ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN KHOA

MÔI TRƯỜNG LỚP: 10KMT NHÓM: 3

huyên đề:

Đánh giá tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản khu vực ĐBSCL và các tác động của ngành nuôi trồng thủy sản tới môi trường tự nhiên ở ĐBSCL. Từ đó đưa ra giải pháp khắc phục .GVHD: ThS.Dương Hữu Huy
 Danh sách thành viên nhóm 3: STT Họ tên 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Giang Thị Huệ Anh Hoàng Lan Anh Trần Hồ Trường An Phạm Thị Lệ Hằng Nguyễn Thị Ngọc Hồng Đinh Thị Lệ Huyền Lê Quốc Hưng Nguyễn Thanh Khan Đặng Nguyễn Bảo Khánh Lê Mỹ Thụy Khâm Trần Thị Kim Thoa Hồ Ngọc Trinh MSSV 1017002 1017003 1017014 1017081 1017105 1017109 1017122 1017128 1017129 1017131 1017272 1017307

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây Mục lục

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Lời mở đầu........................................................................................................................... 5 DANH MỤC HÌNH ẢNH ................................................................................................... 6 DANH MỤC BẢNG ........................................................................................................... 6 DANH MỤC VIẾT TẮT..................................................................................................... 7 Phần tổng quan: Kiến thức toàn chuyến đi Thực địa miền Tây 02/2013 ........................... 8 1. Giới thiệu sơ lược vùng Đồng bằng sông Cửu Long .................................................... 8 1.1 1.2 Lịch sử hình thành.................................................................................................. 8 Đặc điểm vị trí địa lý ............................................................................................. 8 Điều kiện tự nhiên ........................................................................................... 9 Điệu kiện kinh tế - xã hội ................................................................................ 9 Tiềm năng và thách thức ............................................................................... 10

1.2.1 1.2.2 1.2.3

2. Giới thiệu các địa điểm học tập .................................................................................. 11 2.1 Khu Bảo tồn Vườn Quốc gia Tràm Chim ............................................................ 11 Lược sử phát triển ......................................................................................... 11 Điều kiện tự nhiên ......................................................................................... 12 Đa dạng sinh học ........................................................................................... 13 Tiềm năng du lịch .......................................................................................... 14 Các vấn đề môi trường cần quan tâm ............................................................ 14 Vị trí địa lý .................................................................................................... 16 Chức năng và nhiệm vụ ................................................................................. 16 Lĩnh vực hoạt động ....................................................................................... 17 Những nét nổi bật và xu hướng phát triển của Viện lúa ............................... 17 Các vấn đề môi trường .................................................................................. 18 Vị trí và quy mô ............................................................................................ 19 Quy trình nuôi tôm ........................................................................................ 20

2.1.1 2.1.2 2.1.3 2.1.4 2.1.5 2.2

Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long .................................................................... 16

2.2.1 2.2.2 2.2.3 2.2.4 2.2.5 2.3

Công ty nuôi trồng thủy sản An Hưng Phát ......................................................... 19

2.3.1 2.3.2 2.4

Công ty xi măng Holcim Kiên Lương ................................................................. 21
1

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.4.1 2.4.2 2.4.3 2.5

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Giới thiệu ....................................................................................................... 21 Công nghệ khai thác của nhà máy xi măng Holcim ..................................... 22 Các hoạt động môi trường và xã hội của nhà máy Holcim ........................... 23 Giới thiệu ....................................................................................................... 25 Điều kiện hình thành hang động đá vôi khu vực Kiên Giang ....................... 27 Giá trị tồn tại của các hang đông đá vôi khu vực Kiên Giang ...................... 28 Các vấn đề môi trường .................................................................................. 30

Hệ thống hang động khu vực Kiên Giang ........................................................... 25

2.5.1 2.5.2 2.5.3 2.5.4

Phần chuyên đề: Đánh giá tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản khu vực ĐB SCL và các tác động của ngành nuôi trồng thủy sản tới môi trường tự nhiên ở ĐB SCL. Từ đ ó đưa ra giải pháp khắc phục. ................................................................................... 31 1 Tổng quan ngành nuôi trồng thủy sản ở vùng ĐBSCL .............................................. 31 1.1 1.2 Giới thiệu chung ................................................................................................... 31 Hiện trạng phát triển của ngành NTTS ở vùng ĐBSCL ...................................... 32 Tình hình sản xuất và cung ứng giống của một số sản phẩm chủ lực .......... 32 Đánh giá tình hình chế biến và thương mại thủy sản ở ĐBSCL ................... 35 Lao động của ngành nuôi trồng thủy sản ...................................................... 40 Tổ chức và quản lý sản xuất nuôi trồng thủy sản .......................................... 41 Hiện trạng áp dụng khoa học kỹ thuật và công tác khuyến ngư ................... 43 Đánh giá chung về hiện trạng hoạt động nuôi trồng thủy sản....................... 45

1.2.1 1.2.2 1.2.3 1.2.4 1.2.5 1.2.6 2

Tiềm năng ................................................................................................................... 47 2.1 Điều kiện tự nhiên ................................................................................................ 47 Vị trí địa lý .................................................................................................... 47 Địa hình ......................................................................................................... 48 Hệ thống sông – kênh - rạch ......................................................................... 49 Chế độ ngập lũ: ............................................................................................. 50 Tài nguyên Sinh thái ..................................................................................... 51 Tài nguyên nước ............................................................................................ 53 Tài nguyên thủy sinh vật ............................................................................... 54

2.1.1 2.1.2 2.1.3 2.1.4 2.1.5 2.1.6 2.1.7

2

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.2

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Kinh tế .................................................................................................................. 54 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế g óp phần thúc đẩy ngành phát triển .................. 54 Thị trường thủy sản ....................................................................................... 57 Công nghiệp chế biến .................................................................................... 59 Cơ sở hạ tầng ................................................................................................. 60 Nhân lực ........................................................................................................ 62 Thể chế chính sách ........................................................................................ 63

2.2.1 2.2.2 2.2.3 2.3

Xã hội ................................................................................................................... 60

2.3.1 2.3.2 2.3.3 2.4 3

Khó khan .............................................................................................................. 64 Các tác động xấu của hoạt động NTTS đến môi trường đất và hệ sinh thái ....... 66 Các tác động xấu của hoạt động NTTS đến môi trường nước............................. 66 Tác động từ các sản phẩm thải trong quá trình nuôi trồng thuỷ sản .................... 67

Tác động của ngành nuôi trồng thủy sản tới môi trường tự nhiên ở ĐBSCL ............ 66 3.1 3.2 3.3

3.3.1 Nước thải sinh hoạt cua khu văn phòng và nhà ở các lán trại (khu vực nuôi công nghiệp) ............................................................................................................... 67 3.3.2 3.3.3 3.4 Nước thải sau qua trình thu hoạch ................................................................ 67 Bùn thải sau mỗi vụ nuôi trong quá trình cải tạo ao ..................................... 67 Tác động của hoạt động nuôi tôm ven biển ................................................. 68 Tác động của hoạt động nuôi cá tra ............................................................. 69 Rừng ngập mặn bị suy giảm.......................................................................... 69 Tác động của sự xâm nhập mặn .................................................................... 69 Tác động của việc sử dụng hóa chất, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật ..... 70

Một số tác động khác ........................................................................................... 68

3.4.1 3.4.2 3.4.3 3.4.4 3.4.5 3.5 4

Dịch bệnh ............................................................................................................. 70 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đánh thức tiềm năng NTTS của vùng ........... 72 Phát triển ngành theo hướng bền vững ................................................................ 74 Một số giải pháp cho các vấn đề môi trường ....................................................... 77 Định hướng phát triển đến năm 2020 .................................................................. 78
3

Giải pháp cho những vấn đề của ngành nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL ..................... 72 4.1 4.2 4.3 4.4

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Nhận xét - đánh giá – đề xuất. ........................................................................................... 81 1. Nhận xét – Đánh giá. ............................................................................................... 81 2. Đề xuất..................................................................................................................... 81 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................................. 82

4

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây Lời mở đầu

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

5

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1 Bản đồ vị trí địa lý vùng đồng bằng sông Cửu Long............................................ 8 Hình 2 Sếu đầu đỏ ở Vườn quốc gia Tràm Chim ............................................................. 11 Hình 3 Nhà lưới - Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long.................................................... 16 Hình 4 Công ty xi măng Holcim Kiên Lương .................................................................. 21 H ình 5 Tượng Quan thế âm Bồ Tát ở Khu du lịch Núi Đá Dựng ................................... 25 Hình 6 Lối vào chùa Hang ................................................................................................ 28 Hình 7: Lượng tôm giống tự sản xuất và thả nuôi năm 2010 ở ĐBSCL .......................... 33 (Tính toán từ số liệu của các Sở NN&PTNT ở ĐBSCL, 2010) ........................................ 33 Hình 8: tỷ trọng xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của vùng .............. 37 Hình 9 : Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu tôm vùng ĐBSCL trong kim ngạch xuất khẩu tôm toàn Ngành ................................................................................................................. 37 Hình 10: Cơ cấu thị trường xuất khẩu cá tra theo sản lượng năm 2007 ........................... 40 Hình 11: Bản đồ vùng đồng bằng sông Cửu Long .......................................................... 47 Hình 12: Cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL qua các năm 1995, 2001, 2010 ........................... 55 Hình 13: Công việc hiện nay của sinh viên Khoa Thủy sản - Đại Học Cần Thơ............. 62 DANH MỤC BẢNG Bảng 1 Biểu đồ thể hiện mật độ sếu thay đổi qua các năm ở VQG Tràm Chim .............. 15 (1986-2006) ....................................................................................................................... 15 Bảng 2: Năng lực chế biến thủy sản vùng ĐBSCL giai đoạn 2001-2007 ........................ 35 Bảng 3: So sánh một số chỉ tiêu chế biến xuất khẩu thủy sản ĐBSCL với toàn Ngành .. 36 năm 2007 ........................................................................................................................... 36 Bảng 4: Khối lượng và giá trị xuất khẩu tôm vùng ĐBSCL giai đoạn 2003-2007 .......... 36 Bảng 5 :Tỷ trọng xuất khẩu tôm trong tổn kim ngạch xuất khẩu thủy sản của vùng ....... 37 Bảng 6: Số lượng và công suất thiết kế các nhà máy chế biến cá tra 2002-2008 ............. 38 Bảng 7: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra, cá ba sa giai đoạn 2000-2007 ........... 39 B ảng 8: Dự báo tiêu thụ thủy sản theo mục đích và theo nhóm nước đến năm 2015 ..... 57 Bảng 9: Dự báo sản lượng thuỷ sản thế giới đến năm 2015 ............................................. 58
6

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Bảng 10: Qui mô và cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam 2010 ..................... 59 Bảng 11: Mục tiêu phát triển nuôi trồng thủy sản ĐBSCL đến năm 2015 ....................... 76 DANH MỤC VIẾT TẮT ĐB SCL NN&PTNT FAO VASEP VQG HTTL HTX NTTS TS ANLT BOD COD Đồng bằng sông Cửu Long Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tổ chức Nông Lương thế giới Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam Vườn Quốc Gia Hệ thống thủy lợi Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản Thủy sản An ninh lương thực Nhu cầu oxy sinh hóa Nhu cầu oxy hóa học

7

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Phần tổng quan: Kiến thức toàn chuyến đi Thực địa miền Tây 02/2013 1. Giới thiệu sơ lược vùng Đồng bằng sông Cửu Long 1.1 Lịch sử hình thành Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hay còn gọi là Vùng đồng bằng Nam Bộ hoặc miền Tây Nam Bộ của Việt Nam có lịch sử hình thành từ khoảng 9 000 năm về trước, từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển, qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành các giồng cát dọc ven biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã hình thành những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo đê ven sông lẫn dọc theo một số giồng cát ven biển và Long Xuyên - Hà Tiên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau. 1.2 Đặc điểm vị trí địa lý

Hình 1 Bản đồ vị trí địa lý vùng đồng bằng sông Cửu Long Vùng ĐBSCL gồm 12 tỉnh và 1 thành phố trực thuộc trung ương (TP Cần Thơ). ĐBSCL là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39 747 km2, nằm liền kề với vùng Đông Nam bộ, phía Bắc giáp Campuchia, phía Tây Nam là vịnh Thái Lan và

8

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

phía Đông Nam là Biển Đông. ĐBSCL có vị trí như một bán đảo với 3 mặt Đông, Tây Nam và Nam giáp biển với đường bờ biển dài trên 700km. 1.2.1 Điều kiện tự nhiên Vùng ĐBSCL có lợi thế về tài nguyên đất đai, sông ngòi, biển và thềm lục địa cũng như điều kiện khí hậu. Tổng diện tích đất đai của vùng chưa kể hải đảo xấp xỉ 4 triệu ha, chiếm khoảng 12% diện tích cả nước, trong đó loại đất tốt nhất là đất phù sa chiếm gần 30%. Hằng năm nơi đây bị ngập lũ gần 50% diện tích, đây là đặc điểm nổi bật của vùng. Mặc dù lũ có ảnh hưởng lớn đối với canh tác, trồng trọt, cũng như đời sống dân cư nhưng đây là nguồn bồi đắp phù sa lớn, làm cho đất đai màu mỡ. Khí hậu ổn định, nhiệt độ trung bình 28oC, chế độ nắng cao, ít xảy ra thiên tai do khí hậu. Sông Mê Kông (hệ thống sông chính) chảy qua vùng ĐBSCL đem lại một lượng lớn phù sa 46 tỷ m3 (chảy qua khoảng 150- 200 triệu tấn). ĐBSCL có đường bờ biển dài trên 700km, có khu vực đặc quyền kinh tế phía đông giáp biển Đông, phía nam giáp Thái Bình Dương và phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, tạo điều kiện rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế biển, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản. 1.2.2 Điệu kiện kinh tế - xã hội Tính đến cuối năm 2010, dân số vùng là 17 272 000 người. Dân tộc: gồm 53 dân tộc cùng chung sống với nhau. Trong đó, 92% là dân tộc Kinh, ngoài ra có dân tộc Khơ me, Hoa, Chăm… Văn hoá: nhiều dân tộc cùng sinh sống, do đó cùng tồn tại nhiều phong tục tập quán của nhiều dân tộc khác nhau cùng tồn tại và phát triển. Cơ sở hạ tầng giao thông: Tuyến đường huyết mạch của ĐBSCL là quốcl ộ 1A đã căn bản hoàn thành việc năng cấp. Hai cây cầu lớn được xây dựng là cầu Cần Thơ và cầu Mỹ Thuận góp phần nối liền các tuyến đường bộ tạo nên mạng lưới thông suốt Hệ thống thông tin liên lạc: không ngừng được nâng cấp và hoàn thiện. Kinh tế: trong những năm gần đây, đời sống kinh tế tăng trưởng đáng kể, cơ cấu chuyển dịch theo hướng tích cực, đời sống nhân dân được nâng cao. Những sản phẩm tiêu biểu: cây lúa, nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, nuôi gia súc và gia cầm, cây ăn quả và nông sản được xem là thế mạnh của vùng.

9

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 1.2.3 Tiềm năng và thách thức 1.2.3.1 Tiềm năng

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

ĐBSCL có một nền nhiệt độ cao, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định trong toàn vùng. Ít xảy ra thiên tai do khí hậu như bão là một nguồn lực rất thuận lợi cho thảm thực vật, quần thể động vật phong phú, đa dạng, nhưng có tính tương đối đồng nhất trong vùng, tạo điều kiện thuận lợi tổ chức sản xuất và phát triển sản xuất lượng thực - thực phẩm, nông - thuỷ - hải sản lớn nhất cả nước. ĐBSCL lấy nước ngọt từ sông Mê Kông và nước mưa, đặc trưng theo mùa rõ rệt, phù sa lớn, quá trình bồi tích lâu dài. Hệ thống kênh rạch lớn nhỏ chi chít rất thuận lợi cung cấp nước ngọt quanh năm. Mùa lũ kéo dài theo định kỳ. Đất phù sa sông tập trung ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, chúng có độ phì nhiêu cao, có thể canh tác nhiều loại cây trồng. Sông Mê Kông đã tạo ra nhiều dạng sinh cảnh tự nhiên, thay đổi từ các bãi triều, giồng cát và đầm lầy ngập triều ở vùng đồng bằng ven biển,… Có triển vọng dầu khí trong thềm lục địa tiếp giáp thuộc Biển Đông, Vịnh Thái Lan và phía Tây Nam. Đá vôi phân bố chủ yếu ở vùng Hà Tiên, Kiên Lương với trữ lượng lớn. 1.2.3.2 Thách thức Hầu hết các đô thị nằm ở ven sông, ngã ba sông. Phần lớn rác thải, nước thải đều cho xuống sông rạch, chưa nói đến việc lấn chiếm sông rạch làm cho dòng chảy bị nghẽn sinh ra ô nhiễm môi trường. Xây dựng công trình thuỷ lợi ở phần thượng lưu sông dẫn đến lụt và thiếu nước ở ĐBSCL, hệ thống kênh đào sâu hơn, rộng hơn và dày đặc hơn so với trước kia. Đất đai kém màu mỡ hơn chủ yếu là đất phèn, đất nhiễm mặn và nhiều loại đất khác: không tốt lắm vì đặc trưng nhiều tính chất xấu như: độ axit cao, độc tố, đất bùn nghèo có nền đất yếu. Hiện tượng phèn gia tăng trong đồng ruộng. Hệ thống tiêu nước nhanh, không có nơi tồn trữ nước ngay đầu mùa hạ, đồng thời hiện tượng xâm nhập mặn trầm trọng hơn xưa. Việc trồng lúa, nuôi trồng thuỷ hải sản hay thành lập các nhà máy khai thác đá, xi măng cũng gây những hậu quả nghiêm trọng cho môi trường tại đồng bằng sông Cửu Long.

10

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2. Giới thiệu các địa điểm học tập 2.1 Khu Bảo tồn Vườn Quốc gia Tràm Chim

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hình 2 Sếu đầu đỏ ở Vườn quốc gia Tràm Chim 2.1.1 Lược sử phát triển Năm 1985, Tràm Chim được Ủy ban Nhân Dân tỉnh Đồng Tháp thành lập với tên gọi là công ty Nông Lâm Ngư trường Tràm Chim, với mục đích là trồng tràm và khai thác thủy sản, và vừa giữ lại được một phần hình ảnh của Đông Tháp Mười xa xưa. Năm 1986, loài sếu đầu đỏ ( chim hạc, sếu cổ trụi), được tái hiện ở Tràm Chim. Năm 1991, Tràm Chim trở thành Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Tràm Chim cấp tỉnh, nhằm bảo tồn loài sếu đầu đỏ (Grusantigone sharpii). Năm 1994, nơi đây trở thành Khu Bảo Tồn Thiên Nhiên Tràm Chim, cấp quốc gia. Năm 1988, nơi đây trở thành Vườn Quốc Gia Tràm Chim theo Quyết đinh số 253/1998/QĐ-TTg, ngày 29 tháng 12 năm 1998 của thủ Tướng chính phủ.

11

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.1.2 Điều kiện tự nhiên 2.1.2.1 Vị trí địa lý Vườn Quốc Gia Tràm Chim nằm ở vị trí:  10°37‟ đến 10°46‟ độ vĩ Bắc  105°28‟ đến 105°36‟ độ kinh Đông

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Nằm các sông MeKong 25km về phía Tây, gần biên giới Campuchia Thuộc địa phận 4 xã: Tân Công Sinh, Phú Thọ, Phú Hiệp và Phú Đức huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Tổng diện tích tự nhiên là 7.586 m2 2.1.2.2 Điều kiện tự nhiên  Địa hình Vườn Quốc Gia Tràm Chim năm ở vùng đồng lụt kín Đồng Tháp Mười, Địa hình trũng khó tiêu nước, cao trung bình từ 1.4m – 1.5m, cao nhất là 1.7m, thấp nhất là 1.2m Ở phía Bắc và Phía Đông có địa hình cao hơn và là vùng chuyển tiếp giữa bậc thềm phù sa cổ và phù hiện đại, địa hình cao nên lớp phủ mỏng, đất đai phần lớn là bậc thềm phù sa cổ, thành phần cơ giới nhẹ hình thành nên các loại đất xám.  Khí hậu Vườn Quốc Gia Tràm Chim nằm trong khu vùng có chế độ nhiệt đới gió mùa với 2 mùa mưa và khô rõ rệt: mùa mưa kéo dài 6 tháng ( từ tháng 5 đến tháng 12), các tháng còn lại là mùa khô. Nhiệt độ: nhiệt độ ở đây cao quanh năm và tương đối ít biến động, nhiệt độ trung bình hằng năm khoảng 27°C. Lượng mưa trung bình khoảng 1.650 mm/năm, phân bố theo mùa rõ rệt. Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 11, hơn 90% lượng mưa tập trung vào khoảng thời gian này. Trong khi đó, tháng 1, 2, 3 lại là những tháng khô hạn nhất, thời tiết hầu như không có mưa.

12

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây
 Chế độ thủy văn

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

VQG Tràm Chim chịu ảnh hưởng thủy văn của vùng châu thổ sông Mê Kông, nhận nguồn nước trực tiếp từ sông MeKong thông qua hệ thống kênh thủy lợi tràn vào nội đồng và bị ngập lũ hàng năm từ tháng 8 đến tháng 12. Mỗi phân khu (A1-A5) được bao bọc xung quanh bởi hệ thống kênh và đê với tổng chiều dài lên đến 59 km. Mực nước bên trong vườn quốc gia được điều tiết thông qua hệ thống cống và cửa xả nằm ở các bờ bao xung quanh. Hiện nay, để giảm rủi ro do lửa vào mùa khô, mực nước bên trong vườn quốc gia luôn được giữ ở mức cao hơn những điều kiện trong quá khứ. Thành phần thực vật, phân bố và tốc độ sinh trưởng đã bị ảnh hưởng bởi những tác động này 2.1.3 Đa dạng sinh học VQG Tràm Chim có thể coi như là một mô hình thu nhỏ của vùng Đồng Tháp mười thu hẹp với hệ sinh vật phong phú đa dạng của vùng đất ngập nước, là nơi sinh sống của rất nhiều loài động thực vật, đây là nơi cư trú của khoảng 231 loài chim nước, chiếm ¼ số loài chim có ở Việt Nam, trong đó có nhiều loài chim quý hiếm trên thế giới. Loài chim được biết đến nhiều nhất là sếu đầu đỏ, một trong 15 loài sếu còn sót lại và có nguy cơ tuyệt chủng của thế giới. VQG Tràm Chim có 6 quần xã thực vật chủ yếu: Quần xã tràm: đây là nơi cư trú, làm tổ của nhiều loài chim. Những cánh rừng tràm nguyên sinh trước kia hầu hết đã bị khai thác, cho nên những cánh rừng tràm hiện nay chủ yếu là rừng trồng, đang được phục hồi và bảo vệ. Diện tích khoảng 3018,9 ha Quần xã cỏ năng: đây là quần xã rất quan trọng, là nguồn cung cấp thức ăn cho nhiều chim nước, trong đó có loài sếu đầu đỏ. Cỏ năng có 2 loại: cỏ năng ống cao từ 1,5 đến 1,6m; cỏ năn kim là thức ăn cho sếu cổ trụi, ở vùng Tam Nông – Đồng Tháp có riêng một vùng rộng lớn cỏ năn mọc tự nhiên làm thức ăn cho sếu cổ trụi mà người dân vùng này gọi thường gọi là cánh đồng năng. Cỏ năng màu xám hoặc đen gần giống củ cỏ gấu thành phần chính là tinh bột, ăn có vị hơi đắng chát. Diện tích khoảng 898,8ha. Quần xã lúa ma: Lúa trời còn gọi là lúa ma, là giống lúa tự mọc vào mùa nước nổi. Nước lên tới đâu, lúa mọc tới đó, sống trồi lên mặt nước. Người dân dùng làm thức ăn cho trâu bò.Vườn Quốc gia Tràm Chim có nhiệm vụ giữ gìn, bảo vệ loài lúa này này để phục vụ công tác bảo tồn gen và lai tạo giống. Diện tích khoảng 678,4ha.
13

-

-

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây -

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Quần xã cỏ mồm, mốc: diện tích khoảng 305,1ha. Quần xã này cũng là nơi thích hợp cho nhiều loài chim kiếm ăn và làm tổ. Quần xã cỏ ống: có diện tích khoảng 1965,9ha Quần xã sen: sen nguyên thủy ở vùng Đồng Tháp Mười là một loài đặc hữu. Loại sen trồng lấy hạt là giống sen đã bị lai tạo không thuần chủng như sen Đồng Tháp. Việc giữ gìn và bảo vệ giống sen nguyên thủy Đồng Tháp mục đích là để bảo tồn gen một loài hoa quý hiếm, chỉ có ở Việt Nam. có diện tích khoảng 63,8ha.

2.1.4 Tiềm năng du lịch Được mệnh danh là “ốc đảo xanh”, VQG Tràm Chim có cảnh quan thiên nhiên hoang sơ, môi trường trong lành, độ đa dạng sinh học cao – đây là những lợi thế để phát triển du lịch sinh thái trong VQG Tràm Chim. Đến Tràm Chim, du khách sẽ bắt gặp khung cảnh bao la của đất trời Đồng Tháp mênh mông sông nước. Vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 dương lịch, đây là nơi cư trú của khoảng 60% quần thể sếu đầu đỏ, là loà i chim cao nhất trong các loại chim bay trên thế giới. 2.1.5 Các vấn đề môi trường cần quan tâm 2.1.5.1 Xung đột giữa bảo tồn và khai thác Áp lực của cộng đồng dân cư sống trong xung quanh VQG Tràm Chim và sự phụ thuộc của cộng đồng, nhất là người nghèo lên tài nguyên thiên nhiên đất ngập nước bên trong. Chế độ bảo vệ nghiêm ngặt trong nhiều năm qua đã dẫn tới xung đột giữa vườn quốc gia và cộng đồng và cũng đã không ngăn cản được sự xâm nhập vào bên trong để khai thác tài nguyên, có thể dẫn đến sự suy kiệt tài nguyên. 2.1.5.2 Quản lý nguồn nước Vấn đề quản lý thủy văn cho phù hợp với nhu cầu của hệ sinh thái đất ngập nước, trong bối cảnh chế độ thủy văn toàn vùng Đồng Tháp Mười đã thay đổi do sự phát triển hệ thống kênh đào rộng khắp. Từ việc quản lý thủy văn chưa phù hợp đã làm thu hẹp diện tích đồng cỏ năng, nhất là năng kim (Eleocharis atropurpurea) làm cho không còn nguồn thức ăn cho chim sếu dẫn đến mật độ cá thể của loài chim nầy bị giảm theo hàng năm. Việc quản lý mực nước trong vườn hiện nay rất khó khăn; bởi lẽ: nếu giữ mực nước thấp quá thì dễ dẫn đến cháy rừng; còn nếu giữ mực nước cao liên tục, rừng tràm khó cháy nhưng cây cỏ năng bị ngập nước sẽ không có củ để dẫn dụ đàn sếu.

