You are on page 1of 6

CÂU 1 :BẠN CHO BIẾT TẠI CÁC HỘI NGHỊ NÀO BỘ CHÍNH TRỊ ĐÃ BÀN VỀ CUỘC TIẾN

CÔNG CHIẾN LƯỢC ĐÔNG XUÂN 1953-1954 VÀ QUYẾT ĐỊNH CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN
PHỦ ?
Trả Lời :Bộ Chính trị đã bàn về cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 và quyết định chiến
dịch Điện Biên Phủ tại các cuộc họp:
•Hội nghị thứ nhất: Vào tháng 9 năm 1953, tại an toàn khu ở huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, Bộ
Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn về chủ
trương tác chiến Đông Xuân 1953-1954.Tại Hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thay mặt Tổng quân
uỷ trình bày hai phương án tác chiến đã được nghiên cứu . Tại Hội nghị, Đại tướng Võ Nguyên Giáp
thay mặt Tổng quân uỷ trình bày hai phương án tác chiến đã được nghiên cứu.Sau khi nghe hai phương
án tác chiến, Bộ Chính trị khẳng định sự đúng đắn của phương hướng chiến lược mà Hội nghị lần thứ tư
của Trung ương Đảng đã vạch ra và phê chuẩn phương án thứ hai. Phương án này cho rằng: lúc này địch
tập trung cao độ quân chủ lực để tác chiến với ta ở đồng bằng; chiến trường đồng bằng có nhiều thuận
lợi cho địch, nếu ta đánh lớn vào đồng bằng chỉ có thể thu được những thắng lợi có hạn, không thay đổi
được cục diện chiến tranh mà chủ lực ta có thể tiêu hao. Tây Bắc Việt Nam và Lào là nơi địch yếu
nhưng chúng không thể bỏ. Đưa bộ đội chủ lực lên hướng đó, mặc dù có khó khăn rất lớn về tiếp tế,
nhưng ta buộc địch phải phân tán lực lượng, ta có thể tranh thủ tiêu diệt sinh lực địch, đẩy mạnh hoạt
động ở khắp các chiến trường sau lưng địch, tạo điều kiện tiến tới giải phóng đồng bằng Bắc Bộ.Tại Hội
nghị, Chủ tịch Hồ Chí Minh kết luận: “Phương hướng chiến lược không thay đổi”.Theo phương hướng
chiến lược ấy, Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến Đông Xuân 1953-1954, giữ vững quyền chủ
động đánh địch trên cả hai mặt trận chính diện và sau lưng địch, phối hợp trên phạm vi cả nước và phối
hợp trên toàn Đông Dương.
•Hội nghị thứ hai : Ngày 6 tháng 12 năm 1953, tại Tỉn Keo, xã Phú Đình, huyện Định Hoá, Bộ Chính
trị, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau khi nghe Đại
tướng Võ Nguyên Giáp, thay mặt Tổng quân uỷ trình Bộ Chính trị “Phương án tác chiến mùa xuân năm
1954” và báo cáo quyết tâm. Trong phương án tác chiến, Tổng Quân uỷ cho rằng: “Trong Đông Xuân
1953-1954, phải nhằm trường hợp địch tăng cường thành lập tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mà chuẩn
bị.” . Sau khi phân tích tình hình địch ta, những khó khăn và thuận lợi, Bộ Chính trị nêu quyết tâm của
toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta sẽ tập trung toàn lực, nhất định bảo đảm cho chiến dịch. Bộ Chính trị
thông qua phương án tác chiến này. Cũng tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị cho Đại
tướng Võ Nguyên Giáp: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà
cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân , toàn
Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”.Cũng tại Tỉn Keo, đầu tháng 1 năm 1954, Bộ Chính trị
quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
CÂU 2 : CĂN CỨ VÀO TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO NÀO CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VÀ BÁC HỒ MÀ
ĐẢNG ỦY VÀ BỘ CHỈ HUY CHIẾN DỊCH ĐÃ LỰA CHỌN PHƯƠNG CHÂM THÍCH HỢP
ĐÚNG ĐẮN TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ ?
Trả Lời :
Hội nghị Bộ Chính trị họp tại An toàn khu ở huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên, vào tháng 9 năm
1953, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, dưới sự chủ toạ của Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã bàn về chủ trương tác chiến Đông Xuân 1953-1954 đưa ra tư tưởng chỉ đạo sau đây:
Phương châm: Tích cực, chủ động, cơ động, linh hoạtϖ .
Các nguyên tắc về chỉ đạo chiến lược và chỉ đạo tác chiến mà Bộ Chính trịϖ nhấn mạnh là:
1- Tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng lực lượng ta.
2- Đánh chắc tiến chắc.
3- Chọn nơi địch sơ hở mà đánh, chọn nơi địch tương đối yếu mà đánh.
4- Giữ vững chủ động, kiên quyết buộc địch phải phân tán.
• Ngày 10 tháng 12 năm 1953, ta tiến công địch ở Lai Châu. Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân
1953-1954 bắt đầu .
• Ngày 21 tháng 12 năm 1953, ta tiến công địch ở Trung Lào.
• Ngày 27 tháng 1 năm 1954, ta tiến công địch ở Tây Nguyên.
• Ngày 26 tháng 1 năm 1954, quân giải phóng Pa-thét Lào giúp sức hai cánh quân của Đại đoàn
308 đã tiến vào phòng tuyến sông Nậm Hu. Sau năm ngày chiến đấu, phòng tuyến sông Nậm Hu
con đường liên lạc chiến lược của địch với Điện Biên Phủ đã bị cắt đứt.
• Cũng trong tháng giêng năm 1954, tại đồng bằng Bắc Bộ, sư đoàn 320 cùng bộ đội địa phương
trên các hướng tiêu diệt hàng loạt vị trí, tiêu diệt nhiều quân địch, kìm giữ nhiều lực lượng cơ
động của địch ở đồng bằng, hỗ trợ đắc lực cho chiến trường khác.Tại Bình Trị Thiên, Nam Trung
Bộ, Nam Bộ cũng đẩy mạnh cuộc tiến công về quân sự, chính trị, kết hợp với chiến dịch nguỵ vận
để phối hợp với chiến trường chính.
• Giữa tháng giêng năm 1954, khi các Đại đoàn chủ lực của ta đã đến các vị trí tập kết, Bộ Chính
trị chỉ thị cho Đảng uỷ Mặt trận kiểm tra lại tình hình, bảo đảm đánh chắc thắng.
• Lúc đầu khi tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ mới hình thành, cơ sở, công sự của địch chưa được
củng cố, lực lượng địch ở đây chưa mạnh, chưa được tăng cường, nên ta chủ trương giải quyết
bằng cách đánh nhanh thắng nhanh trong 3 đêm hai ngày. Với chủ trương này có nhiều điểm
thuận lợi đối với ta: quân ta còn sung sức, cuộc chiến không kéo dài, ít tiêu hao sinh lực, vấn đề
cung cấp tiếp tế có thể đảm bảo được. Nhưng sau khi kiểm tra, cân nhắc kỹ các mặt, Đảng uỷ và
Bộ chỉ huy Mặt trận quyết định hoãn thời gian nổ súng, báo cáo về Bộ Chính trị: “Quyết tâm thay
đổi phương châm tác chiến từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc dù phải khắc
phục nhiều khó khăn” ( Điện báo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp lên Bộ Chính trị ngày 30-1-
1954). Việc xác định phương châm chiến dịch “đánh chắc tiến chắc” dựa trên các căn cứ sau:
- Quân địch đã tăng cường lực lượng, tổ chức hệ thống phòng ngự vững chắc, nếu đánh nhanh,
giải quyết nhanh thì không đảm bảo thắng lợi.
- Đánh chắc tiến chắc là đánh từng bước để có thể tập trung ưu thế tuyệt đối về binh lực, hoả lực
vào từng cuộc chiến đấu, bảo đảm chắc thắng cho từng cuộc chiến đấu, do đó bảo đảm chắc thắng
cho chiến dịch.
- Đánh chắc tiến chắc, bộ đội ta giữ được chủ động hoàn toàn, chuẩn bị đầy đủ và chắc thắng thì
đánh, không chắc thắng thì chưa đánh.
- Chuyển phương châm chiến dịch từ đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc tiến chắc là
chủ trương chính xác, kịp thời, kiên quyết của Đảng uỷ, Bộ chỉ huy Mặt trận. Nó quán triệt tư
tưởng cơ bản “đánh chắc thắng” của Trung ương Đảng, tạo ra bước lớn mạnh nhảy vọt của quân
đội ta, tiêu diệt được tập đoàn kiên cố, mạnh nhất của địch.
[b]CÂU 3 : BẠN CHO BIẾT TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ , ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC
ĐÃ PHONG TẶNG DANH HIỆU ANH HÙNG QUÂN ĐỘI CHO BAO NHIÊU ĐỒNG CHÍ ?
BẠN HÃY NÊU CHIẾN CÔNG CỦA 4 ANH HÙNG LIỆT SỸ TẠI MẶT TRẬN ĐIỆN BIÊN
PHỦ : TÔ VĨNH DIỆN , BẾ VĂN ĐÀN , PHAN ĐÌNH GIÓT , TRẦN CAN ?
Trả Lời:
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước ta tặng danh hiệu Anh hùng Quân đội cho 18 đồng
chí gồm:
1- Anh hùng Liệt sỹ Bế Văn Đàn.
2- Anh hùng Liệt sỹ Phan Đình Giót.
3- Anh hùng Liệt sỹ Tô Vĩnh Diện.
4 Anh hùng Liệt Sỹ Trần Can.
5- Anh hùng Bùi Đình Cư.
6- Anh hùng Phùng Văn Khầu.
7- Anh hùng Chu Văn Mùi.
8- Anh hùng Nguyễn Văn Ty.
9- Anh hùng Phan Tư.
10- Anh ùng Nguyễn Văn Thuần.
11- Anh hùng Lộc Văn Trọng.
12- Anh hùng Dương Qung Châu.
13- Anh hùng Đặng Đình Hồ.
14- Anh hùng Trần Đình Hùng.
15- Anh hùng Đinh Văn Mẫu.
16- Anh hùng Đặng Đức Song.
17- Anh hùng Lưu Viết Thong.
18- Anh hùng Liệt Sỹ Hoàng Văn Nô.
Chiến công của 4 Anh hùng Liệt sỹ tại mặt trận Điện Biên Phủ:
1- Anh hùng Liệt sỹ Bế Văn Đàn :
Bế Văn Đàn sinh năm 1931, dân tộc Tày, quê ở xã Quang Vinh, huyện Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng. Khi
hy sinh đồng chí là Tiểu đội phó bộ binh thuộc đại đoàn 316, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bế Văn Đàn xuất thân từ gia đình vô sản, mẹ chết sớm, cha làm thợ mỏ, chú hoạt động cách mạng bị
giặc Pháp giết, đồng chí phải đi ở cho địa chủ từ nhỏ. Sau năm năm đi ở, đồng chí trốn về ở với dì và
tham gia du kích. Tháng 1 năm 1949, Bế Văn Đàn xung phong vào bộ đội và tham gia nhiều chiến dịch,
chiến dịch nào cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từ ngày nhập ngũ đến lúc hy sinh, đồng chí luôn
nêu cao tinh thần dũng cảm, tích cực vượt qua mọi khó khăn ác liệt, chấp hành tất cả mệnh lệnh nghiêm
túc, chính xác, kịp thời.
Đông Xuân 1953-1954, Bế Văn Đàn làm liên lạc tiểu đoàn đưa đơn vị hành quân đi chiến dịch. Một đại
đội của tiểu đoàn đồng chí được giao nhiệm vụ bao vây địch ở Mường Pồn. Thấy lực lượng ta ít, địch
tập trung hai đại đội có phi pháo yểm trợ liên tiếp phản kích, nhưng cả hai lần chúng đều bị quân ta đánh
bật lại. Tình hình hết sức căng thẳng. Địch liều chết nống ra. Ta kiên quyết ngăn chặn. Lúc này trên có
lệnh cho đại đội quyết tâm giữ vững trận địa bằng bất cứ giá nào để đơn vị triển khai lực lượng thực hiện
chủ trương chung của chiến dịch. Bế Văn Đàn vừa đi công tác về đã xung phong làm nhiệm vụ. Đồng
chí dũng cảm vượt qua lưới đạn dày đặc của địch xuống truyền đạt mệnh lệnh cho đại đội kịp thời, chu
đáo. Trận chiến ngày càng ác liệt, đồng chí được lệnh ở lại đại đội chiến đấu. Địch phản công đợt thứ ba,
điên cuồng mở đường tiến. Quân ta bị thương vong nhiều, chỉ còn 17 người, bản thân Bế Văn Đàn cũng
bị thương nhưng đồng chí vẫn tiếp tục chiến đấu. Một khẩu trung liên của đơn vị không bắn được vì xạ
thủ hy sinh. Khẩu trung liên của Chu Văn Pù cũng chưa bắn được vì vận động lên không có chỗ đặt
súng. Tình thế hết sức khẩn trương, không ngần ngại, Bế Văn Đàn chạy lên cầm hai chân trung liên đặt
lên vai mình và hô bạn bắn. Pù còn do dự thì Bế Văn Đàn nói: “Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương
tôi thì bắn chết chúng nó đi!”. Pù nghiến răng nổ súng vào đội hình quân địch, quật ngã liên tiếp hàng
chục tên địch làm bọn chúng hoảng hốt bỏ chạy. Đợt phản kích của chúng bị bẻ gẫy. Trong thời gian
đứng làm giá súng, Bế Văn Đàn bị hai vết thương và đã anh dũng hy sinh, hai tay còn ghì chặt chân
súng trên vai mình. Tấm gương dũng cảm của Bế Văn Đàn đã cổ vũ cán bộ chiến sỹ trên toàn mặt trận
hăng hái xông lên tiêu diệt quân thù, đem toàn thắng về cho chiến dịch.
Trong Đại hội mừng công của đơn vị, Bế Văn Đàn được truy tặng Huân chương Chiến công hạng nhất
và được bình bầu là chiến sỹ thi đua số một của Đại đoàn 316.
Ngày 31 tháng 8 năm 1955, Bế Văn Đàn được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà truy tặng
Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
2- Anh hùng Liệt sỹ Phan Đình Giót :
Phan Đình Giót sinh năm 1922, dân tộc Kinh, quê ở làng Vịnh Yên, xã Tam Quan, huyện Cẩm Xuyên,
tỉnh Hà Tĩnh. Đồng chí nhập ngũ năm 1950. Khi hy sinh đồng chí là Tiểu đội phó bộ binh Đại đội 58,
Tiểu đoàn 428, Trung đoàn 141, Đại đoàn 312, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.Gia đình đồng chí
Phan Đình Giót rất nghèo. Bố bị chết đói. Đồng chí phải đi ở từ năm 13 tuổi cực nhọc, vất vả. Cách
mạng tháng Tám thành công, đồng chí tham gia tự vệ chiến đấu, đến năm 1950, đồng chí xung phong đi
bộ đội chủ lực. Trong cuộc sống tập thể quân đội, Phan Đình Giót luôn tự giác gương mẫu về mọi mặt,
hết lòng thương yêu giúp đỡ đồng đội, sẵn sàng nhận khó khăn về mình, nhường thuận lợi cho bạn nên
được đồng đội mến phục. Phan Đình Giót tham gia nhiều chiến dịch lớn như: Trung Du, Hoà Bình, Tây
Bắc, Điện Biên Phủ.
Mùa đông năm 1953, đơn vị đồng chí được tham gia chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Hành quân gần
500 km, vượt qua nhiều đèo dốc, mang vác nặng nhưng đồng chí vẫn kiên trì, giúp đồng đội về tới đích.
Trong nhiệm vụ xẻ núi, mở đường, kéo pháo lên đèo xuống dốc vào trận địa rất gay go gian khổ, đồng
chí đã nêu cao tinh thần gương mẫu, bền bỉ và động viên anh em kiên quyết chấp hành nghiêm mệnh
lệnh của cấp trên. Chiều ngày 13 tháng 3 năm 1954, quân ta nổ súng tiêu diệt Him Lam. Cả trận địa rung
chuyển mù mịt sau nhiều loạt pháo ta bắn chuẩn bị. Các chiến sỹ đại đội 58 lao lên mở đường, đã liên
tiếp đánh đến quả bộc phá thứ tám. Phan Đình Giót đánh quả thứ chín thì bị thương vào đùi nhưng vẫn
xung phong đánh tiếp quả thứ mười. Địch tập trung hoả lực trút đạn như mưa xuống trận địa ta. Đồng
đội bị thương vong nhiều. Lửa căm thù bốc cao, đồng chí lao lên đánh liên tiếp hai quả nữa phá toang
hàng rào cuối cùng, mở thông đường để đồng đội lên đánh sập lô cốt đầu cầu. Lợi dụng thời cơ địch
đang hoang mang, Phan Đình Giót vọt lên bám chắc lô cốt số 2, ném thủ pháo, bắn kiềm chế cho đơn vị
tiến lên. Đồng chí lại bị thương vào vai, máu chẩy đầm đìa. Nhưng bất ngờ từ hoả điểm lô cốt số 3 của
địch bắn rất mạnh vào đội hình ta. Lực lượng xung kích bị ùn lại, Phan Đình Giót cố gắng lê lên nhích
dần đến gần lô cốt số 3 với ý nghĩ cháy bỏng, duy nhất là dập tắt ngay lô cốt này. Đồng chí đã dùng hết
sức mình còn lại nâng tiểu liên lên bắn mạnh vào lỗ châu mai, miệng hô to: “Quyết hy sinh…vì Đảng…
vì dân!!..” rồi rướn người lấy đà, lao cả thân mình vào bịt kín lỗ châu mai địch. Hoả điểm lợi hại nhất
của địch đã bị dập tắt, toàn đơn vị ào ạt xông lên như vũ bão, tiêu diệt gọn cứ điểm Him Lam, giành
thắng lợi trong trận đánh mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ.
Phan Đình Giót đãđược Tiểu đoàn, Đại đoàn khen thưởng 4 lần.
Ngày 31 tháng 3 năm 1955, Phan Đình Giót được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà truy tặng
Huân chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
3- Anh hùng Liệt sỹ Tô Vĩnh Diện :
Tô Vĩnh Diện sinh năm 1924, dân tộc Kinh, quê ở xã Nông Trường, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá.
Đồng chí nhập ngũ tháng 7 năm 1949. Khi hy sinh, đồng chí là Tiểu đội trưởng pháo cao xạ 37 ly thuộc
Đại đội 827, Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367.Tô Vĩnh Diện sinh trưởng trong một gia đình nghèo, lên 8
tuổi đã phải đi ở cho địa chủ. Suốt 12 năm đi ở, đồng chí phải chịu bao cảnh áp bức bất công. Năm
1946, đồng chí tham gia dân quân ở địa phương. Năm 1949, đồng chí xung phong đi bộ đội. Trong học
tập công tác, đồng chí luôn thể hiện tinh thần gương mẫu đi đầu, lôi cuốn đồng đội noi theo. Trong hành
quân chiến đấu, đồng chí đã cùng đồng đội bền bỉ vượt qua khó khăn, chấp hành nghiêm chỉnh các
mệnh lệnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Tháng 5 năm 1953, quân đội ta thành lập các đơn vị pháo cao xạ để chuẩn bị đánh lớn. Đồng chí Tô
Vĩnh Diện được điều về làm tiểu đội trưởng một đơn vị pháo cao xạ. Trong quá trình hành quân cơ động
trên chặng đường hơn 1000 km tới vị trí tập kết để tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, đồng chí luôn
luôn gương mẫu làm mọi việc nặng nhọc, động viên giúp đỡ đồng đội kéo pháo tới đích an toàn.Trong
lúc kéo pháo qua những chặng đường khó khăn nguy hiểm, đồng chí xung phong lái để bảo đảm an toàn
cho khẩu pháo. Trong lúc kéo pháo cũng như lúc nghỉ dọc đường, Tô Vĩnh Diện luôn luôn nhắc đồng
đội chuẩn bị chu đáo và tự mình đi kiểm tra tỉ mỉ đường dây kéo pháo, xem xét từng đoạn đường, từng
cái dốc rồi phổ biến cho anh em để tránh những nguy hiểm bất ngờ xẩy ra.Kéo pháo vào đã gian khổ, hy
sinh, kéo pháo ra càng gay go ác liệt, đồng chí đã đi sát từng người, động viên giải thích nhiệm vụ, giúp
anh em xác định quyết tâm cùng nhau khắc phục khó khăn để đảm bảo thắng lợi.
Qua 5 đêm kéo pháo ra đến dốc Chuối, đường hẹp và cong rất nguy hiểm. Tô Vĩnh Diện cùng đồng chí
Ty xung phong lái pháo. Nửa chừng dây tời bị đứt, pháo lao nhanh xuống dốc, đồng chí vẫn bình tĩnh
giữ càng, lái cho pháo thẳng đường. Nhưng một trong bốn dây kéo pháo lại bị đứt, pháo càng lao nhanh,
đồng chí Ty bị hất xuống suối. Trong hoàn cảnh hiểm nghèo đó, Tô Vĩnh Diện hô anh em: “Thà hy sinh,
quyết bảo vệ pháo” và đồng chí buông tay lái xông lên phía trước, lấy thân mình chèn vào bánh pháo,
nhờ đó đơn vị kịp ghìm giữ pháo dừng lại.
Tấm gương hy sinh vô cùng anh dũng của đồng chí Tô Vĩnh Diện đã cổ vũ mạnh mẽ toàn đơn vị vươn
lên hoàn thành tốt nhiệm vụ, chuẩn bị chiến đấu và chiến đấu thắng lợi.
Tô Vĩnh Diện đã được tặng thưởng một Huân chương Chiến công hạng nhất.Ngày 7 tháng 5 năm 1955,
Tô Vĩnh Diện được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà truy tặng Huân chương Quân công hạng
nhì và được tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
4- Anh hùng Liệt sỹ Trần Can :
Trần Can sinh năm 1931, dân tộc Kinh, quê ở xã Sơn Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Đồng chí
nhập ngũ tháng 1 năm 1951. Khi hy sinh đồng chí là Đại đội phó bộ binh thuộc Trung đoàn 209, Đại
đoàn 312, Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.Từ hồi còn nhỏ, Trần Can rất ham thích vào bộ đội để
được cầm súng giết giặc cứu nước. Lớn lên, đã ba lần đồng chí xung phong tình nguyện xin đi bộ đội,
nhưng vì sức yếu nên đến lần thứ tư mới được chấp nhận.
Từ khi vào bộ đội, Trần Can chiến đấu rất dũng cảm, mưu trí, chỉ huy hết sức linh hoạt. Trong mọi
trường hợp khó khăn ác liệt, đồng chí đều kiên quyết dẫn đầu đơn vị vượt lên hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ, đã hai lần đồng chí bị thương nặng vẫn tiếp tục chiến đấu, chỉ huy đơn vị kiên quyết tiến công tiêu
diệt địch. Tấm gương của đồng chí Trần Can đã thiết thực cổ vũ phong trào thi đua giết giặc lập công sôi
nổi trong toàn đơn vị.
Trong trận đánh đồi Him Lam mở đầu cho chiến dịch Điện Biên Phủ, Trần Can được giao nhiệm vụ chỉ
huy tiểu đội thọc sâu diệt sở chỉ huy và cắm lá cờ “Quyết chiến quyết thắng” của Hồ Chủ tịch giao cho
quân đội lên đồn giặc. Khi nổ súng, mặc cho hoả lực địch bắn ra dữ dội, đồng chí dẫn đầu tiểu đội vượt
qua lô cốt tiền duyên, chọc thẳng vào sở chỉ huy như một mũi dao nhọn cắm vào giữa tim gan địch, rồi
nhẩy lên lô cốt cắm cờ. Sau đó, đồng chí chỉ huy tiểu đội diệt bọn địch còn lại trong hầm ngầm, bắt 25
tên, thu nhiều súng.
Trong trận đánh điểm cao 507, Trần Can đã dũng cảm dẫn đầu tiểu đội xông lên áp đảo địch, chiếm
mỏm cột cờ. Đich bắn pháo dữ dội và cho quân địch chiếm lại. Ta với địch giành giật nhau từng thước
đất hết sức quyết liệt. Đồng chí đã cùng đồng đội kiên quyết giữ vững và tiến công đánh bại 4 đợt phản
kích của chúng. Địch xông lên trong đợt công kích thứ năm, chúng ném lựu đạn tới tấp trước khi xung
phong. Trần Can nhặt lựu đạn ném lại và chỉ huy đơn vị nhảy lên bờ hào đánh giáp lá cà với địch. Cán
bộ đại đội bị thương vong hết, bản thân Trần Can cũng bị thương, nhưng đồng chí vẫn quyết tâm thay
thế cán bộ đại đội chỉ huy bộ đội chiến đấu suốt đêm. Sáng hôm sau, đồng chí tập trung thương binh nhẹ
lại, động viên bộ đội, chấn chỉnh tổ chức, củng cố trận địa. Địch lại phản kích dữ dội, mong đánh bật
quân ta, giành lại cửa ngõ tiến vào Mường Thanh. Trần Can chỉ huy đơn vị đánh tan đợt pháo kích của
chúng, kiên quyết giữ vững trận địa, tạo thế cho đơn vị tiến vào trung tâm Mường Thanh. Đồng chí Trần
Can đã hy sinh anh dũng sáng ngày 7 tháng 5 năm 1954, ngày kết thúc chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ.
Trần Can được tặng thưởng 1 Huân chương Quân công hạng ba, 2 Huân chương Chiến công hạng nhất,
2 lần được bầu là chiến sỹ thi đua của đại đoàn.
Ngày 7 tháng 5 năm 1956, Trần Can được Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà truy tặng Huân
chương Quân công hạng nhì và danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
CÂU HỎI 4 : BẠN CHO BIẾT NHIỆM VỤ VÀ THÀNH TÍCH CỦA LỰC LƯỢNG THANH
NIÊN XUNG PHONG TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ ?
Trả Lời :
Chiến dịch Điện Biên Phủ là một chiến dịch lớn nhất trong kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta. Để
giành được thắng lợi, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải huy động một lực lượng lớn sức người, sức
của cho chiến dịch. Một lực lượng vô cùng quan trọng tham gia chiến dịch là thanh niên xung phong.
Lực lượng thanh niên xung phong vào lúc cao điểm của chiến dịch Điện Biên Phủ lên tới 22.000 người.
Địa bàn hoạt động rộng cả trên mặt trận chính và mặt trận phối hợp. Riêng tại mặt trận Điện Biên Phủ
lực lượng Thanh niên xung được giao làm nhiệm vụ phục vụ chiến dịch và thu dọn chiến trường, giải
quyết công tác thương binh, liệt sỹ.
Trong suốt thời gian diễn ra chiến dịch, Thanh niên xung phong được hội đồng Cung cấp tiền phương
giao cho 100 nhiệm vụ khác nhau như làm cầu, đường, vận chuyển lương thực, đạn dược, rà phá bom
mìn, chăm sóc, chuyển thương binh, canh giữ tù binh… Ngoài những nhiệm vụ trên, thanh niên xung
phong còn bổ sung 8.000 đồng chí cho lực lương chiến đấu .
Sau chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh niên xung phong được Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh
tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhất, 60 huân chương các loại cho cán bộ, đoàn viên và
các đơn vị tiên tiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh trao lá cờ “Thi đua khá nhất” cho Thanh niên xung phong,
tặng thưởng 120 huy hiệu của Người cho các đoàn viên lập công xuất sắc trong chiến dịch.
CÂU HỎI 5 : BẠN CHO BIẾT KÊẾ QUẢ VÀ Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG ĐIỆN
BIÊN PHỦ ? TỪ Ý NGHĨA ĐÓ NÊU CẢM NGHĨ CỦA MÌNH VỚI CHỦ ĐỀ "ÂM VANG ĐIỆN
BIÊN" TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY ( BÀI VIẾT VỀ
CẢM NGHĨ BẢN THÂN KHÔNG QUÁ 1000 TỪ )
Trả Lời :
Sau 55 ngày đêm chiến đấu, quân và dân ta đã tiêu diệt, bắt sống 16.200 tên địch trong đó có 1 cấp
tướng - de Castri, 16 đại tá, trung tá, 5, 1.749 sỹ quan từ thiếu uý đến thiếu tá và hạ sỹ quan. Lực lượng
địch bị tiêu diệt gồm 21 tiểu đoàn trong đó có 17 tiểu đoàn bộ binh và quân dù của 3 binh đoàn chủ lực,
3 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh. Ta bắn rơi 62 máy bay các loại, bắn hỏng 6 xe tăng, thu
trên 3 vạn chiếc dù và toàn bộ vũ khí quân trang quân dụng.
Ý nghĩa của chiến thắngϖlịch sử Điện Biên Phủ :
a/ Đối với nhân dân ta:
- Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ, một trong những chiến công chói lọi nhất trong lịch sử đấu tranh
chống ngoại xâm của dân tộc ta, xứng đáng được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi
Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá
thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Nó làm sáng ngời chân lý một dân tộc
đất không rộng, người không đông, kinh tế chậm phát triển, quân đội còn non trẻ, trang bị còn ít, nhưng
đoàn kết chặt chẽ, có sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, biết vũ trang toàn dân, tiến hành chiến tranh
nhân dân, được các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới đồng tình ủng hộ thì
hoàn toàn có thể đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược dù chúng mạnh hơn gấp bội.
- Chiến thắng Điện Biên Phủ, đỉnh cao của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953-1954 của quân
và dân ta, đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và bọn can thiệp Mỹ,
chấm dứt ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta. Nó trực tiếp dẫn đến thắng lợi của Hội nghị
Giơnevơ về Đông Dưng, buộc nước Pháp và các nước tham dự Hội nghị phải công nhận độc lập, chủ
quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.
- Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp với trận “Quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ” không
những đã bảo vệ và phát triển thành qủa Cách mạng Tháng Tám mà còn mở ra giai đoạn mới, nhân dân
ta tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc
dân chủ nhân dân trong cả nước, xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc ta. Trong sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước, tinh thần Điện Biên Phủ vẫn ngời sáng, vẫn là động lực, nguồn cổ vũ to lớn của nhân dân
ta trong công cuộc đổi mới nhằm mục tiêu : “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh”.
b/ Đối với thế giới.:
- Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là chiến thắng của nhân dân Việt Nam mà còn là chiến thắng
của nhân dân Lào - Cămpuchia, những người bạn chiến đấu cùng chung một chiến hào chống kẻ thù
chung là đế quốc xâm lược để tự giải phóng mình, là chiến thắng của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế
giới. Nó chứng tỏ trong thời đại ngày nay, chiến tranh xâm lược của đế quốc nhất định thất bại, cách
mạng giải phóng dân tộc nhất định thắng lợi.
- Chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam mở đầu cho
sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, đánh dấu thời kỳ mới trong cuộc đấu tranh của nhân
dân thế giới, góp phần tích cực làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, thu hẹp dinh luỹ của chúng, góp phần
giáng một đòn đau vào chiến lược toàn cầu phản cách mạng của đế quốc Mỹ, góp phần xứng đáng vào
sự nghiệp đấu tranh vĩ đại của nhân dân tiến bộ vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.