nghiên cứu Kinh Thánh. ví dụ như là những vấn đề phê bình Kinh Thánh dựa vào lịch sử. chống lại việc học “những câu hỏi mang tính nghi ngờ [đức tin]”. Và nếu muốn mình là những người làm công tác thần học nghiêm túc. Nó được hỗ trợ bằng những lý luận có tính nguyên tắc và kinh nghiệm rõ ràng. tại sao cần thêm những khí cụ khác ngoài đức tin.2: Mối lo âu về thần học của những Cơ Đốc nhân thông thường Nếu như Rudolf Otto đã có lần nói rằng Đấng Chí Thánh vừa có sức thu hút mà vừa thật đáng kính sợ (both numen tremendum and numen fascinosum). Tôi phải nói như thế nào đây? – Chúng ta phải suy nghĩ và làm việc với nhận thức rằng mình là một phần của cộng đồng Cơ Đốc – và vì cộng đồng đó luôn có những quan tâm chính đáng đến sức khỏe thuộc linh của chúng ta. suy nghĩ cho chính cộng đồng đó. Nói cách ngắn gọn. không cần sự hỗ trợ của tâm trí – nghĩa là không cần đến sự khôn ngoan của thế gian – hoặc nói cách khác. những mối lo âu luôn đem đến nhiều trở ngại cho cuộc sống thanh bình của chúng ta. chúng ta cũng có thể nói về thần học như vậy: đối với nhiều người thần học thật đáng sợ. thuộc về một Hội thánh sống động. và cho rằng không thể nào giải thích được cho họ hiểu. lúc nào cũng phải đối diện với vấn đề này. và phải suy nghĩ nhân danh cộng đồng đó. chúng ta phải suy nghĩ từ bên trong cộng đồng dân sự của Đức Chúa Trời. rốt cuộc do đâu mà có? Một Cơ Đốc nhân thông thường không muốn đi sâu vào chi tiết của câu hỏi như tại sao Lời của Đức Chúa Trời lại cần được suy xét theo những chiều hướng khác với đức tin đơn sơ. anh ta càng dễ tự cho phép mình cười vào những lời chỉ trích chấc phác đó. thì chắc chắn có những điều không đúng đắn với thần học của người đó. Hễ những câu hỏi này được đặt ra sớm chừng nào trong tiến trình của một sinh viên thần học. tôi cảm thấy mình có trách nhiệm phải khảo sát vấn đề này. Tuy nhiên. sẽ có rất nhiều lý do để sợ thần học. Những Cơ Đốc nhân thông thường.

‟ hoặc có thể là „chủ nghĩa giám lý‟. y như là mộ t người chuyên ngồi lê đôi mách không thể nhịn được phải tung ra một tin sốt dẻo. đã kể lại theo cách của riêng ông với một sự hài hước mang đầy vẻ châm biếm như sau: Hãy tưởng tượng cảnh một thanh niên trẻ trung hoạt bát . Và vì thế những bạn trẻ sẽ có ấn tượng tốt về anh. có nghĩa là vào lúc các bạn đều đã quá bối rối không dám giải thích Kinh Thánh khi có sự hiện diện của anh. Tuy nhiên. Nếu một người nào trong số họ. Wilhelm Busch. Anh đã gặp Chúa Giê-xu. trong con mắt của những người bạn cũ. ví dụ một anh thợ thủ công trẻ tuổi. trên đường trở về nhà. Anh cảm thấy hạnh phúc được bước theo lời kêu gọi này. nhưng cũng có khi xem xét cẩn thận các tài liệu sẵn có.‟ „chủ nghĩa chính thống. họ sẽ mời anh tự hướng . Còn lại thì anh chuyên tâm cầu nguyện. Hơn nữa. chàng trai của chúng ta sẽ ngồi ở một góc phòng với những cái nhếch mép. và bây giờ đang sống để làm chứng về điều đó. huyền thoại. Để làm điều đó anh không cần đọc các sách giải kinh.3: Những kinh nghiệm không vui khi đón một sinh viên thần học trở về Tôi đã nói rằng nhiều thành viên trong Hội Thánh thường lập luận từ kinh nghiệm và từ các nguyên tắc. Vì thế anh thường thỉnh thoảng hướng dẫn giờ tĩnh nguyện.” Và anh sẽ hạ cố giải thích cho bạn những từ ngữ xa lạ mà ai cũng thừa biết chính là kết quả của những sự học hỏi mang tính học thuật của anh. anh sẽ phân loại bạn của mình bằng những từ ngữ thu lượm được ở những giảng đường thần học. Chúng ta sẽ nói đến các lập luận từ kinh nghiệm trong chương này. anh đã đột nhiên thay đổi một cách khủng khiếp. Người ta thường hay đề cập đến nó với một vẻ buồn thảm và rầu rĩ. tôi phải vẽ nên một sự kiện mà không xa lạ gì lắm với các bạn. Khi anh trở về nhà sau mùa học thứ ba. vì công việc nghiên cứu mà anh sẽ làm lúc nào cũng gần những điều mà anh yêu mến. chẳng hiểu gì về tính cách pháp lý của sự xưng công bình. có lẽ anh cũng hỏi mục sư một vài điều khi có thắc mắc. Để có thể gây ấn tượng với các bạn về loại suy luận này. Anh bảo với người bạn chưa đi học của mình rằng: “Những gì cậu nói chính là điển hình của „chủ nghĩa khắc kỷ. Bởi vì anh nuôi dưỡng niềm hy vọng rằng nó sẽ dẫn anh đi sâu hơn vào Kinh Thánh và mở ra cho anh hiểu những gì còn đang mập mờ. anh sẽ giải thích cho bạn của mình về những “khám phá mới nhất” về các đề tài thần thoại. Hễ điều gì làm ra từ một đức tin sống động thì tự nó có sự sống. và về cả việc nghiên cứu hình thức-lịch sử của các bản văn.” Anh nói thêm: “Cậu thuộc về phái Osiander. tin rằng Chúa sẽ ban cho anh những sự hiểu biết đúng đắn về mọi sự và gìn giữ anh khỏi nói lan man. Có ai mà không hạnh phúc vì được sống theo điều mà lòng mình ao ước bao giờ! Khi anh trở về nhà sau mùa học đầu tiên. Và ngay trước khi người bạn có thể hoàn hồn. người lãnh đạo trẻ tuổi này cảm thấy hạnh phúc và anh quyết định đi học thần học. Sau đó. hướng dẫn giờ học Kinh Thánh. có quan hệ tốt với những bạn đồng trang lứa trong những sinh hoạt dành cho giới trẻ tại Hội Thánh nhà. một vị mục sư chăm sóc thanh niên rất có năng lực tại Essen.

