You are on page 1of 51

BÀI THUYẾT TRÌNH

MÔN PHƯƠNG PHÁP


GIẢNG DẠY TOÁN 3
Nhóm 2 – Lớp Toán 4A
1. Võ Thị Ngọc Bích
2. Văng Thị Kim Cửu
3. Phan Trần Thanh Hiếu
4. Đậu Thị Huế
5. Hà Văn Quyền
CÂU 3:
Quan điểm “tiên đề” và quan điểm “thực
nghiệm” trong dạy – học hình học?
Chứng tỏ rằng hình học trong các sách giáo
khoa Hình học 9 giai đoạn 1985-2004, sách
giáo khoa Hình học 11 giai đoạn 1990-2004
được xây dựng theo quan điểm “tiên đề”. Hãy
so sánh với sách giáo khoa Hình học 9 và sách
giáo khoa Hình học 11 hiện hành.
CÂU 4:
Nhiệm vụ của việc dạy – học hình học ở
trường phổ thông?
CÂU 3:
Quan điểm “tiên đề” và quan điểm
“thực nghiệm” trong dạy – học hình học?
Chứng tỏ rằng hình học trong các sách
giáo khoa Hình học 9 giai đoạn 1985-2004,
sách giáo khoa Hình học 11 giai đoạn
1990-2004 được xây dựng theo quan điểm
“tiên đề”. Hãy so sánh với sách giáo khoa
Hình học 9 và sách giáo khoa Hình học 11
hiện hành.
• QUAN ĐIỂM “TIÊN ĐỀ” VÀ QUAN ĐIỂM “THỰC
NGHIỆM” TRONG DẠY – HỌC HÌNH HỌC?

Quan điểm Quan điểm


“thực nghiệm” “tiên đề”
Những sách giáo khoa theo Những sách giáo khoa xây
xu hướng này hình thành cácdựng hình học theo xu hướng
khái niệm và tính chất hìnhnày thường giới thiệu tường
học theo tiến trình quan sát –minh các tiên đề, giải thích
thực nghiệm – mô tả – kháiviệc sử dụng tiên đề để chứng
quát hóa. minh định lí và đặt lên hàng
đầu chứng minh suy diễn.
Quan điểm Quan điểm
“thực nghiệm” “tiên đề”
* Yêu cầu * Yêu cầu
Yêu cầu đối với bậc THCS là Mọi định lí đều được chứng
luyện tập sử dụng các dụng cụminh xuất phát từ tiên đề hoặc
quen thuộc để vẽ hình, đo đạc,các định lí đã chứng minh.
rồi quan sát mô tả hình, qua đó Yêu cầu cao về suy luận diễn
hiểu và vận dụng được các kháidịch.
niệm, rút ra một số tính chất
của các hình
Quan điểm này không yêu
cầu cao về suy luận diễn dịch
mà chú trọng suy luận quy nạp,
thực hành.
Quan điểm Quan điểm
“thực nghiệm” “tiên đề”
* Ưu điểm * Ưu điểm
Kiến thức không được thu nhận một cách Phát triển mạnh tư duy
hình thức mà thực sự sống và có ích chologic của học sinh.
học tập cũng như cho hoạt động thực tế của Cung cấp được một khối
học sinh; việc gợi động cơ cho học sinh giúplượng kiến thức đa dạng,
học sinh nhận thấy nghĩa của tri thức hayphong phú hơn so với
mối liên hệ giữa hình học và thực tế. Từ đóquan điểm “thực nghiệm”
làm tăng tính tích cực chủ động của họctrong cùng một khoảng
sinh trong tiếp thu kiến thức. thời gian.
Quan sát thực nghiệm góp phần phát
triển tư duy như xác định vấn đề cần giải
quyết, chấp nhận hoặc bác bỏ các phỏng
đoán bằng suy luận theo thực nghiệm.
Quan điểm Quan điểm
“thực nghiệm” “tiên đề”

* Khuyết điểm * Khuyết điểm


Hoạt động quan sát Mối liên hệ giữa hình học với
thực nghiệm đòi hỏithực tế và các phân môn khác của
nhiều thời gian nên khótoán ít được khai thác.
thực hiện một cách Thực tế giảng dạy cho thấy yêu
thường xuyên. cầu về suy luận diễn dịch trong
môn hình học ở bậc Trung học cơ
sở của ta là quá cao không phù
hợp với đặc điểm tâm lí của học
sinh.
Hạn chế tính tích cực, chủ động
của học sinh.
* Ví dụ về quan điểm “thực nghiệm”
Định lí về tổng số đo ba góc trong của một tam giác được sách
giáo khoa của Úc cho học sinh phát hiện qua cách khảo sát bằng
cắt ghép hình.

+ Dùng thước thẳng vẽ một


tam giác

+ Cắt tam giác thành bốn


mảnh như hình vẽ

+ Xếp các góc lại với nhau

Hình vừa được xếp gợi ý rằng tổng các góc trong một tam giác
bằng 180º. Ta có thể lặp lại khảo sát trên nhiều lần và thấy rằng
tổng các góc trong một tam giác luôn bằng 180º.
(Smith, Nelsol, trang 23 – dẫn theo Hoàng Chúng, 2000)
* Ví dụ về quan điểm “tiên đề”
Định lí về tổng hai góc đối trong một tứ giác nội tiếp được sách
giáo khoa Hình học 9 giai đoạn 1985 – 2004 của Việt Nam trình
bày chứng minh ngay sau khi định lí được phát biểu.
“Trong một tứ giác nội tiếp tổng số đo hai góc đối diện nhau
bằng hai góc vuông.”
Cho tứ giác ABCD nội tiếp đường
Chứng minh:
tròn (O). Vẽ các bán kính OB, OD, ta
có: ·DAB = 1 sđ BCD ¼
2
·DCB = 1 sđ BAD ¼
2
Tổng số đo hai cung này rõ ràng
bằng 4v nên
·
DAB ·
+ DCB = 2v
Tương tự như vậy ta
có :
·ABC + ·ADC = 2v
• QUAN ĐIỂM “TIÊN ĐỀ” TRONG HÌNH HỌC
CỦA CÁC SÁCH GIÁO KHOA HÌNH HỌC 9 GIAI
ĐOẠN 1985 – 2004, SÁCH GIÁO KHOA HÌNH HỌC
11 GIAI ĐOẠN 1990 – 2004. SO SÁNH VỚI SÁCH
GIÁO KHOA HÌNH HỌC 9 VÀ SÁCH GIÁO KHOA
HÌNH HỌC 11 HIỆN HÀNH.
* Sách giáo khoa Hình học 9 giai đoạn 1985 – 2004
Sách giáo khoa Hình học 9 giai đoạn này thừa kế
những đối tượng cơ bản, các định nghĩa, một số tiên
đề về hình học phẳng của những sách giáo khoa ở
các lớp trước cùng giai đoạn (lớp 6, 7, 8).
Sách giáo khoa Hình học 9 giai đoạn này bao gồm 4
chương với tổng cộng 26 bài.
+ Chương 1: “Đường tròn”.
+ Chương 2: “Góc với đường tròn” (đặc biệt có sự đề
cập đến phép quay).
+ Chương 3: “Độ dài đường tròn và diện tích hình
tròn”.
+ Chương 4: “Một số kiến thức mở đầu về hình học
không gian”: bao gồm “Đại cương về mặt phẳng và
đường thẳng” – đề cập đến các khái niệm mặt
phẳng, đường thẳng trong không gian và vị trí
tương đối giữa chúng; “Hình không gian” – đưa ra
các định nghĩa hình lăng trụ, hình hộp, hình chóp,
hình trụ, hình nón, hình cầu và một số công thức
tính diện tích, thể tích của các hình này.
Sách giáo khoa Hình học 9 giai đoạn này đưa ra
16 định nghĩa; các định nghĩa ít được mô tả trực
giác, định nghĩa về các hình không gian được mô tả
trực giác.
* Ví dụ: định nghĩa hình lăng trụ – trang 85 được
phát biểu dựa trên hình 110; thông qua hình vẽ
này, các khái niệm đáy, cạnh bên, mặt bên, mặt
xung quanh, đường cao của hình lăng trụ được
định nghĩa một cách trực giác.
Sách giáo khoa Hình học 9 giai đoạn này trình
bày tổng cộng 26 định lí; đa số được chứng minh
hoặc yêu cầu học sinh chứng minh như bài tập
(định lí 1, 2 – trang 10, định lí 1 – trang 31, hệ quả
– trang 36, định lí 2 – trang 42, định lí – trang 57),
có 2 định lí không được trình bày chứng minh
(định lí 2 – trang 73, định lí – trang 79).
* Ví dụ: định lí 2 – trang 10 được yêu cầu chứng
minh trong bài tập 6 – trang 11: Chứng minh rằng
trong hai dây cung không bằng nhau của một
đường tròn, dây cung lớn hơn khi và chỉ khi nó gần
tâm hơn.
Sách giáo khoa Hình học 9 giai đoạn này có tổng
cộng 192 bài tập, đa số đều có yêu cầu chứng minh
suy diễn.
* Ví dụ: bài tập 4 – trang 33: Chứng minh rằng
hai cung bị chắn giữa hai dây song song thì bằng
nhau.
* Chương trình giáo khoa Hình học 9 hiện hành
Chương trình giáo khoa hình học 9 hiện hành
thừa kế những đối tượng cơ bản, các định nghĩa,
định lí về hình học phẳng của những sách giáo
khoa hiện hành ở các lớp trước (lớp 6, 7, 8).
Chương trình Hình học 9 hiện hành được trình
bày thành 2 tập cùng với chương trình Đại số 9.
Chương trình Hình học 9 hiện hành cũng bao gồm
4 chương với tổng cộng 26 bài.
+ Chương 1: “Hệ thức lượng trong tam giác
vuông”: đề cập đến một số hệ thức về cạnh và
đường cao, về cạnh và góc trong trong tam giác
vuông và tỉ số lượng giác của góc nhọn.
+ Chương 2: “Đường tròn”.
+ Chương 3: “Góc với đường tròn”.
+ Chương 4: “Hình trụ – Hình nón – Hình cầu”:
đề cập đến hình trụ, hình nón, hình cầu và các
công thức tính diện tích, thể tích của chúng.
Chương trình Hình học 9 hiện hành đưa ra 7 định
nghĩa; trong số 26 bài có 12 bài có liên hệ thực tế và
một bài thực hành ngoài trời; đa số các bài học đều có
bước tạo động cơ ban đầu trước khi bắt đầu bài học.
* Ví dụ:
Trong bài “Một số hệ thức về cạnh và đường cao của
tam giác vuông” (trang 64), trước khi bắt đầu bài học,
sách giáo khoa đưa ra hình vẽ minh họa cùng với câu
dẫn dắt: “Nhờ một hệ thức trong tam giác vuông, ta có
thể “đo” được chiều cao của cây bằng một chiếc thước
thợ”.
Chương trình Hình học 9 hiện hành trình bày 25
định lí với 7 được trình bày chứng minh.
* Ví dụ: định lí 1 – trang 65 (định lí về hệ thứ giữa
cạnh góc vuông và hình chiếu của nó trên cạnh huyền)
được trình bày chứng minh: Trong một tam giác
vuông, bình phương mỗi cạnh góc vuông bằng tích
của cạnh huyền và hình chiếu của cạnh góc vuông đó
trên cạnh huyền.
Chương trình Hình học 9 hiện hành đưa ra 248 bài
tập, trong đó có 51 bài có yêu cầu chứng minh suy diễn.
* Ví dụ: bài tập 98 – trang 105, sách giáo khoa Toán
9 tập hai: Cho đường tròn (O) và một điểm A cố định
trên đường tròn. Tìm quĩ tích các trung điểm M của dây
AB khi điểm B di động trên đường tròn đó.
Như vậy, sách giáo khoa Hình học 9 giai đoạn 1985 –
2004 được xây dựng hoàn toàn theo quan điểm “tiên
đề”, điều này được thể hiện một cách rõ ràng xuyên
suốt hệ thống lí thuyết và hệ thống bài tập. Sách giáo
khoa Hình học 9 hiện hành được trình bày chủ yếu
theo quan điểm “tiên đề”; quan điểm “thực nghiệm”
chỉ được thể hiện qua bước tạo động cơ, sự liên hệ thực
tế trong một số bài học và một bài thực hành ngoài trời.
* Sách giáo khoa Hình học 11 chỉnh lí hợp nhất năm 2000
Chấp nhận những đối tượng cơ bản và những kết quả của
hình học phẳng, đưa thêm một đối tượng cơ bản nữa là
“mặt phẳng”.
Đưa ra tường minh 4 tiên đề để xây dựng hình học không
gian.
Đưa ra tổng cộng 36 định lí và có chứng minh đầy đủ dựa
trên 4 tiên đề đã được công nhận, các kết quả của hình học
phẳng cũng như những định lí đã chứng minh trước đó.
Trong 132 bài tập có 69 bài yêu cầu chứng minh, ngoài ra
còn có các bài tập yêu cầu xác định các tính chất hình học
cần suy diễn logic.
Trình bày 40 định nghĩa, dựa trên các đối tượng cơ bản,
tránh mô tả trực giác.
* Sách giáo khoa Hình học 11 cơ bản hiện hành
Không trình bày tường minh các tiên đề của hình
học không gian mà chỉ trình bày ở dạng 6 tính chất
thừa nhận.
Trình bày 17 định lí, chỉ có 9 định lí trình bày
chứng minh.
Bao gồm 112 bài tập, trong đó có 57 bài yêu cầu
chứng minh.
Chương trình gồm 3 chương với 18 bài, trong đó
có 12 bài có sự mở đầu bằng vấn đề thực tế của
cuộc sống liên quan đến bài học.
* So sánh sách giáo khoa Hình học 11 cơ bản
hiện hành và sách giáo khoa Hình học 11 cơ bản
hiện hành
+ Giống nhau:
Các sách giáo khoa Hình học 11 đều được được
trình bày chủ yếu theo quan điểm “tiên đề”, truyền
đạt cho học sinh những kiến thức cơ bản của hình
học không gian.
+ Khác nhau:
Có sự thay đổi về nội dung kiến thức ở việc thay thế 2
chương về “Mặt cầu và mặt tròn xoay”, “Diện tích và
thể tích” bằng 2 chương về “Phép dời hình và phép
đồng dạng trong mặt phẳng”, “Vectơ trong không
gian”.
Sách giáo khoa Hình học 11 giai đoạn 1990 – 2004
xây dựng kiến thức hoàn toàn theo quan điểm “tiên
đề”. Sách giáo khoa Hình học 11 hiện hành có những
cải tiến bằng việc đưa thêm nhiều hình ảnh mô tả trực
quan, thực tế, bổ sung những câu hỏi gợi mở, bài tập
vận dụng nhỏ yêu cầu học sinh thực hiện việc quan sát
và thực hành ngay với kiến thức vừa được học.
Ví dụ: bài “Hai đường thẳng song song”
• Sách giáo khoa Hình học 11 giai đoạn 1990 –
2004:
Vị trí tương quan của hai đường thẳng được đưa
ra ngay mà không có sự mô tả trực giác và sau đó
đưa ra định nghĩa hai đường thẳng song song, hai
đường thẳng chéo nhau. Sau đó một loạt tính chất
được đưa ra và chứng minh. Cuối cùng là các ví dụ
và bài tập.
• Sách giáo khoa Hình học 11 hiện hành:
Bài học được mở đầu bằng việc yêu cầu học sinh
quan sát phòng học và xem cạnh tường là hình ảnh
của đường thẳng, yêu cầu học sinh chỉ ra một số
cặp đường thẳng không thể cùng thuộc một mặt
phẳng. Từ sự quan sát của học sinh mới khái quát
lên vị trí tương đối của hai đường thẳng trong
không gian. Trình bày các tính chất và chứng
minh, xen kẽ vào đó là những yêu cầu bài tập
chứng minh nhỏ vận dụng tính chất vừa được trình
bày.
CÂU 4:
Nhiệm vụ của việc
dạy – học hình học ở
trường phổ thông?
Nhiệm vụ của việc dạy – học hình học ở trường
phổ thông bao gồm:
1. Hình học phát triển trí tưởng tượng
không gian
2. Hình học phát triển tư duy logic và
lập luận
3. Hình học phát triển phương diện
thẩm mĩ
4. Hình học cung cấp kiến thức liên
quan đến cuộc sống và các môn khoa
học khác
1. Hình học phát triển trí tưởng tượng không gian
Nhiều hoạt động quan trọng của con người đòi
hỏi trí tưởng tượng không gian:
+ Định hướng để di chuyển trong một thành phố
lớn không quen thuộc hoặc trên biển;
+ Tạo ra hoặc sử dụng một sơ đồ để xác định vị
trí cần đến và dự kiến hành trình;
+ Biểu diễn sự dịch chuyển của một vật đối với
những đối tượng xung quanh nó;
+ Mô tả các khối hình quen thuộc trong cuộc
sống hàng ngày…
Quá trình khám phá không gian xung quanh
của một đứa trẻ cũng gắn liền với trí tưởng tượng
không gian.
Những hoạt động của cơ thể như những cử
động chân tay, vận động, di chuyển… là cơ sở đầu
tiên cho việc khám phá này và chúng đem lại cho
đứa trẻ cảm giác đầu tiên về sự chiếm lĩnh không
gian.
Thế nhưng không phải lúc nào những hoạt
động thực tiễn của con người cũng có thể xây
dựng một cách hoàn chỉnh những kiến thức về
không gian.
Bên cạnh những kiến thức quen thuộc được
tích lũy từ cuộc sống còn có những kiến thức
hình học thuần túy. Việc xem xét, nghiên cứu
những kiến thức hình học này góp phần giúp
con người hiểu rõ và đầy đủ hơn về các khái
niệm liên quan đến không gian.
Nhà toán học người Pháp Jean-Pierre Kahane
đã khẳng định rằng: “Trong mọi trường hợp, việc
đã nghiên cứu, đã phân tích kĩ các hình – phẳng
hoặc không gian, luôn luôn là điều cơ bản để biểu
diễn hình, để có ý niệm về không gian, làm chủ
nó, và đó là một sứ mệnh cơ bản của việc dạy –
học toán”.
Như vậy, môn hình học có tác dụng to lớn
trong việc phát triển trí tưởng tượng không gian
của học sinh.
2. Hình học phát triển trí tư duy logic và lập luận
Đối với mọi người, khả năng lập luận là một
trong những phương tiện cơ bản quyết định sự
thành công trong cuộc sống.
Nhà toán học người Pháp Jean-Pierre Kahane
nhận xét rằng: “lập luận trong hình học rất phong
phú, không chỉ là một sự suy diễn hình thức đơn
giản, và vấn đề học tập lập luận trong hình học –
nếu được dẫn dắt một cách đúng đắn – chắc chắn
là một luận chứng mạnh mẽ nhất biện minh cho sự
cần thiết của việc dạy – học hình học”.
Chính vì vậy mà vai trò được xem là lợi
thế mạnh nhất của việc dạy – học hình học
là rèn luyện kĩ năng lập luận.
Ta có thể rèn luyện kĩ năng lập luận trong rất
nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên việc học lập luận
trong hình học có những ưu thế riêng của nó:
+ Dạy – học hình học được thực hiện ngay từ
năm đầu của bậc Trung học cơ sở và chúng ta
có thể dễ dàng nhận thấy logic của lập luận
ngay lúc ban đầu;
+ Rất phong phú, đa dạng, đặc biệt lập luận trong
hình học phổ thông kết hợp rất chặt chẽ với thị
giác;
+ Các đối tượng trong hình học khá quen thuộc
và có ích.
Các quá trình lập luận trong hình học là
một quá trình nghiên cứu trong đó mối liên
hệ giữa trực giác và tính chặt chẽ của lập
luận thường xuyên được duy trì.
3. Hình học phát triển phương diện thẩm mĩ
Nhà toán học – triết học người Hi Lạp Platon
đã nói rằng: “Không ai phải vào dưới mái nhà của
tôi nếu đó không phải là một nhà Hình học”.
Hình học bắt nguồn từ thời cổ đại là một bộ
phận của văn hóa nhân loại.
Hình học có mặt trong nghệ thuật tạo hình, hội
họa, trong kiến trúc; các nhà kiến trúc đã xây
dựng các giáo đường, qui hoạch đô thị đều phải
dựa trên hình học…
Kim tự tháp Cheops Đền Pantheon

Nhà hát Opera Sydney Tháp nghiêng Pisa


Mona Lisa Starry Night
(Leonardo Da Vinci, 1503) (Van Gough, 1889)
Venus de Milo Myron's Discus Thrower
(c. 150 B.C.) (c.400 B.C.)
Hình học luôn đóng vai trò quan
trọng trong việc giáo dục thẩm mĩ
cho học sinh.
4. Hình học cung cấp kiến thức liên quan đến
cuộc sống và các môn khoa học khác
So với những lĩnh vực toán học khác, hình học
luôn giữ một đặc trưng cụ thể: luôn gắn liền với
thị giác. Do đó hình học có ích đối với mọi người
trong cuộc sống nghề nghiệp cũng như trong đời
sống hàng ngày.
Hình học có nhiệm vụ:
+ Cung cấp những kiến thức cơ bản giúp con
người vận dụng vào những tình huống đa
dạng của cuộc sống: đọc một bản đồ, xác
định phương hướng, đường đi, dịch chuyển
những đồ vật lớn trong một căn hộ, giải thích
đúng đắn những biểu đồ hình học trình bày
các số liệu thống kê…
+ Cung cấp những kiến thức quan trọng cho
rất nhiều ngành nghề: kiến trúc, xây dựng,
thống kê, công nghiệp chế tạo máy bay…
Đối với bản thân mối quan hệ của hình học sơ cấp
với toán học, ta thấy có những điểm như sau:
+ Trong việc đào tạo toán học thì nhiệm vụ của việc
dạy học hình học sơ cấp ở trường phổ thông là rất
cần thiết.
+ Nhiều lĩnh vực toán học hiện đại tuy không trực tiếp
sinh ra từ Hình học sơ cấp nhưng lại chịu nhiều ảnh
hưởng của nó.
+ Hình học còn cung cấp cho người học một yếu tố cơ
bản khác: tư duy hình học. Tư duy hình học giúp
con người vẽ nên một mô hình cụ thể trực quan về
vấn đề toán học cần giải quyết, đem đến cái nhìn
tổng thể, nhờ đó mà rút ngắn quá trình tư duy.
Nhìn ra ngoài toán học, là một khoa học về các vị trí
không gian, hình học cũng thể hiện vai trò của mình
trong các khoa học khác, như:
+ Trong hóa học, hình học cần thiết cho việc hiểu cấu
trúc của vật chất.
+ Trong địa lí và thiên văn, hình học được dùng trong
việc đo đạc đất, nghiên cứu sự vận động của các
hành tinh…
+ Trong vật lý, các vectơ được dùng để biểu diễn lực,
vận tốc…
+ Trong sinh học, hình học được dùng để giải thích sự
mã hóa của các protein…
Cấu tạo phân tử của kim cương và than
Mô hình Thái Dương Hệ
Biểu diễn lực và hợp lực bằng các vectơ
Mô hình quá trình tổng hợp Protein
N T H A ̀ N H
XIN C H Â
N C Ô V A ̀
CA ̉ M Ơ
Đ A ̃ QU A N
C B A ̣ N
CÁ ̃I B A ̀ I
T H EO D O
TÂM ̀N H
Ê ́ T T R I
THUY !
̉ A N HO ́ M
CU