14

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Bảng 1 Biểu đồ thể hiện mật độ sếu thay đổi qua các năm ở VQG Tràm Chim (1986-2006) 2.1.5.3 Sự xâm lấn của các loài ngoại lai Hiện nay vườn quốc gia Tràm Chim đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi sự xâm lấn của cây mai dương(Mimosa pigra), một loài thực vật được IUCN xếp trong 100 loài ngoại lai xâm hại nguy hiểm nhất thế giới. Nếu không kiểm soát được, trong vòng 10-15 năm nữa, toàn bộ vườn quốc gia sẽ bị loài này xâm lấn thành loài độc tôn. Sự đa dạng sinh học sẽ mất đi hoàn toàn. Ngoài ra, còn có cây bèo lục bình. Loại bèo này thích nghi rất tốt với môi trường khu vực. Loại bèo này nổi trên mặt nước và trôi theo dòng chảy nên có sức lan tỏa rất lớn. Tuy loại bèo này có tác dụng làm sạch nước nhưng tốc độ che phủ lớn nên gây giảm ánh sáng và lấn áp các loài thủy sinh khác. 2.1.5.4 Vấn đề phát triển du lịch Du lịch mang lại nhiều lợi ích cho vùng nhưng cần phải chú ý đến các tác động tới môi trường sao cho vừa mang lại lợi ích cho cộng đồng, đóng góp cho bảo tồn mà không gây tác hại lên hệ sinh thái.

15

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.2 Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hình 3 Nhà lưới - Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long 2.2.1 Vị trí địa lý Ngụ tại xã Thới Thạnh, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ với tổng diện tích 360 ha. Viện được thành lập vào ngày 08/01/1977, ban đầu là Trung tâm Kỹ Thuật Nông Nghiệp ĐBSCL, đến 1985 chính thức đổi thành Viện Lúa ĐBSCL. 2.2.2 Chức năng và nhiệm vụ Nghiên cứu, ứng dụng cây lúa và các loại cây khác. Nghiên cứu hệ thống canh tác trong và ngoài nước. Chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật nông nghiệp. Huấn luyện và đào tạo cho cán bộ và nông dân trong vùng, đào tạo sau đại học. Sản xuất và cung ứng giống lúa trong vùng và cho các vùng khác.
16

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.2.3 Lĩnh vực hoạt động

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

- Tổ chức lớp đào tạo kỹ thuật nông nghiệp ngắn hạn cho cán bộ và nông dân. - Trình diễn các mô hình kỹ thuật có hiệu quả cho nông dân học hỏi. - Khảo nghiệm, điều tra, đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng kỹ thuật. - Nhân giống các loại cây trồng như lúa, rau màu. - Mở rộng hoạt động dịch vụ nông nghiệp. 2.2.4 Những nét nổi bật và xu hướng phát triển của Viện lúa Từ khi thành lập đến nay, Viện đã và đang chủ trì và tham gia thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu với các tổ chức quốc tế và các địa phương trong vùng góp phần giải quyết các vấn đề về nông nghiệp. Cụ thể là những nghiên cứu về khoa học công nghệ nhằm cải thiện năng suất, chất lượng của các giống lúa, đảm bảo cho phát triển bền vững. Trong những năm qua, Viện đã hoàn thiện và chuyển giao nhiều công nghệ vào sản xuất nông nghiệp trong vùng, trong đó đáng chú ý nhất là: Giống lúa mới có năng suất cao, phẩm chất tốt đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Hiện tại, trên 70% diện tích trồng lúa ở ĐBSCL đang sử dụng các giống lúa do Viện lai tạo và chuyển giao. Hàng năm, bình quân có 01-02 giống lúa của Viện được công nhận chính thức và 04-06 giống lúa được công nhận tạm thời. Hiện tại có 63 giống lúa đang được sử dụng trong sản xuất ở ĐBSCL bao gồm cả các giống lúa mùa địa phương, trong đó phổ biến nhất là các giống OM1490, OMCS 2000, VNĐ 95-20, OM576, Jasmine 85, OM2517, IR50404. Các quy trình thâm canh tổng hợp lúa tăng năng suất, tăng chất lượng và hiệu quả kinh tế đã được chuyển giao cho nông dân trên nhiều vùng sinh thái khác nhau. Kết quả ứng dụng công nghệ hạt giống: 20% diện tích gieo trồng đã sử dụng hạt giống lúa xác nhận, và 34% diện tích vùng qui họach (1 triệu ha lúa xuất khẩu) sử dụng giống xác nhận. Chuyển giao các tiến bộ về cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp và công nghệ sau thu hoạch (máy gieo hàng, máy sấy lúa, máy đánh bùn, máy tuốt lúa, máy bóc bẹ tách hạt ngô,..).

-

-

-

17

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.2.5 Các vấn đề môi trường 2.2.5.1 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Vùng ĐBSCL là một trong những vùng dễ bị ảnh hưởng nhất do ở đây khá thấp, trung bình 1 m so với mực nước biển nên dễ gây ngập úng do nước biển dâng; đồng thời lượng nước bị giảm sút vào mùa khô, đặc biệt là hai nhánh sông Tiền và sông Hậu. Khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu: Chọn hệ thống cây trồng phù hợp. Điều tiết việc đóng mở cống ngập mặn ở ven biển. Thâm canh sản xuất các cây con có giá trị cao. Nâng cao việc dụ báo các rủi ro, nguy cơ. Quản lý tốt các nguồn tài nguyên, tái sử dụng phụ phẩm nông nghiệp.

Mục tiêu cụ thể nhằm cải thiện khả năng thích ứng của hệ thống canh tác trên nền lúa nước trước tác động của biến đổi khí hậu: Đánh giá tác động và tổn thương do biến đổi khí hậu Sản xuất lai tạo các giống mới có khả năng chống chịu tốt hơn Quản lý tài nguyên của hệ thống canh tác trên nền đất lúa thích nghi với sự biến đối nhanh của khí hậu. Đánh giá chi tiết vùng ven biển và đề xuất dự án phát triền tổng thể và thích nghi do biến đổi khí hậu. Đào tạo nhân lực có khả năng đánh giá phát tán các khí nhà kính.

2.2.5.2 Tái sử dụng chất thải từ ao nuôi cá Theo khảo sát, chưa có loại cá nào có tốc độ sinh trưởng và có hệ số chuyển biến thức ăn tốt như cá tra, tuy nhiên sẽ có một lượng lớn chất thải lỏng được xả thẳng ra đường nước từ các ao nuôi cá mà không qua xử lý, gây nhiều hậu quả như: ô nhiễm nguồn nước canh tác lúa, gây trở ngại cho việc mở rộng diên tích áo nuôi về phía hạ lưu, tác động xấu đến sức khoẻ của cư dân trong vùng. Sử dụng việc trồng lúc để xử lý chất thài từ thuỷ sản đã được nghiên cứu, tuy nhiên theo nhận định của một số nhà khoa học của Viện: “Theo tính toán, 1 ha ao nuôi cá phải trồng tối thiểu 60.000 ha lúa, mà các ao nuôi cá lại không phân tán mà tập trung nên diện tích lúa của chúng ta không đủ để xử lí hết nước thải, đây chính là khó khăn chính của dự án này. Cần có những quy hoạch phù hợp để có thể tận dụng thích hợp nguồn nước giàu

18

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

đạm này, nếu có thể sử dụng được thì đây sẻ là nguồn tiết kiệm phân bón lớn cho vùng ĐBSCL”. 2.2.5.3 Vấn đề an ninh l ương thực (ANLT) Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng trọng điểm sản xuất lương thực cả nước, sản lượng lúa hằng năm toàn vùng chiếm hơn 53% tổng sản lượng lúa và đóng góp 90% sản lượng gạo xuất khẩu cả nước. Tuy nhiên, vựa lúa gặp nhiều thách thức trong việc giữ vai trò chiến lược đảm bảo an ninh lương thực (ANLT) cho vùng và quốc gia: diện tích đất trồng lúa của vùng có xu hướng giảm để chuyển đổi sang cây, con khác; dân số tăng, biến đổi khí hậu, dịch sâu bệnh, công nghiệp hóa, đô thị hóa,…Để giải quyết áp lực, Viện lúa đã:  Mở rộng diện tích canh tác, tăng mùa vụ (2-3 vụ/năm)  Ứng dụng khoa học công nghệ năng cao chất lượng và sản lượng giống lúa cung ứng đủ lương thực cho Việt Nam và xuất khẩu nước ngoài.  Luôn nghiên cứu tìm ra những giống lúa mới thích ứng hơn với môi trường biến đổi, cho sản lượng cao. Ngoài ra, theo hướng phát triển bền vững Nhà nước cũng cần tăng cường và nâng cao hiệu quả lao động, hoạt động xuất khẩu hợp lý để đảm bảo ANLT. 2.3 Công ty nuôi trồng thủy sản An Hưng Phát 2.3.1 Vị trí và quy mô Vị trí: Công ty nuôi trồng thủy sản An Hưng Phát nằm tại xã Dương Hòa huyện Kiên Lương tỉnh Kiên Giang thuộc phía Tây Bắc tỉnh giáp với Campuchia và xậy dựng vào năm 2000. Quy mô: Công ty có diện tích khoẳng 15ha. Gồm 12 ao (mỗi ao 400 -700 nuôi tôm thẻ và tôm sú, ngoài ra còn có cá mú. ). Chủ yếu

19

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.3.2 Quy trình nuôi tôm

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

2.3.2.1 Những điểm cần lưu ý trong quá trình nuôi tôm Lưu ý: Độ mặn: nuôi tôm ở gần biển. Hệ thống thủy lợi: hệ thống lấy nước phải chủ động. Phải có hệ thống xử lí nước (20% diện tích ao nuôi). Chất đất: ít phèn, cát tùn, bùn cát. Hệ thống điện: cần phải thuận lợi để vận hành hệ thống máy nổ, quạt máy (4000 m2: 4 dàn, 6000-8000m2: 6 dàn). Tuy nhiên chi phí cho điện khá cao. Hệ thống giao thông. Hệ thống an ninh. Thiết kế ao: diện tích ao 1400-1800 ha/ao. Thích hợp nhất là 4000-8000ha/ao.

Ngoài ra, còn phải chú ý tới việc chuẩn bị ao trước khi nuôi: Vì đất nuôi tôm là đất phèn nên phải lót giấy bạc xung quanh bờ ao có trào chắn xung quanh tránh động vật lạ vào ao. Phải có hệ thống rào chắn để ngăn cua và các động vật khác vào ao. Sau khi ủi ao cần tiến hành rải vôi. Tiếp theo xử lí clorine (6-7 ngày), sử dụng phân ADB, … Ao đạt tiêu chuẩn khi pH 7.5-8, độ kiềm 80-100, không có Số lượng tôm sú là 30-40 con/ và tôm thẻ là 100 con/

Quản lí và cho ăn: Cho ăn: Đa số là thức ăn công nghiệp. Vào tháng đầu tiên cho ăn theo định lượng, theo số lượng ( tùy theo màu nước). Tháng tiếp theo định lượng thức ăn qua sàn ( cho ăn theo trọng lượng tôm). Ví dụ: ao tôm 100 con/kg thì có thể cho 5g-7g. Quản lí môi trương: Tháng thứ 1 và thứ 2 không thay nước tới tháng thứ 3 thay 10% nước trong ao. Nhưng phải đo các thông số hằng ngày, nếu độ kiềm nhỏ hơn 80 thì phải gây độ kiềm bằng cách sử dụng dolomit. Chú ý gây màu nước: để tạo thức ăn tự nhiên và làm cho môi trường ổn định.

-

Một số bệnh thường gặp ở tôm: Bệnh cong thân ( khi trời nắng gắt, nước ao cạn xuống tôm cong thân lại) Bệnh đen mang ( do dư khi ao tích tụ nhiều chất độc) Bênh vàng mang( do đất phèn hoạt động gây nhiễm độc nước ao)
20

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

2.3.2.2 Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới nuôi trồng thủy sản Hiện nay, biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến hoạt động nuôi trồng thủy sản của địa phương. Trong những năm gần đây, mùa mưa và mùa khô không còn phân chia rõ rệt.  Mùa khô kéo dài hơn bình thường gây thiếu nước trong việc nuôi trồng thủy sản. Diễn ra quá trình bốc hơi nước, thẩm thấu sang các ao khác và một số nơi khác  Mùa mưa: mưa kéo dài thường xuyên cả tháng trời, ngập lụt, gây khó khăn cho việc nuôi tôm nước mặn. Vì vậy các nhà quản lí phải đưa ra những biện pháp quản lí tốt nhằm khắc phục những khó khăn do biến đổi khí hậu gây ra.  Đối với mùa khô, nóng: phải dùng hệ thống quạt nước nhằm làm cho nước mát và cung cấp đủ lượng oxy cho tôm.  Đối với mùa mưa: thoát nước là vấn đề tất yếu và phải thêm một lượng muối lớn để tăng độ mặn trong ao. 2.4 Công ty xi măng Holcim Kiên Lương

Hình 4 Công ty xi măng Holcim Kiên Lương 2.4.1 Giới thiệu Xi măng Holcim, thương hiệu hàng đầu thế giới, một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới về sản xuất và cung cấp xi măng, cốt liệu bê tông, bê tông và các dịch vụ liên quan đến xây dựng, được thành lập từ năm 1912 tại Thụy Sỹ, tự hào đã có 100 năm “Vững Xây Cuộc Sống” cho hàng triệu tổ ấm tại hơn 70 quốc gia. Có mặt tại Việt Nam từ năm 1994, với vốn đầu tư khoảng 495 triệu USD với thời hạn 50 năm , tiền thân là Công ty Xi măng Sao Mai. Xi măng Holcim đã tham gia vào rất nhiều dự án từ xây dựng nhà ở dân dụng đến cơ sở hạ tầng, chung cư cao tầng, cao ốc văn phòng có tầm ảnh hưởng lớn như: cầu Phú Mỹ (Q.7, Tp.HCM), cảng Quốc tế Sài Gòn ( Bà Rịa Vũng Tàu), cao ốc Sunrise City (Q.7, Tp.HCM), Kum Ho Asia (Q.1, Tp.HCM),... tại khu vực miền Nam.
21

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

2.4.2 Công nghệ khai thác của nhà máy xi măng Holcim 2.4.2.1 Công nghệ khai thác đá vôi Dãy núi đá vôi Moso được giao cho nhà máy xi măng Holcim toàn quyền khai thác trong 50 năm. Đến nay nhà máy đã khai thác đươc hơn 10 năm. Hiện nhà máy đang sử dụng 2 mỏ đá vôi là Bãi Vôi Và Cây Xoài. Khi cho phép Holcim hoạt động , khu vực có thể khai thác bao gồm toàn dãy Moso và khu di tích hang Moso. Tuy nhiên,do bị phản ứng từ cộng đồng nên khu vực núi có hang Moso được giữ lại, thay vào đó là một khu vực khác (Núi Khoe Lá). Công nghệ khai thác theo phương pháp tầng, tiến hành khoan và nạp thuốc, lọai thuốc nổ TNT, water gain. Sau khi nổ đá rơi từ tầng cao xuống chân núi, những viên đá có kích thước >1500 mm tiến hành khoan tẻ, những viên đá có kích thước <1500 mm đươc xe xúc đưa vào xe tải chở vào các cối đập. Kích thước đá ra khống chế <30mm. Đá thành phẩm rơi xuống băng tải cao su, đưa về kho, rải đều dọc theo chiều dài kho nhằm đồng nhất sơ bộ về thành phần. Ngoài ra nhà máy đang áp dụng phương pháp nổ mìn vi sai – là phương pháp khoan những vị trí xác định và cho mìn nổ úp xuống dưới theo từng lớp để hạn chế bụi, tiếng ồn và độ rung. Đá vôi là nguyên liệu chính thứ nhất cung cấp CaO >50% cho phối liệu nung luyện clinker. 2.4.2.2 Công nghệ khai thác đất sét Nhà máy thường khai thác đất sét ẩm: đất sét có độ ẩm tự nhiên từ 16-20% được khai thác ở độ sâu từ 18-20m, có góc nghiêng 400, khai thác dọc theo chiều ngang từng ô 500m. Hệ thống giàn gầu múc đất sét di chuyển dọc theo ô, rồi đỏ vào băng tải để đưa vào kho, tại kho có băng tải 2 chiều đổ vào 2 đống theo chiều dài kho, nằm đồng nhất sơ bộ về thành phần. Đất sét là nguyên liệu thứ 2 cung cấp SiO2>60% cho phối liệu nung luyện clinker.

22

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.4.2.3 Công nghệ sản xuất clinker

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Gia công sơ bộ nguyên liệu: đá vôi,đất sét, quặng sắt…được vận chuyển từ mỏ khai thác về nhà máy thường có dạng nguyên tảng có kích thước lớn, nên phải đươc đập nhỏ trước để tiện cho việc nghiền, sấy khô, chuyển tải và tồn trữ. Vật liệu từ mỏ được làm giảm kích thước bằng những máy đập khác nhau. Các khối đá được làm giảm kích thước từ đến khoảng 1.2 – 8 cm. Hai nguyên liệu chính đá vôi, đất sét và 2 nguyên liệu phụ đá đỏ, cát từ các kho nhờ băng tải chuyển về khu định lượng theo tỉ lệ nhất định. Sau khi định lượng, 4 nguyên liệu đươc đưa qua hệ thống nghiền đứng. 2.4.2.4 Công nghệ sản xuất xi măng Thành phần chính của xi măng một tổ hợp của n[CaO] y[SiO2] z [Al2O3] t[Fe2O3]… Xi măng là thành phần chính của bê tông , là vật liệu xây dựng phổ biến nhất trên thế giới. Nguyên liệu chính là clinker và 2 phụ gia thạch cao và mu rùa( Puzolan), thạch cao là phụ gia điều chỉnh thời gian đóng rắn,mu rùa là phụ gia hoạt tính có tác dụng hút vôi trong quá trình đóng rắn. Nghiền xi măng: clinker sau khi được chuyển tới buồng chứa clinker sẽ đi qua cân định lượng nhằm điểu chỉnh khối lượng để cân đối tỷ lệ với các chất phụ gia. Trong giai đoạn này thạch cao được bổ sung vào clinker và sau đó được nạp vào máy nghiền mịn. Hỗn hợp clinker và thạch cao cho xi măng loại I hoặc hỗn hợp clinker, thạch cao và phụ gia poluzan được nghiền thành bột mịn theo hệ thống luân chuyển kín trong máy nghiền xi măng để có được độ mịn mong muốn. Sau đó xi măng được đưa vào các buồng chứa silo xi măng. 2.4.3 Các hoạt động môi trường và xã hội của nhà máy Holcim 2.4.3.1 Các hoạt động môi trường Xử lý bụi: tích hợp hoàn toàn trong dây chuyền công nghệ, không thể tách rời, ngoài ra nhà máy còn sử dụng công nghệ xử lí bụi hiện đại như lọc bụi tĩnh điện, lọc bụi túi. Xử lý khí thải: : sử dụng hệ thống SNCR xử lí NOx đạt TCVN truocs khi xảy ra môi trường sử dụng dung dịch Ure 40% phun vào dòng khí thải để giảm lượng NOx. Hệ thống này có khà năng giảm được 40% NOx. Xử lý chất thải rắn: Đối với chất thải sinh hoạt: ký hợp đồng thu gom Chất thải nguy hại: đốt tại lò nung clinker
23

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hệ thống quản lý môi trường ISO14001: hệ thống quản lí theo tiêu chuẩn quốc tế nhằm mục đích nâng cao thương hiệu Holcim, đồng thời công ty cũng định hướng thống nhất một phương pháp quản lí chung cho các công ty thành viên dựa theo tiêu chuẩn đã được thừa nhận rộng rãi trên toàn cầu Chương trình quản lý môi trường ở Holcim:

1. Kiểm soát chất thải

2. Giảm thiểu bụi tại các ống khói

3. Giảm thiểu bụi trong quá trình sản xuất

4. Tiết kiệm điện năng và nhiệt năng tiêu thụ

8. Kiểm soát nước thải

7. Tiết kiệm nước

6. Tăng cường sử dụng AFR

5. Tiết kiệm nguyên liệu sản xuất

9. Cải thiện đièu kiện làm việc

10. Xây dựng nhà máy xanh sạch đẹp

Công ty Holcim giảm thiểu việc tiêu thụ than bằng cách sử dụng các nguyên liệu từ các nhà máy khác để đốt. Holcim ký cam kết bảo vệ môi trường và xây dựng chiến lược phát triển bền vững. 2.4.3.2 Các hoạt động xã hội Holcim thực hiện các biện pháp bảo vệ an toàn cho nhân viên và các hoạt động khác của nhà máy Holcim còn tham gia hợp tác, đóng góp vào các hoạt động xã hội trong vùng.

24

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.5 Hệ thống hang động khu vực Kiên Giang 2.5.1 Giới thiệu

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hệ thống núi đá vôi Kiên Giang chỉ chiếm một diện tích nhỏ so với hệ thống núi đá vôi của cả nước nhưng được đánh giá đa dạng sinh học bậc nhất thế giới. Tại đây, các nhà khoa học đã tìm được nhiều loài động thực vật đặc hữu và loài mới bổ sung cho danh mục của thế giới. Khu hệ núi đá vôi Kiên Lương- Hà Tiên (Kiên Giang) nằm trong quần thể núi đá vôi kéo dài từ Kiên Giang- Việt Nam sang Kampot-Campuchia. Chúng phân bổ riêng lẻ dọc biển và đồng bằng, cách xa các khu hệ núi đá vôi khác từ 300 đến 1.000 km. Tuy vậy, núi đá vôi Kiên Giang lại mang đặc tính sinh học hấp dẫn các nhà nghiên cứu.. 2.5.1.1 Núi đá dựng

H ình 5 Tượng Quan thế âm Bồ Tát ở Khu du lịch Núi Đá Dựng Núi Đá Dựng tức núi Châu Nham thuộc xã Mỹ Đức, thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, cách biên giới Việt Nam - Campuchia 4 km. Ngoài giá trị lịch sự - là khu căn cứ cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp & Mỹ, nơi đây còn lưu tồn nhiều giá trị địa chất tâm linh, du lịch,.. rất lớn.

25

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Núi có hình thang cân, cao gần 100 m, trông xa như một khối đá vuông vức dựng giữa đồng bằng, vì thế mà có tên là Đá Dựng. Theo tính toán của các nhà địa chất, núi đá dựng là một khối đá vôi lớn có trọng lượng khoảng 6 triệu tấn. Trải qua một thời gian dài dưới tác động của các nhân tố khí hậu và môi trường, ngọn núi xảy ra các quá trình xâm thực, phong hóa, caster hay hiện tượng biển tiến biển lùi làm cho cảnh quan thay đổi. Bên trong có đầy đủ các lầu canh, lỗ châu mai, tháp vọng gác, đường ngầm, hang cá sấu,... Trong núi có nhiều hang động kỳ bí. Đường lên núi dài 1.049 m được chia làm hai tuyến. Tuyến 1 (đi lên) dài 772 m gồm các hang chính như hang Mẹ Sanh, hang Dơi, hang Cội Hàng Da, hang Trống Ngực, hang Khổ Qua, hang Bồng Lai...Tuyến 2 (đi xuống) dài 377 m, có các hang chính như hang Chỉ Huy, hang Biệt Động... Mỗi hang động có một tích truyện khác nhau: Hang Bồng Lai bốn mùa không khí trong lành, từ hang này ngước nhìn qua vòm núi có thể thấy mây trời bay. Hang Lầu Chuông có nhiều thạch nhũ mà khi gõ nhẹ vào sẽ tạo nên tiếng ngân trong như tiếng chuông âm vang trong gió. Hang Kim Quy có một khối đá giống hệt như con rùa. Nhiều hang động có yếu tố tâm linh, cho nên nơi đây thường xuyên diễn ra các cuộc hành hương của các tín đồ Phật giáo. 2.5.1.2 Thạch động Núi Thạch Động ở xã Mỹ Đức, cách trung tâm thị xã Hà Tiên 3km theo hướng đường biên giới Tây Nam Thạch Động còn được gọi là Vân Sơn, là một khối đá vôi Pecmi sót khổng lồ, đường kính chân khoảng 45 m, cao 93 m so với mực nước biển. Cấu trúc địa chất nơi đây rất đặc biệt. Cả khối núi bao gồm hai phần chồng khít nhau : phần dưới là lớp đá trẻ, phần trên là lớp đá già. Hiện tượng này được giải thích do trong lịch sử, khối đá trẻ di chuyển từ phía Campuchia sang, chồng lên và xếp khít với khối đá già. Sau thời gian biển lùi, xảy ra các quá trình phong hóa biển đổi, Thạch Động mang hình dáng như bây giờ. Leo hết những bậc thang là một hang cao và rộng, có nhiều thạch nhũ với những hình thù lạ mắt. Ở đó còn có một ngách hang ăn sâu xuống lòng đất, khiến không biết từ bao giờ ngách hang sâu này cùng với những vân đá tượng hình cô gái lờ mờ trên vách đứng, đã hình thành nên câu truyện cổ tích Thạch Sanh chém chằn. Ngoài ra, trong hang còn có chùa cổ Tiên Sơn. Tương truyền trước khi có chùa, đây là am tu của đạo sĩ Huỳnh Phong Chơn Nhơn, dưới thời Mạc Cửu. Nhờ hai cửa hang ở trên cao, nên trong hang lúc nào cũng thoáng mát, và cũng nhờ nó mà người viếng cảnh nhìn thấy toàn cảnh thôn Vân, cửa khẩu Xà Xía, và mũi Nai ở phía xa…

26

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

2.5.2 Điều kiện hình thành hang động đá vôi khu vực Kiên Giang 2.5.2.1 Quá trình nội sinh Do tác động của các quá trình nội lực Trái Đất (kiến tạo dịa chất), các trầm tích hàng triệu năm tuổi của các sinh vật có nguồn gốc từ biển như san hô, vỏ sò, rong, VSV,… đã dược nâng lên khỏi mặt nước, hình thành những khối đá khổng lồ gãy khúc. Các nứt gãy này bị chấn động làm xô lệch theo thời gian tạo nên cấu trúc phân tầng và các vách dựng thẳng đứng. 2.5.2.2 Quá trình ngoại sinh  Quá trình Karst Quá trình Karst là hiện tượng phong hóa đặc trưng của những miền núi đá vôi bị nước chảy xói mòn. Sự xói mòn không phải do cơ chế lực cơ học, mà chủ yếu là do khí điôxít cacbon (CO2) trong không khí hòa tan vào nước, cộng với các ion dương của hyđrô (H+) tạo thành axít cacbonic. Axít cacbonic là thủ phạm chính trong quá trình ăn mòn đá vôi. Sản phẩm tự nhiên của quá trình phong hóa Karst là các hang động với các nhũ đá, măng đá, sông suối ngầm,...  Xói mòn và sạt lở Ở những vùng núi đá vôi phân lớp nghiêng về phía biển, đá nứt nẻ mạnh và bị cắt ra thành nhiều khối nhỏ, nếu bị sóng mài mòn phần chân vách sẽ tạo ra các hang chân sóng ăn khuyết vào. Các khu vực đá vôi gần bờ rất dễ xảy ra trượt lở đá do trọng lực hay do bị bào mòn mạnh. Các hang động đá vôi ven biển được hình thành do sự xói mòn của nước. Khi bắt đầu hình thành, các khe nứt ở dưới mực nước ngầm bị xói mòn và khoét rộng dần. Sau đó quá trình xói mòn do trọng lực diễn ra làm khoét rộng thêm các khoảng trống tạo thành các hang động.

