You are on page 1of 6

Thành lập 15/8/1945, ngành Bưu điện đã trải qua nhiều thăng trầm để tồn tại và khẳng định

được
uy tín và vị thế của mình trên trường quốc tế. Bằng những nỗ lực của chính mình, ngành Bưu
điện đang bước những bước đi chắc chắn trong xu thế hội nhập và phát triển với thế giới.

Đất nước thống nhất, cùng với cả nước, ngành Bưu điện lại bắt tay vào tái thiết mạng lưới thông
tin liên lạc đã nhiều năm bị chiến tranh tàn phá, cơ sở vật chất hết sức manh mún và lạc hậu.
Bước vào giai đoạn Đổi mới, xuất phát điểm của ngành Bưu điện bắt đầu ở mức "đáy", mật độ
điện thoại chỉ đạt 0,15 máy/100 dân và chỉ khoảng 7 - 8% số xã có điện thoại.

Năm 1992, trước những yêu cầu, đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá
đất nước, lãnh đạo ngành đã quyết tâm phải phát triển nhanh hơn, mạnh hơn nữa, ngành Bưu
điện bắt tay vào xây dựng Chiến lược tăng tốc độ phát triển bưu chính viễn thông. Mục tiêu cơ
bản của Chiến lược này là rút ngắn thời gian thực hiện kế hoạch phát triển của ngành đến năm
2000 xuống vào năm 1995 mà chỉ tiêu quan trọng nhất là phải đạt mật độ điện thoại 1 máy/100
dân vào năm 1995.

Tháng 12 năm 1993, một sự kiện đáng ghi nhớ của Bưu điện Việt Nam diễn ra: mạng viễn thông
liên tỉnh được số hoá trên toàn bộ 53/53 tỉnh, thành phố trong cảc nước. Hệ thống tổng đài và
truyền dẫn trên toàn mạng viễn thông đã được số hoá hoàn toàn. Việt Nam trở thành một trong
những nước có mức độ số hoá mạng lưới cao nhất khu vực Đông Nam á. Lần đầu tiên mạng
viễn thông Việt Nam có tên trên bản đồthế giới. Để ghi nhận những đóng góp to lớn đối với đất
nước, nhân kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống của Ngành, Đảng và Nhà nước ta quyết định tặng
thưởng Huân chương Sao Vàng - huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta cho ngành Bưu
điện. Đây là lần đầu tiên một ngành kinh tế kỹ thuật được trao trao tặng phần thưởng cao quý
này.

Năm 1995, Chính phủ quyết định thành lập Tổng Cty Bưu chính Viễn thông VN (VNPT). Ngành
Bưu điện đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ về chất... Cũng trong năm này, Chính phủ
quyết định thành lập một số DN mới cùng kinh doanh trên thị trường BCVT và CNTT như:Viettel,
SPT...

Năm 1998, Điểm Bưu điện-Văn hoá xã, một mô hình sáng tạo của Tổng Công ty Bưu chính-Viễn
thông Việt Nam ra đời. Đây thực sự là một đột phá lớn, chưa có tiền lệ ở nông thôn VN. Sự phát
triển không ngừng của điểm bưu điện văn hoá xã trở thành tất yếu, gắn liền với tiến trình phát
triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam. Mô hình Điểm - Điện - Đường - Trường - Trạm đã hình
thành một thế trận liên hoàn chống lạc hậu, đói nghèo, tạo nền móng vững chắc cho quá trình
công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.

Năm 2000, VNPT kết thúc thắng lợi Chiến lược tăng tốc độ phát triển Bưu chính Viễn thông 2
giai đoạn 1993-1995 và 1996-2000. Có thể nói, cơ sở hạ tầng bưu chính viễn thông và công
nghệ thông tin tiên tiến, hiện đại do VNPT xây dựng, quản lý và khai thác đã đáp ứng tốt nhu cầu
bưu chính-viễn thông và công nghệ thông tin của đất nước trong thời kỳ Đôỉ mới, bảo đảm phục
vụ an ninh, quốc phòng.

Đến nay, trên cả nước đã có trên 15.000 điểm phục vụ BCVT, trong đó có hơn 8.000 điểm bưu
điện văn hoá xã được đưa vào hoạt động. 90% số xã trong cả nước đã có báo đọc trong ngày.
Bưu chính Việt Nam hiện có quan hệ bưu chính với hơn 60 quốc gia và có đường bay thẳng tới
30 nước trên thế giới.

Đến nay với trên 6.000 kênh liên lạc quốc tế, VNPT đang cung ứng nhiều dịch vụ viễn thông
quốc tế hiện đại, tiện dụng, đa dạng với chất lượng cao cho toàn xã hội.

Trong những năm qua, mạng viễn thông đường trục quốc gia do VNPT đảm trách đã có những
bước phát triển quan trọng mang tính cách mạng. Từ những tuyến tải ba dây trần dung lượng
thấp 1, 3, 5 kênh, những thiết bị viba băng hẹp công nghệ analog, đã được thay thế bằng những
thiết bị viba số và những tuyến cáp quang hiện đại SDH dung lượng lớn, tốc độ cao không
ngừng lan xa, toả rộng khắp đất nước.

Phát trển DN

Từ năm 2003, hai doanh nghiệp mới là Viettel và VP Telecom cũng đã được cấp phép xây dựng
mạng truyền dẫn đường trục riêng của mình.

Theo xu hướng phát triển công nghệ chung của thế giới, tháng 10/2004, VNPT đã chính thức
khai trương và đưa các dịch vụ trên nền mạng NGN vào hoạt động. Đây có thể coi là một bước
chuyển biến mang tính cách mạng về công nghệ đối với cả mạng Viễn thông Việt nam. Với cơ sở
hạ tầng mạng NGN, mạng viễn thông của VNPT có khả năng cung ứng đa dạng các dịch vụ từ
truyền thống cho tới hàng loạtdịch vụ băng rộng, chất lượng cao và độ bảo mật nổi trội.

Đến nay, mạng điện thoại trong cả nước hiện có trên 13 triệu thuê bao, trong đó có hơn 6,4 triệu
thuê bao di động, đạt mật độ 15 máy/100 dân, vượt gần gấp đôi chỉ tiêu mà Đại hội IX của Đảng
đề ra cho năm 2005 là từ 7-8 máy/100 dân. Đến hết năm 2005, toàn ngành phấn đấu để 100%
số xã trong cả nước có điện thoại.

Mạng thông tin di động của Việt Nam hiện có 4 nhà khai thác, trong đó của VNPT gồm hai mạng
Vina Phone và MobiFone đã phủ sóng 64/64 tỉnh thành, cung ứng cho hơn 5,4 triệu thuê bao
trong cả nước. Hai mạng di động mới là Viettel và S-Fone cũng đã phát triển nhanh, đáp ứng cho
gần 1 triệu thuê bao.

Sự phát triển không ngừng của mạng lưới với công nghệ hiện đại đã tạo ra các dịch vụ thông tin
thuận tiện và chất lượng cao. Từ thư tín, điện thoại thông thường cho đến các dịch vụ bưu phẩm
lai ghép (Datapost), tiết kiệm bưu điện, dịch vụ nhắn tin, di động, điện thoại giá rẻ VoIP, điện
thoại Internet, Internet tốc độ cao (MegaVNN), Internet không dây (WiFi@VNN), Dịch vụ thoại trả
trước (1719), miễn cước ở người gọi (1800); thông tin, giải trí thương mại (1900), dịch vụ mạng
riêng ảo diện rộng (MAN)...

Lĩnh vực công nghiệp và CNTT cũng được ngành đặc biệt chú trọng phát triển. Các sản phẩm
công nghiệp của VNPT đáp ứng 40% nhu cầu thiết bị của mạng lưới.

Với tốc độ phát triển nhanh chóng của BCVT, Việt Nam luôn được quốc tế đánh giá cao, được
Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) xếp là nước đứng thứ 2 về tốc độ phát triển viễn thông trên
thế giới.

Ngày nay, bên cạnh các dịch vụ BCVT truyền thống, điện thoại VoIP Gọi 171, 1717, điện thoại
Internet FoneVNN, điện thoại di động 091 của VinaPhone, 090 của MobiFone, Internet VNN...
của VNPT, mọi người dân đã có thêm nhiều sự lựa chọn và có thể sử dụng các dịch vụ của
nhiều doanh nghiệp khác như : VoIP 178 của Vietel; 177 của SPT, 172 của Hanoi Telecom; 179
của VP Telecom; mạng điện thoại di động 095 của SPT, 098 của Viettel; các dịch vụ Internet của
FPT, NetNam...

VNPT đang đẩy mạnh triển khai thực hiện phương án "Đổi mới tổ chức quản lý khai thác kinh
doanh BC-VT trên địa bàn tỉnh, thành phố", và thí điểm xây dựng trở thành Tập đoàn Bưu chính-
Viễn thông Việt Nam.

Còn nhiều lực cản cạnh tranh


Sau thành công của chương trình hợp tác công bố kết quả nghiên cứu về chỉ số cạnh
tranh của các tỉnh, thành phố ở Việt Nam, dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh Việt
Nam (VNCI) tiếp tục phối hợp với nhóm Thời báo Kinh tế Sài Gòn để công bố kết
quả nghiên cứu về cạnh tranh trong ngành viễn thông.
Bản báo cáo “Nghiên cứu về cạnh tranh ngành viễn thông Việt Nam” dày 45 trang, gồm
sáu chương, đề cập đến tình hình tổng quan của ngành; môi trường pháp lý; bức tranh
tổng thể về thị trường; phân tích vai trò chi phối của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông
(VNPT); kết quả khảo sát thị trường của người sử dụng dịch vụ; và những đề xuất nhằm
thúc đẩy cạnh tranh. bài viết dưới đây chỉ đề cập đến tình hình cạnh tranh và tác động của
nó đối với sự phát triển của ngành viễn thông.

Cạnh tranh giúp phát triển nhanh


Cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông tại Việt Nam xuất hiện từ năm 1993, sau khi Chính
phủ cấp phép cho các công ty nước ngoài vào đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển dịch vụ
điện thoại thẻ, nhắn tin… Tuy nhiên, sự cạnh tranh này cũng chỉ mang tính chất nội bộ
của VNPT. Bởi lẽ tất cả các dự án kể trên đều được thực hiện theo hình thức hợp đồng
hợp tác kinh doanh (BCC), trong đó quyền cung cấp dịch vụ thuộc về đối tác Việt Nam, là
các thành viên của VNPT.

VNPT chỉ có đối thủ cạnh tranh thực sự ít lâu sau đó, khi thị trường xuất hiện thêm một số
nhà cung cấp dịch vụ viễn thông độc lập, như Saigon Postel, FPT, Netnam, Viettel. Đồng
thời, phạm vi cạnh tranh cũng được mở rộng ra hầu hết các loại dịch vụ viễn thông hiện
có ở Việt Nam, gồm điện thoại nội hạt, quốc tế, Internet, điện thoại di động, cho thuê
kênh riêng…

Theo kết quả nghiên cứu của VNCI, chính sách thúc đẩy cạnh tranh mà Chính phủ đang
thực hiện đã có tác động tích cực đối với sự phát triển của ngành viễn thông trong một
thập kỷ qua. Năm 1995, mạng điện thoại Việt Nam có chưa đầy một triệu thuê bao cố
định và 23.500 thuê bao di động. Mật độ điện thoại tính trên 100 dân chỉ đạt 0,4. Nhưng
với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm tới 45%, đến cuối tháng 5-2005 mạng điện
thoại đã tăng lên 11,75 triệu số, trong đó thuê bao di động đạt gần sáu triệu. Dịch vụ
Internet cũng đã phát triển được 2,8 triệu thuê bao sau gần tám năm.

VNCI dự báo, với tốc độ phát triển như hiện nay, sau 10 năm nữa mật độ điện thoại sẽ đạt
30%. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này có thể qua nhanh do nhu cầu ở những đô thị lớn bão
hòa. Do vậy, để duy trì nhịp độ phát triển, Việt Nam cần đầu tư hàng tỉ đô la Mỹ để phát
triển hệ thống mạng tại các đô thị nhỏ và khu vực nông thôn. Đồng thời, phải thúc đẩy
cạnh tranh hơn nữa để ngày càng có nhiều người tiếp cận được với dịch vụ viễn thông.

Sân chơi chưa bình đẳng


Tuy đã có cạnh tranh, nhưng hiện VNPT vẫn tiếp tục thống lĩnh thị trường, kiểm soát 94%
thị phần viễn thông trong cả nước. Ngoài ra, nhiều công ty dịch vụ mới cũng là doanh
nghiệp nhà nước, làm cho vai trò của những nhà cung cấp dịch vụ tư nhân bị hạn chế.
VNCI kết luận: “Chính vị trí thống lĩnh này đã kìm hãm cạnh tranh và ngăn cản các đối
thủ tiềm năng đầu tư vào thị trường dịch vụ viễn thông”.
Trong sáu loại dịch vụ chính được VNCI nghiên cứu, điện thoại di động và Internet có
tính cạnh tranh cao giữa các doanh nghiệp. Còn dịch vụ điện thoại nội hạt, liên tỉnh, điện
thoại quốc tế (ngoại trừ điện thoại quốc tế VoIP) và dịch vụ cho thuê kênh rất hạn chế.
Theo các công ty dịch vụ viễn thông, VNPT đã thực hiện một số hoạt động mang tính chất
chống lại cạnh tranh. Trước hết là việc phân bổ cơ sở hạ tầng mạng không công bằng. Với
vai trò người nắm giữ hầu hết mạng viễn thông Việt Nam và là nhà khai thác có mật độ
phủ sóng rộng khắp toàn quốc, các công ty khác đều phải kết nối với VNPT để cung cấp
dịch vụ. Nhưng VNPT thường xuyên lấy lý do năng lực mạng hạn chế để từ chối cho kết
nối. Kế đến, doanh nghiệp này bị cho là sử dụng vị thế thống lĩnh về hạ tầng để áp đặt
mức giá cho thuê không hợp lý với các công ty đối thủ. Thực hiện chính sách bù giá chéo
để hạ giá một số dịch vụ xuống thấp hơn của đối thủ. Trong một số trường hợp, các công
ty con của VNPT sử dụng lợi thế của mình buộc các nhà phân phối không được phép bán
dịch vụ của đối thủ hoặc từ chối cung cấp dịch vụ cho họ. Ngoài ra, các doanh nghiệp còn
phàn nàn các bưu điện địa phương của VNPT sử dụng các biện pháp kỹ thuật để cạnh
tranh không lành mạnh, như ngắt tổng đài trung kế để ngăn chặn cuộc gọi VoIP của
Viettel, Saigon Postel, chuyển lưu lượng VoIP về mạng của VNPT.
Để thúc đẩy cạnh tranh, qua đó tạo điều kiện cho ngành viễn thông phát triển, VNCI
khuyến nghị nên cải tổ lại VNPT thông qua những thay đổi về cơ cấu, quản lý. Cụ thể là
áp dụng hạch toán độc lập giữa các hoạt động kinh doanh khác nhau; xây dựng, ban hành
quy tắc ứng xử cho các công ty con, nhất là với các bưu điện địa phương về những hành
vi cản trở cạnh tranh không được phép, đặc biệt trong lĩnh vực kết nối; bán cổ phần của
VNPT đang sở hữu trong các đối thủ cạnh tranh; đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp
viễn thông nhà nước.
Về chính sách, VNCI cho rằng Việt Nam nên phát triển mạnh sự tham gia của công ty
nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ này. Yêu cầu cơ quan quản lý ngành phải báo cáo thường
xuyên về thị trường, trong đó làm rõ các xu hướng và giải pháp để đạt được các mục tiêu
mà Chính phủ đã đề ra. Sửa đổi một số quy định pháp luật về viễn thông không còn phù
hợp. Thành lập tòa án chuyên trách giải quyết các vụ việc liên quan đến viễn thông và
công nghệ thông tin.
Riêng vấn đề kết nối, cần ban hành bổ sung một số hướng dẫn, gồm: Quy định rõ sự đối
xử công bằng; xác định chi phí kết nối hợp lý và những hành vi trì hoãn cung cấp dịch vụ,
từ đó đưa ra các giải pháp hành chính để ngăn ngừa.

Một ngành đang trải qua nhiều thay đổi


Hành vi phản cạnh tranh xảy ra trong nhiều ngành khác nhau nhưng VNCI chọn ngành
viễn thông để nghiên cứu vì một số lý do như sau.
Thứ nhất, ngành viễn thông là một trong những ngành mà từ trước đến nay vẫn có quan
điểm là phải có độc quyền nhà nước. Điều này không chỉ có ở Việt Nam, nhiều nước khác
trước đây cũng có quan điểm như vậy. Sau đó vì nhiều lý do, độc quyền tự nhiên trong
viễn thông không còn thích hợp nữa và rất nhiều nước đã chuyển từ độc quyền nhà nước
sang cạnh tranh. Đây là quá trình diễn ra rất nhanh trên thế giới. Việt Nam tuy đi sau
nhưng đây cũng là vấn đề đang được đặt ra.
Thứ hai, viễn thông là ngành mà khuôn khổ pháp lý cho cạnh tranh đã có nền tảng ban
đầu trong một số văn bản chuyên ngành, ví dụ như Pháp lệnh Viễn thông hoặc chiến lược
của Chính phủ về phát triển ngành bưu chính - viễn thông đến năm 2010 và định hướng
đến năm 2020. Bộ Bưu chính Viễn thông đã cấp giấy phép cho một số công ty và một số ý
kiến cho rằng về danh nghĩa đã có thể được coi là có cạnh tranh rồi. Tuy nhiên, trên thực
tế nhiều người vẫn kêu ca và đưa ra bằng chứng cho thấy là thực ra không phải như vậy.
Vì thế, một nghiên cứu sâu về lĩnh vực này có thể đưa ra những lý giải rõ hơn.
Ông Nguyễn Thanh Hà, Trưởng nhóm nghiên cứu cạnh tranh ngành viễn thông Việt Nam của VNCI.

Mạng lưới và công nghệ bưu chính - viễn thông có những thay đổi căn bản và
quan trọng. Điều đó đòi hỏi công tác quản lý, cơ chế và tổ chức cũng phải có những
chuyển biến phù hợp. Công tác quản lý Nhà nước từng bước tách ra khỏi công tác quản
lý điều hành sản xuất kinh doanh. Ngày 7/5/1994, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số
91/TTg chuyển Tổng công ty Bưu chính-Viễn thông thành tập đoàn kinh doanh của Nhà
nước.

Năm 1993-2000, thực hiện thành công chiến lược tăng tốc và chuyển sang Chiến
lược Hội nhập và Phát triển.

Năm 1995, khởi động cạnh tranh với việc thành lập Công ty cổ phần dịch vụ
BCVT Sài Gòn và Công ty Viễn thông Quân Đội.

Ngày 29/4/1995, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 249/TTg về việc thành lập
Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông Việt Nam trực thuộc Chính phủ trên cơ sở tổ chức
sắp xếp lại các đơn vị dịch vụ, sản xuất lưu thông, sự nghiệp về Bưu chính- Viễn thông
thuộc Tổng cục Bưu điện.

Ngày 11/3/1996, Chính phủ ra Nghị định số 12/CP về chức năng, nhiệm vụ, quyền
hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng cục Bưu điện.

Ngày 11/11/2002, Chính phủ ra Nghị định số 90/2002/NĐ-CP quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Bưu chính, Viễn thông. Bộ Bưu chính,
Viễn thông là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bưu
chính, viễn thông, công nghệ thông tin, điện tử, internet, truyền dẫn phát sóng, tần số vô
tuyến điện và cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước
các dịch vụ công và thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại doanh
nghiệp có vốn nhà nước trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin theo
quy định của pháp luật.

Năm 2003, ngành Bưu chính, Viễn thông thực sự chuyển từ độc quyền công ty
sang cạnh tranh tất cả các loại dịch vụ. Có tổng số 6 công ty hạ tầng mạng được thiết lập
mạng lưới và cung cấp dịch vụ: Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT),
Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel), Công ty Viễn thông Điện lực (VP Telecom),
Công ty cổ phần dịch vụ BCVT Sài Gòn (SPT), Công ty Cổ phần viễn thông Hà Nội
(Hanoi Telecom) và Công ty Thông tin điện tử Hàng Hải (Vishipel). Trong đó, VNPT,
Viettel và VP Telecom được thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông cố định quốc
tế. Có 5 công ty được thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ thông tin di động gồm: VMS,
Vinaphone, Viettel, SPT và Hanoi Telecom.