You are on page 1of 13

Bài I : hóa học và các ngành của nó

Hóa học là khoa học về các chất – cấu trúc của chúng, tính chất của
chúng và các phản ứng làm thay đổi chúng thành các chất khác.
Trong việc nghiên cứu hóa học có thể được chia thành các ngành như
sau:
- Hóa học đại cương ,nó giới thiệu về toàn bộ về hóa học
- Sự phân tích định tính, đưa ra các phương pháp kiểm tra sự có mặt
của các chất hóa học
- Sự phân tích định lượng, đưa ra các phương pháp để xác định
chính xác lượng vật chất khác nhau có mặt trong một mẫu nguyên
liệu
- Hóa học vô cơ, đó là chất hóa học của các nguyên tố không phải C
và các hợp chất của chúng.
- Hóa học hữu cơ,nó là các hợp chất hóa học của C
- Hóa lý, nghiên cứu về mối quan hệ định lượng giữa các thuộc tính
của vật chất và các phản ứng của chúng.
- Hóa sinh, đó là các chất hóa học về vật chất bao gồm các sinh vật
sống
- Hóa học cấu tạo , nó đề cập đến cấu trúc của phân tử và mối quan
hệ của nó với các thuộc tính của vật chất.
- Hóa học phóng xạ, đó là chất hóa học của các nguyên tố phóng xạ
và các phản ứng bao hàm trong nhân của nguyên tử.
- Hóa học công nghiệp, nó quan tâm tới quá trình xử lý công nghiệp.
Mặc dù hóa học rất rộng và là một môn học phức tạp, nó vẫn đang
tiếp tục phát triển với nhiều nguyên tố mới được tìm thấy và tạo
ra,nhiều hợp chất đã được tổng hợp và những nguyên lý mới đã được
đưa ra. Các nhà hóa học và các kĩ sư hóa chất cần phải có sự hiểu biết
về tất cả các ngành của hóa học,ngay cả khi có thể chuyên trong một
chuyên ngành đặc biệt nào đó.
Hóa học khoa học không thể thiếu vật lý và toán học,và nó cũng là
cầu nối với một số ngành khoa học khác, ví dụ hóa học vô cơ có mối
liên kết chặt chẽ với địa lý, khoáng vật học,luyện kim, trong khi đó
hóa học hữu cơ lại có liên kết chặt chẽ với sinh học nói chung.

Bài IV: Phân loại vật chất
Các vật chất khác nhau có thể phân biệt bằng các thuộc tính của
chúng , rõ rang nhất đó là dựa vào tính chất vật lý hoặc tính chất tổng
hợp khác,về cơ bản thì tất cả các loại vật chất được phân loại thành
chất rắn , chất lỏng , và chất khí.
Đặc điểm đặc trưng của chất khí là phân tử của chúng không có ảnh
hưởng tới nhau, nhưng chúng có thể di chuyển tự do.
Bởi vì sự chuyển động tự do của các phân tử nên chất khí không có
hình dạng và kích thước xác định.Hình dạng của nó chính là hình
dạng của vật chứa nó.Mặt khác , chất lỏng có dung tích xác định,
nhưng không có hình dạng xác định.Chỉ duy nhất chất rắn là có đặc
điểm về hình dạng và kích thước xác định.
Từ các vật chất ,các nhà khoa học muốn nói về bản chất tinh khiết của
vật chất .Thưc ra tất cả các vật chất không ít thì nhiều cũng không
tinh khiết.khi mà nghiên cứu các vật chất không tinh khiết thì dung
dịch , và hỗn hợp từ các vật liệu đó có thể dung để thay thế.
Tất cả các vật chất có thể chia làm 2 loại: vật đơn chất và các hợp
chất.Đơn chất chỉ gồm có các nguyên tử của một loại vật chất, hỗn
hợp thì gồm có nhiều nguyên tử của hai hay nhiều loại vật chất khác
nhau. Các nguyên tử của hai hay nhiều loại hợp chất phải có mặt theo
tỷ lệ xác định từ khi chất được xác định là có một thành phần không
thay đổi . Do đó đơn chất có thể được tạo thành từ hai hay nhiều
nguyên tố. Tránh sự nhầm lẫn, nó rất cần thiết cho chúng ta biết được
tính chất chính xác của một chất riêng biệt hoặc nguyên tử trong định
nghĩa về một nguyên tố được nêu ra ở trên. Bằng những diễn đạt trên
ta có thể nói nguyên tử gồm một hạt nhân mang điên tích.Tất cả các
hạt nhân điều có điện tích dương nó bằng với tích phân nhiều lớp của
điện tích của electron( với điện tich trái dấu).Số nguyên đó đã thể
hiện mối quan hệ đươc gọi là nguyên tử số.
Từ hỗn hợp được sử dụng để chỉ một loại vật chất đồng nhất / có cùng
một cấu trúc thống nhất /, nó không phải là một chất tinh khiết, hoặc
một tập hợp không đồng nhất của hai hay nhiều chất. Các thành phần
của hỗn hợp được gọi là hợp phần của nó. Đôi khi một hỗn hợp bao
gồm chủ yếu là một thành phần, và số lượng ít hơn của những chất
khác, được gọi là một chất không tinh khiết. Các thành phần có số
lượng ít hơn đó được gọi là tạp chất.
Bài VII: Tốc độ của phản ứng hóa học
Tất cả các phản ứng hóa học đều cần phải có thời gian để nó xảy ra
hoàn toàn, nhưng một số phản ứng xảy ra rất nhanh , một số khác thì
lại xảy ra rất chậm. Các phản ứng giữa các ion trong dung dịch mà
trạng thái oxi hóa không đổi luôn xảy ra rất nhanh.Ví dụ như sự
chung hòa của axit và bazơ , nó diễn ra nhanh như các dung dịch
được trộn lẫn vào nhau. Có thể cho là gần đúng với mỗi khi một ion
H
+
va chạm với một ion ion OH
-
ở phản ứng xảy ra, và một số sự va
chạm đó rất mạnh,gây ra một chút chậm trễ trong phản ứng. Sự tạo
thành chất kết tủa,giống như AgCl(bạc clorua) ,khi dung dịch có chứa
ion Ag
+
đươc trộn lẫn với dung dịch có chứa ion Cl
-
có thể chỉ cần
vài giây để các ion có thể kết hợp với nhau tạo thành những hạt kết
tinh của chất kết tủa. Mặt khác, sự oxi hóa của ion giảm trong các
phản ứng thường rất chậm.Ví dụ như sự oxi hóa của ion thiếc(Sn
2+
)
gây ra bởi ion sắt(Fe
3+)
. Phản ứng này không ra mỗi khi một ion thiếc
va chạm với một hay hai ion sắt.Để phản ứng có thể xảy ra, sự va
chạm cần phải được diễn ra một cách tự nhiên sao cho các electron
có thể tự dịch chuyển từ một ion này tới một ion khác loại và sự va
chạm đó cho phép sự dịch chuyển của electron xảy ra ,có thể là rất
hiếm gặp.
Những tác nhân quyết định tới tốc độ phản ứng rất đa dạng. Tốc độ
của phản ứng không những phụ thuộc vào thành phần của các chất
tham gia phản ứng mà còn phụ thuộc vào hình dạng vật lý của nó, sự
kết hợp của chúng trong hỗn hợp, nhiệt độ và áp suất, nồng độ của
chất phản ứng, đặc biệt là những điều kiện vật lý như ánh sáng thấy,
tia tử ngoại, tia X,nowtron,hoặc các dải sóng điện từ khác,các hạt và
sự có mặt của các loại vật chất khác nó ảnh hưởng tới phản ứng
nhưng không làm thay đổi bởi nó/ chất xúc tác/
Thực ra hầu hết các quá trình hóa học đều rất phức tạp ,và việc phân
tích tốc độ của chúng là rất khó khăn.
Phản ứng xảy ra khi các chất hóa học được sử dụng hình thành được
một chất mới, nhiệt độ của quá trình bị thay đổi do sự tỏa nhiệt hay là
thu nhiệt của phản ứng ; và một vài tác dụng khác có thể xảy, nó tác
động đến phản ứng theo một cách phức tạp khác.Ví dụ, khi đổ dung
dịch KMnO
4
vào dung dịch có chứa H
2
O
2
và axit H
2
SO
4
không thể
thấy phản ứng xảy ra trong một thời gian. Tốc độ của phản ứng tăng
lên cho tới khi nó trở nên rất lớn làm đổi màu dung dịch KMnO
4
rất
nhanh cũng như khi đổ nó vào dung dịch khử. Hiệu quả của việc đẩy
nhanh tốc độ của phản ứng này là do các hoạt động mạnh của chất
xúc tác của ion khử ion MnO
4
-
;phản ứng xảy ra rất nhanh ngay sau
khi chúng được tạo thành.
Bài VIII : HYDROCARBONS
Hydrocarbons là hợp chất chỉ có C và các nguyên tử H .
Hydrocarbon đơn giản nhất là metan CH
4
. phân tử của nó có dạng
hình tứ diện, gồm bốn nguyên tử H nằm ở các góc của hình tứ diện
đều xung quanh nguyên tử C , và liên kiết độc lập với nguyên tử C .
Metan là chất khí, nó có trong khí tự nhiên, được dùng là ngyên liệu
đốt. Nó cũng được sử dụng với số lượng rất lớn trong công nghiệp
sản xuất muội than, do sự cháy với một lượng không khí có giới hạn.
khí hydro cháy tạo thành nước , còn cacbon thì lắng lại rất mịn , nó
thường được sử dụng rộng rãi làm chất độn cho cao su của lốp xe ô tô
Metan là mắt xích đầu tiên của họ hydrocarbons có công thức cấu tại
chung là C
n
H
2n+2
được gọi là họ Metan hay là họ paraffin . Các hợp
chất của họ này có khả năng hoạt động hóa học không mạnh lắm. Nó
có chứa trong các hỗn hợp phức tạp như trong dầu mỏ. các phân tử
lớn hơn metan có đặc điểm là nó có thêm những nguyên tử C được
gắn với nhau băng liên kết độc lập.Những hợp chất nhẹ trong họ
paraffin là các chất khí , các hợp chất trung gian là chất lỏng, và các
hợp chất nặng hơn nữa là chất rắn hoặc chất bán rắn.Xăng là hỗn hợp
từ heptane-nonane và kerosene là hỗn hợp từ decane-hexadecane
.Dầu đốt là hỗn hợp của các paraffin có 20 hoặc trên 20 nguyên tử
trong mỗi phân tử. Dầu mỡ bôi trơn và các paraffin rắn là hỗn hợp
của các phân tử paraffin lớn hơn nữa.
Chất ethylene, C2H4, bao gồm các phân tử trong đó có một liên kết
đôi giữa hai nguyên tử cacbon. Liên kết đôi này giữa các phân tử làm
cho đặc tính hoạt động hoá học lớn hơn nhiều so với các parafin.
Bởi vì tính chất này nên nó dễ dàng kết hợp với các chất khác,
ethylene và họ hydrocarbon của nó được gọi là hợp chất không no.
Acetylene là mắt xích đầu tiên của họ hydrocarbon có lien kết ba.
Ngoài axetylen, các chấtkhác không được thấy sử dụng rộng rãi,
ngoại trừ trong sản xuất hóa chất. Các hydrocarbon, các phân tử có
chứa một vòng các nguyên tử carbon, được gọi là hydrocacbon vòng.
Cyclohexane, C6H12, là đại diện của loại các hợp chất này. Nó là
một chất lỏng dễ bay hơi, có các thuộc tính tương tương tự như
hexane thường.
Một hydrocarbon quan trọng khác là benzen, có công thức C6H6. Nó
là một chất lỏng dễ bay hơi / b.p. 800C /, có mùi thơm. Trong nhiều
năm, đã có thảo luận về cấu trúc của phân tử benzen. August Kekule
đề nghị sáu nguyên tử carbon trong công thức tạo thành một vòng, và
điều này đã được xác minh: nghiên cứu nhiễu xạ đã chỉ ra rằng các
nguyên tử tạo thành một hình lục giác đều phẳng trong không gian,
sáu nguyên tử hydro được liên kết với các nguyên tử carbon, và tạo
thành một hình lục giác lớn hơn. Kekule cho rằng, để cho một nguyên
tử carbon hiển thị hóa trị bốn bình thường của nó, vòng có ba liên kết
đơn và ba liên kết đôi ở các vị trí xen kẽ nhau. Các hydrocarbon khác,
các dẫn xuất của benzen, có thể thu được bằng cách thay thế các
nguyên tử hydro bằng các nhóm methyl hoặc các nhóm tương tự.
Benzen và dẫn xuất của nó được sử dụng trong sản xuất thuốc, vật
liệu nổ, các nhà rửa ảnh, nhựa, thuốc nhuộm tổng hợp, và các chất
khác.




Bài 9: thiết bị hóa học trong phòng thí nghiệm
Ngày nay phòng thí nghiệm không thể thiếu được trong các trường học,
nhà máy và các viện nghiên cứu.chúng được dùng để kiểm tra, xác nhận
chứng minh trong một quy mô nhỏ các hiện tượng kỳ lạ hay các quá
trình thường xẩy ra trong tự nhiên, hơn nữa có thể tìm kiếm và áp dụng
chúng trong công nghiệp và đóng góp phần quan trọng cho nền khoa
học.
Trong phòng thí nghiệm hóa học có rất nhiều thiết bị, nó có thể giúp học
sinh kiểm tra lại kiến thức lý thuyết của mình, còn đối với các kỹ sư
công nghệ dùng để xác nhận kiểm tra các quá trình để đưa vào vận dụng
trong các nhà máy, phân xưởng hay giúp đỡ các nhà khoa học, nghiên
cứu khám phá và chứng minh thực tế.
Tất cả các phòng thí nghiệm hóa học được chia làm 3 phần bao
gồm:nước, khí, và điện.
Nước cung cấp từ nguồn tới các đường ống,các đường ống được kiểm
soát bởi các van,và có các bồn chứa để xả các loai nước thải và các chất
lỏng không cần thiết. khi cần nước chúng ta mở van, khi ngưng thì đóng
nó lại.
Hệ thống đường ống đơn giản được gắn kết từ nguồn cung cấp khí tới
các loại bếp khác nhau. Nó điều chỉnh được cường độ sáng khác nhau
của ngọn lửa. bếp busan thường được sử dụng nhiều nhất.
Khí có thể cung cấp để tạo ra điện để phục vụ cho bóng đèn, động
cơ.vận hành điện, chỉ cần ấn nút để hoạt động, đây chúng ta đang nói về
bật tắt công tắc đèn.
Trong phòng thí nghiệm cũng có các thiết bị với kích thước lớn, đa
dạng, một trong số đó là máy sấy nó được dùng để làm khô các vật liệu,
lo nung, lò sưởi thường được dùng trong trường hợp ta cần nhiệt độ cao,
nhưng bên cạnh đó chúng có một lượng khí độc hại và tạo ra mùi khó
chịu trong quá trình tiến hành thí nghiệm vì vậy chúng ta cần có một hệ
thống thông hơi thích hợp để thoát lượng khí đó ra ngoài.
Điều quan trọng cơ bản là các bình thủy tinh và bình sứ. bình thủy tinh
dùng trong quá trình hóa học được làm từ các vật liệu đặc biệt, nó có thể
chịu được sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ và có thể chịu được nhiệt độ
rất cao. Các vật chịu nhiệt có thể tạo thành bởi một số chất. điều quan
trọng vẫn là việc phân lọai các thiết bị thủy tinh trong phòng thí
nghiệm.chúng bao gồm: ống nghiệm, cốc thủy tinh, bình quan sát, phễu,
chai lọ, ly đong.
Các vật liệu bằng sứ bao gồm rất nhiều loại: đĩa chén,thiết bị nấu kim
loại, các thiết bị này có nhiều kích thước khác nhau.
Ngày nay các thiết bị làm bằng chất dẻo cũng được sử dụng nhiều trong
phong thí nghiệm, nhiều loại có thể chịu được hóa chất, chịu được trong
môi trường kiềm,axit, hơn nữa nó không bị vỡ.
Bài 13: mối quan hệ của nghành công nghiệp hóa học và các ngành
công nghiệp khác.
Không có một ranh giới chính xác giữa công nghiệp hóa học và các
ngành công nghiệp khác.chúng ta không thể phân loại chính xác các bộ
phận chính trong công nghệ hóa học, thực tế chúng ta có thể phân thành
hai bộ phận chính:
- Công nghiệp hóa chất
- Công nghiệp các quá trình tạo các sản phẩm hóa học
Công nghiệp hóa chất có lẽ gặp ít khó khăn hơn trong hai nghành công
nghiệp trên, chúng bao gồm các công ty, các nhà máy hóa chất, nói đúng
ra chúng bao gồm tất cả các chất tổng hợp từ các hóa chất. những từ ngữ
có thể nói lên được mục đích, định nghĩa, sản phẩm và chúng được thể
hiện qua ngôn ngữ chuyên môn.
Chúng ta thường sử dụng các chất hóa học để tại ra các chất hóa học
khác và chúng không được sử dụng trong các hộ gia đình.
Như soda và H2SO4 được xem như các hóa chất còn xà phòng, sơn
không được xem như là hóa chất.
Bài 18:kỹ thuật hóa học
Kỹ thuật hóa học cũng giống như các ngành kỹ thuật khác, mối quan
tâm vẫn là ứng dụng chúng trong các quá trình vật lý.trong thực tế hiện
nay,các qua trình hóa học liên quan chủ yếu đến các quá trình vật lý hay
các tác động vật lý lên các phản ứng hóa học,ví dụ như sự chuyển động
của chất rắn hay dòng lỏng, quá trình khuấy trộn, hay quá trình truyền
nhiệt…vv.sản phẩm của phản ứng hóa học có thể sử dụng được trên thị
trường thì nó liên quan đến quá trình tạo ra nó,ví dụ như:các quá trình:
lọc,kết tinh, chưng cất, bay hơi,sấy khô,nghiền.thực ra thì đây cũng là
các quá trình vật lý, và các thiết bị sử dụng trong quá trình vận hành
chúng thường sử dụng các thiết bị đơn giản đối với các quá trình hóa
học.
Điều quan trọng nhất đối với một kỹ sư công nghệ là biết chọn vật liệu
của các thiết bị cho một nhà máy.các kỹ sư công nghệ có thể chọn được
các vật liệu thích hợp cho mỗi bộ phận riêng biệt của một nhà máy, và
nâng cao tuổi thọ làm việc của thiết bị và có tính kinh tế hơn. Ví dụ
chúng ta có thể tìm thấy và tạo ra các vật liệu có khả năng chống sự ăn
mòn, chống lại các chất phản ứng hóa học, vật liệu có khả năng chịu
được nhiệt cao.các quá trình mới cần thiết bị mới trong quá trình thiết kế
một nhà máy.ngày nay có nhiều vấn đề nói về sản phẩm cho động cơ
hay các loại dầu khác được tạo ra bởi các phản ứng ở áp suất cao.
Nói tóm lại,hiệu suất và lợi nhuận của một ngành công nghiệp mong đợi
vào các quá trình kỹ thuật hóa học.
Bài 19: quá trình sản xuất khí đốt.
Khí đốt tạo ra bằng cách chưng cất phân hủy các loại than giàu H
2
như
than bitum. Các thành phần đặc trưng của than bitum bao
gồm:77%C,5% H
2
, 1,7% S, 1,7 % tập chất.
Có nhiều công đoạn khác nhau trong việc sản xuất khí đốt, như chưng
cất, ngưng tụ các chất lỏng hoặc rắn của các quá trình chưng cất tại một
nhiệt độ và áp suất nhất định, tách các phần khí không ngưng từ bình
tách, làm sạch các chất ẩm ướt bằng các rửa qua nước sau đó sấy
khô,tiếp đến xác định thể tích khí được tinh chế, sau đó phân bố tới các
trung tâm chính để tiêu thụ.
Quá trình chưng cất bằng than cần có các thiết bị:
1. Bình tách ngang
2. Bình tách đứng vận hành liên tục.
3. Bình tách đứng vận hành không liên tục.
4. Lò đốt cốc: mặc dù trong quá trình sản xuất khí cố rất nhiều sản
phẩm phụ trong lò, đó là mối quan tâm chính trong quá trình sản xuất.
còn lượng cốc thu được được sử dụng cho ngành luyện thép.
Phần lớn lượng khí thương phẩm được cung cấp từ các nhà máy chế
biến khí, lượng khí này được sản xuất từ bình tách ngang hoặc bình tách
đứng.
Bình tách đứng: lượng than dùng cho bình tách đứng có thể được cho
vào liên tục hoặc gián đoạn. trong trường hợp này lượng than được cho
vào liên tục cho đến khi đây bình tách, sau đó sản phẩm được tháo ra
khỏi bình tách, lượng cốc sẻ được đi qua bình chiết.than đá được lượng
cacbon hoa làm phình lên một cách đáng kể dẫn đến đường kính đáy và
đỉnh cũng tăng lên. Trong các khoang của bình tách được cấu tảo bởi các
hình oval hoặc các hình chữ nhật có nhiều kích thước khác nhau và
lượng cacbon sản xuất ra từ 3 đến 12 tấn trên 1 ngày. Thực tế lượng than
đưa vào bình tách phụ thuộc vào lượng than được cacbon hóa và phụ
thuộc vào sự tỏa nhiệt của sản phẩm khí. Lượng hơi được tạo ra ở bình
tách nhằm mục đích cơ bản là làm nguội lượng cốc trước khi tháo sản
phẩm, nhưng đồng thời nó cũng tạo ra lượng hơi nước, kết quả là làm
tăng lượng khí. Bình tách đứng vận hành liên tục nó rất linh hoạt trong
quá trình tháo sản phẩm và làm giảm lượng nhiệt của than và của hơi
nước.
Bài 28: các loại nhiên liệu.
Nhiên liệu được sử dụng bao gồm nhiên liệu rắn, lỏng và cả khí. Nhiên
liêu rắn rất cần thiết bao gồm các vật liệu trong tự nhiên chủ yếu là gỗ,
than bùn, than đá, mỗi loại có môt mục đích sử dụng riêng, thành phần
chủ yếu là cacbon nên các sản phẩm của nó chủ yếu là than,cốc.
Than thường được phân loại thành than cứng và than mềm.
Than cứng thường được gọi là than khoáng,loại than này chứa tới 90%
là C.loại than này rất cứng và sáng khi đốt không tạo ra ngọn lửa và
muội than.các khoáng các khoáng chất này chịu tác động của nhiệt độ và
áp suất cao trong một khoảng thời gian dài nên hầu hết các lượng hơi đã
được loại bỏ.
Than bitum thường được gọi là than mềm, do cấu trúc của nó không
chịu được áp suất cao như than cứng, nó chứa các hợp chất của C,H và
của NH3. Than bitum là loại than mềm thường dùng làm nhiên liệu
trong công nghiệp và trong gia đình. loại than non mềm hơn loại than
bitum, khi cần cất giữ thì nó được nghiền nhỏ và biến đổi nó thành dạng
bột. cốc được sản xuất bằng cách chưng cất than bitum, đấy là một loại
chất rắn màu xám trông giống như than.đó là một loại nhiên liệu và cũng
là một tác nhân khử tuyệt vời.chúng tách oxi từ oxit kim loại.than chì
được tạo ra bằng cách đốt các loại gỗ và không cho chúng tiếp xúc với
không khí, nếu chúng sử dụng trong công nghiệp thì chúng cho một
công suất lớn.
Nhiên liệu lỏng chủ yếu lấy từ sản phẩm tự nhiên, nhưng chất lượng còn
thấp nó chỉ đạt được chất lượng khi ta sử dụng quá trình chưng cất cũng
giống như nhiên liệu rắn,nhiêu liệu rắn ví dụ như than. Sản phẩm phụ
của quá trình chưng cất là nhựa đường, nó là hỗn hợp giống như dầu
thô, và trong quá trình chưng cất phân đoạn ta có thể chia ra nhiều phân
đoạn khác nhau.
Nhiên liệu khí được tìm thấy trong tự nhiên ví dụ như khí tự nhiên.
Nhưng nó cũng là sản phẩm của qua trình chưng cất nhiên liệu rắn.
Bài 29: dầu thô
Dầu thô là một chất lỏng sánh, được tìm thấy trong lòng đất, nó tồn tại
trong long đất từ nhiều năm trước đây. Thực ra thì nó có nguồn ngốc
cách đây hàng triệu năm và nằm dưới đáy đại dương, nơi chứa vô số
động và thực vật. nó được che phủ bởi các lớp trầm tích. Trải qua hàng
trăm năm dưới áp suất và các phản ứng hóa học cộng vào đó là các tác
động của vi sinh vật nên chúng đã được biến đổi thành dầu.
Dầu thô chứa vô vàn các hợp chất của 2 phân tử H và C. trong các dãy
phân tử đó chúng có nhiệt độ sôi tăng dần theo số lượng phân tử
.CH4,C2H6,C3H8,C4H10 là những chất khí tiếp theo là chất lỏng,chất
lỏng có nhiệt độ sôi phù hợp đối với động cơ như xăng ,kerosen, diezen,
gasoil nhẹ, gasoil nặng và cuối cùng là nhựa đường. tất cả các loại trên
đều có mục đích nhất định trong nền công nghiệp.
Dầu bôi trơn có nhiệt độ sôi giới hạn nên được tách bằng phương pháp
chưng cất chân không hay sử dụng các quá trình khác.
Những parafin rắn được dùng làm nến…
Quá trình cracking là quá trình phân hủy dầu thô bởi nhiệt độ và sử
dụng chất xúc tác.quá trình chưng cất dầu mỏ được phát minh từ năm
1913 do nhà bác học Burton và quá trình cracking được áp dụng vào
năm này.trong tất cả các loại thì dầu có nhiệt độ sôi hơi cao, các
hydrocacbon dể bai hơi được phân hủy thành các chất nhẹ hơn và có
nhiệt độ sội nằm trong phân đoạn xăng. Trong một số quá trình thì
cracking diễn ra trong pha lỏng ở áp suất từ vài trăm pound tới 1000
pound ở nhiệt độ 400-5000 oC. Còn quá trình khác thường xẩy ra trong
pha khí đươi áp suất bình thường, và nhiệt độ khoảng chừng 6000 oC.
Trong các quá trình sử dụng chất xúc tác chúng ta thường sử dụng
alumino silicat . cacbon tự do được tạo ra trong quá trình cracking
nhưng hiệu suất của xăng được tăng lên đáng kể, hơn nữa chúng ta cần
tăng quá trình này nhưng cần giảm quá trình hydro hóa xẩy ra cùng lúc
với quá trình cracking.
Trong quá trình này chúng ta sử dụng nhiệt độ để tách H2 từ dầu thô tại
áp suất cao và có mặt của chất xúc tác. Trong quá trình này ta cần điều
khiển quá trình vận hành để tăng hiệu suất va chất lượng của sản phẩm,
đây cũng là yêu cầu hàng đầu của các ngành công nghiệp.