You are on page 1of 31

Vũng Tàu nên gắn với du lịch và dịch vụ

Định hướng xây dựng Vũng Tàu thành trung tâm đô thị
đa chức năng đã bị giới kiến trúc sư, các nhà nghiên cứu
không đồng tình. Vậy Vũng Tàu nên phát triển đô thị theo
hướng nào?

Quang Chung

Đa hay đơn?
Theo quyết định phê duyệt “Điều chỉnh quy hoạch chung xây
dựng thành phố Vũng Tàu giai đoạn từ 2005 - 2020” của Thủ
tướng Chính phủ, Vũng Tàu sẽ trở thành một đô thị đa chức Du lịch là một trong những thế mạnh mà Bà
năng. Cụ thể, Vũng Tàu sẽ được xây dựng thành trung tâm Rịa-Vũng Tàu nên chú trọng khai thác
kinh tế, văn hóa, dịch vụ công cộng, trung tâm du lịch, dịch vụ
hàng hải, khai thác dịch vụ dầu khí, phát triển công nghiệp, chế biến hải sản, cảng biển và quốc
phòng.

Tại cuộc hội thảo khoa học về quy hoạch và kiến trúc thành phố Vũng Tàu, do UBND tỉnh Bà Rịa
- Vũng Tàu phối hợp với Hội Kiến trúc sư Việt Nam tổ chức hôm 11-9, kiến trúc sư (KTS) Hoàng
Đạo Kính, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, cho rằng việc quy hoạch quá nhiều ngành làm động lực
phát triển đô thị như thế là không ổn vì động lực này có thể là lực cản của động lực khác. Ông
Kính đưa ra ví dụ về sự “chọi nhau” giữa công nghiệp và du lịch. “Xây dựng đô thị công nghiệp
sẽ mâu thuẫn với đô thị du lịch”, ông nói.

Theo KTS. Nguyễn Thu Hạnh, Viện Nghiên cứu phát triển du lịch, Tổng cục Du lịch, việc xác định
chiến lược đô thị cho Vũng Tàu với “một rừng mũi nhọn” như vậy sẽ dẫn tới những thách thức
như: (i) sự suy giảm về chất lượng môi trường do tranh chấp không gian sử dụng giữa các
ngành kinh tế; (ii) thiếu bản sắc trong kiến trúc cảnh quan do không xác định được mảng màu
chủ đạo cho bức tranh đô thị; (iii) chất lượng cuộc sống sẽ bị đe dọa do hệ quả của hai vấn đề
trên.

Quy hoạch phát triển đô thị thành phố Vũng Tàu cần phải xem xét mối tương quan với TPHCM
và các đô thị lân cận, Tiến sĩ Nguyễn Minh Hòa, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu phát triển đô
thị, Đại học Quốc gia TPHCM, góp ý. “Nếu nhìn ở góc độ vùng và khu vực thì Vũng Tàu không
thể và không nên là thành phố đa chức năng mà chỉ nên là thành phố đơn chức năng”, ông Hòa
nói.

Theo phân tích của ông Hòa, TPHCM là thành phố đa chức năng vì nó là thành phố trung tâm
của toàn vùng đô thị phía Nam. Do vậy, các thành phố xung quanh chỉ nên có một hoặc hai chức
năng mà thôi. Chẳng hạn, trong tam giác Sài Gòn - Biên Hòa - Vũng Tàu thì Biên Hòa đã là
thành phố công nghiệp, vì vậy Vũng Tàu chỉ nên mang chức năng du lịch và dịch vụ. Nếu xác
định dứt khoát như vậy thì Vũng Tàu sẽ không bị lấn cấn trong định hướng xây dựng đô thị như
hiện nay.

Theo KTS. Nguyễn Hữu Mạnh, Giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, vì định hướng
phát triển quá đa dạng nên Vũng Tàu đã gặp phải những vướng mắc trong quy hoạch và tổ chức
thực hiện quy hoạch.

Thật vậy, Vũng Tàu vẫn chưa có lời giải cho bài toán phát triển đô thị. Ông Mạnh cho biết, Phú
Mỹ là khu đô thị mới đã và đang hình thành. Theo quy hoạch, các khu công nghiệp được bố trí
phía Tây quốc lộ 51 (dọc theo sông Thị Vải), khu dân cư bố trí phía Đông. Nhiều ý kiến cho rằng
quy hoạch như thế là bất hợp lý, là sai lầm khó sửa vì ven sông Thị Vải nên dành để phát triển
các khu dân cư, như vậy mới khai thác tốt cảnh quan, tạo môi trường sống tốt cho cư dân đô thị.
Thế nhưng các nhà quy hoạch xây dựng lại cho rằng nếu không có hệ thống cảng nước sâu dọc
sông Thị Vải và các khu công nghiệp gắn với cảng thì không có khu đô thị mới Phú Mỹ!

Đó là chưa nói đến hệ thống các khu công nghiệp thuộc tỉnh Đồng Nai và ở Phú Mỹ đã và đang
gây ô nhiễm nặng cho sông Thị Vải, đe dọa nghiêm trọng đến môi trường sinh thái của địa
Bộ mặt thị trường du lịch sẽ chuyển biến ra sao sau khi Việt Nam
gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)... là điều không dễ
hình dung. Sự kiện & Vấn đề kỳ này phác họa một số diễn biến
của quá trình mở cửa thị trường du lịch qua cái nhìn của các
doanh nghiệp và Tổng cục Du lịch Việt Nam.

Công Thắng - Đào Loan

Cũng như ở các ngành khác, doanh nghiệp trong ngành du lịch hiện
nay chưa có được thông tin gì về nội dung các thỏa thuận liên quan
đến dịch vụ du lịch khi Việt Nam gia nhập WTO. Họ chỉ biết chung
chung rằng Việt Nam sẽ mở cửa 12 ngành dịch vụ, trong đó có du
lịch; còn mở những gì và theo lộ trình ra sao thì hoàn toàn mù mờ.
“Tôi đã hỏi Tổng cục Du lịch nhưng hầu như không có thông tin cụ Du khách nước ngoài trên đường
thể” - ông Từ Quý Thành, Giám đốc Công ty TNHH Du lịch Thương phố sài Gòn
mại Liên Bang, cho biết. Tình trạng thông tin như vậy đã khiến các
doanh nghiệp lúng túng, bị động, không đề ra được kế hoạch hoạt động cho cuộc đối đầu sắp
tới. Nhưng chẳng lẽ cứ khoanh tay ngồi chờ. Do vậy, doanh nghiệp phải tự đoán và tự chuẩn bị
theo sự thăm dò, suy đoán của mình.

Cơ hội nào cho doanh nghiệp trong nước?


Vấn đề mà nhiều doanh nghiệp đã và đang đặt ra là điều gì sẽ diễn ra khi nước ta mở cửa cho
doanh nghiệp nước ngoài thành lập công ty 100% vốn nước ngoài hoạt động kinh doanh lữ
hành? Đã có những nhận định, đánh giá khác nhau trong giới kinh doanh du lịch đối với vấn đề
này.

Có ý kiến cho rằng, trong lĩnh vực kinh doanh lữ hành, các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn nước
ngoài sẽ “đổ bộ” vào và trực tiếp đưa, đón khách vào Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp trong nước
trước nay hợp tác liên doanh với nước ngoài trong hoạt động này sẽ bị “bỏ rơi”. Với nguồn vốn
lớn, thương hiệu mạnh, công nghệ du lịch cao, có mạng lưới đại lý toàn cầu... các hãng nước
ngoài sẽ làm chủ thị trường khách quốc tế. Nhiều doanh nghiệp trong nước sẽ điêu đứng, thậm
chí “sập tiệm”. Trong số này có không ít các đơn vị quốc doanh vốn hoạt động kém hiệu quả do
bộ máy cồng kềnh, khả năng linh hoạt, thích nghi kém, nguồn nhân sự bị lôi kéo...

Như vậy, trong ba mảng kinh doanh lữ hành: đưa khách quốc tế vào Việt Nam (inbound), đưa
khách Việt Nam đi nuớc ngoài (outbound) và khách du lịch nội địa, thì doanh nghiệp trong nước
chỉ khai thác được mảng khách du lịch nội địa và một phần khách Việt Nam đi nước ngoài. Một
bức tranh không mấy lạc quan đối với doanh nghiệp lữ hành trong nước.

Cách nhìn nhận này có cơ sở thực tế là hoạt động kinh doanh lữ hành ở nước ta thời gian qua
đã bộc lộ những mặt yếu kém như: công nghệ điều hành du lịch chưa chuyên nghiệp, mối quan
hệ giữa các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch (khách sạn, nhà hàng, phương tiện đi lại...) chưa
ổn định, công tác tiếp thị kém..., nói chung là chưa chuyên nghiệp. Nay các doanh nghiệp phải
đương đầu với các đại gia của thế giới, khó khăn thử thách quả là rất lớn và và khó tránh khỏi
tình trạng bị rơi rụng.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến khác lại cho rằng tác động của việc mở cửa này mang tính hai mặt và
thực tế diễn ra không đơn giản, một chiều mà còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố.

Theo ông Võ Anh Tài, Giám đốc Công ty Dịch vụ lữ hành Saigontourist, việc các hãng nước
ngoài vào nước ta như thế nào còn tùy thuộc vào nội dung thỏa thuận và lộ trình thực hiện các
cam kết của nước ta khi gia nhập WTO. Mặt khác, nếu xem việc thâm nhập thị trường như một
dạng đầu tư thì họ sẽ phải tính toán, cân nhắc nhiều mặt, vì đầu tư thường có yếu tố rủi ro. Nếu
thấy quy mô thị trường nhỏ hoặc môi trường đầu tư chưa thích hợp thì họ có thể chưa vào mà
tìm cách hợp tác với doanh nghiệp trong nước. Thực tế, trong thời gian đầu, các doanh nghiệp
nước ngoài không dễ gì xây dựng được mạng lưới riêng và phải cần đến các dịch vụ của doanh
nghiệp trong nước cung cấp. Nhiều khi đưa thẳng khách vào Việt Nam chưa chắc đã có lợi hơn
“Rơi rụng” hay sàng lọc và phát triển?
Tiến sĩ Nguyễn Đức Trí, Trưởng bộ môn du lịch Đại học Kinh tế TPHCM, cho rằng điều chắc
chắn là việc mở cửa dịch vụ lữ hành sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh cao, sản phẩm du lịch
phong phú, giá cả rẻ hơn và người tiêu dùng sẽ hưởng lợi. Mặt khác, dưới tác động của việc mở
cửa sẽ diễn ra sự sàng lọc mạnh mẽ: nhiều công ty nhỏ, do không cạnh tranh nổi, sẽ trở thành
đại lý gom khách bán cho các công ty lớn. Đây là quá trình chuyên môn hóa tất yếu xảy ra khi du
lịch phát triển thành một ngành công nghiệp hẳn hoi. “Lâu nay ở nước ta không phân biệt giữa
đại lý lữ hành (tour agency) và công ty lữ hành (tour operator). Nhiều đơn vị nhỏ vừa làm đại lý
gom khách đồng thời cũng đứng ra tổ chức tour và điều này là một trong những nguyên nhân
chính dẫn đến tình trạng cạnh tranh phá giá, bán tour “bèo”, gây nên cảnh bát nháo trong kinh
doanh lữ hành” - ông Trí nói. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tất cả doanh nghiệp nhỏ sẽ
phải chuyển hình thức hoạt động hoặc bị “sập tiệm”. Sân chơi vẫn còn có chỗ cho họ miễn là biết
cách làm và làm nghiêm túc. Họ có thể khai thác các thị trường nhỏ, thị trường “ngách” không
nằm trong tầm ngắm của các doanh nghiệp lớn.

Nhìn ở khía cạnh cung cấp dịch vụ, có thể thấy rằng khi du lịch phát triển, khách vào ngày càng
nhiều thì nhu cầu sử dụng các dịch vụ như ăn uống, khách sạn, xe cộ, đặt vé máy bay... càng
tăng. Đây sẽ cơ hội cho nhiều doanh nghiệp trong nước.

Tự xoay xở khi chưa có chiến lược chung


Đối với Công ty Dịch vụ lữ hành Saigontourist, do nhận thức tính chất cạnh tranh ngày càng tăng
dù có vào hay chưa vào WTO, cho nên từ vài năm qua, công ty đã chủ động đẩy mạnh cả ba
mảng hoạt động: đón khách quốc tế, đưa khách đi nước ngoài và du lịch nội địa. “Rút kinh
nghiệm qua trận dịch SARS, chúng tôi không quá thiên về một mảng nào mà chủ trương mở
rộng liên kết đa phương, đa dạng hóa sản phẩm” - ông Tài cho biết.

Cũng theo ông Tài, Saigontourist từ lâu đã là một thương hiệu lớn của cả nước, cho nên trong
kinh doanh, Công ty Dịch vụ lữ hành luôn phát huy giá trị của nó. Trong cuộc hội nhập sắp tới,
công ty cũng xem đây như một nguồn vốn lớn, một thế mạnh trên bàn đàm phán liên kết làm ăn
với các đối tác bên ngoài.

Từ đầu năm đến nay, Công ty cổ phần Du lịch Tân Định (Fiditourist) đã tiến hành rà soát, chấn
chỉnh các tour của mình, đặc biệt là các tour đi nước ngoài. “Công ty đang chuẩn hóa các tour
nhằm nâng cao chất lượng, tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm. Đó là cách chúng tôi chuẩn bị
cho việc gia nhập WTO sắp tới” - ông Nguyễn Việt Hùng, Giám đốc Fiditourist, nói. Ông Hùng
cũng cho biết, trong tương lai, khi lượng khách đông, giá cả ổn định, Fiditourist sẽ mở các đại lý
lữ hành hoặc liên kết kinh doanh với các doanh nghiệp khác.

Đi tìm những thị trường mới cũng là một cách để tăng khả năng hoạt động của doanh nghiệp. Bà
Bùi Viết Thủy Tiên, Giám đốc Công ty Asian Trail, cho biết thị trường truyền thống của công ty là
Tây Âu, tuy nhiên hiện nay thị trường này đang bị chi phối bởi những doanh nghiệp lớn, do vậy
công ty đang tìm kiếm thêm những thị trường mới như Bắc Âu, Nga, Mỹ...

Trong khi đó, Bến Thành Tourist chuẩn bị cho việc hội nhập bằng chủ trương mở rộng phạm vi
kinh doanh, nâng cao chất lượng các dịch vụ đón khách như nhà hàng, khách sạn, phương tiện
vận chuyển, dịch vụ giải trí... “Không nên chỉ chú tâm đến việc mở tour. Ai đưa khách vào cũng
tốt, vấn đề là người nào có dịch vụ tốt thì khách sẽ dùng dịch vụ của người đó” - ông Thân Hải
Thanh, Giám đốc công ty, nói. Mặt khác, ông Thanh cũng đang nghĩ đến việc cùng một số doanh
nghiệp hình thành một liên minh để tạo ra sức mạnh trong cuộc cạnh tranh sắp tới. “Tuy quá trình
hội nhập sẽ có nhiều khó khăn nhưng nếu chuẩn bị từ bây giờ thì sau một thời gian, doanh
nghiệp sẽ học hỏi kinh nghiệm để phát triển” - ông Thanh khẳng định.

Đối với Vòng Tròn Việt, một công ty TNHH ra đời cách đây hai năm chuyên thực hiện các tour
phục vụ công tác xúc tiến thương mại, dự hội thảo, khảo sát thị trường... của các cấp quản lý ở
các tỉnh ĐBSCL, thì nỗi lo cạnh tranh không quá lớn. “Thị trường của chúng tôi khá hẹp, công tác
tổ chức phức tạp, đòi hỏi sự am hiểu địa phương... do vậy sẽ không có nhiều đối thủ”, Giám đốc
Phạm Kim Huê cho biết. Cũng theo ông Huê, để có thể tồn tại trong sân chơi WTO, doanh
nghiệp cần xác định rõ ưu thế của mình và tập trung đầu tư vào đó. Và dù quy mô lớn, nhỏ thế
nào, doanh nghiệp cũng phải xây dựng uy tín, thương hiệu và làm ăn một cách chuyên nghiệp.

Có thể nói, mỗi doanh nghiệp tùy theo quy mô, mục tiêu và khả năng của mình đã tự mình chuẩn
bị cho sân chơi WTO sắp mở ra. Tuy nhiên, nhìn trên toàn cục, những nỗ lực của từng doanh
nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp khó lòng làm thay đổi mạnh mẽ bộ mặt chung của du lịch nước
ta. Cần phải có đầu tàu dẫn dắt; cần phải có chiến lược phát triển trong điều kiện mới từ lãnh
đạo ngành du lịch, các nhà hoạch định chính sách. Những vấn đề lớn của du lịch như định
hướng, quy hoạch phát triển vùng du lịch, hỗ trợ xây dựng các trọng điểm, các sản phẩm chủ lực
có sức thu hút lớn, đào tạo nhân lực, quảng bá tiếp thị hình ảnh Việt Nam ra thế giới... đòi hỏi sự
hỗ trợ, can thiệp từ cấp vĩ mô. Tháng 4-2006, Tổng cục Du lịch đã công bố Chương trình hành
động quốc gia về du lịch giai đoạn từ 2006 - 2010. Tuy nhiên, trong chương trình này lại không
có phần nào đề cập trực tiếp đến việc Việt Nam sẽ gia nhập WTO và vạch ra chiến lược phát
triển tương ứng. Trước tình hình mới, rõ ràng chương trình này cần được xem lại và điều chỉnh
cho phù hợp. Và điều quan trọng đối với cấp quản lý vĩ mô là xây dựng mối liên kết, phối hợp
chặt chẽ, đồng bộ giữa các thành phần, địa phương, tránh tình trạng phân tán, tự phát, mạnh ai
nấy làm, để tạo nên sức mạnh tổng hợp trong cuộc cạnh tranh gay gắt sắp tới.

Để có thể tồn tại trong sân chơi WTO, doanh nghiệp cần xác định rõ ưu thế của mình và
tập trung đầu tư vào đó. Và dù quy mô lớn, nhỏ thế nào, doanh nghiệp cũng phải xây
dựng uy tín, thương hiệu và làm ăn một cách chuyên nghiệp.

Năm 2010, sẽ thu hút 6 triệu lượt khách quốc tế


Năm 2005 Năm 2010 (dự kiến)
Thu hút khách quốc tế (triệu lượt người) 3,43 6
Khách nội địa (triệu lượt người) 16 25
Thu nhập du lịch (tỉ USD) 1,9 4-5
Nguồn: Tổng cục Du lịch Việt Nam

Du lịch thời hậu WTO


Theo Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, từ giữa tháng 12-2006, các
hãng lữ hành Mỹ có thể vào kinh doanh trực tiếp, thành lập công
ty 100% vốn tại Việt Nam. Thỏa thuận này sẽ tác động trực tiếp
đến ngành du lịch trong nuớc. Tiếp đó là các thỏa thuận khi gia
nhập WTO. TBKTSG đã phỏng vấn ông Phạm Từ, Phó tổng cục
trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam, về tương lai ngành du lịch
Việt Nam.

TBKTSG: Ông có thể cho biết những thỏa thuận về du lịch khi
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)?
- Ông Phạm Từ: Hiện chưa biết chính thức thỏa thuận chung về du
lịch khi Việt Nam vào WTO sẽ thế nào. Theo tôi, về cơ bản cũng sẽ
theo như lộ trình đã đàm phán với đối tác Mỹ. Không lâu nữa các
doanh nghiệp du lịch Việt Nam phải tham gia một “sân chơi” chung Ông Phạm Từ
sòng phẳng và không có bảo hộ.

TBKTSG:Theo ông, thị trường du lịch sẽ như thế nào sau khi Việt Nam vào WTO?
- Chắc chắn sẽ rất sôi động và có nhiều cơ hội tốt. Vào WTO cũng là biện pháp mạnh để kích
thích du lịch Việt Nam phát triển nhanh hơn và mang tính chuyên nghiệp hơn. Cái gì cũng có hai
mặt, chúng ta cần tập trung khai thác mặt tích cực. Khi các hãng lữ hành nước ngoài vào Việt
Nam nhiều, vì lợi ích của chính họ, họ sẽ giúp ta quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam ở nước
ngoài mạnh hơn, có nghề hơn.

Ngoài ra, theo tôi, sau khi Việt Nam vào WTO sẽ có nhiều cơ hội để các doanh nghiệp du lịch
học nghề ngay tại sân nhà từ các hoạt động của doanh nghiệp du lịch nước ngoài.

TBKTSG: Như vậy, thị trường Việt Nam sẽ thuộc về các doanh nghiệp lữ hành nước
ngoài, thưa ông?
- Không hẳn như vậy, nhưng họ sẽ chi phối thị trường nhiều hơn. Ta buộc phải chấp nhận điều
đó khi lực lượng làm lữ hành của ta chưa đủ mạnh. Trong du lịch, bình quân lĩnh vực lữ hành chỉ
chiếm 10% tổng doanh thu, còn 90% thuộc về khách sạn, nhà hàng, vận chuyển, vui chơi giải trí,
mua sắm. Hiện Việt Nam có 600 doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế,
song đa số còn non trẻ, năng lực yếu, thiếu kinh nghiệm. Trong lữ hành, vấn đề quyết định không
phải là vốn mà là năng lực quản lý, tổ chức. Cái yếu của doanh nghiệp Việt Nam là hiểu biết về
thị trường, là khả năng, cách thức tiếp cận với nguồn khách. Chính sức ép này sẽ tạo ra một sự
chuyển dịch trong định hướng kinh doanh du lịch thời gian tới.

TBKTSG: Thưa ông, trong bối cảnh thời điểm gia nhập WTO của Việt Nam đã rất gần,
ngành du lịch có điều chỉnh gì về chiến lược phát triển không?
- Mục tiêu thu hút sáu triệu khách quốc tế vào năm 2010 đã cao gấp đôi so với hiện nay. Nhưng
so với nhiều nước trong khu vực, con số này chưa phải lớn. Có thể cần phải có một bước nhảy
để tăng lượng du khách gấp ba lần nhưng điều này không đơn giản. Để thực hiện mục tiêu này,
phát triển du lịch phải trở thành quốc sách, mọi khâu từ quy hoạch đến đầu tư, nhiều lĩnh vực từ
hàng không, đường sắt, đường bộ đến cảng biển... đều phải khác đi. Nhà nước cần tạo thông
thoáng hơn cho các hoạt động du lịch, có lộ trình miễn thị thực rộng hơn cho các thị trường.
Riêng trong việc đào tạo nguồn nhân lực, ngành du lịch đã có đề án trình Chính phủ thành lập
ngay ba trường trung học du lịch trong năm nay và đến năm 2010 cả nước phải có thêm 10
trường trung học nghiệp vụ và quản lý du lịch. Ngành du lịch sẽ tham gia quảng bá để nâng cao
hình ảnh, vị thế du lịch quốc gia bằng hoạt động liên ngành như tổ chức những ngày hoặc tuần lễ
văn hóa Việt Nam tại các nước; còn trong nước sẽ tạo những sự kiện du lịch lớn để thu hút
khách... Một việc quan trọng nữa là chuyện xúc tiến hình thành văn phòng du lịch quốc gia tại
các nước (hiện mới có 25 văn phòng du lịch do các doanh nghiệp đặt tại nước ngoài).

TBKTSG: Ông có khuyến cáo gì với các doanh nghiệp du lịch khi vào sân chơi chung
WTO?
- Tham gia sân chơi WTO là sự thử thách quyết liệt và sẽ có không ít doanh nghiệp phải bỏ cuộc.
Không ai có thể chỉ ra cho doanh nghiệp du lịch phải làm thế nào, mà trong quá trình cọ xát với
Quảng Ninh phát triển du lịch biển đảo
Tỉnh Quảng Ninh xác định du lịch biển đảo chính là ngành kinh tế mũi nhọn của địa
phương. Tuy nhiên, để khai thác tốt nhất lợi thế về biển đảo của tỉnh, đâu là những vấn đề
cần phải được giải quyết?

Vân Oanh

Tuyến du lịch tiềm năng


Việt Nam có khoảng 3.000 đảo lớn, nhỏ, riêng tỉnh Quảng Ninh đã tập trung hơn 2.000 đảo ở các
vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Với thế mạnh này, tỉnh Quảng Ninh xác định du lịch biển đảo là
ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh. Bà Nhữ Thị Hồng Liên, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh,
cho biết tỉnh đang tập trung đầu tư để khai thác tiềm năng này. Đơn cử như tuyến du lịch biển Hạ
Long - Vân Đồn - Cô Tô, tỉnh đã định hướng Vân Đồn là một trong bốn trung tâm du lịch trọng
điểm của tỉnh và sẽ được đầu tư tương xứng. Mới đây (ngày 31-5-2006) Thủ tướng cũng đã phê
duyệt đề án phát triển kinh tế - xã hội khu kinh tế Vân Đồn, theo đó, nơi đây sẽ là trung tâm kinh
tế miền Đông của tỉnh Quảng Ninh với trọng tâm phát triển là du lịch sinh thái biển - đảo chất
lượng cao.

Ghi nhận sau chuyến khảo sát thực tế tuyến du lịch Hạ Long - Vân Đồn - Cô Tô mới đây, ông Vũ
Thế Bình, Vụ trưởng Vụ Lữ hành, Tổng cục Du Lịch, cũng cho rằng đây là tuyến du lịch biển có
tiềm năng lớn.

Theo ông Bình, huyện đảo Cô Tô (nằm giữa vịnh Bắc Bộ, cách Vân Đồn 50 ki lô mét) có bãi biển
tự nhiên đẹp, rừng nguyên sinh, bãi san hô còn hoang sơ... Mặc dù là một đảo đẹp có nhiều lợi
thế về du lịch nhưng Cô Tô đang bị bỏ phí do chưa được khai thác. Tham gia chuyến khảo sát
của Tổng cục Du lịch tổ chức, ông Nguyễn Tuấn Việt, Giám đốc chi nhánh Hà Nội của Công ty
liên doanh Du lịch APEX, cho biết khả năng tìm nguồn đầu tư về du lịch cho Cô Tô không khó.
Theo ông, việc phát triển du lịch ở đảo này chỉ là chuyện trong nay mai, có thể là du lịch dã
ngoại, du lịch mạo hiểm, hoặc khai thác thành khu du lịch sinh thái biển.

Một chuyên gia trong ngành du lịch tiếc rẻ giờ mới nghĩ đến việc phát triển du lịch Cô Tô là quá
chậm. Trong khi không ít doanh nghiệp du lịch Việt Nam giờ mới biết đến đảo này thì những du
khách nước ngoài đã đến đây từ cách nay vài năm để khám phá và thưởng thức nét hoang sơ
của nơi này.

Làm sao thu hút khách?


Rõ ràng, tiềm năng du lịch biển đảo của Quảng Ninh là rất lớn nhưng để khai thác tiềm năng này
cần phải có một quy hoạch tổng thể về phát triển du lịch biển đảo của tỉnh. Quy hoạch này phải
được gắn kết với quy hoạch chung của cả nước. Ngoài ra, cũng cần có sự vào cuộc tích cực của
tỉnh, các ngành có liên quan, các nhà đầu tư và doanh nghiệp du lịch.

Theo ông Trương Hoàng Phương, Phó phòng Lữ hành Công ty Dịch vụ lữ hành Saigontourist, du
lịch Hạ Long mới chỉ khai thác phần “xác” chứ chưa có phần “hồn”. Ví dụ, một hình ảnh rất quen
thuộc và ấn tượng đối với du khách về vịnh Hạ Long là thuyền buồm hai cánh thì trên thực tế gần
như không còn hình ảnh này. Vậy mà người ta vẫn cứ dùng nó để quảng bá cho du lịch Hạ Long.

Theo ông Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Sở Du lịch Quảng Ninh, hiện tỉnh này đang tính đến
chuyện thuê chuyên gia nước ngoài để làm quy hoạch du lịch Vân Đồn, tránh vết xe đổ của Bãi
Cháy, Hạ Long. Thực tế cho thấy hiện nay các khu du lịch biển đảo đang bị đô thị hóa nhanh
chóng, mật độ xây dựng nhà dân quá lớn làm hỏng cảnh quan. Những kinh nghiệm xương máu
như việc đào bới, phá hủy môi trường tự nhiên ở đảo Tuần Châu, đổ đất lấn biển để đô thị hóa ồ
ạt, biến điểm du lịch sinh thái thành đô thị ở Bãi Cháy, Hùng Thắng cần phải được cảnh báo.

Mang dân ca 3 miền đến du khách


“Mảnh đất” dân ca ba miền trên cả nước thu hút được
nhiều sự chú ý của du khách quốc tế nhưng vẫn còn bỏ
trống. Phát hiện điều này, một doanh nghiệp ở Hà Nội đã
bắt tay với các nhà hát để cùng “cày xới”.

Đào Loan

Tiếp thị sản phẩm nghệ thuật


Khác với buổi ra mắt chương trình nghệ thuật Hương Việt tại
Hà Nội vào tháng trước của Công ty cổ phần Du lịch Văn hóa
dân tộc Việt Nam, lần này đêm diễn trình làng tại TPHCM, Tiết mục dân ca Nam bộ của Hương Việt tại
hôm 4-4, chỉ toàn các bài hát mang âm hưởng đờn ca tài tử, buổi ra mắt ở TPHCM hồi tuần trước.
cải lương… đậm chất Nam bộ. Chương trình tiếp theo ở Huế
tuy chưa chọn được thời điểm ra mắt cụ thể nhưng một đại diện của công ty xác nhận nội dung
biểu diễn sẽ là nhã nhạc cung đình, dân ca Huế và Bắc Trung bộ.

Để triển khai kế hoạch đúng với ý tưởng của công ty đưa ra, một hội đồng thẩm định nghệ thuật
gồm tám người đã được thành lập. Họ là những nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú và chuyên gia
trong ngành du lịch. Từ những góp ý của khán giả và các công ty du lịch, hội đồng này sẽ thẩm
định lại chất lượng của từng tiết mục biểu diễn sao cho ngày càng hấp dẫn, phong phú hơn. “Khi
du khách đến một thành phố lớn, họ sẽ được thưởng thức các chương trình nghệ thuật đặc
trưng do các nghệ nhân của khu vực đó và các nghệ sĩ chuyên nghiệp biểu diễn. Điều này vừa
giúp du khách có cơ hội khám phá âm nhạc dân gian của Việt Nam, vừa quảng bá cho show
diễn”, Ông Phạm Văn Du, Tổng giám đốc công ty, cho biết.

Dự kiến, từ ngày 15-5 tới công ty sẽ bắt đầu khởi động show diễn đầu tiên. Mỗi tuần ba đêm, ba
nhà hát tại Hà Nội, Huế và TPHCM sẽ đồng loạt sáng đèn phục vụ khán giả. Đến tháng 9 hoặc
chậm nhất là đầu năm tới, hai nhà hát tiếp theo ở Quảng Ninh và Hội An cũng sẽ bắt đầu hoạt
động. Công ty dự đoán trong thời gian đầu chương trình Hương Việt có thể chưa thu hút nhiều
khán giả, nhưng lịch diễn vẫn duy trì để tạo nên hình ảnh quen thuộc với khách du lịch trong và
ngoài nước. Giải thích về chuyện chọn tháng 5, mùa vắng khách quốc tế, để ra mắt chương trình
Hương Việt, ông Du cho rằng đó là khoảng thời gian mà công ty tập trung tạo ra sự chú ý cho
các công ty lữ hành, khách sạn, du khách và hoàn thiện dần dần chương trình biểu diễn. Đến
tháng 9, vào mùa du khách đến Việt Nam nhiều, chương trình sẽ diễn hàng đêm.

Sau khi tham khảo ý kiến một số doanh nghiệp làm du lịch, công ty quyết định chọn giờ biểu diễn
khoảng sau 8 giờ tối.Theo ông Du, đây là thời gian thích hợp nhất. “Ở các nhà hàng, khách sạn
cũng có các show trình diễn âm nhạc dân tộc nhưng không cố định. Hơn nữa, họ lại kết hợp vừa
ăn uống, vừa nghe nhạc nên du khách không thể thưởng thức trọn vẹn. Chúng tôi có thế mạnh là
tạo nên một chương trình biểu diễn phong phú để khán giả dễ cảm nhận cái hay của nền âm
nhạc dân gian Việt Nam”, ông Du nói.

Với Hương Việt show, công ty nhắm đến hai đối tượng chính là khách của các công ty lữ hành và
khách lẻ. Mỗi đêm diễn, công ty sẽ tặng vài chục ghế cho một số khách sạn làm quà tặng cho
khách quốc tế lưu trú dài ngày như một cách để quảng bá chương trình. Một khi du khách đã
quen những tờ bướm ghi lịch diễn giới thiệu tại các khách sạn, sân bay, nhà hàng… lúc đó họ sẽ
tự tìm đến Hương Việt. “Chúng tôi đang làm việc với các hãng lữ hành, lấy ý kiến các đối tác
trong tương lai để hoàn thiện chương trình, gửi đĩa ghi hình buổi diễn ra nước ngoài để nhờ các
công ty này quảng bá và đưa vào chương trình tour”, ông Du cho biết.

Thật ra, trên thị trường hiện nay cũng có khá nhiều đơn vị tổ chức tương tự như Hương Việt
nhưng do chưa nắm bắt đúng thị hiếu của người nước ngoài nên khai thác không hiệu quả.
Trước hết, khán giả người nước ngoài vốn không biết tiếng Việt. Vì thế, với một vở chèo hay
tuồng cải lương có thời gian dài khoảng hai giờ mà bắt du khách theo dõi chắc chắn sẽ không
thành công. Bằng cách riêng của mình, Hương Việt chú trọng đến âm nhạc và khả năng trình
diễn của nghệ sĩ để giúp người xem cảm nhận được các loại hình dân ca và nhạc cổ truyền. Mỗi
trích đoạn chèo, cải lương hay một bản nhạc có thời gian biểu diễn tối đa là bảy phút, còn tính
ĐI TRƯỚC MỘT BƯỚC
Công ty cổ phần Du lịch Văn hóa dân tộc Việt Nam thành lập hơn bốn tháng nay là gương mặt
mới toanh trong ngành du lịch và văn hóa. Tuy nhiên, năm thành viên góp vốn lập công ty kinh
doanh sản phẩm khá đặc biệt này là những người quen thuộc với ngành. Ông Du làm việc trong
ngành du lịch đã 20 năm, từng là Vụ trưởng Vụ Khách sạn thuộc Tổng cục Du lịch Việt Nam. Các
thành viên còn lại, có người từng là phó giám đốc nhà hát, có người làm việc ở Bộ Văn hóa -
Thông tin… Chính vì phát hiện ra “mảnh đất” dân ca ba miền trên cả nước thu hút được nhiều sự
chú ý của du khách quốc tế nhưng chưa có người “cày xới” đến nơi đến chốn, năm thành viên ấy
đã bắt tay vào làm ngay.

Thử tính, năm ngoái Việt Nam đã đón khoảng 3,4 triệu lượt khách quốc tế. Năm nay con số đó
dự tính có thể lên đến 4 triệu, tức trung bình mỗi ngày có khoảng 10.000 khách đến Việt Nam.
Trong khi đó trên cả nước lại chưa có một đơn vị nào đứng ra tổ chức biểu diễn loại hình này
gắn kết với các trung tâm du lịch lớn. Vì vậy, theo cách tính của công ty thì chuyện thu hút vài
trăm khách đến xem chương trình văn nghệ Hương Việt tại các địa phương mỗi đêm là hoàn
toàn khả thi. “Khi chúng tôi nêu ra ý tưởng tổ chức như thế này, chủ các nhà hát rất ủng hộ vì có
lợi cho cả hai bên. Giai đoạn đầu công ty hy vọng du khách đến xem chỉ kín chỗ khoảng 40-50%.
Sang đến tháng 9, mọi việc sẽ dần khá hơn”, ông Du lạc quan nói.

Du lịch hành hương : nhiều tiềm năng


Không cần giải thích, ai cũng hiểu kinh doanh du lịch là thế mạnh của các hãng lữ hành,
thế nhưng ở các tuyến du lịch hành hương, các chùa lại đang có nhiều ưu thế…

Uyên Viễn

Khi các chùa tổ chức tour


Nổi tiếng trong số các chùa tổ chức tour hành hương thập tự (viếng 10 chùa) tại TPHCM phải kể
đến chùa Thiên Tôn ở quận 5, nơi có trên 30 năm kinh nghiệm tổ chức. Vì không đặt nặng
chuyện kiếm lãi nên giá tour của chùa chỉ có 50.000 đồng/khách/ngày. Giá tour này bao gồm một
chai nước suối, ba bữa ăn, được nghe thuyết pháp, giới thiệu đặc điểm lịch sử văn hóa của từng
ngôi chùa. Thượng tọa Thích Chơn Không, Phó ban Hướng dẫn Phật tử TPHCM, trụ trì chùa,
cho biết để thiết kế một tour hành hương chùa phải mất khoảng ba tháng để chuẩn bị. “Mỗi năm
chương trình phải luôn đổi mới để tạo sự hấp dẫn. Chúng tôi phải thường xuyên tra cứu tài liệu
để nắm rõ thế mạnh của mỗi ngôi chùa là điểm di tích văn hóa, lịch sử hay cơ sở nuôi trẻ mồ côi,
khuyết tật, người già neo đơn… nhằm giới thiệu cho mọi người biết và hiểu đúng ý nghĩa của
chuyến hành hương”, Thượng tọa Chơn Không nói. Với những ưu điểm đó, chỉ trong tháng
Giêng đã có 400 khách tham dự tour này.

Đứng sau chùa Thiên Tôn về thâm niên tổ chức tour hành hương là Tịnh xá Trung tâm, quận
Bình Thạnh. Tour hành hương do tịnh xá tổ chức thường là thăm viếng các chùa ở các tỉnh miền
Tây và Đông Nam bộ. Chẳng hạn như năm nay, tour hành hương 24 chùa từ Long An đến Tiền
Giang của tịnh xá có giá từ 200.000-300.000 đồng/người. Giá tour tuy có cao nhưng tháng rồi
vẫn thu hút được khoảng 350 khách. Thượng tọa Thích Giác Toàn, Trưởng ban Kinh tế-Tài chính
Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trụ trì Tịnh xá Trung tâm, giải thích “chùa làm tour
không phải để kiếm lời. Chúng tôi trích ra hết từ nguồn thu để cúng dường lại các chùa từ 1,2-5
triệu đồng tùy theo cấp độ hoạt động của cơ sở đó”.

Ở TPHCM, ngoài hai điểm tổ chức tour hành hương kể trên còn phải kể đến các chùa Giác
Uyển, Tổ đình Phổ Quang, Tổ đình Quán Thế Âm, quận Phú Nhuận; Huê Nghiêm II, quận 2; đạo
tràng Thái Tuệ chùa Thiền Lâm, quận 8… Thế mạnh của các chùa khi tổ chức loại tour này là
giá rẻ phân nửa so với các công ty du lịch. Kế đến là các thầy có quan hệ rộng với các chùa
khác, am hiểu cặn kẽ về văn hóa-lịch sử Phật giáo của từng địa phương, cho nên các thầy vừa
đồng hành với Phật tử, vừa là hướng dẫn viên sẵn sàng giải đáp những thắc mắc liên quan đến
sinh hoạt tín ngưỡng. Về phía người đi tour, sau vài chuyến đi hành hương nếu cảm thấy thú vị
họ sẽ giới thiệu khách mới. Do đó, mỗi năm số khách hành hương theo tour nhà chùa đều không
ngừng tăng. “Mọi năm đến mùng 2 Tết vé mới bán hết nhưng năm nay vé đã hết từ chiều 23
tháng Chạp”, Thượng tọa Chơn Không cho biết.

Doanh nghiệp làm “tour chùa”


Không hẹn mà gặp, trong tháng Giêng này nhiều công ty du lịch đồng loạt tung ra các tour hành
hương phân đều theo các vùng miền. Khách đi tour hành hương ở các công ty gồm nhiều thành
phần tôn giáo nhưng tất cả đều có một điểm chung là thích tìm hiểu về văn hóa Phật giáo.
Tour giá rẻ thì có Công ty Atlas và Công ty Đất Việt. Với giá 150.000 đồng/khách, Atlas tổ chức
tour đi trong ngày đến mười chùa ở Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương. Đối tượng khách
của Atlas là giới công chức. Trong gần 500 người đi tour tháng Giêng của Atlas thì có khoảng
200 là nhân viên Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank). Đánh đúng tâm lý đầu năm thích
làm việc thiện của du khách, trong chương trình của Atlas có cả phần thả cá phóng sinh và tặng
quà cho các chùa nuôi trẻ mồ côi. Có một điều thú vị là trong các tour đi chùa, Atlas không cho
khách xin xăm, coi bói, bẻ cây hái lộc, coi ngày xuất hành… Ông Phạm Phước Long, Tổng giám
đốc Công ty Atlas, giải thích công ty đưa ra quy định như vậy là vì muốn giúp du khách hiểu đúng
thế nào là chánh tín, thế nào là mê tín - điều mà lâu nay nhiều người đi chùa chưa hiểu hết.
Cách làm tour của Đất Việt lại hơi khác. Công ty này thiết kế tour hành hương mười chùa rải đều
từ TPHCM xuống Long An, Tiền Giang. Giá tour Đất Việt bán ra là 198.000 đồng/khách. “Mỗi tour
chúng tôi chỉ bán đúng 45 vé, bởi nếu ham khách thì sẽ giảm chất lượng”, bà Trần Minh Hương,
Trưởng phòng Kinh doanh Đất Việt, cho biết. Để tung ra tour này, bà Hương và các hướng dẫn
viên đã dành ra hai tháng để đi khảo sát trên 20 ngôi chùa và cuối cùng chọn ra được10 điểm để
hợp tác lâu dài trong các khâu ẩm thực, trà đạo và thuyết pháp.

Tại Hà Nội, từ đầu năm đến nay các công ty du lịch như Tre Xanh, Green Papaya, quận Hoàn
Kiếm, không tổ chức tour hành hương thập tự như TPHCM mà chọn cách làm tour đi một chùa
trong ngày như chùa Hương (Hà Tây), Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh), Thiền viện
Trúc Lâm Tây Thiên (Vĩnh Phúc). Các tour này có giá từ 180.000-230.000 đồng/người (dành cho
khách đi theo nhóm trên bốn người), bao gồm vé cáp treo và một suất ăn trưa.

Trong khi đó ở các công ty du lịch “anh cả” như Saigontourist, Fiditour, Bến Thành… thì các tour
du lịch hành hương lại đi theo một phân khúc khác của thị trường. Đó là những chuyến hành
hương dài ngày ra phía Bắc, hoặc ra nước ngoài với chi phí cao hơn. Chẳng hạn như tour hành
hương đất Bắc của Fiditour, thăm các danh lam cổ tự thuộc vào “hàng top” của Phật giáo Việt
Nam trong thời gian 6 ngày 5 đêm với giá 3,9 triệu đồng/khách (chưa tính vé máy bay). Trong khi
đó đối với những tour hành hương sang Ấn Độ-Nepal, Trung Quốc… thì giá trung bình của các
tour này khoảng 1.370 đô la Mỹ, thời gian đi từ 7-11 ngày.

Các công ty lữ hành cho biết để thiết kế được một tour du lịch hành hương họ phải mất thời gian
khảo sát ít nhất là ba tháng. Điểm hạn chế của các công ty này so với các chùa là thiếu người có
kiến thức sâu về Phật giáo và chưa có quan hệ sâu đậm với các điểm đến.

Tuy có những trở ngại như thế, một số công ty lữ hành vẫn đánh giá kinh doanh tour du lịch
hành hương vẫn còn nhiều tiềm năng. Chẳng hạn như ở Fiditour, trong số 3.000 khách đi du lịch
trong tháng 2, có trên 1.600 khách chọn tour hành hương, tăng 15% so với cùng kỳ năm ngoái.
Và để khai thác hiệu quả thị trường này, một số công ty du lịch xác định sẽ từng bước nâng chất
lượng bằng cách phối hợp với các chùa tổ chức hướng dẫn nấu chay, trà đạo, tọa thiền… theo
từng chủ đề, từng mùa trong năm.

Thừa và thiếu
Khánh Thủy

Những tháng đầu năm 2006, hầu hết các khách sạn tại
TPHCM và Hà Nội đều kín phòng, thậm chí nhiều khách sạn
đã từ chối nhận phòng đến tận tháng 3-2006. Trong khi đó,
công suất sử dụng phòng của tất cả các khách sạn ở miền
Trung vẫn còn thấp.

Tình trạng thừa phòng khách sạn ở miền Trung đã kéo dài
trong năm qua, mặc dù chính quyền, ngành du lịch và các
doanh nghiệp kinh doanh khách sạn ở khu vực này đã đầu tư Du khách chơi bài chòi ở Hội An
liên tục cho việc quảng bá du lịch rộng rãi trong và ngoài
nước. Đặc biệt là các lễ hội có quy mô và tập trung nhân lực, vật lực lớn như Lễ hội Hành trình di
sản - Quảng Nam, Liên hoan Văn hóa Du lịch Đà Nẵng, Festival Huế...

Thời gian qua chính quyền các tỉnh miền Trung đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi hấp dẫn để
kêu gọi các nhà đầu tư đến với các địa phương Đà Nẵng, Quảng Nam, Huế... Bên lề các chương
trình lễ hội lớn bao giờ cũng có lồng ghép các chương trình hội thảo xúc tiến kêu gọi đầu tư. Thế
nhưng vẫn chưa có nhiều doanh nhân đi lại xem xét, khảo sát cơ hội đầu tư ở khu vực này. Đây
là nguồn khách khá lớn, chiếm đến 13,51% lượng du khách đến Việt Nam trong năm qua.

Ông Bart van Keulen, Giám đốc điều hành hệ thống khách sạn Life Resorts Việt Nam, nhận xét:
Hầu hết các khách sạn ở TPHCM và Hà Nội đều quá tải là nhờ sự gia tăng lớn về khách doanh
nhân. Nguồn khách này trả giá phòng cao, chi tiêu lớn. Trong khi đó, miền Trung lại có rất ít
khách loại này và chỉ trông cậy vào các đoàn khách du lịch lớn.

Ông Norbert Vas, Giám đốc khách sạn Golden Sand Hội An, cho rằng: Chính tình trạng thiếu
phòng ở Hà Nội, TPHCM đã khiến khu vực miền Trung mất đi một lượng lớn các đoàn khách đi
theo các tour xuyên Việt.

Ông Bart van Keulen nhận xét: “Miền Trung vẫn thiếu các khách sạn 4-5 sao. Khi du lịch phát
triển, cơ sở hạ tầng phải phát triển đồng bộ với sự gia tăng số lượng khách sạn mới. Cơ sở hạ
tầng không chỉ là việc xây dựng đường mới, đầu tư hệ thống điện mà còn phải có các cơ sở xử
lý chất thải, nguồn cung cấp nước sạch, môi trường du lịch an ninh. Muốn vậy, chính quyền địa
phương phải phối hợp chặt chẽ với các nhà đầu tư khách sạn để đảm bảo những tiện nghi cho
du khách”.

Tại Quảng Nam, mặc dù chỉ còn hai tháng nữa là Năm Du lịch Quảng Nam 2006 sẽ diễn ra
nhưng nhiều người làm việc trong lĩnh vực du lịch vẫn còn mơ hồ về thông tin này. Ông Bart van
Keulen nói: “Theo tôi, một trong những cách quảng bá tốt nhất cho du lịch miền Trung là xây
dựng, phát triển hình ảnh một điểm đến sạch sẽ, thân thiện và du lịch sinh thái. Tuy nhiên, hiện
tại còn rất nhiều công trình chưa hoàn thành như đường Thanh Niên dọc biển nối từ Đà Nẵng
đến Cửa Đại (Hội An). Nạn bán hàng rong, “cò” vẫn còn diễn ra tại nhiều điểm du lịch”.

Ông Norbert Vas thì phàn nàn: “Kế hoạch thực hiện Năm Du lịch Quảng Nam sẽ tạo được sự
chú ý của du khách vào khu vực này. Tuy nhiên, chính quyền cũng cần tập trung giải quyết
những vấn đề còn bất cập hiện nay như: Hội An thường xuyên bị lụt lội. Rác vẫn còn đầy trên
sông. Đường ven biển Cửa Đại thường bị ngập chìm dưới cát nhưng không có người dọn dẹp
ngay. Vẫn còn nhiều người bán hàng rong, taxi, xe ôm quấy rầy khách. Ai sẽ giải quyết những
vấn đề này?”.

Ngay như chuyện bán vé tham quan phố cổ Hội An để có thêm kinh phí bảo tồn, trùng tu phố cổ
cũng có nhiều bất hợp lý. Đấy là nhận định của nhiều hướng dẫn viên, chủ hãng du lịch và du
khách. Ông Paul Mười, Phó giám đốc Công ty Du lịch Vytatour, TPHCM, than phiền: Đối với
khách lưu trú dài ngày ở Hội An chẳng lẽ lúc nào cũng phải mang khư khư vé tham quan đã mua
bên người. Chẳng lẽ mỗi lần vào khu phố cổ để mua sắm, ăn uống lại phải mang theo vé để xuất
trình. Theo họ, thay vì bán vé vào khu phố cổ thì có thể yêu cầu các khách sạn thu thêm vào tiền
Hành lang kinh tế đông tây : du lịch đi trước
Trương Điện Thắng

Ngoài các tour caravan đến từ Thái Lan, mấy tháng qua các công ty
du lịch Thái Lan và Myanmar bắt đầu đưa nhiều đoàn khách, cả 100
người trở lên, sang Lào và Việt Nam bằng xe buýt với giá bình quân
140-150 đô la Mỹ/người tùy theo thời gian (4 ngày 3 đêm hoặc 5 ngày
4 đêm). Đa số du khách theo các tour này là người dân vùng Bắc và
Đông Bắc Thái Lan, một số khác từ Bangkok và Myanmar. Ước tính
lượng du khách theo quốc lộ 9 đến Việt Nam trong năm nay gần
10.000 người. Ông Đặng Thái, Giám đốc Danatours, một trong các
đơn vị lữ hành của Việt Nam đang khai thác tuyến này, cho rằng sang
năm, khi Việt Nam và Thái Lan kỷ niệm 30 năm thiết lập quan hệ
ngoại giao và nhân hội chợ quốc tế tại Khon Kean, nguồn du khách
này sẽ tăng lên đáng kể.

Giữa tháng 11 vừa qua, một phái đoàn, gồm đại sứ và đại diện các nước Hà Lan, Mỹ, Tây Ban
Nha, Chile, Úc, Ấn Độ… và nhiều quan chức của các tổ chức quốc tế cũng như Việt Nam do Đại
sứ Thái Lan tại Việt Nam Krit Kraichitti làm trưởng đoàn, đã đi khảo sát tuyến hành lang kinh tế
Đông Tây bằng đường bộ.

Theo Đại sứ Krit Kraichitti, chuyến đi bắt đầu từ Hà Nội đến Vinh, qua quốc lộ 8 đến thủ đô
Vientiane (Lào), tiếp tục qua các tỉnh Nongkhai, Ubon, Khon Kean (Đông Bắc Thái Lan), trở về
Paksé, Savannakhet, qua cửa khẩu Lao Bảo, Huế và dừng chân tại cảng Tiên Sa, Đà Nẵng,
điểm cuối của hành lang. Hành trình kéo dài 11 ngày. Đây là chuyến khảo sát thực địa nhằm giới
thiệu tiềm năng của hành lang kinh tế đông tây với đại diện các nước và các tổ chức quốc tế
trong khuôn khổ các hoạt động chuẩn bị kỷ niệm 30 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt
Nam - Thái Lan vào năm sau. Đại sứ Krit Kraichitti cũng cho biết, trong năm 2006, nội các hai
nước sẽ nhóm họp tại Bangkok (lần trước tại Đà Nẵng) và phía Thái Lan sẽ phối hợp với các bên
liên quan tổ chức một hội chợ lớn về kinh tế, thương mại, du lịch tại tỉnh Khon Kean. Ông hy
vọng các doanh nghiệp ở các tỉnh miền Trung Việt Nam, dọc theo hành lang Đông Tây, sẽ có mặt
theo lời mời. Cũng trong năm 2006, Thái Lan mong muốn sẽ mở lãnh sự quán hay ít nhất là văn
phòng đại diện tại Đà Nẵng nhằm đẩy mạnh các hoạt động đầu tư, thương mại…

Trưởng cơ quan quốc tế về di dân của Liên hiệp quốc tại Việt Nam (IOM) Andrew Bruce nhận xét
hầu hết các địa phương dọc tuyến hành lang kinh tế Đông Tây còn nghèo, vì vậy với cơ sở hạ
tầng vượt trội và trình độ phát triển cao hơn, Đà Nẵng có vai trò quan trọng trong việc phát triển
kinh tế ở khu vực này. Ông Bruce còn cho biết thêm, bên cạnh các hỗ trợ về mặt xã hội của IOM,
các nước có đại diện tham gia chuyến khảo sát đều rất quan tâm đến hành lang kinh tế Đông
Tây và chắc chắn sẽ có thêm nhiều biện pháp hỗ trợ để thúc đẩy sự phát triển liên vùng.

Theo Giám đốc Trung tâm xúc tiến đầu tư Đà Nẵng Lâm Quang Minh, hiện nay hoạt động đầu tư
- thương mại giữa các tỉnh thuộc bốn nước dọc hành lang vẫn chưa phát triển mạnh. Các bên
cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa để cùng với du lịch tạo ra động lực liên kết và phát triển mới.

Cụ thể trong lĩnh vực du lịch cần phải cải tiến một số khâu, thủ tục để tạo sự thuận lợi cho du
khách. Chẳng hạn, cửa khẩu Mukdahan - Savẳn chỉ mở cửa từ 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều, hoặc
thời gian kiểm tra tại cửa khẩu Lao Bảo quá lâu (từ 1-2 giờ cho mỗi xe 50 khách) đã hạn chế thời
gian tham quan, mua sắm của du khách sau đó tại các điểm đến nổi tiếng như động Phong Nha,
địa đạo Vịnh Mốc, cố đô Huế, bảo tàng Chămpa, phố cổ Hội An… Các loại hình dịch vụ ở các
bãi biển miền Trung vừa thiếu lại vừa kém chất lượng cũng khiến các tour du lịch xuyên Á bằng
đường bộ chưa phát triển như mong muốn…

Các tỉnh thuộc bốn nước mà hành lang kinh tế


Đông Tây đi qua
Myanmar: Kain, Mon; Thái Lan: Kalasin, Khon Kean, Mukdahan, Philsanulok, Sukhothai,
Tak, Yasothon; Lào: Khammouran, Savannakhet, Saravan, Champasac; Việt Nam: Quảng
Thương hiệu cho dịch vụ
Trong bối cảnh hội nhập, không chỉ các doanh nghiệp sản xuất
mà các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cũng đang nỗ lực từng
bước tạo dựng danh tiếng cho mình. Một số doanh nghiệp trong
ngành ngân hàng, du lịch hay viễn thông đang triển khai các
hoạt động xây dựng thương hiệu khá sôi động. Về nguyên tắc,
xây dựng thương hiệu cho dịch vụ cũng giống như cho sản
phẩm. Tuy nhiên, dịch vụ cũng có những điểm đặc thù cần lưu
tâm khi đầu tư cho thương hiệu.

Lê Chí Công

Không chỉ là chiếc áo khoác


Trong giai đoạn đầu xây dựng thương hiệu, đa số doanh nghiệp dịch
vụ đều nghĩ đến việc thiết kế và sở hữu một hệ thống nhận diện
thương hiệu cho riêng mình. Nó bao gồm tên, logo, khẩu hiệu, đồng
phục, các loại giấy tờ giao dịch, mặt tiền trụ sở, không gian giao dịch và các loại vật phẩm tiếp thị
quảng cáo khác. Mục tiêu của một hệ thống nhận diện thương hiệu không chỉ là tạo sự nhận biết,
sự khác biệt, thể hiện cá tính doanh nghiệp mà còn nhắm đến việc tác động đến nhận thức, tạo
cảm giác về quy mô lớn, tính chuyên nghiệp của doanh nghiệp đối với khách hàng và công
chúng. Tuy nhiên, đây chỉ là chiếc áo khoác bên ngoài cho doanh nghiệp dịch vụ. Nói theo ngôn
ngữ máy tính thì đây chỉ là phần cứng. Và tất nhiên, mục tiêu của việc xây dựng một thương hiệu
không chỉ dừng lại ở bước sơ khởi này. Nó cần phải cài đặt thêm phần mềm phù hợp để vận
hành bộ máy. Đây mới chính là phần quan trọng tốn nhiều thời gian, đòi hỏi cả công sức lẫn sự
kiên trì của nhà tạo dựng thương hiệu dịch vụ.

Khi “sản phẩm” là vô hình


Khác với sản phẩm vật chất, khách hàng sử dụng dịch vụ không thể cầm, nắm hay cất chứa mà
chỉ có thể trải nghiệm bằng cách sử dụng dịch vụ. Ví dụ như kinh nghiệm giao dịch tại một ngân
hàng, đi máy bay hay sử dụng dịch vụ điện thoại di động. Đối với một thương hiệu dịch vụ,
những gì mà khách hàng đánh giá ngay sau khi sử dụng dịch vụ sẽ mang tính quyết định. Do
vậy, bên trong chiếc áo khoác, chính phần mềm được cài đặt mới là quyết định. Đó chính là chất
lượng dịch vụ.

Thông thường, dịch vụ cung cấp bởi các doanh nghiệp trong cùng ngành thì khá giống nhau. Chỉ
khác nhau ở chất lượng phục vụ tại mỗi nơi. Dù là ngành dịch vụ nào đi nữa thì cốt lõi của chất
lượng dịch vụ nằm ở ba yếu tố chính. Đó là con người, công nghệ và quy trình nghiệp vụ.

Khách hàng sẽ đánh giá chất lượng dịch vụ thông qua trải nghiệm, tiếp xúc với những con người
khi giao dịch. Do đó, việc thu hút nhân tài có tầm nhìn và chuyên môn, việc đào tạo và huấn
luyện cho nhân viên sẽ là nền tảng cho việc xây dựng một thương hiệu dịch vụ. Mục tiêu huấn
luyện không chỉ là nghiệp vụ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp mà còn là dịp để chia sẻ thông
tin về những giá trị, mục tiêu và định hướng chung. Từ đó hình thành ý thức trách nhiệm và một
tinh thần làm việc vì một danh tiếng chung. Trong môi trường đó, nhân viên mới có thể thể hiện
qua hành vi cư xử trong khâu giao tiếp, phục vụ khách hàng theo chủ định. Ví dụ, khẩu hiệu của
ngân hàng Deutsche Bank (Đức) là “A Passion to Perform” - tạm dịch “Đam mê hoàn thiện” như
một “tín điều” để luôn phấn đấu vì lợi ích gia tăng cho khách hàng.

Kế đến chất lượng dịch vụ sẽ được đánh giá bằng việc áp dụng công nghệ nhằm không ngừng
mang lại những giá trị gia tăng và sự thuận tiện hơn cho khách hàng. Đây là một xu hướng tất
yếu. Ví dụ trong ngành ngân hàng, nhiều nơi hiện nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ thẻ rút
tiền tự động (ATM), truy cập tài khoản và giao dịch trên mạng...

Và cuối cùng là khâu quản lý quy trình nghiệp vụ, khách hàng sử dụng dịch vụ bao giờ cũng
mong được phục vụ theo cơ chế “một cửa” đơn giản và nhanh chóng chứ không phải tốn nhiều
thời gian qua nhiều cấp và thủ tục giấy tờ phức tạp, rườm rà.
Tạo dựng bản sắc
Xây dựng thương hiệu thực chất là việc tạo dựng một bản sắc riêng cho doanh nghiệp. Thường
thì thương hiệu dịch vụ cũng là thương hiệu doanh nghiệp.

Bản sắc thương hiệu là một khái niệm khá phức tạp. Lấy ngành ngân hàng làm ví dụ để hình
dung xu hướng xây dựng “bản sắc thương hiệu” tại nước ta hiện nay. Nhìn chung, đa số các
ngân hàng trong nước đều có khuynh hướng tạo cảm giác quy mô, bề thế ngay từ cách đặt tên
giao dịch nghe thật “oách” vì có sự liên tưởng đến yếu tố “ngoại” mang tầm quốc tế hay khu
vực... cho đến mặt bằng đồ sộ cho trụ sở và nhiều chi nhánh nhằm tạo cảm giác an tâm cho
khách hàng. Nhưng dường như ở bên trong những nơi giao dịch đó còn thiếu nụ cười của
những giao dịch viên hay là một không gian thân thuộc hơn. Vậy đâu sẽ là bản sắc riêng cho các
ngân hàng trong nước trong bối cảnh hội nhập WTO?

Cụ thể, hãy so sánh một bên là một ngân hàng nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam với câu
định vị thương hiệu nổi tiếng của mình là “Ngân hàng toàn cầu am hiểu địa phương”. Có thể diễn
giải là họ mong muốn gửi đi thông điệp “Tuy là một ngân hàng có quy mô toàn cầu nhưng chúng
tôi luôn quan tâm đến văn hóa và nhu cầu của các bạn”. Và bên kia là các ngân hàng trong nước
đang cố “khoác” cho mình những “chiếc áo ngoại”. Hướng đến sự chuyên nghiệp nhằm đáp ứng
nhu cầu của khách hàng là điều khỏi phải bàn nhưng đồng hóa tất cả theo “ngoại” thì có thể mất
đi lợi thế cạnh tranh duy nhất của mình sau này. Bởi vì xét về tiềm lực tài chính, công nghệ cho
đến năng lực quản lý, các ngân hàng trong nước đều khó có thể so sánh với các ngân hàng
nước ngoài khi mở cửa.

Bản sắc thương hiệu không chỉ mang lại cho khách hàng sự hài lòng thỏa mãn, sự trông đợi mà
hơn cả là một niềm tin bền vững. Nói cách khác, để có được nhiều khách hàng trung thành với
mình, doanh nghiệp dịch vụ không chỉ cần biết sử dụng chiếc áo khoác phù hợp mà quan trọng
hơn là luôn để lại những ấn tượng tốt đẹp và sâu sắc trong tâm trí khách hàng thông qua chất
lượng dịch vụ mang nét đặc trưng riêng của mình. Như thế, một thương hiệu dịch vụ mới có thể
thành công và phát triển bền vững.

Tỷ trọng dịch vụ giảm


LTS: Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu
Đảng bộ TPHCM, lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2005-2010 xác
định “Trong lĩnh vực dịch vụ, tập trung phát triển, có tính
đột phá chín nhóm ngành dịch vụ… nhằm tạo điều kiện
cho khu vực dịch vụ tăng trưởng cao hơn trong giai
đoạn sau năm 2010”. Dự thảo cũng đặt mục tiêu “Phấn
đấu đưa giá trị gia tăng của các nhóm ngành dịch vụ trên
có tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP
trên địa bàn”. Sự kiện & Vấn đề nhân dịp này nhìn lại tình
hình phát triển khu vực dịch vụ của TPHCM và tìm
Dịch vụ cảng biển là một trong nhóm dịch vụ hướng phát triển cho một số loại hình dịch vụ cao cấp.
mà TPHCM sẽ dồn sức để phát triển trong
năm tới.

Tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong GDP của TPHCM liên tục giảm và xu hướng này sẽ
còn tiếp tục trong nhiều năm nữa. Tuy nhiên, cơ cấu của khu vực này đã có ít nhiều
chuyển biến với sự gia tăng mạnh mẽ của những loại dịch vụ cao cấp.

Tấn Đức

Đẩy mạnh phát triển khu vực dịch vụ, nhất là các loại dịch vụ hỗ trợ phát triển kinh doanh, là mục
tiêu chiến lược đã được TPHCM đề ra và thực hiện từ nhiều năm qua. Nhưng kết quả thu được
trên thực tế cho đến nay dường như vẫn đi ngược lại sự mong đợi, khi tỷ lệ đóng góp của khu
vực này vào giá trị tổng sản phẩm nội địa (GDP) của thành phố tiếp tục trên đà giảm sút.

Theo Viện Kinh tế TPHCM, đến năm 2005 giá trị dịch vụ trên địa bàn TPHCM chỉ còn chiếm
50,6% trong GDP, thấp hơn đáng kể so với mức 57,8% cách nay 10 năm và ít hơn 14 điểm phần
trăm so với thời điểm trước khi Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa. Có thể những số liệu kể
trên chưa phản ánh đầy đủ quy mô của khu vực dịch vụ ở TPHCM, do chưa thống kê được phần
giá trị dịch vụ được cung cấp trực tiếp từ các cơ sở sản xuất công nghiệp hoặc phần của các nhà
cung cấp dịch vụ có trụ sở chính đặt ở Hà Nội. Đồng thời, một số loại dịch vụ, như cấp điện, cấp
nước, vẫn được tính cho công nghiệp. Nhưng ông Trần Du Lịch, Viện trưởng Viện Kinh tế
TPHCM, cho rằng dù có được bổ sung thêm thì cũng không thay đổi được xu hướng sụt giảm về
tỷ trọng của khu vực kinh tế này.

Đến nay, dù sao trong cơ cấu GDP, dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng cao hơn so với công nghiệp. Kết
quả này chủ yếu là nhờ phần đóng góp của thương mại và dịch vụ ăn uống nhờ lợi thế khách
quan của một thị trường tiêu thụ lớn nhất nước. Trong khi đó, các loại dịch vụ cao cấp mà thành
phố đang muốn thúc đẩy đóng góp chưa đáng kể vào GDP. Chẳng hạn tài chính - ngân hàng và
bảo hiểm mới chiếm 3,4%, dịch vụ khoa học công nghệ 0,8%.

Tuy nhiên, ông Lịch nhấn mạnh, tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực dịch vụ giảm không có
nghĩa là vai trò của lĩnh vực này đối với nền kinh tế thành phố kém. Trái lại, tác động của nó đối
với sự phát triển công nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung đang ngày càng lớn hơn. “Tỷ
trọng của khu vực dịch vụ sụt giảm trong thời gian qua là tất yếu và xu hướng này sẽ còn tiếp tục
trong một số năm nữa”, ông Trần Du Lịch khẳng định.

Vì sao?
Đối với các nền kinh tế đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa, tốc độ phát triển
của công nghiệp bao giờ cũng cao hơn dịch vụ. Việt Nam cũng vậy và TPHCM nói riêng cũng
không ngoại lệ. Thống kê của Viện Kinh tế TPHCM cho thấy, tốc độ phát triển công nghiệp bình
quân của thành phố từ năm 1991 đến nay là 15,03%, cao gấp rưỡi so với tốc độ tăng của khu
vực dịch vụ. Ông Trần Du Lịch giải thích: “Sự ra đời của Luật Công ty, Luật Doanh nghiệp tư
nhân vào năm 1990 cùng với một loạt khu chế xuất, khu công nghiệp cộng với nhu cầu phát triển
sản xuất để thay thế hàng nhập khẩu đã kích thích công nghiệp thành phố phát triển mạnh. Trong
khi đó, nhu cầu thị trường đối với ngành dịch vụ lại không thể tăng nhanh như hàng công nghiệp.
Đó là nguyên nhân chính dẫn đến xu hướng sụt giảm về tỷ trọng của ngành này”.
Cũng như công nghiệp, tốc độ phát triển dịch vụ phụ thuộc vào nhu cầu thị trường. Nhưng đặc
điểm thị trường của hai khu vực kinh tế này hiện còn khác biệt. Không như công nghiệp, thị
trường của nhiều loại dịch vụ còn khá hẹp, chủ yếu tập trung ở các thành phố lớn và trung tâm
đô thị. Sự phát triển của các loại dịch vụ này tùy thuộc khá nhiều vào tốc độ gia tăng mức sống
của người dân cũng như kinh tế của địa phương. Với quy mô kinh tế của các tỉnh còn nhỏ như
hiện nay, người dân các địa phương đa số vẫn phải lo cái ăn, cái mặc hàng ngày là chủ yếu thì
lĩnh vực dịch vụ ở TPHCM khó mà có bước phát triển như mong đợi.

Ngoài ra, chính sách vĩ mô cũng ít nhiều tác động đến ngành kinh tế này ở TPHCM. Cho đến
nay, Việt Nam vẫn chưa mở cửa, hoặc chỉ mở một phần, nhiều thị trường dịch vụ quan trọng cho
nhà đầu tư nước ngoài. Tình trạng này khiến Việt Nam bị thiếu nguồn cung có chất lượng, dẫn
đến việc phải nhập khẩu dịch vụ từ nước ngoài.

Nước chảy chỗ trũng


Mặc dù xu thế giảm sút này chưa được cải thiện nhưng những gì đã đạt được trong năm năm
qua cho thấy khu vực dịch vụ đã có dấu hiệu phát triển đúng hướng. Số liệu thống kê cho thấy,
tốc độ tăng trung bình trong năm năm qua của ngành này ở TPHCM đạt trên 10%/năm, cao hơn
một chút so với kế hoạch là 9,5%. Đáng chú ý là nhiều loại dịch vụ cao cấp nhiều năm liền đạt
tốc độ tăng trưởng hai con số, chẳng hạn như tốc độ tăng bình quân của ngành tài chính - ngân
hàng trên 20%/năm, khoa học công nghệ trên 12%, đào tạo 15-18%, y tế 15-19%…

Ông Trần Du Lịch cho biết, dự kiến trong năm năm tới TPHCM sẽ dồn sức để thúc đẩy phát triển
chín nhóm dịch vụ quan trọng, gồm: thương mại, trong đó chủ yếu tập trung cho dịch vụ hỗ trợ
xuất khẩu; cảng biển, kho vận và hậu cần; viễn thông và công nghệ thông tin; dịch vụ kinh doanh
bất động sản; tư vấn và chuyển giao công nghệ; du lịch và dịch vụ du lịch hội nghị; y tế kỹ thuật
cao; giáo dục và đào tạo; tài chính, ngân hàng, bảo hiểm.

Theo dự thảo kế hoạch, TPHCM sẽ kiến nghị Trung ương thay đổi một số chính sách nhằm kích
thích một số ngành dịch vụ quan trọng phát triển, như tăng tốc độ mở cửa thị trường bất động
sản, dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễn thông… để thu hút nhà đầu tư nước ngoài. Về phần mình,
TPHCM dự kiến sẽ dùng ngân sách để đầu tư cho một số lĩnh vực ít có khả năng thu hút vốn từ
cộng đồng doanh nghiệp, trong đó có đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, xây dựng các trung
tâm thông tin kinh tế… Ngoài ra, thành phố cũng sẽ xem xét thực hiện hoặc đề xuất thực hiện
một số chính sách nhằm làm cho các lĩnh vực dịch vụ mà thành phố muốn phát triển trở nên hấp
dẫn đối với doanh nghiệp.

Ông Trần Du Lịch giải thích: “Nước chảy chỗ trũng. Đó là quy luật tự nhiên. Điều TPHCM cần
làm là đưa ra các chính sách có tác động khơi dòng, dẫn dắt thị trường, để biến các mục tiêu cần
phát triển trở thành chỗ trũng thu hút đầu tư”.

Tỷ lệ đóng góp vào GDP của khu vực dịch vụ giảm không có nghĩa là vai trò của lĩnh vực
này đối với nền kinh tế thành phố kém. Trái lại, tác động của nó đối với sự phát triển công
nghiệp nói riêng và cả nền kinh tế nói chung đang ngày càng lớn hơn.

Tỷ trọng một số ngành dịch vụ ở TPHCM


2001 2002 2003 2004
Tổng GDP (tỉ đồng) 84.852 96.403 113.326 136.488
Thương mại, sửa chữa xe 13,4% 13,33% 12,57% 12,77%
Khách sạn, nhà hàng 6,0% 5,67% 5,16% 5,04%
Vận tải, kho bãi,
thông tin liên lạc 9,07% 9,31% 8,82% 8,71%
Tài chính, tín dụng 3,29% 3,78% 3,98% 4,43%
Khoa học, công nghệ 0,93% 0,99% 0,92% 0,93%
Tư vấn, kinh doanh tài sản 4,72% 4,37% 4,2% 4,02%
Giáo dục, đào tạo 3,67% 3,82% 3,66% 3,85%
Y tế 2,99% 3,14% 3,18% 3,41%

Người Đức nhận xét về du lịch Việt Nam


Các chuyên gia du lịch Đức, đến tham gia hội thảo du lịch Việt - Đức cuối tuần qua, cho rằng
Việt Nam là điểm đến hấp dẫn với du khách Đức. Tuy nhiên, để trở thành điểm đến quen
thuộc, ngành du lịch Việt Nam phải quảng bá nhiều hơn nữa và doanh nghiệp nên xác định
phân khúc thị trường kỹ hơn, thiết kế sản phẩm phù hợp hơn với từng đối tượng khách.
Buổi hội thảo này là một trong những hoạt động của Lễ hội văn hóa du lịch Việt - Đức, diễn ra
từ ngày 21 đến 23-10 tại TPHCM.
Ông Heinz-Peter Seidel, Tổng lãnh sự Đức tại TPHCM, cho biết có hai nhóm khách du lịch
chính đến Việt Nam. Nhóm thứ nhất là những người trẻ tuổi thích du lịch tự do. Nhóm này sẽ
đi du lịch nhiều hơn khi điều kiện đi lại dễ dàng. Nhóm thứ hai là những người nhiều tiền hơn,
thích nghỉ ngơi ở những khu nghỉ dưỡng cao cấp. “Theo kinh nghiệm của tôi, đây là nhóm
truyền đạt thông tin về du lịch Việt Nam đến người Đức hiệu quả nhất và muốn quay lại Việt
Nam nhiều lần”, ông nói.
Ông Martin Buese, Chủ tịch tập đoàn TUI Aktiengesellschaft (TUI ) tại Trung Quốc, cho rằng
Việt Nam nên tạo những sản phẩm du lịch chất lượng cao, có tính đặc thù thì mới thu hút
được khách Đức. Hơn nữa, “doanh nghiệp cần phân loại từng nhóm khách riêng biệt để thiết
kế tour phù hợp”, ông Buese nói. Ngoài ra, các công ty lữ hành nên kết hợp chặt chẽ các
tuyến tham quan giữa Việt Nam, Lào và Campuchia để tăng sức hấp dẫn cho các tour du lịch.
Ông Wilhelm J. Linden, nguyên Phó chủ tịch Hiệp hội Khách sạn và Nhà hàng của Đức, đề
nghị các công ty lữ hành nên thiết kế những tour chuyên đề để tạo nên tính độc đáo và đặc
thù. Ông gợi ý nên thiết kế những tour hoài cổ cho khách khám phá lịch sử Việt Nam, như tour
theo dấu các vương triều và các di tích còn lại của các triều vua, hoặc phong sao cho các đầu
bếp giỏi nhằm tổ chức các chương trình tìm hiểu ẩm thực Việt Nam. Ông Linden nhận xét: “Tôi
thấy hiện nay các tour dành cho người Đức đến Việt Nam khá giống nhau, thường là tour nghỉ
ở biển hoặc một tuần khám phá Việt Nam. Như thế không phong phú”. Và đương nhiên để du
khách biết đến những tour hấp dẫn như thế này thì phải đẩy mạnh tiếp thị.
Cho đến nay ngành du lịch Việt Nam vẫn chưa có văn phòng đại diện tại Đức. Theo Tổng cục
Du lịch, chín tháng đầu năm nay có hơn 2,56 triệu lượt khách quốc tế đến Việt Nam, trong đó
du khách Đức là 48.000 lượt.
Bali: phép màu nào để giữ chân du khách?
Bali là hòn đảo du lịch nổi tiếng của Indonesia, hàng năm thu hút khoảng 1,5 triệu
du khách nước ngoài. Nhưng sau vụ đánh bom cuối tuần qua, có các dự báo hòn
đảo này sẽ mất khá nhiều khách.
cảnh sát
Indonesia
Trung Ngọc tại một
hiện
trường
Thoạt đầu, khi nghe những tiếng nổ lớn tại các quán cà phê trên bãi biển Jimbaran ở của vụ
thiên đường du lịch Bali, Nyoman Gasin đã nghĩ đó là pháo nổ. đánh bom
trên đảo
Bali.
Nhưng những tiếng nổ trong đêm thứ bảy (1-10) vừa qua là do các vụ đánh bom hàng
loạt khiến nhiều người chết và bị thương. Điều này đã làm cho Gasin, một nhân viên an ninh,
“phẫn nộ”. Ông nói: “Chúng tôi kiếm sống nhờ những quán cà phê, nhà hàng. Chín mươi chín
phần trăm thu nhập tại Bali là từ du lịch và sự việc này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mọi người”.

Bị đánh bom lần thứ hai


Từng một thời là khu làng đánh cá hiền hòa, Jimbaran nay đã trở thành nơi có nhiều nhà hàng
hải sản ngoài trời, nằm dọc theo bãi biển cát trắng, bao bọc những khu nghỉ mát hạng sang.

Ba vụ nổ xảy ra gần như cùng lúc đã phá tan một số quán cà phê, nhà hàng đông người tại khu
thương mại Kuta nổi tiếng. Ít nhất 27 người đã thiệt mạng và 107 người khác bị thương.

“Tôi không biết rồi tương lai sẽ ra sao. Việc kinh doanh ở Bali sẽ trở nên tồi tệ. Nhưng tôi hy vọng
du khách sẽ không rời bỏ nơi đây”, Gasin buồn bã nói.

Đây là lần thứ hai các vụ đánh bom xảy ra tại Bali. Giống như Gasin, phần lớn người dân tại hòn
đảo này đều lo lắng vì doanh thu từ du lịch đóng góp tới 70% cho nền kinh tế của Bali.

Bali là một trong những hòn đảo nằm ở Đông Java, dài 150 ki lô mét, rộng 80 ki lô mét, nổi tiếng
với những bãi biển có thể chơi lướt sóng và các sân golf tầm cỡ thế giới. Hòn đảo xinh đẹp này
là nơi trú ngụ của 3 triệu người, trong đó có đến 95% theo đạo Hindu. Đây là nét đặc biệt vì 85%
dân số Indonesia theo đạo Hồi.

Những tháng gần đây, ngành du lịch của Bali đã dần khôi phục sau vụ tấn công vào khu Kuta
năm 2002 làm 202 người chết, chủ yếu cũng là du khách nước ngoài (trong đó có 88 người Úc).
Ngay sau vụ tấn công ngày 12-10-2002, lượng khách du lịch đến Bali đã giảm 60%, từ 86.901
người trong tháng 10 xuống còn 35.107 người vào tháng 11.

Trong sáu tháng đầu năm nay, lượng du khách tới Bali đã tăng hơn 6% so với cùng kỳ năm
ngoái, đạt 700.000 lượt khách. Đây cũng là con số kỷ lục và có chiều hướng tăng dần lên.

Du khách đang rời đảo


Tuy nhiên, sau vụ nổ đêm thứ bảy, một số du khách muốn rời khỏi đảo. Ngoài ra, nhiều du khách
Nhật đăng ký đi Bali đã hủy tour.

Cũng có nhiều báo cáo trái ngược nhau xuất phát từ sân bay chính của đảo. Giám đốc sân bay,
ông Muhammad Badrudin, nói: “Mọi việc vẫn bình thường. Lượng khách rời đảo Bali không có
dấu hiệu tăng lên”. Nhưng Dewi, nhân viên của hãng hàng không Qantas, lại cho biết: “Thực ra,
chúng tôi đã nhận được nhiều yêu cầu đặt chỗ. Chắc chắn chúng tôi sẽ có các chuyến bay tăng
cường từ Sydney tới”. Ông Wayne Turner, một du khách người Úc, nói: “Dù gì thì chúng tôi cũng
sẽ rời khỏi đây. Chúng tôi muốn đi càng sớm càng tốt, nhưng tôi cảm thấy tội nghiệp cho người
dân Bali vì công việc kinh doanh của họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn”.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Phát triển Quốc gia của Indonesia, ông Sri Mulyani Indrawati, cho
rằng các vụ đánh bom là đòn thứ hai giáng mạnh vào sự phát triển của cả đất nước, sau khi
chính phủ quyết định tăng gấp đôi giá xăng dầu vào cuối tuần qua. Theo ông, sau vụ đánh bom,
thật khó thuyết phục các nhà đầu tư rằng Indonesia là một nơi an toàn.
Cách Malaysia ''làm” du lịch''
Theo số liệu của ngành du lịch Malaysia, năm ngoái nước này đã đón hơn 15,7
triệu lượt khách du lịch, tăng gần gấp đôi so với năm 1999.
Ngành du lịch
Cao Cương Malaysia luôn
tỏ ra nhanh
H.Lim, người hướng dẫn đoàn nhà báo và doanh nhân ngành du lịch Việt Nam trong nhạy trong
việc đào tạo
chuyến đi thăm và khảo sát do Cục xúc tiến du lịch Malaysia vừa tổ chức, cho biết: và khai thác
những năm gần đây, du khách nhiều nước đã đến Malaysia nghỉ ngơi, giải trí trong các sự kiện
các khu du lịch và mua sắm trong các trung tâm thương mại lớn. để lôi kéo du
khách quốc
tế. Trong ảnh
Theo anh, các khu du lịch tại đây đều có vị trí và điều kiện thiên nhiên thuận lợi. Hơn : Malaysia
nữa, do chính phủ có chính sách cởi mở nên các nhà đầu tư đã đầu tư bài bản để vừa công bố
logo chính
đáp ứng nhu cầu của khách. Về mua sắm thì ngành du lịch và tiêu dùng nội địa của thức của Hội
Malaysia đã kết hợp với nhau để đưa ra các biện pháp kích thích du khách tiêu nghị Thượng
dùng. đỉnh ASEAN
gắn với tháp
đôi Petrona,
Lễ hội “Mega Sale” (tạm dịch: Bán hàng đại giảm giá) là một trong những biện pháp trung tâm
này. Mega Sale được tổ chức từ sáu năm nay vào mỗi dịp hè và thường kéo dài gần thương mại
nổi tiếng ở
ba tháng. Suốt lễ hội, hàng loạt các trung tâm thương mại lớn ở các thành phố lớn KualaLumpur.
của Malaysia, đặc biệt là khu vực Kuala Lumpur, đồng loạt giảm giá bán hàng từ 20-
80%. Và hàng gì cũng được giảm giá, từ hàng được sản xuất trong nước cho đến hàng nhập
khẩu, từ hàng hiệu cho tới hàng bình thường. Và có nhiều loại sản phẩm được miễn thuế khi
mang ra khỏi cửa khẩu.

Ngành du lịch Malaysia cũng khai thác các yếu tố văn hóa đa dạng của đất nước 25 triệu dân
này, nơi ba nền văn minh Mã Lai, Trung Hoa và Ấn Độ hòa quyện với nhau để tạo ra các sản
phẩm du lịch. Xen kẽ với yếu tố văn hóa bản sắc đó là sự hiện đại, hào nhoáng của các cơ sở
vật chất mà người dân - rất thân thiện - của nước này đã tạo dựng nên.

Theo đại diện của ngành du lịch Malaysia tại Việt Nam, nhiều năm nay, mỗi năm ngành du lịch
Malaysia đều chi nhiều chục triệu đô la Mỹ để tuyên truyền quảng bá du lịch. Hãng hàng không
quốc gia Malaysia cũng không đứng ngoài cuộc. Hãng đã thực hiện nhiều chương trình bay giá
ưu đãi và cộng thêm dịch vụ trên các tuyến bay quốc tế.

Malaysia còn đang vươn đến mục tiêu trở thành một trung tâm du lịch MICE của khu vực (du lịch
kết hợp hội nghị, khen thưởng, hội thảo, triển lãm). Hiện Malaysia đang xây dựng hàng loạt trung
tâm thương mại và trung tâm hội nghị quốc tế lớn.

Ông Peter R. Brokenshire, Tổng giám đốc Trung tâm Hội nghị quốc tế Kuala Lumpur, cạnh tòa
tháp đôi Petronas, cho biết: xu hướng du lịch MICE ở châu Á đang tăng nhanh và Malaysia đang
được xem là điểm đến hấp dẫn. Trung tâm hội nghị quốc tế này cũng do tập đoàn Petronas đầu
tư xây dựng với vốn đầu tư gần 180 triệu đô la Mỹ.

Các cơ sở chăm sóc sức khỏe, bệnh viện ở Malaysia đã không bỏ lỡ cơ hội do ngành du lịch
đem lại. Hàng loạt các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh đã được đầu tư nâng cấp. Ông Choy
W Wei, Giám đốc Trung tâm Y tế Pantai tại Kuala Lumpur, cho biết: “Chúng tôi cũng liên kết với
các cơ sở y tế khác ở Thái Lan, Singapore để chăm sóc sức khỏe cho du khách cũng như điều
trị cho người bệnh trong khu vực”.

Trong số du khách đến Malaysia những năm gần đây không thể không tính đến du khách Việt
Nam. Theo số liệu của ngành du lịch Malaysia, năm 2003 có 21.000 lượt người Việt Nam đi du
lịch Malaysia. Đến năm 2004, con số này đã tăng gấp đôi; và trong năm tháng đầu năm nay đã là
20.000 người.

Theo bà Phạm Thị Huyền Trâm, đại diện marketing của Cục xúc tiến du lịch Malaysia tại Việt
Nam, năm nay ngành du lịch Malaysia đã xếp Việt Nam vào danh sách các thị trường trọng điểm.
Và trong thời gian tới, cơ quan này sẽ đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến quảng bá tại Việt Nam.
Năm 2010 sẽ có 170.000 phòng khách sạn
Vài năm trở lại đây, tình trạng thiếu phòng khách sạn đang gây
nhiều khó khăn cho các công ty du lịch. TBKTSG đã trao đổi với
ông Hoàng Tuấn Anh, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, về
vấn đề này.

TBKTSG: Thưa ông, cả nước có đến trên 140.000 phòng nhưng


ngay cả trong mùa vắng khách các công ty lữ hành vẫn rất khó
khăn để tìm đủ phòng cho khách tại những thành phố du lịch. Có
phải do hệ thống khách sạn ở Việt Nam phân bổ chưa hợp lý?
- Ông Hoàng Tuấn Anh: Con số chính xác là cả nước hiện
có142.000 phòng thuộc 7.065 cơ sở lưu trú. Trong đó gồm 25 khách
sạn 5 sao, 64 khách sạn 4 sao, 135 khách sạn 3 sao, 1.000 khách
sạn 1-2 sao...

Những năm gần đây, nhu cầu loại phòng từ 3-5 sao tăng mạnh do sự
tăng trưởng nhanh của khách quốc tế và khách nội địa cũng ngày càng có nhu cầu sử dụng
phòng có chất lượng cao hơn. Tuy nhiên, cả nước hiện chỉ có 45.000 phòng loại này nên mới có
chuyện thiếu phòng ở các thành phố lớn.

Nhưng cũng phải thừa nhận rằng, sự phát triển của hệ thống khách sạn ở nước ta chưa đáp ứng
kịp sự tăng trưởng của ngành du lịch. Vào năm 1990, cả nước chỉ mới có 1.150.000 khách du
lịch, gồm 150.000 lượt khách quốc tế và một triệu lượt khách nội địa nhưng năm ngoái con số
này đã là trên 21 triệu, bao gồm 3,6 triệu lượt khách quốc tế và 17,5 triệu lượt khách nội địa.

TBKTSG: Với tình trạng này, làm sao ngành du lịch đáp ứng đủ phòng cho sáu triệu lượt
khách quốc tế cùng 25 triệu lượt khách nội địa trong ba năm tới như kế hoạch?
- Với tình hình đầu tư như hiện nay, dự kiến trong vòng ba năm tới cả nước sẽ có thêm 28.000
phòng, tức là vào năm 2010 tổng số phòng sẽ đạt đến con số 170.000. Điều đáng mừng là phần
nhiều trong số phòng mới đều có chất lượng cao, có khả năng đáp ứng đủ cho lượng khách như
dự kiến.

Tuy nhiên, chúng tôi cũng đang tính đến việc lượng khách tăng cao hơn dự kiến. Hiện nay,
chúng tôi đang tích cực đầu tư cho cơ sở hạ tầng và kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực khách sạn. Năm
2006 cả nước chi 620 tỉ đồng để xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch thì năm nay sẽ tăng thêm 110 tỉ
đồng.

TBKTSG: Còn trước mắt, theo ông, ngành du lịch phải đối phó như thế nào với tình trạng
thiếu phòng?
- Hiện nay, 70-80% các khách sạn từ 3-5 sao đã đạt chất lượng đúng chuẩn, riêng loại 1-2 sao
vẫn bị phàn nàn. Vì thế, phải nâng cao chất lượng của những cơ sở lưu trú. Con người nào thì
chất lượng đó, cũng phòng ấy nhưng với đội ngũ quản lý tốt hơn, nhân viên phục vụ được đào
tạo bài bản hơn thì khách sẽ hài lòng hơn. Chúng tôi cũng đang có kế hoạch sẽ cho các địa
phương kiểm tra chất lượng các cơ sở lưu trú từ 1 sao trở xuống. Tổng cục sẽ tiếp tục xét chuẩn
cho khách sạn từ 2-5 sao và cứ sau hai năm sát hạch lại một lần để đảm bảo chất lượng.

Bên cạnh đó, Tổng cục cũng đang phát triển hệ thống trường dạy nghề tại các tỉnh, thành như
Cần Thơ, Nha Trang, Đà Lạt, Bình Thuận... và đẩy nhanh việc thực hiện dự án phối hợp với EU
đào tạo nghề du lịch trên cả nước. Dự án này có giá trị lên đến 12 triệu euro.

TBKTSG: Ông vừa nói rằng ngành du lịch đang kêu gọi đầu tư cho khách sạn. Vậy đâu là
trọng điểm thu hút đầu tư của ngành du lịch?
- Chúng tôi tập trung kêu gọi đầu tư cho các khách sạn có chất lượng cao, đạt tiêu chuẩn từ 4-5
sao. Hiện tại, ngành du lịch tập trung kêu gọi đầu tư cho một số vùng trọng điểm gồm TPHCM,
Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Quốc, ở miền Bắc là cụm Quảng Ninh và Hải Phòng.
Hà Nội đang có vài dự án đầu tư khách sạn 5 sao, TPHCM cũng đang có các dự án nâng cấp
một số khách sạn 4 sao thành khách sạn 5 sao. Tại các địa phương khác, những nhà đầu tư
cũng đã đăng ký để phát triển các dự án du lịch lớn.Vì thế, chúng tôi mới có cơ sở để tin tưởng
Năm lĩnh vực sẽ nóng lên trong năm 2007
Những dự báo và nhận định của Thứ trưởng Bộ Thương
mại Lương Văn Tự về kinh tế Việt Nam năm 2007 dưới
tác động của WTO.

TBKTSG: Theo ông, lĩnh vực kinh tế nào sẽ nóng lên


trong năm nay và ông đánh giá thế nào về sự chuẩn bị
của các doanh nghiệp Việt Nam?
- Thứ trưởng Lương Văn Tự: Tôi cho rằng đầu tư nước ngoài
sẽ tiếp tục nóng lên, hy vọng tỷ lệ tăng trưởng sẽ là 20-30%
so với năm trước. Thứ hai là thị trường tài chính sẽ sôi động,
cụ thể là thị trường chứng khoán và việc mua bán cổ phần Thứ trưởng Lương Văn Tự
của các doanh nghiệp. Thứ ba, thị trường bất động sản sẽ
ấm dần lên - đây là hệ quả tích cực từ thị trường trên. Thứ tư, hoạt động xuất khẩu sẽ được mở
rộng với mức tăng dự kiến thấp nhất là 20%. Và thứ năm, lượng khách du lịch sẽ đến Việt Nam
nhiều hơn với mức tăng dự kiến trên 10% so với năm ngoái, tất nhiên là với điều kiện ngành
hàng không chấm dứt được các sự cố như trong thời gian qua.

TBKTSG: Với tư cách là người trực tiếp đi đàm phán các cam kết với quốc tế và cũng đã
theo dõi ngành thương mại nhiều năm, ông nhận thấy những chuyển động nào trên thị
trường là đáng chú ý nhất trong thời gian qua?
- Chuyển động lành mạnh của thị trường là đầu tư trong và ngoài nước cho hoạt động sản xuất
kinh doanh tăng trưởng nhanh, qua đó xuất khẩu cũng tăng, khiến nhập siêu giảm dần. Tuy
nhiên bên cạnh yếu tố tích cực, việc thị trường chứng khoán tăng quá nóng, người dân đầu tư
theo phong trào, thiếu hiểu biết là vấn đề cần được quan tâm kỹ. Nếu Nhà nước không quản lý
tốt và cảnh báo đầy đủ sẽ lặp lại tình trạng thời kỳ đầu mở cửa của thị trường chứng khoán
Thượng Hải.

TBKTSG: Lâu nay khi nói về Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) người ta thường nói về
việc mở cửa thị trường trong nước cho doanh nghiệp nước ngoài, ít chú ý tới việc doanh
nghiệp trong nước sẽ ra nước ngoài làm ăn ra sao. Ông nhận định thế nào về điều này?

- Đúng là doanh nghiệp Việt Nam nên mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài. Các doanh nghiệp nên có
chiến lược dài hơi cho các thị trường như Lào, Campuchia và các nước ASEAN vì đến năm 2013
thuế suất hầu hết các mặt hàng, kể cả nhóm nhạy cảm và loại trừ hoàn toàn, đều xuống mức 0-
5%. Khi đó thị trường ASEAN sẽ là bình thông nhau về hàng hóa. Trung Quốc cũng là thị trường
khổng lồ, ngoài hoạt động buôn bán biên mậu, các doanh nghiệp nên đẩy mạnh xuất khẩu chính
ngạch nhằm cung cấp hàng hóa cho hệ thống phân phối nội địa của Trung Quốc. Đối với các
nước châu Phi, nhu cầu hàng hóa cũng rất lớn nhưng phải có cách làm mới như lập doanh
nghiệp ngay tại đó. Thị trường Đông Âu cũng vậy, chúng ta cần mạnh dạn đầu tư các nhà máy
sản xuất hàng tiêu dùng ngay tại các nước này.

TBKTSG: Theo ông, trong việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, đâu sẽ là
những công việc cần được Chính phủ ưu tiên nhất trong năm nay?

- Để cải cách nền hành chính, Quốc hội dự kiến sửa và xây dựng 100 luật và pháp lệnh trong giai
đoạn 2005-2010. Liên quan đến việc gia nhập WTO, Việt Nam đã đăng ký sửa và xây dựng 26
luật và pháp lệnh. Tính đến ngày gia nhập tổ chức này (7-11-2006) chúng ta đã sửa đổi và xây
dựng xong 25 luật và pháp lệnh. Như vậy nước ta đã có được hệ thống pháp luật tương đối
hoàn chỉnh, phù hợp với quy định của WTO trước khi gia nhập.

Tuy nhiên, theo thỏa thuận cuối cùng trước khi gia nhập, Việt Nam còn phải sửa thêm ba luật
nữa bao gồm Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt đối với bia và rượu; các điều 52 và 104 của Luật Doanh
nghiệp và một điều quy định về tội vi phạm bản quyền trong Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, chúng ta
phải tiếp tục rà soát và điều chỉnh các văn bản dưới luật và đây là một khối lượng công việc rất
lớn trong năm nay và những năm tới.

TBKTSG: Mới đây, Việt Nam đã bắt đầu đàm phán một hiệp định kinh tế thương mại mới

Rate