You are on page 1of 10

Công ty chứng khoán và những vấn đề cần quan tâm

Trần Phương Minh

Hầu hết mọi nơi trên thế giới, các hình thức đầu tư
chứng khoán là một chủ đề được nhiều người quan
tâm. Và cách tiếp cận thị trường chứng khoán dễ
dàng nhất là thông qua các công ty chứng khoán. Tuy
nhiên, cách thức tiếp cận trên cũng có rất nhiều vấn
đề cần được lưu ý, đặc biệt đối với những nhà đầu tư
nghiệp dư lần đầu tiên làm quen với môi trường này.

Có thể thấy tại các công ty chứng khoán, số


lượng khách hàng đến mở tài khoản giao dịch nói
riêng hay lượng người quan tâm đến chứng
khoán nói chung ngày một tăng. Các công ty chứng khoán được làm đại lý phát hành chứng
khoán niêm yết cho các tổ chức phát hành; tự kinh doanh chứng khoán và nhiều dịch vụ tư vấn
đầu tư khác. Ngoài ra, những đơn vị này được thực hiện tư vấn cổ phần hóa, xác định giá trị
doanh nghiệp và cung cấp các dịch vụ tài chính khác.

Tìm hiểu những về một số thuật ngữ và hoạt động của các công ty chứng khoán

Khi bắt đầu làm quen với việc kinh doanh chứng khoán, việc đầu tiên chúng ta phải làm là mở
tài khoản tại một công ty chứng khoán. Khi ấy, chúng ta sẽ gặp một loạt các thuật ngữ “bí hiểm”
như: full-service brokerage firms, discount firms, wire houses, boutique firms… Vậy những
thuật ngữ trên có ý nghĩa như thế nào và chúng khác nhau ra sao?

Các công ty môi giới chứng khoán hiện nay trên thế giới được chia thành 2 nhóm chính
(classified into two main categories): full-service brokerage firms (tạm dịch là công ty tổng hợp)
và discount firms (công ty chuyên doanh).

Khi quyết định sử dụng dịch vụ của một công ty chuyên doanh, các nhà đầu tư chỉ có thể nhận
được 2 loại dịch vụ duy nhất là thực hiện lệnh (order execution) và thanh toán (clearance) khi
lệnh mua/bán (buy/sell order) của nhà đầu tư đã được “khớp” (matched) với 1 hoặc nhiều lệnh
khác. Một trong những ưu điểm chính của các công ty chuyên doanh” là phí hoa hồng
(commissions) sẽ thấp hơn khoảng từ 1/4 cho đến 2/3 so với trường hợp các công ty tổng hợp.

Các nhà đầu tư chỉ nên sử dụng dịch vụ của các công ty này khi đã là một nhà đầu tư nhạy bén,
có khả năng nắm bắt cũng như phân tích thông tin một cách nhanh nhạy và chính xác. Một số
công ty chuyên doanh hiện đang rất nổi tiếng hiện nay là Charles Schwab, Lombard .

Trong khi đó, các công ty tổng hợp, ngoài việc cung cấp 2 loại dịch vụ kể trên, còn cung cấp các
dịch vụ khác như: phát hành các bản nghiên cứu tình hình đầu tư (investment research reports)
do các chuyên viên phân tích của phòng nghiên cứu (research department analysts) soạn thảo;
cung cấp dịch vụ quản lý tài sản (asset management); tư vấn đầu tư (investment advice); giúp lập
các dự toán tài chính (financial planning); tư vấn các biện pháp giảm hoặc tránh thuế (tax
shelters) cho khách hàng.

Ngày nay, cụm từ “dịch vụ môi giới” (brokerage service) đang dần dần được thay bằng thuật ngữ
“các dịch vụ tài chính” (financial services) do các dịch vụ mà nhà môi giới cung cấp cho khách
hàng ngày càng được mở rộng. Các công ty tổng hợp này được chia làm nhiều loại như sau:

- Wire houses: là các công ty cung cấp rất nhiều loại hình công cụ đầu tư cho khách hàng và đối
tượng chủ yếu của các công ty này là những nhà đầu tư cá nhân (individual investors). Mặc dù
vậy, họ cũng phục vụ các nhà đầu tư có tổ chức (institutional investors) và tiến hành mua bán cổ
phiếu cho chính mình (trade for their own inventories). Merrill Lynch, Dean Witter Reynolds,
Shearson/Hutton, Prudential Bache, Smith Barney là những công ty thuộc loại này.