27

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

2.5.3 Giá trị tồn tại của các hang đông đá vôi khu vực Kiên Giang 2.5.3.1 Giá trị kinh tế Giá trị kinh tế có thể xuất từ các hoạt động khai thác đá vôi phục vụ cho ngành công nghiệp xi măng hoặc xuất phát từ các hoạt động du lịch trong vùng. 2.5.3.2 Giá trị khảo cổ học Theo nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, những hang động trong các núi đá vôi của tỉnh Kiên Giang đã được tổ tiên chúng ta sử dụng cách đây hàng ngàn năm, qua đó ta có thể biết được đời sống của cư dân và các sinh vật cổ trước kia. Nhiều di chỉ thuộc nền văn hóa Phù Nam (đầu công nguyên đến giữa thế kỉ thứ 7) được tìm thấy tại các núi đá vôi ở Chùa Hang và Hang Tiền. 2.5.3.3 Giá trị văn hóa

Hình 6 Lối vào chùa Hang Kiên Giang là nơi giao thoa của nhiều nền văn hóa: Kinh, Hoa, Khơ-me. Các núi đá vôi thường đượcxem như là nơi thiêng liêng có ý nghĩa lớn trong đời sống tâm linh của người dân bản địa, nhất là Phật tử.
28

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hàng năm, chùa Hang tổ chức lễ hội long trọng từ ngày mùng 8 đến ngày 15 tháng 4 Âm lịch. Đây là những ngày hội mừng Phật Đản được tổ chức với nét văn hóa đặc sắc. Các truyền thuyết như Thạch Sanh – Lý Thông, Hòn Phụ Tử, các lễ hội như lễ Phật Đảng … đã tạo nên những nét văn hóa đặc trưng cho nơi này. 2.5.3.4 Giá trị lịch sử Hang Tiền gắn liền với dấu tích của vua Gia Long (1762-1820), nơi đây được cho là nơi ông đã trú ẩn trước sự truy lùng của Nhà Tây Sơn. Các hang động cũng là những thành trì kiên cố cho quân ta trú ẩn trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Nhiều cảnh quan núi đá vôi đã trở thành biểu tượng và được công nhận là di tích lịch sử như MoSo, Chùa Hang, Hang Tiền. 2.5.3.5 Giá trị du lịch sinh thái Kiên Giang nổi tiếng với những danh lam thắng cảnh như Chùa Hang, Thạch Động, Đá Dựng và đặc biệt là Hòn Phụ Tử. Đá vôi ở Kiên Giang được hình thành từ các trầm tích biển hàng triệu năm trước. Quá trình phong hóa đã kiến tạo nên những kiệt tác thiên nhiên kỳ thú: vách núi thẳng đứng, những hang động thạch nhũ... với hình dáng độc đáo. Đây chính là yếu tố thu hút khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan và thưởng lãm. 2.5.3.6 Giá trị đa dạng sinh học Núi đá vôi ở Kiên Giang được đánh giá là một trong những khu vực có tính đa dạng sinh học với tỷ lệ các loài đặc hữu rất cao, ít nơi nào sánh được. Thực vật: đã ghi nhận được 322 loài thực vật cho khu vực này, trong đó một số loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam (chẳng hạn như loài Thiên Tuế, chỉ có ở tại vùng đá vôi Kiên Giang) và Danh lục Đỏ Thế giới Động vật: hệ động vật phong phú với ít nhất 155 loài động vật có xương sống, trong đó một số loài chim, thú quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng và cần được bảo vệ. Khu hệ ốc cạn với 65 loài đã được ghi nhận, trong đó có đến 36 loài mới cho khoa học và đặc hữu cho vùng này. Trong 60 loài bọ nhảy (Collembola), có 3 loài đặc hữu cho vùng núi đá vôi này, 24 loài có thể là loài mới cho khoa học và là loài đặc hữu, 15 loài đang còn trong quá trình phân tích và có nhiều khả năng nằm trong nhóm đặc hữu.
29

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.5.4 Các vấn đề môi trường

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Sự tác động của con người đã làm thay đổi sâu sắc điều kiện môi trường ở khu vực núi đá vôi Kiên Lương – Hà Tiên. Các hoạt động khai thác đá vôi để phục cho công nghiệp xi măng đã phá hủy và xóa bỏ đi nhiều cảnh quan tự nhiên hùng vĩ và môi trường sống tự nhiên của các loài sinh vật vốn đã phân bố hẹp và rất nhạy cảm với môi trường ở đây. Các hoạt đông du lịch cũng phát sinh nhiều vấn đề đáng lo ngại do sự thiếu ý thức bảo vệ môi trường, bảo vệ cảnh quan du lịch của du khách. Do đó, phát triển bền vững đang là yêu cầu cấp thiết và tối quan trọng hàng đầu đối với khu vực núi đá vôi nói riêng và Kiên Giang nói chung.

30

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Phần chuyên đề: Đánh giá tiềm năng phát triển ngành nuôi trồng thủy sản khu vực ĐB SCL và các tác động của ngành nuôi trồng thủy sản tới môi trường tự nhiên ở ĐB SCL. Từ đ ó đưa ra giải pháp khắc phục. 1

Tổng quan ngành nuôi trồng thủy sản ở vùng ĐBSCL

1.1 Giới thiệu chung Thuỷ sản vùng ĐBSCL luôn giữ vị trí quan trọng trong kinh tế thuỷ sản của cả nước và vị trí thứ hai trong kinh tế nông nghiệp và nông thôn của Vùng, đã có nhiều đóng góp quan trọng trong phát triển KT-XH của ĐBSCL. Tỉ trọng thuỷ sản trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn của Vùng hiện chiếm khoảng 30% - gần gấp đôi con số chung của cả nước (khoảng 16%). Đặc biệt thuỷ sản là ngành kinh tế then chốt ở 4 tỉnh thuộc bán đảo Cà Mau (Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang). Ngành Thuỷ sản đã có tác động quan trọng tới xoá đói giảm nghèo ở ĐBSCL thông qua thu hút vốn đầu tư và nhân lực để tăng các nguồn lực phát triển, cải tạo cơ sở hạ tầng, tạo việc làm, tang thu nhập, phát triển cộng đồng. Nhờ có thủy sản mà cuộc sống của người dân ngày càng được đảm bảo hơn, tránh áp lực di dân đến các vùng đô thị vốn đã quá đông đúc. Đối với người dân ở các địa phương ĐBSCL thì thủy sản là nguồn cung cấp thực phẩm quan trọng và không thể thiếu cho họ. Thủy sản đã cung cấp khoảng 60% nhu cầu đạm động vật cho cộng đồng dân cư trong vùng, và mức tiêu thụ trung bình gấp 4-5 lần ở các vùng khác. Ngành Thủy sản ĐBSCL có đóng góp lớn trong đảm bảo an ninh thực phẩm quốc gia. Quá trình phát triển thủy sản vừa qua theo chiều hướng tích cực đã tạo dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật bước đầu rất quan trọng cho sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa Ngành, có tác động đáng kể trong việc thúc đẩy quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn. Sự phát triển của ngành Thủy sản ĐBSCL thời gian qua cũng đã góp phần tạo cơ sở thực tiễn cho Đảng, Nhà nước đổi mới đường lối lãnh đạo, cơ chế quản lý, từ đó có tác động mạnh đến việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách mới. Như vậy, từ chỗ là một bộ phần không lớn thuộc khối kinh tế nông nghiệp, với trình độ lạc hậu vào những năm 80 (thế kỷ XX), ngày nay thủy sản đã trở thành một ngành kinh tế nông-công nghiệp có tốc độ phát triển cao, quy mô ngày càng lớn. Thủy sản đã góp phần quan trọng trong tổng GDP, và đặc biệt quan trọng đối với dịch chuyển cơ cấu KT-XH của ĐBSCL trong những năm qua và cả những năm tới. Thủy sản đã giải quyết yêu cầu
31

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

đặt ra của nền kinh tế là gia tăng tổng sản phẩm xã hội, tạo ra sản phẩm tiêu dùng tại chỗ và hàng xuất khẩu, tạo việc làm, nâng cao thu nhập,… Do Thủy sản phát triển, nông thôn đổi mới, trật tự xã hội được duy trì, và cung cố an ninh quốc phòng, đặc biệt là phòng thủ ven biển. Từ đây cho ta suy nghĩ đầy đủ hơn vê vị trí ngành Thủy sản đến năm 20062010 và tầm nhìn 2015: Thủy sản vẫn là ngành kinh tế vô cùng quan trọng. 1.2 Hiện trạng phát triển của ngành NTTS ở vùng ĐBSCL 1.2.1 Tình hình sản xuất và cung ứng giống của một số sản phẩm chủ lực 1.2.1.1 Tình hình sản xuất và cung ứng giống của tôm sú Sản xuất giống tôm sú cung cấp cho nghề nuôi tôm sú ở ĐBSCL đã có những bước tiến khả quan, góp phần đáng kể vào việc phát triển nghề nuôi tôm sú trong vùng. Kể từ khi bắt đầu thử nghiệm sản xuất giống tôm sú đầu những năm 1990, tới năm 2001 toàn ĐBSCL chỉ có 862 trại sản xuất giống với sản lượng 3.952 triệu tôm giống, chiếm 23,30% trong số 3.700 trại sản xuất giống và 26,35% trong số 15.000 triệu tôm giống được sản xuất của Việt Nam (Lê Xuân Sinh, 2004). Đến năm 2010, toàn vùng có 1.220 trại sản xuất giống, sản xuất được 20.915 tỷ tôm giống (Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL năm 2010). Các tỉnh có năng lực sản xuất giống tôm sú mạnh nhất ở ĐBSCL là Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh, Bến Tre và Tp.Cần Thơ. Tuy nhiên, khả năng sản xuất giống tôm sú tại chỗ thời gian qua chưa đáp ứng được nhu cầu tôm giống cho nghề nuôi tôm trong vùng (chỉ khoảng 35% vào năm 2005 và 50,8% trong năm 2010). Việc phải nhập giống với số lượng lớn, rải rác trên địa bàn rộng, nguồn giống nhập đa dạng gây khó khăn cho hoạt động kiểm soát chất lượng con giống và quản lý dịch bệnh. Cần làm rõ thực trạng cung cấp và sử dụng tôm sú giống và từ đó có những giải pháp phù hợp cho việc phát triển mạng lưới cung cấp giống, việc sửu dụng tôm giống cũng như công tác quản lý ngành ở vùng trọng điểm nuôi tôm này của cả nước.

32

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hình 7: Lượng tôm giống tự sản xuất và thả nuôi năm 2010 ở ĐBSCL (Tính toán từ số liệu của các Sở NN&PTNT ở ĐBSCL, 2010) 1.2.1.2 Tình hình sản xuất và cung ứng giống của cá tra Hoạt động sản xuất giống cá tra phát triển mạnh mẽ từ năm 1999 sau khi công nghệ sản xuất giống được hoàn thiện; và đặc biệt phát triển kể từ năm 2004 đến nay. Hai tỉnh có số trại và sản lượng giống cá tra, ba sa lớn nhất vùng là Đồng Tháp và An Giang. Đây cũng là 2 trung tâm nuôi cá tra, cá ba sa lớn nhất toàn quốc. Lượng giống sản xuất chỉ đáp ứng đủ nhu cầu nuôi của vùng, mà còn có thể xuất khẩu ra các tỉnh phía Bắc và miền Trung. Tuy nhiên, thời gian gần đây, chỉ có nghề sản xuất giống cá tra phát triển mạnh cả về số trại và sản lượng, trong khi nghề sản xuất giống cá ba sa đang có chiều hướng đi xuống do công nghệ sản xuất phức tạp, giá thành cao,… Trong cơ cấu sản lượng và só trại giống, tỉ lệ các cơ sở và số trại sản xuất giống cá ba sa là không đáng kể. Số lượg các cơ sở ương dưỡng và sản xuất giống cá tra, cá ba sa tăng liên tục trong gia đoạn 2001-2007, đáng kể nhất là Đồng Tháp( năm 2001 chỉ có 52 cơ sở sản xuất và ương dưỡng, năm 2007 đã tăng lên 1.000 cơ sở). Trước năm 2000, nguồn giống cá tra, cá ba sa cung cấp cho mỗi thương phẩm phụ thuộc nhiều từ nguồn giống tự nhiên. Từ năm 2001 đến nay, hầu hết diện tích nuôi ao hầm, đăng quầng, bãib ồi và lồng bè trong vùng sử dụng con giống sản xuất nhân tạo. Các cơ sở sản xuất giống ở ĐBSCL có sản lượng trung bình năm khoảng 1 triệu con/năm; 10-15 triệu cá bột/năm; diện tishc trung bình các cơ sở ương dưỡng dao động từ 3.000-5.000m2, trung bình sản xuất khoảng 6 đợt/năm.
33

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Nhu cầu giống thả tăng liên tục và tăng mạnh, từ 888,9 triệu con năm 2001 lên 2.526,4 triệu con năm 2007 (tăng 2,84 lần). Năm 2001 sản xuất giống cá tra, cá ba sa mới chỉ đáp ứng được 58,9% nhu cầu giống nuôi, đến năm 2007 sản xuất giống nhân tạo đã đáp ứng gần 100% nhu cầu giống nuôi của vùng. [3] 1.2.1.3 Tình hình sản xuất và cung ứng giống cua biển Cua biển là đối tượng nuôi nước lợ có giá trị kinh tế cao. Trong những năm gần đây, việc nuôi cua biển phát triển mạnh ở hầu hết các tỉnh, thành phố ven biển nước ta. Ở ĐBSSCL, của biển được nuôi ở hầu hết các tỉnh có biển như Cà Mau, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Kiên Giang… Ngoài ra, tỉnh Long An mặc dù không trực tiếp giáp biển nhưng cũng có phong trào nuôi tôm rất mạnh. Trước năm 2004, nguồn giống cua biển chu yếu phụ thuộc vào tự nhiên. Sau khi Trung tâm Nghiên cứu Thủy sản III thực hiện thành công đề tài “Nghiên cứu sản xuất giống cua biển”, công nghệ này đã được chuyển giao cho nhiều địa phương trên cả nước trong đó có Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng,… Tuy nhiên, cũng như nhiều công nghệ sinh học khác, công nghệ sản xuất giống cua dần dần ổn định, tỷ lệ sống được nâng lên, nguồn giống đối tượg nnày bước đầu đã chủ động. 1.2.1.4 Tình hình sản xuất và cung ứng giống đặc sản Hiện nay, bên cạnh các đốit ượng chủ lực nêu trên, hoạt động sản xuất một số đối tượg nkhác cũng phát triển khá mạnh.  Tôm càng xanh Tôm càng xanh cũng là một trong những đối tượng nuôi chủ lực ở ĐBSCL. Theo thống kê của tổ chức FAO, sản lượng khai thác tôm càng xanh tự nhiên của nước ta khoảng 500 tấn/năm. Năm 2001, các trại sản xuất giống tôm càng xanh trong cả nước mới đạt sản lượng 50,57 triệu con, trung bình chỉ đạt 12% công suất thiết kế. Năm 2002, sản lượng đạt 114 triệu con. Năm 2003, với số lượng 70 trại giống, sản lượng con giống đạt khoảng 92 triệu con, tuy có tăng hơn năm 2001 và 2002 nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu giống của vùng. Hiệ nay theo thống kê, ở ĐBSCL có 8 tỉnh đã sản xuất được giống tôm càng xanh, trong đó các tỉnh sản xuất nhiều là Cần Thơ (44 trại), Bến Tre (14 trại), Hậu Giang (7 trại). Theo các số liệu điều tra ban đầu, tổng số giống đưa vào ương và kinh doanh năm 2007 đạt 800 triệu con, đưa vào nhà nuôi đạt 780 triệu con.

34

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây  Cá rô phi GIFT:

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Cá rô phi được sinh sản nhân tạo thành công ở Viện nghiên cứu NTTS II, Khoa thủy sản Đại học Cần Thơ và Đại học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh đã chuyển giao cho một số địa phương trong vùng ĐBSCL. Hiện nay, cá rô phi đơn tính dòng gift đang được sản xuất giống ở các tỉnh như Trà Vinh, Tiền Giang, Vĩnh Long và Cà Mau. Hiện chưa có số liệu chính xác về lượng con giống cá rô phi sản xuất ở ĐBSCL nhưng thực tế cá rô phi sản xuất không chỉ cung cấp phục vụ NTTS trong vùng mà còn xuất bán đi các tỉnh phía Bắc.  Một số thủy đặc sản khác: Một số đối tượng thủy đặc sản khác như cá Điêu Hồng, Bống Tượng, Rô đồng, Thát Lát, Sặc Rằn, Lăng Vàng, Mè vinh,.. cũng được sản xuất ở ĐBSCL, mặc dù quy mô không lớn và rải rác nhưng cũng góp phần tạo nên bức tranh đa dạng về các sản phẩm giống thủy sản, người dân có nhiều lựa chọn hơn để quyết định đầu tư sản xuất. 1.2.2 Đánh giá tình hình chế biến và thương mại thủy sản ở ĐBSCL 1.2.2.1 Năng lực chế biến thủy sản vùng ĐBSCL so với toàn Ngành Thủy sản vùng ĐBSCL đóng góp phần lớn vào thành tích xuất khẩu thủy sản của cả nước, với giá trị xuất khẩu toàn vùng đến năm 2007 đạt 2,4 tỷ USD, chiếm 64% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Bảng 2: Năng lực chế biến thủy sản vùng ĐBSCL giai đoạn 2001-2007

(Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo tổng kết ngành thủy sản các tỉnh 2003-2007)

35

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Bảng 3: So sánh một số chỉ tiêu chế biến xuất khẩu thủy sản ĐBSCL với toàn Ngành năm 2007

(Nguồn: (1)theo VASEP; (2)tổng hợp từ các báo cáo tổng kết ngành TS các tỉnh ĐBSCL) 1.2.2.2 Các sản phẩm chế biến xuất khẩu chủ lực của vùng ĐBSCL  Tôm sú và Tôm thẻ Tôm là đối tượng đem lại giá trị xuất khẩu lớn nhất cho vùng. Năm 2003 sản lượng chế biến đạt 119.235 tấn, giá trị 983,9 triệu USD, năm 2007 sản lượng đạt 158.795 tấn, giá trị tăng lên 1,312 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn đạt 7,43% về khối lượng và 7,47% về giá trị. Xét về cơ cấu thì tỷ trọng tôm đang giảm dần do xuất khẩu cá tra đang ngày càng tăng mạnh. Ba tỉnh chiếm 80% tổng giá trị xuất khẩu tôm của vùng gồm: Cà Mau, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Chỉ tính riêng 3 tỉnh này đã chiếm tới 80% tổng giá trị xuất khẩu tôm toàn vùng. Trong đó, Cà Mau 572 triệu USD (chiếm 44%); Sóc Trăng 335,8 triệu USD (chiếm 26%) và Bạc Liêu 159,8 triệu USD (chiếm 12% KNXK tôm toàn vùng). Bảng 4: Khối lượng và giá trị xuất khẩu tôm vùng ĐBSCL giai đoạn 2003-2007

(Nguồn: Báo cáo tổng kết ngành TS các tỉnh và Hiệp hội Xuất khẩu thủy sản Việt Nam) Mặc dù KNXK tôm liên tục tăng trong giai đoạn 2003-2007 nhưng tỷ trọng trong tổng KNXK thủy sản của vùng lại giảm dần, từ 81% năm 2003 còn 55% năm 2007. Điều đó cho thấy cơ cấu sản phẩm chế biến của vùng đa dạng hơn, đặc biệt là đóng góp của xuất khẩu cá tra đã làm giảm đáng kể tỷ trọng xuất khẩu tôm.
36

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Bảng 5 :Tỷ trọng xuất khẩu tôm trong tổn kim ngạch xuất khẩu thủy sản của vùng

(Nguồn:Tổng hợp từ NGTK và BC tổng kết ngành thủy sản các tỉnh giai đoạn 2003-2007

Hình 8: tỷ trọng xuất khẩu trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của vùng

Hình 9 : Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu tôm vùng ĐBSCL trong kim ngạch xuất khẩu tôm toàn Ngành
37

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Về thị trường xuất khẩu: nói chung xuất khẩu tôm của vùng cũng như cả nước trong thời kỳ hội nhập thì sự can thiệp của Nhà nước là rất ít. Bởi vậy, các doanh nghiệp đều phải tự tạo ra lợi thế cạnh tranh riêng và vì thế ở mỗi địa phương trong vùng có được những mặt mạnh và mặt yếu ở từng thị trường xuất khẩu. Đối với các doanh nghiệp ở Cà Mau, xuất khẩu tôm sang Mỹ đã vượt qua Nhật Bản kể từ năm 2001. Hai thị trường này chiếm từ 80-90% tổng giá trị xuất khẩu thủy sản của tỉnh. Thị trường EU chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ và có xu hướng giảm dần. Úc và Canađa là hai thị trường có sự tăng trưởng cao. Xuất khẩu tôm của các doanh nghiệp ở Kiên Giang trong thời gian qua chưa có sự ổn định. Thị trường các nước Bắc Mỹ và EU giảm dần, thị trường Nhật tăng dần. Trong các thị trường còn lại, Trung Quốc, Nga và đặc biệt là Ôxtrâylia có sự tăng trưởng đáng khích lệ. Thị trường xuất khẩu tôm ở Bạc Liêu năm 2007 theo khối nước thì Châu Á chiếm tỷ trọng lớn nhất 74%, tiếp đến là Châu Âu 11% và Mỹ 10%. So với năm 2006 thì thị trường Châu Á tăng 13%, thị trường Mỹ và Châu Âu ổn định ở 9-11%. Xuất khẩu sang các nước khác giảm đáng kể từ 12% xuống 5%.  Cá tra Năng lực chế biến cá tra: Số lượng, qui mô nhà máy chế biến cá tra liên tục tăng nhanh trong những năm qua. Năm 2000 toàn vùng chỉ có 15 nhà máy với công suất 77.880 tấn/năm, đến năm 2007 là 64 nhà máy, công suất đạt 682.300 tấn/năm. Tính đến tháng 6 năm 2008, toàn vùng đã có 80 nhà máy có chế biến cá tra, công suất thiết kế 965.800 tấn/năm. Bảng 6: Số lượng và công suất thiết kế các nhà máy chế biến cá tra 2002-2008

Mặt hàng chế biến: Trước đây cá tra được xuất khẩu chủ yếu dưới dạng phi lê cấp đông đơn thuần nhưng đến nay đã đa dạng hơn nhiều với các mặt hàng chế biến sẵn như: chả cá; tẩm bột; cá tra cắt khoanh muối sả; cắt khúc; sandwich; bánh mè; bao bắp non; cà chua nhồi cá tra, basa; bông bí nhồi cá tra, basa; bao tử dồn chả hải sản; xúc xích, phi lê cuộn nhồi tôm; cá tra, basa nhồi cá hồi. Ngoài dạng chế biến sẵn thì một số doanh nghiệp còn có mặt hàng khô (chủ yếu ở An Giang) như bong bóng cá tra, basa sấy khô; khô cá tra, basa phồng. Ngoài ra nhiều doanh nghiệp còn tận dùng phế liệu chế biến thành các sản phẩm có ích như dầu cá, bột cá làm tăng hiệu quả sản xuất và hạn chế chất gây ô nhiễm môi trường.
38

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Chất lượng sản phẩm: Để có thể xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường nước ngoài, đặc biệt là những nước có yêu cầu chất lượng cao như EU, Mỹ, Nhật thì hầu như mọi doanh nghiệp đã phải áp dụng các Chương trình quản l. chất lượng như HACCP, SQF 2000CM, SQF1000CM, ISO9001:2000, Halal, BRC, và quản l. môi trường như ISO 14000. Tuy nhiên, công tác quản l. chất lượng cũng còn nhiều bất cập như chưa kiểm soát được việc buôn bán kháng sinh hoá chất không rõ nguồn gốc; quản l. vùng nuôi chưa hiệu quả; vấn đề truy nguyên nguồn gốc sản phẩm;… Thị trường xuất khẩu: Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1998-2007 đạt 77% về sản lượng và 68% về KNXK. Tốc độ tăng KNXK thấp hơn tốc độ tăng sản lượng đã cho thấy giá xuất khẩu trung bình giảm dần và phần nào phản ảnh hiệu quả sản xuất giảm. Bảng 7: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cá tra, cá ba sa giai đoạn 2000-2007

(Nguồn: Thống kê xuất khẩu thủy sản Việt Nam 10 năm (1998-2007) – VASEP 2008) Cơ cấu thị trường: Cơ cấu thị trường liên tục có sự thay đổi qua từng năm trong giai đoạn 2003-2007. Thị trường Mỹ có sự biến động mạnh nhất do đã xảy ra vụ kiện chống bán phá giá vào năm 2003. Tuy nhiên, ngay sau đó thị trường xuất khẩu cá tra Việt Nam đã được mở rộng hơn, đặc biệt là sang EU và gần đây nhất là Nga. Có thế nói EU và Nga đã thế chỗ thị trường Mỹ như trong những năm 1999-2002. Đến nay, cá tra Việt Nam đã có mặt ở khoảng 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. EU, Bắc Mỹ và Nga là những thị trường lớn nhất

