You are on page 1of 6

LIÊN THÀNH VÀ MẮM TÔM 34

Bảo quốc Kiếm

Để có thể hiểu rõ hơn về sự phối triển của VNCH, mà đặc biệt là chính quyền Thừa thiên Huế
với CSBV, chúng ta cần lưu ý đến bài viết của ông Nguyễn lý Tưởng: “Tình hình Huế và Thừa thiên
trước Mậu thân 1968”. Trong đó ông viết:
“Mấy tháng trước Tết Mậu Thân, tình hình ở tỉnh Thừa Thiên có vẻ sôi động. Trong thời gian
vận động bầu cử Dân Biểu Hạ Nghị Viện nhiệm kỳ 1967-1971, tháng 9 và tháng 10. 1967 tôi đã đi
nhiều nơi trong tỉnh, qua khắp các quận, tiếp xúc với nhiều anh em nhờ vận động đồng bào ủng hộ cho
tôi trong cuộc bầu cử. Nhờ vậy, tôi mới có dịp tìm hiểu về tình hình quân sự ở đây. Tôi nghe anh em
nhắc đến một số tên Việt Cộng xuất hiện ở vùng nầy vùng khác. Tôi có đem chuyện đó nói lại với một số
Quận Trưởng tôi quen và nhất là thảo luận với hai ông Nguyễn Minh Truật (phụ trách An Ninh Quân
Đội tại Khu 11 Chiến Thuật ở Huế) và ông Đoàn Công Lập (Trưởng Ty Cảnh Sát Thừa Thiên). Căn cứ
vào sự xuất hiện của một số cán bộ, bộ đội VC, các cơ quan chuyên môn về an ninh tình báo có thể biết
tên các đơn vị VC xuất hiện”.
Qua những câu này, chúng ta thấy tinh thần của ông rất cao. Ông đã dùng vai trò lãnh đạo đảng
Đại Việt để bàn luận với những nhà lãnh đạo Thừa thiên Huế về tình hình quân sự. Nếu không phải là
lãnh đạo đảng Đại Việt, thì làm sao thầy giáo trung học có thể nói chuyện với những vị cha chú này ?
Mấy chữ “tìm hiểu tình hình quân sự”, nếu phát ra từ miệng một ông bà nào khác, thì chắc cũng mềm
xương, rục mạng rồi, phải không ? Chỉ nói tới hai ông Truật và Lập không thôi, thì thiên hạ cũng khiếp
vía rồi. Thế nhưng, chúng ta không nghe ông kể tiếp là những vị “vua” ấy đã làm gì, hay chỉ biết vậy
chơi thôi. Đó là một tiếc rẽ ! Sau khi ông “diễn cảm” chuyện Nhảy dù tìm đánh ở Phú lộc mà không gặp
VC, rồi thì hành quân vùng rừng núi Hương trà cũng không đụng độ gì, tôi cảm thấy vui ghê. Ông dùng
mấy chữ “VC khéo giấu quân” để làm mờ mắt thiên hạ một cách tài tình ! Nhưng nếu như vậy thì lực
lượng quân báo, điệp báo, máy bay thám thính, Sensors, trinh sát…toàn là thứ ăn hại thôi sao ? Ông viết
tiếp:

“Ngoài ra còn bắt được những mô hình để nghiên cứu hành quân trong đó VC đã phác họa địa
thế gồm thành lũy, hào sâu và chuẩn bị thang leo vô thành. Các dụng cụ y khoa đó, theo nhận xét của
bên quân y thì có thể phục vụ cho cấp quân đoàn. Do những dữ kiện đó, nhiều người nghĩ rằng Việt
Cộng có thể đánh Huế. Nhưng tướng Ngô Quang Trưởng thì nhận định rằng, VC có thể đánh quận
Hương Trà hoặc đánh vào một vị trí quân sự nào đó thuộc bắc Thừa Thiên. Tướng Trưởng không ước
tính rằng VC có thể đánh Huế”.
Chỗ này thì thật tội nghiệp cho Chuẩn tướng Ngô quang Trưởng. Từ những thấy biết về quân y,
phác đồ thành lũy…mà ông “Trưởng không ước tính được VC có thể đánh Huế”, thì sao gọi là tướng
giỏi chứ ? Vậy, cái hào quang quanh tướng Trưởng chỉ do Đại Việt nhào nặn ra vì lòng trung thành của
ông Trưởng từ năm 1966 thôi chứ gì ? Tội nghiệp quá !!! Cảm khái và vui nhất khi ông viết:
“Nhân lễ Giáng Sinh năm 1967, lúc đó tôi là Dân Biểu Hạ Nghị Viện, trở về Huế tham dự lễ với sinh
viên. Tôi đã đến Phú Cam nghiên cứu tình hình và thăm các gia đình nạn nhân. Sau đó tôi đã gởi văn thư
xin Trung Tá Phan Văn Khoa, Tỉnh trưởng Thừa Thiên trang bị cho nghĩa quân xã Thủy Phước (Phú
Cam) các loại súng lớn như đại liên, súng cối, M.79, M.72 để có hỏa lực mạnh”.

Ở đây, ông Tưởng đã say sưa quá đà để nói về vai trò của một Dân biểu. Việc kiểm tra trang bị
vũ khí cho lính không biết có quy định cho Dân biểu làm hay không, thì nông dân tôi không biết. Nhưng
qua lời trình bày này cho thấy cả Tỉnh trưởng và Quận trưởng đều là thứ vô dụng, phải để một Dân biểu
trẻ trung lo việc điều tra tình hình quân sự, và yêu cầu trang bị. Câu hỏi tại sao ông Tưởng lại xin “súng
cối” cho Nghĩa quân Thủy phước, mà không phải nơi khác, trước khi ông nhắc đến chuyện Chùa Từ
đàm tự nhiên được đặt ra. Ông viết tiếp:
“Cũng nên nói thêm là trong cuộc tranh đấu của Phật Giáo Huế (TT Thích Trí Quang), đồng
bào Phật tử ở Huế đã chịu ảnh hưởng rất lớn của các vị lãnh đạo Phật Giáo tại chùa Từ Đàm, cả
những đơn vị quân đội như Trung Tâm Huấn Luyện Đống Đa, Sư Đoàn 1, cảnh sát v.v... cũng tham gia
1/6
biểu tình chống chính phủ Saigon. Lợi dụng tình hình chia rẽ trong nội bộ quốc gia, VC đã xâm nhập
hoạt động và móc nối thành phần sinh viên, học sinh tranh đấu chịu ảnh hưởng của chùa Từ Đàm. Về
sau sẽ thấy rõ ảnh hưởng tai hại của các cuộc tranh đấu đó đối với tình hình an ninh của quốc gia như
thế nào”.

Đến đây, thì ông Dân biểu “tự giải mã” rồi đó. Ông buộc tội Phật giáo, ông quan tâm Từ đàm,,
ông chuẩn bị vũ khí riêng cho Nghĩa quân xã Thủy phước...Ô hô…Có điều ông quên đi là, Chính quyền
Thừa thiên Huế đang nằm trong tay ông, một lãnh tụ miền Trung cao cấp và uy lực nhất, vì ông là em
chú bác ruột của TGM Nguyễn kim Điền, là Ủy viên cao cấp đảng Đại Việt. Các cơ quan An ninh quân
đội, Cảnh sát, Xây dựng nông thôn…đều do Đại Việt cầm hết; nghĩa là tính mạng Thừa thiên Huế đang
nằm trong lòng bàn tay của ông. Vậy, ông đổ lỗi cho ai ? Những tính toan ghê gớm đã thể hiện trong
đoạn này:
“Khi có ai đề cập đến vấn đề VC sẽ đánh Huế thì ông Tỉnh trưởng thường cười và tỏ ra tin
tưởng rằng không thể có chuyện đó được. Khi tôi nói chuyện đó với Tướng Ngô Quang Trưởng, ông trả
lời rằng ông có đủ lực lượng phòng vệ và đã được quân đoàn tăng cường thêm hai đơn vị lính nhảy dù
rồi”.
Giọng “cười” của Trung tá Khoa và niềm tin chủ quan của ông tướng Trưởng mạnh mẽ như thế, thì tại
sao Huế phải bị tắm máu ? Không ai có thể giải thích khác hơn câu này: “Vì đó là chủ trương của nhà
cầm quyền” !!!
Xin đọc thêm:
“Máy bay cất cánh từ phi trường Ái Tử, thời tiết rất xấu, không nhìn thấy gì ở dưới mặt đất. Đến
Đà Nẵng, ở lại một đêm tại nhà Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, tôi và ông Hoàng Xuân Tửu được
Trung Tướng Lãm cho biết tình hình hành quân, những đơn vị còn chiến đấu chưa bị chiếm. Qua điện
đài của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn, tôi nghe tiếng của Tướng Trưởng xin rút khỏi Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 1
tại Mang Cá Huế (Thành Nội). Nhưng Trung Tướng Lãm trả lời: "Anh cứ ở đó, chờ đợi tôi giải tỏa, sau
lưng anh có thằng Đệ (Thiếu Tá Nguyễn Hữu Đệ, quận trưởng Hương Trà) và phía Bao Vinh có Hải
Quân Mỹ, ở Quảng Trị quân ta chiến thắng, sẽ có tiếp viện vào, quân Mỹ ở Phú Bài và quân đội Việt
Nam ở Hương Thủy, Phú Lộc đang tiến chiếm phía Nam thành phố Huế... Ở Đà Nẵng chúng tôi đánh
bật tụi nó ra rồi. Quân ta làm chủ tình hình . . . ".

Qua đây, chúng ta nhận ra ngay các lãnh tụ Đại Việt trước và ngay khi chiến trận xảy ra, họ đã
họp bàn và điều động chiến trường Huế một cách chặt chẽ. Ngay khi còn ở tại Quảng trị, ông Tưởng
cũng đã nói chuyện với ông Lãm rồi, trước Tết cũng vậy. Ba lãnh tụ Hoàng xuân Lãm, Hoàng xuân Tửu
và Nguyễn lý Tưởng làm việc thật đắc lực. Họ đã tận tâm phục vụ đấy ! Câu nói của Trung tướng Hoàng
xuân Lãm mà ông Nguyễn lý Tưởng nhắc lại đáng ghi vào “kim sách”: “Sau lưng anh có thằng Đệ” !
Tuyệt. Việc một Trung tướng Tư lệnh Quân khu bảo ông Chuẩn tướng Tư lệnh Sư đoàn tin tưởng vào
“thằng” Quận trưởng, mà thực tế trong tay chỉ có vài trung đội Nghĩa quân đã bị VC đánh chết rồi, là
một chuyện xưa nay chưa từng có. Vậy điều ấy mang ngữ nghĩa gì mà ông Dân biểu Ủy viên Trung
ương đảng Đại Việt phải cẩn trọng nhắc lại như thế ? Phải chăng vì Nguyễn hữu Đệ là Đảng viên ghẻ
ruồi từ Chiêu hồi thuở nọ ??? Bí mật nhỉ ? Và từ chỗ này, chúng ta hiểu tại sao CSBV được phép ở lại
Huế 25 ngày đêm trong sự phối hợp trực tiếp, bí mật của Lê khả Phiêu, Chính ủy kiêm Trung đoàn
trưởng Trung đoàn 9 thuộc “lực lượng BỘ”. Cũng cần nhắc lại chuyện Trung tướng Lãm Tư lệnh Quân
khu I qua bài “Tết Mậu thân 1968” của ông Trọng Đạt như sau:
“Tại Quân khu I, sáng mồng một Tết (30-01) Đại tá Nguyễn duy Hinh, XLTV Tham mưu trưởng
Quân đoàn đã nhắc điện thoại báo cáo Trung tướng Hoàng xuân Lãm, Tư lệnh vùng I khi VC pháo kích
gần tư thất ông. Nhưng tướng Lãm không tin, cắt ngang cuộc điện đàm”.
Chúng ta không ngạc nhiên khi Trung tướng Lãm “cắt ngang điện thoại”, vì ông đã có chủ
trương rồi. Ông Đại tá dĩ nhiên không hiểu, nên quấy rầy ông, nên ông giận, ông cắt ngang là phải.
Không những ông Lãm, mà ông Tư lệnh Quân khu II cũng thế:

2/6
“Ngoài ra Trung tướng Stone, Tư lệnh Sư đoàn 4BB Mỹ ở Cao nguyên, thu được tài liệu của VC
nói về kế hoạch tấn công Pleiku ông vội thông báo cho Trung tướng Vĩnh lộc Tư lệnh vùng II, nhưng
ông này cũng không tin, và bỏ về Sài gòn ăn Tết”. (Trọng Đạt)
Tất cả những “không tin có kế hoạch” đã được tóm lược trong câu:
“Nhưng theo các tài liệu khác như của Tướng Hoàng Lạc thì trước Tết mấy ngày, Tướng
Westmoreland đã cho ông Thiệu biết VC sẽ tấn công. Ông đề nghị rút giờ hưu chiến từ 36 còn 24 nhưng
ông Thiệu không tin và không chịu nghe theo”.

Đến đây đã rõ ràng rồi chứ gì ? Có ai cãi lại được nữa hay không ? Việc để cho CS vào là quyết
định của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu. Ông đã làm gương về quê vợ ăn Tết. Tướng Vĩnh lộc vui vẻ
làm theo. Hoàng xuân Lãm cắt ngang điện thoại của quyền Tham mưu trưởng khi báo cáo tình hình.
Nguyễn lý Tưởng thăm viếng Hoàng xuân Lãm, gọi điện từ Quảng trị, rồi vào nhà; rồi nói chuyện với
Ty Cảnh sát Thừa thiên Huế; rồi vào Sài gòn, rồi quay ra ngủ lại tại Ty Cảnh sát, Tiểu đoàn 12 Pháo
binh; rồi đi thăm các nơi khi còn trong lửa đạn; rồi cải táng; rồi đưa tin…Tất cả chỉ vì “Một màn giấu
giếm cố ý và có tổ chức” để con không thể tìm ra cha, vợ không thể nhận diện chồng…mà phải khóc
cho xác thây giặc thù tàn hại quê hương !!!
Ngoài ra ông Trọng Đạt còn ghi nhận ở Huế :
“Trước Tết vài ngày, an ninh lỏng lẻo, nhiều thanh niên lạ mặt, xanh xao, đi dép râu vào thành
phố mà không thấy Cảnh sát hỏi han gì”.
Rõ ràng, chính quyền Thừa thiên Huế đã biết VC vào mấy ngày trước rồi, chứ không phải đợi
đến sáng mồng một mới khởi sự; nhưng chính quyền, đặc biệt là Liên Thành, Phó trưởng ty Cảnh sát
Đặc biệt vẫn để mặc cho chúng tự do đi lại và giết người. Chính Liên Thành đã xác nhận nhiều lần như
thế kia mà. Vậy Liên Thành là ai ? Xin những ai bênh vực lên tiếng cho biết.

Bây giờ, chúng ta đi tìm những con số đớn đau nhất, và hãy tự hỏi tại sao.
Về lực lượng CS tấn công vào Huế, theo Đại tá Nguyễn văn Quang quyền Chỉ huy Bộ chỉ huy
hành quân của Việt cộng thì: “có 11 tiểu đoàn, gồm 8 Tiểu đoàn BB và 3 Tiểu đoàn Đặc công”, nhưng
đó chỉ là trên nguyên tắc mà ông được biết. Còn trong thực tế, ông ta diễn tả như sau:
“Ở cánh Bắc: Đại đội 1 đặc công và Đại đội 2 bộ binh thuộc Trung đoàn 6 tiến công Sở chỉ huy
Sư đoàn 1 ngụy ở Mang Cá. Đại đội 2 (Tiểu đoàn 2 đặc công) và Đại đội 2 (Tiểu đoàn l Trung đoàn 6)
ba lần đánh chiếm sân bay Tây Lộc, tiêu hao nặng 2 tiểu đoàn địch ra phản kích. Cùng lúc Đại đội 14
đặc công và Đại đội 3 (Tiểu đoàn 2, trung đoàn 6) tiến công vào khu Đại Nội diệt đơn vị Hắc Báo. Đại
đội 3 (Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 6) tiến chiếm Cột cờ Thành nội. 9 giờ 31-1-1968, chiến sĩ Trung đoàn 6
Nguyễn Văn Tuyên đã cắm cờ lên đỉnh cột cờ Phú Văn Lâu. Đồng thời một số đơn vị Trung đoàn 6 đánh
chiếm các mục tiêu vòng ngoài như cầu Bạch Hổ, Kim Long, Kẻ Vạn, Văn Thánh, tiêu diệt và tiêu hao 2
tiểu đoàn địch, đánh chiếm cầu An Hòa, làng An Hòa, 5 lần đánh bại Tiểu đoàn 7 ngụy phản kích, diệt
5 xe M-113 và nhiều tên địch buộc chúng tháo chạy vế hướng Bao Vinh để vào Mang Cá”.
Như vậy, cộng lại chỉ có 7 Đại đội vào trong Thành nội mà thôi.

“Ở cánh Nam: Tiểu đoàn 1 đặc công (Đoàn tiến công Trung đoàn 7 thiết giáp ngụy ở Tam Thai, diệt
350 tên địch, phá hủy 35 xe thiết giáp và xe tăng.
Tiểu đoàn 4 bộ binh (Đoàn 5) đánh chiếm cầu Kho Rèn diệt sở chỉ hay cảnh sát dã chiến, chiếm khu
vực Ngã 6, đánh chiếm Đài phát thanh Huế. Các đại đội của Tiểu đoàn 815 bộ binh tiến công tiêu diệt
gọn đại đội Nam Triều Tiên tại khu Tàu Lăng, đánh chiếm Phước Quả, Ty sắc tộc, Tòa tỉnh trưởng, phá
nhà lao Thừa Phủ (giải phóng 2.000 cán bộ, chiến sĩ bị địch bắt), nhà lao Thẩm Vấn (giải phóng 107
người). Đại đội 1 thuộc Tiểu đoàn 1 đặc công (Đoàn 5) đánh chiếm tiểu khu Thừa Thiên, khách sạn
Thuận Hóa, Hương Giang và đánh vào An Cựu diệt 2 đoàn bình định. Tiểu đoàn 10 (Đoàn 5) đánh Tiểu
đoàn 1 (Trung đoàn 3 ngụy) ở Đổng Di và Tiểu đoàn 4 (Trung đoàn 3 ngụy) ở Tam Đông.”

Vậy, cánh Nam chỉ dùng 4 Tiểu đoàn và 1 đại đội. Còn Trung đoàn 9 do Lê khả Phiêu chỉ huy
không nghe nhắc tới, ngoại trừ ghi nhận Tiểu đoàn 116 đánh ở La chữ (làng của Cụ Hà thúc Ký Chủ tịch
3/6
Đảng Đại Việt). Đây là một nghi vấn lớn. Tuy nhiên, tôi không nhằm khảo chứng toàn bộ, mà muốn nói
đến lực lượng ở trong thành nội mà thôi.
Còn tin tức về phía VNCH thì sao ? Dù cố gắng tìm xem, nhưng tôi không thấy các nhà quân sự
hay bình luận nhắc nhở đến tình hình quân sự chi tiết hai bên trong nội thành. Có lẽ đây cũng là một chủ
trương chăng ? Trong bài viết của ông Trọng Đạt có ghi một đoạn ngắn:
“Mồng 5 Tết, Dù giải toả phường Tây lộc…cả hai bên đều mệt mỏi, VC bắt đầu hết đạn dược,
thương vong tại nội thành lên tới 300 mà không di tản được. Ngày mồng 5 Tết Lê Minh họp các cấp chỉ
huy CS quyết định rút lui khỏi Huế”.
Ông Nguyễn ngọc Bích ghi trong bài:”Trận chiến Mậu thân tại Huế từ góc nhìn của chỉ huy
chiến trường Bắc quân”:
“Ngày mồng 4, mồng năm chiến trận tạm lắng vì cả hai bên đều kiệt sức, nhất là vì Việt cộng hết
đạn (có điện đánh về Hà nội ngày 05-02-68)”

Chúng ta cũng không nghe thấy CS được tiếp tế đạn dược gì thêm. Do đó, trong Đại nội lực
lượng CS càng ngày càng lúng túng, vô phương cứu chữa. Ở trên, chúng ta thấy Quyền chỉ huy trưởng
Bộ chỉ huy hành quân Cộng sản nói là 7 đại đội, nhưng thực chất thì hai đại đội đánh vào BTL Sư đoàn
I, không biết nó ở trong hay ngoài đánh vào. Cứ cho là 7 đại đội như đã nói, thì quân số bên trong
Hoàng thành cũng quá ít: khoảng chừng 1.500. Sau đó, chúng đã bị Đại đội Hắc báo, Trung đoàn 3 và
các đơn vị Nhảy dù tấn công, thì số thương vong trong 5 ngày đầu đã lên tới 300 (theo Trọng Đạt). Như
vậy, CS chỉ còn khoảng 1.200 quân mà thôi. Về phía VNCH, Phóng viên Thiện giao của RFA viết trong
bài:”Huế 1968: Khăn Tang và Nước Mắt đường lên Ba Đồn” như sau:
“Thiếu uý Nguyễn Văn Ngẫu nhớ lại những ngày chuẩn bị phản công:
“Sau 31 tháng Giêng, dân chúng đang ăn Tết vui vẻ. Thành phố Huế trở thành trọng tâm của chiến
trường. Đặc công vào nội thành do trung tá Khánh Lửa dẫn quân vào Kỳ Đài và 4 con đường chính
gồm vùng An Hoà, Thượng Tứ, Cửa Ngăn, Cửa Sập từ vùng núi đi về tập kích. Lực lượng Nội Thành
gần đó đang đóng ở Thượng Tứ, Cửa Ngăn, Cửa Sập cũng tiến vào. Đơn vị tôi đang đóng tại quận
Hương Trà. Một ngày sau khi nổi lên, tướng Ngô Quang Trưởng trực tiếp điện đàm với quân Khu 1,
tướng Hoàng Xuân Lãm, Tổng tham mưu và sau hai ngày là bắt đầu phản công.”
Đại Đội Trưởng Hắc Báo, ông Trần Ngọc Huế hồi tưởng:
“Huế không lớn nhưng đánh dai dẵng vì quyết tâm của Cộng Sản là muốn thắng lợi bằng bất cứ giá
nào. Mà ý chí của miền Nam và Huế cũng bằng bất cứ giá nào phải dành lấy mảnh đất thiêng liêng của
mình.” Cuộc phản công tái chiếm Huế diễn ra ác liệt. Hai bên giằng co từng căn nhà, từng khu phố,
từng tấc đất. Ông Trần Ngọc Huế nhớ lại: “Hai bên quần thảo, tiến lên, rồi lui lại, rồi lại tiến lên, rồi
lui lại, tranh từng căn nhà, từng khu phố. Mỗi tấc đất là một tấc máu. Từng cái nhà, đánh liên tục không
có thời giờ ăn và thời giờ ngủ. Đánh liên tục. Nhiều khi phải chia thành từng tổ 2, 3 người thay phiên
nhau ngủ.”

Rất tiếc là hai vị trực tiếp chiến đấu không ghi lại được quân số hai bên, nên đành chịu. Tuy
nhiên, cũng không trách hai vị này được, vì họ chỉ là đơn vị nhỏ, lo chiến đấu, không thể nào biết toàn
cuộc được. Tạm ngưng ngang đó, chúng ta thấy rằng, với quân số ít hơn rất nhiều lần, CS không thể nào
chiến thắng. Không những quân đội Việt nam, mà sau đó, quân Mỹ cũng nhảy vào để tiêu diệt trọn gói
bọn chúng. Tinh thần quả cảm của quân đội Việt nam Cộng hoà đáng vinh danh muôn thuở. Nhưng hỡi
ơi, nỗi niềm mà ông Trần ngọc Huế ôm ấp là phải bảo vệ di tích lịch sử này đã bị kẻ cầm quyền xoá sổ !
Không ai có thể biện minh cho sự hủy hoại toàn bộ khu Hoàng thành này được. Việc để cho Cộng sản
vào Thành phố Huế và lưu lại 25 ngày đêm là của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu, của Trung tướng
Hoàng xuân Lãm Tư lệnh Quân khu I, của Chuẩn tướng Ngô quang Trưởng, TLSĐI, của Trung tá Phan
văn Khoa, Tỉnh trưởng, của Ty trưởng Cảnh sát Đoàn công Lập, trong đó có Liên Thành là Phó Trưởng
ty Đặc biệt, chứ không phải vô tình. Chính Liên Thành xác nhận trong sách BĐMT cũng như nhiều lần
phỏng vấn rằng: “đánh Huế không phải là một bất ngờ”. Phương châm “dụ địch để diệt địch”, “hoàng
thành chỉ là nơi du lịch”, là của chính quyền, là của Tướng Trưởng. Để có một khái niệm “dụ địch” của

4/6
Tướng Trưởng, chúng ta cần xem lượng giá và bố trí quân đội VNCH của địch: “Tết Mậu Thân 1968-
Bước ngoặt của cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước”- Hồ Khang:
“Ở Quảng Trị, mặc dù địch bố trí lực lượng phòng thủ khá dày đặc (Trước ngày ta nổ súng tiến
công, địch tăng tiếp tới khu vực Quảng Trị 2 tiểu đoàn kỵ binh không vận Mỹ và 6 tiểu đoàn quân đội
Sài Gôn nhằm củng cố khả năng phòng thủ thị xã quan trọng này) nhưng đêm 30 rạng ngày 31 tháng 1,
ta đánh mạnh vào phía Đông Nam thị xã, tiêu diệt 1 tiểu đoàn quân Sài Gòn ở khu vực Tri Bưu, đánh
tiêu hao nặng 1 tiểu đoàn khác đến phản kích suốt ngày 31 tháng 1”.
Qua tài liệu này, chúng ta thấy rằng, hai Trung đoàn 1 và 2 của Sư đoàn I đóng tại quanh Thị xã
Quảng Trị, Đông hà, chứ không phải tại các vùng cận sơn để ngăn chận bước tấn công của CS. Cũng tài
liệu trên cho biết:
“Tại Mặt trận Huế, thành phố lớn thứ ba miền Nam với dân số 15 vạn người - tính đến thời điểm
cuối năm 1967, là nơi tập trung các cơ quan đầu não chỉ đạo chiến tranh của Mỹ, ngụy ở khu vực Vùng
1 chiến thuật, nơi địch tập trung một bộ phận khá lớn binh lực và phương tiện chiến tranh (Toàn bộ Mặt
trận Huế, cho đến thời điểm nổ ra cuộc Tống tiến công và nổi dậy, địch có khoảng 25.000 đến 30.000
quân, gồm 13 tiểu đoàn bộ binh (8 tiểu đoàn quân Sài Gòn, 5 tiểu đoàn quần Mỹ), 2 trung đoàn thiết
giáp, 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn biệt kích, 2 tiểu đoàn công binh, 2 tiểu đoàn vận tải, 1 tiểu
đoàn pháo cao xạ, 2 tiểu đoàn hải thuyền, 12 đại đội bảo an, 3 tiểu đoàn cảnh sát, 96 trung đội dân vệ,
18 đoàn bình định, 100 máy bay vận tải, một số đơn vị trực thuộc của Sư đoàn 1 bộ binh quân đội Sài
Gòn và Sư đoàn 8 lính thủy đánh bộ Mỹ”.

Qua một tài liệu khác:


“Lực lượng vũ trang Thừa thiên Huế trong Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968” của
Đại tá (CS) Nguyễn văn Giáo, quyền chỉ huy trưởng BCH Hành quân cho biết:
“Tiểu đoàn 10 (Trung đoàn5) đánh Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 3 Nguỵ) ở Đông Di và Tiểu đoàn 4 (Trung
đoàn 3 Ngụy) ở Tam Đông”.
nghĩa là cũng như Quảng trị, Tướng Trưởng đưa 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 3 vào Phú thứ; còn hai
Tiểu đoàn ở Phong điền, Quảng điền, và cũng ở khu vực đồng bằng. Bỏ ngỏ mặt cận sơn cho Cộng sản
vào Thành phố một cách êm thắm. Chủ trương này không những của Việt nam mà còn là của MỸ. Ông

Trọng Đạt viết trong bài “Tết Mậu thân 1968” rằng:
“Trong hồi ký cuộc chiến dang dở trang 260,28 (bqk-tôi không hiểu cách ghi này) Tướng Trần
văn Nhật cho biết: “Tướng Westmoreland vào cuối năm 1995 trong buổi tiếp tân và phỏng vấn tại nhà
tôi, ông nói, ông đã biết trước các âm mưu của CSBV sẽ tấn công VNCH vào dịp Tết Mậu thân 1968,
nhưng ông không thể bật mí vì có ý định nhữ Cộng quân tập trung vào các thành phố để tiêu diệt dễ hơn
là đánh chúng trong rừng núi. Theo ông, nhờ chiến thuật này, nên sau Tết Mậu thân toàn bộ các đơn vị
của MTGPMNVN đều bị loại khỏi vòng chiến”.
Như thế, cái chết oan uổng của Huế do: MỸ-THIỆU-LÃM-TRƯỞNG-KHOA-LẬP-THÀNH,
chứ ai khác. Và trên tất cả của những tên Việt nam này là Đảng Lãnh đạo của chúng. Cụ Hà thúc Ký đã
xác nhận lai lịch, đảng tịch của Nguyễn văn Thiệu rồi !!! Đồng ý rằng trong chiến tranh thì chuyện chết
chóc là thường tình; nhưng cái chết của người dân Huế không thường chút nào. CSBV nói rõ là ra lệnh
cho quân đội chúng trong bảy ngày đầu phải hoàn tất nhiệm vụ:
“Trong 7 ngày đêm bảo đảm hoàn thành các mục tiêu cơ bản, tập trung chủ yếu” (NVQ-như
trên)
Trong lúc đó, Trung tá Phan văn Khoa, Tỉnh/Tiểu khu trưởng Thừa thiên Huế cũng “mất tích 7
ngày”, điều này không phải là một tình cờ ! Việc không nói đến Đại tá CS Lê khả Phiêu, chính ủy kiêm
Trung đoàn trưởng Trung đoàn 9 của BỘ cũng không phải vô tình ! Việc tướng Trưởng không có mặt tại
BTL một ngày một đêm cũng không phải vô tình. Rồi việc tướng Trưởng ngủ tại BTL cũng không phải
vô tình… Vậy nó là cái gì, nếu không phải là “Một màn giấu giếm cố ý và có tổ chức” của chính phủ và
chính quyền Thừa thiên Huế ? Vấn đề đặt ra cho chúng ta là tại sao những người có thẩm quyền nhất tại
Huế phải giấu giếm mọi vấn đề, nếu họ không có thủ đoạn tày trời trong trận tắm máu này của dân
Huế ? Đến nay, đã bốn mươi năm trôi qua, thế nhưng, một nhà lãnh đạo Đảng, một nh lãnh đạo An ninh,
5/6
Tình báo lại cố tình đưa ra những dữ kiện không thật, chống trái nhau. Tại sao ? Chỉ một cái chết của
ông Phó Thị tưởng Huế thôi, thì hai bên đưa ra họ khác nhau, cách chết khác nhau. Cũng thế, cái chết
của ông Từ tôn Kháng cũng đầy bí ẩn, tròng tréo. Ông Trần ngọc Lộ cũng vậy. Cái ớn lạnh nhất vẫn là
nguồn tin của ông Nguyễn lý Tưởng:
“Ông Hồ Ðinh là một đại đội trưởng thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 3, sư đoàn 1 bộ binh, kể lại:
“Sau khi quân ta đánh tấn Việt Cộng ra khỏi Huế, tôi bị thương điều trị tại quân y viện Nguyễn Tri
Phương. Tình cờ gặp đoàn xe của Tiểu Khu Thừa Thiên đi đào xác hai hố tập thể Xuân Ổ và Diên Ðại,
tôi đi theo xem. Vùng đó tôi quá quen thuộc vì hơn 2 năm qua, đơn vị tôi bảo vệ an ninh cho vùng đó.
Ðoàn xe đi theo tỉnh lộ rải đá về hướng Tây Bắc thành phố Huế. Ðến chợ Sam xe dừng lại vì chỉ còn
cách xa một cây số, chúng tôi đã ngửi trong gió biển mùi hôi thối. Ðoàn người đi bộ tiến về bãi chôn
người cách 500m thì một cảnh tượng hãi hùng xảy ra. Rõ ràng là một bức tranh của quỷ trong truyện
Liêu Trai: Trên các giồng (lằn) của bãi cát là những người được đứng bởi một cọc tre hoặc xuyên từ đít
lên tới đầu chừng 40 cụm, mỗi cụm 5 đến 10 người, phía dưới chân là những người bị chặt ngang cổ, có
người bị chặt chân ngang bụng. Phía dưới chân các giồng cát thì nước còn ríu ríu vì trời còn mưa lai
rai suốt cả tháng là những người bị chôn sống, 2 tay bị buộc chặt sau lưng rồi chôn quay mặt lại như
đang nói chuyện với nhau, có người trên đầu có mũ, có người có một tàn thuốc gắn vào nón. Tất cả đều
tím đen hoặc rỉ nước vàng hôi thối ghê gớm. Sau cùng là các hầm, hầm được lấp đi lòi chân tay ra
ngoài, mỗi hầm có 4 đến 5 xâm, xuyên qua lòng bàn tay bằng dây kẽm gai và bị đánh bằng vật cứng ở
sau đầu, cũng có người bị tan nát mặt, tất cả đều bị rữa thối rất khó nhận dạng.”

Ông Tưởng say sưa quá mà quên mất rằng việc đào xác ở Phú thứ xảy ra tháng 01 đến tháng 8
năm 1969. Nghĩa là từ một năm đến một năm rưỡi sau,và không ai ghi nhận có mồ chôn tại Diên đại và
Xuân ổ cả. Vậy mà người bị “đóng cọc” chưa ai phát hiện để ông Hồ này về chứng kiến và ông Tưởng
thuật lại ! Đúng là Bắc Hồ và Nam Nguyễn keo sơn !
Những chuyện sai trái thì tôi đã nói rồi, nay nhắc lại là để thấy rằng chính quyền Thừa thiên Huế, đặc
biệt là Cảnh sát tại sao hơn một năm sau mà không thấy, không biết cái “quỷ trong truyện Liêu trai” mà
ông Tưởng nhắc lại ở đây ? Có lạ lùng lắm không khi mà “những người bị đóng cọc” đứng như thế hơn
một năm mà vẫn còn mùi hôi thúi, trong khi đồng bào địa phương không thể thấy biết cái xác bị đóng
cọc, cái mùi này ??? Làm thế nào mà sau hơn một năm mà các xác này còn “rỉ nước vàng hôi thối ghê
gớm”; không lẽ đó là những thiên thần giáng thế ???Những chuyện rõ ràng như thế mà còn nói được, thì
cái gì họ không dám nói ?
Vì lý do này, chúng ta phải tìm hiểu nhiều hơn về âm mưu tiêu hủy Đại nội Huế.

BQK-22-10-09

6/6