- Specialized firms: là những công ty chỉ chuyên cung cấp dịch vụ liên quan đến một hoặc một số
rất ít các công cụ đầu tư. Lebenthal & Co. là một công ty rất nổi tiếng chuyên cung cấp các dịch
vụ liên quan đến trái phiếu đô thị (municipal bonds).

- Carriage trade houses: đây là từ chuyên dùng để chỉ các công ty “đóng đô” tại thành phố New
York (New York-based firms). Khách hàng của các công ty này đều được lựa chọn kỹ càng và
đều là khách “sộp”. Muốn mở tài khoản tại đây, nhà đầu tư nhất thiết phải được sự giới thiệu của
các khách hàng hiện tại (recommendation of existing clients). Dịch vụ do các công ty này cung
cấp đều được cá nhân hóa cao độ để phù hợp với từng khách hàng. Các tên tuổi lớn như Morgan
Stanley, Donaldson Lufkin , Bear Stearns đều thuộc dạng này.

- Boutique firms: đây là từ dùng để chỉ các công ty vừa có đặc điểm của một carriage trade firm
vừa có đặc điểm của một wire house. Dịch vụ do các công ty này cung cấp cũng mang tính chất
cá nhân hóa như các carriage trade houses. Đối tượng của các công ty này là những nhà đầu tư có
thu nhập trung bình (middle-income-bracket investors). Một số các công ty thuộc dạng này là
Grunthal, Butcher and Singer, F.S. Mosely.

Mỗi mô hình công ty chứng khoán đều có những ưu nhược điểm riêng. Hiệu quả đạt được ở chỗ
các nhà đầu tư vận dụng các mô hình này như thế nào vào tình hình thực tế của công ty mình.

Tránh rủi ro khi giao dịch với công ty chứng khoán

Khi tiến hành tư vấn đầu tư chứng khoán trực tiếp cho khách hàng, các công ty chứng khoán phải
chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động của mình và bồi thường thiệt hại cho khách hàng
nếu vi phạm các cam kết. Trong trường hợp thực hiện tư vấn cho doanh nghiệp trong việc niêm
yết chứng khoán, các công ty phải chịu trách nhiệm liên đới về nội dung trong hồ sơ xin niêm
yết. Tuy nhiên, vẫn có rất nhiều công ty chứng khoán lợi dụng những khe hở của pháp luật để
tiến hành các hành vi tiêu cực mà nếu không cẩn thận các nhà đầu tư rất dễ gặp rủi ro.
Dưới đây là một số hành vi trục lợi phổ biến nhất có thể xảy ra tại các công ty chứng khoán:

Tư vấn vì lợi ích cá nhân

Do ý đồ cá nhân, công ty chứng khoán có thể sẽ tư vấn đầu tư không phù hợp với nhu cầu, khả
năng tài chính và mục tiêu của khách hàng. Do đó, các nhà đầu tư cần nhận thức rõ ràng về
những điều mình cần biết. Mỗi khoản đầu tư được tư vấn đều cần có lời giải thích cặn kẽ, gồm cả
việc khuyến cáo các rủi ro.

Vi phạm quy định giao dịch công bằng

Các hoạt động sau đây của các công ty chứng khoán bị xem là vi phạm những quy định giao dịch
công bằng:

- Đề nghị thực hiện việc đầu cơ chứng khoán mà không xem xét tình hình tài chính của khách
hàng và đảm bảo cho khách hàng bị rủi ro.

- Mở tài khoản khống thực hiện việc kinh doanh chứng khoán trái phép.

- Thực hiện các giao dịch ngoài thẩm quyền được giao.

- Đề nghị mua chứng khoán không thích hợp với khả năng chi trả của khách hàng.

- Các hoạt động lừa đảo (chẳng hạn như giả mạo và cung cấp không đầy đủ hoặc không cung cấp
số liệu thực tế).

Giao dịch thái quá

Hành vi giao dịch thái quá có nghĩa là giao dịch thường xuyên và với số lượng lớn trên tài khoản
của khách hàng nhằm mục đích nhận hoa hồng mà không nhằm đạt được các mục tiêu khách
hàng đã đề ra. Đây là hành vi lạm dụng trách nhiệm uỷ quyền của khách hàng.

Một trong những biện pháp để ngăn chặn hành vi lạm dụng này là nhà đầu tư cần phải yêu cầu
tất cả tài khoản mà mình uỷ quyền cho công ty chứng khoán phải được giám sát viên của công ty
chứng khoán xem xét thường xuyên.

Vay và cho vay tiền hoặc chứng khoán

- Vay tiền và vay chứng khoán của khách hàng: Các công ty chứng khoán bị cấm vay tiền hay
chứng khoán từ khách hàng trừ phi khách hàng là ngân hàng hay các tổ chức tài chính có chức
năng thực hiện việc cho vay tiền và chứng khoán. Song nhiều công ty chứng khoán vẫn phớt lờ
khi tiếp tục thực hiện hành vi này.
- Cho khách hàng vay tiền và chứng khoán: Các công ty chứng khoán cũng bị cấm cho khách
hàng vay tiền hay chứng khoán. Quy định này không áp dụng cho nghiệp vụ vay bảo chứng của
các công ty chứng khoán hay việc các nhà môi giới chứng khoán cho vay theo nghiệp vụ thông
thường.

Xuyên tạc

Các công ty chứng khoán có thể xuyên tạc, nói không đúng về bản thân hay về các dịch vụ của
công ty mình đối với khách hàng tiềm năng. Do đó, theo quy định, công ty chứng khoán không
được phép xuyên tạc về:

- Trình độ, kinh nghiệm và học vấn.

- Loại hình dịch vụ phục vụ khách hàng.

- Các loại phí.

Việc công bố không chính xác hay không công bố các sự kiện quan trọng liên quan đến những
vấn đề trên cũng bị coi là xuyên tạc. Các nhà đầu tư sẽ phải khó khăn khi so sánh chất lượng dịch
vụ giữa các công ty chứng khoán nếu họ không được cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác liên
quan đến vấn đề chuyên môn.

Sử dụng các báo cáo, công trình nghiên cứu của người khác

Trái với quy định, nhiều công ty chứng khoán vẫn sử dụng các nghiên cứu phân tích hay đề nghị
do cá nhân hay công ty khác tiến hành mà không công bố rằng các báo cáo này không phải do
chính họ thực hiện. Công ty chứng khoán có thể sử dụng các kết quả nghiên cứu trong các báo
cáo hay phân tích của người khác nhưng không được tự nhận rằng, các báo cáo, nghiên cứu đó là
của mình khiến nhà đầu tư hiểu nhầm về họ.

Tổng kết một vài điều nhà đầu tư cần lưu ý khi giao dịch với các công ty chứng khoán:

- Hãy yêu cầu công ty chứng khoán cho biết về tình hình thị trường hiện tại, các nhà đầu tư cũng
có thể yêu cầu họ cung cấp các tài liệu về tình hình của các công ty niêm yết. Hãy quan tâm đến
những quy định cơ bản về hoạt động của công ty và thị trường như giới hạn khoản tiền mở tài
khoản, mức phí môi giới, biên độ dao động giá...

- Cần thận trọng đối với những nhà tư vấn đầu tư cung cấp thông tin không khớp với các thông
tin trong tài liệu. Trong trường hợp có nhiều điểm không giống hãy xin tư vấn dưới dạng văn bản
về những gợi ý đầu tư và lý do đầu tư. Điều này sẽ hỗ trợ các nhà đầu tư trong trường hợp phát
sinh các vấn đề sau khi được tư vấn.

- Các công ty chứng khoán hứa hẹn lợi nhuận nhanh chóng và dễ dàng cũng là điều các nhà đầu
tư cần cân nhắc Hãy nhớ là điều gì quá tốt, quá thuận lợi đều cần phải xem lại. Nên cân nhắc kỹ
càng, nếu các nhà đầu tư còn băn khoăn điều gì hãy tìm lời khuyên của người tư vấn khác.

- Đừng để bị thuyết phục dẫn đến những quyết định hấp tấp dựa trên các thông tin “nội gián”,
thông tin “tuyệt mật”, “khả năng hợp nhất” hoặc “bị thâu tóm” hay những tin về “sản phẩm mới
hấp dẫn”,...

- Khi đầu tư vào chứng khoán, các nhà đầu tư nên hiểu rằng các điều kiện cấp phép do Uỷ ban
chứng khoán nhà nước đặt ra là nhằm bảo đảm cho các công ty chứng khoán được cấp phép có
đủ khả năng hoạt động trong lĩnh vực được cấp phép. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các
loại giấy phép do Uỷ ban chứng khoán nhà nước cấp sẽ đảm bảo tính trung thực đối với hành vi
của người hoặc đơn vị được cấp phép hay chất lượng dịch vụ mà họ cung cấp.

Sau cùng, nhà đầu tư đến bất kỳ công ty chứng khoán nào cũng đều có thể dễ dàng được tiếp cận
với những thông tin thị trường, những lời khuyên của các nhà môi giới, hoặc tư vấn của các
chuyên gia... Nhưng đó là tại những thị trường lâu đời như phố Wall, Nhật, Hongkong. Còn tại
thị trường chứng khoán mới và sơ khai như thị trường Việt Nam, các chủ thể hoạt động vẫn
trong giai đoạn vừa làm vừa bổ sung và củng cố nên nhà đầu tư chưa thể đặt niềm tin tuyệt đối
vào bất kỳ một định chế tài chính nào.

Quản lý tài khoản tại Artex: Tránh rủi ro, hưởng các giá trị gia tăng

Ông Lê Huy Hùng, trưởng phòng Dịch vụ chứng khoán - Công ty Cổ phần Chứng khoán
ARTEX) vừa có cuộc trả lời phỏng vấn báo giới về việc quản lý tách bạch tài khoản chứng
khoán.

Thưa ông vấn đề quản lý tài khoản tiền và chứng khoán của NĐT hiện nay rất được
nhiều nhà đầu tư quan tâm, vậy với Artex việc này được thực hiện như thế nào?

- ART là một trong số ít các công ty chứng khoán đi đầu trong việc thực hiện quản lý tài
khoản tiền của khách hàng độc lập với tài khoản của công ty chứng khoán tại ngân
hàng. Nhà đầu tư khi đến ART có thể mở tài khoản tiền gửi tại BIDV và sắp tới đây là
ngân hàng Techcombank. Điều này giúp cho nhà đầu tư có nhiều sự lựa chọn hơn về
dịch vụ gửi tiền đầu tư chứng khoán tại ngân hàng.Ngoài ra khi đó nhà đầu tư có thể sử
dụng các dịch vụ gia tăng trên tài khoản tiền gửi do ngân hàng cung cấp mà điều này
không công ty chứng khoán nào có thể cung cấp được. Như vậy, NĐT vừa tránh được
rủi ro cho tài khoản tiền đầu tư của mình, vừa được hưởng các giá trị gia tăng khác tại
ngân hàng. Đây là một trong những điểm ART thực hiện để góp phần phòng tránh rủi ro
cho khách hàng và chính Công ty.

- Vậy ông có thể cho biết những lợi thế của việc quản lý tài khoản tiền và chứng khoán
của khách hàng tách bạch với tài khoản tiền và chứng khoán của Công ty chứng khoán
đặc biệt với NĐT?

- Hiện tại các công ty chứng khoán hoạt động theo mô hình quản lý cả tài khoản chứng
khoán và tài khoản tiền tập trung chính. Vì vậy việc lợi dụng tài khoản tiền và tài khoản
chứng khoán là rất dễ dàng, do công ty làm chủ được việc rút tiền của nhà đầu tư do
không qua việc kiểm soát của khâu trung gian. Nếu tài khoản tiền của nhà đầu tư ở
ngân hàng thì việc chuyển tiển ra khỏi tài khoản đầu tư còn phải qua khâu kiểm duyệt
của ngân hàng nữa nên rủi ro dành cho nhà đầu tư được giảm thiểu rất nhiều. Ngoài ra
với tình hình thị trường xấu như giai đoạn hiện nay việc các công ty chứng khoán mất
tính thanh khoản và thua lỗ trong mặt tự doanh cũng ảnh hưởng đến đáng kể tài khoản
nhà đầu tư do tiền của nhà đầu tư gửi vào cho công ty chứng khoán quản lý. Nến nếu
nhà đầu tư quản lý tiền tách bạch tại ngân hàng sẽ tránh được rủi ro này do tài khoản
tiền gửi sẽ do ngân hàng quản lý và chịu trách nhiệm với nhà đầu tư.

- Ở Việt Nam hiện có khoảng bao nhiêu công ty CK làm được điều này thưa ông?

- Hiện tại mới chỉ trên dưới 20 công ty chứng khoán thực hiện được việc này nhưng
đáng tiếc là chủ yếu các công ty mới và nhỏ thực hiện tốt do đó cũng chưa nhiều nhà
đầu tư đc sử dụng dịch vụ này vì thị phần của nhóm công ty này còn ít. Dẫn đến các
nhà đầu tư cũng chưa quen sử dụng dịch vụ này.

- Trong năm 2009 Artex sẽ đẩy mạnh việc cung cấp những dịch vụ chứng khoán, đầu
tư công nghệ, nhân lực như thế nào để hướng tới sự chuyên nghiệp?

- Trong năm 2009, nhằm cung cấp nhiều dịch vụ giá trị gia tăng hơn nữa, đáp ứng nhu
cầu và đảm bảo lợi ích cho quý khách hàng , Artex sẽ tiếp tục triển khai nhiều dịch vụ
mới và chuyên nghiệp hóa các dịch vụ chứng khoán đang cung cấp như: giao dịch trực
tuyến, mở tài khoản trực tuyến, đặt lệnh qua điện thoại, quản lý tài khoản của khách
hàng độc lập với Công ty chứng khoán qua ngân hàng, cảnh báo rủi ro cho khách hàng
qua SMS và email, SMS truy vấn thông tin tài khoản khách hàng,v.v. Đồng thời, trong
giai đoạn khủng hoảng tài chính, dịch vụ Tư vấn tài chính của Công ty cũng được đẩy
mạnh và chuyên nghiệp hóa. Đặc biệt, tiếp nối sự thành công của các hội thảo được
Công ty tổ chức năm 2008 như Hội thảo “Thuế TNCN trong ĐTCK và Tác động của
khủng hoảng tài chính thế giới đến nền kinh tế Việt Nam”, Hội thảo “Hướng dẫn nghiệp
vụ và Tư vấn kinh doanh vàng”, Hội thảo phân tích và tư vấn đầu tư hàng tuần, v.v,
Artex sẽ tiếp tục tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề, buổi tọa đàm với những chủ đề
“nóng” thu hút sự quan tâm của các NĐT nhằm cung cấp cho các NĐT những thông tin
hữu ích nhất. Dự kiến ngày 12/1/2009, cùng với 70 công ty đáp ứng tiêu chuẩn về giao
dịch không sàn, Artex sẽ chính thức thông sàn HOSE. Để chuẩn bị cho công tác này,
ngay từ những ngày đầu hoạt động, Artex đã chú trọng đầu tư cho 2 yếu tố quan trọng
là công nghệ và nhân lực. Mặt khác, nhằm đa dạng hóa dịch vụ cung cấp, tạo thêm
kênh đầu tư hiệu quả cho các NĐT, vừa qua, Công ty CP Chứng khoán Artex đã ký kết
hợp đồng đại lý với Công ty CP Kinh doanh và Đầu tư vàng Việt Nam, triển khai sàn
giao dịch vàng Artex – VGB. Sàn giao dịch vàng của Artex có nhiều ưu điểm nổi bật về
hệ thống giao dịch điện tử và hệ thống đặt lệnh tự động chính xác, minh bạch; tính
thanh khoản cao, dịch vụ tư vấn đầu tư tận tình, hiệu quả,v.v.(

Gia tăng tiện ích để kinh doanh chứng khoán hiệu quả”
12:01' AM - Thứ bảy, 15/12/2007

Sau quyết định 27 ngày 24/4/2007 của Bộ Tài Chính về việc nhà
đầu tư chứng khoán phải mở tiền gửi tại Ngân hàng, công ty
chứng khoán (CTCK) không còn chức năng giữ tiền như trước
đây nữa, việc hợp tác giữa CTCK và các ngân hàng trở nên sôi
nổi hơn bao giờ hết.

Lần đầu tiên cuộc đối thoại giữa 4 bên: đại diện Ủy ban chứng khoán nhà nước, đại diện Ngân
hàng nhà nước, đại diện các nhà đầu tư, hơn 50 CTCK và Ngân hàng đã diễn ra tại Hội thảo
““Gia tăng tiện ích để kinh doanh chứng khoán hiệu quả” do Ngân hàng Đông Á (DongA Bank)
tổ chức tại Khách sạn Sheraton, 88 Đồng Khởi.

Với tư cách là đơn vị trực tiếp chịu ảnh hưởng của chỉ thị này, đại diện các CTCK đã nêu lên
những thuận lợi và khó khăn hiện tại của tình hình kết nối với các ngân hàng hiện nay, trong đó,
nổi bật nhất là vấn đề về giải pháp công nghệ hiện đại để đáp ứng tốc độ và khối lượng giao
dịch ngày càng tăng của thị trường. “Các công nghệ hiện đại cần đảm bảo yếu tố đơn giản về
thủ tục để nhà đầu tư mới tham gia thị trường cũng có thể sử dụng dễ dàng, kết nối nhanh chóng
để tiết kiệm thời gian và chi phí cơ hội. Do đó cần phải có sự phối hợp thật “ăn ý” về công nghệ
kết nối giữa CTCK và ngân hàng, làm thế nào để tạo điều kiện tốt nhất cho nhà đầu tư”_Ông
Nguyễn Hữu Nam, Tổng giám đốc Công ty chứng khoán Gia Quyền phát biểu tại hội thảo.

Giải pháp kỹ thuật nào để kết nối hiệu quả?

Hiện nay có 3 giải pháp để có thể thực hiện việc quản lý tiền của nhà đầu tư (NĐT) thông qua
ngân hàng. Một là, ngân hàng mở quầy giao dịch ngay tại sàn chứng khoán. Thứ hai là việc kết
nối từ CTCK đến ngân hàng nhưng thực hiện theo phương pháp bán thủ công. Việc kiểm tra số
dư tài khoản của NĐT tại ngân hàng được CTCK thực hiện định kỳ trong ngày. Thứ ba là việc
kết nối sẽ được thực hiện tự động hoàn toàn và khi có biến động trong tài khoản của NĐT tại
ngân hàng thì phía CTCK cũng sẽ cập nhật được. Cách thứ ba là tốt nhất về hiệu quả cũng như
tạo sự thông suốt, tiện lợi cho NĐT. Tuy nhiên, việc kết nối hoàn toàn online không dễ thực
hiện và bắt buộc hệ thống công nghệ thông tin của ngân hàng và CTCK phải sẵn sàng đáp ứng
cho việc này.

Hầu hết giải pháp mà các ngân hàng cung cấp cho các CTCK đều phải có bước làm thủ công,
không tự động hóa hoàn toàn. DongA Bank là ngân hàng đầu tiên cung cấp được một giải pháp
tự động hoàn toàn, giúp CTCK có thể thực thi được tất cả mọi loại giao dịch chứng khoán trên
hệ thống core banking của DongA Bank. Do xử lý hoàn toàn tự động nên thời gian để thực hiện
một giao dịch chỉ từ 1-2 giây, giúp tiết kiệm rất nhiều thời gian cho công ty chứng khoán. Giải
pháp của DongA Bank cũng là giải pháp duy nhất có thể đáp ứng được yêu cầu khớp lệnh liên
tục với khối lượng 1 triệu giao dịch/ngày. Đặc biệt, tại Hội thảo, DongA Bank đã giới thiệu giải
pháp tài chính “Bán chứng khoán_Lấy tiền ngay”. Theo đó, các nhà đầu tư tại công ty chứng
khoán có đăng ký thực hiện giao dịch chứng khoán thông qua tài khoản mở tại DongA Bank và
có đăng ký dịch vụ Ngân hàng Đông Á điện tử (Internet và SMS Banking) có thể lấy tiền ngay
sau khi bán chứng khoán. Đặc biệt, sản phẩm này được DongA Bank cung cấp hoàn toàn tự
động, online thông qua Internet, nhà đầu tư có thể ở bất cứ nơi đâu để làm thủ tục đăng kí sau
khi có kết quả khớp lệnh và tiền vay sẽ được chuyển trực tiếp vào tài khoản của nhà đầu tư gần
như tức thời. Sau 3 ngày khớp lệnh bán (ngày T+3), sau khi tiền bán chứng khoán được chuyển
vào tài khoản của nhà đầu tư mở tại DongA Bank, hệ thống DAB tự động thu lại và ghi có số
tiền còn lại vào tài khoản nhà đầu tư. “Giải pháp này là một bước tiến mới về công nghệ mà
DongA Bank cung cấp, đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn tức thời của nhà đầu tư chúng tôi sau khi
bán cổ phiếu mà không cần phải đợi đến 3 ngày sau khi giao dịch khớp lệnh mới nhận được tiền
bán.”-một nhà đầu tư tại sàn EPS cho biết.

Hợp tác “win-win”

Ngoài những lợi ích của ngân hàng khi nhận giao dịch tiền gửi của nhà đầu tư như huy động
vốn, mức phí chênh lệch, thì lượng khách hàng tiềm năng có giao dịch chứng khoán chính là
điểm nhắm đến của các ngân hàng để bán chéo các sản phẩm khác mà ngân hàng cung cấp như
vay tiêu dùng, tiết kiệm, đặc biệt là khách hàng sử dụng thẻ. Trong buổi hội thảo, Ngân hàng
Đông Á cũng đã giới thiệu gói sản phẩm “QUICK CASH CK”, tiêu biểu là loại thẻ mới dành
cho các nhà đầu tư chứng khoán có tên CK CARD. Đây là loại thẻ tích hợp các tính năng của
Thẻ Đa Năng Đông Á cùng với các tính năng khác dùng trong giao dịch chứng khoán như giao
dịch chứng khoán Online, bán chứng khoán lấy tiền ngay..., rất thuận lợi cho nhà đầu tư. Khách
hàng mở thẻ QUICK CK lấy ngay sau 24 tiếng, mở thẻ tại bất cứ nơi đâu, giao dịch tại bất cứ
địa điểm nào trên hệ thống DongA Bank với hơn 1000 máy ATM trong hệ thống VNBC. Thẻ
này sẽ được chính thức phát hành từ đầu năm 2008.

Về phía các công ty chứng khoán, ngoài lợi ích từ việc kết nối khi càng trang bị công nghệ hiện
đại sẽ càng thu hút lượng lớn các nhà đầu tư giao dịch, thì các chính sách ưu đãi từ phía ngân
hàng dành cho công ty cũng rất đáng kể. Bà Nguyễn Thị Ngọc Vân, Phó Tổng giám đốc thường
trực DongA Bank đã giới thiệu các chính sách ưu đãi dành cho công ty chứng khoán như:

1. DongA Bank sẽ hỗ trợ cung cấp kỹ thuật cho CTCK để thực hiện các giao dịch chứng
khoán trực tuyến
2. DongA Bank triển khai đại lý mở tài khoản và nhận lệnh cho CTCK trên hệ thống chi
nhánh của DongA Bank.
3. Công ty chứng khoán được cấp hạn mức thấu chi cho tài khoản thanh toán của Công ty
mở tại DongA Bank
4. DongA Bank cấp hạn mức tín dụng đối với dịch vụ cho vay cầm cố chứng khoán của
công ty.
5. Các dịch vụ dành cho cán bộ nhân viên công ty chứng khoán như: Hỗ trợ tín dụng vay
trả góp, trả dần với lãi suất ưu đãi, thấu chi qua thẻ lên đến 10 tháng lương, miễn phí chi
lương qua thẻ. Đặc biệt còn có dịch vụ hỗ trợ cho vay du học cho con em CBNV các
công ty chứng khoán.

Như vậy, việc thực hiện quyết định số 27/2007 sẽ đem lại lợi ích cho các bên hợp tác trên cơ sở
một nền tảng công nghệ được đầu tư đúng hướng.Tại hội thảo, DongA Bank cũng đã ký kết thỏa
thuận kết nối online với 5 công ty chứng khoán là Bảo Việt, Biển Việt, Chợ Lớn, Phương Đông
và chứng khoán Đông Á.

Thời của broker!


29/09/2009 08:25:59

(ĐTCK-online) Bùng nổ! Đó là tính từ thích hợp miêu tả trạng


thái thị trường tuần qua khi tổng giá trị giao dịch trên hai sàn
đạt trung bình 5.300 tỷ đồng/phiên, mức kỷ lục trong lịch sử 9
năm của TTCK.

Cùng với sự thăng hoa về giá trị giao dịch và điểm


số thị trường, hoạt động môi giới của các CTCK
đang hết sức sôi động. Câu chuyện về một nhân viên
môi giới (broker) nhận thu nhập chính thức từ công
ty lên tới 200 triệu đồng/tháng thể hiện rõ nét điều
này. Tính thanh khoản của thị trường tăng cao,
miếng bánh thị phần môi giới giữa các CTCK đang
được chia lại bởi chính những broker giỏi này.
Boker giỏi cũng góp phần đẩy tính thanh khoản của
thị trường tăng cao và gia tăng thị phần của
CTCK(Ảnh minh họa)
Môi giới "hái ra tiền"
Broker nêu trên là A - cựu chuyên viên của một quỹ đầu tư trong nước, hiện đang là Trưởng
phòng kinh doanh của CTCK KimEng (KEVS). Nhỏ nhẹ, anh cười cải chính, mức thu nhập
chính thức từ Công ty "chỉ có" 170 triệu đồng/tháng, với khoản tiền đóng thuế thu nhập trung
bình trên 50 triệu đồng! Anh cho biết, có được mức thu nhập này là do doanh thu môi giới bình
quân tháng của anh lên tới 700 tỷ đồng. Anh "bật mí": khách hàng lớn nhất mà anh đang quản lý
có số vốn 90 tỷ đồng; thời gian nắm giữ cổ phiếu của khách hàng đầu tư ngắn hạn thường là hai
tuần, nhưng cũng có trường hợp là T+4.
Một ngày làm việc của anh A khá bận rộn: sáng dậy sớm kiểm tra mọi tin tức xảy ra trong đêm
phía bên kia bán cầu có tác động đến TTCK; trong phiên, bất kỳ cổ phiếu nào có dấu hiệu tăng
trần hay giảm sàn bất thường đều phải tìm ngay câu trả lời (qua DN, giới broker, NĐT quen
biết…); buổi chiều (không bắt buộc có mặt ở công ty), trao đổi công việc qua điện thoại trong sự
ồn ào của xe cộ ngoài đường hay rôm rả trong quán cà phê. Chơi mà vẫn làm.
Theo anh A, để tư vấn tốt cho khách hàng, một broker chỉ nên quản lý tối đa 8 tài khoản. "Nhiệm
vụ của broker là giúp khách hàng mua được cổ phiếu có tiềm năng tăng giá, đặc biệt là trong
ngắn hạn, trước khi thị trường nhận ra. Đôi khi khách hàng có những nguồn tin bên ngoài, khi đó
mình phải kiểm tra tính chính xác nhằm giúp khách hàng ra quyết định kịp thời. Nhưng ở Việt
Nam, hầu hết broker chỉ tư vấn NĐT mua, chứ ít khi tư vấn bán", anh cười. Khối lượng lớn nhất
mà anh từng tư vấn cho một khách hàng giao dịch trong phiên là 1,5 triệu cổ phiếu.
Hiện nay, thu nhập của các broker đến từ 3 nguồn chính: nhận chính thức từ công ty (lương
cứng), hoa hồng và tiền thưởng từ công ty và lãi từ hoạt động kinh doanh của bản thân. Hai
khoản thu nhập sau khó có thể định lượng, nhưng nhiều broker đang giàu lên từ đó. Khá nhiều
CTCK như KEVS đã áp dụng quản lý nhân viên theo hiệu quả công việc. Điều đó có nghĩa là
broker được hưởng lương cứng (5 - 7 triệu đồng/tháng với CTCK lớn, 4 - 5 triệu đồng/tháng với
CTCK nhỏ), sau đó hưởng mức thưởng trên doanh thu phí môi giới theo định mức được giao
(nếu vượt, broker được hưởng mức hoa hồng cao; nếu không đạt, broker thậm chí có thể chỉ
hưởng mức lương cứng).
Cách quản lý này đã tạo ra một tầng lớp các broker giỏi nghề, có thu nhập đáng mơ ước: tại
KEVS, broker có mức thu nhập chính thức từ 30 - 40 triệu đồng/tháng không phải là hiếm; các
broker có lượng khách hàng trung bình cũng có thể đạt mức thu nhập trên 20 triệu đồng/tháng.
Tại nhiều CTCK khác, thu nhập của broker không được tiết lộ, nhưng giới broker kháo nhau: tại
CTCK, VNDirect có broker thu nhập trên 100 triệu/tháng; tại CTCK HSC, có broker thu nhập
trên 60 triệu/tháng…

CTCK chia lại thị phần


Tại KEVS, broker có thể đề xuất lãnh đạo Công ty giảm phí cho các khách hàng VIP xuống còn
0,15%; trong thời gian giao dịch, broker không bắt buộc có mặt tại Công ty, miễn là đảm bảo
giao dịch thông suốt cho khách hàng. Một số CTCK khuyến khích sự năng động của nhân viên
bằng đòn bẩy lợi ích: khi vượt định mức, hoa hồng có thể đạt 10 - 30% doanh thu phí môi giới
mà CTCK nhận được. Cơ chế này đã góp phần giúp nhiều CTCK năng động như SBSC, Thăng
Long tăng nhanh thị phần môi giới.
Trong khi đó, tại một số CTCK hàng đầu, số lượng tài khoản lớn, lúc thị trường "nóng" không
thể phục vụ hài lòng tất cả, hiện tượng "chảy máu" khách hàng đã diễn ra. Không ít khách hàng
VIP tại một CTCK trực thuộc ngân hàng thương mại đã chuyển sang giao dịch ở những CTCK
khác. Một NĐT VIP trung thành ở lại với CTCK sau 10 năm gắn bó cho biết, lý do ở lại chủ yếu
là mối quan hệ tín dụng với ngân hàng mẹ.
Một broker tại một CTCK hàng đầu khác than phiền: kế hoạch trả lương theo hiệu quả công việc
tại công ty đã bàn từ vài tháng nay, nhưng vẫn giậm chân tại chỗ vì chưa xác định được khung
phần trăm hoa hồng. Chậm trễ, một số nhân viên giỏi đã ra đi, kéo theo nhiều khách hàng VIP.
TTCK Việt Nam có đặc thù riêng, đa số CTCK tập trung vào nghiệp vụ chính là môi giới chứng
khoán. Tuy nhiên, có những phân khúc thị trường rất khó thay đổi, như thị phần môi giới với
NĐT tổ chức và NĐT nước ngoài. Vì vậy, CTCK chủ yếu cạnh tranh nhau trong mảng khách
hàng cá nhân trong nước. Các công ty đang tìm mọi cách để thu hút NĐT, đặc biệt là khách hàng
VIP. Trong cuộc đua tranh, yếu tố con người, chiến dịch "săn" các broker lành nghề có thể quyết
định sự thành công của công ty.