39

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hình 10: Cơ cấu thị trường xuất khẩu cá tra theo sản lượng năm 2007 Thị trường nội địa: Như đã đánh giá ở mục trên, thời gian đầu sản lượng nuôi cá tra chủ yếu được tiêu thụ nội địa nhưng về sau do xuất khẩu tăng nên thị trường nội địa thu hẹp dần cả về tỷ trọng lẫn con số tuyệt đối. Sản phẩm tiêu thụ nội địa là cá tra có thịt màu vàng được nuôi nhỏ lẻ tự phát do các hộ gia đình đem bán ở chợ dạng tươi sống. Một phần cá tra chế biến đông lạnh có bày bán ở hệ thống siêu thị bán lẻ trên toàn quốc. 1.2.2.3 Hệ thống chợ cá, chợ nông sản, chợ thủy sản đầu mối Tính đến năm 2008, chỉ tính riêng 8 tỉnh vùng ngập lũ đã có 1.131 chợ có kinh doanh sản phẩm thủy sản đã nâng cấp lên được 51 chợ so với năm 2007 (1.182 chợ). Mặc dù hệ thống chợ cá đã được quan tâm từ rất lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa có số liệu chính thức về qui mô và họat động của mạng lưới chợ này. Là một “vựa cá” của cả nước, nhưng toàn vùng ĐBSCL hiện vẫn chưa có chợ thủy sản đầu mối, hiện Bạc Liêu đang xây dựng báo cáo khả thi xây dựng chợ thủy sản đầu mối nhưng chưa được phê duyệt đầu tư và chợ đầu mối thủy sản Cần Thơ. Bước đầu hệ thống chợ/chợ cá hiện có đã góp phần tăng khả năng tiếp cận thị trường, kích thích tiêu thụ sản phẩm và giá bán cho người dân. Tuy nhiên theo kết quả phỏng vấn, số lượng người dân trực tiếp mang hàng đến chợ bán thì chưa nhiều, hầu hết vẫn phải qua trung gian do hoạt động xúc tiến thương mại, tiếp thị và cung cấp thông tin còn nghèo nàn. 1.2.3 Lao động của ngành nuôi trồng thủy sản Tổng số lao động nuôi trồng thủy sản vùng ĐBSCL hiện nay ước khoảng 1,3 triệu lao động (bao gồm cả lao động chuyên và không chuyên), chiếm 66,5% lao động thủy sản toàn vùng, và 12,3% tổng số lao động toàn quốc. Phần lớn các lao động (đại diện của các
40

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

hộ nuôi trồng thủy sản) đã được tham gia các khoá tập huấn về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản. Những lớp tập huấn này được tổ chức bởi nhiều cơ quan khác nhau như: Trung tâm Khuyến ngư các tỉnh, Phòng thủy sản, phòng Nông nghiệp của các quận, huyện,... Các lớp tập huấn thường diễn ra trong vòng 1 hoặc 2 ngày, tập trung vào các vấn đề mấu chốt như kỹ thuật nuôi, xử lý môi trường và phòng trừ dịch bệnh. Tuy nhiên, do trình độ nhận thức của người dân còn thấp nên việc áp dụng các kiến thức đã học được của người dân vào thực tế còn nhiều hạn chế. Thực tế ở ĐBSCL phổ biến trong việc áp dụng kỹ thuật nuôi vẫn là tham quan, học hỏi kinh nghiệm giữa những người nuôi với nhau. Qua khảo sát cho thấy, nhu cầu sử dụng lao động cho hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản biến động khác nhau theo các phương thức nuôi khác nhau. Trong nuôi cá nước ngọt, do mức độ đầu tư chưa lớn, các hoạt động chăm sóc, quản lý ao nuôi chủ yếu tận dụng lao động có sẵn trong gia đình nên với phương thức nuôi quảng canh cải tiến, các gia đình thường sử dụng trung bình 1 lao động cho việc quản lý chăm sóc 1 ao nuôi diện tích trung bình 2000 m2 (ngoại trừ thời điểm thu hoạch và cải tạo ao cần phải thuê thêm lao động ngoài). Tuy nhiên, tính về khoảng thời gian, lao động này không dành hết toàn bộ thời gian cho ao nuôi, mà còn làm các việc khác. Bởi vậy, nếu tính theo khoảng thời gian, trung bình một vụ, 1 ha ao nuôi cần khoảng 1,5 lao động cho nuôi quảng canh cải tiến và 2 lao động cho nuôi bán thâm canh (đối với nuôi nước ngọt). Nhu cầu sử dụng lao động trong nuôi nước lợ lớn hơn so với nuôi nước ngọt, do mức độ đầu tư và yêu cầu chăm sóc cho nuôi tôm nước lợ lớn hơn so với nuôi các đối tượng thủy sản khác. Bởi vậy, nếu tính diện tích trung bình một ao nuôi là 3.500 m2, thì số lao động trung bình sử dụng cho nuôi QCCT trong nuôi nước lợ là 2 người/ha/vụ nuôi, nuôi bán thâm canh là 3 lao động/ha ao nuôi/vụ nuôi, nuôi thâm canh là 5 người/ha/vụ nuôi. 1.2.4 Tổ chức và quản lý sản xuất nuôi trồng thủy sản 1.2.4.1 Tổ chức sản xuất Vùng ĐBSCL hiện có rất nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào NTTS trong đó tập chung chủ yếu vào 2 loại hình kinh tế đó là (kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể). Kinh tế tư nhân bao gồm (cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân). Đối với thành phần kinh tế tập thể: Chủ yếu là kinh tế HTX và tổ hợp tác, hiện nay toàn vùng có 115 HTX, tăng 75 HTX so với năm 2003, và 352 tổ hợp tác tăng thêm 136 tổ hợp tác so với năm 2003 (mô hình cấp thấp của HTX). Tuy nhiên xét về mặt hiệu quả kinh tế thì mô hình tổ hợp tác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn bời vì tổ hợp tác hoạt

41

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

động trên tinh thần tự nguyện có tính cộng đồng rất cao, hàng năm người đứng đầu tổ hợp tác chỉ thu một khoảng lệ phí rất nhỏ 50.000đ/ha/vụ, số tiền này sẽ được sử dụng vào mục đích phòng trừ dịch bệnh và hỗ trợ tiền con giống cho những hộ bị mất trắng do dịch bệnh… Ngoài ra họ cũng có những quy định chung về việc cấp và thoát nước nên tình hình dịch bệnh xảy ra rất ít. Còn đối với mô hình HTX do ràng buộc về mặt pháp lý, trình độ quản lý cũng cao hơn trong khi đó trình độ của người dân thì hạn chế nên nhìn chung mô hình kinh tế HTX hoạt động không mang lại hiệu quả. Đối với loại hình kinh tế tư nhân năm 2007 toàn vùng có 81 doanh nghiệp tăng thêm 80 doanh nghiệp so với năm 2000, nhìn chung loại hình kinh tế này hoạt không mang lại hiệu quả kinh tế do đầu tư nhiều, thời gian khấu hao dài trong khi đó NTTS không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả kinh tế mà nó còn tiềm ẩn rủi ro rất cao, chỉ sau một năm làm ăn không có lãi nếu doanh nghiệp nào vốn ít thì sẽ rơi vào tình trạng giải thể ngay lập tức và thực tế cho thấy đã có không ít các doanh nghiệp phải lao đao với nghề nuôi tôm sú. Đối với loại hình kinh tế là tiểu chủ trong đó tập chung chủ yếu là loại hình kinh tế trang trại, toàn vùng có 2.809 trang trại kết hợp mô hình VAC (tăng thêm 1.789 trạng trại so với năm 2003), còn lại đại đa số mô hình NTTS là của các hộ gia đình nông thôn. Đây là loại hình kinh tế mang lại hiệu quả kinh tế rất cao do các chủ biết kết hợp cây trồng vật nuôi một cách phù hợp tạo ra nhiều “chân dết” đan xen nhau nên có thể bù trừ cho nhau trong phân phối thu nhập. Đánh giá chung: Nhìn chung các loại hình kinh tế trong vùng vẫn chưa có một sự kết nối nào trong sản xuất, “mạnh ai nấy làm” không ai làm giống ai, nếu tình hình này kéo dài chỉ cần thị trường đầu ra chững lại thì các doanh nghiệp NTTS cũng như các loại hình kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn. Tổ chức sản xuất NTTS hiện nay ở ĐBSCL chủ yếu theo hình thức tư nhân. Hiện có rất nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào NTTS trong vùng như hộ gia đình, tổ hợp tác, HTX, doanh nghiệp, trang trại,… Theo báo cáo tổng kết của các tỉnh trong vùng, tính đến năm 2007 toàn vùng có 125 mô hình HTX chuyên NTTS (tăng thêm 67 HTX so với năm 2003), 352 tổ hợp tác NTTS (tăng thêm 136 tổ hợp tác so với năm 2003), 81 doanh nghiệp đầu tư vào NTTS (tăng thêm 80 doanh nghiệp so với năm 2000) và toàn vùng có 2.809 trang trại kết hợp mô hình VAC (tăng thêm 1.789 trạng trại so với năm 2003), còn lại đại đa số mô hình NTTS là của các hộ gia đình nông thôn.

42

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 1.2.4.2 Tổ chức quản lý ngành thủy sản

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Về mặt quản: Đối với các tỉnh có biển thì ngành thủy sản tỉnh được quản trực tiếp bởi các Sở Thủy sản, trong đó gồm nhất nhiều phòng ban, Trung tâm khuyến ngư, Chi Cục BVNLTS trực thuộc sở thủy sản. Cấp huyện có phòng thủy sản, và cấp xã có cán bộ khuyến nông kiêm khuyến ngư theo dõi về thủy sản. Đối với các tỉnh nội đồng (không có biển) thì mô hình tổ chức quản sẽ bao gồm: sở NN&PTNT, trong sở lại phân ra rất nhiều phòng ban khác nhau, trong đó có phòng kinh tế (có một cán bộ quản và theo dõi về hoạt động thủy sản), có tỉnh như tỉnh Long An trong sở NN&PTNT còn có chi cục Thủy sản. Cấp huyện có phòng kinh tế trực thuộc UBND huyện (có một cán bộ theo dõi về thủy sản), cấp xã có cán bộ khuyến nông kiêm khuyến ngư và thú y phụ trách theo dõi về thủy sản. Nhìn chung mô hình quản như trên là tương đối hợp, tuy nhiên hiện nay thủy sản đang phát triển rất nhanh và mạnh, chủ yếu tập chung là hộ gia đình nông thôn chuyển sang NTTS, các mô hình sản xuất NTTS lại trực tiếp nằm ở cấp địa phương nên trong điều kiện cán bộ chuyên trách theo dõi lĩnh vực thủy sản có hạn, một số bất cập trong quản vẫn còn nảy sinh trong thực tế sản xuất. 1.2.5 Hiện trạng áp dụng khoa học kỹ thuật và công tác khuyến ngư 1.2.5.1 Áp dụng khoa học kỹ thuật Trước sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả chuyển sang sản xuất thủy sản ở các địa phương ngày càng gia tăng, đồng nghĩa với nó là các hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) vùng ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung đang đứng trước hàng loạt các thách thức mới. Đó là các vấn đề về giống, nuôi thương phẩm, chế biến, môi trường , dịch bệnh….với hàng loạt các rào cản kỹ thuật (về dư lượng kháng sinh, các chất độc hại trong sản phẩm thủy sản…) từ phía các nhà nhập khẩu. Làm thế nào để phát triển sản xuất thủy sản bền vững, có hiệu quả, tránh được rủi ro và còn nhiều vấn đề khác…Các bài toán ấy chỉ có lời giải thoả đáng khi 4 nhà: nhà khoa học, các nhà quản l., nhà sản xuất (người nuôi, ngư dân..) và các doanh nghiệp thật sự liên kết chặt chẽ với nhau. Về khoa học công nghệ trong NTTS của vùng ĐBSCL được các Bộ, Ban, Ngành và các cấp chính quyền địa phương quan tâm. Vùng đã kết hợp được với các Viện nghiên cứu NTTS (I,II,III), Trường Đại học Nông Lâm, Trường Đại học Cần Thơ và các Công ty thức ăn, thuốc và hoá chất, cũng như các Viện, Trường khác ảnh hưởng đến các hoạt động NTTS. Khoa học và công nghệ nuôi trồng thủy sản đã hướng vào giải quyết yêu cầu đa dạng hoá giống loài nuôi, hình thức nuôi; nâng cao chất lượng con giống, phòng trị bệnh và bảo vệ môi trường; đặc biệt đã nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất thức ăn cho cá tra, ba sa... giảm giá thành và nâng cao chất lượng dinh dưỡng.
43

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hoạt động khoa học công nghệ đã đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản Việt Nam nói chung và nuôi trồng thủy sản ĐBSCL nói riêng, góp phần đáng kể trong việc đưa ngành thủy sản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ phát triển cao, quy mô ngày càng lớn và giá trị ngày càng tăng. Trong gần vài thập niên trở lại đây các tổ chức KHCN thủy sản đã tiến hành các hoạt động: Xác định được điều kiện tự nhiên và tiềm năng cho phát triển nuôi trồng thủy sản, làm cơ sở cho việc quy hoạch tổng thể phát triển ngành kinh tế thủy sản Việt Nam nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng. Khoa học công nghệ thủy sản mặc dù chưa phát triển mạnh theo chiều sâu (nghiên cứu cơ bản) nhưng sự phát triển theo chiều rộng (nghiên cứu ứng dụng) trên các lĩnh vực khai thác, bảo vệ nguồn lợi, nuôi trồng và chế biến đã làm nền tảng cho sự phát triển của ngành trong thời gian qua. 1.2.5.2 Công tác khuyến ngư Hiện nay đã có 12/13 tỉnh ĐBSCL có Trung tâm khuyến ngư (trừ Hậu Giang). Trong các năm qua, khuyến ngư trung ương và các tỉnh ĐBSCL đã hỗ trợ đắc lực cho phát triển NTTS thông qua các cuộc tập huấn, hội thảo, thực hiện các điểm trình diễn, cấp phát các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật nuôi và phòng trừ bệnh thủy sản. Nhìn chung các hoạt động trong công tác khuyến ngư, chuyển giao tiến bộ KHKT đã nâng cao được trình độ về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cho nông dân, nhất là kỹ thuật nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh cho hiệu quả kinh tế cao, qua các lớp tập huấn bà con tiếp thu tốt những kiến thức về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là các lớp tập huấn tại hiện trường, các mô hình trình diễn về nuôi tại một số cơ sở nuôi tiên tiến. Sau khoá tập huấn đã chứng minh được tính hiệu quả tốt khi áp dụng vào thực tế nên đã được nhiều người dân lựa chọn mô hình để đầu tư sản xuất cho hiệu quả kinh tế rất cao. Hoạt động khuyến ngư đã góp phần đưa những đối tượng nuôi mới cho sản xuất. Hàng năm ngoài những đối tượng nuôi truyền thống của vùng như cá tra, cá ba sa, tôm càng xanh, cá tai tượng, tôm sú, rô, lóc… trung tâm khuyến ngư còn chuyển giao các loài mới có giá trị kinh tế cao đến với người nuôi như cá Diêu hồng, rô phi dòng gift, cá hú,… góp phần từng bước nâng cao kiến thức về kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho người nuôi. Nhờ các chương trình khuyến ngư của TƯ như dự án dạy nghề thủy sản cho người nghèo ở ĐBSCL, chương trình nuôi tôm càng xanh ruộng lúa, chương trình nuôi cá ruộng và chương trình hợp tác nuôi thủy sản mở rộng phối hợp với trường ĐH nông, lâm TPHCM, trường ĐH Cần Thơ, An Giang… đã thực hiện nhiều mô hình nuôi cá có hiệu quả, thực hiện chuyển giao công nghệ nuôi trồng thủy sản và sản xuất giống thủy sản cho hầu hết các tỉnh trọng điểm về NTTS trong vùng. Trong giai đoạn 2002-2007 trung tâm khuyến ngư và khuyến nông của các tỉnh trong vùng ĐBSCL đã tổ chức khoảng 14.000 lớp tập huấn và hội thảo về kỹ thuật NTTS với 350.000 lượt người tham gia, 1.590 điểm mô hình trình diễn, thăm quan học hỏi về NTTS với trên 90.000 lượt người tham gia, phát trên 100.000 tài liệu về kỹ thuật nuôi trồng thủy sản cho bà con nông ngư dân. Ngoài ra hàng năm cũng có nhiều doanh nghiệp sản xuất
44

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

thức ăn, thuốc thú . thủy sản ở trong và ngoài vùng cũng tham gia tổ chức riêng hoặc phối kết hợp với trung tâm khuyến ngư các tỉnh trong vùng tổ chức hội thảo riêng về kỹ thuật NTTS cho bà con nông, ngư dân. Tuy nhiên, công tác khuyến ngư trong vùng vẫn còn bộc lộ một số điểm yếu như: Trong tập huấn và hội thảo vẫn còn có sự chồng chéo. Đồng thời, đội ngũ khuyến ngư còn mỏng, chưa đến tuyến huyện/thị. 1.2.6 Đánh giá chung về hiện trạng hoạt động nuôi trồng thủy sản Hoạt động sản xuất NTTS khu vực ĐBSCL giai đoạn 2000-2008 phát triển nhanh và đạt được những thành tựu to lớn. Phần lớn hoạt động nuôi trồng thủy sản trong vùng đã chuyển sang hướng sản xuất hàng hóa và đang từng bước trở thành một trong những nghề sản xuất chính, phát triển rộng khắp và có vị trí quan trọng trong ngành thủy sản của vùng. Chất lượng và giá trị của các sản phẩm nuôi trồng ngày càng cao, trở thành một trong những nguồn nguyên liệu chính cho chế biến xuất khẩu, góp phần nâng cao giá trị các mặt hàng thủy sản tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu. Tổng diện tích có khả năng phát triển NTTS của vùng là 1.362.980 ha, trong đó nuôi mặn lợ 882.799 ha (chiếm 83% so với diện tích có khả năng nuôi mặn lợ của toàn quốc), nuôi ngọt 480.181 ha (chiếm 62% toàn quốc). Năm 2007, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn vùng là 708.386 ha, trong đó nuôi mặn lợ 595.557 ha, đạt tốc độ tăng diện tích 4,1%/năm; nuôi nước ngọt 137.110 ha, đạt tốc độ tăng 4,7%/năm. Tổng sản lượng nuôi là 1.681.606tấn, trong đó nuôi ngọt 1.168.623 tấn, nuôi mặn lợ 512.983 tấn (tôm 309.419 tấn). Năm 2008, Tổng diện tích nuôi của vùng đạt 746.373 ha. Trong đó: diện tích nuôi mặn lợ đạt 617.341 ha chiếm 82% tổng diện tích NTTS vùng, có tốc độ tăng diện tích là 5,2 %/năm; nuôi ngọt khoảng 129.032 ha chỉ khoảng 18%, có tốc độ tăng diện tích 11,49%/năm. Mặc dù có diện tích lớn nhưng sản lượng thủy sản nuôi mặn lợ đạt 524.550 tấn chiếm 27% tổng sản lượng NTTS vùng ĐBSCL, trong khi sản lượng thủy sản nước ngọt đạt 1.422.796 tấn chiếm 73% . Nhìn chung: hoạt động NTTS đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của các địa phương trong vùng và được khẳng định là một nghề sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế và xã hội rất cao, từng bước thay đổi cơ cấu kinh tế ở các vùng ven biển, nông thôn, giải quyết việc làm, tăng thu nhập góp phần xóa đói giảm nghèo, đã thu hút được sự quan tâm phát triển và trở thành kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và mọi tầng lớp nhân dân trong cả nước.

45

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Mặc khác, ngành thủy sản nói chung và NTTS nói riêng, với sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước, đã và đang được tập trung đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật và công nghệ mới cho sản xuất. Vùng ĐBSCL đã và đang tích lũy được nhiều kinh nghiệm, kĩ thuật và công nghệ NTTS. Với sự năng động, nhạy bén sớm tiếp cận với nền kinh tế thị trường đầy nhậy cảm và tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật mới, người dân đã sáng tạo nhiều mô hình nuôi thủy sản tiên tiến cho năng suất cao làm cho ngành NTTS ở ĐBSCL trở thành hoạt động kinh tế chủ đạo của vùng. Trong đó, với sự ưu đãi của thiên nhiên về tiềm năng và sự ưu việt về thị trường nội địa, xuất khẩu, giá cả tương đối ổn định, các mô hình nuôi tôm nước lợ đã trở thành một trong những nghề sản xuất chính của cư dân ven biển ĐBSCL và ngày càng được quan tâm phát triển. Đặc biệt, hình thức nuôi tôm quảng canh cải tiến kết hợp với canh tác một vụ lúa và trên bờ trồng cây ăn quả hoặc cây công nghiệp là một mô hình nuôi sinh thái đang được quan tâm phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế bền vững, có tính cạnh tranh cao, cần được nhân rộng ở những nơi có điều kiện. Về mặt cơ sở hạ tầng: Thành tựu của thủy lợi hoá ở ĐBSCL chính là tiền đề cho sự phát triển nhanh chóng nuôi trồng thủy sản khi có lợi thế thị trường trong những năm qua. Tuy nhiên, thủy lợi trước đây chỉ nhằm mục đích phục vụ nông nghiệp và dân sinh; do đó để đảm bảo cho nuôi trồng thủy sản phát triển bền vững cần phải cải tạo và xây dựng bổ sung các công trình thủy lợi mới đáp ứng được các đòi hỏi đặc thù của nuôi trồng thủy sản. Tuy hoạt động NTTS đã bắt đầu gây ra những ảnh hưởng nhất định tới môi trường sinh thái nhưng nhìn chung các ảnh hưởng đều chưa tới mức nghiêm trọng. Những năm gần đây, đặc biệt là từ thời kỳ được phép chuyển đổi mạnh đất canh tác nông nghiệp kém hiệu quả sang NTTS, rừng ngập mặn ít bị lấn chiếm và đang được phục hồi, thậm chí nhiều vùng công tác duy trì, bảo vệ và trồng mới rừng đã góp phần cho phát triển NTTS theo hướng bền vững.

46

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

2

Tiềm năng

2.1 Điều kiện tự nhiên 2.1.1 Vị trí địa lý

Hình 11: Bản đồ vùng đồng bằng sông Cửu Long Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), hay còn gọi là miền Tây Nam Bộ, là phần lãnh thổ của Việt Nam, nằm ở hạ lưu châu thổ sông Mekong. Sông Mekong có chiều dài tổng cộng 4.880km, tổng diện tích lưu vực khoảng 795.000 km2, bắt nguồn từ Trung Quốc (chiếm 21% diện tích lưu vực), chảy qua Lào (25%), Myanma (3%), Thái Lan (23%), Campuchia (20%) và Việt Nam (8%) rồi đổ ra biển Đông. Diện tích tự nhiên của toàn vùng là 39.889 km2, chiếm 11,86% diện tích cả nước, có 4 triệu ha đất tự nhiên, trong đó 3,81 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm 50,95% diện tích đất nông nghiệp cả nước. ĐBSCL.Diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế rộng khoảng 360.000 km2 (chiếm 37,1% tổng diện tích đặc quyền kinh tế của cả nước) với 750 km chiều dài bờ biển (chiếm khoảng 23,4% tổng chiều dài bờ biển toàn quốc), có hàng trăm đảo lớn nhỏ trong 2 ngư trường trọng điểm là Đông và Tây Nam Bộ. Toàn vùng có 22 cửa lạch lớn nhỏ với diện tích vùng triều khoảng 600.000 – 800.000 ha. Điều kiện giao thoa mặn, ngọt đã tạo nên vùng sinh thái đặc thù với sự phong phú, đa dạng các loài động
47

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

thực vật thủy sinh, bãi đẻ, bãi cư trú các loại ấu trùng của các loài thủy sản hình thành nên một vùng có sản lượng và năng suất sinh học rất cao. Địa giới hành chính của vùng được xác định bởi 12 tỉnh và 1 thành phố: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang và Tp. Cần Thơ. Trong đó, các tỉnh giáp biên giới Campuchia gồm có: Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang; các tỉnh ven biển giáp vịnh Thái Lan: Kiên Giang, Cà Mau; các tỉnh ven biển giáp biển Đông: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau. ĐBSCL nằm ở vị trí có nhiều sông ngòi lớn nhỏ, đất đai màu mỡ, thích hợp cho việc vận tải đường thủy nội địa, sản xuất Nông nghiệp – Thủy sản. Đồng thời, ĐBSCL có bờ biền dài 780km, gần bằng ¼ chiều dài bờ biển cả nước, thuận lợi vận chuyển đường biển và khai thác – nuôi các đối tượng hải sản. 2.1.2 Địa hình Địa hình ĐBSCL khá bằng phẳng với đa phần diện tích có cao độ nằm trong khoảng 0,51,5m, thấp dần theo hướng Bắc – Nam và Tây – Đông. Dựa theo đặc tính về địa hình, ĐBSCL có thể được chia thành 2 vùng chính: vùng cửa sông ven biển và vùng ngập lũ. Vùng cửa sông – ven biển:  Khu vực có địa hình cao hơn: khu vực này được đặc trưng bởi quá trình hình thành các giồng cát cửa sông (Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng…), có cao trình từ 0,75 – 1,81m so với mực nước biển. Khu vực có địa hình thấp hơn: được đặc trưng bởi quá trình bồi lắng trầm tích phù sa (khu vực Bán đảo Cà Mau, ven vịnh Thái Lan), có cao trình từ 0,25 – 0,50m so với mực nước biển.

-

Vùng ngập lũ:  Dựa vào phân vùng sinh thái đất Nông nghiệp, vùng ngập lũ ĐBSCL này có thể chia 4 tiểu vùng chính: Đồng Tháp Mười (diện tích 697.000ha, bị ngập với độ sâu 0,5-4,0m, kéo dài từ 1 đến 5 tháng), Tứ Giác Long Xuyên (489.000 ha, ngập trong nước với độ sâu từ 0,5m đến 2,5m mùa lũ), khu vực Tây sông Hậu (diện tích 365.000ha, ngập vào tháng 8 đến tháng 12 khoảng 1,0-1,5m ở vùng giáp sông Hậu; 0,8-1,0m ở vùng giữa và 0,5m ở phía Nam), và khu
48

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

vực giữa sông Tiền và sông Hậu (diện tích 357.000ha, là vùng đất màu mỡ, được nhân dân chống lũ với nhiều mức độ khác nhau).  Thuận lợi: Địa hình ĐBSCL khá bằng phẳng với đa phần diện tích có cao độ nằm trong khoảng 0,51,5m, thấp dần theo hướng Bắc – Nam và Tây – Đông. Địa hình bằng phẳng là một thuận lợi trong việc xây dựng các công trình nuôi cũng như các khu dịch vụ hậu cần cho nghề cá. Địa hình vùng ĐBSCL có tính phù hợp cao với nghề nuôi thủy sản với nhiều đối tượng ngọt – lợ -mặn khác nhau (đất giồng cao nuôi các loài thủy sản nước mặn, vùng trũng thấp nuôi các loài thủy sản nước ngọt và nước lợ mặn). Vùng bờ biển ĐBSCL chia thành 3 loại nền đáy chính: đáy nông, cấu tạo chủ yếu cát mịn hoặc cát bùn (từ Vũng Tàu đến mũi Cà Mau); đáy nông, cấu tạo chủ yếu bùn cát (từ Mũi Cà Mau đến sông Cái Lớn); đáy sâu, dốc, cấu tạo chủ yếu cát hoặc cát bùn (từ sông Cái Lớn đến Hà Tiên; khu vực các đảo xa). Sự đa dạng nền đáy ven biển thuận lợi cho việc sản xuất hàng hóa tập trung nhiều đối tượng nhuyễn thể khác nhau.  Khó khăn: Cao độ vùng ĐBSCL tương đối thấp (đa số 0,5-3m), các công trình nuôi không được gia cố chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng nặng vào mùa lũ, đồng thời làm gia tăng chi phí xây dựng hệ thống công trình nuôi. Với cao trình thấp như vậy, vùng này sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của diễn biến khí hậu thay đổi, đặc biệt là vùng Bán đảo Cà Mau và ven vịnh Thái Lan (thuộc tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu). Quá trình bồi tụ và xói lở ven biển có thể gây thiệt hại đến công trình nuôi ở các vùng ven biển, đặc biệt là nguồn lợi nhuyễn thể. Bồi tụ gây vùi lấp sâu các bãi nuôi; trong khi đó sự xói lở gây mất diện tích vùng nuôi, thất thoát nguồn lợi. 2.1.3 Hệ thống sông – kênh - rạch Chế độ thủy văn của Đồng bằng sông Cửu Long chịu sự chi phối hoàn toàn của Sông Mekong. Sông Mekong bắt nguồn từ Trung Quốc, đi qua 5 nước trước khi chảy vào Việt Nam rồi đổ ra Biển Đông. Từ Phnom Penh (Cam-pu-chia), nó chia thành 2 nhánh: bên phải là sông Bassac (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220-250 km mỗi sông. Phần lưu vực sông Mekong chảy ngang qua Việt Nam được gọi là sông Lớn, sông Cái, hay sông Cửu Long.

49

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hệ thống Sông Cửu Long gồm nhiều con sông lớn nhỏ, gồm các con sông như: Sông Hậu; Sông Tiền (Sông Mỹ Tho, Sông Hàm Luông, Sông Cổ Chiên, Sông Ba Lai) Bên cạnh hệ thống sông Cửu Long, ĐBSCL còn có một số hệ thống sông-kênh lớn khác như sau:Sông Vàm Cỏ; Sông Sở Thượng và Sở Hạ; Sông Giang Thành, Sông Châu Đốc, Sông Cái Lớn và Cái Bé; Hệ thống kênh đào (ở vùng ĐBSCL rất dày đặc, mục đích phục vụ sản xuất nông nghiệp và giao thông thủy. Hiện nay, hệ thống này đã bao gồm kênh trục, kênh cấp I, kênh cấp II, và kênh nội đồng. Hệ thống kênh đào nối sông Vàm Cỏ với sông Tiền; nối sông Tiền với sông Hậu; nối sông Hậu với Vịnh Thái Lan, với sông Cái Lớn và một số sông khác; nối thông các vùng nằm sâu trong nội địa ra sông chính.) ĐBSCL có hệ thống sông – kênh – rạch chằng chịt nhất cả nước, điều này tạo thuận lợi lớn cho việc phát triển sản xuất Thủy sản nói riêng: giao thông thủy phát triển, hệ thống thủy lợi tương đối tốt tạo nguồn cấp và thoát nước đến sâu vào nội đồng, lượng nước ngọt dồi dào, việc vận chuyển nguồn nguyên liệu – sản phẩm thủy sản dễ dàng. ĐBSCL có hệ thống sông Mekong với 9 nhánh sông lớn và nhiều kênh mương lớn nhỏ đổ ra biển. Đây là nguồn cung cấp phù sa, dinh dưỡng và thức ăn dồi dào cho vùng biển nuôi nhuyễn thể. Hệ thống kênh – rạch phức tạp khiến việc điều tiết nước có phần khó khăn, là một trong những nguyên nhân chính cho việc nước mặn đi sâu vào nội đồng, gây trình trạng nghiêm trọng kéo dài vùng bị nhiễm mặn,có thể là khó khăn cho vùng sản xuất ngọt. Vào mùa lũ, dòng Mekong mang ra biển một lượng lớn nước ngọt và phù sa. Việc này gây giảm độ mặn cũng như vùi lấp các bãi nuôi gần các cửa sông, gây chết các đối tượng nuôi. 2.1.4 Chế độ ngập lũ: Lũ ở ĐBSCL tuy có lưu lượng lớn, nhưng diễn biến chậm và tốc độ dòng chảy không cao so với các vùng khác của Việt Nam. Điều này có thể được xem là một thuận lợi cho vùng, khi dòng lũ mang lại nguồn lợi thủy sản từ thượng nguồn, mang phù sa bồi dưỡng cho đất, thuận thợi cho việc sản xuất nông nghiệp, thủy sản vào mùa lũ rút. Nhiều vùng, có chế độ ngập lũ khá dài (2-3 tháng), độ ngập tương đối (3-4m) và dòng chảy không lớn. Những vùng này có khả năng hoạt động sản xuất một số đối tượng thủy sản vào mùa lũ. Những vùng ngập khác có độ sâu và thời gian ngập ngắn hơn có thể thực hiện việc gia cố công trình nuôi để tiếp tục các hoạt động sản xuất trong mùa lũ. Việc duy trì hoạt động sản xuất trong mùa lũ nhằm tận dụng lượng nước dồi dào và nguồn thức ăn tự nhiên phong phú, năng suất cao và tiết kiệm chi phí.

50

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Lũ mang ra biển một lượng lớn dinh dưỡng và khoáng chất, tạo cơ sở thức ăn dồi dào cho các đối tượng nhuyễn thể. Chế độ ngập – lũ ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất thủy sản của vùng bị ảnh hưởng; gây thiệt hại cho công trình nuôi, gây thất thoát sản lượng nuôi. Chế độ ngập-lũ cũng khiến chi phí xây dựng các công trình nuôi vùng ảnh hưởng cao hơn các vùng khác, việc này làm giảm tính cạnh tranh của sản phẩm các vùng này. Lũ cũng mang một lượng lớn phù sa và nước ngọt ra vùng ven biển, gây giảm độ mặn và phủ lấp các bãi nuôi ven biển. 2.1.5 Tài nguyên Sinh thái 2.1.5.1 Hệ sinh thái rừng ĐBSCL hiện có khoảng 347.500 ha rừng các loại, trong đó rừng tự nhiên là 53.700 ha, rừng trồng là 294.500 ha. Như vậy, diện tích rừng che phủ trong toàn vùng đạt chưa đến 10% diện tích đất tự nhiên. Trong đó, tổng diện tích rừng ngập mặn (chiếm cứ trên các bãi bồi phù sa ven biển, lưu vực của cửa sông thông ra biển và các đầm trũng nội địa) chưa đến 100.000 ha, tập trung ở các tỉnh Cà Mau (58.285 ha), Bạc Liêu (4.142 ha), Sóc Trăng (2.943 ha), Trà Vinh (8.582 ha), Bến Tre (7.153 ha), Kiên Giang (322 ha), Long An (400 ha). 2.1.5.2 Hệ sinh thái đất ngập nước Đất ngập nước của ĐBSCL có diện tích 4.939.684ha chiếm 95,88% diện tích tự nhiên, bao gồm diện tích đất ngập nước nội địa và đất ngập nước ven biển ngập thủy triều dưới 6m. Các vùng đất ngập nước bị ngập theo mùa hoặc thường xuyên chiếm một diện tích lớn ở Đồng bằng sông Cửu Long.  Đất ngập nước mặn ven biển: 1.636.069 ha Phân bố dọc ven biển Đông, phía Tây nam bán đảo Cà Mau và vịnh Thái Lan. Trong đó, đất ngập nước mặn ven biển ngập thường xuyên có diện tích 879.644 ha, phân bố vùng biển nông có độ sâu nhỏ hơn 6m khi triều kiệt; đất ngập nước mặn ven biển ngập không thường xuyên có diện tích 756.425 ha. Các kiểu đất ngập nước chính trong vùng này là: đất ngập nước mặn thường xuyên – không thực vật; đất ngập nước mặn không thường xuyên – canh tác nông nghiệp; đất ngập nước mặn không thường xuyên – nuôi trồng thủy sản. Các dải rừng ngập mặn phân bố dọc ven biển, ở những vùng bãi bùn ngập mặn, có vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái đất ngập nước ven biển. Trước đây, rừng ngập mặn trải dài suốt dọc bờ biển, nhưng hiện nay diện tích rừng ngập mặn đã và đang bị suy thoái và
51

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

giảm đi nhiều về số lượng (80%) và chất lượng. Đa số rừng ngập mặn còn lại tập trung 2 tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu.  Đất ngập nước mặn cửa sông: 1.052.102 ha Phân bố chủ yếu ở vùng cửa sông Cửu Long thuộc địa bàn các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh và Sóc Trăng. Đất ngập nước mặn cửa sông thuộc các dạng đất ngập nước mặn không thường xuyên canh tác Nông nghiệp và đất ngập nước mặn không thường xuyên Nuôi trồng thủy sản. Nhiều loài tôm cá ở Đồng bằng sông Cửu Long là những loài phụ thuộc vào cửa sông. Mô hình di cư và sinh sản của các loài này chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của chế độ sông và thuỷ triều, phụ thuộc rất nhiều vào môi trường cửa sông.  Đất ngập nước ngọt thuộc sông: 1.963.240 ha Bao phủ vùng đồng bằng ngập lũ rộng lớn ở trung tâm ĐBSCL. Đất ngập nước ngọt thuộc sông ngập thường xuyên là các nhánh chính của sông Tiền, sông Hậu, các sông khác và các con kênh, có diện tích 128.139ha. Đất ngập nước ngọt thuộc sông ngập không thường xuyên có diện tích 1.771.381ha là các cánh đồng canh tác lúa nước, các vườn cây ăn trái và các diện tích canh tác nông nghiệp khác.  Đất ngập nước ngọt thuộc hồ: 56.389 ha Phân bố ở vùng hồ rừng Tràm U Minh Hạ (Cà Mau), hồ rừng Tràm U Minh Thượng (Kiên Giang) và ở Vườn Quốc Gia Tràm Chim (Đồng Tháp). Trước đây, rừng Tràm che phủ phần lớn vùng đất chua phèn ở ĐBSCL. Hiện nay, diện tích rừng Tràm chỉ còn 182.170 ha, phân bố ở vùng đất than bùn U Minh, vùng đất chua phèn Đồng Tháp Mười và cánh đồng Hà Tiên (Phân viện Điều Tra Quy hoạch Rừng Nam Bộ, 2004). Đất ngập nước thuộc đầm: 229.363 ha. Chủ yếu là đất ngập nước thuộc đầm ngập không thường xuyên, sử dụng để canh tác nông nghiệp, phân bố ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên. ĐBSCL có sự đa dạng các hệ sinh thái thuộc loại bậc nhất của Việt Nam, điều này tạo thuận lợi ngành nông nghiệp nói chung và nghề thủy sản nói riêng. Đa dạng các hệ sinh thái đồng nghĩa với sự đa dạng các đối tượng thủy sinh, giúp người tham gia hoạt động sản xuất thủy sản có thể lựa chọn đối tượng nuôi có giá trị kinh tế cho phù hợp với từng vùng sinh thái. Xét trên tổng thể vùng ĐBSCL, sự đa dạng trong việc lựa chọn đối tượng nuôi theo vùng sinh thái này tạo nên tính đa dạng cho sản phẩm của vùng, đáp ứng nhiều yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước.
52

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Các hệ sinh thái đang dần bị xâm phạm và thu hẹp do các hoạt động sinh hoạt, du lịch và công nghiệp của con người. Sự kém hiệu quả trong việc bảo tồn các bãi đẻ, bãi sinh trưởng tự nhiên các loài thủy sản nói chung, và nhuyễn thể nói riêng. Sự đa dạng sinh thái có thể dẫn đến việc “cạnh tranh” trong việc lựa chọn đối tượng nuôi trong cùng một vùng sinh thái hoặc giữa các vùng sinh thái khác nhau. Xét trên tổng thể vùng ĐBSCL, sự đa dạng đối tượng nuôi tỷ lệ nghịch với sản lượng tối đa đối với một đối tượng nuôi cụ thể. Điều này có thể gây trở ngại cho việc xác định đối tượng nuôi ưu thế kinh tế, hoặc đối tượng nuôi đặc trưng của vùng. 2.1.6 Tài nguyên nước Các đối tượng giáp xác nước ngọt – mặn – lợ đều nuôi được tại ĐBSCL nhờ nguồn nước ngọt dồi dào từ hệ thống sông Mekong, và sự xâm nhập mặn từ vùng biển phía Đông và vùng biển phía Tây. Như vậy, vùng thượng nguồn sông Mekong có khả năng nuôi hoàn toàn các đối tượng ưa ngọt, vùng hạ lưu sông giáp biển thì lại có ưu thế nuôi các đối tượng thủy mặn lợ, trong khi đó các vùng có thời gian ngọt và thời gian mặn xen kẽ nhau trong năm thì có khả năng lựa chọn xen kẽ các đối tượng ưa mặn – ngọt khác nhau, vùng ven biển lại có ưu thế nuôi các loài nhuyễn thể và một số đối tượng hải sản khác. Nguồn nước ngọt ở ĐBSCL phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước mặt từ sông Mekong, còn nguồn nước ngầm ở vùng này tương đối ít và đa số bị nhiễm mặn, nhất là khu vực ven biển. Điều này gây khó khăn vào mùa kiệt của sông Mekong, khi lượng nước ngọt từ sông này sụt giảm đáng kể, ảnh hưởng đến nguồn cấp nước ngọt cho sản xuất và sinh hoạt của người dân, đặc biệt là các vùng bị nhiễm mặn nghiêm trọng. Tại các vùng đất bị nhiễm phèn, nguồn nước ngọt vùng này thường bị hiện tượng chua (Tứ Giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, …). Nước chua gây khó khăn không nhỏ cho việc nuôi giáp xác nói riêng và các đối tượng thủy sản nói chung. Việc rửa phèn các vùng này đòi hỏi thời gian và chi phí lớn. Một số vùng nhiễm mặn, khan hiếm nước ngọt vào mùa mưa. Điều này có thể gây khó khăn cho điều kiện sinh hoạt của người dân tại địa phương sản xuất thủy sản.

53

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

2.1.7 Tài nguyên thủy sinh vật ĐBSCL dồi dào về chủng loại thủy sinh vật. Đây là cơ sở thức ăn phong phú cho nhiều loài thủy sản nói chung. ĐBSCL đặc biệt có sự phân bố da dạng một số loài thủy sản có giá trị kinh tế lớn từ nước ngọt đến mặn lợ, trong đó có một số đối tượng (giáp xác, nhuyễn thể, cá…) có giá trị kinh tế lớn không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới. Điều này có thuận lợi trong việc xuất khẩu các mặt hàng giáp xác kinh tế nhờ tận dụng nguồn lợi tự nhiên lẫn nguồn giống phục vụ cho việc nuôi thương phẩm. ĐBSCL đa dạng về sinh vật thủy sinh, đặc biệt là Thực vật phù du nước ngọt và mặn, cung cấp thức ăn chủ yếu cho các đối tượng nhuyễn thể. Xét về mặt tự nhiên, sự đa dạng thành phần loài thủy sản thường tỷ lệ nghịch với sản lượng của từng loài cụ thể. Nguyên nhân là do sự cạnh tranh về môi trường sống và nguồn thức ăn, dinh dưỡng giữa các đối tượng thủy sản với nhau. Sự cạnh tranh này cũng có thể xảy ra giữa các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao và các loài có giá trị thấp hơn, gây thiệt hại về khía cạnh kinh tế đối với việc khai thác nguồn lợi tự nhiên. 2.2 Kinh tế 2.2.1 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế g óp phần thúc đẩy ngành phát triển Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đồng bằng chuyên trồng lúa nước, cây ăn trái nhiệt đới, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản lớn nhất cả nước. Hàng năm cung cấp trên 50% sản lượng lương thực và 95% kim ngạch xuất khẩu gạo, trên 60% giá trị xuất khẩu thuỷ sản của cả nước. Năm 2003, sản xuất nông, lâm ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế với 49,25% GDP, còn lại là công nghiệp-xây dựng chiếm 20,97%, dịch vụ-thương mại chiếm 29,78%. So với các số liệu tương ứng lần lượt vào năm 1995 là 60,8%, 14,5% và 24,7%; vào năm 2001 là 52,06%, 18,90% và 29,04% mới thấy rõ hơn những chuyển đổi cơ cấu kinh tế của ĐBSCL.

54

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Hình 12: Cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL qua các năm 1995, 2001, 2010 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của vùng ĐBSCL là cơ cấu nông – lâm – ngư, trong đó nông nghiệp chiếm tỉ trọng tương đối lớn. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của vùng trong điều kiện ngày nay thực chất là chuyển từ nông thôn thuần nông sang nông thôn đa dạng hóa ngành nghề, trong nông nghiệp xây dựng nhiều mô hình sản xuất đa dạng về cây trồng, vật nuôi. Đặc biệt trong lĩnh vực ngư nghiệp việc nuôi trồng và khai thác thủy sản phát triển nhanh nhất đặc biệt là trong lĩnh vực nuôi công nghiệp, đây là mũi đột phá của ngành trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đồng thời phát triển theo hướng bền vững, công nghiệp hóa - hiện đại hóa. ĐBSCL là vùng đất giàu tiềm năng về nông - thủy sản, công nghiệp chế biến thủy sản là ngành kinh tế mũi nhọn và đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế của vùng. GDP khu vực nông, lâm - thủy sản chiếm khoảng 45% trong cơ cấu GDP toàn vùng ĐBSCL. Riêng tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản hằng năm khoảng 3 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu thủy sản toàn vùng khoảng 2,5 tỉ USD/năm, chiếm 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước. Toàn vùng ĐBSCL hiện có 133 nhà máy chế biến thủy sản với công suất 690.000 tấn/năm, chủ yếu là chế biến cá tra phi lê, tôm đông lạnh, mực đông lạnh... Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân toàn vùng giai đoạn 2001-2010 đạt 11,7%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng dịch vụ, giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp - thủy sản. Đến năm 2010, tỷ trọng khu vực I
55

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

chiếm 39% (10 năm trước là 53,5%), khu vực II là 26% và khu vực III 35%. Nông - lâm ngư nghiệp đã hình thành vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, phát huy lợi thế sản phẩm chủ lực của vùng là lúa gạo, thủy sản, trái cây. Cùng với lúa gạo, thủy sản là ngành phát triển mạnh trong những năm qua. Hiện nay, ĐBSCL có diện tích nuôi trồng thủy sản lên đến 736.400 ha (tăng 500.000 ha so với 10 năm trước). ĐBSCL đã trở thành vùng nuôi và đánh bắt thủy hải sản lớn nhất nước (chiếm 70% diện tích nuôi trồng và 58% sản lượng thủy sản cả nước). Trong đó, tôm, cá tra đã trở thành một trong những ngành kinh tế chiến lược của quốc gia. Hàng năm, sản lượng cá tra của ĐBSCL đã vượt hơn 1 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,4 tỷ USD. Sản lượng tôm cũng chiếm 80% và đóng góp 60% kim ngạch xuất khẩu tôm của cả nước. Đi đôi với nông nghiệp, trong những năm qua, ĐBSCL đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa. Công nghiệp được chú trọng phát triển, tập trung khai thác các thế mạnh của vùng như về công nghiệp chế biến nông, thủy sản và bước đầu đầu tư phát huy lợi thế về công nghiệp dầu khí, năng lượng, nhiệt điện và cơ khí. Giá trị công nghiệp tăng cao, đến năm 2010, toàn vùng đạt giá trị 156 ngàn tỷ đồng, tăng bình quân 18,8%/năm. Trong đó, công nghiệp chế biến nông sản, thực phẩm chiếm 26% Kể từ sau đổi mới, đặc biệt những năm gần đây, ĐBSCL đã phát triển mạnh các ngành CN chế biến nông lâm thuỷ sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa... góp phần không nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội và quá trình đô thị hoá toàn vùng. Theo thống kê đến cuối năm 2003, toàn vùng ĐBSCL đã có 75 nghìn cơ sở sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp, trong đó có 119 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản công suất 3.200 tấn/ngày. Các địa phương trong vùng đã qui hoạch được 51 khu, cụm công nghiệp tập trung với tổng diện tích 12024 ha, thu hút được 242 dự án đầu tư có tổng vốn đăng ký 1.235 triệu USD và 1334 tỷ đồng, giải quyết được việc làm cho trên 22 nghìn lao động. Nhiều tỉnh như Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, Sóc Trăng và TP Cần Thơ... tăng cường liên kết với TP Hồ Chí Minh, các tỉnh Đông Nam Bộ và một số tổng công ty của bộ, ngành trung ương để phát triển các doanh nghiệp hoặc chi nhánh sản xuất kinh doanh tại địa phương. Giai đoạn 2011 - 2015, dự kiến giá trị sản xuất thủy sản toàn vùng ĐBSCL tăng trung bình 7,2%/năm, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 10%. Đến năm 2015, tổng sản lượng thủy sản của vùng ước đạt 3,86 triệu tấn, trong đó, sản lượng khai thác 892.000 tấn, kim ngạch đạt 4 tỉ USD. Hiện nay, một số tỉnh tiếp tục kêu gọi đầu tư nhà máy chế biến thủy sản đông lạnh có công nghệ hiện đại tại vùng nguyên liệu lớn như: Kiên Giang, An Giang, Cà Mau...

56

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.2.2 Thị trường thủy sản

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Theo Tổ chức Nông Lương thế giới (FAO), tổng cầu về thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản trên thế giới dự kiến sẽ đạt 183 triệu tấn vào năm 2015, với tốc độ tăng trưởng bình quân 2,1%/năm. Tiêu thụ thuỷ sản tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng bình quân 0,8% trong giai đoạn đến năm 2015, giảm so với mức 1,5% đã đạt được trong 20 năm trước. Tiêu thụ cá và sản phẩm cá bình quân đầu người dự báo sẽ đạt 13,7 kg vào năm 2010 và 14,3 kg vào năm 2015, trong khi đó nhu cầu về shellfish (thuỷ sản có vỏ) và các sản phẩm nuôi khác sẽ đạt mức tương ứng 4,7 và 4,8 kg/người. B ảng 8: Dự báo tiêu thụ thủy sản theo mục đích và theo nhóm nước đến năm 2015

(Nguồn: FAO, Future prospects for fish and fishery product:mediumterm projections to
the years 2010 and 2015)

FAO còn cho biết thêm, trong tổng lượng gia tăng nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm (khoảng 40 triệu tấn), có 46% mức tăng là do dân số tăng, 54% còn lại là do kinh tế phát triển và các nhân tố khác. Các nước đang phát triển sẽ dẫn đầu về mức tăng nhu cầu tiêu thụ tính theo đầu người với mức tăng dự kiến là 1,3%, trong khi đó tại các nước phát triển mức tăng nhu cầu tiêu thụ tính theo đầu người bình quân mỗi năm giảm 0,2%. Bên cạnh đó, FAO cũng đưa ra dự báo về tổng sản lượng thuỷ sản của thế giới sẽ đạt mức 159 triệu tấn vào năm 2010 và 172 triệu tấn vào năm 2015 với tốc độ tăng trưởng bình quân 1,6%/năm giai đoạn 2010 – 2015 (bảng 2.9). Sự tăng trưởng này chủ yếu nhờ vào tăng sản lượng thuỷ sản nuôi, ước khoảng 73% sản lượng gia tăng và dự kiến sẽ chiếm 45% trong tổng sản lượng thuỷ sản toàn cầu vào năm 2015.

57

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Bảng 9: Dự báo sản lượng thuỷ sản thế giới đến năm 2015 Nguồn cung cấp thủy sản thế giới Tổng sản lượng Sản lượng đánh bắt Sản lượng nuôi trồng 2005 2010 2015 So sánh giai đoạn (5) 2010/2005 140,5 95,0 45,5 159,0 95,5 63,5 172,0 94,5 77,5 2,5 6,95 2015/2010 1,6 4.1

(Nguồn: FAO, Future prospects for fish and fishery product: mediumterm projections to

the years 2010 and 2015) Như kết quả trong bảng 2.10, ở các nước đang phát triển dự kiến sẽ tăng 2,7%/năm, trong đó thuỷ sản đánh bắt dự kiến chỉ tăng 1%/năm. Do vậy, phần lớn mức sản lượng tăng sẽ là từ phía thuỷ sản nuôi, với sản lượng dự kiến tăng 4,1% một năm. Đây là cơ hội lớn cho ngành thủy sản các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Có thể nói, đây chính là tiền đề để Việt Nam có thể trở thành cường quốc xuất khẩu thủy sản trong tương lai như đã từng đối với gạo. Về xuất khẩu thủy sản Việt Nam. Theo báo cáo của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2010, thủy sản Việt Nam đã xuất sang 162 quốc gia trên thế giới. Trong đó, top 10 thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam năm 2010 đạt 3,420 tỷ USD chiếm 68% giá trị xuất khẩu và đều có mức tăng trưởng khá cao, bình quân từ 10 – 25% so với năm 2009. Mức tăng trưởng cao nhất là Pháp với 68%. Các mặt hàng thủy sản chủ yếu xuất khẩu là tôm (chiếm 42%), cá tra (chiếm 28,4%), nhuyễn thể (chiếm 9,7%) và cá ngừ (chiếm 5,8%)

58

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Bảng 10: Qui mô và cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam 2010

(Nguồn: VASEP, 2010) Qua bảng số liệu trên ta thấy, nếu tính riêng từng quốc gia thì Mỹ vẫn giữ vị trí hàng đầutrong các thị trường xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2010, đứng thứ nhì là Nhật Bản và thứ ba là Hàn Quốc. Chỉ riêng ba quốc gia này đã chiếm 44,8% thị phần xuất khẩu của thủy Sản Việt Nam. Tuy nhiên, nếu xem EU là một thị trường chung thì Mỹ đứng thứ hai. EU luôn dẫn đầu nhập khẩu thủy sản Việt Nam kể từ năm 2005 trở lại đây. 2.2.3 Công nghiệp chế biến Tính đến năm 2008, toàn khu vực ĐBSCL có 189 nhà máy với tổng công suất chế biến được thiết kế là 1,2 triệu tấn/năm. Riêng các tỉnh Cà Mau, Kiên Giang, An Giang, Tiền Giang và Tp. Cần Thơ đã chiếm hơn một nửa số nhà máy này vì đây cũng là những địa phương nuôi tôm và cá tra nhiều nhất. Công nghiệp chế biến phát triển góp phần tạo đầu ra cho các sản phẩm nuôi trồng, đưa thủy sản ĐBSCL chất lượng cao ra thị trường nội địa và thế giới. Tuy nhiên, do tình trạng bấp bênh trong hoạt động nuôi trồng, ngành công nghiệp chế biến của ĐBSCL vấp phải tình trạng "thừa nhà máy, thiếu nguyên liệu". Tình trạng này khiến cho các nhà máy trong vùng không thể hoạt động hết công suất thiết kế ,gây lãng phí.

59

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 2.3 Xã hội 2.3.1 Cơ sở hạ tầng 2.3.1.1 Giao thông đường thủy

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

ĐBSCL có lợi thế về phát triển giao thông thủy nội địa, với 2 tuyến đường chính là TP.HCM-Cà Mau và TP.HCM-Kiên Lương. Mật độ đường thủy nội địa là 0,68 km/km2, cao hơn rất nhiều so với các vùng khác trong cả nước. Hàng hoá được vận chuyển bằng đường thủy chủ yếu là lúa gạo, vật liệu xây dựng, vật tư nông nghiệp, thức ăn thủy sản… hiện chiếm tới 90% tổng sản lượng hàng hóa được vận chuyển bằng đường thủy, riêng hai tuyến chiếm 70-80%. Khu vực ĐBSCL có 17 sông và 3 kênh lớn đổ ra biển (hệ thống sông mêkong: cửa Tiểu, cửa Đại, cửa đập Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định An, cửa Trần Đề. Các cửa sông khác như: Mỹ Thanh, Gành Hào, Bồ Đề, Ông Trang, Bảy Háp, Đồng Cùng, Ông Đốc, Cái Lớn, Cái Bé. Kênh gồm có: Rạch Sỏi-Hậu Giang; Rạch Giá-Long Xuyên và kênh Ba Hòn). Tổng chiều dài kênh rạch khoảng 4.900km, trung bình 4km/km2. Lớn nhất là kênh Phụng Hiệp 150km (từ sông Hậu đến Cà Mau); kênh Vĩnh Tế nối Châu Đốc với Hà Tiên, kênh Nguyễn Văn Tiếp nối Cao Lãnh với Mỹ Tho, kênh Tháp Mười nối sông Tiền với sông Vàm Cỏ Tây. Sông rạch của vùng ĐBSCL tương đối dày, tuy nhiên phân bố không đều. Ở vùng giữa sông Tiền và sông Hậu, Nam kênh Nguyễn Văn Tiếp, Tây sông Hậu có mật độ kênh, rạch tương đối cao, khoảng 10-13m/ha, trong đó kênh trục và kênh cấp I khoảng 3m/ha, kênh cấp II khoảng 8-10m/ha. Tiểu vùng Đông Trà Sư của vùng TGLX, kênh đào cũng khá phát triển với mật độ khoảng 7-8m/ha; vùng ĐTM kênh trục, kênh cấp I tương đối phát triển nhưng kênh cấp II còn thiếu, mật độ trung bình 5-6m/ha. Hệ thống kênh đã có tác dụng tốt trong việc cấp nước tưới tiêu, tiêu phèn, tháo lũ, nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết. Mật độ kênh nhiều vùng thấp, hiện tượng bồi lắng vẫn diễn ra, đặc biệt là những vùng giáp nước do đó cấp và tiêu nước kém. Để phục vụ cho vận chuyển đường thủy, ĐBSCL đã hình thành mạng lưới cảng từ trung tâm các tỉnh xuống trung tâm các huyện và vùng. Các cảng chính gồm có: Cần Thơ, Mỹ Thái (An Giang), Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Thái (Vĩnh long), Mỹ Tho (Tiền Giang), Đại Ngãi (Sóc Trăng), Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Sỏi, Kiên Lương, Hòn Chông (Kiên Giang). Trong đó có 6 cảng nằm trên sông chính là Vĩnh Thái, Cao Lãnh, Mỹ Tho (trên sông Tiền), Cần Thơ, Mỹ Thái, Đại Ngãi (trên sông Hậu). Các cảng quốc tế gồm Cần Thơ, Vĩnh Thái, Mỹ Thái, Năm Căn, Hòn Chông. Riêng cảng Cần Thơ đã được công nhận là cảng quốc tế từ năm 1992, có thể cặp bến tàu trọng tải 5-10 ngàn tấn, đồng thời là cảng xuất khẩu chính của ĐBSCL. Với mạng lưới sông ngòi như trên, ĐBSCL có thể nói là vùng của giao thong thủy. Đối với ngành kinh tế nói chung và với NTTS nói riêng, giao thông thủy ở đây là điều kiện vô
60

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

cùng thuận lợi, với chi phí rẻ và cơ động; giao thông thủy hoàn toàn đáp ứng nhu cầu phát NTTS. Có những loài cá không thể thu mua với đường bộ đó là cá Tra, Ba Sa, vì yêu cầu của tiêu thụ cá Tra, Ba Sa là cá phải sống tới tận nhà máy chế biến. Do vậy phương tiện vận chuyển cá Tra hiện nay hoàn toàn bằng ghe “đục” có trọng tải lớn và gần khu nuôi gần sông rạch chính. 2.3.1.2 Hệ thống thông tin Hệ thống thông tin liên lạc khá phát triển phục vụ khá tốt vấn đề thông tin liên lạc cho NTTS. Điện thoại cố định hữu tuyến đã phủ khắp các xã của ĐBSCL, điện thoại cố định vô tuyến đáp ứng đến tận ao nuôi, điện thoại di động đã phủ sóng gần như hoàn toàn các vùng nuôi. Với giá cả hợp l. do vậy việc thông tin bằng điện thoại là đáp ứng được nhu cầu. Hệ thống Internet và fax cũng đáp ứng nhu cầu cho các vùng NTTS. 2.3.1.3 Hệ thống thủy lợi Dựa vào đặc điểm tự nhiên, định hướng phát triển kinh tế xã hội, định hướng quy hoạch sử dụng đất (nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp, dân cư…), chiến lược quản tài nguyên nước và mục tiêu, tính chất, nguyên tắc của phân vùng, phân khu, hệ thống thủy lợi khu vực ĐBSCL được chia làm bốn vùng, 22 tiểu vùng và 120 khu thủy lợi (chi tiết về các tiểu vùng và phân khu thủy lợi được trình bày trong báo cáo chuyên đề về Hiện trạng cơ sở hạ tầng phục vụ NTTS ĐBSCL). Hệ thống thủy lợi của ĐBSCL bao gồm bốn vùng chính là Vùng Tứ giác Long Xuyên (TGLX), vùng Bán đảo Cà Mau (BĐCM), vùng giữa sông Tiền và Hậu (GSTSH) và vùng tả sông Tiền. Với chương trình ngọt hóa và kiểm soát lũ của ĐBSCL hiện tại HTTL cấp thoát chính của vùng là kênh cấp I và cấp II. Hệ thống này cùng với hệ thống sông rạch tự nhiên đã làm cho ĐBSCL là vùng sông rạch dày đặc. Với vùng tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, Bán Đảo Cà Mau, Nam Mang Thít có mật độ kênh khá dày, trung bình cứ 2 km có kênh cấp 2; 5km có kênh cấp 1. Tuy nhiên, HTTL nói chung của ĐBSCL đặc biệt là là HTTL vùng ven biển, đều được quy hoạch thiết kế cho phát triển nông nghiệp, chủ yếu là cây lúa, do vậy khi chuyển đổi sang NTTS đã bộc lộ những khuyết điểm. Khẩu diện cống được thiết kế nhỏ hơn nhiều so với mặt cắt kênh nên khi mở và đóng cống, tốc độ dòng chảy vượt quá khả năng di chuyển của các loài thủy sản từ biển, từ sông. Các cống chỉ đóng mở một chiều (tiêu nước từ trong đồng) nên không thích ứng với lấy nước mặn và nguồn giống thủy sản từ sông, biển vào đồng. Ngoài ra các kênh trục đều được thiết kế cho mục tiêu kết hợp giao thông thủy, nên việc kiểm soát mặn ngọt cho từng vùng dọc kênh khó thực hiện. Các cống của HTTL hiện tại hạn chế nhiều cho giao thông thủy mà thiếu giao thông thủy NTTS sẽ bị ảnh hưởng nhiều đến cung cấp thức ăn và tiêu thụ. Việc dung hòa mâu thuẫn giữa các vùng nuôi tôm-lúa vẫn là điều nan giải hiện nay và cần có HTTL phù hợp. Hệ thống công trình dự án Quản Lộ-Phụng Hiệp, Chà Và -Thâu Râu (Nam Mang Thít) cho thấy rõ điều này. Việc tiêu thoát nước thải luôn là mối quan tâm của nhiều hộ NTTS và của toàn vùng NTTS, bởi vì dịch bệnh có thể lan truyền nhanh trong môi trường tác động qua lại. Trong nhiều trường hợp, các ao nuôi tôm ở hạ
61

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

lưu thiệt hại cao hơn. Để NTTS ở mức độ cao, không những HTTL phải tiếp ngọt ổn định mà cần cả HTTL dẫn mặn chủ động. Ngoài ra, HTTL hiện tại chưa là hệ thống liên kết liên hoàn từ vùng NTTS đến vùng phát triển trồng trọt hay trồng rừng để tạo môi trường sinh thái, theo nguyên lý chất thải của NTTS là nguồn cấp dinh dưỡng cho nông nghiệp và lâm nghiệp, đồng thời nông nghiệp và lâm nghiệp làm vai trò xử chất thải cho NTTS. Đối với HTTL nội đồng của các vùng NTTS tập trung: Hiện nay một số vùng quy hoạch và các dự án đã đầu tư hệ thống cấp thoát nước riêng biệt, có ao lắng và ao xử chất thải, còn lại các vùng phát triển nuôi trồng tự phát, các hộ nuôi vẫn chưa có hệ thống cấp thoát nước riêng biệt trong HTTL nội đồng do sản xuất nhỏ, đất đai manh mún, do vậy đầu tư thêm kênh là rất khó khăn. Hệ thống ao lắng cũng có đầu tư nhưng còn nhỏ chưa đáp ứng được nhu cầu do phải tốn diện tích và vốn đào ao. Ao xử lý chất thải thì gần như không có do nguyên nhân là phải đầu tư thêm ao, công nghệ xử lý giá thành hạ chưa có. Tiêu chuẩn chất thải của Việt Nam chưa hợp lý vì theo tiêu chuẩn xử lý chất thải loại B thì họ sẽ dùng luôn nước đó dùng lại còn tốt hơn là lấy nước từ sông. 2.3.2 Nhân lực Nghiên cứu về hiện trạng nhân lực cho sự phát triển thủy sản ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long được thực hiện từ tháng 04/2006-12/2007. Kết quả cho thấy số lượng sinh viên theo học ngành thủy sản ở ĐH Cần Thơ ngày càng tăng, có khoảng 3.936 sinh viên trong đó đại học chính quy là 2.047 sinh viên. Tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp đối với mỗi khóa học chưa cao nhưng đã có sự tăng dần qua các năm gần đây. Số lượng sinh viên tốt nghiệp ngành thủy sản ra trường có việc làm khá cao chiếm 90,7%, chủ yếu họ đang làm việc trong lĩnh vực thủy sản hoặc các lĩnh vực có liên quan đến thủy sản. Có 26,5 % kỹ sư ra trường không làm đúng ngành nghề đã được đào tạo, cao nhất là kỹ sư Khai thác thủy sản do nghề khai thác hải sản có bấp bênh và khó kiếm được việc làm ổn định. Tuy nhiên, mức độ hấp dẫn của ngành học theo đánh giá của sinh viên mới ở mức 48,07%.

Hình 13: Công việc hiện nay của sinh viên Khoa Thủy sản - Đại Học Cần Thơ
62

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Từ các số liệu thống kê cho thấy, tuy ngành đào tạo còn mới, công việc còn bấp bênh và chưa tạo được sự đảm bảo về mặt tài chính nhưng do nhu cầu nhân lực ngày càng tăng cũng như những chiến lược phát triển của ngành cũng đang dần thu hút được nguồn nhân lực chất lượng cao. Mức độ hấp dẫn của ngành là 48,07% cũng là tín hiệu đáng mừng cho phát triển của ngành. 2.3.3 Thể chế chính sách Từ năm 1995 đến nay, đã có hàng trăm văn bản chính sách liên quan đến phát triển nuôi trồng thủy sản được ban hành. Có những chính sách chỉ thể hiện một nội dung, nhưng cũng có nhiều chính sách có liên quan đến nhiều nội dung trong phát triển nuôi trồng thủy sản. Các chính sách có liên quan đến phát triển NTTS có thể chia thành 9 nhóm chính, bao gồm:          Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế Chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản Chính sách phát triển NTTS trên biển, hải đảo Chính sách hỗ trợ đầu tư, tín dụng Chính sách đất đai Chính sách thuế Chính sách khuyến ngư Chính sách bao tiêu sản phẩm Chính sách phát triển HTX.

Nhìn chung, có thể khẳng định rằng, các chính sách ban hành đều có tác động tích cực, thúc đẩy hoạt động sản xuất nuôi trồng thủy sản của cả nước nói chung và vùng ĐBSCL nói riêng nhằm phát triển NTTS theo hướng “phát triển bền vững, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; bảo đảm sản xuất và ổn định đời sống nhân dân”. Điều này được thể hiện qua hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội thiết thực mà NTTS đã đem lại cho vùng và cho cộng đồng. Kết quả phân tích chính sách cho phép rút ra rằng các chính sách/chương trình phát triển đều có vai trò điều chỉnh gián tiếp hoặc trực tiếp đến phát triển NTTS: Về sản xuất giống, từ khi có Quyết định 103/2000/QĐ-TTg về Một số chính sách khuyến khích phát triển giống thủy sản và Quyết định 112/2004/QĐ-TTg về Phê duyệt Chương trình phát triển giống thủy sản đến năm 2010 số lượng trại giống tôm và cá tra tăng rất nhanh tại ĐBSCL. Tốc độ tăng tổng số trại 7,64%/ năm giai đoạn 2001 - 2005, trong khi tôm và cá tra đạt 8,3%. Được sự quan tâm của các cấp chính quyền tại một số tỉnh nên công tác kiểm dịch, quản trại tôm, cá giống được coi trọng. Tuy nhiên các chính sách vay vốn phục vụ phát triển giống cho NTTS chưa được thực thi một cách hiệu quả. Mặc dù số lượng trại giống tăng nhanh, tuy nhiên việc thực hiện chính sách theo tinh thần Quyết định 103 - lãi suất tiền vay và thời gian vay vốn theo quy định hiện hành; mức vay dưới
63

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

50 triệu đồng thì không phải thế chấp- gần như không thực hiện được do cả về phía ngân hàng và hộ dân. Về vốn đầu tư cho ngành thủy sản, theo Quyết định 02/2001/QĐ-TTg về Chính sách hỗ trợ đầu tư từ Quỹ Hỗ trợ phát triển đối với các dự án sản xuất, chế biến hang xuất khẩu và các dự án sản xuất nông nghiệp, theo đó các dự án nuôi trồng thủy sản khi được xem xét hiệu quả và khả năng trả nợ sẽ được quyết định mức cho vay nhưng tối đa không được quá 90% tổng số vốn đầu tư của dự án Ngoài ra đối với các dự án thuộc Chương trình khuyến khích phát triển nuôi trồng thủy sản (Chương trình 224) và Chương trình khuyến khích phát triển giống thủy sản đến năm 2010 (Chương trình 112) còn được đầu tư cho quy hoạch và rà soát điều chỉnh quy hoạch nuôi trồng thủy sản và giống thủy sản, xây dựng các khu bảo tồn biển, bảo tồn thủy sản nội địa. Tổng vốn đầu tư NTTS tại ĐBSCL chiếm 27,43% tổng vốn đầu tư NTTS cho cả nước đạt 379.150 triệu đồng. Về khuyến ngư, hiện nay đã có 12/13 tỉnh ĐBSCL có Trung tâm khuyến ngư (trừ Hậu Giang). Trong các năm qua, khuyến ngư trung ương và các tỉnh ĐBSCL đã hỗ trợ đắc lực cho phát triển NTTS thông qua các cuộc tập huấn, hội thảo, thực hiện các điểm trình diễn, cấp phát các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật nuôi và phòng trừ bệnh thủy sản.Tuy nhiên đội ngũ khuyến ngư còn mỏng, chưa đến tuyến các huyện thị. Mặc dù theo Khoản 1,2Điều 11 – Chương III - Nghị định 56 về tổ chức thực hiện, tại mỗi xã, phường, huyện thị đều phải có cán bộ khuyến nông, khuyến ngư nhưng chưa chi tiết cho khuyến ngư. Về bao tiêu sản phẩm, sau hơn 3 năm thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách bao tiêu sản phẩm thông qua hợp đồng nhưng kết quả còn rất khiêm tốn, việc liên kết “bốn nhà” (Nhà nông, doanh nghiệp, nhà nước và khoa học) còn có những bất cập, khi thấy giá thị trường cao hơn, một số nông dân quay sang bán nông sản ra thị trường, khiến doanh nghiệp thiếu hụt nguyên liệu. Ngược lại, một số doanh nghiệp lại lấy những do về kiểm định chất lượng để hạ cấp, hạ giá sản phẩm làm cho nông dân bức xúc. Việc các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, phá sản cũng góp phần làm giảm lòng tin của 2 bên... Ngoài ra, một số chính sách khác cũng được triển khai như đất đai, thuế, HTX và được thực hiện tốt. Chính sách về NTTS trên biển, hải đảo chưa thực sự thu hút sự tham gia của người dân. 2.4 Khó khan Tuy nhiên nghề nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL còn gặp một số mặt khó khăn và còn nhiều hạn chế như sau: Việc gia tăng quá mức về diện tích NTTS và công tác quy hoạch NTTS, đặc biệt là theo vùng nuôi, chưa được tốt đã và đang làm cho nguồn nước ngày càng bị ô nhiễm ảnh hưởng xấu tới NTTS. Nhiều khu vực do tự phát NTTS phá vỡ quy hoạch sản xuất nông nghiệp, nhất là ở những vùng canh tác lúa do ngọt hoá trước đây, việc cấp thoát nước cho
64

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

NTTS gây ảnh hưởng tới các hoạt động sản xuất nông nghiệp khác, làm tăng mâu thuẫn giữa các ngành nghề ở số địa phương. Nhu cầu đa dạng hoá giống loài nuôi trong khi khâu sản xuất và cung cấp con giống nhân tạo chưa được đáp ứng tốt cũng như vấn đề gia tăng ô nhiễm nguồn nước đã dẫn tới tình trạng suy giảm nhanh chóng nguồn lợi thủy sản tự nhiên ở vùng ven biển. Khoảng thời gian gần đây, khả năng sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cá Tra nuôi của ngư dân và các doanh nghiệp xuất khẩu sút giảm một cách đáng kể, rất nhiều cơ sở nuôi bị thua lỗ, thậm chí bị phá sản do người nuôi không bán được cá hoặc nếu bán được thì giá cá lại thấp, thu nhập không đủ bù đắp cho chi phí nuôi. Trình độ dân trí trong vùng còn hạn chế, nhất là nông dân ở các vùng sâu vùng xa, tiếp thu công nghệ và kĩ thuật mới còn chậm. Ruộng đất rộng, mà dân thì nghèo tuy đã được hỗ trợ của Nhà nước nhưng việc đầu tư còn gặp nhiều khó khăn nên xu hướng phát triển theo phương thức nuôi quảng canh là chủ yếu. Chưa thật sự thống nhất trong quan điểm phát triển NTTS, nhiều nơi, nhiều người nhiều khi còn hoài nghi, sợ rủi ro, sợ sự bất ổn về thị trường, sợ không đảm bảo an ninh lương thực cho địa phương mình... nên không dám tập trung đầu tư phát triển, bỏ lỡ thời cơ. Các địa phương và ngành thủy sản chậm trễ trong việc xây dựng các qui hoạch chi tiết và dự án, Nhà nước thiếu cơ sở để phân bổ đầu tư. Đầu tư cho phát triển NTTS nhìn chung còn quá thấp chưa tương xứng với khả năng và những kì vọng phát triển. Việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, áp dụng tiến bộ công nghệ vào sản xuất, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là công nghệ sản xuất giống sạch bệnh, thức ăn, xử lý môi trường và phòng trừ dịch bệnh. Cơ sở hạ tầng và hậu cần dịch vụ cho nuôi trồng thủy sản nhất là hệ thống thủy lợi (cung cấp và tiêu thoát nước) còn yếu kém, chưa phù hợp và đáp ứng được đòi hỏi có tính đặc thù của NTTS, không cung cấp đủ nước đảm bảo chất lượng cho NTTS cũng như không đảm bảo việc tiêu nước khi bị ô nhiễm là nguyên nhân cơ bản gây ra dịch bệnh và hiệu quả sản xuất kém của nhiều vùng NTTS. Việc kiểm soát môi trường, an toàn vệ sinh sinh thái trong nuôi, việc kiểm soát các dư lượng hoá chất dùng trong nuôi vừa yếu về kỹ thuật, trình độ, vừa mỏng về đội ngũ. Tổ chức và chỉ đạo chậm được tăng cường và đổi mới: tổ chức, quản l. dịch vụ hậu cần cho nghề NTTS còn yếu. Hợp tác giữa các ngành các cấp chưa chặt chẽ, chưa có qui hoạch phát triển liên ngành, liên vùng cho nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là việc phát triển thủy lợi nằm trong ngành nông nghiệp do chưa thấy được nhu cầu thủy lợi hoá phục vụ NTTS có sự khác biệt rất lớn so với việc ngọt hoá một số vùng để phát triển nông nghiệp,
65

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

nên đã gây ra những khó khăn nhất định khi địa phương muốn triển khai nhanh kế hoạch phát triển NTTS của mình. Đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đặc biệt là chuyên gia đầu ngành vừa thiếu vừa yếu, hệ thống khuyến ngư chưa đáp ứng nhu cầu phát triển. Vấn đề bảo quản và tiêu thụ sản phẩm cho NTTS còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là cho các vùng nuôi nước ngọt tập trung. 3 Tác động của ngành nuôi trồng thủy sản tới môi trường tự nhiên ở ĐBSCL

3.1 Các tác động xấu của hoạt động NTTS đến môi trường đất và hệ sinh thái Từ năm 2000 có chuyển biến lớn trong việc chuyển đổi các vùng sinh thái từ nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản như ở: Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, tại đây cuộc tranh chấp giữa con tôm và cây lúa diễn ra quyết liệt. Ở nhiều địa phương, chính quyền cho phép người dân chuyển đổi sản xuất từ trồng lúa sang nuôi tôm hoặc một vụ lúa + một vụ nuôi tôm. Hệ sinh thái các thủy vực nội địa vùng này đang ngọt lại đột ngột chuyển sang mặn, do đó, hệ sinh thái đã được định hình bị hủy diệt, quá trình phân giải diễn ra làm chất lượng nước suy giảm, môi trường sống của sinh vật thủy sinh không ổn định. Cuộc chiến giữa con tôm và cây lúa chắc chắn chưa được phân định rạch ròi ở vùng sinh thái chuyển tiếp ở ĐBSCL. Môi trường đất, môi trường nước và các hệ sinh thái trong phát triển nuôi trồng thủy sản bị biến đổi gây suy thoái, ô nhiễm môi trường. ĐBSCL là vùng tập trung nhiều các loại đất phèn tiềm tàng (pyrite FeS2) và phèn hoạt động (jarosite (K/Na.Fe3/Al3(SO4)2(OH)6). Khi bị đào đắp ao nuôi thủy sản, đào kinh rạch cấp và thoát nước, vệ sinh ao nuôi sau mùa thu hoạch đã làm cho tầng phèn tiềm ẩn bị tác động bởi quá trình ôxy hóa sẽ diễn ra quá trình lan truyền phèn rất mãnh liệt làm giảm độ pH môi trường nước, gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh tôm, cá trong nuôi trồng. 3.2 Các tác động xấu của hoạt động NTTS đến môi trường nước Những tác động xấu từ NTTS đến môi trường nước là có thật với mức độ ảnh hưởng tùy theo hình thức nuôi, loại hình và cấp độ nuôi, chủ yếu xảy ra tại những khu vực nuôi tập trung, diện tích lớn và mức độ thâm canh cao, hệ thống cấp nước không tốt, không xử lý nước thải và sử dụng nhiều hóa chất, thức ăn (nhất là đối với mô hình nuôi tôm sú thâm canh, nuôi cá lồng bè). Hậu quả chủ yếu là gây nên tình trạng ô nhiễm hữu cơ, ô nhiễm kháng sinh, và đặc biệt là phá vỡ hệ sinh thái nước ngầm, hay hệ sinh thái cát … còn lại hầu như các yếu tố tác động khác vẫn nằm trong giới hạn cho phép của tiêu chuẩn ngành cũng như khả năng và sức tải của môi trường. Tuy nhiên tình trạng trên không thực sự phổ biến vẫn mang tính cục bộ, hơn nữa hiện nay nhiều mô hình canh tác nuôi trồng thủy
66

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

sản lại rất thân thiện với môi trường và những vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm, ví dụ như nuôi TCX, nuôi nhuyễn thể hay các mô hình nuôi kết hợp thủy sản + lúa, nuôi sinh thái… Do vậy, nếu các nguyên nhân có ảnh hưởng xấu đến môi trường nước nêu trên được hạn chế hay loại bỏ thì tác động của nuôi trồng thủy sản tới độ bền vững môi trường là hoàn toàn có thể hạn chế được. 3.3 Tác động từ các sản phẩm thải trong quá trình nuôi trồng thuỷ sản 3.3.1 Nước thải sinh hoạt cua khu văn phòng và nhà ở các lán trại (khu vực nuôi công nghiệp) Nước thải sinh hoạt từ khu văn phòng chứa các chất hữu cơ BOD, COD, chất dinh dưỡng (P, N), dẫu mỡ, coliform Ecoly. Các khu nhà ở của công nhân và nhà vệ sinh của công nhân ở ngoài các ao nuôi thường được làm gần hệ thống mương xử lý nước thải. Nước thải mang theo lượng lớn hợp chất N, P và các chất dinh dưỡng khác gây nên sự siêu dinh dưỡng và rộng dinh dươngx kèm theo sự tang sức sản xuất ban đầu và nở rộ các vi khuẩn. Sự có mặt của các hợp chất carbonic và các chất hữu cơ sẽ làm giảm oxy hòa tan và tang BOD, COD, sunlfit hudrogen, ammonica và hàm lượng metan trong vực nước tự nhiên. 3.3.2 Nước thải sau qua trình thu hoạch Nước thải từ ao nuôi có chứa các chất hữu cơ, BOD, COD, chất rắn lơ lửng, tảo,… thường theo mương tự nhiên thải ra rạch song. Tại các khu vực nuôi công nghiệp hay có quy hoạch thì được gom vào hệ thống ao lắng và xử lý vi sinh trước khi thải ra rạch song. Tuy nhiên do hệ thống ao lắng và kênh thải cần một diện tích nên do nhiều nơi thiết kế không đúng kỹ thuật hay cố tình không cho qua hệ thống nên nước thải cả ra môi trường xử lý chưa đạt hay không xử lý sẽ gây ô nhiễm nguồn nước. Sự tích tụ chất hữu cơ nặng đến cuối vụ nuôi cũng gây nen sự tự ô nhiễm chính trong ao làm ảnh hưởng ngược lại đối với tôm do thiếu oxy và tắc nghẽn mang tôm. 3.3.3 Bùn thải sau mỗi vụ nuôi trong quá trình cải tạo ao Bùn thải sau mỗi vụ nuôi trong quá trình cải tạo ao thường chứa các chất như: thức ăn thừa đã phân hủy, tảo chết, phân tôm, vôi bùn phèn chứa các độc tố: Fe2+, Fe3+, Al3+, Cl-,
67

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

SO42-, …, vi khuẩn gây bệnh cho tôm, tảo độc, nấm độc, các khí độc tồn lưu trong bùn: NH3, H2S, CH4,… là sản phẩm của quá trình phân hủy yếm khí ngập nước tạo thành, nguồn bùn phù sa lắng đọng trong các ao nuôi trồng thủy sản thải ra hàng năm trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi. Đặc biệt, với các mô hình nuôi kỹ thuật cao, mật độ nuôi lớn như nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp... thì nguồn thải càng lớn và tác động gây ô nhiễm môi trường càng cao. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có 17% trọng lượng khô của thức ăn cung cấp cho ao nuôi được chuyển thành sinh khối, phần còn lại được thải ra môi trường dưới dạng phân và chất hữu cơ dư thừa thối rữa vào môi trường. Đối với các ao nuôi công nghiệp chất thải trong ao có thể chứa đến trên 45% nitrogen và 22% là các chất hữu cơ khác. Các loại chất thải chứa nitơ và phốtpho ở hàm lượng cao gây nên hiện tượng phú dưỡng môi trường nước phát sinh tảo độc trong môi trường nuôi trồng thủy sản. Đặc biệt, nguồn chất thải này lan truyền rất nhanh đối với hệ thống nuôi cá bè trên sông, nuôi cá trong các đầm trũng ngập nước... cùng với lượng phù sa lan truyền có thể gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh thủy sản phát sinh trong môi trường nước. Đối với nuôi cá nước ngọt, lượng thải nhiều ít còn phụ thuộc vào thức ăn đưa vào chăn nuôi, thông thường chi phí thức ăn phải từ 1,5-2 kg thức ăn/1kg sản phẩm, ngoài ra còn lượng thức ăn dư thừa không tiêu thụ hết lắng xuống tạo ra nguồn thải rất dễ phân hủy hữu cơ gây ô nhiễm môi trường nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh. Các ao nuôi sau quá trình thu hoạch sản xuất thường phải nạo vét bùn cặn. Đây là một nguồn thải rất lớn có thể gây ô nhiễm môi trường. Đối với nuôi tôm vùng ven biển Nam bộ nơi có hàm lượng phù sa trong nước biển lấy vào nuôi rất lớn từ 200-888mg/l, lượng chất rắn này lắng xuống ao nuôi tôm tạo thành lớp bùn hàng năm rất dày. Vấn đề quản lý bùn thải nuôi tôm là hết sức bức xúc cần phải được quản lý để xử lý triệt để ở khu vực nuôi trồng thủy sản nước mặn vùng ĐBSCL. 3.4 Một số tác động khác 3.4.1 Tác động của hoạt động nuôi tôm ven biển Mặc dù hiện nay với mô hình nuôi tôm công nghiệp không thay nước, các chất hữu cơ được xử l. trước khi thải ra môi trường, nhưng nguồn dinh dưỡng N và P từ thức ăn dư thừa cũng như từ chất thải của tôm có tác động đến sự phú dưỡng của môi trường nước xung quanh. Theo các nghiên cứu cho thấy các mô hình nuôi tôm sú thâm canh sử dụng thức ăn công nghiệp từ bên ngoài, với sản lượng tôm nuôi đạt 1.000 kg thì đồng thời đưa ra môi trường khoảng 113,8 kg N và 31,4 kg P. Do đó hàng năm với diện tích nuôi tôm Sú công nghiệp hiện nay ở ĐBSCL ước tính khoảng 20.000 ha với sản lượng trung bình

68

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

5.000 kg/năm, tổng sản lượng từ nuôi công nghiệp khoảng 100.000 tấn thì hàng năm nghề nuôi tôm đã đưa vào môi trường khoảng 11.380 tấn N và 3.140 tấn P. Và kết quả nghiên cứu cũng cho thấy cần phải có từ 2,4 đến 7,2 ha rừng ngập mặn để sử dụng và hấp thu hàm lượng chất dinh dưỡng được đưa vào môi trường của 1 ha nuôi tôm công nghiệp (A. Robertson & M. Philips, 1995) tùy vào mật độ nuôi. Bên cạnh đó trong quá trình cải tạo ao nuôi hàng năm, một lượng lớn bùn đáy ao được đưa vào môi trường gây nhiều tác động như bồi lắng, ô nhiễm nguồn nước… 3.4.2 Tác động của hoạt động nuôi cá tra Tương tự như vậy, đối với nuôi cá Tra, mặc dù diện tích nuôi hiện nay không lớn so với diện tích nuôi tôm, chỉ đạt khoảng 7.000 ha (năm 2007) với sản lượng trên 1 triệu tấn. Theo một số nghiên cứu của Trường Đại học Cần Thơ cho thấy với mức độ thâm canh hiện nay thì khi sản xuất ra 1 kg cá thịt thì sẽ thải ra môi trường 23,2±2,1 g N và 8,66±0,25 g P. Vì vậy khi sản xuất 1 triệu tấn cá Tra thì sẽ đưa ra môi trường khoảng 23.000 tấn N và 8.660 tấn P. Nguồn chất dinh dưỡng này tạo ra sự phú dưỡng nguồn nước. Để làm giảm thiểu nguồn chất dinh dưỡng trong nguồn nước cần phải có những vùng đất ngập nước, rừng ngậm mặn để hấp thụ và lọc sạch môi trường. 3.4.3 Rừng ngập mặn bị suy giảm Diện tích rừng ngập mặn ở nước ta đang bị giảm đi đáng kể, từ 408.500 ha năm 1943 đến nay chỉ còn 209.740 ha (năm 2006). Trong số 209.740 ha đất có rừng, diện tích rừng trộng chiếm tới 72,5% (152.000 ha), chất lượng rừng kém cả về mật độ, chiều cao, đường kính, thành phần loài và trữ lượng rừng. Do đó, giá trị phòng hộ và kinh tế thấp. Điều này là nguyên nhân dẫn đến nạn sụt lở bờ biển, đê biển và bờ của các cửa sông,… thiệt hại do bão gây ra hàng năm hàng nghìn tỷ đồng (năm 2006 thiệt hại tới 18.700 tỷ đồng). Bên cạnh vấn đề về môi trường, rừng ngập mặn còn đóng vai trò quan trọng đối với sự sinh sống của nhiều loài hải sản. Trong chu kỳ sổng của mình, nhiều loài hải sản (tôm nước mặn, lợ, cua, cá bống kèo, cá đối,…) thường có một giai đoạn gắn với rừng ngập mặn như là nơi ương ấp ấu trùng và sinh trưởng. 3.4.4 Tác động của sự xâm nhập mặn Môi trường đất, môi trường nước và các hệ sinh thái trong phát triển NTTS bị biến đổi gây suy thoái, ô nhiễm môi trường. ĐBSCL là vùng tập trung nhiều các loại đất phèn tiềm tàng (FeS2) và phèn hoạt động (K/Na.Fe3/Al3(SO4)2(OH)6). Khi bị đào đắp ao nuôi thủy sản, đào kinh rạch cấp và thoát nước, vệ sinh ao nuôi sau mùa thu hoạch đã làm cho tầng phèn tiềm ẩn bị tác động bởi quá trình ôxy hóa sẽ diễn ra quá trình lan truyền phèn rất mãnh liệt làm giảm độ pH môi trường nước, gây ô nhiễm môi trường và dịch bệnh tôm, cá. Các nguồn thải ra sông rạch đã tác động làm cho môi trường nước bị biến đổi. Chất lượng nước trong các ao nuôi thủy sản gồm cá nước ngọt, nuôi tôm ven biển, đặc biệt là trong các mô hình nuôi công nghiệp đã cho thấy dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ (BOD,
69

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

COD, Nitơ, Phốt pho cao hơn tiêu chuẩn cho phép), có sự xuất hiện các thành phần độc hại như H2S, NH3, các chỉ số Coliforms, vi sinh khác,… đã cho thấy nguồn nước thải này cần phải được xử l. triệt để trước khi thải ra sông rạch. Việc thực hiện các chính sách chuyền đổi vùng đất nông nghiệp ven biển kém hiệu quả sang NTTS dẫn đến mất rừng ngập mặn, mất bãi đẻ tự nhiên của các loài thủy sinh vật và phá vỡ cảnh quan vùng ven biển. Bên cạnh đó hệ thống thủy lợi còn yếu, chưa đáp ứng được việc xả mặn đã góp phần làm cho sự xâm nhập mặn gia tăng ở vùng ven biển và ngày càng trở nên nghiệm trọng hơn. 3.4.5 Tác động của việc sử dụng hóa chất, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật Cùng với sự xuất hiện ngày càng nhiều các loại bệnh và sự gia tăng ô nhiễm về mặt môi trường, việc sử dụng hóa chất và thuốc kháng sinh trong NTTS ngày càng gia tăng. Mặc dù nhận thức được mức độ nguy hiểm về ô nhiễm môi trường khi sử dụng hóa chất trong quá trình cải tạo ao nuôi tôm, xử l. môi trường nước và việc sử dụng các sản phẩm vi sinh vật có lợi (probiotics) để thay thế, nhưng các hóa chất và thuốc kháng sinh vẫn đang được sử dụng. Các loại thuốc kháng sinh và hóa chất khi sử dụng, ngoài những tác dụng mong muốn, chúng còn gây ra nhiều tác hại ảnh hưởng xấu đến môi trường và con người. Cụ thể là chúng bị tồn lưu trong môi trường thủy sinh, sự tích tụ các dự lượng thuốc kháng khuẩn trong các chất lắng đọng có tiềm năng ức chế hoạt tính của vi khuẩn và giảm mức độ phân rã của các chất hữu cơ. Các hóa chất có thể gây độc và để lại dư lượng cả ở trong các sinh vật không phải là đối tượng nuôi. Thuốc kháng sinh gây ra kích thích kháng thuốc trong động vật nuôi, làm giảm tác dụng của nhiều loại thuốc và tác động này sẽ sảy ra đối với cơ thể con người khi ăn thủy sản có nhiễm kháng sinh. 3.5 Dịch bệnh Nhìn chung, hiện tượng dịch bệnh của các đối tượng nuôi thủy sản năm nào cũng xẩy ra với các mức độ và diễn biến khác nhau, đặc biệt là với tôm nuôi. Đại dịch bùng phát xảy ra và gây thiệt hại lớn ở những vùng nuôi tôm trọng điểm ĐBSCL vào năm 1994 và sau đó là 1996 và những năm về sau cũng thường xuyên xuất hiện tuy nhiên mức độ nhẹ hơn. Một trong những nguyên nhân chính là do môi trường ô nhiễm, trình độ quản lý ao nuôi, thời vụ thả nuôi chưa hợp l. còn kém và một phần do môi trường ngày càng khắc nghiệt. Từ những năm 1997 đến nay, hầu hết năm nào tôm cũng bị bệnh xẩy ra và diễn biến bệnh luôn phức tạp, không theo mùa vụ nhất định. Tuy nhiên, nhìn chung bệnh trên các đối tượng như tôm sú thường xuất hiện vào đầu vụ nuôi khoảng 1-2 tháng nuôi thì bị bênh, tức là bệnh từ tháng 3-4 và tháng 7-8 dương lịch. Diện tích nuôi tôm bị bệnh năm 2001 là 19.687 ha, chiếm 4,5% tổng diện tích thả nuôi của vùng và chiếm 82,5% so với toàn quốc; đến năm 2007 tổng diện tích nuôi tôm bị bệnh không tăng nhiều so với năm 2001 (khoảng 20.000 ha), chiếm 3,6% diện tích thả
70

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

nuôi và chiếm 87,4% toàn quốc. Nguyên nhân vùng ĐBSCL có diện tích tôm bị bệnh chiếm trên 81% so với toàn quốc là do vùng có diện tích nuôi tôm luôn chiếm trên 92%. Điểm khác biệt cần được lưu ý khi xảy ra bệnh đốm trắng giữa hình thức nuôi thả giống một lần-thu hoạch dứt điểm (thả giống trên 5 con/m2 ở Sóc Trăng) bị thiệt hại hoàn toàn và hình thức thu tỉa-thả bù (thả giống mật độ dưới 3 con/m2 như nuôi QCCT ở Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang) chỉ bị thiệt hại một phần; Bệnh tôm đợt hai vào tháng 7-8 gây thiệt hại nặng cho tôm nuôi của 3 tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang, riêng tỉnh Sóc Trăng vào giai đoạn này hầu hết tôm nuôi đều trên 2 tháng tuổi nên không xảy ra dịch bệnh. Tỉnh Kiên Giang bị thiệt hại ở mức độ cao chẳng những tôm nuôi bị chết mà cua, rẹm trong đầm nuôi cũng bị chết. Trong năm 2004 tỉnh Cà Mau chỉ xuất hiện dịch bệnh tôm nuôi vào tháng 8-9 trễ hơn một tháng so với các tỉnh khác, ở các tháng khác tôm nuôi chỉ bị chết rải rác không thành dịch. Đối với tỉnh Bạc Liêu trong vụ nuôi tôm vừa qua vùng nội đồng có độ mặn thấp gồm huyện Phước Long và Hồng Dân có tỷ lệ thiệt hại thấp, các huyện ven biển gồm Vĩnh Lợi, Đông Hải và Giá Rai có tỷ lệ diện tích bị thiệt hại cao chiếm trung bình 27% diện tích thả nuôi. Những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp trời nắng nóng, nhiệt độ chênh lệch cao giữa ngày và đêm (5-100C), nước thường phát sáng vào ban đêm do một số tảo độc và vi sinh phát triển làm tăng độc tố trong ao. Đối với nghêu, xảy ra hiện tượng nghêu chết nhiều ở xung quanh khu vực cửa sông Ba Lai thuộc huyện Ba Tri, Binh Đại. Do độ mặn kéo dài, thậm chí thay đổi đột ngột, lượng thức ăn kém, thời tiết không thuận lợi dẫn đến nghêu chết vào tháng 3-4 hàng năm. Thiệt hại năng nhất năm 2005 là 50% diện tích nuôi. Đối với tôm nuôi: chủ yếu do thời tiết đầu vụ nuôi diễn biến không thuận lợi, nắng nóng kéo dài, độ mặn tang cao, chất lượng con giống kém, khâu kiểm dịch con giống ở miền Trung còn yếu, bệnh thường xuất hiện từ tháng 3-4 hàng năm. Những năm gần đây, dịch bệnh đã phát sinh trên diện rộng ở các loài cá, tôm nuôi diễn biến rất phức tạp gây nhiều thiệt hại đối với người nuôi trồng thủy sản. Nuôi cá nước ngọt trên sông ô nhiễm môi trường làm cá Tra chết hàng loạt ở một số bè cá trên sông; dịch bệnh trên các ao hồ và cá đồng một số tỉnh lưu vực sông Tiền, sông Hậu, dịch bệnh tôm nuôi đã phát sinh trên 20-60% diện tích nuôi ở các tỉnh ven biển như: Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng,… hậu quả là tôm chết hàng loạt diễn ra nhiều năm, kéo theo nhiều hộ nuôi tôm, nhiều doanh nghiệp nuôi tôm qui mô lớn điêu đứng.

71

Nhóm 3 4

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Giải pháp cho những vấn đề của ngành nuôi trồng thủy sản ở ĐBSCL

4.1 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài để đánh thức tiềm năng NTTS của vùng Trong những năm qua, sản lượng thủy sản nuôi trồng, khai thác của vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) liên tục tăng, trong đó riêng sản lượng thủy sản nuôi chiếm hơn 65% tổng sản lượng thủy sản nuôi của cả nước, tạo nhiều công ăn việc làm, góp phần xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống kinh tế - xã hội cho các tỉnh trong khu vực. Mỗi địa phương trong vùng lại có tiềm năng, thế mạnh và có những đặc thù riêng về thủy sản, tạo thành một bức tranh đa dạng về sản phẩm, như nhuyễn thể hai mảnh vỏ ở Bến Tre, Tiền Giang; tôm ở Cà Mau, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu; cá tra ở An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ,… hay các loại hải sản ở Kiên Giang, Cà Mau… Tuy nhiên, sự tăng trưởng ấy của ngành thủy sản chưa thực sự được như mong đợi. Tốc độ tăng trưởng tuy rất ấn tượng nhưng lại kèm theo nhiều biểu hiện thiếu bền vững. Số lượng tàu thuyền đánh cá tăng nhanh, vượt tầm kiểm soát; cơ khí tàu thuyền và dịch vụ hậu cần nghề cá bất cập; NTTS luôn phải đối diện với rủi ro về chất lượng con giống, thức ăn, dịch bệnh; giá cả các mặt hàng thủy sản biến động bất lợi và khó lường ... Một trong những nguyên nhân gây nên hiện tượng này là thiếu tính liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong vùng trong sản xuất nguyên liệu và chế biến, tiêu thụ. Từng địa phương không huy hết thế mạnh sẵn có do đầu tư dàn trải, manh mún. Để thực sự phát huy sức mạnh của những tiềm năng, cần có nguồn lực đầu tư lớn, cả về vốn, kinh nghiệm phát triển và về kỹ thuật, công nghệ. Đó là những yếu tố mà nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài có thể tích cực đóng góp để đẩy nhanh tiến trình phát triển. Nhưng trên thực tế, sức hút vốn đầu tư nước ngoài vào ngành thủy sản không cao. Đó là những trăn trở được đưa ra thảo luận tại hội thảo “Xúc tiến đầu tư vào lĩnh vực thủy hải sản vùng ĐBSCL” do Bộ NN&PTNT phối hợp với Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ và Uỷ ban Nhân dân Cần Thơ tổ chức tại TP Cần Thơ ngày 25/10/2012 vừa qua. Hội thảo đã thu hút gần 200 đại biểu từ các nước trong khu vực và trên thế giới, các đại sứ quán, tổng lãnh sự quán, đại diện các bộ, ngành trung ương, địa phương, cộng đồng DN trong và ngoài nước tham gia, thể hiện sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề này. Trong bức tranh tổng thể về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam nói chung, thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản còn rất khiêm tốn. Trong tổng số 945 dự án FDI giai đoạn 1998-2009 với tổng số vốn đăng ký 4,7942 tỷ USD, chỉ có 139 dự án FDI về thủy sản với tổng số vốn đăng ký 357 triệu USD. Trong 10 năm gần đây, tỷ trọng FDI của lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản tăng trưởng âm, giảm từ 8% năm 2001, còn 5,2% năm 2007 và hơn 1% năm 2011. Hơn nữa, các dự án FDI trong lĩnh vực nông nghiệp còn khiêm tốn cả về qui mô và chất lượng, trung bình chỉ
72

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

khoảng 6,56 triệu USD/dự án, thấp xa so với mức trung bình 14,7 triệu USD/dự án nói chung. Số vốn giải ngân thực tế cũng thấp hơn mức trung bình trong các lĩnh vực đầu tư nước ngoài của cả nước. Riêng lĩnh vực thủy sản, đến nay mới có 70 dự án FDI với hơn 310 triệu USD vốn đăng ký, tập trung vào nuôi trồng, chế biến, sản xuất thức ăn, con giống thủy sản… Bình quân hơn 4,4 triệu USD/dự án, nằm rải rác ở một số địa phương có thế mạnh về thủy sản. Về đối tác FDI, mới có 18 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào lĩnh vực thủy sản Việt Nam, trong đó các công ty vừa và nhỏ từ khu vực châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan… chiếm hơn 70% tổng vốn đăng ký, hoạt động theo mục tiêu và nhu cầu riêng rẽ của từng DN. Phải chăng tính rủi ro cao trong sản xuất thủy sản đã tạo ra sự thiếu vắng ấy của các dự án FDI? Hay do còn thiếu các biện pháp thu hút và chính sách quản lý đầu tư nước ngoài phù hợp trong lĩnh vực này? Theo Viện Kinh tế và Qui hoạch Thủy sản (Bộ NN&PTNT), để thực hiện đề án Quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2020, tổng nhu cầu vốn giai đoạn 2012 -2020 khoảng 60 nghìn tỷ đồng, trong đó vốn trung ương 26,02 nghìn tỷ đồng (43,38%) và vốn đối ứng của các địa phương trong cả nước 6,90 nghìn tỷ đồng (11,51%). Nguồn vốn từ các thành phần kinh tế trong, ngoài nước và các tổ chức quốc tế đóng vai trò hết sức quan trọng với hơn 27,06 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 45,11%. Đây là tư duy mới trong việc tiếp cận vấn đề để phát huy tiềm năng to lớn của ngành thủy sản Việt Nam trong thời gian tới, nhưng để biến thành hiện thực, đòi hỏi phải xây dựng những chính sách đột phá trong việc thu hút và quản lý đầu tư nước ngoài. Để tranh thủ được các nguồn lực từ bên ngoài, trước hết, các cơ quan trung ương và địa phương phải sớm đạt được sự đồng thuận trong định hướng chính sách, tập trung xây dựng chiến lược phát triển ngành thủy sản theo nguyên tắc cân bằng nhu cầu, lợi ích giữa các vùng và địa phương; phù hợp với chính sách phát triển chung trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Chính phủ giai đoạn 20012020. Chiến lược phát triển thủy sản phải đồng bộ, thống nhất hướng vào những dự án có hàm lượng công nghệ cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên, gia tăng giá trị cho sản phẩm, tập trung vào lĩnh vực sản xuất giống, công nghệ chế biến, chế tạo máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất theo chiều sâu và có tính bền vững. Trên cơ sở đó, xây dựng và triển khai các sáng kiến kêu gọi đầu tư cho thủy sản theo tiếp cận liên kết toàn vùng. Tại hội thảo nói trên, các nhà đầu tư tiềm năng trong và ngoài nước đã được giới thiệu và thảo luận về một kế hoạch phát triển tổng thể theo tiếp cận kết nối tất cả các địa phương trong vùng như vậy. Mối liên kết này nhằm khai thác triệt để thế mạnh và tiềm năng của từng địa phương để tạo ra sức mạnh tổng thể phát triển toàn diện ngành thủy sản trong vùng.

73

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Trong kế hoạch nói trên, TP Cần Thơ được chọn là trung tâm kết nối và hỗ trợ các tỉnh trong vùng về khoa học, kỹ thuật, giáo dục, đào tào, nghiên cứu phát triển, cơ sở hạ tầng và là điểm kết nối thương mại với các tỉnh lân cận, cầu nối trong hội nhập kinh tế và khu vực, tạo động lực cho các tỉnh trong vùng phát huy các ngành công nghiệp phụ trợ và chế biến sâu. Trên cơ sở nhu cầu phát triển thủy sản của địa phương phù hợp với qui hoạch chung, các tỉnh sẽ xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư từ để các nhà đầu tư, các nhà tài trợ, các DN trong và ngoài nước quan tâm tham khảo và lập kế hoạch cho các dự án đầu tư trong tương lai của mình. Với sự quan tâm của tất cả các bên liên quan, hy vọng trong thời gian tới ngành thủy sản sẽ thu hút được nhiều dự án đầu tư mới với số vốn lớn hơn, góp phần đánh thức những tiềm năng còn chưa khai phá, phát huy hơn nữa vai trò của một ngành kinh tế chủ lực của ĐBSCL. 4.2 Phát triển ngành theo hướng bền vững Nuôi trồng là hướng đi chiến lược lâu dài có ý nghĩa tái tạo nguồn lợi, tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phục vụ cho xuất khẩu và tiêu dung nội địa, Đây là hướng đi nhằm phát huy thế mạnh môi trường sinh thái ngọt, mặn , lợ. Xuất phát từ thực tế NTTS trong những năm qua và yêu cầu phát triển bền vững cho những năm tới, phát triển NTTS vùng ĐBSCL thời kỳ đến năm 2015 dựa trên những định hướng sau: Phát triển NTTS gắn với việc bảo veeh môi trường sinh thái, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản, phòng chống dịch bệnh cho các đối tượng nuôi. Phát triển NTTS gắn với phát triển KT-XH của các vùng, địa phương, đảm bảo sự bù đắp, bổ sung cho nhau giữa các tỉnh trong Vùng, gắn kết với sự phát triển của các Vùng kinh tế khác,… nhằm phát huy hơn nữa thế mạnh của NTTS trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, trong xóa đói giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động nghề cá, đặc biệt cho bà con vùng khó khăn và các vùng đồng bào dân tộc, là yếu tố quan trọng để ổn định an ninh chính trị - xã hội ở vùng biển, vùng sâu, vùng xa. Tăng cường sử dụng hợp lý, có hiệu quả các loại mặt nước ngọt, mặn, lợ. Căn cứ vào dự báo thị trường và trên cơ sở đặc điểm sinh thái và tiềm năng của từng vùng địa lý, từng vùng mặt nước, phải xác định các đối tượng nuôi, công nghệ nuôi và quy mô nuôi phù hợp theo hướng đảm bảo năng suất cao và hiệu quả kinh tế lâu dài, đảm bảo đa dạng sinh học, giữ gìn môi trường sinh thái, phù hợp quy hoạch chung về sử dụng nguồn nước cho các ngành phát triển kinh tế liên quan.

-

-

74

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây -

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Phát triển công nghệ sinh học là ưu tiên hang đầu để rút ngắn khoảng cách về trình độ công nghệ, đặc biệt trong công nghệ nuôi, công nghệ sản xuất giống, thức ăn và phòng trừ dịch bệnh, đảm bảo an toàn vệ sinh và hạ giá thành sản phẩm. Phát triển hệ thống nuôi thủy sản kết hợp với canh tác nông nghiệp, và tập trung vào quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa lớn, vừa từng bước vững chắc phát triển NTTS theo phương thức công nghiệp, vừa phát huy lợi thế sinh thái để tạo vùng nuôi quy mô lớn. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế hợp tác, kinh tế gia đình, doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào NTTS để nâng cao năng suất nuôi trồng, tạo nguồn cung cấp nguyên liệu lớn, ổn định cho chế biến xuất khẩu và tiêu thụ nội địa.

-

-

Để thực hiện chiến lược phát triển ngành thủy sản ĐBSCL đến năm 2015, mục tiêu của lĩnh vực nuôi trồng thủy sản được xác định như sau: Phán đấu đưa NTTS trở thành ngành sản xuất nguyên liệu chủ yếu và sản lượng ngành nuôi phải vươn lên chiếm khoảng 60% tổng sản lượng thủy sản trong tương lai. Tăng nhanh sản lượng nuôi trồng thủy sản từ 10-13%/năm. Ổn định diên tích nuôi khoảng 75-80% diên tích tiềm năng, trong đó hạn chế mở rộng diên tích nuôi tôm nước lợ, tăng diện tích nuôi nước ngọt, để bản vệ môi trường sinh thái, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản, và nhằm đa dạng hóa cơ cấu đối tượng nuôi. Đối tượng nuôi sẽ tập trung vào 4 nhóm chính: nhóm tôm (sú, càng xanh,…), nhóm cá biển, nhóm cá nước ngọt (Ba sa, chép, rô phi, bống tượng, tra, tai tượng, sặc rằn, lóc, rô đồng,…), nhóm nhuyễn thể (nghêu, sò, trai ngọc, vẹm, điệp, ốc hương,…)

-

-

75

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Bảng 11: Mục tiêu phát triển nuôi trồng thủy sản ĐBSCL đến năm 2015

(Nguồn: Tính toán của Lâm Văn Mẫn dựa trên cơ sở “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thủy sản Việt Nam đến năm 2010 và định hướng 2020” [34] ; “Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cả nước đến 2010 và tầm nhìn 2020” [35]) Để đạt được các mục tiêu trên, ngành nuôi trồng thủy sản ĐBSCL cần thực hiện đồng loạt các giải pháp sau: - Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, thực hiện chuyển đổi cơ cấu dựa trên cơ sở lợi thế từng địa phương, từng vùng sinh thái. - Xây dựng các mô hình phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững. - Giải quyết tốt khâu giống cho nuôi trồng thủy sản. - Đảm bảo thức ăn cho nuôi trồng thủy sản. - Làm tốt công tác phòng trừ dịch bệnh. - Làm tốt công tác khuyến ngư. - Nâng cao tính bền vững về môi trường trong nuôi trồng thủy sản. - Ổn định xã hội trong nuôi trồng thủy sản.

76

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây 4.3 Một số giải pháp cho các vấn đề môi trường

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Ðể bảo đảm phát triển lợi thế ngành nuôi trồng thủy sản ở ÐBSCL, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế đồng thời vẫn đảm bảo chất lượng môi trường, cần thực hiện các giải pháp cơ bản sau đây: Nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch môi trường trên cơ sở phân vùng sinh thái nhạy cảm với các vùng tiềm năng trong phát triển các mô hình canh tác thủy sản nước mặn, nước ngọt và nước lợ... theo các cấp độ từ thấp tới cao như nuôi trồng thủy sản tự nhiên, mật độ thấp, mô hình hợp sinh thái... cho đến nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp để bảo đảm cho phát triển lâu dài và bền vững nuôi trồng thủy sản ở ÐBSCL. Quy hoạch thủy sản phải gắn liền với quy hoạch môi trường trong các hệ canh tác của các loại mô hình nuôi trồng thủy sản. Ðối với mô hình nuôi trồng thủy sản thâm canh và công nghiệp, cần tập trung giải quyết vấn đề xử lý nước cấp, quản lý chất lượng nước và xử lý chất thải nuôi trồng thủy sản và quản lý dịch hại tổng hợp trong các mô hình canh tác. Trong thực tiễn sản xuất, một số công ty có tiềm lực về vốn đầu tư, kỹ thuật công nghiệp nuôi trồng thủy sản, đã xác lập được các mô hình nuôi thủy sản công nghiệp, nhưng vẫn xử lý được các vấn đề chất thải phát sinh, đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Trong nuôi trồng thâm canh, nuôi công nghiệp, vấn đề bảo vệ môi trường cần tập trung xử lý chất thải nuôi trồng thủy sản, bằng các giải pháp như: Dùng các chế phẩm sinh học để xử lý triệt để các thành phần độc hại ô nhiễm có trong nước thải, chất thải thành các chất an toàn sinh thái. Các chế phẩm sinh học này là các vi khuẩn yếm khí, hiếu khí, các xạ khuẩn, nấm men... để xử lý lượng thức ăn dư thừa, các thất thải trong ao nuôi, các nguồn bùn cặn đáy ao nuôi... Bảo vệ môi trường trong phát triển nuôi trồng thủy sản ở khu vực ÐBSCL là vấn đề cực kỳ quan trọng, cần được giải quyết từ vấn đề quy hoạch sản xuất canh tác, phương thức canh tác gắn liền với tổ chức sản xuất canh tác nuôi trồng thủy sản và thị trường tiêu thụ, sản xuất nuôi trồng gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ môi trường và quan trọng là nâng cao vai trò quản lý của nhà nước về bảo vệ môi trường đối với lĩnh vực nuôi trồng thủy sản và vai trò của cộng đồng đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trường. Nhà nước cần nhanh chóng hoàn thiện quy hoạch nuôi trồng thủy sản ở khu vực ÐBSCL gắn liền với quy hoạch bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản và các hệ sinh thái, thực hiện tốt quy hoạch thủy lợi cho phát triển thủy sản, tăng cường tính khả thi của nhiệm vụ quan trắc và dự báo chất lượng môi
77

-

-

-

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

trường và dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản; đồng thời nghiên cứu và phổ biến các công nghệ xử lý môi trường thích hợp hiệu quả để giải quyết các vấn đề chất thải đồng thời ban hành quy chế bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản ở ÐBSCL. Tuyên truyền giáo dục việc chấp hành pháp luật. Đã có nhiều văn bản quy phạm pháp luật, Nghị định và Chỉ thị của Chính phủ để điều chỉnh từng vấn đề cụ thể của nhiệm vụ BVMT thủy sản được ban hành như: Nghị định 195– HĐBT ngày 2/6/1990 về thi hành Pháp lệnh Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản; Nghị định 89/2001/NĐ – CP ngày 16/11/2001 điều chỉnh về giống vật nuôi thuỷ sản, về thức ăn nuôi thuỷ sản, về điều kiện kinh doanh các ngành nghề thuỷ sản trong đó có nôi dung về BVMT thuỷ sản; Chỉ thị 07/2002/CT – TTG ngày 25/2/2002 về tăng cường quản lý việc sử dụng thuốc kháng sinh, hoá chất trong sản xuất kinh doanh thực phẩm có nguồn gốc từ động vật, trong đó có động vật thuỷ sản,… Tuy nhiên, việc thi hành cũng như tuân thủ theo các quy định của pháp luật không được đảm bảo tính chặt chẽ và nghiêm chỉnh. Các tác động xấu đến môi trường hiện nay một phần cũng xuất phát từ sự quản lý lỏng lẻo của cơ quan co thẩm quyền, lách luật hay không nắm rõ các quy định pháp luật trong vấn đề BVMT trong nuôi trồng thủy sản. Chính vì vậy, bên cạnh việc ban hành các quy định pháp luật, cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục việc chấp hành pháp luật đến chủ nuôi, cơ sở sản xuất, chế biến,…

4.4 Định hướng phát triển đến năm 2020 Trong bối cảnh vùng, tiếp tục phát triển thủy sản nhanh trên cơ sở đảm bảo tính bền vững trong chính hoạt động sản xuất thủy sản và của toàn vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Tiếp tục chuyển dịch cơ cấu các ngành nghề sản suất, kinh doanh, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm thủy sản, với bảo vệ môi trường sinh thái. Bảo đảm cân bằng lợi ích giữa ba mảng phúc lợi: kinh tế, xã hội và sinh thái môi trường trong quá trình phát triển thủy sản. Cụ thể là: Phát triển thủy sản vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, an toàn thực phẩm và cuộc sống cho ngư dân trong quá trình sản xuất. Phát huy bản sắc văn hoá „làng cá‟, tiến tới xây dựng các „đô thị nghề cá‟ và cải thiện sinh kế của người dân địa phương. Ở Đồng Bằng Sông Cửu Long có ba kiểu sinh thái đặc trưng là : vùng đất nhiễm mặn và sinh thái nhiễm mặn, vùng đất phèn và sinh thái đất phèn, vùng ngập lũ theo mùa và sinh thái ngập nước theo mùa. Cho nên, phát triển nuôi trồng thủy sản phải thích nghi với các kiểu sinh thái đặc trưng, bảo tồn rừng ngập mặn và các hệ sinh thái đất ngập nước quan trọng khác trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
78

-

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Phát triển ổn định một hệ thống thuỷ lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản ( thuỷ ngư ) ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, trước hết xử lý và tách riêng kênh tiêu thoát nước thải với kênh cấp nước cho các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung. Giảm thiểu tác động của các hoạt động sản xuất thủy sản đến nguồn nước ngầm và môi trường xung quanh, đặc biệt ở bán đảo Cà Mau. Bảo vệ và phục hồi vốn rừng ngập mặn, các khu vực rừng tràm, đồng thời chú trọng phát triển nuôi sinh thái : xen vụ lúa - tôm, con tôm ôm cây lúa… để duy trì độ che phủ cho đất đai. Chú trọng phát triển nghề cá cộng đồng để tận dụng các diện tích nhỏ lẻ, phân tán và sinh thái mùa nước nổi đặc thù ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản theo 3 tuyến ở Đồng Bằng Sông Cửu Long phù hợp với các đối tượng, phương pháp, hệ thống sản xuất và mục đích nuôi trồng khác nhau, như : (1) Tuyến biển sát bờ ( giới hạn từ bờ đến vùng biển có độ sâu 6 - 10 m ): chủ yếu phát triển nuôi bãi triều, các khu tương đối lặng sóng có thể nuôi dàn treo và lồng bè. Đối tượng nuôi là cá, ngao, nghêu, sò huyết và hàu.... Xây dựng các khu bảo tồn nguồn lợi và các khu bảo tồn bãi giống tự nhiên, như: khu bảo tồn nghêu, các khu bảo tồn rừng ngập mặn.… Kết hợp nuôi trồng thủy sản với bảo vệ cảnh quan để phát triển du lịch sinh thái; (2) Tuyến ven biển ( nuôi thuần nước lợ ), nằm chuyển tiếp phía trong tuyến ven bờ vào sâu đất liền đến đường đẳng mặn 4% ( phù hợp với phân tuyến thuỷ lợi và nông nghiệp ) : nuôi trồng thủy sản nước lợ như tôm, cua, các loài cá, nhuyễn thể và trồng rong câu. Tùy theo mùa và khả năng ngọt hóa theo thời gian mà kết hợp canh tác một vụ lúa, một vụ nuôi trồng thủy sản nước lợ; (3) Tuyến nội đồng ( nuôi thủy sản nước ngọt ): nuôi chủ yếu các loài thủy sản nước ngọt có giá trị thương phẩm cao ( cá tra, basa ) và các đối tượng nuôi truyền thống phục vụ thị trường tại chỗ. Có thể phát triển nuôi trồng thủy sản dọc theo triền các sông, các kênh rạch lớn, các khu ruộng trũng, nơi có khả năng cấp và tiêu nước dễ dàng cho các ao nuôi quanh năm hoặc một thời gian dài trong năm. Tuyến này cũng có một số diện tích nước ngọt ít được trao đổi, nhất là vào mùa khô như ở chân rừng tràm. Những nơi này có thể phát triển các loài cá đen thích ứng với loại môi trường và hệ thống ao nuôi ít thay nước như cá lóc, cá rô đồng, lươn, chạch, cá sặc,... Sắp xếp lại cơ cấu đội tàu và nghề khai thác hải sản nhằm giảm bớt cường lực khai thác, duy trì sản xuất bền vững. Cấm hẳn những loại nghề khai thác hải sản gần bờ có tính hủy diệt hoặc gây ảnh hưởng đến nguồn lợi hải sản. Phân chia vùng biển theo tuyến và phân cấp quản lý để nâng cao tinh thần trách nhiệm và ý thức tự chủ của từng cấp quản lý theo tinh thần Nghị định 123-2006/NĐ-CP. Từng bước phục hồi môi trường sống gần bờ của các loài hải sản ở các vùng bãi ngang, vùng cửa
79

-

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

sông, ven các đảo và các hệ sinh thái rừng ngập mặn, thảm san hô, thảm cỏ biển,…ưu tiên khai thác hải sản xa bờ nhằm giảm áp lực khai thác vùng biển gần bờ, góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng Đẩy mạnh chế biến theo cả hai phương thức: chế biến nội địa ( bột cá, thức ăn, chế phẩm... ) và chế biến xuất khẩu ( các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu ) đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và ngày càng cao của thị trường thuỷ sản. Đổi mới công nghệ và đa dạng hoá các mặt hàng chế biến thủy sản, tăng tính cạnh tranh của hàng hoá thủy sản, chủ động tạo ra các sản phẩm mới đối với thị trường thủy sản quốc tế và khu vực. Phát triển sản xuất sạch hơn trong tất cả cơ sở công nghiệp chế biến thủy sản trong vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Vài thập kỷ tới, thị trường trong nước và thế giới có xu hướng mở rộng phát triển hàng hoá thủy sản với các đối tượng nuôi có giá trị cao. Đây là một cơ hội cho ngành thủy sản Việt Nam nói chung và vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long - một trong số ít vùng có lợi thế đối với nuôi trồng thủy sản - nói riêng phát triển. Nắm chắc cơ hội, tập trung chỉ đạo, phát huy cao trí tuệ và huy động các nguồn lực để phát triển nuôi trồng thủy sản và khai thác thủy sản ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long theo các định hướng chiến lược nói trên là một hướng đi đúng nhằm khai thác hiệu quả và bền vững vùng sinh thái đặc thù của đất nước, đáp ứng nguyện vọng của hàng triệu dân lao động vùng này.

-

80

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây Nhận xét - đánh giá – đề xuất. 1. Nhận xét – Đánh giá.

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

Chuyến thực địa vừa qua đã giúp chúng em áp dụng nhiều kiến thức được học vào thực tế một cách trực tiếp, nhằm nâng cao khả năng nhìn nhận vấn đề. Những kinh nghiệm và ý kiến đóng góp của thầy cô đã giúp cho chuyến thực địa thành công hơn. Mặc dù còn nhiều hạn chế song nhóm đã cố gắng hoàn thành một cách khả thi nhất dưới sự giúp đỡ của giảng viên phụ trách, cùng với sự tham gia nhiệt tình của các thành viên trong nhóm. 2. Đề xuất. Bản thân mỗi thành viên cần trang bị kiến thức đầy đủ hơn trước khi đi thực địa, củng ố và nâng cao c ác kiến thức chuyên ngành, tổng hợp và cập nhật thông tin. Trên đây là bài báo cáo của nhóm được tổng hợp từ những ghi nhận của chuyến thực địa, song không tránh khỏi những sai sót. Nhóm chúng em mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của thầy cô để nhóm có thể hoàn thiện hơn trong bài báo cáo lần sau.

81

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây TÀI LIỆU THAM KHẢO

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

[1]. Bùi Việt Hưng (2012), Giáo trình thực tập môi trường các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Khoa môi trường - Trường Đại học Khoa Học Tự Nhiên TPHCM. [2]. Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản (2009), Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy sản vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015, định hướng đến năm 2020, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. [3]. Lê Xuân Sinh1, Nguyễn Tiến Diệt2 và Nguyễn Rube3 (2011), Cung cấp và sử dụng giống tôm sú ở đồng bằng sông Cửu Long, 1Đại Học Cần Thơ, 2Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn Tiền Giang, 3Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trà Vinh. [4]. KS. Trịnh Ngọc Tuấn (2005), Nghiên cứu hiện trạng khai thác, nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam và đề xuất phương án xử lý nước thải, Trung tâm nghiên cứu, quan trắc, cảnh báo môi trường và phòng ngừa dịch bệnh thủy sản khu vực miền bắc. [5]. Trung tâm thông tin thủy sản (2012), Báo cáo tình hình sản xuất thủy sản quý III và 9 tháng đầu năm 2012, Tổng cục Thủy sản [6]. Tổng cục môi trường (2011), Báo cáo môi trường quốc gia 2011: Chất thải rắn – Chương 6: Tác động của ô nhiễm môi trường do chất thải rắn, Bộ Tài nguyên & Môi trường. [7]. Lâm Văn Mẫn (2006), Luận án Tiến sĩ: Phát triển bền vững ngành thủy sản đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2015, Đại học Kinh tế Tp.HCM [8]. Nguyễn Hồng Gấm, Luận án Tiến sĩ: Xác định sản phẩm chủ lực và phát triển sản phẩm chủ lực đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, Đại học Kinh tế Tp.HCM [9]. Nguyễn Thanh Toàn, Lê Xuân Sinh và Huỳnh Văn Hiền, Hiện trạng và nhu cầu nhân lực cho sự phát triển của ngành thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Khoa học 2008 (2): 168-175. [10]. Trần Tiến Khai (2007), Các hạn chế đối với mục tiêu phát triển bền vững của ngành tôm ở ven biển đông bằng sông Cửu Long – Nhìn từ kinh nghiệm tỉnh Bạc Liêu, Đại học Kinh tế Tp.HCM [11]. Viện Quản lý Thủy sản, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1, Mạng lưới các Trung tâm Nuôi trồng Thủy sản Châu Á-Thái Bình Dương, Trường Đại học Cần Thơ, Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên Nhiên (2006), Hướng dẫn quản lý môi trường trong đầu tư nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam, Bộ Thủy sản & Ngân hàng Thế giới.
82

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

[12]. ThS. Nguyễn Xuân Hiền, Nguồn tài nguyên của đồng bằng sông Cửu Long, Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, Tạp san khoa học và công nghệ quy hoạch thủy lợi [13]. Bảo vệ môi trường trong nuôi thủy sản tại đồng bằng sông Cửu Long, 2012, Tổng cục môi trường (http://vea.gov.vn/vn/quanlymt/Quanlychatthaicaithien/caithienmt/Pages/B%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-m%C3%B4itr%C6%B0%E1%BB%9Dng-trong-nu%C3%B4i-th%E1%BB%A7y-s%E1%BA%A3nt%E1%BA%A1i-%C4%91%E1%BB%93ng-b%E1%BA%B1ng-s%C3%B4ngC%E1%BB%ADu-Long-.aspx) [14]. Thế và lực mới của ĐBSCL, 2013, Trang thông điện tử Tổng cục Thủy sản (http://www.fistenet.gov.vn/c-thuy-san-viet-nam/d-chuong-trinh-phat-trien/the-va-lucmoi-cua-111bscl/) [15]. Dương Hoàng Dũng (2009), Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp vùng đồng bằng song Cửu Long, Đại học Kinh tế Quốc dân (http://www.doko.vn/luan-van/chuyen-dich-co-cau-nganh-nong-nghiep-vung-dong-bangsong-cuu-long-26695) [16]. Chuyển ịch cơ cấu inh tế v ng đồng ằng sông Cửu Long đến năm 2010, 2005, Cục thôg tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (http://vst.vista.gov.vn/home/database/an_pham_dien_tu/nong_thon_doi_moi/2005/2005 _00006/MItem.2005-02-15.3542/MArticle.2005-02-15.5345/marticle_view) [17]. Gia Bảo & Minh Huyền (2013), Đánh thức tiềm năng inh tế biển, Báo điện tử Cần Thơ (http://baocantho.com.vn/?mod=detnews&catid=72&id=121970) [18]. Nguyễn Lê, Tiềm năng thủy sản Việt Nam, Điểm thông báo và hỏi đáp về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (http://tiengiang.tbtvn.org/default.asp?action=article&ID=2773&category=2&KeyWords =Ti%E1%BB%81m%2Cn%C4%83ng%2Cth%E1%BB%A7y%2Cs%E1%BA%A3n%2 CVi%E1%BB%87t%2CNam) [19]. FDI đánh thức tiềm năng thủy sản đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí Thương mại Thủy sản, 12/2012 (http://vietfish.org/20121226030059951p48c54t114/fdi-danh-thuc-tiem-nang-thuy-sandong-bang-song-cuu-long.htm)

83

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

[20]. Tấn Hiền, Mặn xâm nhập sau tại đồng bằng sông Cửu Long, Thời báo Kinh tế Việt Nam, 1/2010 (http://vneconomy.vn/2010010404174151P0C9920/man-xam-nhap-sau-tai-dong-bangsong-cuu-long.htm) [21]. Dương Hương Thảo, Một số giải pháp nhằm phát triển bền vững nuôi trồng và tiêu thụ cá a trơn v ng Đồng bằng sông Cửu Long, Đại học Nông Lâm - Đại học Huế (http://www.doko.vn/luan-van/mot-so-giai-phap-nham-phat-trien-ben-vung-nuoi-trongva-tieu-thu-ca-da-tron-vung-dong-bang-song-cuu-long-157532) [22]. Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 5/9/2012 (http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchienluocphattrienkinhtexahoi?_ piref135_16002_135_15999_15999.strutsAction=ViewDetailAction.do&_piref135_1600 2_135_15999_15999.docid=1456&_piref135_16002_135_15999_15999.substract=) [23]. Trí Quang, ĐBSCL: Phát triển nuôi thủy sản cần đi đôi với bảo vệ môi trường, Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn, 20/7/2010 (http://www.agroviet.gov.vn/Pages/news_detail.aspx?NewsId=12597) [24]. Thu hút nguồn lực đầu tư vào thủy sản ĐBSCL, Trang thông tin điện tử Tổng cục Thủy sản, 14/11/2012 (http://www.fistenet.gov.vn/c-thuy-san-viet-nam/d-chuong-trinh-phat-trien/thu-hutnguon-luc-111au-tu-vao-thuy-san-111bscl/) [25]. Phạm Huy, Luận văn: Thực trạng xuất khẩu thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long (http://www.doko.vn/luan-van/thuc-trang-xuat-khau-thuy-san-o-dong-bang-song-cuulong-289312) [26]. Phạm Đình Tôn, Bảo vệ môi trường nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long, Trang thông tin điện tử của Ủy ban Dân tộc và Phát triển, 10/06/2009 (http://cema.gov.vn/modules.php?name=Content&op=details&mid=8240) [27]. Huy Thắng, Tận dụng tiềm năng đầu tư v ng ĐBSCL, Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, 14/3/2013 (http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Tan-dung-tiem-nang-dau-tu-vungDBSCL/20133/163978.vgp) [28]. PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi, Thủy sản : Thế mạnh của kinh tế Đồng Bằng Sông Cửu Long, Probity Logistics Solution
84

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

(http://www.probity.com.vn/news/detail/42-0-thuy-san-the-manh-cua-kinh-te-dong-bangsong-cuu-long-pgs-ts-nguyen-chu-hoi-.html) [29]. V ng đồng bằng sông Cửu Long, Viện chiến lược phát triển – Trung tâm nghiên cứu Kinh tế miền Nam, 15/9/2011 (http://www.svec.org.vn/Pages/Article.aspx?id=33) [30]. Sở Công Thương An Giamg, Bài tham luận: Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp và định hướng thị trường xuất khẩu sản phẩm công nghiệp của v ng đồng bằng sông Cửu Long, Cổng thông tin điện tử tỉnh An Giang (https://docs.google.com/viewer?a=v&q=cache:M88s1jFaJBoJ:angiang.gov.vn/wps/wcm /connect/e1c65c004d320df48c9ede66a976f9cf/Bai%2Btham%2Bluan%2Bc%25E1%25B B%25A7a%2BAn%2BGiang%2Btai%2Bhoi%2Bnghi%2BNganh%2BCT.doc%3FMOD %3DAJPERES%26CACHEID%3De1c65c004d320df48c9ede66a976f9cf+&hl=vi&gl=v n&pid=bl&srcid=ADGEESh2go6648Zc5D1iHP4Lu1WLPfkls27GtH9E287WGMMGJw rp6hwKO467DOZpL94aurOyHkQpzgfkv5kTRi1misYT_2WHRbawYAu8_cVYYIHpWB209XHS0jRCGkaPX_jPh2qCiA&sig=AHIEtbRBFDmKuLajMuQngABDVnmf469Fog) [31].Lê Thị Bích Trâm, Phân tích tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ở tỉnh Vĩnh Long (http://luanvan.net.vn/luan-van/de-tai-phan-tich-tinh-hinh-chuyen-dich-co-cau-kinh-tenong-nghiep-o-tinh-vinh-long-10483/) [32]. Nguyễn Phong Quang, Đồng bằng sông Cửu Long: Vùng Kinh tế năng động, Th báo Doanh nhân, 20/4/2012 (http://tbdn.com.vn/sites/epaper/ThoiBaoDoanhNhan/Chitiet.aspx?ArtId=14281&CatId= 125) [33]. Ca Linh, Vực dậy đồng bằng sông Cửu Long, Báo Người lao động, 4/3/2012 (http://nld.com.vn/201203040831398p0c1002/vuc-day-dong-bang-song-cuu-long.htm) [34]. Bộ Thủy sản (2006), Quy hoạch tổng thể phát triển ngành Thủy sản Việt Nam đến năm 2010 và định hướng 2020, H à N ội [35]. Chính phủ (2004), Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cả nước đến 2010 và tầm nhìn 2020

85

Nhóm 3

Báo cáo Thực địa miền Tây

GVHD: ThS.Dương Hữu Huy

86

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful