You are on page 1of 21

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGỮ VĂN ANH


TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC LỊCH SỬ VĂN MINH PHƯƠNG TÂY
ĐỀ TÀI:

TRIẾT HỌC
HY LẠP CỔ ĐẠI

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Khắc Phú
MSSV: 12LT701174
Hồ Chính Minh, 02/2015

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ
I. HOÀN CẢNH RA ĐỜI.............................................................................................1
II. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN............................................................................3
III. ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP................................................................5
1.Thể hiện tính giai cấp sâu sắc.................................................................................5
2. Thể hiện tính bao trùm về mọi lĩnh vực trong thế giới quan của con người...........5
2.1. Giá trị về thế giới quan....................................................................................5
2.2. Gía trị về nhận thức luận................................................................................11
3. Coi trọng vấn đề con người..................................................................................12
4. Tính biện chứng sơ khai.......................................................................................13
IV. KẾT LUẬN...........................................................................................................15
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Triết học được xem là một hình thái ý thức xã hội. là thành tựu rực rỡ của văn minh phương Tây..ĐẶT VẤN ĐỀ Triết học là hình thái ý thức xã hội ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô lệ. có nghĩa là "tình yêu đối với sự thông thái". đạo đức là vấn đề xã hội hay vấn đề cá nhân. thường đi khắp nơi thuyết giảng về triết lý.. là học thuyết về những nguyên tắc chung nhất của tồn tại và nhận thức về thái độ của con người đối với thế giới. Sự ra đời của các thuật ngữ "triết học" và "triết gia" được gắn với nhà tư tưởng Hy Lạp Pitago. đạo đức…. xã hội và tư duy. Những "kẻ ngụy biện" hay "những người nghĩ mình thông thái" có một vị trí quan trọng trong Hy Lạp cổ điển. ký ức. quan hệ giữa cá nhân và nhà nước… là trọng tâm trong quan điểm của các triết gia phương Tây. Hy Lạp và La Mã cổ đại và ở các nước khác. Các vấn đề về con người như con người tri thức thế giới xung quanh như thế nào. vai trò của con người trong quá trình nhận thức như thế nào… hay những vấn đề và xã hội như quan hệ giữa các nhân và xã hội. còn lại là những hành trình vào các vấn đề cụ thể có liên quan tới con người như cảm giác. hư vô. từ "philosophy" (triết học) xuất phát từ tiếng Hy Lạp cổ đại φιλοσοφία (philosophia). Những triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào khoảng thế kỷ VIII – VI trước công nguyên ở Ấn Độ cổ đại. Trong tiếng Anh. Một "nhà triết học" được hiểu theo nghĩa tương phản với một "kẻ ngụy biện" (σοφιστής). tạo nên cơ sở xuất phát của văn hoá châu Âu. Triết học Hy Lạp cổ đại là nền triết học được tạo nên từ thế kỷ VI trước CN đến thế kỷ VI sau CN. ai quan trọng hơn. Triết học Phương Tây nói chung và Triết học Phương Tây từ cổ đại đến cận đại là một bộ phận quan trọng trong hệ thống triết học thế giới. ý thức. nhận thức. hạnh phúc. Đối tượng của triết học phương Tây nói chung ngoài phần siêu hình học bàn về những ý niệm trừu tượng như bản thể. nghệ thuật hùng biện và các bộ môn khác . là khoa học về những quy luật chung nhất của tự nhiên. được coi như những nhà giáo. Trung quốc cổ đại.

trong khi các "triết gia" là "những người yêu thích sự thông thái" và do đó không sử dụng sự thông thái của mình với mục đích chính là kiếm tiền. xã hội chiếm nô đạt tới mức cao và trên nền tảng của những thành tựu khoa học tự nhiên. Hy Lạp đồng thời cũng phản ánh cuộc xung đột gay gắt. Triết học cổ đại Hy Lạp là một quả núi đồ sộ trong thế giới triết học của loài người. . triết học cổ đại Hy Lạp ra đời với những đặc điểm mang tính thời đại nhưng cũng thể hiện được bước đột phá trong nhận thức và suy luận. phản ánh các những quan điểm của các giai cấp với các khuynh hướng kinh tế và chính trị khác nhau. xu hướng khác nhau. được hình thành trên cơ sở của nền kinh tế công thương nghiệp phát triển. Trong xã hội chiếm nô.cho những người có tiền. Là quê hương thứ hai của nền triết học Phương Tây. Ngay từ xa xưa. quyết liệt giữa các giai đoạn này. ít bị chi phối bởi tôn giáo. người Hy Lạp đã sản sinh ra những tư tưởng triết học với các hình thái. Trong những điều kiện lịch sử hết sức đặc biệt đó.

Ăngghen nhận xét: “Không có chế độ nô lệ thì không có quốc gia Hy Lạp. về xã hội.I. lịch pháp. đạo đức. trong các mầm mống của tri thức khoa học (khoa học tự nhiên). trong thần thoại. nơi đây đã hội tụ đầy đủ những điều kiện để tư duy con người có dịp bay bổng. 1 . thiên văn học. diễn giải về các hiện tượng thiên nhiên kỳ bí mà còn là nơi thể hiện đời sống tâm linh. tự mình tư duy về tự nhiên. các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp cũng là những người đã nhiều lần đến phương Đông và nhiều vùng đất khác. Hy Lạp cổ đại trước đây là một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm phần đất liền và vô số hòn đảo lớn nhỏ trên biển Egie. sự hình thành số phận cũng như muôn mặt của đời sống thường ngày. địa lý. Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịch sử chế độ chiếm hữu nô lệ. …đã xuất hiện do nhu cầu buôn bán. tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá. không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp. vùng duyên hải Ban căng và Tiểu Á. Hy Lạp cổ đại là đất nước của thi ca. Thần thoại là nơi đầu tiên để tư duy triết học ra đời và từng bước triết học tách khỏi thần thoại. HOÀN CẢNH RA ĐỜI Triết học Hy Lạp cổ đại ra đời trong bối cảnh diễn ra sự chuyển biến lâu dài và sâu sắc các quan hệ xã hội. Thần thoại là nơi để con người tưởng tượng. về chân lý. về lẽ sống. vượt biển đến các nước phương Đông. về con người… Những tinh hoa về toán học. hệ thống đo lường. địa lý đã tạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh chóng phát triển tất cả các lĩnh vực. Vì vậy. để thoả sức sáng tạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại xứng đáng là chiếc nôi của nền văn minh Châu Âu và của cả nhân loại. thần thoại. Đúng như Ph. mở rộng bang giao. không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở là nền văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có Châu Âu hiện đại được”. Vì vậy. Sự hình thành triết học Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu nhiên mà là kết quả tất yếu của việc kế thừa những di sản tinh tuý của truyền thống trong sáng tác dân gian. Sự thuận lợi về thiên nhiên.

Họ là sản phẩm của thời đại mình. dân tộc mình mà những tinh lực tinh tế nhất. đó là kết quả nội sinh của cả một dân tộc. 2 . một thời đại.Mác viết: “Các nhà triết học không phải những cây nấm mọc trên đất.Như vậy. có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu. quý giá nhất và khó nhìn thấy nhất đã được suy tư trong các khái niệm triết học”. C.

nhận thức luận và đời sống chính trị. thế giới quan cũ có tính chất tôn giáo. Trong đó. Thời kỳ thứ nhất (thế kỷ VI TCN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ mới hình thành. Xuyên suốt ba thời kỳ ấy là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm mà đỉnh cao là cuộc đấu tranh giữa đường lối duy vật của Đê-mô-crít và đường lối duy tâm của Pla-tôn. Theo khuynh hướng duy vật. Ba nhà triết học duy vật thuộc trường phái Mi-lê (tên một đô thị cổ Hy Lạp) là Talét. CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN Lịch sử triết học Hy Lạp . Ngược lại. mọi vật đều được cấu tạo từ hạt cực nhỏ nhờ quá trình phân giải và đồng nhất của chúng. Thời kỳ này. Anaxago lại cho rằng. đối tượng nghiên cứu của triết học được mở rộng sang các vấn đề về kết cấu của vật chất. Pácmênít. Anaximăngđrơ và Anaximen cho rằng có những thực thể vật chất đầu tiên. vĩnh viễn vận động tạo ra mọi vật trên thế giới. triết học với tư cách là một khoa học bao quát mọi tri thức (khoa học của khoa học) ra đời. Trên cơ sở đó.La Mã cổ đại có thể chia làm ba thời kỳ. không thể phân chia được. Họ cho rằng. Do sự phát triển của sản xuất. một số nhà triết học thuộc trường phái Êlê (tên một đô thị cổ ở miền nam nước Ý) như Xênôphan. lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh ra vạn vật. thần thoại dần dần nhường chỗ cho những hiểu biết khoa học về con người. chúng vĩnh viễn vận động. không có điểm kết thúc. Đối lập lại chủ nghĩa duy vật trên 3 . về vũ trụ. Hêraclít không thuộc trường phái nói trên. không khí. Theo ông. Theo Talét đó là nước. ông cũng cho rằng bản nguyên của vũ trụ là lửa. Nguyên tử là những phần tử vật chất nhỏ nhất. theo Anaximen đó là không khí. con số là bản nguyên của vũ trụ (trường phái Pitago).II. siêu hình về nguồn gốc vũ trụ. Ămpeđôclơ cho rằng. theo Anaximăngđrơ đó là một thực thể vô định và vô hạn. lửa. bản nguyên của vũ trụ không phải chỉ là một thực thể riêng biệt (như trường phái Milê) mà là gồm 4 thực thể: đất. Dênông và trường phái Pitago lại có những quan điểm duy tâm. Đạt tới đỉnh cao nhất của chủ nghĩa duy vật thời kì này là học thuyết về nguyên tử của Đêmôcrít. kết cấu của vật chất là vấn đề trung tâm của nhiều trường phái triết học. tất cả mọi vật đều được cấu thành từ những nguyên tử. thế giới là một tồn tại bất động và bất biến (trường phái Êlê). Thời kỳ thứ hai (bắt đầu từ thế kỷ V TCN): Đây là thời kỳ chế độ chiếm hữu nô lệ phát triển đến hình thức cao và cũng là thời kỳ phồn vinh của triết học cổ đại Hy Lạp. nước.

Vào cuối thế kỷ này. lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa hai thế giới quan. Cuộc đấu tranh ấy phản ánh lợi ích của những tầng lớp. học thuyết về nguyên tử của Đêmôcrít. Dao động giữa đường lối duy vật của Đêmôcrít và đường lối duy tâm của Platôn là Arixtốt. hai phương pháp luận đối lập nhau. ông bác bỏ thuyết ý niệm của Platôn. Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong lịch sử triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại chứng tỏ rằng. Ông đã xây dựng học thuyết về ý niệm để chống lại chủ nghĩa duy vật. nền văn hoá mà nó sản sinh ra cũng suy tàn theo. mà hình thức của mọi hình thức là tư duy (hình thức thuần tuý).đây là chủ nghĩa duy tâm khách quan của Platôn. chỉ còn Êpiquya và học trò của ông là Lucơrexơ là tiếp tục đường lối duy vật của Đê-mô-crít. nhưng là một nhà triết học không triệt để. Theo ông. 4 .La Mã cổ đại đã đặt ra hầu hết các vấn đề triết học mà người ta thường thấy mối quan hệ của nó với các khuynh hướng. ngay từ đầu. Ông là đại biểu lớn nhất của chủ nghĩa duy tâm thời cổ đại Hy Lạp. Cùng với sự suy tàn đó. Triết học Hy Lạp . Trong những thành tựu triết học Hy Lạp-La Mã cổ đại. bộ óc bách khoa thời cổ đại Hy Lạp . những giai cấp khác nhau trong xã hội có giai cấp đối kháng. Ông là một nhà triết học lớn. giới tự nhiên bắt nguồn từ ý niệm. mặt khác ông lại chủ trương hình thức là bản chất của mọi sự vật. tư tưởng biện chứng của Hêraclít và lôgích học của Arixtốt là những cống hiến xuất sắc đối với sự phát triển của tư tưởng triết học nhân loại.La Mã. Một mặt. các trào lưu triết học sau này. Thời kỳ thứ ba (từ thế kỷ thứ III TCN): Đây là thời kỳ khủng hoảng và suy vong của chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp .La Mã.

triết học cổ Hy Lạp vẫn là một công cụ lý luận nhằm duy trì trật tự xã hội theo kiểu chiếm hữu nô lệ.1. trào lưu triết học nhất định. Triết học Hy Lạp và la Mã cổ đại như Ph. Triết học thời kì này đã đề cập 5 . Vì thế dễ hiểu tại sao phần lớn các nhà triết học thời kỳ này đều coi nô lệ không phải là con ngươì mà chỉ là công cụ biết nói. bảo vệ sự thống trị của giai cấp chủ nô. Đã đem lại cho con người những giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống con người đặt ra. Giá trị về thế giới quan Ra đời trong điều kiện còn quá ít và sơ khai nên trình độ phát triển tư tưởng văn hóa của nhân loại thời kì này nói chung còn thấp.Ăngghen chỉ rõ đã chứa đựng dưới dạng mầm mống mọi dạng thế giới quan sau này. Chẳng hạn Platôn coi nông dân và thợ thủ công là hạng người thấp nhất trong "Nhà nước lý tưởng" của ông.III. mà còn là ở chỗ nó thể hiện tư tưởng của một khuynh hướng. ĐẶC ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP Trên thực tế. mặc dù triết học duy vật Hy Lạp ra đời trên nền tảng thần thoại và tôn giáo nhưng thế giới quan lại hoàn toàn mới lạ dựa trên cơ sở trí tuệ sâu sắc. giúp họ có cách sống hợp lý trong xã hội. không chỉ thể hiện ở chỗ học thuyết đó biểu hiện lập trường của một giai cấp hay đảng phái nào đó. Như vậy ngay từ đầu nó đã mang tính giai cấp sâu sắc. Thể hiện tính bao trùm của nó về mọi lĩnh vực trong thế giới quan của con người 2. Bất chấp mọi bất công và tệ nạn xã hội thời đó. 2. Triết học Hy Lạp ra đời với những đặc điểm: 1.Thể hiện tính giai cấp sâu sắc Triết học Hy Lạp đã thể hiện nó là thế giới quan và ý thức hệ của giai cấp chủ nô thống trị trong xã hội bấy giờ. Tính giai cấp của một học thuyết triết học. theo các nhà nghiên cứu. Những mâu thuẫn trong xã hội cổ đại được thể hiện trong sự xung đột về tư tưởng của các nhà triết học cổ Hy Lạp tiêu biểu nhất là sự xung đột giữa "đường lối Đêmôcrit" và đường lối Platôn".

Công lao của các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại là đã xây dựng được giả thiết về cơ cấu nguyên tử của vật chất. nên nhìn chung các quan niệm triết học còn mang nặng tính tự biện. và một số những sự vật này thay đổi từ lúc này qua lúc khác để trở thành một cái gì khác và chúng cũng giống nhau ở một số cách 6 . thế giới gồm có cái gì. sâu sắc hơn về một nguyên thể đầu tiên.Nét nổi bật của triết học duy vật là các nhà triết học đều cho rằng thế giới là do vật chất tạo thành.tới những vấn đề thế giới quan cơ bản của con người. Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh quan tích cực và trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng về sự trưởng thành của mổi cá nhân cũng như của mỗi cộng đồng xã hội nhất định. có vận động và có biến đổi. Thế giới quan đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc sống con người và xã hội loài người. về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó. Trước hết chúng ta phải hiểu thế giới quan là như thế nào? Triết học có vai trò như thế nào đối với thế giới quan? Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới. mỗi cộng đồng trong lịch sử. họ đã đi tìm cơ sở của nó với cách quy nó về một nguyên nhân phổ biến. mây và đại dương. về bản thân con người.Các nhà triết học duy vật thời kỳ này đã cố tình”xây dựng nên mặt lý luận về thế giới. Tuy nhiên do sự đối lập giữa lao động trí óc với lao động chân tay quá lớn. Mọi sự vật được làm bằng gì? hay loại "chất liệu" tạo nên sự vật là gì? Điều mà Talet muốn đạt được khi nêu những câu hỏi này là tìm một cách nào đó cắt nghĩa được sự kiện này rằng có nhiều loại sự vật như đát. Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại không dừng lại ở sự nhận xét muôn hình muôn vẻ của thế giới.Sự hòa nhập giũa tri thức và niềm tin tạo thành thế giới quan. sự tìm tòi cái mới của ông xoay quanh bản chất sự vật. nước luôn thay đổi hình thái và vì thế chính nước đã sản sinh ra các vật thể khác nhau. Triết học giữ vai trò định hướng cho quá trình cũng cố và phát triển thế giới quan của mỗi cá nhân. và tác động như thế nào vào các khái niệm trong đời sống và lao động hằng ngày”. Talet đã mở ra một thời đại tư duy mới. tuy rằng quan niệm vật chất tạo thành thế giới của mỗi nhà triết học có khác nhau: Theo Talet thì nước là bản chất của vạn vật.

Tính chính xác trong sự phân tích của Talet về thành phần của sự vật không quan trọng bao nhiêu so với việc ông nêu lên câu hỏi về bản tính của thế giới. nhờ không khí và sự chuyển động của nó. nhiệt phát sinh từ chất ẩm và được duy trì từ chất ẩm…sự kiện hạt giống của mọi vật đều có bản chất ẩm. và cái nhiều nhưng tương quan với nhau nhờ cái một. Hơn nữa.thức nào đó. một ”chất liệu” nào đó chứa đựng nguyên lý hành động hay biến đổi của chính nó và là nền tảng cho mọi thực tại vật lý. Anaximen là nhà triết học thứ ba và cuối cùng của phái Milê. Anaximăng lại cho rằng nguồn gốc của vũ trụ là vô cực. nhưng họ luôn luôn đặt vấn đề của ông trước mắt họ. vô cùng rối ren và phức tạp. còn nguồn gốc của chúng thì vô định. Talet đã chuyển đổi cơ sở tư duy từ một nền móng thần thoại sang một nền móng có tính chất tìm tòi. Ông đồng ý với thầy của mình (Talet) rằng có một chất liệu nào đó là nền tảng cấu tạo nên mọi vật. một loại tìm tòi có thể được đem ra tranh luận về giá trị của chính nó. Arixtôt viết rằng Talet đã đạt tới kết luận đó nhờ quan sát các sự kiện đơn sơ ”có lẽ từ việc ông thấy rằng mọi vật được nuôi từ chất ẩm. thực thể sơ đẳng mà từ đó mọi sự vật đặc thù này phát sinh là một lĩnh vực vô định hay vô hạn. Nhưng khác với Talet. chính các mặt đối lập này lại kết hợp với nhau và tạo ra vạn vật. khoa học hơn. vô hạn. nước là nguồn gốc của bản chất ẩm ướt của các sự vật”. các sự vật cụ thể thì hữu hạn. Ông giả thiết rằng có một yếu tố duy nhất nào đó. nhưng vẫn có một sự giống nhau cơ bản giữa tất cả các sự vật ấy. nóng và lạnh. từ điểm khởi hành sơ khai của ông những người khác sẽ nối tiếp ông với những giải pháp khác. ông hài lòng với khái niệm cái vô hạn là nguồn gốc của mọi vật. còn chất liệu nguyên thủy thì vô biên. vạn vật trong vũ trụ 7 . luôn chia thành những mặt đối lập nhau như khô và ướt. Đóng góp độc đáo của Talet cho tư duy chính là ông quan niệm rằng. Không những Anaximăng cống hiến một ý niệm mới về thực thể nguyên thủy của sự vật ông còn đẩy xa công trình triết học bằng cách cố gắng tìm ra một giải thích nào đó cho ý niệm mới của ông. Ông cho rằng nguồn gốc của vạn vật bắt đầu từ không khí. Các sự vật cụ thể thì đặc thù. Anaximăng đã tự đặt cho mình câu hỏi làm sao chất liệu sơ đẳng hóa thành nhiều sự vật khác nhau mà chúng ta thấy trên thế giới. mặc dù có những sự khác biệt trong các sự vật khác nhau. Câu hỏi của ông đã đặt ra bối cảnh cho một loại tìm tòi mới.

mà do cả bốn yếu tố vật chất cấu thành. đó là đất.được tạo ra và sau đó lại quay về dạng không khí. đơn giản là nó tồn tại. lửa và không khí. mà còn xuất hiện từ nó. bất diệt). Chung quanh trái đất có ba cái vòng tròn tự quay: vòng mặt trời. vòng mặt trăng và vòng sao. Theo ông. Anaxagô là người đã làm cho triết hoc có môt phát biểu quan trọng khi đưa ra một giải thích mới về quá trình mà vật chất mang hình thức của những sự vật cụ thể. Ông coi mưa đá là kêt quả kết băng của các tia nước trên cao và khi băng đá bị không khí làm tan ra thì tạo thành tuyết. không có giới hạn. Ông cũng là người đưa ra giả thuyết giải thích về các hiện tượng nhật thực và nguyệt thực. có hình dang một hình trụ bẹt. tạo ra sự đa dạng trong thế giới. Anaximen đã đề ra một ý niệm mới rất quan trọng. Sự giãn nở và co tụ của khí diễn ra những thay đổi về lượng. đòi hỏi một cái tồn tại có tri thức và năng lực làm nguyên lý giải thích. và những thay đổi này khi xảy ra trong một thực thể duy nhất. Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm về khởi nguồn hay sự hình thành vật thể trong vũ trụ. Đóng góp quan trọng của ông là khái niệm về tinh thần mà ông phân biệt với vật chất. Tự bản thân apeirôn sinh ra mọi cái đồng thời là cơ sở vận động của chúng. Ông coi vật chất là vô tận. tồn tại vĩnh viễn. Ở học thuyết vũ trụ của ông thì trái đất nằm ở trung tâm vũ trụ. và ông nói rằng ”từ cái gì hoàn 8 . ông đã chạm tới được những khái niệm rất có giá trị về sự ”loãng khí” và ”tụ khí” như là những hình thái đặc thù của chuyển động dẫn tới sự thay đổi trong không khí mà ta có thể thay đổi được. Ông đồng ý cái hiện hữu là tự có và không thể hủy diệt. coi không khí là nguồn gốc và bản chất chung của tất thảy mọi vật. Ông thấy thế giới và vật thể trong đó có một cấu trúc trật tự và phức tạp. nước. sẽ cắt nghĩa cho sự phát sinh nhiều vật thể khác nhau. Anaximen xác định khí là thực thể sơ dẳng từ đó phát sinh mọi vật. đó là những khác biệt về ”chất “ được tạo thành do những khác biệt về ”lượng”. vô cùng tận. vì thế người ta không thể sống nếu như không thở. Anaximan là một nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại. mọi sự vật không chỉ có bản chất chung apeirôn. Anaximen đã có nhiều tiên đoán khoa học. Ampêđôc cho rằng vạn vật được sinh ra không phải do đơn tố.Toàn bộ vũ trụ được cấu từ apeirôn tồn tại như một vòng tuần hoàn biến đổi không ngừng. Ông cho rằng nguồn gốc và cơ sở của của mọi sự vât là apeirôn (là một cái vô định hình.

Anaxago là người làm cho triết học có một phát biểu quan trọng khi đưa ra một giải thích mới về quá trình mà vật chất mang hình thức của những sự vật cụ thể. thế giới quan của Anaxago là sự phát triển đến đỉnh cao lập trường đa nguyên. phất triển không ngừng. Theo ông. Nhìn chung. Đóng góp quan trọng của ông là khái niệm về tinh thần mà ông phân biệt với vật chất. bất kể người ta đặt nó ở đâu trong bất cứ hoàn cảnh nào. Anaxago đã phân biệt được tinh thần với vật chất bằng cách nói rằng không giống với vật chất. mọi sự vật đều biến đổi. được hiểu không chỉ là từ ngữ.toàn không có thì không thể có. chuẩn mực của mọi sự vật. lực lượng đối lập nhau. tự mình”. Mọi cái chỉ xảy ra một lần. nhấn mạnh đến tính chất vận động của vật chất thông qua sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập.”Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi vàng thành hàng hóa và hàng hóa thành vàng”. bản chất của thực tại có thể được hiểu cách tốt nhất bao gồm tinh thần và vật chất. mọi sự vật đều vận động. tinh thần”không pha trộn với gì cả. nhưng ông không phân biệt hai thế giớ khác nhau. thế giới tinh thần và thế giới vật chất.Ông quan niệm chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi vật. mọi sự vật trong thế giới của chúng ta đều thay đổi. Theo Hêraclit. Một nguyên lý lí trí như vậy được ông đưa ra khái niệm tinh thần như là nguyên lý làm cho vật chất có một trật tự. Hêraclit đã tiếp cận được với quan niệm duy vật. mà còn là quy luật khách quan của vũ trụ. nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra các cuộc đấu tranh giữa các sự vật. cái gì trở nên hiện hữu và hiện hữu mà hoàn toàn bị hũy diệt thì không thể hoàn thành được và không thể hiểu được. vì nó sẽ luôn luôn tồn tại ở nơi đó.Dưới con mắt của ông. quy định trật tự và chuẩn mực của mọi cái. không lặp lại mặc dù giữa các sự vật có thể có sự kế thừa nhất định. Ông thấy thế giới và mọi vật thể trong đó có một cấu trúc trật tự và phức tạp. mà đứng một mình. đòi hỏi một cái tồn tại có tri thức và năng lực làm nguyên lý giải thích. Những khái niệm này có giá trị và ảnh hưởng to lớn trong triết hoc Hy Lạp sau này.Vũ trụ là một thể thống nhất.Chúng ta không thể quên luận điểm bất hủ của ông”chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông”.Nhờ có cuộc đấu tranh đó mà mới có hiện tượng sự vật này 9 . nhưng mang nặng tính vĩnh viễn và bất diệt của thế giới. mà ông thấy hai thế giới này luôn luôn tương quan và gắn bó với nhau. vận động.

Như vậy. Trong khi triết học Phương Đông thời kì này còn chịu ảnh hưởng nặng nề của thần linh. tôn giáo. còn thế giới sự vật là cái có sau và được sáng tạo bới ý niệm. cái vô hình. Lý thuyết của ông về các vật thể chuyển động như một sự giải thích tự nhiên. quyết liệt với các nhà triết học duy tâm. vô hạn.Tính đa dạng của nguyên tử làm nên tính đa dạng của thế giới các sự vật. Nguyên tử tự thân. Đêmôclit là người đã có phán đoán có giá trị về vận động:vận động gắn liền với vật chấ và tồn tại vĩnh viễn. là người đã từng có những cuộc tranh luận công khai.Khái niệm nguyên tử được xây dựng trên cơ sở các khái niệm”tồn tại”và”không tồn tại’. Các sự vật là do các nguyên tử liên kết lại với nhau tạo nên.Nhiều nguyên tử kết hợp lại với nhau thành vật thể.Ông là nhà duy vật vĩ đại nhất của Hy Lạp cổ điển. phủ nhận tính chất không thể phá hủy của các nguyên tử.Còn cái”không tồn tại”là cái không xác định. cái đa dạng và cái có ngoại hình.chết đi có sự vật khác thay thế.Trái với quan niệm của nhà triết học duy tâm Platôn. chúng tồn tại vĩnh viễn. Trong quan điểm của Đêmôclit đã có mầm mống của cái thuyết về chất có trước và chất có sau của sự vật. từ những quan niệm về thế giới của các nhà triết hoc duy vật Hy Lạp cổ đại đã tạo nên cơ sở khoa hoc cho những ngiên cứu về thế giới và vũ trụ của con người sau này.Nó không ảnh hưởng gì đến các vật thể nằm trong nó. thì các nhà triết 10 . bất động.Bản thân cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập luôn diễn ra sự hài hòa thống nhất. nhờ nó mà các vật thể có thể vận động được. Như vậy. là quy luật phát triển của vũ trụ. ”tồn tại”theo Đêmôclit là cái được xác dịnh. không vận động nhưng khi kết hợp với nhau thành vật thể thì làm cho vật thể và thế giới vận động không ngừng.Phỏng đoán có giá trị của Đêmôclit là ông cho rằng vận động gắn liền với vật chất và tồn tại vĩnh viễn. trực giác của Đêmôclit đã có một ảnh hưởng lâu dài và sâu đậm trong lịch sử. các phân rã thì vật thể bị tiêu diệt. triết học của các nhà duy tâm như Pla tôn coi ý niệm là cái có trước.Lênin coi Đêmôclit là người thể hiện rõ rệt nhất chủ nghĩa duy vật trong thời kì cổ đại. đưa ra một quan niệm mới về vật chất.Nguyên tử theo Đêmôclit là hạt vật chất nhỏ nhất tới mức không thể phân chia thêm được nữa.Vì thế đấu tranh là vương quốc của mọi cái.Điều đó làm cho vũ trụ thường xuyên phát triển và trẻ mãi không ngừng.Nổi bật triết học duy vật của Đêmôclit là học thuyết về nguyên tử.

điều mà ông muốn nói về nguồn gốc của sự vật cho thấy dáng dấp của một sự suy tư mạnh bạo. Hêraclit còn phân tích nhiều vấn đề nhận thức luận. thì bên cạnh đó.Vật chất cũng không thể được sáng tạo ra và cũng không thể bị tiêu diệt. Trường phái Milê trong trường phái duy vật ra đời sớm nhất trong triết học Hy Lạp cổ đại(thế kỉ II. không phụ thuộc vào bất kì lực lượng siêu tự nhiên nào. Như vậy ông đã có một bước tiến về nhận thức. trường phái này đã đi tìm cơ sở ấy trong các dữ kiện cho việc nghiên cứu hiện thực đem lại.Học thuyết về sự chuyển hóa lẫn nhau của các vật thể và quá trình ấy là những mầm mống của quan điểm duy vật biện chứng về sự biến đổi của vật chất từ trạng thái này sang trạng thái khác.Xuất phát từ trực quan cảm tính họ đã lấy một hiện tượng nào đó của tự nhiên làm cơ sở và coi nó vô cùng tận. mặt 11 . với cống hiến chuyển từ quan niệm trực quan cảm tính về vật chất sang vấn đề cấu tạo của vật chất. sự vận động của nó là quá một trình tự nhiên. Ở các nhà triết học trường phái Milê chỉ chủ yếu bàn đén những vấn đề bản thể luận. theo nghĩa nó là một cố gắng xử lý các sự kiện bằng cách đặt ra các giả thuyết thay vì cắt nghĩa những hiện tượng tự nhiên bằng lối diễn tả thần thoại và không thể tranh luận. Trong thế kỉ II TCN. Họ đã chỉ ra rằng trạng thái của vật chất và các đặc tính của nó đều biến đổi nhưng bản thân nó thì không sinh ra và cũng không chết đi mà tồn tại vĩnh viễn.tr. Anaximawng đã tự đặt ra cho mình câu hỏi làm sao chất liệu sơ đẳng hóa thành nhiều sự vật khác nhau mà chúng ta thấy trên thế giới.học duy vật Hy Lạp cổ đại đã có sự tìm tòi mới về vận động của thế giới tự nhiên.2. Gía trị về nhận thức luận Các nhà triết học phái Milê và Hêraclit đã tự giải quyết vấn đề cơ bản của nhận thức luận-vấn đề quan hệ giữa vật chất và ý thức một cách duy vật.Hơn nữa. ông đánh giá cao vai trò của các giác quan trong nhận thức các sự vật đơn lẻ. 2. các nhà duy vật Anaxago va Ampêđôcơ đã phát triển hơn nữa các quan niệm triết học và khoa học tự nhiên về vật chất.CN). không khí và lửa như là vật chất mà trong khi vận động đã sản sinh ra tất cả mọi vật thể về quá trình của thế giới. Học thuyết của các trường phái duy vật đàu tiên xem nước. Một mặt.

Hạnh phúc không phải là sự hưởng lạc đơn thuần về thể xác mà là ở việc biết suy nghĩ. có chân tay. có khả năng học được bất kì cái gì. nói và hành động tuân theo thế giới tự nhiênLênin đánh giá cao những quan niệm đó của Hêraclit. Ông đã chia nhận thức của con người thành hai trình độ:nhận thức cảm tính và nhận thức chân lý (đáng tin cậy). 3. cảm giác và sự năng động trí tuệ làm trợ giúp cho mọi cái. giúp cho con người có cách nhìn nhận đúng dắn hơn. ông đã thừa nhận thế giới khách quan là đối tượng của nhận thức. Arixtoot đã thừa nhận tính khách quan của thế giới:nhờ cảm giác về đối tượng mà có tri thức đúng. Coi trọng vấn đề con người Nhìn chung họ đều khẳng định con người là tinh hoa cao quý nhất của tạo hóa. ông đã có những quan điểm tiến bộ hơn.Lý luận nhận thức của ông được xây dựng môt phần trên cơ sở phê phán học thuyết Platôn về “ý niệm”và “sự hồi tưởng”. giá trị con người chủ yếu chỉ được bàn đến ở 12 . đi tới sự phát triển cao hơn. ông đã phân biệt sự khác nhau giữa con người và con vật là ở chỗ trong con người chúng ta có nhiều nhiệt lượng hơn và các chất cấu thànhốn sạch sẽ hơn so với động vật. về con người. là nguồn gốc kinh nghiệm và cảm giác. Ông đã định nghĩa con người như một động vật nhưng về bản tính. Đối với Đêmôcrit. nhận thức sự thống nhất của vũ trụ và sự thông thái tối cao. tiến bộ hơn sau này. Phần đông mọi người sống theo những quan niệm riêng của mình. cho rằng mục đích tối cao của chúng ta là nhận thức lôgic. Như vậy. Con người thời cổ đại được nhìn nhân chủ yếu với tổ chức cá thể. Trong lý luận nhận thức của mình. các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã có một trình độ nhận thức cao hơn về thế giới.”Con người là thước đo tất thảy mọi vật” (Pitago). Nhận thức luận của Arixtoot có vai trò quan trọng trong lịch sử triết hoc Hy Lạp cổ đại. có kinh nghiệm và lý trí hiểu biết được về đối tượng.khác.Những lý luận nhận thức này là nền tảng cho những nghiên cứu khoa học của nhân loại. cho rằng chúng đã thể hiện một trong những điểm cơ bản của phép biện chứng.

Trong đạo đức của ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề phẩm hạnh.Phẩm hạnh của con người thể hiện ở quan niệm về hạnh phúc. Các nhà duy vật Hy Lạp cổ đại đặc biệt là Đêmôclit và Arixtôt đã có những tư tưởng. Tính biện chứng sơ khai Nhìn chung do hạn chế của thời đại về trình độ phát triển kinh tế.Ông đã khai triển một bộ quy tắc đạo đức rất caovời cho hành vi con người.Những tư tưởng triết học còn mang nặng tính thô sơ máy móc. những quan niệm tiến bộ hơn về con người và xã hội.khía cạnh đạo đức. theo đó mọi con người đều là những công dân bình đẳng của thế giới này.Trái với quan niệm của Platôn về xã hội rằng ông ủng hộ việc xây dựng nhà nước của ý niệm. đỉnh cao của hạnh phúc là trở thành nhà thông thái. tự phát. khả năng tinh thần nói chung. giao tiếp. các nhà triết học duy vật Hy Lạp cổ đại chưa thể giải thích tự nhiên một cách chích xác và không giải thích được mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội. đó là sự vui tươi. Theo Đêmôcrit. đã đạt tới một trong những bước ngoặt quan trọng nhất. khoa học kĩ thuật. ra sức bảo vệ lợi ích của tầng lớp chủ nô dân chủ. 13 . trở thành công dân thế giới. Đối với Arixtôt thì vấn đề đạo đức học được ông xếp vào loại khoa học quan trọng sau triết học. phẩm chất con người không phải ở lời nói mà ở việc làm.Các ông đã cung cấp cơ sở cho ý niệm về chủ nghĩa thế giới đại đồng. với ước vọng làm điều thiện. Vấn đề đạo đức được các nhà duy vật Hy Lạp lần đầu tiên đề cập đến như là mối quan tâm hàng đầu của triết học. đấu tranh chống lại chủ nô quý tộc. nhiều quan niệm duy vật nhưng sơ khai. Đêmôcrit thoát khỏi quan điểm máy móc về vấn đề đạo đức học. hạnh phúc phải gắn liền với hoạt động nhận thức.Lần đầu tiên con người được đề cập tới phẩm chất và hạnh phúc của mình. còn hạnh phúc của con người là ở khả năng trí tuệ. Con người cần hành động có đạo đức. 4. là lợi ích tối cao mà mọi công dân cần phải có. đòi hỏi sự điều độ trong mọi sự và việc vun trồng văn hóa như cách thức chắc chắn nhất để đạt những mục tiêu đáng ao ước nhất của cuộc đời. nhận thức luận.Theo ông phẩm hạnh là cái tốt đẹp nhất.

chẳng hạn lửa được coi là”thần Dớt chói lọi”… Đêmôcrit khi nói đến nguyên tử thì chưa đạt đến quan niệm khẳng định khối lượng của nguyên tử. thế giới quan của Talet còn ít nhiều chịu ảnh hưởng của các quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thủykhi ông cho rằng thế giới chúng ta đầy rẫy các vị thần linh. mọi cái cuối cùng đều trở thành apeirôn. máy móc. cho rằng nguyên tử không có trọng lượng . tất cả những điều được thể hiện ở các tư tưỏng triết học Hy Lạp cổ đại.Mọi sự vật theo ông đều sinh ra từ apeirôn và có lỗi lầm với nhau.Bên cạnh những quan niệm duy vật mang tính sơ khai. đó là sự tự phát. Quan niệm của ông về tư duy và ý thức còn ngây thơ. cảm tính. Ông thừa nhận rằng trong con người có một phần bản chất thiên thần. do đó mang tính thần thánh. chúng được coi như những vị thiên thần. mới chỉ chú ý đến các hiện tượng bề ngoài mà không thể giải thích được một cách đầy đủ bản chất bên trong của sinh vật cũng như mối liên hệ giữa các sinh vật và hiện tượng. Các vị thần linh trong ý tưởng của ông. Cũng như Talet. hay chúng không được các nhà triết học ý thức được một cách tự giác. tức là quy cho chúng những đặc tính mà trên thực tế chỉ riêng con người mới có. ông khẳng định chúng có linh hồn. chất phác. bất biến. là những hoạt động trong thế giới làm cho mọi sự vật có thể vận động và biến đổi được. không lý giải được hiện tượng từ tính của nam châm và hổ phách. Anaximan cũng chịu ảnh hưởng của thần thoại và tôn giáo. khẳng định điểm tận cùng thế giới. Ampeđôc lại thần thánh hóa các khởi nguyên của thế giới và đi đến nhân cách hóa mọi sự vật. còn mang những tính thô sơ. Ông cho rằng mỗi khởi nguyên đều tồn tại độc lập. 14 .Đặc biệt coi chế độ nô lệ là hợp lý và cũng cần sử dụng biện pháp có thể. ít nhiều mang tính thần bí. Tóm lại.

Đạo đức lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại được đề cập. nhưng cho đến ngày nay. triết học Hy Lạp cổ đại vẫn không hề mất đi giá trị của nó. . Ăngghen viết “Chúng ta luôn luôn phải quay về với những thành tựu trong triết học cũng như trong mọi lĩnh vực khác của dân tộc nhỏ bé này. Triết lý Hy Lạp cổ đại là những viên gạch đầu tiên xây nên toàn bộ ngôi nhà văn minh của Châu Âu ngày nay. tách vai trò của thần thánh ra khỏi ý thức hệ của con người. Ta có thể thấy cả bề mặt và bề trái của Châu Âu ngày nay qua nền triết học Hy Lạp cổ đại.Là nền tảng cho các trường phái triết học sau này. . thời đại nô lệ Hy Lạp đã lùi xa trong quá khứ của lịch sử loài người. Marx nói: “Dại dột cho ai không thấy giá trị Hy Lạp cổ đại”. Điều đó làm cho nó sáng rực rỡ trên vũ đài triết học nhân loại và trở nên bất hủ.IV.Triết học cổ Hy Lạp như hồi chuông tỉnh thức giấc mộng thần thánh muôn đời của người dân Hy Lạp. . Đến nay những gì mà triết học Hy Lạp cổ đại mang đến cho nhân loại vẫn còn nguyên giá trị đó.Vai trò của tự nhiên và con người được đề cập một cách khách quan nhằm đi đến tìm hiểu con người và tự nhiên từ đâu mà có và đi về đâu. 15 . nối những bến bờ triết học sau này.Khoa học Duy nghiệm và Duy lý manh nha hình thành. KẾT LUẬN Triết học Hy Lạp cổ đại là tiếng chuông vàng. Nền triết học duy vật Hy Lạp cổ đại đã đạt những thành tựu rực rỡ về mọi mặt và đã có những cống hiến lớn lao vào kho tàng văn học của loài người. là nhịp cầu vững chắc. Hơn hai mươi lăm thế kỉ đã qua. một dân tộc mà tài năng và hoạt động có tính chất toàn diện của nó đã đảm bảo cho nó có một địa vị mà không có một dân tộc nào khác có tham vọng đạt tới trong lịch sử tiến hóa của nhân loại”. Nền văn minh hiện đại Châu Âu bắt nguồn từ nền văn minh Hy Lạp và chúng ta đã không thể hiểu đầy đủ văn hóa Châu Âu ngày nay nếu không đi ngược thời gian để tìm hiểu những thành tựu huy hoàng của văn hóa Hy Lạp cổ đại. . Ưu điểm: .

Tuy có đặt vai trò của con người. nên nhìn chung các quan niệm triết học còn mang nặng tính tự biện.Triết học duy vật Hy Lạp cổ đại thể hiện tính bao trùm của nó về mọi lĩnh vực trong thế giới quan của con người. 16 .Trả lời phần nào câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức thế giới không? Hạn chế: . . .Các vấn đề triết học còn chưa rõ ràng.. còn rời rạc chưa hệ thống hóa.Triết học cổ Hy Lạp còn nằm trên tư duy trừu tượng là chủ yếu. Triết học thời kì này đã đề cập tới những vấn đề thế giới quan cơ bản của con người. nhưng chưa hoàn toàn tách khỏi yếu tố thần linh. Ra đời trong điều kiện còn quá ít và sơ khai nên trình độ phát triển tư tưởng văn hóa của nhân loại thời kì này nói chung còn thấp. . Tuy nhiên do sự đối lập giữa lao động trí óc với lao động chân tay quá lớn.

NXB Văn Hóa Thông Tin. 2004 Triết học Hy Lạp giản yếu. 2006 Lịch sử Triết học Phương Tây.Nguyên Nguyễn Hóa. NXB Tổng hợp Tp. NXB Thanh niên.TÀI LIỆU THAM KHẢO Khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại. Vũ Dương Ninh. Nguyễn Tiến Dũng. Hào . 2003 Lịch sử văn minh thế giới. Doãn Chính. NXB Giáo Dục. 2004 . Hồ Chí Minh.