You are on page 1of 10

Việt Nam đã là thành viên Tổ chức Thương mại thế giới - WTO vào ngày 7-11-2006.

Cùng hòa nhịp vào niềm vui, niềm tự hào chung của cả dân tộc trong thời khắc thiêng
liêng ấy, là những suy nghĩ về sự phát triển nền kinh tế nước nhà hậu WTO. Gia nhập
WTO mở ra cho Việt Nam những vận hội mới, nhưng cũng đầy thách thức.

Ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ rõ tầm quan
trọng của việc gia nhập WTO, cơ hội, thách thức đối với nền kinh tế Việt Nam và hành
động của chúng ta thời kỳ hậu WTO. Vào WTO là chấp nhận cạnh tranh, xem cạnh tranh
là động lực thúc đẩy sự phát triển. Cạnh tranh diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau: Cạnh
tranh giữa sản phẩm với sản phẩm, doanh nghiệp với doanh nghiệp, nhà nước với nhà
nước. Thu hút vốn đầu tư, công nghệ tiến tiến… diễn ra ngày càng gay gắt hơn giữa các
quốc gia. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, Việt Nam chỉ mới chú trọng thu hút vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trong khi dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII) ít được chú
trọng. Bài viết sẽ tập trung phân tích tầm quan trọng, tiềm năng, cũng như các rào cản
trong việc thu hút (FII) ở Việt Nam.

Sự cần thiết thu hút FII

Trên thế giới, nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sự
phát triển. Nguồn vốn này thường phân thành đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp
(FII). Trong khi nguồn vốn FDI có vai trò trực tiếp thúc đẩy sản xuất, thì FII lại có tác
động kích thích thị trường tài chính phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả hoạt động,
mở rộng quy mô và tăng tính minh bạch, tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước dễ
dàng tiếp cận với nguồn vốn mới; nâng cao vai trò quản lý nhà nước và chất lượng quản
trị doanh nghiệp, có tác động thúc đẩy mạnh mẽ các mối quan hệ kinh tế…

Đối với Việt Nam, thu hút nguồn vốn FII mang một ý nghĩa rất quan trọng. Việt Nam
đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Nó đòi hỏi phải nâng
cao năng lực và vai trò quản lý của nhà nước ở tầm vĩ mô hơn là sự can thiệp vào các
công việc kinh tế cụ thể. Ngoài ra, để thực hiện thành công sự nghiệp CNH-HĐH đất
nước, Việt Nam cần một lượng vốn đầu tư rất lớn (khoảng 140 tỷ USD) cho giai đoạn
(2006-2010) để xây dựng, từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế và hạ tầng xã hội.
Do đó, thu hút vốn đầu tư và sự cạnh tranh trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài luôn là
hai mặt của một vấn đề. Chính sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong việc thu hút các
nguồn vốn đầu tư (FDI, FII), khoa học công nghệ tiên tiến là động lực mạnh mẽ giúp cho
Việt Nam đẩy nhanh quá trình cải cách kinh tế một cách toàn diện và sâu sắc hơn. Các
doanh nghiệp Việt Nam đang trong quá trình cải cách và cổ phần hóa nhằm gia tăng năng
lực và hiệu quả cạnh tranh khi gia nhập WTO. Cổ phần hóa phải đi đôi với việc hình
thành các thị trường vốn, các kênh huy động vốn (hạt nhân là thị trường chứng khoán
(TTCK). Các mối quan hệ kinh tế gia tăng, dòng vốn lưu chuyển nhanh sẽ góp phần tạo
ra các hiệu ứng tốt tác động đến các doanh nghiệp. Vì lợi ích của hội nhập không những
được đánh giá thông qua sự luân chuyển (vào, ra) dễ dàng của dòng hàng hóa, dòng
người mà còn có cả dòng vốn.Việc tham gia của các nhà đầu tư FII sẽ có tác động mạnh
mẽ đến thị trường tài chính, giúp cho thị trường tài chính minh bạch và hoạt động hiệu
quả hơn, xác lập giá trị thị trường của các cổ phiếu niêm yết một cách chuyên nghiệp,
giảm thiểu những dao động “phi thị trường” và góp phần giải quyết một cách cơ bản các
mối quan hệ kinh tế (vốn, công nghệ, quản lý…).

Tuy nhiên, dòng vốn FII cũng tiềm ẩn những rủi ro hơn so với các kênh huy động vốn từ
nước ngoài khác. Do vậy, thúc đẩy thu hút FII ổn định, tương xứng với tiềm năng, góp
phần tạo động lực phát triển thị trường vốn, nâng cao năng lực quản trị của nhà doanh
nghiệp và nền kinh tế Việt Nam thời kỳ hậu WTO là vấn đề cần được quan tâm thích
đáng.

Tiềm năng thu hút FII

Theo khảo sát của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) gần đây cho thấy, vào năm 2001 lợi nhuận
từ vốn FII thế giới tăng gấp 2 lần vốn FDI. Trong vòng 4 năm, đầu tư gián tiếp toàn cầu
đã tăng 2 lần; nước có tỷ trọng đầu tư gián tiếp lớn nhất là Mỹ chiếm 24,5%, tiếp đó là
Anh chiếm 10%. Dòng vốn FII đang trỗi dậy mạnh mẽ sau cuộc khủng hoảng tài chính
1997 và đang chuyển hướng đầu tư sang các quốc gia đang phát triển có tiềm năng, nhằm
hạn chế các rủi ro đầu tư.

Hiện có khoảng trên 100 định chế đầu tư tài chính chuyên nghiệp trên thế giới đang quản
lý một khối lượng tài sản khổng lồ, khoảng 300 tỷ USD. Chỉ cần họ chấp nhận đầu tư vào
Việt Nam 0,1% là chúng ta đã có khoảng 300 triệu USD.

Trong nền kinh tế toàn cầu hóa, các yếu tố sản xuất trong quá trình tái sản xuất hàng hóa,
dịch vụ được dịch chuyển tự do hơn từ nơi này sang nơi khác, nhằm phát huy lợi thế so
sánh của mỗi quốc gia thông qua các cam kết mở cửa thị trường. Việt Nam đang nổi lên
như một quốc gia có nhiều tiềm năng thu hút đầu tư nước ngoài. Bên cạnh vị trí địa lý
thuận lợi, chính trị ổn định, tiềm năng tăng trưởng kinh tế dài hạn, Việt Nam còn là một
quốc gia có nhiều lợi thế so sánh hấp dẫn nhà đầu tư như: nguồn lao động, thị trường, tài
nguyên... Hơn nữa, vận nước đang lên, Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò, vị trí và
tầm quan trọng của mình trên bản đồ kinh tế khu vực và thế giới. Sự quan tâm của khu
vực và thế giới tới Việt Nam, đặc biệt là thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, cộng với sự
thành công của các nhà đầu tư hiện hữu tại đây sẽ mở ra cơ hội lớn trong thu hút vốn đầu
tư nước ngoài.

Tóm lại: Nguồn vốn đầu tư gián tiếp (FII) là một tiềm năng rất lớn đối với thu hút vốn
đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Với các yếu tố thuận lợi khách quan, vị thế đất nước
đang lên, Việt Nam hoàn toàn có khả năng khai thác tiềm năng dòng chảy vốn FII của thế
giới phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Thực trạng thu hút FII vào Việt Nam

Nước ta đã có những thành công trong thu hút nguồn vốn FDI, nhưng chưa quan tâm
thích đáng đến nguồn vốn FII. Sau khủng hoảng năm 1997, nguồn vốn FII vào Việt Nam
có xu hướng tăng, nhưng quy mô còn nhỏ và chiếm tỷ lệ thấp so với vốn FDI. Một số quỹ
mới hoạt động tại Việt Nam từ năm 2001 có quy mô vốn bình quân từ 5-20 triệu USD
cho một quỹ nhỏ hơn giai đoạn (1991-1997), chiếm 1,2% vốn FDI, tăng lên 3,7% (2004),
tỷ lệ này còn quá thấp so với các nước trong khu vực (tỷ lệ thu hút FII/FDI trong khoảng
30-40%).

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy, đầu tư FII vào Việt Nam có xu hướng tăng nhanh, năm
2006 đã xuất hiện thêm nhiều quỹ đầu tư mới, cũng như sự cam kết tăng vốn của các quỹ
hiện hữu. Quỹ Vietnam Opportunity Fund (VOF) vừa thông báo tăng thêm 76 triệu USD
nữa, nâng quy mô vốn đến thời điểm hiện tại lên 171 triệu USD. Phía VinaCapital, đơn vị
quản lý Quỹ VOF, kỳ vọng sẽ đầu tư hết khoản vốn tăng thêm này trong vòng 6 đến 9
tháng; sau đó sẽ tiếp tục gọi vốn để tăng quy mô của Quỹ VOF lên 250 triệu USD vào
cuối năm 2006. Theo bản báo cáo của Citigroup ngày 27.9.2006, nhóm nghiên cứu của
Citigroup nhận định Việt Nam là thế lực mới nổi lên “powerhouse” của khu vực Đông
Nam Á, và cho rằng đô thị hóa là một thách thức đối với Việt Nam. Do vậy, Chính phủ sẽ
có những ưu đãi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp lẫn gián tiếp vào lĩnh vực này.

Theo các nhà đầu tư, lý do để họ hướng về Việt Nam là Chính phủ đã khẳng định vai trò
quan trọng của kinh tế tư nhân đối sự phát triển của nền kinh tế, tính chuyên nghiệp hoá
từng bước của môi trường đầu tư và sự thành công của những nhà đầu tư hiện hữu.

Các rào cản thu hút FII

Việt Nam gia nhập WTO, vận nước đang lên… là những cơ hội rất thuận lợi để Việt Nam
thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội này cần phải có sự nỗ lực mạnh
mẽ từ phía Nhà nước, Chính phủ và các doanh nghiệp trong việc tháo gỡ các rào cản
trong lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài. Đối với đầu tư gián tiếp (FII), mặc dù trong thời
gian vừa qua đã có xu hướng tăng nhưng vẫn còn chậm, tỷ lệ vốn FII trên FDI thấp và
quy mô nhỏ. Nguyên nhân là do còn một số rào cản nhất định trong thu hút vốn FII là:

- Chưa có chính sách thu hút vốn và quản lý đầu tư gián tiếp nước ngoài hiệu quả. Sau
cuộc khủng hoảng tài chính khu vực, các tác động tiêu cực của dòng vốn FII chưa được
phân tích, đánh giá đúng vai trò, tiềm năng của nó. Do đó, các nhà hoạch định chính sách
còn khá e ngại trước dòng vốn FII biểu hiện thông qua sự phân biệt đối sử, và các quy
định nhằm hạn chế ngành nghề, và tỷ lệ cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong
doanh nghiệp Việt Nam.

- Việt Nam đang trong quá trình hội nhập, doanh nghiệp đang trong quá trình đổi mới, hệ
thống pháp lý và các quy phạm chưa hoàn thiện, khả năng quản trị doanh nghiệp của các
công ty còn thấp, một số tiêu chí đánh giá chưa theo chuẩn quốc tế, hệ thống kế toán
kiểm toán còn nhiều bất cập, hệ thống thông tin còn thiếu và yếu, các báo cáo tài chính
doanh nghiệp chưa trung thực… là hàng loạt nguyên nhân dẫn đến thị trường tài chính
không minh bạch. Đối với các nhà đầu tư nước ngoài chuyên nghiệp thì đầu tư vào thị
trường tài chính không minh bạch sẽ là một quyết định không khôn ngoan.

- Tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp còn chậm (khoảng 8% các doanh nghiệp trong
tổng số các doanh nghiệp nhà nước phải cơ cấu lại), quy mô của các doanh nghiệp nhỏ.
Các doanh nghiệp cổ phần hóa phần lớn chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán.

- Các nhà đầu tư trên thế giới chưa có nhiều thông tin và hiểu biết về Việt Nam.
- Quy mô và chất lượng các sản phẩm thị trường tài chính Việt Nam còn hạn chế. Đây là
nguyên nhân cơ bản khiến các quỹ đầu tư chưa thật nhiều và chưa tương xứng với tiềm
năng thị trường.

Các giải pháp thu hút FII

Việc thực hiện các cam kết khi gia nhập WTO là một trong những giải pháp quan trọng
để Việt Nam giải quyết các rào cản trong thu hút vốn đầu tư gián tiếp (FII). Ngoài ra, cần
phải tính đến các giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa thu hút FII và hạn chế các
tác động tiệu cực của dòng vốn này trong thời kỳ hậu WTO. Chúng tôi xin có một số kiến
nghị đối với các nhà hoạch định chính sách:

- Cần sớm ban hành và thực thi Chính sách mở cửa thu hút đầu tư gián tiếp (FII), và xem
xét nới lỏng phạm vi ngành nghề hoạt động và tỷ lệ nắm giữ cổ phần đối với các nhà đầu
tư nước ngoài.

- Thúc đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa và niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
đối với các doanh nghiệp nhà nước.

- Thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm gia tăng tính minh bạch thị trường tài chính, gia
tăng quy mô và chất lượng các sản phẩm tài chính. Sớm có những hướng dẫn cụ thể Luật
chứng khoán. Khuyến khích phát triển các công ty quản lý quỹ.

- Tăng cường các kênh thông tin, quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.

- Tiếp tục chính sách tự do hóa tài sản vãng lai nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho sự luân
chuyển của dòng vốn.

- Tăng cường an ninh tài chính, thực hiện các chính sách kiểm soát các dòng vốn khi cần
thiết. Tăng cường phối hợp giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và chính sách thu
hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài; đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan ngân
hàng - tài chính - chứng khoán trong việc quản lý các dòng vốn nhằm đảm bảo sự an
toàn, vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính.

Tại VN, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đã được khơi thông mạnh mẽ khi
thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp (DN) Nhà nước và phát triển thị trường chứng
khoán. Tuy nhiên, việc quản lý nguồn vốn này còn nhiều bất cập.

Chưa có đầu mối quản lý chính thức


Ông Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu Phát triển
kinh tế xã hội Hà Nội, cho biết hiện nay không có cơ
quan nào có nhiệm vụ thống kê nguồn vốn này chứ chưa
nói đến quản lý. Vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài đang ở
trạng thái “chân không”,

có nhiều luật cùng tham gia điều chỉnh nhưng ở những


góc độ khác nhau chứ không có luật điều chỉnh một cách Vốn đầu tư gián tiếp nước
chính thức. Do đó, không thể có số liệu thống kê cụ thể ngoài phần lớn đổ vào thị
tổng lượng vốn gián tiếp các quỹ đầu tư đã đưa vào VN trường chứng khoán. Trong
bao nhiêu, chỉ ước đoán đạt khoảng 5-7 tỉ USD vào năm ảnh: Nhà đầu tư đặt lệnh mua
2007. bán tại sàn chứng khoán Bảo
Việt. Ảnh: H.THÚY
Con số này cũng phù hợp với công bố của các chuyên gia kinh tế chương trình Fulbright
là tổng lượng vốn nước ngoài chảy vào VN năm 2007 đạt khoảng 22-23 tỉ USD, tương
đương 30% GDP, trong đó khoảng 5-6 tỉ USD là đầu tư gián tiếp.

Nếu theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, con số này ước đạt khoảng 6 tỉ USD nhưng
theo Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, chỉ khoảng 4 tỉ USD.

Đây là nguồn vốn quan trọng có tác dụng tăng tổng lượng vốn cần thiết cho VN phát
triển, trực tiếp thúc đẩy thị trường chứng khoán và tạo ra sự hấp dẫn của cổ phiếu DN.
Tuy nhiên, tác động tiêu cực của nó tới nền kinh tế lại rất lớn, không chỉ dừng ở khả năng
mua bán, sáp nhập, thôn tính DN, tăng hoạt động đầu cơ mà có thể gây đổ vỡ thị trường
tài chính nếu nhà đầu tư đồng loạt rút vốn.

Hiện tại, cả hai cơ quan được xem là có chức năng quản lý nguồn vốn này là Bộ Tài
chính và Ngân hàng Nhà nước đều khẳng định chưa có dấu hiệu xấu, song nhiều chuyên
gia kinh tế đã lấy dẫn chứng của sự suy giảm kinh tế toàn cầu để cảnh báo khả năng rút
vốn của các nhà đầu tư nước ngoài có thể xảy ra bất cứ lúc nào và VN cần tính đến mọi
tình huống để sẵn sàng ứng phó.

Tăng dự trữ ngoại hối để tránh sốc

Theo ông Phong, VN vẫn đang ở giai đoạn đầu thu hút vốn nên không thể đặt vấn đề
khống chế lên hàng đầu mà chỉ quản lý theo hướng tạo môi trường thuận lợi cho nguồn
vốn này chảy vào đúng mạch, đúng chỗ, đúng nơi mình muốn. Khi hệ thống pháp lý và
năng lực tài chính chưa đủ, chúng ta vẫn đang phải “nín thở và nương nhẹ”, chỉ có duy
nhất quy định nhà đầu tư nước ngoài được mua 49% cổ phần tại DN Nhà nước.

Đây là dòng vốn năng động nhất, linh hoạt nhất nhưng cũng nguy hiểm nhất vì dễ đảo
chiều. Bài học thế giới đã có nhiều. Thái Lan, năm 2006, đã quy định nhà đầu tư gián tiếp
phải trích 30% vốn để ở ngân hàng trung ương, lập tức nhà đầu tư tháo chạy, chính phủ
phải dỡ bỏ chính sách này trong một ngày.
Theo ông Võ Trí Thành, Trưởng Ban Kinh tế hội nhập quốc tế - Viện Nghiên cứu Quản
lý kinh tế Trung ương, trong thời điểm cần vốn cho thị trường chứng khoán và cần ngoại
tệ cho cân đối tài khoản vãng lai thì không nên đặt nặng vấn đề kiểm soát vốn nước
ngoài.

Tốt nhất nên có cơ chế tạo điều kiện thu hút thêm và nắm bắt được lượng vốn vào ra. Lúc
này là cơ hội tốt để VN tranh thủ tăng cường dự trữ ngoại hối vì dự trữ của VN vẫn ở
mức thấp nhất khu vực.

Xây dựng cơ chế quản lý, giám sát

Ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển VN (BIDV), nhận định thâm hụt thương mại và ngân
sách của VN đang tăng cao, tiềm ẩn những rủi ro lớn. Điều
này sẽ trầm trọng thêm nếu thị trường tài chính thế giới tiếp
tục bất ổn, dòng vốn nước ngoài có sự đảo chiều. Chính phủ
cần xây dựng các cơ chế quản lý, giám sát vốn đầu tư gián
tiếp, có các biện pháp quản lý dòng tiền vào ra trên tài khoản
vốn và có dự báo chính xác. Đồng thời phải duy trì tốt quỹ dự
trữ ngoại hối quốc gia để kịp thời can thiệp khi thị trường có
biến động. Dự trữ ngoại hối có tác dụng chống đỡ những cú
sốc cho nền kinh tế trong thương mại quốc tế và điều hòa
những biến động của các dòng lưu chuyển vốn.

Mấy năm qua, Việt Nam thu được kết quả khả quan trong thu hút đầu tư nước ngoài,
nhất là năm 2008 với con số kỷ lục FDI đạt 64 tỉ đô la vốn đăng ký và 11,5 tỉ đô la
vốn giải ngân.
Hoạt động đầu tư nước ngoài bao gồm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI - Foreign
Direct Investment) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI - Foreign Portfolio
Investment). Hoạt động đầu tư nước ngoài trên thế giới năm 2009 sẽ co lại đáng kể
do tác động của khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ và suy thoái kinh tế toàn
cầu. Việt Nam dù vẫn được coi là địa bàn đầu tư hấp dẫn và cứ cho rằng ta có thêm
những cố gắng mới thì thu hút đầu tư nước ngoài của ta cũng không thể đi ngược xu
thế chung.

FDI giảm so với năm 2008

Theo dự báo, vốn đăng ký FDI năm 2009 có thể chỉ bằng non một nửa so với
năm 2008, tức khoảng 20 tỉ đô la. Sự sụt giảm này có nguyên nhân của suy thoái
kinh tế toàn cầu, mặt khác những dự án lớn như lọc dầu, sản xuất thép, khu du lịch
sinh thái với quy mô vài tỉ đô la/dự án như năm 2008 sẽ ít đi.
Vốn thực hiện năm 2009 sẽ ở mức nào? Để có căn cứ xác định được con số này
tương đối chính xác, cần làm rõ thêm nội hàm của những con số mà chúng ta thường
công bố về thu hút FDI.
Vốn đăng ký (committed capital) , là tổng vốn đầu tư mà các bên (cả nước ngoài
và Việt Nam) cam kết, hay hứa sẽ bỏ ra để thực hiện dự án được cấp phép. Vốn thực
hiện FDI mà ta thường công bố là vốn thực hiện của các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài (FIEs), bao gồm cả vốn của bên nước ngoài và bên Việt Nam. Vốn mà các
nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam, trên thế giới gọi là vốn nước ngoài giải
ngân (disbursed capital), là bao nhiêu để thực hiện dự án mới thực sự có ý nghĩa đối
với nền kinh tế, đối với các cân đối kinh tế vĩ mô.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài ( http://mpi.gov.vn ), qua 20 năm thu
hút đầu tư nước ngoài từ 1988-2007, bên nước ngoài (cả vốn góp và vốn vay) đã giải
ngân 37,9 tỉ đô la, bằng 45% so với 83 tỉ đô la tổng vốn đăng ký cùng kỳ.
Vốn nước ngoài giải ngân thực hiện dự án bằng khoảng một nửa vốn đăng ký là
bình thường, lý giải được. Trước hết, một số dự án được cấp phép, nhưng vì nhiều lý
do không triển khai được, bị rút giấy phép với số vốn chiếm khoảng 10% tổng vốn
đăng ký.
Thứ hai, trong vốn đăng ký có phần góp vốn của bên Việt Nam trong liên doanh,
thường khoảng 30%, tính cả các dự án 100% vốn nước ngoài (20% tổng vốn đăng
ký) thì vốn góp của bên Việt Nam còn chiếm 24% tổng vốn đăng ký.
Thứ ba, vốn pháp định hoặc vốn điều lệ mới là quy định có tính pháp lý buộc nhà
đầu tư nước ngoài đưa vốn vào Việt Nam thực hiện dự án, tỷ lệ này độ 40%. Còn lại
60% là vốn vay, trong đó khoảng 30% huy động trong nước, bằng 18% tổng vốn
đăng ký.
Loại trừ ba khoản trên, ta thấy FDI chảy vào Việt Nam hay vốn nước ngoài giải
ngân để thực hiện dự án bằng 48% tổng vốn đăng ký. Để đạt được 45% theo con số
của Cục Đầu tư nước ngoài hay 48% theo con số ước tính của tác giả, các dự án phải
trải qua một khoảng thời gian tương đối dài, những dự án có quy mô vốn đầu tư
càng lớn thì thời gian càng dài hơn.
Tỷ lệ này có thể đạt được tính trên tổng vốn đăng ký của các dự án triển khai đầu
tư xây dựng trong năm. Việc so sánh tỷ lệ vốn thực hiện với vốn đăng ký của cùng
một năm là khập khiễng, thiếu khoa học. Bởi vì trong đầu tư bao giờ cũng có độ trễ,
thời gian thi công kéo dài và có sự gối đầu. Xin đừng nhận xét và băn khoăn rằng
vốn đăng ký năm 2008 lên đến 64 tỉ đô la, nhưng tỷ lệ vốn thực hiện thấp dần, chỉ
còn 18% (11,5/64) thay vì 40-50% so với nhiều năm trước đây.
Theo cách diễn giải trên, con số vốn thực hiện của các FIEs và vốn nước ngoài
giải ngân năm 2009 có thể tính toán được. Căn cứ vào những số liệu thu hút FDI và
tiến độ thực hiện dự án trong thời gian qua, có thể đưa ra con số sơ bộ, quy mô vốn
đầu tư của các dự án FDI sẽ triển khai đầu tư xây dựng năm 2009 (bao gồm cả khởi
công và chuyển tiếp, cả đầu tư mới và cải tạo mở rộng) là khoảng từ 20-22 tỉ đô la.
Vốn thực hiện của các FIEs tính theo tỷ lệ 45% trên tổng vốn 20-22 tỉ đô la tối đa
cũng chỉ bằng năm 2008. Con số ước tính này là trong điều kiện bình thường như
mấy năm qua.
Theo Andrew Mold, chuyên gia kinh tế của Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển
(OECD), khủng hoảng tài chính tác động đến thu hút FDI ở mấy khía cạnh: Một, các
nhà đầu tư nước ngoài đẩy mạnh chuyển lợi nhuận về nước, có trường hợp vốn chảy
ra nhiều hơn thu hút về. Năm 2007 các nhà đầu tư nước ngoài đã chuyển ra khỏi
Chile 21,7 tỉ đô la, chiếm 13,3% GDP.
Hai, việc tài trợ vốn giữa công ty mẹ ở bản quốc và công ty con ở nước nhận đầu
tư giảm sút nghiêm trọng trong những năm khủng hoảng; các nước phát triển, địa
chỉ cung cấp nguồn tài chính chủ yếu cho hoạt động FDI, quay về trong nước để
ngăn chặn suy giảm kinh tế hơn là đầu tư ra nước ngoài.
Trong thời kỳ suy thoái kinh tế 2000-2001, đầu tư ra nước ngoài giảm gần 50%.
Nếu tính đến tác động của khủng hoảng tài chính và suy thoái toàn cầu thì vốn FDI
nước ngoài giải ngân năm 2009 có thể giảm tới 20% so với năm 2008.
Theo đó, vốn nước ngoài giải ngân bằng khoảng 80% của 8,5 tỉ đô la năm 2008,
tức 6,8 tỉ đô la, tương đương 115.600 tỉ đồng. So với kế hoạch đề ra, vốn FDI giải
ngân giảm 67.400 tỉ đồng (183.000 -115.600 tỉ đồng), chiếm 3,7% GDP. Tính toán
trên cơ sở vốn đầu tư phát triển vẫn đóng góp khoảng 60% cho tăng trưởng, hệ số
ICOR của năm 2009 là 6 thì riêng việc vốn FDI giải ngân giảm làm GDP mất 0,36
điểm phần trăm.

Thu hút FPI khó khăn

Với việc giảm tới 67%, từ 927 điểm đầu năm giảm còn 315 điểm vào cuối năm,
thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2008 có thể nói là thị trường suy thoái nhất
toàn cầu trong năm. Theo tính toán của tập đoàn Ngân hàng Hồng Kông - Thượng
Hải, HSBC (http://vneconomy.vn), năm 2008, tính theo đô la, VN-Index sụt mất
69%, mức giảm tồi tệ nhất trong số các thị trường chứng khoán châu Á. Chỉ số MSCI
của thị trường chứng khoán châu Á, trừ Nhật Bản, chỉ giảm có 53% trong năm qua.
Trong sáu tuần cuối năm, các thị trường thuộc chỉ số MSCI châu Á - trừ Nhật,
phục hồi 23%, trong khi đó thị trường chứng khoán Việt Nam giảm 6%. Khối lượng
giao dịch cũng giảm mạnh, từ gần 1.000 tỉ đồng/phiên xuống còn 300-400 tỉ
đồng/phiên.
Trong khi nền kinh tế chưa bị suy thoái như các quốc gia khác, việc thị trường
chứng khoán rơi tự do như vậy đã bộc lộ nhiều yếu kém của thị trường. Đó là ảnh
hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính sách tiền tệ thắt chặt, nguồn cung
cổ phiếu tăng, các nhà đầu tư nước ngoài bán ra nhiều hơn mua vào, doanh thu và
lợi nhuận của các công ty niêm yết sụt giảm, chất lượng quản trị rủi ro chậm được
cải thiện, tâm lý bi quan của nhà đầu tư.
Bên cạnh đó, một nguyên nhân được nhiều người trong giới kinh doanh chứng
khoán đồng tình là, trong hai năm 2006 và 2007 thị trường phát triển quá nóng hơn
khả năng thực, thị trường bong bóng xuất hiện, năm 2008 thị trường bong bóng xì
hơi, trở về khả năng thực của nó.
Năm 2008 là năm Việt Nam thất bát trong huy động vốn qua thị trường chứng
khoán và IPO, và điều này sẽ kéo dài sang năm 2009. Hiện tại các nhà đầu tư nước
ngoài có nhiều sự lựa chọn đáng giá hơn. Thị trường chứng khoán và bất động sản ở
nước ngoài đang rẻ. Thay vì đầu tư vào thị trường Việt Nam đắt hơn, nhiều rủi ro,
thiếu thanh khoản và thiếu thông tin, thì họ đầu tư vào các nước phát triển với tỷ
suất lợi nhuận cao hơn và ít rủi ro hơn.
Việc giảm sút tới hơn hai phần ba như năm 2008 của thị trường chứng khoán đã
tạo ấn tượng chẳng tốt đẹp gì tới nhà đầu tư nước ngoài. Giá trị danh mục của các
nhà đầu tư nước ngoài trên thị trường chứng khoán Việt Nam vào khoảng 8,4 tỉ đô la
đến đầu năm 2008, nhưng đến đầu tháng 1-2009 giá trị này chỉ còn khoảng 4,6 tỉ đô
la, giảm gần 4 tỉ đô la so với năm đầu năm 2008.
Theo ông Nguyễn Sơn, Trưởng ban Phát triển thị trường của Ủy ban Chứng khoán
Nhà nước, giá trị danh mục đầu tư giảm mạnh nhưng dòng vốn rút ra khỏi Việt Nam
không nhiều, một phần do giá cổ phiếu đã giảm khoảng 70% giá trị, một phần do
nhà đầu tư nước ngoài cơ cấu lại danh mục đầu tư, một phần dòng vốn chuyển sang
kênh đầu tư khác như đầu tư bất động sản (http://vnexpress.net 3-2-2009).
HSBC dự báo năm 2009 vốn FPI vào Việt Nam có thể thấp hơn năm 2008. Tóm
lại, năm 2009 vốn FDI giải ngân sụt giảm, thu hút FPI bị thu hẹp. Đồng thời, đầu tư
từ ngân sách trước thách thức giá dầu có thể không đạt như kế hoạch dự kiến, nhịp
tăng xuất khẩu, nhập khẩu thấp hơn năm 2008. Đầu tư của doanh nghiệp gặp khó
khăn hơn do doanh số và lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp đi xuống.
Bên cạnh đó, năm 2009 yếu tố lao động và năng suất lao động đóng góp cho
tăng trưởng GDP sẽ kém hơn năm 2008 do thất nghiệp gia tăng. Một số tổ chức kinh
tế nước ngoài như IMF, HSBC dự báo mức tăng GDP của Việt Năm sẽ đạt khoảng
trên 5%, thấp hơn 1,5 điểm phần trăm so với kế hoạch đề ra.