khi một việc như vậy diễn ra. anh đã ca hát giúp vui cách sống động làm cả lối xóm đều yêu thích. Dàn hợp xướng nào cũng có tánh tò mò khủng khiếp. không thể nào sánh được với những lúc ở đồng cỏ quê nhà. anh này chỉ hát với một giọng tồi tệ vô cùng. Trong thần học chúng ta bàn về các hình thức bên ngoài. Một nỗi đam mê hết lòng đôi khi đồng nghĩa với việc toàn bộ cách nói và nghĩ sẽ cần được vay mượn từ một nhóm người nào đó. Có một khoảng cách chênh lệch giữa mức độ trưởng thành thuộc linh của một sinh viên thần học . Trở lại vấn đề chính. 4: Sự biến đổi khẩu âm thần học Tôi không hề có ý định buộc tội các sinh viên thần học. và ẩn chứa đằng sau nó là những kinh nghiệm thuộc linh sâu sắc. nhiều lãnh đạo xuất sắc của Hội Thánh đã phải dốc hết sức mạnh thuộc linh của mình. Những cơ bắp mạnh mẽ của một Cơ Đốc nhân trẻ trung hoạt bát đang bị bóp nghẹt trong chiếc áo giáp nặng nề của những tư tưởng trừu tượng. ráng xem một thành viên của họ. sự thất vọng thật là vô bờ bến: với một vẻ mặt đầy điệu bộ và những cử chỉ mạnh bạo toát cả mồ hôi. Bằng cách trình bày những nguyên tắc của khoa giải kinh. Bạn có thể thấy rõ rằng những sinh viên thần học chưa thể nào phát triển thuộc linh cho ngang bằng với tri thức về những giáo lý này. điều này cũng đúng đối với các sinh viên thần học. sẽ hát ra sao trong chuyến về thăm nhà đầu tiên. và đáng trở nên một nỗi đam mê mãnh liệt. Điều này khiến chúng ta hiểu tại sao nhiều Hội Thánh đã không cảm thấy được khích lệ qua những kinh nghiệm như vừa kể. mà cũng không muốn châm biếm họ. và cũng hiểu được tính xác thực và sự phát triển của giáo lý đó qua dòng lịch sử. lịch sử đã chứng kiến nhiều cuộc tranh đấu sinh tử quyết liệt. Nếu người ta có thể trông đợi điều gì hơn từ cuộc thảo luận sau đó. một giọng nam trầm được huấn luyện tại một học viện quốc gia âm nhạc. một sinh viên 20 tuổi có thể được hướng dẫn để suy nghĩ về những vấn đề khó khăn của Giáo lý Tam vị Nhất thể. Nhưng mà. anh cũng sẽ cho thấy tài năng đáng kinh ngạc trong việc đưa ra những nhận xét làm tê liệt bầu không khí sống động và cách suy nghĩ đơn giản của những người xung quanh. Trước tiên.dẫn một buổi học Kinh Thánh. Ngày nay. mặc dù tôi biết rằng vì yêu cầu trình bày rõ ràng và ngắn gọn tôi đã nói hơi gay gắt. và không đánh giá cao việc giảng dạy thần học trong các trường đại học. anh chỉ đưa ra những điều tầm phào khô cứng. ngay cả trong lúc đó. chúng ta đang gặp phải một hiện tượng phát triển khá tự nhiên. Những gì mà chúng ta đã nói đến có hai nguyên do như sau. đó cũng chỉ là lớp vỏ ngoài của kinh nghiệm thuộc linh bên trong. Vì giáo lý này. Những suy nghĩ về thần học có thể. chúng ta cần những lời cảnh báo mạnh mẽ. là kết quả của những từng trải thuộc linh đã được phát triển qua hàng thế kỷ nhờ vào những nhân vật kiệt xuất của Hội Thánh. Vì thế. Để giải quyết những khó khăn này. Mặc dù tâm trí người đó có thể hiểu được lô -gíc của vấn đề.

Trong cuốn sách viết về Goethe. rất dễ dàng để một người tự động cho rằng như thể tự mình đã trải qua những kinh nghiệm đó. Anh ta đang phát triển nhanh và xem có vẻ như không còn ngờ nghệch nữa. Tuy nhiên. Vì thế sự sống và kinh nghiệm của người đó chỉ là gián tiếp. và đã phải thay thế bằng nhờ “tri giác hóa” những kinh nghiệm của người khác. Người đó đã không tự mình kinh nghiệm được một vài lẽ thật nào đó. Nói cách ẩn dụ. Em bé cần phải có thêm thời gian để tiếp tục lớn và có thể mặc vừa chiếc quần dài của những giáo lý Cơ Đốc. Đây là đặc tính của tuổi mới lớn. và về cả sự mâu thuẫn mà Luther đã nói rằng con người vừa công bình vừa tội lỗi cùng một lúc (simul justus et peccator). Những phép biện chứng và mâu thuẫn kiểu này là cách mà một Hội Thánh biết tuân giữ theo luật pháp [của Đức Chúa Trời] sẽ sử dụng để vượt qua những bất đồng hung hiểm nhất. nhưng cũng là kết quả của những thất vọng thường lặp đi lặp lại. . và cả những giây phút tuyệt vời khi được an ủi. một sinh viên trẻ có lẽ chỉ mới bắt đầu kinh nghiệm rằng. trong đức tin của chính người thanh niên đó. về mặt trí lực. anh ta chưa từng đi xa đến vậy! Những sinh viên thần học. Nhưng bởi vì những sự nhận thức nhờ vào kinh nghiệm thuộc linh của người khác có thể cũng mang đầy sự sống và say mê. Trong thực tế. và có thể khó mà biết được. dưới ảnh hưởng của học thức theo lối này thường hay phát biểu những câu sáo rỗng. Trong suốt thời gian đó. Anh ta rơi vào cái bẫy tự đồng hoá mình một cách sai lầm với người khác. Gundolf nói đây chỉ là một kinh nghiệm chỉ ở phạm trù khái niệm. Về mặt thuộc linh. Đây thật sự là một sự dậy thì về mặt thần học. Sẽ rất sai lầm khi để cho một người trong giai đoạn này đứng trước hội thánh như là một giáo sư. mặc dù cuộc sống riêng tư của chúng ta hoàn toàn không đáp ứng được những tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời. việc học thần học thường hay sản sinh ra những thanh niên mà vẻ bên ngoài thì quá lớn trong khi những xương cốt bên trong chưa phát triển kịp với độ lớn. người sinh viên đó giống như một em bé đang phải mặc một cái quần của người lớn. hoặc hầu như không một chút gì về những điều này. hay có lẽ đang giảng một bài của chính anh ta.trong một lĩnh vực và sự hiểu biết của người đó về lĩnh vực đó. của những nỗi băn khoăn vô bờ bến. mặc một cái quần thùng thình sẽ trông rất buồn cười và không đẹp chút nào. Trong cuộc sống riêng tư. đó chỉ là một trường hợp của tri giác và anh ta đã trở thành nạn nhân của những kinh nghiệm rút ra từ phạm trù khái niệm. Nói cách khác. Chúng không chỉ là kết quả của sự mãnh mẽ đầy năng quyền. Mọi giáo sư đều biết rằng đây là một dấu hiệu phát triển tự nhiên và không có gì cần phải bị kích động cả. có lẽ không biết gì. ví dụ như Luther. Các Hội Thánh cũng cần phải hiểu điều này và phải được giải thích rõ ràng bằng mọi cách có thể có. Rất dễ để một người hoàn toàn say mê những suy nghĩ nóng cháy của Luther và rơi vào trong cái bẫy ảo tưởng rằng cách hiểu này và cách bày tỏ này mới chính là đức tin thật. Người sinh viên đang ở vị trí lặp lại một bài giảng về Luther. người này đã bắt đầu suy nghĩ về mâu thuẫn giữa luật pháp và Phúc Âm. chúng ta vẫn có thể tiếp tục sống một cách tự tin và được tự do dưới sự tha thứ của Ngài.

Họ đã dập tắt ngọn lửa nhỏ đang được thắp lên trong cuộc sống thuộc linh của người này qua một câu hỏi rụt rè bằng chính sự thô lỗ của mình. và trong giai đoạn định hình này những sinh viên thần học không nên giảng. và họ đã có thể thuyết phục được người thanh niên kia. Trong thời gian đổi giọng chúng ta không hát. họ mím chặt môi. hay là Hamburg. Bởi những cách trình bày như thế một người có thể bị dập tắt và bóp nghẹt! Anh chàng sinh viên y khoa cảm thấy thật cay đắng. và cũng chưa có thể tự sản sinh ra một cái gì tươi mới nhờ đức tin cá nhân dựa trên những điều mà anh ta đã học hỏi và suy gẫm.” “nguyên lý giải kinh. Erlangen. Những từ ngữ chuyên ngành lạ lùng bay tới lui xung quanh hai lỗ tai của anh chàng không chuyên. Ví dụ. phác họa câu hỏi. họ đang sử dụng liệu pháp sốc – chỉ có điều nó không phải là một “liệu pháp” thật sự. Anh ta chưa đạt đến mức độ trưởng thành để có thể tự nuôi mình bằng lẽ thật . Và giữa tiếng vang của những từ ngữ như “thuyết cộng quan. Chúng ta cần phải kiên nhẫn và biết chờ đợi. tôi cho rằng những người ở đây không quan tâm đến điều này. Thay vào đó họ lại sai lầm khi nghĩ rằng đó là một chiến thắng. Với những ngọn giáo hạ thấp. Dù cho họ chẳng có gì nhiều để nói. một sinh viên y khoa trẻ tuổi có một câu hỏi mà anh ta rất nôn nóng để phát biểu trong giờ học Kinh Thánh. thay vì thuyết phục được người này. Nhưng cuối cùng anh cũng kiểm soát được trái tim rộn ràng này. Bây giờ bạn có thể thấy cách mà những nhà thần học trẻ tuổi “chuyên nghiệp” của chúng ta cảm thấy đến lúc cần nhảy lên võ đài. 5: Cú sốc với những khái niệm thần học Ở đại học nhiều người trong chúng ta đã chứng kiến nhiều trường hợp có thể minh họa điều này. Tubinggen. Vì những lý do trên mà tôi không bao giờ chịu nổi bài giảng của những sinh viên năm nhất còn đang mặc tã lót bên trong áo chùng. và những điều ít ỏi họ nói có thể sai. Nhưng thật ra. theo bản năng thường nhạy cảm một cách bất thường.” “lai thế học hiện thực. anh ta vẫn chỉ là rất ngờ nghệch. Những người thành khẩn và nghiêm túc.” anh ta vội vã trốn tránh. Tôi không thấy trong họ những sự sống hay lẽ thật rút ra từ kinh nghiệm thực tế. Chẳng có gì khác biệt cho dù đó là Gottingen. Và những sinh viên thần học không hề cho rằng sự trốn tránh này là biểu hiện của một sự tuyệt vọng vì không được giúp đỡ. Tôi ngửi thấy mùi chết chóc của những ý tưởng không hề sống động. tiến bước mạnh bạo. Tôi thà quay trở về với những bạn không theo đạo còn hơn. Và bản năng này khiến anh ta nói rõ rằng: “Mặc dù số phận và cuộc sống của tôi có thể đang ở tình trạng nguy hiểm đời đời. Tôi đã ráng tìm một Cơ Đốc . và cho phép mình trình bày hết mọi điều mình nghĩ cho dù có thể bị người khác đưa ra một vài ý kiến chỉ trích. Họ nên giữ im lặng.Nhưng thật ra. nhịp tim anh bỗng đập nhanh hơn.” “chính thống và phi chính thống.” “luật tiên tri theo bối cảnh thời gian. ít ra họ cũng thật lòng. quyết định đứng dậy. họ chỉ đến đây theo thói quen. và tay kia vẫy cờ trắng. và bị kích động lẫn lúng túng. cố gắng kìm một tiếng reo hò chiến thắng. Heidelberg. một tay che mặt. Dưới áp lực phải đặt thành câu chữ. họ tấn công anh chàng khốn khổ của chúng ta.

tôi biết các anh cảm thấy tổn thương khi tôi nói với những lời nặng nề và có vẻ cường điệu như thế. nhưng mà tôi chỉ là không quen. Đó là sự ban cho. thường hay bị mâu thuẫn tồi tệ bên trong tâm trí.nhân có mang lửa sự sống. Tôi chỉ tìm thấy một nhúm xỉ than đã tàn rụi. trong khi nhận lấy lẽ thật này. Lý do chính của việc này là ở trong con người chúng ta hiếm khi lẽ thật và tình thương đi cùng với nhau. Người ta thấy rõ rằng những buổi học Kinh Thánh ở các trường đại học không có khoa thần học thì thường có sức sống và thoải mái hơn. anh ta phải học những tín lý của Cộng Đồng Chalcedon và cả hình thái lịch sử của các sách Tin Lành cộng quan. một vài triệu chứng của căn bệnh thật sự đã xuất hiện. và biết thêm điều kia. Tri thức là sức mạnh. có nghĩa là anh ta đang phải đồng chết với Đấng Cứu Chuộc của tội nhân và là người Anh Cả của những người hư mất. rằng thần học làm cho các sinh viên trở nên kiêu ngạo và nhen nhóm trong anh ta một sự tự cao về tri thức. Và. Tình thương không tự cao. Nhìn từ một góc độ khác. 6: Lối nẻo kiêu ngạo của những sinh viên thần học Chúng ta đang nói đến những điều thuộc về quy luật tự nhiên và không có gì đáng phải ngạc nhiên. là những người chỉ biết cầu nguyện với Đấng Cứu Chuộc của tội nhân và trung thành với những phép lạ đã được ghi lại – mà anh biết rằng nhiều người khác có lẽ chỉ cho đó là huyền thoại. Nó là điều ác bởi vì lẽ thật thần học luôn đi liền với tình yêu của Đức Chúa Trời. Anh ta đang học về Ki-tô học. Có thể có sức nóng ở bên dưới. Vì thế những nhà thần học. Khi một nhà thần học để cho niềm đam mê chiếm hữu lẽ thật giết chết yêu thương. Lẽ thật thường hay quyến dụ chúng ta vào sự vui mừng của việc sở hữu một thứ gì đó: Tôi đã hiểu điều này và điều kia. chúng ta sẽ thấy nó giống như hình ảnh đã mô tả lúc đầu. Vì thế tôi phải hơn những người không biết điều này điều kia. Các anh thừa biết rằng tôi không hề nghi ngờ giá trị của một khoa thần học – thật ra tôi tin theo hướng gần như ngược lại – nhưng ở đây. học điều này. Những ai nghiên cứu về lẽ thật – như chúng ta là những nhà thần học đang làm – thường không chịu thua dễ dàng trong tâm lý của một kẻ đang chiếm hữu. và cũng bị cám dỗ nhiều hơn. tôi đang nói về những khó khăn của tuổi “dậy thì” về mặt thần học. mà cũng không thấy cái ngọn lửa đang được dấu kín này. Các tín đồ có một nhận xét rất chính xác trong trường hợp này. ít nhất là những người trẻ tuổi. Tôi có nhiều khả năng hơn. Liên hệ với những điều này. với việc Ngài tìm kiếm và chăm lo cho những linh hồn. Khi một sinh viên thần học trở về nhà. anh ta lại hợm hĩnh xem thường những Cơ Đốc nhân bình thường.” Các sinh viên thần học thân mến. Chúng ta cũng có thể lý giải chính xác tại sao. nhưng khiêm nhường hạ mình. Nhưng tình thương thì ngược lại với ý chí chiếm đoạt. . đó là một điều ác. Nhưng tôi đành phải phóng đại chút ít để cho thấy tôi xem những lời khuyên của mình là nghiêm trọng dường nào: hãy cố kiềm chế bản thân các anh với những khái niệm thần học.

và vì thế làm cho người kia cảm thấy tuyệt vọng. mà ở vị trí mục sư thì sự nguy hiểm càng nhiều hơn. chính là đè bẹp người đối diện bằng ấn tượng về một sự thông thái mà ông ta có lẽ không bao giờ đạt đến.e. nó sản xuất ra một loạt những mục sư không phải chăn dắt. Không phải là một bầu nhiệt huyết đầy tinh thần thượng võ đã khiến anh sinh viên cảm thấy có bổn phận bảo vệ một cách hăng say khi thấy Bultmann bị hiểu lầm như vậy. vì cảm thấy bất đồng với tiếng tăm của Bultmann. và tạo nên sự giận dữ của người chủ nhà. cả hội chúng. thậm chí họ chống lại thẩm quyền của mục sư. Bultmann) không hề hứng thú mộ t chút nào. kể cả ở những dạng đang được trừu tượng hoá. Người ta có thể thấy rằng sự hứng thú tranh luận anh sinh viên chỉ có can hệ rất ít đến tình yêu thương Cơ Đốc phải dành cho người lân cận mình. Một cách có thể thông cảm được. Kể cả những mục sư thực thụ cũng có thể mắc bệnh. không cần phải nghi ngờ gì. Sự bất lực về trí óc. và cuối cùng là bỏ nhóm. thay vào đó là cảm giác cần chiến thắng của người Pha -ri-si. một người đáng mến và mộ đạo một cách rất thành kính đến từ Swabia. Cũng như Barth và Ritschl cũng không mặn mà gì với những người tự nhận là theo trường phái Barthian và Ritschlian. Đây chính xác là căn bệnh của những nhà thần học. cộng với sự lo lắng về một thứ tà giáo được gạch dưới bằng mực xanh và đỏ. nhưng huỷ diệt Hội Thánh. và những người trẻ bắt đầu than thở. là phương tiện để giết chết tình thương. Nó nằm ở trong sự mâu thuẫn giữa lẽ thật và tình thương. Ngày nọ một sinh viên tại Tubingen đã tình cờ đề cập đến Bultmann với chủ nhà của anh. Mục đích của anh ta. . Như bệnh trẻ con. Và anh ta đã ấn vào tay con người mộ đạo không hề biết tiếng Hy Lạp cuốn Thần học Tân Ước của vị giáo sư đại học Marburg. chàng trai trẻ này vẫn đủ khí chất Pha-ri-si để không nghe bất cứ một lời nào. anh sinh viên cảm thấy mình ở một vị trí và trình độ hơn hẳn những người mà trong mối tương giao cá nhân của họ với Đấng Ki-tô đã hoàn toàn không biết gì đến những vấn đề về con người lịch sử của Chúa Giê-xu hoặc những mục tiêu của sự cứu rỗi. Sự kiêu ngạo này thật sự là một căn bệnh thuộc linh. nhưng làm cho ông chủ nhà trở nên tuyệt vọng – bởi vì những sự giáo dục mà ông ta có được không thể sánh bằng cái quyển sách đang ở trước mặt – và đã bóp nghẹt những lời phê bình đơn giản về phương pháp phê bình Kinh Thánh theo lịch sử bằng cách quẳng lên trên nó một tấm phản lý luận dày cứng và nặng nề. nó thường là cấp tính. Anh ta đã hành động với mục đích không phải giúp người kia hiểu thêm những gì mà các thần học gia đã phát triển. của người chủ nhà mộ đạo đã sản sinh ra một thứ niềm vui độc ác trong bản thân chàng sinh viên của chúng ta. Và nếu những chấp sự. cũng không hướng dẫn một cách nhẹ nhàng dựa trên những tri thức mà người kia có thể nắm bắt. Một vài năm sau. và cùng lúc đó. Vấn đề là ở chổ anh sinh viên của chúng ta là một người theo trường phái gọi là Bultmannite – một cái nhãn mà người được lấy tên để đặt cho (i. được gạch dưới xanh đỏ chi chít. con người mộ đạo thẳng thừng cho rằng Bultmann là hiện thân của quỉ dữ. Ở đây lẽ thật đã được dùng để làm phương tiện cho những chiến thắng cá nhân.. vì một lẽ bình dị nó tương phản với tình thương.Khi xa rời khỏi sự suy gẫm thuộc linh.

và ngươi có thể xưng là công bình.” Họ nghi ngờ thần học bởi vì môn học này muốn làm giảm nhẹ những công việc táo bạo của đức tin bằng cách liên minh với tri thức. Những hàng ghế trống này chứng nhận cho lời nói của tôi. có lẽ chúng ta đã quên mất mục tiêu của việc nghiên cứu thần học. Cho dù chúng ta đã giải quyết được đa số những khó khăn do nó gây ra. Tôi không nói về họ. Nhưng điều này không ngăn chúng ta khám phá cái câu hỏi thật sự bên trong để học cách cảnh giác chính mình. Ở đây tôi không hề muốn đánh giá thấp đức tin trong mối tương quan thần học. anh ta liếc nhìn một cách đắc thắng trên những dãy ghế trống trong nhà thờ và tự nói với mình: “Thoải mái đi. đang trung tín và chân thành trong chức vụ nhưng đang mòn mỏi vì cớ những mảnh đất lòng đầy sỏi đá xin hãy tha thứ cho nhận xét vừa rồi của tôi. những hàng ghế trống trong nhà thờ cũng có thể làm chứng cho sự trung tín của những đại sứ Nước Trời. “Tôi tạ ơn Ngài. . 7: Sự khôn ngoan của thế gian trở thành đồng minh của đức tin Những Cơ Đốc nhân bình thường còn chỉ trích thần học trên một phương diện khác. chạy theo thị hiếu hoặc ưa nói điều dễ nghe để khiến cả nửa thành phố chạy theo họ.” hoặc. còn có những sự nghi ngờ mang tính nguyên tắc. Nhưng chúng ta tự hỏi điều gì ở đằng sau sự chỉ trích bởi lòng mộ đạo sùng kính mà ra. nhân danh lẽ thật ngươi đã tạo ra một chuyện gây xôn xao nhưng đầy chính đáng. Ngoài những lý luận mà họ có được từ kinh nghiệm mà đã trình bày ở trên. Nếu phải hỏi tại sao niềm tin cần phải có những sự hỗ trợ mang tính khoa học. và sợ rằng đến một lúc nào đó sự khôn ngoan của thế gian sẽ trở thành một yếu tố chủ đạo trong việc học hỏi Kinh Thánh. hỡi linh hồn ta. vì họ được tạo nên bởi những chất liệu khác. Họ thường lý luận như sau: Tại sao lại cần có một loại tri thức đặc biệt nào đó để hỗ trợ cho đức tin? Chẳng phải đó là sự kiêu ngạo khi cho rằng cần phải có những lý luận sắc bén về Kinh Thánh để làm cột trụ chống đỡ cho đức tin? Chẳng phải làm như vậy là đặt những tri thức của thế gian lên làm thầy giáo của Kinh Thánh? Dĩ nhiên. Những điều mà họ quan tâm không gì khác hơn là “đức tin là tất cả” và “Kinh Thánh là tất cả. những câu hỏi kiểu này chỉ bày tỏ được một sự chống đối thần học rất ngây ngô. rằng tôi không phải là những kẻ kia. nhưng ở một chiều hướng rất khác biệt với những người ưa gây tranh cãi phiền nhiễu.Ngược lại. Điều này khiến chúng ta nhớ lại những khuôn mẫu thần học của thời Khai Sáng . hỡi Chúa. khi mà sự tri thức và suy luận lô-gíc được áp dụng. thứ tư. Cũng như những trẻ em có thể ca ngợi Đức Chúa Trời. nhưng khuynh hướng thoả hiệp vẫn còn ảnh hưởng đến những tâm hồn chấc phác của thế hế thứ ba. Họ cảm thấy rằng mệnh đề “Kinh Thánh là tất cả” sẽ bị suy yếu đi khi gặp những lời phê bình của loài người.” Những anh em chăn bầy thật sự. và tiếp sau đó vẫn còn.

Ví dụ. Kahler nhấn mạnh hai điểm sau. thần học không bao giờ có thể “chứng minh” được những gì mà người ta đang giảng. những người đã từng suy nghĩ về điều này đề nhận thấy rằng không thể nào trả lời thoả đáng những lời chỉ trích này. với những mối quan hệ chính xác với đề tài nghiên cứu. và những điều chỉ dùng để giảng đạo – có phải chúng ta không hề nghe thấy những gì Martin Kahler đã trình bày nhằm chống lại cái gọi là phương phá p phê bình rút gọn [Kinh Thánh] một cách rất ư thuyết phục theo đúng lý luận học thuật và căn bản thần học? Trong cuốn sách nổi tiếng của ông. Mục đích chính của các sách Tin Lành vì thế bị hiểu lầm khi người ta không coi đó là những lời chứng của đức tin nhưng mà như là những văn bản nhằm ghi chép tiểu sử Chúa Giê-xu Ki-tô vì những mục đính lịch sử. khi chúng ta nghe những lời chỉ trích được trình bày một cách ngây ngô – rằng những nền tảng căn bản của đức tin cũng không chịu được khoa phê bình Kinh Thánh. nhưng với những phương pháp và phương tiện khác. Với các đặc tính khoa học. chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận rằng ở đây “chủ đề” là thần học. Kahler đã chỉ ra rằng không thể chia cắt con người lịch sử của Chúa Giêxu Ki-tô khỏi những ảnh hưởng của Ngài. Chỉ có Con mới biết Cha là ai. chỉ có đầy tớ mới biết Chủ mình là ai. Chúng ta phải đặt những câu hỏi này một cách sắc bén và không hề khoan nhượng với nhiều tên tuổi thần học lớn của thời hiện đại. những điều thuộc về lịch sử. và vì vậy không hề có những sự hợp tác mang tính khoa học để hỗ trợ hay giải trừ đức tin. Chúa Giê-xu Ki-tô. Nếu bỏ qua những lời ý kiến của Kahler ở một vài điểm cụ thể mà chúng ta có thể nói nhiều hơn ở một dịp khác. Giê-xu của lịch sử và Đấng Ki-tô của Kinh Thánh. Cùng một thể ấy. với sự khách quan theo đúng nghĩa của từ này. thần học bày tỏ chính mình là một lời chứng thể hiện thông qua sự tư duy và phê bình. ở đây Kahler đã nói cách đầy thuyết phục rằng lịch sử được xây dựng xa rời khỏi đức tin không thể nào là trở thành nền tảng của đức tin. nghĩa là trong lòng Giáo Hội Cơ Đốc. nhưng thần học có chung một cách nhìn với sự giảng. Hơn nữa. đức tin chỉ có ý nghĩa khi đó là một niềm tin vô điều kiện. Trước hết.Mặt khác. chỉ có thể được nghiên cứu một cách chính đáng khi chúng ta đã gặp Ngài ở trong môi trường mà Ngài đang hành động. 8: Thiên hướng của con cái Đức Chúa Trời Nói theo cách khác. Không thể nào đức tin lại phụ thuộc vào những kết quả thay đổi của khoa nghiên cứu lịch sử hay của khuôn mẫu khoa học. bởi vì đức tin có liên quan mật thiết đến số phận đời đời của chúng ta. nhưng rằng mọi nỗ lực thần học đều luôn đặt trong khuôn khổ hành động của đức tin. rằng Lời của Đức Chúa Trời sẽ bị phân tầng thành những điều đáng tin. thần học cũng là một sự làm chứng. đó là sự rao giảng được Đức Thánh Linh hà hơi sống và sự thành lập Hội Thánh. mọi phương pháp nghiên cứu đều được định hình theo chủ đề môn học. Và đặc tính khoa học này không đạt được bằng cách thêm . Thứ hai. có những nguyên tắc giải kinh đang trở thành thời trang trong lĩnh vực nghiên cứu thần học Tân Ước hình như có vẻ đang mang dấu sắt nung của tri thức thế gian.

rằng Giáo hội có quyền ưu tiên để truy vấn chúng ta. Rốt cuộc thì những câu hỏi này luôn quan tâm đến cuộc sống Cơ Đốc đằng sau những hoạt động tư duy thần học. Tôi cũng muốn yêu cầu bạn hãy đặt thiên hướng này bên cạnh mọi vấn đề thần học mà bạn có thể học được trong lớp học này. những câu hỏi này phải được xem xét một cách nghiêm túc. mặc dù họ có thể không hiểu chi tiết những công việc của chúng ta. nó liên quan đến những điều nhỏ nhặt nhất. và luôn giữ cách đối thoại chứa đựng sự sống – kể cả khi nói về thần học – với những con cái của Đức Chúa Trời. cho đến điều lớn lao nhất. những câu hỏi của họ đều mang một dấn ấn mà tôi gọi là thiên hướng thuộc linh của con cái Đức Chúa Trời.” Ví dụ. là cầu xin nước Thiên Đàng sẽ đến. Thần học suy gẫm về những sự cuối cùng. (Tất nhiên việc trình bày và chứng minh điều này thuộc về phạm vi của giáo lý học. cũng rất thích đáng. kể cả khi thiếu đi những yếu tố thần học mà chúng ta yêu thích. Hành động giấu diếm ra vẻ bí mật kiểu “Tôi không thể mong đợi người ta đủ sức hiểu điều này” có thể dẫn đến việc khiến người khác cảm thấy bị xúc phạm. Và câu hỏi này bao gồm hết thảy mọi vấn đề từ buổi bình minh sáng thế cho đến cảnh hoàng hôn của ngày phán xét cuối cùng. và khi đối diện với nó tôi không thể trốn tránh trách nhiệm của mình. tôi đã nhận được hàng núi thư từ hỏi về sự giải mã các chuyện thần thoại. Nhưng dù thế nào đi nữa. nó hỏi lẽ thật về cuộc sống đời này và đời sau nằm ở đâu. 9: Giáo lý học – một môn nghệ thuật cao quí và đầy khó khăn Thần học không chỉ đáng sợ và lạ lùng như một số người trong Giáo hội thường nghĩ. Một phần bởi vì họ thiếu hiểu biết về vấn đề này. và nó tìm hiểu con người là ai và vực . và cũng chắc chắn rằng chúng ta là thành viên của Giáo hội đó. và cũng do sự thiếu hiểu biết thường đi chung với sự tự cao (kể cả các Cơ Đốc nhân cũng vậy). như là cầu xin lương thực hằng ngày. Giáo hội chăn dắt linh hồn chúng ta . Thần học bao gồm những nghiên cứu khoa học và tôn giáo về văn bản Kinh Thánh. và mang bên trong một lòng hăng say nhiệt thành mà chúng ta phải cùng sánh vai chung đường. Trước tiên là bởi vì mục đích của môn học này. Đã có lần.) Tôi muốn thêm vào điều này. Chúa Giê-xu Ki-tô bảo rằng những người này cần phải bị buộc cối đá vào cổ mà quăng xuống biển.” Trong mọi trường hợp điều này đặc biệt đúng với giáo lý học. và không được tìm cách gạt bỏ đi như là những sự “hiểu lầm nho nhỏ. Vì vậy những câu hỏi của họ. bởi vì chúng ta theo đuổi thần học ở trong lòng Giáo hội. đó còn là một điều đầy vẻ mê hoặc và quyến rũ. nó nghĩ về những vấn đề đương đại. Đó là những câu hỏi về sự lành mạnh của niềm tin chúng ta. Nhưng giáo lý học cũng cao quí và đầy khó khăn bởi do chính những chủ đề nghiên cứu của nó. Tôi đã luôn nhận thức rằng thiên hướng này không thể bị bỏ qua. nó suy gẫm về lịch sự hai ngàn năm của Giáo hội. Thứ hai. nó hòa thanh cùng triết học và nghệ thuật.vào trong môn thần học một vài chương nói về những khám phá mới “tách rời khỏi niềm tin. một thần học gia nổi tiếng đã gọi giáo lý học là một môn nghệ thuật cao quí nhưng cũng đầy khó khăn.

Vì thế. Một người có thể say mê những ngoại cảnh được phát thảo bởi những tư tưởng Cơ Đốc ban sơ. Ví dụ như tôi cũng hỉ có thể tự xem mình như một người nhà quê đang trở nên xúc động khi đứng trước những nét tuyệt đẹp trong cấu trúc của bộ Dogmatics của Schleiermacher với những kết nối ngang dọc. hay là sự dạy dỗ về triết lý mâu thuẫn (paradox) và phương pháp truyền đạt gián tiếp (indirect communication) của Kierkegaard.” (primary or conceptual experience) Khi chúng ta trở nên say mê với một tư tưởng thần học.thẳm anh ta đang sống có ý nghĩa gì. điều đó không có nghĩa là chúng ta đang đem theo cái đức tin đơn sơ ban đầu. đời sống thuộc linh lại trở thành một câu hỏi quan trọng cho chúng ta. Không có điều gì liên quan đến con người lạ xa lạ với thần học. chúng ta dễ dàng quên đi mất rằng mình đã từng cũng say mê cái đức tin ở dạng đơn sơ đã đến chỉ qua sự suy gẫm. qua việc thổi phồng đó đã bóp méo hệ thống giáo lý và cuối cùng là huỷ diệt nó. nếu như tôi đang nói về sự quyến rũ kỳ ảo của nó và đang chạy trên con đường nguy hiểm bằng cách trở nên quá say mê. Giáo lý học xây dựng một tòa kiến trúc mà người ta phải tin tưởng vào kết cấu của nó. nó cố gắng bao quát toàn bộ những điều chúng ta học hỏi được từ sự mặc khải và xếp đặt mọi chi tiết vào những vị trí thích hợp trong toàn cảnh. giáo lý là một ngành học mang tính hệ thống. có nghĩa là. với quy mô và sự cân đối của nó. ví dụ như là “sự phán xét cứu rỗi” (servum arbitrium) của Luther. Hơn nữa. và mặc dù chúng ta hiểu và dành nhiều thời gian cho nó. và cũng bày tỏ những đường nét mỹ thuật mà ngay cả những người chỉ có rất ít cảm xúc cho những công trình văn hóa cũng phải nhận biết được đôi chút. như là ánh tà dương của ngày chung cuộc đang được phác họa trên nền ngoại cảnh này. lại bắt chúng ta đối diện với vấn đề mà tôi đã định hình bằng cụm từ “kinh nghiệm trực tiếp” hay “kinh nghiệm dựa trên tri thức. Người như vậy chưa từng hiểu biết chút gì về ý nghĩa của việc phải sống trong chiến trận cuối cùng . Vì mục đích hệ thống hóa này mà giáo lý học luôn mang tính cách của một công việc xây cất. Thần học tồn tại giữa những căng thẳng của cuộc sống. Và vì thế rất dễ trở thành một nhà lai thế lãng mạn và bị ám ảnh về sự hủy diệt của những ngày cuối cùng. vì nó biểu lộ ra bên ngoài một số những lô -gíc cần thiết về mặt thiết kế. các bạn sinh viên thân mến. Đã có những trường hợp thật sự như vậy. và cũng được chúc phước về mặt tâm trí. nó hoàn toàn chống lại tính bè phái. và phép lịch sự đã cấm tôi không đưa ra một vài tên tuổi làm ví dụ. Một thần học sống động không bao giờ cho phép tự tạo ra những vấn đề nghiên cứu như là sự hoài thai Chúa Giê-xu trong lòng Đức bà Ma-ri. nếu đó là môn giáo lý học chân chính và không chỉ trích dẫn lại những tài liệu Cải chánh và chính thống thu nhặt được. một lần nữa. Vì sự quyến rũ của thần học một lần nữa. Nhưng nếu như tôi đang ca ngợi giáo lý học theo một cách nào đó. nhưng nó luôn luôn kết quả và tạo ra những sản phẩm trong sự thúc đẩy của những vấn đề đương đại. vì dấu hiệu chắc chắn nhất của tính bè phái và tà giáo là việc đề cao và tuyệt đối hoá một chi tiết nào đó trong toàn bộ hệ thống giảng dạy. Sự chúng ta sẵn sàng đi với cách suy gẫm khác và để cho nó mang chúng ta lướt tới.

đáng kính trọng – tôi không hề nói về thứ thần học phóng đãng cắm đầy tà thuyết – vì những lý do tôi đã đề cập. những thức ăn đựng trong những hộp thiết hay đóng khung. không thể đưa ra một lời phê bình nào được. và một thứ ngôn ngữ có tính chất học thuật đã được đồng ý trước đó. Nếu không thì đột nhiên bạn sẽ không còn tin vào Giê-xu Ki-tô. Cùng trong lúc đó. Chúng ta không còn nói. có nhiều viễn kiến và nhiệt tình của những lớp giáo lý căn bản là những người đầu tiên dễ dàng ăn nuốt lấy sự quyến rũ tinh tế của những ý tưởng không hề thật sự có trọng lượng với cốt lõi và thực chất của đức tin. Trong công việc của chúng ta.” nhưng lại nói. Điều đó giải thích tại sao những cuộc thảo luận của những sinh viên thần học thường có vẻ bất bình thường đối với một người trưởng thành. Những cuộc tranh luận đó để lại trong lòng người trưởng thành một ấn tượng về một chiến trận giữa những nhân ảnh chập chờn không hề có thật trong cuộc sống.của Chúa hằng sống. 10: Sự nguy hiểm của cái đẹp Tôi đã tự hỏi có nên nói điều này hay là nên giữ cho riêng mình. sống giữa sự đến lần thứ nhất và thứ nhì. chờ đợi và cầu nguyện như một Cơ Đốc Nhân. Đức tin phải có ý nghĩa đối với chúng ta hơn là những sự suy gẫm được đóng chai hay đóng hộp. không thể lúc nào cũng có thể nói bằng thứ ngôn ngữ thờ phượng. Vì tôi không nên tước bỏ đi tính chất tươi mát của chiến trận thuộc linh. và tôi cũng khong muốn thấy những sự đam mê cái đẹp và tri thức và cả phước lành của tình yêu thương Đức Chúa Trời bằng hết cả trí khôn bị thay thế bằng hình ảnh mệt mỏi của một ông già. “Những lời rao giảng trong các sách Phúc Âm bày tỏ cho chúng tôi điều này…” Chừng nào mà sự khác biệt này vẫn còn là một phần trong kỹ thuật xây dựng thần học của chúng ta. Kỹ thuật này cần phải có những luật lệ cần thiết. như một người cầu nguyện rằng. “Chúa Giê-xu ơi. nhưng vào Luther hay vào một giáo sư thần học nào đó. mặc dù đôi lúc nó lại là một cơn sốt lành mạnh. Nhưng mà đã có bao nhiêu người mà đối với họ sự khác biệt này . Những thành viên tài năng. Ngài đã hứa rằng…. mà tôi hy vọng là các bạn không nghĩ rằng chính là tôi! Cho phép tôi vào lúc này được phép phơi bày sự phình to về mặt tri thức của vẻ đẹp thần học – và ai dám chối rằng những loại này đang được tìm thấy trong rất nhiều giảng đường thần học? – như là một căn bệnh thật sự. từ nơi mà bất cứ lúc nào nó cũng có thể được tái tạo lại trong trí óc. một cách suy nghĩ hoàn toàn mới đã chiếm lấy chúng ta. Lời bào chữa đơn giản của tôi như sau: mọi tư tưởng thần học có thể gây ấn tượng trên bạn phải được xem như là một sự thách thức đối với đức tin của bạn. lại đe dọa đức tin cá nhân của chúng ta. Một trong những kinh nghiệm khó khăn nhất mà các giáo sư thần học phải đương đầu lại là từ chính một thần học tốt. Đừng có thừa nhận như một lẽ đương nhiên rằng bạn phải tin bất kỳ điều gì gây ấn tượng trên bạn về mặt thần học và khai sáng cho bạn về mặt tri thức.

” và thậm chí đã cất tiếng than khóc bằng chính lời của Đức Chúa Trời. và cũng không phàn nàn gì về Đấng đã từ chối Ngài. Tôi cũng đã từng là một người trong chức vụ. hay là tệ hơn thế nữa. đó chỉ là triệu chứng bệnh hoạn của đức tin. Kinh Thánh không còn là lời của Đức Chúa Trời dành cho tôi nữa. Đức Chúa Giê-xu. Đó là sự chuyển tiếp từ một cách suy nghĩ này sang một cách suy nghĩ khác. mà đặc biệt là những người học môn giáo lý. Ngay lập tức người đó nghe bên tai mình. “Có thật Đức Chúa Trời đã nói thế?” (Gen 3:1). ngay thời khắc chịu đóng đinh. phương pháp nghiên cứu thần học đều dựa trên lập luận rằng Đức Chúa Trời đã phán dạy. Sự việc này thật khiến chúng ta phải suy nghĩ. Hãy nhớ lại lần đầu tiên mà một con người bắt đầu nói về Đức Chúa Trời ở ngôi thứ ba. Chỉ có trong sự đối thoại này phương pháp thần học mới được cho là đầy đủ (Gal 4:9). không còn nói với Ngài.trở thành một cái gì còn hơn thế nữa. Người ta có thể hiểu lầm rằng đây chỉ là một lời mở đầu mang tính củng cố đức tin hay một dạng thành kính mộ đạo đặc biệt. Chúa Giê-xu đã kêu cầu trực tiếp đến cùng Đức Chúa Trời. Bạn biết rõ là tôi đang nói điều gì. đã không hề nói gì cùng con người. gọi Ngài là “Đức Chúa Trời của tôi ơi. mà chỉ đọc với mục đích xem mình có thể dùng những lời này cho bài giảng sắp tới thể nào. và trong điều này cái mối quan hệ giữa Ngài và Đức Chúa Cha là trọn vẹn. Đối nghịch với điều này. . Về bản chất. và (2) bắt đầu tham gia vào quá trình phát triển câu trả lời. trong sự tối tăm cùng cực vì bị chính Đức Chúa Trời lìa bỏ. Nhưng chúng ta chỉ có thể hiểu điều này khi: (1) xác nhận rằng những lời được phán là trực tiếp dành cho tôi. Nhưng ở đây Anselm không tìm cầu điều gì khác hơn là một điều hoàn toàn có tích chất thần học: mọi suy tư thần học đều phải sống trong bầu không khí đối thoại cùng Đức Chúa Trời. cần để ý cẩn thận nếu như họ bắt đầu suy nghĩ ở ngôi thứ ba hơn là ngôi thứ hai. nhưng chỉ là những đoạn kinh văn đang cần phải chú giải và phê bình. và rằng những điều Ngài đã phán dạy có thể được hiểu và đáp ứng vào thời điểm hiện tại. và tôi cũng nói điều này cho chính mình. Chúng ta cần phải nhớ lại Anselm đã bắt đầu những sự biện giải về Đức Chúa Trời trong tập Prologue bằng một lời cầu nguyện. Điều này cũng thật khiến chúng ta phải suy nghĩ. từ một mối tương giao với Đức Chúa Trời sang một lối tư duy thuần tuý kỹ thuật. và vì thế giáo lý của ông là một giáo lý thấm đượm sự cầu nguyện. Bởi vì người đó không còn đọc Kinh Thánh như là những lời dành riêng cho anh ta. nhưng chỉ là nói về Ngài. Đây là bước đầu tiên khiến một người ở trong chức vụ trở nên ngày càng xuống dốc. đức tin thực chất đã bị đánh mất ? 11: Học thần học đi đôi với sự cầu nguyện Những người học thần học.

được trình bày dưới dạng những suy luận thần học là kết quả của những quyết định đó. nhưng ngăn trở sự phát triển thuộc linh. là một nghệ thuật. và mang đầy tính căn bản như Lutheran.mà những ai đã nghe bài giảng của tôi đều đã biết – rằng không chỉ sự phát triển các dạng thức suy gẫm thần học. Thiện căn của thần học không phải là lời nói chơi. Là một Cơ Đốc nhân. tôi nhìn thấy phương pháp viết về thần học lịch sử . 12: Căn tính thiện/ác của thần học Một lần nữa. là một ngành nghề đòi hỏi sự khéo léo.Trong thần học. Đấng đã tha thứ những đời sống tội lỗi chắc chắn cũng sẽ là một quan toà đầy lòng khoan dung đối cùng những suy tư thần học. hậu quả của một điều rất mơ hồ. Tuỳ vào việc chúng ta có cầu nguyện và suy gẫm mà thần học có thể trở thành một t rong hai điều trên. etc. trong trường phái tôn giáo -lịch sử học. Điều đó tuỳ thuộc vào bàn tay và trái tim phát triển nó. còn thần học dị giáo thì chứa ác căn. và đôi khi. mỗi người phải tranh đấu để không bị thần học nghiền nát. Đó là việc một người cần phải được chính sứ điệp thiên thượng đụng chạm trực tiếp lại trở thành một kẻ bàng quang. phải trở thành một chiến sĩ Cơ Đốc thay vì là một xác chết trên mặt trận. Nhưng nó cũng có thể là – và thật ra đây là mục đích chính của nó – lương tâm của cộng đồng Cơ Đốc. Tại đây tôi muốn thử đưa ra một định nghĩa: lịch sử thần học là lịch sử về các Cơ Đốc nhân và những quyết định mà họ đã đưa ra bởi đức tin. người ta cũng đã thấy Phúc Âm chỉ còn mang tính chất tương đối. Tôi không tin rằng Đức Chúa Trời ưa bắt lỗi vớ vẩn khi đề cập đến những ý tưởng thần học. Nhưng không cần thiết phải chia ra thần học chính thống thì có thiện căn. nghĩa là phải biết cầu nguyện và lắng nghe tiếng Chúa. nhìn mọi chuyện từ ngôi thứ ba. nếu những sự sung sướng và khổ sở về thần học mà một người sẽ có tuỳ thuộc vào mối tương giao với Đức Chúa Trời và tuỳ thuộc vào việc thần học của họ có là một thần học thấm đượm lời cầu nguyện hay không (“theology which is prayed” theo ngôn ngữ của Wilhelm Stahlin). là la bàn định hướng. Thần học có thể chứa thiện căn hoặc ác căn. thì tự nhiên điều này có liên hệ với đời sống Cơ Đốc của chúng ta.. ngay cả khi nó hoàn toàn tinh khiết. ví dụ như trong mối tương tác với chủ nghĩa duy tâm. có thể được nhìn nhận là một phần của lịch sử thần học. hay với triết học hiện sinh. gần đây cũng có một sự kiện tương tự xảy ra. Ngay cả khi rất hiếm thấy những điều này được nói cách rõ ràng. Hễ ai không còn là một người thuộc linh thì tự động sẽ đi đến một thần học sai trật. chính thống. mà ngay cả những sự suy gẫm thần học đến từ những trải nghiệm thuộc linh sâu lắng cũng được kể là một phần của lịch sử đó. và kèm với nó là một bài ngợi ca bắt nguồn từ lý luận. chuyển từ ngôi thứ hai sang ngôi thứ ba. Đi xa hơn nữa. Ngay cả thần học chính thống cũng có khi dẫn đến sự chết thuộc linh. Thần học có thể là chiếc áo giáp mà trong đó chúng ta bị tê liệt cho đến chết. trong khi những lối mòn dị giáo hẻo lánh lại có thể dẫn đến nguồn sự sống. Thần học là một công việc dành cho con người. . Trong sự phân tích cuối cùng nó có vẻ hơi mơ hồ. Nhưng trong trường hợp đó cũng chỉ là tấm bình phong của sự chết.

Bạn chỉ có thể nghe giảng trong một lớp thần học một cách đúng đắn. và không có cách nào – nếu chúng ta chỉ dùng lý luận thuần tuý – để tìm đến sự mâu thuẫn và qua đó có thể trải qua một kinh nghiệm lành mạnh. anh ta đã quá quen thuộc với những sự phân tích nền tảng. và rất thích hợp. và tôi nên thoát khỏi những cảm xúc méo mó rằng mặc dù tất cả tư tưởng thần học của tôi là khó bị đánh đổ nhưng tôi không thể đánh giá điều này đơn giản như vậy – tôi đã dẫn các bạn đi chệch hướng. để qua đó những nền tảng đó được trở nên rõ ràng.Thật quan trọng phải có một đời sống thuộc linh đầy sinh lực. và phải biết tận dụng mọi cơ hội để có thể giảng và chia sẻ trong các lớp học Kinh Thánh. Nhưng mà cần thiết nhất là một người phải theo đuổi sự học thần học cùng với việc đọc Kinh Thánh thường xuyên hơn trước đây. giống như một người mộ đạo lớn tuổi hay một thành viên đã được giải phóng khỏi thế gian của Cộng đồng Hahn. ví dụ như câu chuyện về sự sáng tạo và sự sa ngã. và được chỉ rõ ràng rằng điều đó không hề huỷ phá tính thống nhất của lời chứng Kinh Thánh nhưng trái lại đã bày tỏ được sự hài hoà của những lời chứng và sự trọn vẹn của sứ điệp đã được nâng lên một tầng cao mới. và bầu không khí ở đó . và những nguồn tư tưởng chưa thành hình cũng phải lấy sinh lực từ nguồ n này – tất cả những điều này trở nên rõ ràng với tôi cách đặc biệt khi nghĩ về những phương pháp phê bình lịch sử kinh văn lại ảnh hưởng đến những sinh viên thần học đến thế. Có thể ông ta sẽ nghĩ rằng chính mình đã được nâng cao lên về mặt thuộc linh. Chúng ta giống như đang ở trong một xưởng phân tích khoáng chất. Nhưng tất cả những sự phân loại tri thức đó đều chưa cần thiết. khi tự mình biết bỏ qua những cách nghe và nhìn nhận vấn đề quá đơn giản khi phân tích những tư tưởng. 13: Kinh nghiệm những cao độ thần học Trước khi một sinh viên năm nhất thật sự nhìn vào những nền tảng của sự cứu rỗi được ký thuật trong Kinh Thánh. Trừ khi trong quá trình giảng dạy tôi biết chắc rằng mình đã nói những điều này. có thể được giải thích rõ ràng về những phương pháp phê bình kinh văn. nếu như bạn chưa một lần leo lên đỉnh núi và hít thở không khí trong lành tươi mát trên đó. Chúng ta đều biểt rằng trong những công xưởng thần học luôn có những người soạn thảo đủ thứ cứng nhắc. và chỉ đọc về các sự phân tích thông qua các bảng giấy trước khi trèo lên đỉnh núi cao. người đó không thể nào có thể diễn tả nỗi thế nào là tầm cao của đỉnh núi muôn trượng. tôi tin rằng điều này sẽ không làm người này bị sốc. gần gũi với lời Kinh Thánh ở giữa một cộng đồng Cơ Đốc để có thể duy trì được một nền tảng tốt cho các công tác thần học. Tôi phải thừa nhận rằng có những điều phức tạp trong thần học mà tôi không thể giải quyết nổi. tôi sẽ tự trách là mình đã không làm tròn nhiệm vụ. Như khi một người học địa lý qua những bản đồ. Tại sao nó luôn gây ra những vết thương nghiêm trọng trên những tín đồ trẻ tuổi này mà những giáo sư như tôi lại không ngưng nó lại? Nếu một tín đồ truyền thống và đơn giản. trước khi anh ta có thể biết những đỉnh cao đầy vẻ uy nghi của tư duy thần học. Xin hãy hiểu những lời tôi đã nói trong tập sách này chỉ là những lời khuyên nhủ dẫn nhập vào môn thần học.

Các bạn sinh viên thân mến. theo đúng bản chất của môn thần học. tôi hy vọng rằng bạn cũng thấy sự liên hệ giữa tư duy thần học và đời sống tâm linh. hãy ghi nhớ những lời dẫn nhập trong tập sách nhỏ này làm những khẩu hiệu trên con đường học tập thần học. ngay cả khi chúng ta đã cố gồng mình theo dõi những tư tưởng trừu tượng. tôi biết rằng có vẻ hơi bất thường khi bắt đầu một lớp thần học như thế này. và điều này đem lại cho tôi những cái nhìn mới về công tác giảng dạy mà qua đó tôi rõ ràng đã bị thuyết phục.” một giảng đường thần học lúc nào cũng phải là một hội chúng của những sinh viên Cơ Đốc. Tôi hy vọng rằng bạn cũng thấy điều đó. Chỉ với một năm rưỡi làm công việc hành chính. Tóm lại. Sự liên hệ giữa tư duy thần học và đời sống tâm linh đã trở lại với tôi với những sức mạnh mới. và vì tôi có trách nhiệm trước Hội Thánh của Đấng Christ. Nếu bạn có thể. theo ngôn ngữ ngày nay là thần học “chính thống. Chúng ta đều thấy có mối đe dọa rằng chính mình sẽ bị chết dần trong những công xưởng này. Nhưng tôi để bài tập này ở đầu môn học bởi vì tôi thấy điều này là cần thiết cho phần thuộc linh ẩn đằng sau bộ môn thần học. . và ngay cả khi những lời hô hào cổ vũ làm trong sạch bầu không khí thuộc linh mà tôi đang làm cũng không bày tỏ điều này.có mùi sự chết. và đều thấy có nhu cầu cần được hít thở không khí trong lành ở trên cao. tôi đã không giảng dạy gì.

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful