You are on page 1of 67

Trần Trọng Kim

Một Cơn Gió Bụi

Xuất bản lần đầu tại
Nhà xuất-bản Vĩnh Sơn
Sài Gòn 1969

Nguồn: Talawas:
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=2404&rb=08

Chương 1
Cuộc Đời Yên Lặng và Vô Vị

Sau 31 năm làm việc trong giáo giới, trải làm giáo sư ở trường Trung Học Bảo Hộ và trường Sĩ Hoạn,
kế lại sung chức Bắc Kỳ Tiểu Học Thanh Tra, rồi về giữ chức giám đốc trường Nam Tiểu Học ở Hà
Nội, đến năm 1942 mới được về hưu. Tưởng thế là được nghỉ ngơi cho trọn tuổi già. Bởi vì trong một
đời có nhiều nỗi uất ức sầu khổ về tình thế nước nhà, về lòng hèn hạ đê mạt của người đời, thành ra
không có gì là vui thú. Một mình chỉ cặm cụi ở mấy quyển sách để tiêu khiển. Ðó là tâm tình và thân
thế của một người ngậm ngùi ở trong cái hoàn cảnh éo le, và trong một bầu không khí lúc cũng khó
thở. Ðược cái rằng trời cho người ta có sẵn cái tính tùy cảnh mà an, cho nên bất cứ ở cảnh nào lâu ngày
cũng quen, thành ra thế nào cũng chịu được.
Năm Quý Mùi (1943) là năm trăng mờ gió thảm, tiếng chiến tranh inh ỏi khắp hoàn cầu, toàn xứ Ðông
Dương bị quân Nhật Bản tràn vào, họa chiến tranh mỗi ngày một lan rộng. Dân Việt Nam bị đói kém
đau khổ đủ mọi đường, lại căm tức về nỗi nước nhà suy nhược phải bị đè nén dưới cuộc bảo hộ trong
sáu bẩy mươi năm, cho nên ai cũng muốn nhân cơ hội ấy mà gây lại nền độc lập đã mong mỏi từ bao
lâu.
Tôi là một người nước Việt Nam, lẽ nào lòng tôi lại không rung động theo với dịp rung động của
những người ái quốc trong nước? Nhưng vì hoàn cảnh khó khăn, lòng người ly tán, nhiều người lại
muốn lợi dụng cái tiếng ái quốc để làm cái mối tư lợi cho mình, vì vậy mà tôi chán nản không dự vào
đảng phái nào cả, mà cũng không hành động về phương diện chính trị. Ngoài những lúc làm những
công việc hàng ngày phải làm, khi rỗi rãi gặp những bạn thân, nói đến chuyện thiên hạ sự và việc nước
nhà, thì tôi cũng nói chuyện phiếm và mong cho nước nhà chóng được giải phóng.
Thường tôi gặp người Pháp, tôi cũng nói thẳng rằng: nếu trong cái hoàn cảnh này, người Pháp hiểu rõ
tình thế mà buông tha chúng tôi ra thì không những là nước Pháp không thiệt thòi gì mấy về đường
kinh tế, mà về đường văn hóa và thực tế lại có phần lợi vì đã làm một cái ơn lớn cho cả một dân tộc.
Mà thực tế nếu được như vậy thì dân Việt Nam không bao giờ quên được cái ơn ấy, mà vui lòng hợp
tác với nước Pháp. Song đó là một cái mộng tưởng không thê có ở trong đời này, là đời đầy những sự
tham, sân, si, cho nên nhân loại đã phải chịu bao nhiêu nỗi đau buồn khổ não. Mà còn phải chịu không
biết đến bao giờ mới thôi!
Trong khi nước Pháp đang bị cái nạn chiến tranh, người Pháp đối với người Việt Nam không đổi thái
độ chút nào, mà người Nhật thì lại muốn lợi dụng lòng ái quốc của người Việt Nam để quyến dụ người
ta theo mình. Người Việt Nam không phải là không hiểu cái tâm địa người Nhật, song có nhiều người
muốn thừa cái cơ hội hiện tại mà phá vỡ cái khuôn khổ bé hẹp nó ràng buộc mình đã bao lâu để gây ra
cái không khí mới, rồi sau thế nào cũng tìm cách đối phó. Phần nhiều người trí thức trong nước đều có
cái quan niệm ấy, nhưng vì thế lực không đủ, cho nên không ai hành động gì cả, trừ một bọn người
hoặc vì lòng nóng nảy, hoặc vì lòng ham danh lợi chạy theo người Nhật.

Nước Nhật Bản trước vốn là một nước đồng văn đồng hóa ở Á Ðông, nhưng về sau đã theo Âu Hóa,
dùng những phương pháp quỉ quyệt để mở rộng chủ nghĩa đế quốc của họ, trước đã thôn tính Cao Ly
và Mãn Châu, sau lại muốn xâm lược nước Tàu và các nước khác ở Á Ðông đã bị người Âu Châu
chiếm giữ. Người Nhật tuy dùng khẩu hiệu đồng minh cộng nhục và lấy danh nghĩa giải phóng các dân
tộc bị hà hiếp, nhưng thâm ý là muốn thu hết quyền lợi về mình. Bởi vậy chính sách của họ thấy đầy
những sự trái ngược, nói một đàng làm một nẻo. Cái chính sách ấy là chính sách bá đạo rất thịnh hành
ở thế giới ngày nay. Dùng lời nhân nghĩa để nhử người ta vào chòng của mình mà thống trị cho dễ, chứ
sự thực thì chỉ vì lợi mà thôi, không có gì là danh nghĩa cả.
Trong hoàn cảnh khó khăn ấy tôi phải nén mình ngồi yên. Song mình muốn ngồi yên mà người ta
không để cho yên. Hết người này đến nói chuyện lập hội này, người khác đến nói chuyện lập đảng nọ.
Ðảng với hội gì mà tinh thần không có, sự tổ chức chẳng đâu ra đâu thì càng nhiều đảng và hội bao
nhiêu lại càng thêm rối việc bấy nhiêu, chứ có ích gì? Bởi vậy đối với ai, tôi cũng lấy lòng ngay thẳng
mà đáp lại, nhưng không đồng ý với ai cả.

Sự đi lại của những người Nhật làm cho người Pháp để ý đến tôi.. nhưng ai cũng biết là họ đi dò xét tình ý những nhân sĩ trong nước. rồi ông nói vài hôm ông sẽ về Thanh Hóa. người trong thành thị nôn nao cả lên. thì tôi lại đi bộ từ phố Hàng Bông về đến Nhà Rượu với vài người bạn cùng đi một đường. nhất là vào khoảng tháng mười năm 1943 có mấy người đi làm với phái bộ Nhật Bản bị bắt. có nhiều người bị bắt vì sự giao thông với người Nhật. Việc nhì nhằng như thế một độ rồi ông đi Sài gòn và ở trong ấy độ chừng hai tháng mới ra. có ông Nguyễn Trác ở Thanh Hóa. cũng như mọi ngày. Sau đó có những người Nhật khác cũng hay đến nói chuyện. vì ông có người con rể là ông Ðặng Phúc Thông ở bên cạnh nhà tôi và lại là người vẫn quen tôi. Chợt đến ngày 25 tháng mười. Ðã từ mấy tháng trước. tôi về đến đầu phố Nhà Rượu thì thấy người nhà chạy tất tả đến nói rằng: Không biết có việc gì mà có mấy người Nhật bảo tôi đi tìm ông. Họ thấy tôi liền hỏi ngay rằng: . Ðó thật là một việc bịa đặt.Chương 2 Đi Chiêu Nam Đảo (Singapour) Vào khoảng cuối năm Canh Thìn (1940) sau khi quân Nhật đã vào đóng ở Ðông Dương rồi. có những người Nhật nói là giáo sư ở những trường cao đẳng bên Ðông Kinh sang khảo cứu về văn hóa thường đến tìm tôi hỏi về lịch sử và tôn giáo v. Ðộ ấy. Trong những người Việt Nam thỉnh thoảng đi lại nhà tôi.. Tôi thấy ông Trác có nhiệt tâm yêu nước thì cũng vui lòng trò chuyện và dặn ông phải cẩn thận. Lúc ấy người con gái ông Trác là bạn con tôi ra Hà Nội để chữa mắt. tôi chối ngay rằng tôi không làm chính trị.. Chiều ngày 27 tháng mười. như Trương Kế An khai với người Pháp rằng y ra Hà Nội có gặp tôi và ngủ ở nhà tôi một đêm. ngồi nói chuyện phiếm đến bẩy giờ. Hà Nội thường cũng có sự bắt bớ như thế. đừng có hấp tấp mà mắc mưu gian.v. Có khi thấy có người rất ám muội đến bàn làm những việc bất chánh để giử tôi vào chòng pháp luật. ông Nguyễn Trác ở Sài gòn ra. Chữa xong những bản đập.. có đến thăm con tôi và gặp tôi trong một chốc lát. chữa những sách in lại. nói chuyện qua loa vài câu.Ông có biết ông Nguyễn Trác và ông Trần Văn Lai đã bị bắt từ lúc bốn giờ rưỡi rồi không? .Người Pháp sắp bắt ông đấy. một đôi khi cũng nói đến hành động của người Nhật ở Ðông Dương. Vậy nên tôi cũng chỉ nói về mặt văn hóa mà thôi. Tuy những người ấy không nói gì đến việc chính trị. một đôi khi có nói đến việc chính trị. Bởi vậy mà ông Trác quen tôi và đi lại nhà tôi. vì tôi không quen biết người ấy bao giờ và cũng không bao giờ gặp y. cứ chiều chiều tôi đi đến phố Hàng Bông vào nhà in Bắc Thành của ông Lê Thăng. . Tôi nghĩ bụng: lại mấy người mọi khi đến quấy rối chứ còn việc gì nữa. . Song ông tin người Nhật có thể giúp được mình.Tôi không biết. và thường lại thấy các thám tử đứng rình luôn luôn ở trước cửa. Tôi về đến nhà thì thấy mấy người hiến binh Nhật với một người Nhật quen từ trước ngồi chờ. có đến ở nhà tôi.

tôi dặn đừng cho hiến binh Nhật biết. tôi đang ở trong buồng thấy mấy người hiến binh Nhật đem xe hơi đến bảo có lệnh đón tôi về ở khách sạn của nhà binh Nhật! Nghe hai tiếng có lệnh.Ông nên nghĩ đến tương lai nước ông mà tạm lánh đi mấy ngày.Ông không thấy lính mật thám rình chung quanh nhà ông hay sao? . và nghe nói ông ấy đã ủy quyền cho ông Ngô Ðình Diệm và Huỳnh Thúc Kháng tổ chức mọi việc. biết là mình không sao từ chối được nữa. Ông Dương Bá Trạc là một nhà văn học. Nếu mai không có việc gì. đứng dậy ra về. Sang nhà người Nhật ấy. ông Dương nói: Bây giờ chúng ta lâm vào cảnh này thật là khó quá. thì ông lại về. Tôi trông thấy ông Dương. Lúc ấy tôi nhìn ra cửa thấy hai người giống như mật thám đứng ở ngoài dòm vào. nhưng tôi sợ đêm nay người Pháp sẽ đến bắt ông.Ông nên vào hiến binh Nhật mà lánh đi mấy ngày. Thôi đành theo số phận. đỗ cử nhân từ thủa mới 16 tuổi. đã từng phải đày ra Côn Lôn và phải cưỡng bách lưu trú mấy năm ở nam kỳ. Nghe đâu ở ngoài phố họ bắt lung tung cả. thì tôi làm thế nào bênh vực được ông. nhỡ người Pháp biết mà đến bắt ông. Ðến năm giờ chiều hôm ấy. Ðêm nằm không ngủ được.Tôi là người thường. làm thế nào được. . nói rằng: . Sáng hôm sau. Chi bằng ông hãy sang ở tạm bên nhà tôi gần đây. Dù rồi ra chúng ta có về nhà nữa.Tôi vẫn biết. mà lại còn đi báo để hiến binh đến? Người ấy nói: .Bắt thì bắt.Tôi có làm gì với người Nhật mà chạy vào hiến binh Nhật? . . Người Nhật ấy hứa sẽ giữ lời. Còn người Nhật quen ở lại. nghĩ xa nghĩ gần: Mình đã không muốn làm gì cả. theo ông Phan Bội Châu đi làm cách mệnh. ta sẽ bàn cách làm việc gì có ích lợi cho tương lai nước nhà. . Tôi trách người Nhật quen rằng sao ông đã hứa với tôi không cho hiến binh biết.Ông Cường Ðể thì chỉ có bác quen mà thôi. Vì vậy tôi phải cho hiến binh biết.. người Pháp cũng chẳng để yên. Chi bằng chúng ta nói với hiến binh Nhật cho chúng ta ra ngoài để gặp ông Cường Ðể. rồi đây ra saỏ Rõ thật đất bằng nổi trận phong ba. Ông Dương nói: Mình đi ra ngoài đường định lui về quê. mà lại bị người ta ngờ vực. Tôi nhận lời sang ngủ bên nhà người Nhật quen. Sau một lúc chuyện trò về tình cảnh của nhau. chưa biết rõ những ai.Ông không vào hiến binh thì thôi. nhưng tôi không làm điều gì đáng lo sợ. tôi lên xe đi đến khách sạn của Nhật. Tôi nghĩ bụng: Ta hãy lánh đi một đêm cũng không sao. Ông cùng với tôi là bạn làm bộ Việt Nam Tự Ðiển ở ban văn học hội Khai Trí Tiến Ðức. . cười bảo: Sao bác lại vào đây?. thấy hiến binh Nhật đem ông Dương Bá Trạc cũng vào đấy. bị bọn hiến binh Nhật mời lên xe đưa vào đây.Tôi chẳng đi đâu cả! Mấy người Nhật thấy tôi nói thế tỏ vẻ tức giận. . tôi chạy theo ông ấy thì có ích gì? . vì tình nước mà bỏ không ra làm quan.

mới biết cái đảo khi xưa thịnh vượng bao nhiêu. viên thiếu tá mới trở về và đến nói cho chúng tôi biết: Tư lệnh bộ cho hay các ông đi đâu bây giờ cũng không tiện. Lúc chúng tôi ở Sài gòn. Chẳng hơn là cứ lẩn nấp ở trong nước. lệnh trên định thế nào. ta sẽ lập thành một cơ quan ở hải ngoại. Từ đó người Nhật tổ chức đưa chúng tôi vào Sài gòn rồi đưa ra Chiêu Nam Ðảo. là đang giữa lúc chiến tranh như thế. Sau khi qua chỗ nọ chỗ kia rồi. Tôi nghe ông Dương nói cũng bùi tai. vậy có ra Chiêu Nam Ðảo cũng chả sao. Sau khi chúng thôi vào Sài gòn được tám chín ngày. để cho người Pháp chực bắt bớ. những nhà cửa phố xá không hư hỏng mấy nhưng sự buôn bán đình trệ. Lúc ấy chúng tôi chỉ mong chóng đến nơi để tổ chức công việc làm của mình. sự sinh hoạt mỗi ngày một nghèo ngặt. Chúng tôi nghĩ miễn là mình thoát ra khỏi cái cảnh eo hẹp này là được. đã biết có hai chính khách Việt Nam ở nam bộ đã sang bên ấy. chỉ có ra Chiêu Nam Ðảo là yên ổn hơn cả. ta ra cùng làm việc với ông ấy. họ cũng không nói năng gì. Họ đưa mình đến đâu cũng chẳng biết. ngoài cảng chỉ có lơ thơ vài chiếc tàu vận tải của Nhật. chứ nếu chậm lại độ mươi ngày thì cũng đi đời rồi. liền bàn nhau viết thư xin người Nhật giúp chúng tôi ra ngoài. xem báo biết là cái nhà khách sạn Nhật Bản chúng tôi ở trước. Chúng tôi đi xe lửa với một toán lính Nhật vào Sài gòn.000 đồng giao cho ông Dương giữ cả. lại thấy mấy người Nhật đưa chúng tôi đi giữa cái thái độ bí mật. các thực phẩm đắt đỏ không thể tưởng tượng được. Chúng tôi đợi ở khách sạn đến gần ba tuần lễ. có người giúp cho được 5. viên thiếu tá hiến binh Nhật ở Hà Nội đến thăm chúng tôi và nói: Việc các ông xin ra ngoài là rất phải. ở trong thành thị. bị tàu bay Mỹ ném bom ngày mồng 9 tháng 12 năm 1943. Người ta thường có cái tính lạ. Thôi thì đã liều thì liều cho đến cùng. trong bụng chỉ lo họ đem chúng tôi vào nhà hiến binh như ở Sài gòn thì cực quá.Ông Cường Ðể là người chính phủ Nhật Bản đã giúp đỡ. Ấy là trong khi nguy nan vẫn có trời tựa. rồi sau ở nhà của hiệu Ðại Nam công ty 19 ngày. Ðến đấy được một sự vui mừng trước tiên là sự gặp bạn đồng chí Ðặng Văn . để tôi vào Sài gòn hỏi ý kiến tư lệnh bộ trong ấy. thu thập hết thảy những nhà cách mệnh đã ở ngoài về một chổ thì sự hành động của ta sẽ có ý nghĩa lắm. rất là thuận tiện. rồi dự định sẽ mời hết thảy những chính khách lưu vong ở ngoài về đấy để cùng nhau mà trù tính mọi việc. người Nhật kiểm soát nghiêm mật. Trước hết đến nhà hiến binh Nhật mất 12 ngày. Ðến ngày mùng một tháng giêng năm 1944 mới xuống tàu thủy sang Chiêu Nam Ðảo. cho nên khi tàu ghé vào bến chúng tôi cứ rướn cổ để trông xem có ai là người Việt Nam ra đón mình không. Hỏi họ đưa chúng tôi đến chỗ nào.. thì bây giờ tiều tụy bấy nhiêu. rồi xin cùng người Nhật cho cả ông Huỳnh Thúc Kháng và ông Ngô Ðình Diệm ra nữa. mà vẫn tưởng tượng Chiêu Nam Ðảo như Singapour ngày trước. Các ông ra đấy rồi ông Cường Ðể cũng sắp về đấy cùng các người khác nữa sẽ họp nhau làm việc. Kể chi những nỗi lo sợ ở dọc đường từ Hà Nội sang đến Chiêu Nam Ðảo. lúa gạo mỗi ngày một khan. Chúng tôi nhận đi. Trông chẳng thấy ai đã buồn bực bao nhiêu. Lúc chúng tôi ở Hà Nội đi. người Nhật mới đem chúng tôi về khách sạn Quốc Tế Phú Sĩ binh trạm ở con đường Grame Road. đúng vào giữa cái phòng chúng tôi ở. thành ra không giao thông được với đâu cả. Ngờ đâu khi đến Chiêu Nam Ðảo rồi. tôi sẽ nói cho các ông biết. Sự đi lại với các xứ ngoài. Cách mấy hôm.

Ký và Trần Văn Ân đã nghe nói từ trước. Ði ra chỗ xa lạ, tiếng tăm không biết mà gặp được người
cùng xứ sở chuyện trò vui vẻ kể sao xiết.
Lúc đầu còn hứng thú đi xem đây xem đó, và gặp mấy người Việt Nam sang làm việc, hoặc buôn bán
hay làm thuyền thợ, rồi vì sự chiến tranh mà mắc nghẽn bên ấy. Ai nấy đều vui mừng đón mời. Gặp
nhau như thế làm cho chúng tôi khuây khỏa ít nhiều, song cũng không làm cho chúng tôi quên được sự
nhớ nhà nhớ nước.
Chiêu Nam Ðảo là Nhật đặt ra để gọi tên đảo Singapour (Làng Sư Tử) sau khi quân Nhật đã chiếm
được cả bán đảo Mã Lai. Ðảo ấy có cái hải cảng rất hiểm yếu ở giữa đường hải đạo từ tây phương sang
các xứ bên Thái Bình Dương. Dân cư ở đảo ấy có đến 75% là người Trung Hoa, còn lại là người Mã
Lai, người Ấn Ðộ và người Nhật.
Việc điều khiển, phòng bị và cai trị trước đã ở tay người Anh, sau ở cả người Nhật. Việc buôn bán và
những công nghệ phần nhiều ở tay người Trung Hoa, còn người bản xứ chỉ làm những nghề nhỏ mọn
như chài lưới và trồng trọt rau khoai phía ngoài thành thị. Phố xá trong thành thị chia làm hai khu: một
khu là nơi bình thời buôn bán phồn thịnh có nhà cửa rộng lớn, người đông đúc, chỉ ở gần bến tàu và
ven bờ biển; một khu ở phía trong có đường xá sạch sẽ, hai bên có những biệt thự của những phú
thương người Anh hay người Tàu. Những biệt thự ấy thường làm ở sườn đồi có cây cối sầm uất và
vườn tược đẹp đẽ. Ngoài một vài nơi có phong cảnh khả quan, còn là những nơi buôn bán và ăn chơi
chứ không có di tích gì đáng xem.
Từ khi chúng tôi vào ở khách sạnh Nhật Bản ở Hà Nội cho đến khi sang tới Chiêu Nam Ðảo, trong óc
chúng tôi tính toán dự định bao nhiêu công việc phải làm, nào báo chí, nào ủy ban này ủy ban nọ. Hễ
lúc nào trong óc nẩy ra một ý tưởng gì, thì tưởng như thấy sự thực đã hiện ra trước mặt rồi. Ðến khi
trông rõ sự thực, thì bao nhiêu mộng tưởng của mình vẫn ngấm ngầm vuốt ve, lại biến đi đâu mất cả.
Ở Chiêu Nam Ðảo hơn một tháng chẳng thấy gì khác, sáng như chiều, bốn người lủi thủi với nhau.
Những người mà Nhật hứa hẹn sẽ đưa ra, cũng chẳng thấy ai, nỗi chán nản ngày một tăng thêm, nghĩ
mình mắc vào cái cạm không sao gỡ được.
Về đường vật chất, thì trước bốn chúng tôi ở hai buồng lớn trong căn nhà hai tầng lên xuống dễ dàng.
Từ tháng tư dương lịch trở đi, chủ khách sạn bảo chúng tôi dọn sang nhà lớn ở từng thứ năm, thang
máy chỉ chạy có giờ mà thường lại hư hỏng, thành ra phần thì nóng nực phần thì trèo thang nhọc mệt
phần thì thấy công việc chẳng có gì làm, sự ăn uống lúc đầu ngày ba bữa còn được sung túc, sau dần
thiếu gạo, thiếu đồ ăn, có khi trong ba bữa phải hai bữa ăn mì bột sắn nấu với nưới sôi.
Sự ăn uống thiếu thốn, hoàn cảnh đìu hiu, tâm tình sầu muộn, lại ngày lên thang xuống thang nhọc
mệt, chẳng bao lâu tôi mắc bệnh máu bốc lên đầu. Thuốc thang lại không có, chỉ có mấy ngày lấy bớt
máu ra một lần. Thầy thuốc nhà binh Nhật chữa mãi không khỏi, tôi phải chữa thầy thuốc ngoài. Có
câu chuyện tự nhiên mà thành ra buồn cười: tôi đến nhà y sĩ người Trung Hoa. Ông xem xong rồi bảo
tôi về ăn ít cơm và rau. Ông nói thế, thật là đúng phép, nhưng cơm đã không có đủ ăn, còn rau thì tìm
đâu ra. Thôi thì việc sống thác phó mặc trời xanh ta cứ cư dị dĩ sĩ mệnh. Ấy là trong bụng tôi nghĩ như
vậy, rồi ngày ngày tôi lấy Ðường thi dịch ra Việt thi để làm việc tiêu khiển.
Bệnh tôi chưa khỏi thì đến lượt ông Dương Bá Trạc bắt đầu đau. Trước thì mỗi khi tôi có cơn chóng
mặt, ông trông nom thuốc thang, sau dần ông thấy trong người mỏi mệt, và một đôi khi có ho năm ba
tiếng. Tôi hỏi ông nói không việc gì. Tôi tin ở lời ông biết thuốc, và thường ai đau yếu ông vẫn bốc

thuốc cho người ta. Ông vẫn gượng đi chơi, hoặc ngồi dịch Ðường thi với tôi, cho nên ai cũng tưởng là
bệnh xoàng.
Chúng tôi thấy từ năm 1944 trở đi, quân Nhật đánh ở các nơi thường cứ bại trận, ở Chiêu Nam Ðảo lại
là nơi chiến địa, lương thực cạn khô, mà ở bên Xiêm thì gạo thóc nhiều và nhiều người Việt Nam ở
bên ấy. Ông Dương bàn với tôi rằng: Đây có nhiều điều nguy hiểm, chi bằng ta xin người Nhật cho
chúng ta về Băng Cốc để dù xảy ra việc bất ngờ gì, ta còn có chỗ lui. Chúng tôi liền làm cái thư xin
quân đội Nhật cho về Băng Cốc.
Thư gửi đi được mấy ngày, bấy giờ vào khoảng tháng chín dương lịch, chủ khách sạn không hiểu
duyên cớ gì lại bảo chúng tôi dọn về ở hai cái buồng cũ rộng rãi và mát mẻ hơn. Một hôm ông Dương
đang ngồi dịch thơ với tôi, tự nhiên thấy ông lên cơn nấc. Nấc mãi không thôi, uống thuốc gì cũng
không khỏi. Chúng tôi khuyên ông nên đi đến thầy thuốc nhà binh Nhật xem rõ bệnh tình ra sao. Ông
cho là bệnh thường, không chịu đi. Sau cơn nấc cứ luôn mãi cả ngày và đêm, nhọc mệt vô cùng, ông
mới chịu đi đến bệnh viện cho thầy thuốc xem.
Thầy thuốc ở bệnh viện đem chiếu điện xem phổi, thì ra ông mắc bệnh phế nham, là bệnh ung thư ở
trong phổi. Người Nhật bảo ông phải vào nằm bệnh viện, ông không muốn vào, nói rằng: sống chết có
mệnh, nay vào bệnh viện ngôn ngữ không biết, có nhiều sự bất tiện. Ông Trần Văn Ân nói: Cụ cứ vào,
tôi vào bệnh viện ở với cụ. Trong bốn người chúng tôi, có ông Ân biết ít nhiều tiếng Anh và tiếng
Nhật. Chúng tôi nói mãi, ông Dương mới chịu vào bệnh viện.
Ðịnh đến ba giờ chiều ngày mồng 5 tháng một dương lịch thì tư lệnh bộ Nhật Bản cho xe đến đưa ông
Dương vào bệnh viện nhà binh. Bữa cơm trưa hôm ấy ông Dương với tôi đi ăn cơm, bữa ăn chỉ có mỗi
người một bát mì làm bằng bột sắn. Tôi nuốt không trôi, phần thì thương bạn, phần thì ngậm ngùi về
số phận. Lúc mới đi tuy có nhiều điều cực khổ, nhưng lòng còn chứa nhiều hy vọng về công việc làm,
thành ra vẫn hăng hái. Nay bao nhiêu hy vọng ấy đã thành ra ngọn khói bay tan, lại nhớ những lúc đi
đường, đói no, lo sợ có nhau, giúp đỡ lẫn nhau, bây giờ chẳng may tôi đau yếu chưa khỏi mà bạn lại
mắc phải cái bệnh nguy hiểm tính mệnh chưa biết ra sao. Hai người ngồi đối diện không nói năng gì
mà tôi chắc rằng cũng đồng một ý nghĩ như nhau thành ra trước hai bát mì bột sắn, chỉ có bốn dòng lệ
tuôn mưa. Tôi nói: Bệnh bác tuy nặng, nhưng chưa đến nỗi thất vọng, bác chịu khó vào bệnh viện cho
người ta chữa, trời nào phụ lòng bác. Thỉnh thoảng tôi lại vào thăm bác. Ông Dương nói: Còn một ít
tiền đây, bác giữ lấy phòng khi có việc gì mà tiêu. Từ khi ở Hà Nội đi ra đến bây giờ, tiền nong có bao
nhiêu ông Dương vẫn giữ tôi không biết. Anh em dặn dò nhau xong thì xe hơi đến, ông Trần Văn Ân
đưa ông Dương vào bệnh viện.
Lúc ấy tôi vẫn nằm một mình trong phòng khách sạn, tình cảnh mới thê thảm làm sao; lại nhớ bài thơ
thất ngôn tứ tuyệt của Vi Trang đời Ðường tôi vừa dịch xong:
Than thân xa lạ quê người Lại cùng người cũ bên trời chia tay Trăng tàn quán khách sớm mai Tỉnh say
ai cũng lệ rơi ướt đầm.
Khi ấy có một người Việt Nam khá giả ở Chiêu Nam Ðảo đã lâu, thường đem xe hơi đến đưa tôi đi
chơi cho đỡ buồn. Một hôm ăn cơm tối rồi người ấy đưa tôi ra bờ biển ngồi xem trăng lên, tôi thấy
cảnh động lòng thơ, mới vịnh một bài ngũ ngôn rằng:
Chiêu Nam ngụ đất khách Hà Bắc nhớ quê hương Mặt biển lô nhô sóng Góc trời chênh chếch gương
Thân già đau đã nản Bạn cũ bệnh càng thương Tạo hóa chơi khăm quá Trung trinh cũng đoạn trường!

Tôi ít làm thơ, khi cao hứng làm một vài bài, nghe nó vẫn thật thà như thế, nên không hay làm. Dù sao
nó cũng biểu lộ được chút tâm tình sầu muộn lúc bấy giờ.
Khi mới vào bệnh viện, người Nhật để ông Dương ở nhà bệnh viện chung, nằm buồng riêng của các
tướng hiệu, và đối đãi rất tử tế. Ông nằm ở đó được mấy ngày thì phải đem sang nằm ở nhà bệnh
truyền nhiễm. Bệnh nấc tuy có đỡ, nhưng bệnh phổi thì mỗi ngày một nặng thêm. Ngày 13 tháng một,
tôi cùng mấy người bạn khác vào thăm ông Dương vừa đúng ngày ông phải dọn sang phòng riêng rộng
rãi mát mẻ. Chúng tôi thấy ông phải sang phòng rộng như thế ai nấy đều lo, nhưng không dám nói ra.
Dọn sang phòng mới rồi, chúng tôi ngồi chơi một lúc, tôi hỏi ông Dương rằng: Tôi nghe bác có người
con làm y sĩ ở Sài gòn tên là gì và địa chỉ ở đâu Ông nói: Nó làm ở nhà thương Chợ Quán gần Sài gòn
nhưng không nên cho nó biết làm gì.
Tôi biên tên và địa chỉ người con ông Dương để phòng khi có xảy ra sự gì chẳng may tôi có thể báo
tinh cho biết.
Khi đang bối rối lo buồn như thế, vào khoảng đầu tháng chạp dương lịch, tư lệnh bộ Nhật cho viên
trung úy đến nói rằng có lệnh bên Ðông Dương sang cho ông Dương và tôi đi Băng Cốc. Tôi nói ông
Dương đang đau nặng nằm ở bệnh viện, đi làm sao được. Ðể hỏi trong bệnh viện xem ông Dương có đi
được không, thì cùng đi cả hai người. Nếu ông Dương đi không được, thì hãy đình việc ấy lại. Thế là
chuyện đi Băng Cốc ao ước mãi nay lại không thành.
Ông Trần Văn Ân, từ ngày ông Dương sang ở nhà bệnh truyền nhiễm thì không ở trong bệnh viện nữa,
chỉ ngày ngày vào thăm mà thôi. Mỗi lúc ông ở bệnh viện về cho chúng tôi biết bệnh tình nguy lắm.
Qua đến ngày mồng 10 tháng chạp hồi 14 giờ rưỡi, một người lính ở tư lệnh bộ Nhật đến tìm ông Ân,
bảo ông phải vào ngay bệnh viện, ông Dương nguy lắm.
Nghe nói chúng tôi biết là tin dữ. Ông Trần Văn Ân và ông Ðặng Văn Ký đi vào bệnh viện, tôi thì lên
cơn chóng mặt, nằm quay ra giường. Hai người vào đến nơi thì biết ông Dương đã mất từ lúc 12 giờ
rưỡi, giờ Nhật Bản tức là hồi 10 giờ rưỡi thường. Thế là xong một đời người chí sĩ Việt Nam, đã lăn
lộn trong cuộc cách mệnh mưu sự độc lập cho nước nhà.
Ðộ hơn một tháng trước, một hôm ngồi nói chuyện, ông Dương nói: Tôi thường không tin sự bói toán,
nhưng tôi nghiệm thấy bói Kiều lắm lúc hay lắm. Khi xưa tôi có đi thi Hương, bói một quẻ, biết là đỗ,
mà rồi đỗ thiệt. Sau phải đầy ra Côn Lôn, lại một hôm bói một quẻ, đoán là sắp được về, cách mấy
ngày quả được về thiệt. Chúng tôi nói: Bây giờ ông thử bói một quẻ xem. Ông nói: - Ðể sáng mai.
Sáng ngày hôm sau, ông vui mừng bảo chúng tôi: - Về, chúng ta sắp được về.
- Sao ông biết?
- Tôi vừa bói một quẻ Kiều được hai câu nầy:
Việc nhà đã tạm thong dong, Tinh kỳ dục dã đã mong độ về.
Theo cái nghĩa cái câu ấy là chúng ta sắp được về.
Thấy ông nói thế, ai nấy đều vui vẻ mừng rỡ lắm. Kể ra đối với ông Dương thì không đúng, mà đối với
cả bọn chúng tôi thì chỉ cách có mấy tháng là được về cả. Việc tin hay không tin ở quẻ bói là chuyện

thì thật là sầu thảm.khác. Trước ba ngày khi ông sắp mất. chúng tôi rất cảm tạ. Nay nhà binh Nhật đãi ông Dương như thế. Ðoạn trường ai có qua cầu mới hay. Sáng ngày 12 tháng chạp. Ðến khi mất rồi. Tôi nói rằng: Ông Dương một đời vì nước tranh đấu. ngoài đề danh hiệu. nghĩa là đem ném thây xuống biển. rồi đưa thờ tại chùa Bản Nguyên Tự của Nhật Bản. tuy không tử trận cũng như tử trận. ông có viết một bức thư rất dài bằng chữ nho đưa cho tư lệnh bộ Nhật. lại đau yếu chưa biết sau này ra sao. đây tôi cốt lấy một chuyện cỏn con đó mà chứng thực cái lòng mong mỏi của chúng tôi lúc ấy là ai cũng muốn chóng được về. nói ông chết thì xin người Nhật cho hải táng. tư lệnh bộ Nhật cho người đến bảo tôi rằng: Lễ hải táng phải có tàu bè mà nay đang lúc chiến tranh. nay một mình tôi. Kể sao xiết nỗi thảm sầu. làm lễ hỏa táng ông Dương Bá Trạc ở Chiêu Nam Ðảo. Riêng về phần tôi. . rất không tiện. có gần hết thảy người dân Việt Nam ở tại Chiêu Nam Ðảo đến dự lễ. tàu bè bận việc khác. Lúc đi thì hai người với nhau. Vậy xin theo lễ nhà binh Nhật làm lễ hỏa táng ông Dương như một người chiến sĩ tử trận. đến chiều đem di hài đựng vào cái hộp. Ðịnh đến ngày 16 tháng chạp tức là ngày mùng 2 tháng một năm Giáp Thân làm lễ cầu kinh ở tại chùa.

Ði đến chỗ ấy. Tôi đau phải nằm trên những thùng hàng xếp trong những toa bọc sắt. người đội và mấy người Nhật ở lại. để một trung úy đưa chúng tôi đi. ông ấy vui lòng nhận giúp ngay. người trung úy ở với chúng tôi về Sài gòn. là ở bên ta thấy nói khi quân Nhật đánh lấy đất Mã Lai có nhiều chỗ bị tàn phá. thì mình cũng an ủi mà vui lòng. Song được độ chừng mươi ngày. tôi bèn viết thư về tư lệnh bộ Nhật ở Sài gòn xin cho tôi và ông Ðặng Văn Ký đi về Băng Cốc còn để ông Trần Văn Ân ở lại Chiêu Nam Ðảo. Sau lại có ông Nguyễn Văn Sâm là một chính khách Việt Nam cũng chạy sang ở Băng Cốc. nóng như cái lò đốt lửa. cơm xong thì xe hơi đến đưa ra nhà trạm xe lửa. trông bộ nghèo khổ lắm. rồi lại lần lữa đến ngày 16 mới đi được. Ngày khởi hành đã định là mùng 5 tháng giêng năm 1945. Vả lại chúng tôi thấy những tướng hiệu của Nhật cũng đi như thế cả. ngồi uống chén nước. thế mà dọc đường chúng tôi không trông thấy vết chiến tranh đâu cả. chỉ đánh qua loa rồi rút lui. chi bằng nhờ người Nhật ấy đem hài cốt của ông Dương về Sài gòn. Cái hộp đựng di hài của ông Dương Bá Trạc thì để trong phòng ngày đêm hương đèn thờ phụng. Trước định chờ có tàu bay thì đi ngay. Ðến trưa ngày 24 tháng giêng thì đến. Xe cam nhong đưa chúng tôi đến tư lệnh bộ Nhật ở Xiêm. chỉ thấy có nhiều khu trồng cao su và dừa. Có một điều lạ. Thảm cảnh của tôi là phải mang cái hộp đựng hài cốt của ông Dương đi theo. còn ở thôn quê thấy dân cư rất lưa thưa. Khổ thì khổ thật. Chúng tôi nghĩ đi lối nào cũng được. Một người hạ sĩ quan và ba người lính Nhật đưa chúng tôi đi. thấy những thành thị ở dọc đường xe lửa khi xưa rất phồn thịnh. Tôi nghĩ mình ở đây chưa biết ra thế nào. và đã có hai người con của ông Cường Ðể là Tráng Liệt và Tráng Cử ở bên Ðông Dương sang ở đấy từ trước với một sĩ quan Nhật. có cái cầu lớn bị tàu bay Mỹ bắn vỡ tan. rồi có người Nhật đi xe hơi khác đưa chúng tôi đến nhà riêng ở ngoại ô kinh thành. chỉ trừ những chỗ bị tàu bay Mỹ mới sang ném bom mà thôi. xe lửa phải dừng lại rồi dỡ hàng hóa xuống để xe cam-nhong chở về Băng Cốc. Chúng tôi vào đấy. chờ đến 3 giờ chiều xe mới chạy. Cái nhà riêng ấy rộng rãi. Sau nói tàu bay không có phải đi xe lửa. Xe lửa đi đến chỗ cách Băng Cốc độ 200 cây số. Trưa ngày 16. mà chuyến chúng tôi đi phải đến 10 ngày. ăn uống đầy đủ. ngày ngày đi lại chơi với chúng tôi. mát mẻ. sau này sẽ hay. rồi sẽ giao lại cho con ông ấy ở Chợ Quán để chôn tạm chỗ nào đó. đều hết lòng trông nom.Chương 3 Đi Băng Cốc và về Sài Gòn Việc ông Dương xong rồi tôi nghĩ ở lại Chiêu Nam Ðảo càng đau đớn thêm. Dọc đường lại hay có báo động. . Chúng tôi chờ mất 15 ngày mới được tin bên Ðông Dương sang cho chúng tôi đi Băng Cốc. Thế là việc ông Dương tạm yên. Thì ra quân Anh lúc đầu không chống giữ gì mấy. nhưng nghĩ được ra khỏi cái địa ngục Chiêu Nam Ðảo là mừng rồi. mỗi khi như vậy phải chạy nấp vào trong rừng dừa thành ra dự định trước chỉ độ 4 ngày đến nơi. Ðất Mã Lai từ Tân Gia Ba đến biên giới nước Xiêm. khác hẳn với cảnh ở Chiêu Nam Ðảo. Ðất Mã Lai phần nhiều là rừng hoang ít đồng ruộng. đi đến đâu họ lo cơm nước không thiếu thốn gì. Từ khi chúng tôi về ở đấy. cứ đi cho xong. Tôi ngỏ lời với người trung úy Nhật.

nên chỉ biết qua loa thế thôi. Sau vì người Tàu xâm lăng mới theo sông Cửu Long xuống miền nam. Cũng như là sau tôi thấy những người cách mệnh Việt Nam ta ở bên Tàu. nghe tuyên truyền thì tưởng là họ có cơ sở chắc chắn. mái dốc. chủ một đồn điền lớn. Tôi trông ông Vũ Mẫn Kiến giống ông lão nhà quê ta. giữ phong tục của ta và vẫn nói trọ trẹ tiếng Việt Nam. thật là buồn. Ði đến đâu cũng thấy rặt những đồng áng mênh mông cùng những ruộng vườn và rừng cây. Còn phố xá ở ngoài thành nhà vua trông giống như thành Quảng Châu hay thành Thượng Hải bên Tàu. Mình là người một nước hèn yếu. nhà một tầng. đàn ông ưa hoạt động lắm. Ông nói có theo ông Cường Ðể và ông Phan Bội Châu ra ngoài. Ở vùng thôn quê có nhiều người Xiêm gốc tích là người Việt Nam. Thỉnh thoảng thấy những hàng dừa lưa thưa với những đàn trâu ở ruộng. đừng có nghe nhảm tin lầm. Vì người Xiêm và người Tàu xưa kia ở mé tây tỉnh Vân Nam và mé đông Tây Tạng. rồi sau về Xiêm tìm cách sinh nhai. Trừ khu nhà vua. Người Xiêm cùng một nòi giống với người Tàu. làm gì được đủ ăn rồi thì thích chơi bời. Ngồi nói chuyện mới rõ ông không phải là chủ đồn điền nhưng có thuê được mươi mẫu ruộng để vợ con lần hồi làm ăn. Hạng người ấy rất hoạt động về đường kinh tế và chính trị. có thế lực. xưa kia thường gọi là thành Vọng-Các là kinh đô của nước Xiêm. Gần hầu hết dân trong nước theo Phật giáo tiểu thặng như Cao Miên và Tàu. Tính người Xiêm cũng gần như người Tàu.Khi chúng tôi còn ở Chiêu Nam Ðảo định xin đi Băng Cốc. Ông là người trạc ngoài 60 tuổi. các cung điện làm theo lối cổ. một thành thị rất lớn. tưởng là các ông ấy có tổ chức. cờ bạc chớ ít cố gắng làm lụng. Tôi kể câu chuyện ra đây cốt để người ta biết rõ sự thực. lúc biết rõ sự thực. Vì chúng tôi sang Băng Cốc một cách bí mật. ông Sâm đưa tôi đến một tiệm trà gặp ông Vũ Mẫn Kiến. Ðến Băng Cốc. tiếng nói cũng hơi giống nhau. và ông Phạm Ðình Ðối đi tu làm sư coi một cái chùa. kỳ thực chẳng có gì đáng kể. Vậy mà ở xa nghe nói. . nóc nhọn. hoặc ở nơi ven rừng cây thì thấy năm bảy con trâu kéo gỗ. lập ra các bộ lạc ở xứ Tàu và nước Xiêm ngày nay. tôi liền nhờ ông Sâm đi tìm hai người ấy để gặp nói chuyện. Phần nhiều theo đạo Gia Tô rồi. Cả nước Xiêm. nhưng phần nhiều là người Tàu ở lâu đã nhập tịch nước Xiêm. Nói đến việc chính trị thì ông chẳng có ý kiến gì. có thể lớn gấp năm gấp bảy lần Hà Nội. ông Dương Bá Trạc nói ông có hai người bạn đồng chí người bắc là ông Vũ Mẫn Kiến. họ tự xưng là An Nam cũ. dân cư rất trù mật có đủ các thứ người. ra ngoài không biết nương tựa vào đâu. thành ra thường hay bị cực khổ mà không làm được việc gì ra trò. thường phải ở trong nhà ít khi đi ra ngoài. đã từng lập thành nước Nam Chiếu vào khoảng đệ thất đệ bát thế kỷ. Những người Xiêm An Nam cũ ấy có đến ba bốn vạn ở rãi rác các miền gần biên giới chớ không có mấy người ở kinh đô. ngoài ra ở vùng thôn quê. hình như chỉ ở kinh đô là có sự sinh hoạt rất náo nhiệt mà thôi. Ðược mấy ngày. vì xưa bên ta có sự cấm đạo họ chạy sang bên Xiêm. Hiện nay ở mé ngoại ô thành Băng Cốc có một khu gọi là làng Gia Long. Ðã mấy đời nay lập thành làng thành ấp ở với nhau. Thành Băng Cốc. không thấy có thành thị lớn nào cả. Chỗ ấy nay có cái chùa và có một pho tượng rất lớn để lộ thiên. theo dọc đường xe lửa đi từ Tân Gia Ba đến Băng Cốc. Hỏi tin ông Phạm Ðình Ðối thì nói ông ấy đi tu ở một chùa và nay đã mất rồi. tức là chỗ chúa Nguyễn Phúc Ánh bị Tây Sơn đánh chạy sang trú ngụ ở đây. có các kiểu trang sức đặc biệt của Xiêm.

Chúng tôi thấy cách người Nhật đối đãi với người bản xứ làm chúng tôi thất vọng. Ðến bữa cơm chúng tôi ngồi chờ không thấy về.Chúng tôi ở Băng Cốc. Chúng tôi thấy thế bảo nhau: có một tí việc như thế làm gì mà phải cho lính đến canh nhà. viên ấy không nói. Mãi đến 9 giờ tối mới thấy viên ấy về với ba người hiến binh Nhật đến canh nhà. nhập tịch dân Xiêm. chiều chiều ra vườn dạo chơi một lúc rồi lại về nằm. lập thành một tổ chức tiểu công nghệ làm đinh để bán cho nhà Ðại Nam công ty của người Nhật. chứ nó không nỡ lấy tiền của cả bọn. làm chúng tôi lại phải chạy vào bệnh viện nhà binh của Nhật. Vì cớ gì sau cuộc xung đột ở Lạng Sơn người Nhật đã vào đóng đô ở Ðông Dương từ cuối năm 1940 đến bây giờ. Song cứ như chúng tôi biết thì ông Sâm không có dính dáng gì đến việc tên Thuận lấy tiền trốn đi. Cái tiểu công nghệ ấy đang tiến hành. Hỏi đi đâu. họ đem chúng tôi đến bệnh viện nhà binh của Nhật ở ngoại ô. Ðến sáng ngày 10 tháng ba năm 1945 được tin người Nhật đã đánh quân Pháp ở Ðông Dương. bốn người ở một nhà đang vui vẻ. cũng làm đinh nhờ ông Sâm đem bán hộ. Nhưng mãi chẳng thấy tinh tức gì khác. quanh quẩn trong phòng riêng. Số là ông Nguyễn Văn Sâm từ khi người Nhật đem sang ở Băng Cốc. năm chúng tôi ở đấy cho đến khi về. Họ nói thế rồi đi ra. Chiều ngày mùng 6 tháng hai. nhưng vẫn tưởng là tên Thuận đi chơi đâu chưa về. Bấy giờ người Nhật đem cả ông Sâm vào ở với chúng tôi trong một cái phòng khá rộng. Chúng tôi không hiểu tại sao người Nhật lại dùng cách phòng bị bí mật như thế. và đã được người Pháp giúp đỡ cho mọi sự tiện lợi mà lại đánh quân Pháp? Chúng tôi xét ra là lúc đầu theo kế hoạch của người Nhật muốn bắt ép người Pháp ở Ðông Dương phải hợp tác với họ để thu mọi điều tiện lợi về việc chiến tranh. Từ đó. Nghỉ ở đấy đến 8 giờ tối. chúng tôi có bảo viên đại úy Nhật rằng chúng tôi ở đây là phải dấu kín mà nay cho hiến binh Xiêm vào trông thấy như thế. rồi lên xe hơi. Chúng tôi lúc ấy chẳng nghĩ gì cả. chỉ mong người Nhật cho chúng tôi về nước. rồi về của ai bao nhiêu thì đến lấy. phải đi ngay. đến ngày mùng 6 tháng hai thì xảy ra một việc không ngờ. nói có sự nguy cấp. lấy tiền chi dụng. Viên đại úy Nhật ra tiếp một lúc rồi thấy hai người hiến binh Xiêm và tên Tân vào chỗ chúng tôi ngồi. thấy mấy người hiến binh Xiêm vào xin phép tìm tên Thuận. mà tên Thuận cũng không bao giờ đến nhà chúng tôi. nó tưởng là tên Thuận trốn vào đó mới đi trình hiến binh Xiêm đến bắt tên Thuận. tên Thuận lĩnh món tiền được hơn bốn vạn rồi mang cả trốn đi mất. Họ tính rằng nếu lúc cuối cùng mà họ được thắng lợi. nhỡ có việc gì thì sao. không được đi ra ngoài phố như trước. Một lát thấy viên đại úy ở với chúng tôi vào đánh thức cả dậy. Chuyện ấy. Việc ấy xảy ra xong. lại có ý ngờ cho ông Sâm đồng tình với tên Thuận rồi đem dấu chỗ nào. Viên đại úy Nhật ngồi nghĩ một lúc. nói đi tìm tên Thuận. Ðến khi tên Tân đi tìm mãi không thấy tên Thuận. mấy hôm trước đã thấy ông Sâm nói nhỏ cho chúng tôi biết. Ai nấy mắt nhắm mắt mở vội vàng mặc quần áo. không biết rõ việc gì. nói đến 6 giờ về ăn cơm. bốn chúng tôi với ông Sâm đang ngồi nói chuyện. Ai cũng mong chóng được về nhà cho yên phận mà thôi. Vào khoảng 2 giờ sáng ngày mùng bảy chúng tôi đang ngủ. có tụ hợp những thiếu niên Việt Nam chạy sang đó. Mỗi khi đến cuối tháng có tên Thuận đi lãnh tiền. thì có một thiếu niên Việt Nam tên là Tân. thì tình hình chính trị ở Ðông Dương tự nhiên sẽ giải quyết theo ý định của họ. Lần cuối cùng số tiền của tên Tân có hơn ba vạn bạc. rồi mặc quần áo ra đi. Ông nên đi đến tư lệnh bộ mà nói rõ như thế. hễ có báo động tàu bay thì chạy ra chui xuống hố. chợt nghe tiếng xe hơi và tiếng nói xì xào. Chúng tôi ở đấy với một đời sống tẻ ngắt. Ðoạn đến giờ chúng tôi đi ngủ. Vì thế cho nên trong . đi một cách bí mật đến sở hiến binh. Tên Tân thấy ông Sâm đang đi lại chỗ chúng tôi ở. có cả viên đại úy Nhật ở nhà.

Tôi lấy làm lạ sao lại có tên tôi đứng vào đấy.hơn bốn năm quân Nhật đóng ở Ðông Dương vẫn không khiêu khích gì với quân Pháp. Song từ khi quân Anh. người gầy ốm. và không có phe đảng nào cả. đi ra trường bay đến 9 giờ 15 máy bay cất cánh. Mỹ ở Thái Bình Dương đã tấn công lấy lại được các đảo mé ngoài biển và đất Phi Luật Tân. Người Nhật biết mưu ấy. Tiệc xong về ngủ. Trung tướng hỏi tôi rằng: Ông có quen ai ở Sài gòn về ở tạm vài ngày trước khi đi ra Huế không? Tôi nói: Đây tôi không có quen ai. Tôi thấy trong những người gọi về Huế có tên ông Hoàng Xuân Hãn. độ hơn một giờ về tình thế nước Việt Nam. có thể rõ sự tình. nếu không có điều gì bất tiện. có người trung úy Nhật thông ngôn bằng tiếng Pháp. Quân Nhật lại biết xếp đặt mọi việc chu đáo hơn. Tôi cứ thành thực nói thẳng. nên thành ra thất bại. Xin cho tôi ra Hà Nội thăm nhà và uống thuốc. bèn quyết ý đánh quân Pháp để thu quyền phòng giữ cả dãy đất Ðông Dương là địa thế rất quan trọng về đường hành binh ở cả vùng Nam Á. Quân Pháp lúc ấy cũng đã dự bị cả mọi đường. chỉ mong về nhà yên nghỉ. . nhưng vì thế lực không đủ và lòng dân bản xứ không theo Pháp. Tôi bèn nhận lời ra Huế. Mười ba giờ 15 tới trường bay Tân Sơn Nhất rồi về Sài gòn vào hàng cơm ăn cơm trưa. Tôi nói với trung tướng rằng: Tôi không có hoạt động gì. Ngồi nói chuyện một lúc rồi sang gặp bên trung tướng tham mưu trưởng của bộ tư lệnh Nhật. Chúng tôi lúc ấy cứ chờ đợi ở Băng Cốc. Sau hỏi ra thì chỉ có một mình tôi về. Vua Bảo Ðại điện mời mấy người này về Huế để hỏi ý kiến. Cao Xuân Cẩm và tên tôi mà lại không thấy tên ông Ngô Ðình Diệm. chợt đến ngày 29 tháng ba có một viên trung úy ở Sài gòn sang Băng Cốc. Vũ Ngọc Oánh. dưỡng bệnh. Lúc ấy tôi còn đau. đến bảo chúng tôi rằng có tàu bay sang đón về. Trung tướng đưa tôi xem tờ giấy kê tên những người ấy là ông Hoàng Trọng Phu. Nghe nói thế chúng tôi cho là một sự tưởng tượng thôi. ông cứ ra Huế rồi sẽ biết. Trung tướng nói: Ông Phạm Quỳnh và các ông thượng thư cũ đã từ chức cả rồi. Tôi ngạc nhiên hỏi: Sao chỉ có một mình tôi? Viên trung úy nói: Tư lệnh bộ ở Sài gòn mời ông về hỏi việc gì về lịch sử. Trung tướng nói: Ðó là ý của vua Bảo Ðại muốn hỏi ông về việc lập chính phủ mới. Người Nhật lúc ấy phải tìm cách đề phòng quân Ðồng Minh có đổ bộ lên Ðông Dương chăng. Gọi tôi về Huế không có ích lợi gì. vì tôi không có mưu cầu gì thành ra trong lòng thản nhiên. nên việc tấn công của họ được thắng lợi chỉ trong khoảng mấy ngày toàn thể đất Ðông Dương vào tay họ. Hoàng Xuân Hãn. chứ chúng tôi có làm gì mà người ta phải dùng đến thủ đoạn ấy. thì cho tôi ra ở đấy vài hôm. Vả bấy giờ người Pháp ở Ðông Dương ngấm ngầm tổ chức sự kháng chiến để tiếp ứng quân Ðồng Minh. chờ đến giờ vào tư lệnh bộ của Nhật gặp viên đại tá coi về việc chính trị. Khi tôi ở Hà Nội vào có đến ở nhà của Ðại Nam công ty. vả lại ra Huế rồi ra Hà Nội cũng một con đường. Trịnh Bá Bích. tôi quen lâu. sáng sớm dậy. tình thế nước Nhật đã nguy ngập lắm rồi. không kiêng dè. Chiều hôm ấy tư lệnh bộ Nhật ở Băng Cốc đặt tiệc đãi tất cả mấy người chúng tôi và mới nói chuyện hôm mùng 7 tháng hai trước phải đưa chúng tôi đến ở bệnh viện là vì có tin đồn có thích khách định đến giết chúng tôi. Ngồi nói chuyện với trung tướng và đại tá Nhật.

nói tôi mới về và muốn phiền ông cho ở nhờ vài hôm. Cho đến ngày nay. rồi ông Diệm đứng dậy nói: Tôi phải vào tư lệnh bộ có chút việc. Ông Thảo hết lòng tử tế đánh xe hơi đưa tôi đi tìm. Tìm được nhà ông Cử lại gặp cả cậu Bùi Nam và mấy người cháu ở đấy. Ông nói rằng: Ông Diệm về Vĩnh Long ở với anh. nhưng tôi quên mất địa chỉ. Ấy là lần đầu tôi gặp mặt ông Diệm vì trước kia tôi chỉ nghe nói thôi chứ không bao giờ gặp. cụ sang nghỉ đấy tiện lắm. thật vui vẻ vô cùng. sao người Nhật lại không nói gì hết? Ðang nghĩ ngợi như thế. Tôi nghĩ bụng ông Diệm và ông Chữ là hai người tư lệnh bộ Nhật đã chú ý lâu ngày. Ông Chữ thì về Hà Nội được vài hôm nay rồi. có cái phòng rộng ở trên lầu.Trung tướng bảo trung úy đưa tôi đến nhà Tùng Hạ. Tôi hỏi thăm ông Ngô Ðình Diệm và ông Nguyễn Xuân Chữ là những người mấy tháng trước Nhật đã đưa vào ở Chợ Lớn. để vua Bảo Ðại về đường chính trị lại có lợi hơn. Chỉ có một cách giải thích cái thái độ ấy là những người Nhật cầm quyền lúc đó. họ chẳng cho chúng tôi biết gì cả. chắc có tin gì thì ông biết trước tôi. thì chợt thấy ông Ngô Ðình Diệm đến. Tôi ở lại Sài gòn ba ngày. Ðã không dùng quân cờ Cường Ðể thì tất nhiên phải để bọn ông Diệm ra ngoài cuộc. Ông Diệm hỏi tôi: Cụ mới về đây à? Cụ có biết tin gì không?. Ðến đấy gặp ông Tùng Hạ. và các ông ấy lại có tổ chức và đảng phái. chiều nào viên đại úy ở bộ tư lệnh Nhật cũng mời đến nhà ông Tùng Hạ. Ði tìm người hỏi thăm đến nhà luật sư Trịnh Ðình Thảo là người bắc hỏi xem có biết nhà ông Cử ở đâu. Ðó là theo ý tôi hiểu. Vua Bảo Ðại gọi ông Hoàng Trọng Phu vào bàn việc lập chính phủ mới. Tôi nhờ cậu Nam đi đánh điện về Hà Nội báo tin tôi đã về cho nhà tôi biết. . biết có ông Cử Bùi Khải. Tôi đáp: Tôi mới về. còn lẽ gì khác nữa. chủ nhà Ðại Nam công ty. sáng sớm mai tôi lại về Vĩnh Long. tôi vẫn chưa hiểu rõ tại sao bọn ông Diệm là người của ông Cường Ðể ủy quyền cho tổ chức việc lập chính phủ khi có đảo chính ở Ðông Dương. và lại có một số người Nhật Bản ủng hộ mà chính phủ Nhật lại bỏ rơi. đại úy đưa tôi ra xe lửa còn ngồi nói chuyện đến lúc xe chạy. tôi không biết. sau khi đánh quân Pháp rồi họ sợ đem ông Cường Ðể về có điều bất tiện. Thế à? Sao người Nhật không cho tôi biết? Ngồi nói chuyện qua loa vài câu. chủ Ðại Nam công ty ăn cơm và nói chuyện. Mấy ngày như thế đến chiều hôm mùng 2 tháng tư. chưa biết gì cả. Ông ta nói: Trước cửa nhà tôi có đảng Quốc Xã Việt Nam. Người Nhật lạ quá. có khi nói chuyện đến một hai giờ khuya. Tôi vừa thấy trong bộ tư lệnh nói ở Huế các bộ thượng thư đã từ chức rồi. Từ hôm ở Băng Cốc về Sài gòn. anh nhà tôi.

Xe lửa vừa đậu xong. cho dọn cái nhà của viên đại úy Bon ở trước trong thành cho chúng tôi ngụ tạm. vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa. chỉ đinh ninh chờ sau khi vào yết kiến vua Bảo Ðại rồi xin về Hà Nội dưỡng bệnh. nghe tin tôi ở Băng Cốc. làm lãnh sự Nhật ở Huế. Tôi hỏi thì chính là con cụ. nhân có tí việc ghé vào đấy thấy có một người con gái biết nói tiếng Nhật. mừng rỡ khóc lóc. Tính ông Urabé rất vui vẻ. Từ trước tôi không biết vua Bảo Ðại là người như thế nào. Vì trong thời bảo hộ của nước Pháp.Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta. Vừa về đến nhà chưa được năm phút. Tôi tâu rằng: .Chương 4 Ra Huế Lập Chính Phủ Sự đi từ Sài gòn ra Huế. miễn là đi được mà thôi. bèn vào hiến binh Nhật hỏi xem tin ấy có đúng không. để quân Nhật đánh đổ. tôi ghé vào nhà ông Ðặng Phúc Thông coi xe lửa vùng ấy. xưng tên là Urabé. đi qua sở hiến binh Nhật. Tôi bảo đi cách nào cũng được. nay đã không giữ được nước cho ta. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó với mọi việc. Ấy là cùng một ngày không hẹn mà tôi và vợ con tôi gặp nhau ở Huế. tư lệnh bộ Nhật nói rằng tôi đau đầu và nhiều tuổi. vào hồi 10 giờ rưỡi thì tới Huế. nhân khi xe lửa nghỉ ở đấy đến tối mới chạy. thấy ông Urabé trở lại báo tin cho tôi biết là vợ con tôi ở Hà Nội đã vào đến Huế rồi. Hỏi ra mới biết vợ và con tôi ở Hà Nội. nên bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. hình như ngài chán nản không làm gì cả. Vua Bảo Ðại biết tin ấy. nói định qua Xiêm tìm cha. Tôi vào đấy là cốt hỏi tin tức nhà vì bà Thông là bạn với nhà tôi. Lúc ấy tôi cũng chưa biết rõ tình thế ra sao. đi tàu bay không được. Xe lửa lúc bấy giờ chỉ có những toa hạng ba và hạng tư. mới mầy mò xin phép đi sang Xiêm tìm. tối cao cố vấn Nhật. thấy Nhật Bản đảo chính rồi mà mãi không thấy tôi. chỉ săn bắn và tập thể thao. Rồi tôi xin về nhà ông Hãn nghỉ. Hôm mùng 7 tháng tư tôi vào yết kiến thấy có vẻ trang nghiêm và nói những điều rất đúng đắn. Khi xe lửa nghỉ ở Nha Trang. ông nói rằng: Kỳ quá. Ði đến Huế nghe người ta nói mang máng là tôi đã về Huế. Song người Nhật lấy một toa hạng nhất cũ để hai cái ghế dài cho tôi đi với viên thiếu úy và một người Nhật làm thông ngôn tiếng Việt Nam. Ngay lúc ấy con và rể tôi ở ngoài chạy vào. ngồi uống chén nước và nói vài câu chuyện hàn huyên. Ngài nói: . chứ không có những toa hạng nhất và hạng nhì nữa. thấy một người Nhật ra đón. khi tôi trở về. rồi về cả nhà ông Yokohama. Ðến sáng ngày mùng 5 tháng tư. Ðến tối gặp ông Hoàng Xuân Hãn mừng quá. và ăn cơm ở đấy. để đi xe lửa tiện hơn. Tôi liền đến khách sạn đón bà cụ về nhà tôi. vì phải bay cao.

hễ có thể được tôi xin tâu lại. như Ngô Ðình Diệm chẳng hạn. vì từ lâu nay chỉ có những người mềm lưng khéo thù phụng mới được ngôi cao. Nguyên tắc của tôi định trước là lựa chọn những người có đủ hai điều kiện. Vậy xin ngài cho tôi vài ngày để tôi tìm người. tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước. và có mấy người như bọn ông Hoàng Xuân Hãn đều bảo tôi trở lại. thì dù sao tôi cũng cố hết sức. Và tôi đã định từ trước rằng nếu người Nhật can thiệp vào việc trong nước thì tôi thôi ngay. Tôi được hoàn toàn tự chủ tìm lấy người mà làm việc. Lúc ấy tôi mệt nhọc lắm. phần thì không có đảng phái và không hoạt động về chính trị. Ngài nói: . Có một điều nên nói cho rõ. Vậy hoặc có sự gì sai lạc chăng.Khi tôi qua Sài gòn. Một: phải có đủ học thức và tư tưởng về mặt chính trị. Còn tôi thì xin ngài cho ra Bắc. liền tâu rằng: . ít khi biết được. Ngài cho điện lần nữa gọi ông ấy về. xong ngài nói vì nghĩa vụ đối với nước. người Nhật Bản không bao giờ hỏi tôi chọn người này người kia. để có tổ chức sẵn sàng. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực. xem thế nào rồi hãy ra Bắc. Ðó là lời tối cao cố vấn. là trong khi tôi chọn người lập chính phủ lúc ấy. Ðến ngày cuối cùng tôi chọn được đủ người rồi kê rõ danh sách các bộ trưởng như sau: . Người xu danh trục lợi thì rất nhiều. Cách lựa chọn như thế cũng khó.. Tôi nay thì phần già yếu bệnh tật. ngài nên dùng những người đã dự định từ trước. hai: phải có đức hạnh chắc chắn để dân chúng kính phục. còn những người ngay chính ẩn nấp ở đâu đâu. Ngài nói: . nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. nhưng không phải là người đương nổi những việc trong thời kỳ khó khăn như ngày hôm nay.Trước kia người mình chưa độc lập. Tôi ra bàn với ông Hoàng Xuân Hãn để tìm người xứng đáng làm bộ trưởng.Việc lập chính phủ. Ngài nói: . chứ tự ông Diệm không có điện riêng xác định lại. không làm nữa. Trước thì cố vấn Nhật nói chưa biết ông Diệm ở đâu. Cách độ ba bốn hôm tôi lại đi hỏi ông tối cao cố vấn Nhật xem có tin gì về ông Diệm chưa. Nay có cơ hội.Vậy ông hãy ở đây nghỉ ít lâu.Nếu vì quyền lợi riêng tôi không dám nhận chức gì cả.Trẫm có điện thoại gọi cả Ngô Ðình Diệm về. tuy chưa phải độc lập hẳn. có gặp Ngô Ðình Diệm và ông ấy bảo không thấy người Nhật nói gì cả. Tôi chờ đến gần mười ngày. sao không thấy về. triệu tôi vào bảo tôi chịu khó lập chính phủ mới. Vua Bảo Ðại thấy tình thế kéo dài mãi cũng sốt ruột. sau nói ông Diệm đau chưa về được. tôi xin ngài cho tôi về nghỉ. Tôi tâu: . quyền cả. Tôi thấy vua Bảo Ðại thông minh và am hiểu tình thế.

chứ không như người ta đã tưởng tượng là người Nhật Bản bắt tôi phải dùng những người của họ đã định trước. Giáo Dục và Mỹ Nghệ Bộ Trưởng Vũ Văn Hiền. nguyên là một nước có văn hóa có chế độ phân minh. hay đi đâu vắng có người thay tôi làm việc. bộ trưởng bộ ngoại giao. vua Bảo Ðại đã đứng lên tuyên bố độc lập thì nghĩa vụ của người Việt Nam là ai nấy đều phải cố sức làm việc giúp nước. không ở và làm việc được. nên ngay từ lúc đầu trong lời tuyên bố của chính phủ. Nội Vụ Bộ Trưởng Trần Văn Chương. có ông Trần Văn Chương. Chừng mười giờ sáng ngày 17 tháng tư năm 1945. trả lại tôi và nói: Tôi chúc mừng cụ đã chọn được người rất đứng đắn. họp hội đồng chính phủ. Những dinh thự của các bộ trưởng. Sự thực là thế. tôi xin cử ông Chương xung chức ấy.Trần Trọng Kim. tôi thấy ông Yokohama. luật sư. luật sư. Tư Pháp Bộ Trưởng Hoàng Xuân Hãn. Tài Chánh Bộ Trưởng Phan Anh. tôi đem danh sách ấy vào trình vua Bảo Ðại. Sự biến xảy ra ở nước Việt Nam. Y Tế Bộ Trưởng Hồ Bá Khanh. chủ ý muốn tránh sự người Nhật có thể lôi kéo người mình vào cuộc chiến tranh của họ. và nước Pháp với các nước Ðồng Minh. nhân khi trong nước suy nhược. Sau khi lập xong chính phủ. Công Chính Bộ Trưởng Vũ Ngọc Anh. Ðó cũng là một sự tưởng lầm. Theo lý tưởng ấy. Những văn thư và tờ trình báo. luật sư. cựu y sĩ. mọi việc quan hệ đến chính trị trong nước thì do chính phủ bảo hộ định đoạt. y sĩ. Ông thấy tôi vào liền hỏi: Cụ đã lập thành chính phủ rồi à?. Vậy trước hết. Chính phủ Nam Triều có vua và triều đình. các cơ quan ở tỉnh đều gửi qua bên phòng tối cao cố vấn. Tôi nói: Vâng. tôi đã nói những công việc quốc dân phải lo để gầy lại nền tự chủ nước nhà mà thôi. để người Nhật chiếm giữ mất cả quyền lợi. Tiếp Tế Bộ Trưởng. Dù có hiệp ước của triều đình Việt Nam đã ký với người Pháp. chứ không có quyền hành gì cả. tối cao cố vấn Nhật. Khi tôi đứng ra lập chính phủ. tôi muốn đặt chức Nội Các Phó Tổng Trưởng để phòng khi tôi nhọc mệt. Tôi nói rõ việc ấy là vì sau này tôi thấy có người nói: Người Nhật bắt tôi phải để ông Chương làm Nội Các Phó Tổng Trưởng. giáo sư. người Pháp sang lấy võ lực bắt phải chịu cuộc bảo hộ của người Pháp. Ông xem rồi. không phải không hiểu tình thế rất khó của nước Việt Nam đối với nước Pháp. Nội Các Tổng Trưởng Trần Ðình Nam. dột nát. Tôi đệ trình vua Bảo Ðại. chẳng qua cũng chỉ là một tờ hiệp ước cưỡng bách mà thôi. rồi sau tình thế thay đổi thế nào sẽ có cuộc điều đình cho đúng công lý và đúng phong trào hiện thời. Việc ấy là tôi định. phải lo tìm nhà và các sở làm việc. Và chính người Pháp về sau cũng đã không giữ đúng những điều ký trong hiệp ước ấy. đã ngồi đó rồi. kỹ sư. Ngoại Giao Bộ Trưởng Trịnh Ðình Thảo. Khi còn chính phủ bảo hộ thì có hai chính phủ. y khoa bác sĩ. chứ không phải do người Nhật can thiệp. Thanh Niên Bộ Trưởng Lưu Văn Lang. Lúc chính phủ chúng tôi mới lập ra. Khi ấy ông Yokohama nói: Xin cho tôi xem là những ai. Kinh Tế Bộ Trưởng Nguyễn Hữu Thi. Tôi xem các ông bộ trưởng lúc ấy trừ ông Lưu Văn Lang ở Sài gòn không ra nhận chức. Vào đến nơi. Cả nội các đều ưng thuận. Nay nước Pháp thất bại. dơ bẩn. là người nhiều tuổi hơn. nhưng chỉ đặt ra để thi hành những mệnh lệnh của chính phủ bảo hộ mà thôi. bao nhiêu chính quyền của người Pháp giữ trước và việc cai trị ở các tỉnh đều do viên tối cao cố vấn Nhật tạm thời quyết định. hôm nay tôi đem danh sách các bộ trưởng vào tâu trình hoàng thượng để ngài chuẩn y. thượng thư cũ đều chật hẹp. Nay phải hợp nhất cả hai . ngài xem xong phán rằng: Ðược. y khoa bác sĩ. luật sư. chứ không nói về việc chiến tranh của nước Nhật với các nước Ðồng Minh. toán học thạc sĩ.

sở tuyên truyền công văn hãy còn ở trong tay người Nhật cả. tránh làm những việc hớ hênh có hại cho dân cho nước. thì phải từ từ lựa chọn nhân viên cho xứng đáng. sợ gây ra rối loạn. Theo ý tôi. bất cứ trong một chính thể nào. kinh đô Huế có tất cả hơn một trăm lính bảo an. Việc chính trị là một việc rất phức tạp. Nhiều người ở ngoài không hiểu ý chúng tôi buông lời bài xích rằng sao có chính phủ mà không có bộ quốc phòng. dân tình đói khổ người chết đói hàng ngàn hàng vạn. chứ đem người mới làm việc lại dở hơn người cũ. nhưng chỗ nào có viên tỉnh trưởng bất lực lắm. Một là trong khi quân Nhật đang đóng ở trong nước. lập ra các đạo thanh niên tiền tuyến. bắn mười phát thì năm sáu phát không nổ. Nay muốn thay đổi các quan lại. Việc phòng bị do quân Nhật đảm nhiệm hết. May lúc đó được viên tối cao cố vấn Nhật là ông Yokohama.chính phủ này. Muốn thay đổi các quan lại là một chuyện rất khó. không làm điên đảo hết cả. Quan lại ở các tỉnh. Việc binh bị trong nước là việc quan trọng đến vận mạng cả nước. mỗi tỉnh có độ 50 lính bảo an. vì tình thế chưa được vững chắc nên phải đi từ từ. ta hãy nên gây cái tinh thần binh bị. chứ không mấy người có đủ tư cách làm người công chức một nước tự chủ. một người am hiểu tình thế và nhã nhặn. đường xe lửa bị hư hỏng. xem ai có thể làm được đem ra thay. thuyền bè đi ngoài bể bị tàu ngầm đánh và bị cướp bóc mất cả. Những người làm chính trị nói huyên thuyên thì nhiều. việc của chính phủ là phải lấy sự dân sinh làm trọng. còn các cơ quan trọng yếu như công an. rồi tìm cách giáo hóa nâng cao trình độ dân chúng về đường tinh thần và đường vật chất cho hợp thời để tiến thủ với các dân tộc khác. Nhưng xét ra hiệu quả mong đợi cũng không được mỹ mãn lắm. chúng tôi phải lo làm những việc cần kíp có thể làm ngay được. mà lúc ấy quân lính và súng ống không có. và sáu bảy chục khẩu súng cũ đạn cũ. Việc quan hệ nhất về đường nội trị lúc ấy là phải lo sự vận tải để tiếp tế miền bắc. thì chỉ làm rối việc chứ không có ích gì. Tuy thế. Bộ ấy không đạt được mục đích của chính phủ vì sự vận tải khó khăn quá. các phủ huyện thì độ chừng vài chục người. Ðem lại sự thống nhất trong việc cai trị như thế mà cũng mất hơn một tháng mới xong. có nhiều sự cản trở khó khăn. Hãy làm thử như thế một vài nơi xem hiệu quả thế nào. thì rồi quân đội mình mới có khí thế. Không có bộ quốc phòng. cho nên mọi việc cũng giải quyết được dễ dàng. như việc tiếp tế đã nói ở trên. Chính sách của chúng tôi lúc bấy giờ. và xóa bỏ những hình ảnh bất công để . việc mời các chính khách còn phiêu lưu nước ngoài trở về nước. Học không biết rõ tình thế lúc bấy giờ bắt chúng tôi phải trù tính mọi việc cho chu đáo. Ấy là chỉ nói việc sửa đổi cai trị thôi. phần nhiều là những tham quan ô lại chỉ quen sự thi hành mệnh lệnh của người Pháp. tức lính khố xanh cũ. Vì lẽ đó và các lẽ khác nữa mà lúc đầu chúng tôi không đặt bộ quốc phòng. Nói về chương trình chính trị của chính phủ lúc ấy. Song trong tình thế của nước Việt Nam mới bước đầu đi vào con đường tự chủ. cần phải có nhiều lịch duyệt và tài cán mới làm được. nghĩa là phải làm cho dân an cư lạc nghiệp. nếu mình đặt bộ quốc phòng thì chỉ có danh không có thực. bắt các quan ở các tỉnh chỉ được trực tiếp với chính phủ Việt Nam mà thôi. song những người chín chắn biết suy nghĩ và biết cách đối lại với dân chúng cho êm ái thì ít. mà vẫn giữ được đặc tính của mình. nhưng lại có bộ thanh niên. và cấm không cho gửi văn thư về sở tối cao cố vấn Nhật nữa. Vì vậy chúng tôi ra Bộ Tiếp Tế chuyên coi việc vận tải thóc gạo trong nam ra bắc. chúng tôi cố tìm trong những nhân vật mới. chúng tôi đã có chương trình dự định trước. để một ngày kia thành những đội quân có tinh thần mạnh mẽ. và người Nhật có thể lợi dụng bắt người mình đi đánh giặc với họ. Các tỉnh cũng vậy. Hai là trước khi mình có đủ binh lính và binh khí.

mỗi người bàn một cách. Giả sử dùng lá cờ khác mà trong hoàn cảnh lúc ấy có thể thay đổi được gì không? Việc chính trị ở trung bộ dần dần đã rõ rệt.những người ái quốc còn đang bị giam cầm trong các lao ngục có thể tùy tài ra tham dự việc kiến thiết quốc gia. Bài quốc ca thì từ trước vẫn dùng bài Ðăng Ðàn là bài ca rất cổ. ít nước nào trong thiên hạ được như thế. đợi đến khi có quốc hội lập hiến sẽ đem ra thảo luận. Việc thất bại là vì tình thế chứ không phải vì lá cờ. chỉ bốn phương chính và bốn phương bàng. Những công việc ấy. mà quẻ ly chủ phương nam. Vậy lấy sắc cờ vàng là hợp với cái ý cách mệnh của tổ quốc. Ly là lìa là một nghĩa khác chứ không phải nghĩa chữ ly là quẻ. Trước hết chúng tôi lập ra những tư vấn hội nghị ở các địa phương theo phương pháp của chúng tôi đã định. Lấy sắc vàng là hợp với lịch sử. Tuy về địa dư thì hình thể nước chạy dài hơn hai ngàn cây số. Về đường cải tổ chính thể. Nhưng lúc đầu chúng tôi muốn mở rộng con đường cải thiện để ai biết hối quá cải tà qui chính. chúng tôi đã khởi đầu làm cả. chúng tôi định đem hỏi mọi người trong nước và ai có ý kiến gì. vì ly là lìa. để chọn lấy những người lịch duyệt và có học thức ra giúp các cơ quan hành chính địa phương. Nhưng vì thời gian eo hẹp quá. thì được yên ổn làm việc. nhưng tính cách duy nhất thật rõ rệt. mà âm điệu nghe nghiêm trang. Ðó là chương trình những việc chính phủ dự định để tùy tình thế và phương tiện mà thi hành. chứ không phải sự tin nhảm vô ý thức. Chính phủ trước phải lo thu lại hết toàn thể nước Việt Nam về một mối. Có kiểu lá cờ vàng có quẻ ly ở giữa là có ý nghĩa hơn cả. lấy dấu hiệu quẻ ly là vì trong lối chữ tối cổ của ta có tám chữ viết bằng vạch liền (dương) và những vạch đứt (âm) để chỉ tám quẻ. thì vẽ kiểu gửi về. Chúng tôi định lấy kiểu ấy làm quốc kỳ. là ánh sáng phóng ra bốn phương. vì tổ quốc trong khoảng bảy tám mươi năm vừa qua. Ðối với quan lại cũ. Chúng tôi nghĩ: trước khi có bài nào hay hơn và có nghĩa lý hơn thì hãy cứ dùng bài ấy. lấy quẻ ly là hợp với vị trí nước nhà lại có nghĩa chỉ một nước văn hiến như ta thường tự xưng. Những tư vấn hội nghị địa phương ấy sẽ chọn lấy những người xứng đáng lập thành một tư vấn hội nghị toàn quốc. . Lá cờ vàng là từ xưa nước ta vẫn dùng. cần phải có thì giờ suy nghĩ kỹ. chúng tôi định sẽ tìm cách trừng trị rất nghiêm. về phong tục và về ngôn ngữ. lo việc cai trị trong hạt. Song có người nói: cờ quẻ ly là một điềm xấu cho nên thất bại. đã dùng lá cờ ấy khởi nghĩa. là văn minh. Nước Việt Nam đã là một nước tự chủ thì phải có quốc kỳ và quốc ca. cốt để gây lại lòng biết liêm sĩ của người đã đi lầm đường lạc lối. nói ở trong kinh dịch. nên chưa thực hiện được. Chúng tôi lại muốn gây nuôi lòng hy sinh vì nước mà dựng đài kỷ niệm ở các nơi đô thị lớn để ghi những sự nghiệp của các bậc anh hùng chí sĩ đã quên mình vì nòi giống. Chữ LY còn có nghĩa là lửa. Nước Việt Nam từ bắc chí nam vốn là một nước duy nhất về lịch sử. Như thế là lá cờ vàng quẻ ly có đủ các ý nghĩa. Còn lá quốc kỳ. nên có câu rằng Ðầu voi phất ngọn cờ vàng. là những việc quan trọng. có nhiều người đã quen thói tham nhũng. giúp chính phủ trong việc cải tổ quốc gia và thảo một dự án về hiến pháp. Trong sách Quốc Sử Diễn Ca nói khi bà Triệu Ẩu nổi lên đánh quân Tàu. Và việc làm của một chính phủ là cốt ở cái nghĩa lý. nhưng ở bắc bộ và Nam Bộcòn trong tay người Nhật.

. Nay nếu người Nhật cứ giữ lấy những đất ấy là trái với lời hứa hẹn trước. nhất là nói ông Ngô Ðình Diệm không về là vì chưa lấy lại đất nam bộ. xưng danh trục lợi. mà không hại gì cho sự thống nhất của nước nhà. trung kỳ và bắc kỳ. Khi người Nhật đã trả lại đất bắc bộ.v. Ðà Nẵng và Nam Bộ là đất vua Việt Nam ngày trước đã ký kết cho nước Pháp thì người Nhật đòi tạm giữ đến khi nước Việt Nam hoàn toàn độc lập sẽ trả sau. Nhưng khi ai hỏi một người Việt Nam. chúng tôi đã định áp dụng dự án của chúng tôi về đường chính trị. sở tuyên truyền và các công sở thuộc phủ toàn quyền cũ của Pháp. Chúng tôi cho chính sách địa phương tự trị như thế có nhiều điều tiện lợi và hợp với tình thế từng xứ về đường cai trị và đường kinh tế. nha tư pháp. thì lẽ tất nhiên là người Nhật phải trả toàn lãnh thổ cho vua Việt Nam. thì ở Huế có người phát truyền đơn nói thế nọ thế kia. giáo dục v. Mỗi một kỳ có một chính sách khác nhau như ba nước vậy. Sự chia ngắt ra như thế là một lối chính trị dùng phương pháp chia ra để thống trị. Vì vậy thành ra có nhiều chuyện mè nheo rất khó chịu. tài chánh. Khi còn chờ có hiến pháp và sự tuyển cử phân minh. Song nghĩ nước mình mới lần đầu lập một chính phủ có quyền tự trị. là chính phủ trung ương nhiếp thống hết cả những cơ quan quan hệ đến cuộc chính trị chung cả nước như quốc phòng.. Người Pháp cũng biết thế nên mới dựng tiếng tàu là Tông Kinh (Ðông Kinh) gọi bắc kỳ. Ðà Nẵng và xứ nam bộ. đem chia nước làm ba đoạn là nam kỳ. công việc chưa xong gì cả mà bỏ về.. đại khái như Bắc Bộ Ðịa Phương. xứ trung. phần thấy nhiều sự trắc trở đã mấy lần muốn từ chức về nghỉ. thì người Việt Nam ấy tự nhiên đáp lại rằng: Tôi là người An Nam. chính phủ cử ông Phan Kế Toại. bất cứ ở nam hay bắc. nhưng vẫn giữ những thành thị Hà Nội. như nha học chính. Nhật trả đất bắc bộ. đã làm chức tổng đốc và có tiếng là người thanh liêm hơn cả. chứ không cần những người xảo trá. gió chiều nào theo chiều nấy. Tiếng An Nam là tiếng người ta đã quen dùng từ đời Lê thành ra phổ thông hơn. sở bưu điện. không có nghĩa gì là một nước. như ta nói: xứ bắc.Sau vì có sự lấy thuộc địa và sự bảo hộ của nước Pháp. phận. Trong khi chúng tôi phải lo làm mọi việc và còn phải điều đình với người Nhật để thu lại những lãnh thổ nước nhà. Trong sự điều đình với người Nhật để thu lại lãnh thổ nước Việt Nam gặp nhiều sự khó khăn. Song chúng tôi nghĩ: người làm việc nước lúc ấy cần phải là những người ngay chính và có học thức. chứ về phương diện người bản quốc thì chữ kỳ chỉ có nghĩa là khu. Tôi phần bị nhọc mệt. Vậy việc thu cả ba kỳ về quyền trung ương để thống nhất đất nước như khi chưa bị sự bảo hộ của nước Pháp là việc rất trọng yếu của chính phủ tôi. Thà ra Hà Nội trực tiếp với . Sài gòn. xứ. xứ nam mà thôi. Trong khi còn đang điều đình về việc thu toàn lãnh thổ.v. ra xung chức bắc bộ khâm sai. tôi cần biết rõ sự thực. sở công chánh. Vả trước khi lui bước. Còn về đường cai trị thì chia nước ra mấy địa phương. Chính phủ Việt Nam viện lẽ quân Nhật đánh quân Pháp để giải phóng cho Việt Nam và vua Bảo Ðại đã tuyên bố bỏ hết những hiệp ước đã ký với nước Pháp.. Cái ý của bọn ấy là muốn đưa những người thân với họ vào nội các. và dùng tiếng Cochinchine là tiếng gì chẳng biết để gọi nam kỳ cho ra vẻ ba nước khác nhau.. các cơ quan hành chính ở các địa phương hãy tạm cử những nhân vật xứng đáng ra xung chức địa phương tư vấn nghị viên. Trung Bộ Ðịa Phương và Nam Bộ Ðịa Phương. Lại có một người Nhật nói ra nói vào rằng: trong nội các chỉ có những người chuyên môn chứ không có người chính trị.. Trước hết người Nhật bằng lòng trả đất Bắc Bộ cho chính phủ Việt Nam. Hải Phòng. là người nước nào. Nhật lại giữ hết những cơ quan trọng yếu như sở công an. bộ. song những đất thuộc ba thành: Hà Nội. Song sự chia ngắt ấy lấy áp bức mà đặt ra.. thì đối với nghĩa vụ không trọn vẹn. Các cơ quan hành chính các địa phương do chính phủ trung ương chọn người bản xứ cử ra và có các nhân vật hội nghị kiểm duyệt.. ngoại giao. Mỗi địa phương được quyền tự trị về phương diện cai trị và kinh tế. sở tài chính v.

nhưng vẫn ngấm ngầm tuyên truyền trong đám dân gian và thợ thuyền. Toán quân phục quốc vỡ tan. đảng cộng sản tuy phải im hơi lặng tiếng. Nguyễn Ái Quốc lánh sang Hương Cảng. Hải Phòng. Việt Nam Quốc Dân Ðảng và những người cách mệnh không có đảng phái v. quê làng Kim Liên huyện Nam Ðàn thuộc tỉnh Nghệ An. và lại đổi tên là Lý Thụy rồi chen lẫn với những người cách mệnh Việt Nam ở bên Tàu. trong số ấy có độ 40 nữ đảng viên theo ông Hoàng Lương chạy sang Tàu.viên tổng tư lệnh Nhật. Ðà Nẵng và đất nam bộ. theo đúng phương pháp đã định ở Mạc Tư Khoa bên Nga.. Thoạt đầu vào khoảng năm 1938 ở bắc việt đã nghe nói có đảng Việt Minh hành động ở mạn thượng du. thế là làm tròn nhiệm vụ thu được toàn lãnh thổ nước Việt Nam. Vậy các đảng của người Việt Nam ở bên Tàu vào khoảng năm 1942 trở đi. người Anh không giao trả những người can phạm vào việc chính trị. Lúc ấy chính phủ bảo hộ Pháp dùng võ lực đàn áp một cách tàn nhẫn. Nhược bằng không xong thì tôi về xin từ chức cũng không sao. Người Pháp muốn đòi người Anh giao trả cho chính phủ Ðông Dương. Tôi cần phải ra ngay để hiểu rõ tình thế. nhưng không xong. Tôi nghĩ thế nên trước khi đi đã nhờ người thuê cho cái nhà ở làng Lại Thế gần Huế. Việc ấy thất bại. Vào khoảng 1936-1937 ông lập ra đảng cộng sản gọi là Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh. Trong khoảng thời gian ấy. song theo tục lệ Anh. Sau lại sang Nga vào đảng Cộng Sản. con nhà thi lễ. sinh năm 1894. Lúc ấy có một thiếu niên tên Nguyễn Tất Thành. ở Việt Nam đã có người nói đến chủ nghĩa cộng sản. Trước học trường trung học ở Huế rồi bỏ sang Pháp theo Xã Hội Ðảng. sau đi đây đó xét hỏi kỹ càng mới biết rõ nguồn gốc. có Việt Nam Phục Quốc Ðồng Minh Hội. Tôi định phen này ra. Vì vậy thuở ấy người ta mới biết là có đảng Việt Minh. gọi tắt là Việt Minh. theo quân Nhật về đánh quân Pháp hồi tháng chín năm 1940. bô trưởng bộ ngoại giao. Thuở ấy. ông Trần Trung Lập bị quân Pháp bắt được đem xử tử... Nguyên từ khoảng 1925-1926 trở đi.v. Sau vì người Nhật ký hiệp ước với người Pháp rồi trả lại thành Lạng Sơn cho người Pháp. Trước tôi đã nhờ ông Trần Văn Chương. Ðảng Việt Minh là gì và do đâu mà rả Trước thì ít người biết rõ căn nguyên. chính phủ Trung Hoa thấy những đảng viên Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội hành động theo chủ nghĩa cộng sản. đến khoảng 1929-1930 ông trở về gây phong trào cộng sản cách mệnh ở vùng Nghệ Tĩnh.. vì vậy ông phải giam ít lâu rồi được tha và bị đuổi ra khỏi Hương Cảng. xem tình ý thế nào rồi sẽ liệu. Ông Nguyễn Ái Quốc sang Quảng Châu và phao tin rằng ông đã chết trong ngục khi bị bắt ở Hương Cảng. kiêm chức toàn quyền cũ nước Pháp. nhưng lúc ấy ai cũng tưởng là một đảng cách mệnh mới nào đó nên không để ý đến mấy. có một số độ 700 người. Trong khi tôi dự định ra Hà Nội thì ở ngoài Hà Nội xảy ra việc người Nhật bắt bọn thanh niên Việt Nam theo đảng Việt Minh chống Nhật. ra Hà Nội điều đình mọi việc. để có thôi việc tôi ra nghỉ đây ít lâu trước khi về Hà Nội. và cho người về hoạt động ở miền thượng du bắc việt. bị người Anh bắt. lấy tên là Nguyễn Ái Quốc. bèn xuống lệnh giải tán đảng ấy và bắt Lý Thụy giam trong hang đá ở Liễu . Ðến cuối năm 1940 nhân khi quân Nhật Bản ở Quảng Tây đánh vào Lạng Sơn. nếu công việc thực hiện được thì lấy ngay ba thành thị: Hà Nội. những người như bọn ông Trần Trung Lập trong đảng Việt Nam Quang Phục Hội của ông Phan Bội Châu lập ra khi trước.

ủy cho tướng Trương Phát Khuê chủ trương việc tập hợp các đảng phái cách mệnh Việt Nam lập thành một đảng để hành động cho có hệ thống. ta có thể biết những người này: Trương Bội Công. Trương Trung Phụng làm đại biểu. Hồ Chí Minh được cử làm hậu bổ ủy viên và Trần Báo làm tổng cán sự. người Thanh Hóa. xin lĩnh ra để cùng làm việc. Nông Kính Du. ủy viên. có Trương Bội Công. Hội cử ông Nguyễn Hải Thần lên làm chủ tọa. Trần Báo. ông muốn tỏ tình thân ái với bạn mới lấy tên là Hồ Chí Minh. Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội vừa thành lập chưa được bao lâu thì đã có sự bất hòa trong nhóm ủy viên. chủ tọa. . Vũ Hồng Khanh. Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội đã thành lập. Trương Trung Phụng. Ngày mùng 1 tháng mười năm 1942. gồm đại biểu các đảng sau đây: 1) Việt Nam Phục Quốc Ðồng Minh Hội. 3) Vô đảng phái. làm chức thiếu tướng trong quân đội thuộc quyền chỉ huy của Trương Phát Khuê. Bởi vậy ủy ban chấp hành chỉ có những người này: Trương Bội Công. ủy ban trừ bị đứng ra bảo đảm với chính phủ Trung Hoa. có nghị lực và cương quyết. đổi ủy ban trừ bị ra làm ủy ban chấp hành. Theo lời một người Việt Nam có mặt trong hội nghị ấy đã nói: Lý Thụy có kết nghĩa với một người cộng sản Tàu tên là Hầu Chí Minh.Châu. 2) Việt Nam Quốc Dân Ðảng. Khi ở nhà ngục ra. nên chủ tọa là Trương Bội Công từ chức và bỏ về Vân Nam rồi mất ở đấy. Bồ Xuân Luật. trước học trường võ bị và làm đến chức thiếu tướng trong quân đội Tàu. Nguyễn Hải Thần. Nguyễn Hải Thần. Các đại biểu trước hết lập thành một ủy ban trừ bị do Nguyễn Hải Thần chủ tọa để xếp đặt mọi việc. Khi ông được tha ra. ông Hoàng Lương chiêu tập ở Liễu Châu những người trong các đảng phái hay không có đảng phái để lập ra một đảng duy nhất gọi là Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội. có Hoàng Lương và Hồ Học Lãm làm đại biểu. có Vũ Hồng Khanh và Nghiêm Kế Tổ làm đại biểu. Trương Phát Khuê giao cho ông Hoàng Lương trù liệu việc ấy. Trong những người cách mệnh Việt Nam hoạt động bên Tàu thuở ấy. Khi ấy ông Hoàng Lương vì có sự gì xích mích với chính phủ Trung Hoa nên bị bắt đem về Trùng Khánh. Lúc ấy Lý Thụy còn phải giam. liền tuyên thệ xin hết lòng trung thành với Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội mà làm việc. Trần Ðình Xuyên.

Trong khi ông Hồ Chí Minh ở bên Tàu để chờ đợi thời cơ. quyết chưa thôi Ðà Long phất trận gươm ba tấc Nam Ðịnh tương bom lửa một mồi Cha đứa cắn gà toan cõng rắn Mẹ thằng giày mã dám đem voi Nào ai mãnh sĩ mưu thần đó Góp sức đun tay để cứu đời Vũ Hồng Khanh. vậy nên từ bắc chí nam đâu cũng có người theo. ở trong nước đâu đâu cũng có cán bộ. rồi chạy sang Tàu ở bên Vân Nam. người Pháp toan bắt.v. Xem như Hội Truyền Bá Quốc Ngữ khi mới thành lập ở Hà Nội là có ngay những người cộng sản vào hội rồi. rồi xem hình như người Pháp lại ngấm ngầm dung túng họ. Nguyễn Tường Tam. Tưởng Giới Thạch. nên khi ông Tưởng Giới Thạch làm giám đốc trường Hoàng Phố. Vì có sự quen biết ấy.. Ông quen biết Tôn Dật Tiên. có bằng khoa học cử nhân. hoặc để hoạt động theo chủ nghĩa họ. Những người ấy tuy nói là đảng nọ phái kia. toàn quyền Sarraut về chứng cuộc ấy. ông nhờ quân đội Nhật đưa sang ở Quảng Châu rồi sang Quảng Tây. Trần Lập Phu v. Sự nghiệp cách mệnh của ông chứng rõ trong bài thơ sau này. Cho nên người ta thấy lúc ấy chính phủ bảo hộ vẫn bắt bớ những người làm thuyền thợ theo cộng sản. không quản công lao gì cả. Khi ông Phan Bội Châu xướng lên việc xuất dương vào quãng năm 1905-1906. Ðến khi quân Nhật vào đóng ở Ðông Dương. chỉ là một mặt trận gồm tất cả các đảng phái lấy lại độc lập cho nước nhà. Một năm ở Nam Ðịnh có cuộc xướng danh khoa thi hương. Cách hành động của họ thì bất cứ công sở hay tư sở. Nhưng tạc đạn không nổ. Ông là người lão thực. vì sự hành động của bọn ông. làm gì mà không mạnh. Một tổ chức có kỷ luật và chịu khó làm việc như thế. trước làm giáo học ở một trường tiểu học bắc việt. . Ðảng viên cộng sản lại biết giữ kỷ luật rất nghiêm và rất chịu khó làm việc. người tỉnh Hà Ðông.. Bọn ông Hồ Chí Minh biết như thế nên mới lợi dụng danh hiệu Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội để che đậy công việc làm. sau theo Nguyễn Thái Học vào Quốc Dân Ðảng khởi nghĩa ở Yên Bái. Ðảng Việt Minh cộng sản có tổ chức rất chu mật và theo đúng phương pháp khoa học. ta thường gọi là châu Ðà Lùng thuộc Cao Bằng.. ông chạy thoát. lúc ấy cũng đủ ăn tiêu. thường gọi ông Tú Ðại Từ. mỗi tháng được sáu bảy chục tiền Tàu. ông về ném quả tạc đạn định giết viên toàn quyền. ngấm ngầm hành động và tuyên truyền rất khôn khéo. chính tên là Vũ Hải Thu. hoặc dùng để làm việc với mình. trước đứng chủ trương báo Phong Hóa rồi Ngày Nay ở Hà Nội và lập ra đảng Ðại Việt Dân Chính. nhưng kỳ thực không có sự tổ chức gì ra trò. Một lần nữa sau cuộc chiến tranh 1914-1918 ông đem một toán quân thổ phỉ về đánh châu Ðà Long. ông gửi cho tôi khi tôi ở Quảng Châu vào khoảng cuối năm 1946: Bốn chục năm nay vị nước nòi Nước nòi chưa mạnh. Cái tình thế đảng cộng sản ở trong nước trước khi có cuộc đảo chính của quân Nhật là thế.Nguyễn Hải Thần. Việc thất bại ông sang ở luôn bên vùng nam nước Tàu và đổi tên là Nguyễn Hải Thần. đổi tên là Nguyễn Cẩm Giang. Sự tổ chức của đảng cộng sản đã mạnh và nhất là từ khi quân Nhật Bản vào đóng ở Ðông Dương. hoặc để tuyên truyền. trước đã thi đỗ tú tài. có đưa ông vào làm một chức giáo sư ở trường. Ngô Thiết Thành. nhập vào Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội. có ý để họ quấy nhiễu quân Nhật may ra có xảy biến đổi gì chăng. hễ đâu có một tổ chức làm việc là có người của họ chen lấn vào.. dạy về chính trị. song người cộng sản nào có chút thế lực thì bắt rồi lại thả ra. ông ra ngoài vào học trường võ bị Hoàng Phố gần Quảng Châu. Họ lợi dụng lòng ái quốc của dân chúng mà tuyên truyền Việt Minh không phải là đảng cộng sản. tức là Giáo Giản. và những người nhận việc đi dạy học rất chăm.

Việt Minh lại sai người về ám sát mấy người sĩ quan Nhật ở giữa Hà Nội và cho người đi đánh phủ nọ huyện kia. Sau đó hội cho ông Hồ Chí Minh cùng 22 đảng viên phần nhiều là người trong đảng Phục Quốc về nước để khởi sự hành động. Mỹ ủng hộ và giúp cho binh khí để đánh bọn độc tài Pháp và Nhật. dân tình nôn nao cả lên. thì tôi cùng đi với cụ. cựu trung úy trong quân đội Pháp trước về Lạng Sơn đánh lấy đồn Bảo Lạc. Lúc đầu bọn ông Hồ Chí Minh chia ra làm hai đoàn. mọi việc dần dần rồi đâu ra đấy cả. làm cho dân chúng khiếp sợ. Rồi đến quảng đầu tháng ba năm 1945 thì về đến vùng Văn Lãng. Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội lại dời về tỉnh Quảng Tây và cho ông Hồ Chí Minh về Bách Sắc để trù liệu kế hoạch nhập Việt. không có tranh dành địa vị như những người khác. Ông ấy bảo tôi: Cụ đang nhọc mệt ra Hà Nội làm gì. đợi khi có mệnh lệnh mới được ra mặt hành động. Từ đó bọn ông Hồ Chí Minh bỏ danh hiệu Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội mà dùng danh hiệu cũ là Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh. Trong số 22 người ấy có một nữ đảng viên tên là Ðỗ Thị Lạc là người sau có đứa con gái với Hồ Chí Minh. thuộc Hà Giang. người ta mới nghe nói. hễ đâu có ai ra mặt chống họ. rằng hai ngày nữa tôi ra Hà Nội. nhưng cái tên Hồ Chí Minh vẫn giữ rất kín cho đến gần cuối tháng tám. Các quan phủ huyện. sau thường gọi là tướng Nam Long. Hôm sau tôi nói chuyện với ông Yokohama. đánh lấy đồn Ðồng Mu ở Sóc Giang thuộc Cao Bằng. tức Việt Minh. Cái khôn khéo của ông lúc ấy không để lộ cho ai biết ông là lãnh tụ đảng cộng sản Ðông Dương. và dùng cờ đỏ sao vàng của cộng sản. người Nhật thấy Việt Minh có thế mạnh. Họ lại nói rằng quân Việt Minh đã đánh lấy được mấy tỉnh ở mạn thượng du bắc bộ rồi. Các chi bộ cộng sản ở trung và Nam Bộđã sẵn sàng đâu đấy cả rồi. người thì chạy trốn. họ bắt đi hay giết chết. lập tức tôi thu xếp ra bắc. Tôi nói thật ý định của tôi. đều bị quân Việt Minh giết cả. và một chi bộ ở tỉnh Quảng Tây do Trương Trung Phụng quản lý. Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội ở Liễu Châu được ít lâu rồi vì sự tấn công của quân Nhật. bèn cho người đi tìm cách điều đình. Vào khoảng tháng 5 năm 1945. hai người Nhật và một người Việt Nam làm thông ngôn lên đến Ký Phú gần huyện Ðại Từ thuộc Thái Nguyên. người thì bị bắt. một mặt họ sai những người táo tợn đi đánh phá các nơi. Việc ấy xảy ra vào khoảng tháng hai năm 1945. Khi tôi được tin người Nhật bắt các thanh niên ở Hà Nội. Một đoàn có ông Ðặng Văn Ý. hội phải dời về Bách Sắc và đặt thêm hai chi bộ. ông Yokohama không nói gì. . Về sau thấy người ta nói khi về đến địa hạt Bắc Giang. Người Nhật thấy vậy bèn ra lệnh bắt các thanh niên và những người họ ngờ theo Việt Minh đem giam và tra tấn rất cực khổ. Những thanh niên Việt Nam lúc ấy phần nhiều cũng theo Việt Minh và đi tuyên truyền rầm rĩ. Về khoảng cuối năm 1944. Ðến ngày mùng 9 tháng năm. Ðến sáng hôm sau ông nói rằng: Nếu cụ đi Hà Nội. song cứ phải giữ bí mật. Từ bấy giờ trở đi. một chi bộ ở Côn Minh do Vũ Hồng Khanh quản lý. sau khi cướp được chính quyền ở bắc bộ. Một mặt họ cho người đi diễn thuyết và tuyên truyền rằng đảng Việt Minh đã có các nước Ðồng Minh là Tàu. Một đoàn đi với Hồ Chí Minh có Vũ Nam Long. thuộc Thái Nguyên giáp Tuyên Quang và lập trụ sở bí mật ở đó. cứ làm việc của một đảng viên có kỷ luật. Tôi bảo được thế càng hay. bắc bộ. có ba đảng viên trong 22 người ấy bị giết vì không chịu theo cộng sản. tưởng là một đảng theo chủ nghĩa quốc gia. tối cao cố vấn Nhật.Trong khi ấy ông Hồ Chí Minh ở bên Tàu vẫn cộng tác với Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội. đảng Việt Minh hành động rất mạnh. Nga.

Tôi đến Hà Nội hôm trước. . cùng đi có các ông Hoàng Xuân Hãn bộ trưởng bộ giáo dục.Chúng tôi bao giờ cũng định trả lại các lãnh thổ Việt Nam cho chính phủ Việt Nam.Bao giờ người Nhật cũng giữ lời hứa hẹn nên những việc nội trị trong nước Việt Nam là không can thiệp đến. rồi bắt đầu nói chuyện. sẽ lấy lại các công sở. Viên tổng tư lệnh Nhật nghĩ một lúc rồi nói: . ngày đêm tàu bay Mỹ sang đánh phá. tôi sẵn lòng xin lui. viên ấy biên lấy những câu hỏi và những câu đáp lại. Tôi nói: . . Vả tôi phụng mệnh Thiên Hoàng sang đây.Ngài đã nói thế. rồi đến khi trở về gần Bần Yên Nhân. Ðà Nẵng và toàn hạt đất Nam Bộcho nước Việt Nam. Viên tối cao cố vấn phiên dịch tiếng Việt ra tiếng Pháp. đề phòng khi điều đình ổn thỏa.Vậy xin để đến sáng ngày kia. Trước hết tôi nói: Quân đội Nhật đã đánh quân đội Pháp và công nhiên hứa hẹn trả quyền tự chủ cho nước Việt Nam. Tôi làm việc một lòng giúp nước tôi. . hôm sau đến gặp ông Tsuchi-Hashi Yuitsu.Tôi ra Hà Nội. và chúng tôi mất một người bạn hòa nhã và trung thành. Nhưng vì sợ các ông chưa xếp đặt được sẵn sàng. Thế là trong nội các mất một ông bộ trưởng rất tận tâm về việc nước. Còn những việc chưa giải quyết được là vì cần phải có thì giờ để thu xếp cho ổn thỏa. việc ấy không phải là phận sự của tôi. bị tàu bay Mỹ bắn chết. nên còn trì hoãn lại ít lâu. Cụ đừng nghe người Nhật hay người Việt Nam nói nhảm không có căn cứ gì. cụ đừng ngại. trước khi phiên dịch ra tiếng Pháp hay tiếng Nhật. quyền chức toàn quyền của Pháp ở Ðông Dương. ông Vũ Văn Hiền bộ trưởng bộ tài chính. thì chúng tôi đối với quốc dân không có nghĩa lý gì cả. viên cố vấn và tôi. vào 11 giờ cụ cho làm lễ thu nhận ba thành thị ấy. phải đêm đi ngày nghỉ.Nếu ngài bằng lòng. phận sự của chính phủ chúng tôi là phải thu lại mấy thành thị Hà Nội. Còn Nam Bộ thì có nước Cao Miên còn lôi thôi về mấy tỉnh ở biên giới. việc gì cũng trách cứ ở tôi. ông Phan Anh bộ trưởng bộ Y Tế. Hải Phòng. thế mà thấy nhiều người nói nọ nói kia rất khó chịu. Trong cuộc nói chuyện chỉ có viên tổng tư lệnh. Ði lúc bấy giờ rất khó khăn. Nói câu nào. Bởi vậy tôi không quản tuổi già và sự khó khăn của hoàn cảnh mà đứng ra lập chính phủ.Vậy thì cụ định bao giờ lấy lại ba thành thị kia? . tổng tư lệnh nhật. Tổng tư lệnh Nhật nói: . thì tôi xin lấy ngay tự bây giờ. Ra đến Hà Nội được mấy ngày ông Vũ Ngọc Anh đi về Thái Bình thăm nhà và xem những bệnh viện vùng ấy. cũng như các ông lo việc giúp nước Nhật. Nếu việc ấy không xong. chỉ còn đợi sự quyết định của các ông mà thôi. .Chúng tôi vẫn sẵn sàng về việc ấy. Nếu các ông cho tôi là người làm việc cho nước Nhật.

tôi lại xin cho chúng tôi đủ súng ống đạn dược để những đội bảo an ấy dùng. Tôi nói: Các ông đã đánh đổ các thuộc địa của Pháp. và không đời nào dân Việt Nam chịu. như thế làm mất cái tinh thần thân thiện của hai nước lân bang. mới hợp cái nghĩa tự chủ của ba nước trong xứ Ðông Dương. Tổng tư lệnh Nhật nói việc ấy có nhiều sự phức tạp vì các công sở ấy quan hệ đến các nước lân bang như Cao Miên và Ai Lao nữa. sáu chục người. sẽ theo tình thân thiện mà bàn với nhau. có hỏi tôi rằng: Bao giờ cụ định vào nhận lấy đất nam bộ. và tôi nói: Tôi về Huế vài ngày để tâu bày mọi việc với hoàng thượng. Có một điều nên biết. Có một điều tôi nhất định đòi cho được. thì chỉ thấy độ 300 người bị bắt. sở công an. ta phải tạm nhượng bộ ít nhiều. mình phải đi mới được. là từ ngày tôi ra Hà Nội. . người Nhật nói chuyện rất hòa nhã và có vẻ cung kính. người Nhật xin để riêng mấy phòng cho họ hợp tác với người Việt Nam. Lúc ấy phần nhiều thanh niên hăng hái quá thường hay bạo động. Còn ngày thu nhận các công sở ấy định vào ngày 15 tháng tám mà bấy giờ là ngày mùng 2 tháng tám dương lịch. Khi họ đã nhận lời trả lại đất nam bộ. Tôi nói: Cám ơn ngài. là phải bỏ chế độ phủ toàn quyền cũ. Tôi lấy mọi lẽ giải thích sự hành động của thanh niên. Sau cuộc đàm phán hơn một ngày bàn về chi tiết việc giao trả lại chính phủ Việt Nam hết thảy các công sở. để cho êm chuyện. thì nước Cao Miên muốn thừa cơ chiếm lấy một ít đất của nam bộ. rồi độ chừng ngày mùng 8 tháng tám là tôi đã ở Sài gòn rồi. Nhưng công việc và mấy vấn đề trên xong đâu đấy rồi. Còn như Cao Miên có muốn nói chuyện gì về việc ấy. thành ra cứ bàn cãi đến một ngày mới chịu nhận lời trả lại nam bộ. để chúng tôi tổ chức lại quân đội bảo an. Còn sự giao thiệp về quyền lợi riêng của mấy nước chúng tôi. Tôi xin tha cho những thanh niên bị hiến binh Nhật bắt vì theo Việt Minh. và có non một trăm người đã được tha rồi. đã nhận cho Việt Nam. hay cụ định cho ai đi thay cụ. Tôi về lập tức cho gọi đại úy Thu và một trung úy đã được tha từ trước làm chương trình cải tổ các đội bảo an. vì còn chiến tranh. để xếp đặt mọi chuyện cho chóng xong. và bảo người Nhật rộng lượng mà tha hết cả ra. Tôi ưng thuận. Vậy phận sự chúng tôi là phải lấy lại toàn lãnh thổ của tổ quốc. Vả theo ý tôi. Những người còn phải giữ lại là vì có chứng cớ. Cao Miên và Ai Lao được tự chủ thì các công sở ấy theo lẽ tất nhiên là phải trả lại cho các nước ấy. Việc lấy lại toàn lãnh thổ Việt Nam như thế là quyết định xong. để khỏi làm náo động lòng người.. Hiến binh Nhật hứa sẽ xét chóng mà tha dần ra. Tổng tư lệnh Nhật gọi viên đại tá coi hiến binh Nhật đem sổ cho tôi xem. Ðược như thế thì có thể tránh được mọi sự khó khăn lặt vặt. Và nhân vì súng ống không có. như sở hỏa xa. Ngày hôm sau họ tha ra được năm. chứ không như người ta đồn có tới hàng ngàn người. vì địa giới Nam Bộngày nay với địa giới Nam Bộ ngày trước không có gì thay đổi. tôi xin tổng tư lệnh Nhật tha và trả lại cho chính phủ Việt Nam hết thảy những sĩ quan và quân lính Việt Nam mà quân đội Nhật còn giam giữ ở các nơi. chứ không có điều gì trịch thượng hay gai ngạnh. thì sẽ nói chuyện với chúng tôi về sau.Việc ấy hiện bây giờ không thành vấn đề được. Tôi nói đến việc lấy lại các công sở trước thuộc về chính phủ Ðông Dương toàn quyền. Tôi nghĩ trong cái việc khó khăn này. Tôi nghĩ: trong lúc đầu còn lắm sự khó khăn. Tổng tư lệnh Nhật nhận lời và tạm cho bắc bộ 2000 khẩu súng và đạn dược. như cho tiền hay đã đi hội họp ở chỗ nào. Tổng tư lệnh Nhật nói: Cụ định vào thì hôm ấy tôi cũng vào. Tổng tư lệnh Nhật cứ viện hết lý do nọ đến lý do kia.

nhưng hôm sau ông về bàn tính thế nào lại đổi ý. vì lúc ấy tôi còn tưởng đảng Việt Minh dù theo chủ nghĩa cộng sản. nhưng chắc cũng nghĩ đến tương lai nước nhà. nói họ đã có các nước Ðồng Minh giúp đỡ cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập. Ông thấy một đường thì người Nhật làm khó dễ. Song ý người định thế. Tôi nghĩ đến ông Nguyễn Xuân Chữ là người trong Việt Nam Ái Quốc Ðảng. Vì thế nên tôi cứ trù trừ mãi. giúp việc thì dù việc dở cũng hóa hay. song chỉ là một ông quan biết thừa hành mệnh lệnh. luyện tập quân lính đề phòng khi hữu sự. Ông Toại là người làm quan có tiếng hơn cả mà còn như thế. Dân ta từ khi bị người Pháp sang cai trị. tôi nói: Chúng tôi ra làm việc chỉ vì nước mà thôi. mai đánh chỗ nọ. và tính lại nhát. đánh huyện này. tôi chắc đảng các ông cũng vì nước mà hành động. Việc cai trị không có lịch duyệt không làm được. thì độ năm bảy tháng. lấy được 2000 khẩu súng mới và đạn dược. một đường có chính phủ quốc gia. mà người làm được việc thì ít. và xin tha được một số thanh niên bị bắt. có lẽ vì người Nhật tự biết họ sắp thua nên họ đổi thái độ để mua chuộc lòng người. điều đình với tổng tư lệnh Nhật được kết quả như là: lấy lại toàn lãnh thổ của nước Việt Nam. ta không thể biết được. Ngay những đạo thanh niên tiền tuyến do bộ Thanh Niên lập ra. nhưng không chống cự nữa. tôi sẽ tìm người thay. Ông Toại nể tôi mà ở lại. Tôi gặp ông Chữ nói chuyện. thu hết các công sở thuộc phủ toàn quyền cũ của Pháp. nói xin để thong thả. thành ra ai cũng tin theo. chứ về đường chính trị thì không thông thạo lắm. mà trời không cho làm thì sao? Chúng tôi phải thu xếp về Huế. được hoàn toàn tự do và có nhiều hạnh phúc. chưa kịp sắp đặt gì cả. Tôi nghe nói ông Nguyễn Tường Long là người biết chính trị và có nghị lực hơn cả. tuy chưa theo hẳn. biết quyền biến. Hay là họ có ý gì khác nữa. ông đã nhận lời. vì chức khâm sai là một chức kiêm cả việc chính trị và cai trị.Nói rút lại. Nếu ở trong quan trường cũ có người tài cán và hiểu việc thì hơn. chứ không có ý cầu danh lợi gì cả. Lính bảo an ở các nơi phần nhiều bị Việt Minh tuyên truyền. nhất là chương trình cải tổ quân đội. lại nghe nói đảng Việt Minh lên cầm quyền. có tính cương quyết và đứng đắn. Nếu có thì giờ thi hành được. Phàm những người cầm quyền bính trong tay mà có những người tế nhị tài giỏi. Trước tôi thấy cách làm việc của ông Toại rất lộn xộn. Ðảng Việt Minh lúc ấy rất hoạt động. Tôi thì vội về mà người thì không có. Sự điều đình của chúng tôi được ổn thỏa dễ dàng. thì các việc tổ chức có thể mau chóng hơn. mà không thì việc hay cũng hóa dở. Tôi phải bảo ông Toại phải cố ở lại mà làm việc cho đến khi tôi thu xong đất nam bộ. phá phủ kia. Dân gian bấy giờ rất hoang mang. sẽ có kết quả khả quan lắm. chỉ nói chuyện xin từ chức. hay độ một năm. ông sợ hãi và chán nản. Giá lúc ấy có một người làm khâm sai ở bắc bộ cương quyết và hiểu việc. Ðó là điều các nhà làm chính trị nên chú ý. Công việc thấy có nhiều sự khốn khó mà thường nghe sự tuyên truyền của Việt Minh. chúng tôi ra Hà Nội. dân không phải đóng thuế nữa. cũng có ý ngã về Việt Minh. một đường thì bọn Việt Minh bạo động. Lúc ấy chúng tôi còn dự định làm nhiều việc khác. . Sau ông Toại cứ nài. tôi bảo ông Phan Kế Toại đi tìm một vài người Việt Minh đến nói chuyện. nhưng tìm aỉ Người nói giỏi thì nhiều. cứ khao khát độc lập. nay đánh chỗ này. tuy trong sạch hơn cả. tôi đã muốn tìm người thay. Hôm sau ông Toại đưa một thiếu niên Việt Minh đến. huống người khác rồi ra sao. nhưng vì thời gian eo hẹp. lấy hết các binh sĩ Việt Nam để tổ chức đội quân bảo an. nay nghe Việt Minh nói thế. Tôi thấy tình thế ấy. nhưng ông Phan Kế Toại là người chuyên làm việc trong thời bảo hộ của Pháp. nhưng lúc ấy ông đang bị bệnh thương hàn.

Tôi đáp lại ông Chương: Việc tôi nói đây để trình bày những việc đã làm để nội các biết. Tôi thấy thái độ người ấy như thế. Nếu ai làm được việc gì ích lợi là công chung tất cả của chúng ta. còn ông Hoàng Xuân Hãn ở lại Hà Nội đợi đến ngày thu nhận sở Ðông Dương Học Chính và sở Công Chính. Hễ tôi làm không nổi và có ai sẵn lòng thay tôi.Chúng tôi chỉ có một con đường thẳng đi đến hoàn toàn độc lập chứ không có hai. Nếu có hại cũng không cần.Chúng tôi chắc thế nào cũng thành công. Thế tỏ ra công chung của mọi người trong nội các. Tôi nói: . Dù người trong nước mười phần chết mất chín. nhưng vì đi đường thẳng có nhiều sự khó khăn nên chúng tôi phải uyển khúc mà đi từ từ có lẽ chắc chắn hơn. còn hơn với chín phần kia. tôi biết không thể lấy nghĩa lý nói chuyện được. . Nếu có được một chút hiệu quả nhờ sự điều đình của ông Chương khi trước.Sự mưu cầu cho nước được độc lập cũng là mục đích của chúng tôi. chứ không chịu để ai nhường. Người ấy nói: . tôi xin nhường ngay. xin đừng ghen tị gì cả. Chúng tôi có thể làm lấy được. Sự tôi muốn nhường đó. khi tôi ra Hà Nội lần trước.Chúng tôi sẽ cướp lấy quyền để tỏ cho các nước Ðồng Minh biết chúng tôi mạnh. càng hay. . ông Trần Văn Chương bộ trưởng ngoại giao nói: Cụ ra Hà Nội lần này thành công là nhờ sự điều đình của tôi. Lời ông Chương nói tỏ ra cái ý tranh công. tôi vừa nói xong. rất ngạc nhiên. Chắc trăm phần trăm. Ông Phan Anh và ông Vũ Văn Hiền cùng về với tôi.Chắc lắm. cần gì phải đánh phá cho khổ dân? . các ông không vào chính phủ làm việc. Ngày tỏ ý vui vẻ lắm. các ông nhận lấy trách nhiệm đối với quốc dân và lịch sử. tôi sợ rất hại cho dân. ông Chương biết rõ hơn mọi người khác.Sự hành động của chúng tôi đã có chủ nghĩa riêng và có chương trình nhất định để đem nước đến chỗ hoàn toàn độc lập. . vì lúc ấy tôi không nghĩ đến công cán gì cả.Theo như ý các ông như thế. Về đến Huế chúng tôi tâu bày mọi việc cho vua Bảo Ðại biết. Ðến khi họp hội đồng chính phủ trình bày công việc và kết quả việc chúng tôi ra Hà Nội. Xong việc ấy rồi cách hai hôm sau chúng tôi về Huế. có hại rồi mới có lợi. Tương lai còn dài. Ngày trước tôi vẫn thường nói với các bộ trưởng: Chúng ta cùng nhau hết lòng làm việc giúp nước. . Tôi nghe lời ông Chương nói.Nếu các ông chắc lấy được quyền độc lập cho nước nhà. nhưng cũng một mục đích như nhau. Rồi người ấy ngồi đọc một bài hình như đã thuộc lòng để kể những công việc của đảng Việt Minh. chúng tôi sẽ lập một xã hội mới với một thành phần còn lại.Nếu vậy chúng ta tuy đi con đường khác nhau. mà chưa chắc đã thành công được. kẻ ở trong người ở ngoài. . . để cứu nước được không?.Các ông chắc là các nước Ðồng Minh tin ở sức mạnh của các ông không? . các ông thử xem ta có thể hợp tác với nhau.

nội các Trần Trọng Kim nên thôi đi. Trần Văn Lai xin lập Ủy Ban Cứu Quốc. rồi ra quân Ðồng Minh kéo lên Ðông Dương. vì ông ấy không biết giao thiệp. Tôi đưa thư ấy cho ông Hoàng Xuân Hãn và ông Phan Anh xem. nói đến việc đi vào Nam Bộ. bộ trưởng bộ kinh tế. ai kể vào đâu. Các đoàn thể thanh niên và các người trí thức ở bắc bộ điện vào Huế xin vua Bảo Ðại thoái vị và nhường cho Hồ Chí Minh. Việc lấy lại đất Nam Bộ xong. Ðại ý trong thư nói: Việc ông bộ trưởng ngoại giao ra Hà Nội không có kết quả. Ðược mấy ngày ông Hồ Chí Minh về làm chủ tịch chính phủ lâm thời. Ông Hồ Tá Khanh. tôi nhờ ông Phan Anh ra Bắc và ông Hồ Tá Khanh vào nam gặp mọi người và nói chuyện cho rõ đuôi đầu. Ðược tin người Nhật ưng thuận. có viên trung tướng tham mưu trưởng của tư lệnh bộ Nhật ở Ðông Dương tôi đã gặp khi trước. để rõ tình thực. tôi vào tâu vua Bảo Ðại. viên ấy ở Hà Nội trở vào nam. các ông hãy lập ra lâm thời chính phủ để đợi xem tình thế biến đổi ra sao đã. trong nội các không có hòa khí như lúc đầu. Nguyễn Xuân Chữ. các công chức ở Hà Nội nghe bọn Việt Minh xúi tổ chức cuộc biểu tình. theo tình thế chính trị. Nhưng ông Phan Anh ra đến vùng Phủ Diễn bị quân Việt Minh bắt giữ lại.. nhưng tìm ai thay? Tôi nghĩ nên tìm những người thuộc về các đảng phái như Ngô Ðình Diệm. Ngài nói: Ông đang làm được việc.v. những việc đã làm đó. xin cử ông Sâm làm Nam Bộ Khâm Sai. làm mếch lòng người Nhật. lúc mới ở Băng Cốc về Sài gòn. nhưng để lấy lại đất Nam Bộcho trọn công việc của mình. ngày 19 tháng tám. Hồ Hữu Tường. Chính phủ nhận lời. Tôi điện vào xin cứ cho lấy lại nam bộ. tôi không phải vào Nam nữa. Tôi tâu trình lên mấy người. Thấy ý kiến các ông bộ trưởng phân vân. bộ trưởng bộ nội vụ. sao lại xin thôi. Ðang lúc ấy được tin nước Nhật Bản bị bom nguyên tử không chịu nổi phải xin hàng. Cách hai ngày sau. ngài tỏ vẻ không thuận. Tôi điện đi các nơi mời những người ấy vào Huế. Lúc ấy tôi như cất được gánh nặng. xin cho tôi từ chức. Tôi vào tâu vua Bảo Ðại. làm tôi mất cả lòng hăng hái làm việc. vì lúc ấy tôi tưởng Nhật khéo léo lắm cũng chỉ được năm bảy tháng nữa là cùng. Ông Nguyễn Văn Sâm đi rồi. nhưng sợ một bức điện không được rõ. không ai chịu trách nhiệm. và lúc ấy có ông Nguyễn Văn Sâm lãnh tụ đảng Quảng Xã. Lúc ấy bọn ông Nguyễn Xuân Chữ. để vào lập nội các mới. Vua Bảo Ðại gọi tôi vào nói: Trong lúc rối loạn như thế này. chờ đến khi tìm được người ra lập nội các hãy thôi. Ðặng Thái Mai v. ông Sâm được sắc chỉ bổ vào Nam. Ông Trần Ðình Nam. Tổng tư lệnh Nhật ở Hà Nội vào Sài gòn không thấy tôi. Song dù sao nó cũng thành cái hằn. tôi thôi ngay. tôi cho công việc làm của tôi như thế tạm xong. đã có tiếng hoạt động về chính trị. nói: Nếu cụ đi nam. điện ra dục..Sự thật sau khi ông Trần Văn Chương ra Hà Nội. ông Phan Kế Toại điện vào xin từ chức. Tôi bất đắc dĩ phải tạm ở lại.. đi qua Huế có viết cho tôi lá thư bằng tiếng Nhật. thành một việc đã có rõ ràng. bảo: Các ông hãy tạm làm việc. . Lâm thời chính phủ vừa làm việc mấy ngày. và có lắm chuyện nhỏ mọn không muốn nói ra. Lê Toàn. thì tôi đã dự định rồi. ở Huế nếu có xẩy ra việc gì. để họ làm việc may ra họ cứu được nước. Tôi nói tạm xong. Tạ Thu Thâu. Ngày 14 tháng tám năm 1945. vừa ở Sài Gòn ra Huế. đưa thư nói đại ý: Phong trào Việt Minh mạnh lắm. Tôi thấy việc đi nam có nhiều sự cản trở. thành ra đến ngày mùng 8 tháng tám tôi vẫn không đi nam được. Xong việc ấy.. ông Hồ Tá Khanh vào đến Quảng Ngãi cũng bị giữ lại. nhờ ông Yokohama dịch ra tiếng Pháp đưa tận tay cho tôi. Ðảng Việt Minh nhân cơ hội ấy chiếm lấy Bắc Bộ. và ông thôi lấy ai thay. người ta không thể xóa bỏ hẳn đi được. cái nếp. Tôi nói: Sự tôi thôi.

Mình đem một vài trăm người trông cậy được ra chống với mấy vạn người toàn thanh niên thuyền thợ và đàn bà trẻ con. Tôi nghĩ quân Nhật đã đầu hàng. Việt Minh không làm gì được. hoặc vì không biết rõ sự thực nói: Chính phủ Trần Trọng Kim là một chính phủ bù nhìn. Tôi từ chối không nhận. Tôi dám cả tiếng bác lời nói đó. vì họ không có binh lực gì cả. nên chúng tôi mong ít có sự phá hại. bọn Việt Minh lại có dân chúng ủng hộ. chống sao được? Chẳng qua chỉ gây một cuộc đổ máu vô ích. tính mệnh nhà vua và hoàng gia chưa biết ra thế nào. Nhờ ngài có tư tưởng quảng đại nên có tờ chiếu thoái vị. dù sao họ cũng lo đến sự kiến thiết của nước nhà. huống chi những lính bảo an và lính hộ thành tất cả độ vài trăm người. nhân dân có nhiều người ngậm ngùi cảm động. Tôi vào tâu vua Bảo Ðại: Xin ngài đừng nghe người ta bàn ra bàn vào. mình nhờ quân Nhật đánh người mình còn nghĩa lý gì nữa. người chính phủ tin cậy cũng bỏ theo Việt Minh. Sau thấy có người. còn ai dám nói năng gì nữa.Trong tình thế nguy ngập như thế. Khi tờ chiếu ấy tuyên bố ra. . Mình đã mở cửa mời họ còn đánh phá gì nữa. lại có những người Việt Minh táo tợn đứng sau lưng xui khiến. ngài nên xem lịch sử của vua Louis XVI bên Pháp và vua Nicholas II bên Nga mà thoái vị ngay là phải hơn cả. hiểu ngay và nói: Trẫm có thiết gì ngôi vua đâu. ra làm Tối Cao Cố Vấn ở Hà Nội để dễ quản thúc. ở Huế còn có người bàn sự chống cự. ý nói là chúng tôi ra làm việc để bọn Nhật sai khiến. Nhưng cái phương lược của họ đánh bằng tuyên truyền. Lúc bấy giờ người Nhật có đến bảo tôi: Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Ðồng Minh đến thay. Sau thấy những người ở ngoài không biết rõ tình thế nói: lúc ấy giá chính phủ không lui vội. bấy giờ gọi là công dân Vĩnh Thụy. Về đường binh lực. tôi ra ở nhà đã thuê từ trước tại làng Vĩ Dạ gần Huế. Còn các quan cũ lẫn nấp đâu mất cả. Trẫm muốn là người dân của một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ. miễn là bọn Việt Minh giữ được nền tự chủ của nước nhà là đủ. nên để cho họ nhận lấy trách nhiệm bảo vệ nền độc lập của nước. Nếu chính phủ Việt Nam công nhiên có lời mời quân Nhật giúp. Sự tuyên truyền của họ đã có ngấm ngầm từ lâu trước khi quân Nhật đảo chính chứ không phải bây giờ mới có. quân Ðồng Minh sắp đến. Lúc bấy giờ chúng tôi nghĩ: họ đã thắng thế. Việt Minh vào đưa vua Bảo Ðại. hoặc vì tuyên truyền. Vua Bảo Ðại là ông vua thông minh. Thật là tình cảnh rất tiều tụy. hỏi xem có thể trông cậy bọn ấy được không. quân Nhật còn có thể giữ trật tự. Trung úy Trương Tử Lăng nói: Tôi có thể nói riêng về phần tôi thì được. bằng lối quỉ quyệt lừa dối để lôi kéo dân chúng đi theo. Nếu không mau tay lui đi. Còn về phần các thanh niên tôi không dám chắc. mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả. những lính để canh giữ công sở. Việt Minh đã lên cầm quyền. Lúc ấy chỉ còn cách lui đi là phải hơn cả. Ðến bọn thanh niên tiền tuyến. tìm cách chống cự lại. chứ không đánh bằng binh khí. lúc ấy Việt Minh không không có gì thật. Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và đang hăng hái về việc cách mệnh như nước đang lên mạnh. liền gọi trung úy Phan Tử Lăng người đứng coi đoàn thanh niên tiền tuyến ở Huế. còn làm gì được. và lại mang tiếng cõng rắn cắn gà nhà. Việc đã nguy cấp lắm rồi. Bọn thanh niên tiền tuyến trước rất nhiệt thành nay còn thế. nhưng lúc ấy phần tình thế nguy ngập. Ðược mấy ngày. Tôi muốn biết rõ sự thực. đạn dược không đủ. phần sợ hãi. Mình thế lực đã không có. cũng bị Việt Minh tuyên truyền xiêu lòng hết cả rồi. cốt chỉ bảo cho Việt Minh chớ có cướp phá. bọn lính hộ thành của nhà vua cũng không nghĩ đến nữa. vua Bảo Ðại đã thoái vị. súng ống không ra gì.

tôi gọi điện thoại mời viên cố vấn sang bên dinh nội các tổng trưởng nói chuyện chứ tôi không sang bên ấy. tỏ ý tiếc đã để chúng tôi làm việc. trong khi làm việc. phải hỏi trước viên tối cao cố vấn. nguyên bộ trưởng bộ tư pháp. Việt Minh cho người vào lấy những bảo vật và y phục của các vua chúa đời trước đem ra chợ bán. may nhờ chính phủ Việt Minh ở Huế trả tôi 1. Lúc đầu người Nhật có ý muốn đòi khi chính phủ Việt Nam có việc làm gì quan hệ. chúng tôi sẽ thông báo cho biết là đủ. tôi đi với ông Hoàng Xuân Hãn sang phòng làm việc của viên tối cao cố vấn Nhật. chạy đi nhờ một viên sĩ quan Nhật can thiệp để xin ở lại. để làm dinh nội các tổng trưởng. không để cho ai lấy uy quyền đè nén. tôi mới có tiền chi tiêu. Người nào làm bậy có chứng cớ rõ ràng thì theo luật pháp mà trừng trị rất nghiêm. mỗi nước được hai phiếu. đủ mọi thứ. Tôi ra ở làng Lại Thế. dinh khâm sứ cũ của Pháp. Ông Yokohama thấy tôi nói thế. lẽ nào lại phải xin phép rồi mới được làm. Những dinh thự ấy bây giờ là của Việt Nam. Lúc đầu ông Trịnh Ðình Thảo. Bấy giờ tôi không có tiền. Ai có vòng xuyến hoa tai hoặc đồ gì bằng vàng phải đem nạp chính phủ để tổ chức việc nước. Lúc ấy cũng được ông Yokohama là người thạo việc ngoại giao và am hiểu tình thế. Khi quân Nhật sắp hàng có đưa trả lại chính phủ Việt Nam bốn tấn bạc bằng thoi chở vào để trong cung. làm y sĩ trong cuộc y tế của một tỉnh khác. khi nào có việc hệ trọng. Chúng tôi lấy lại toàn lãnh thổ của tổ quốc và làm mọi việc không có điều gì nhục đến quốc thể. Ðó là chỗ chúng tôi tự hào. Anh. tiền lương quá nửa tháng cuối cùng của tôi. có thuận mới được làm. Còn những công việc chúng tôi đã làm trong mấy tháng tôi đã kể rõ ở trên. Vậy các dân làng phải sửa soạn ăn mừng độc lập.Ngay từ lúc đầu. liền nhận lời trả ngay. Hết cuộc quyên vàng đến cuộc quyên đồng. với trời mưa nước . Chúng tôi ở đấy ngày ngày nghe tiếng trống mõ của dân làng. nhưng đó là biểu hiệu quyền tự chủ của nước Việt Nam theo lời hứa hẹn của người Nhật sau cuộc đảo chính ngày mùng 9 tháng ba. nên khi ngài ở Hương Cảng có nói chuyện với một phóng viên của một tờ báo bên Pháp: Người Nhật thấy chúng tôi cương ngạnh quá. Tôi quả quyết nói: Nếu các ông không trả chúng tôi dinh ấy và các phòng làm việc của viên khâm sứ thì chúng tôi thôi ngay. Ðất khách quê người hiu quạnh buồn bã. Như thế chúng tôi có phải là một chính phủ bù nhìn. và đối với lương tâm không có gì đáng hổ thẹn.600 đồng. gặp ông Yokohama để đòi lại dinh khâm sai. vì ở ngoài phố không có nhà khác. Vì không phải chúng tôi muốn ở dinh lớn. chạy đi cầu cứu người Nhật. Tôi thấy thế. Từ đó về sau. gió mát. Nga và Tàu. cứ luồn cúi dưới quyền đàn áp của người Nhật không? Chính vua Bảo Ðại đã hiểu rõ sự ấy. trong hoàng thành. Người Nhật đã đứng vào địa vị cố vấn. khi có việc gì. Một hôm lại thấy đồn rầm lên rằng: Trong bốn nước Ðồng Minh Mỹ. khi mới lập xong nội các. mà Mỹ và Nga đã bỏ bốn phiếu. và xin để riêng mấy phòng trên lầu của phủ khâm sứ cũ cho nhân viên sở tối cao cố vấn làm việc. số bạc ấy không biết về sau ai lấy mất. nên mọi việc đều được êm ái và ổn thỏa. để tỏ cho biết chính phủ Việt Nam không phải dưới quyền sai khiến của người Nhật. đàn bà trẻ con và dân đinh vác dao vác gậy đi biểu tình. Ông Yokohama lúc đầu còn do dự và thấy những công chức Nhật muốn cản trở. Tôi bác đi. đến ở với chúng tôi hơn một tháng mới trở về Sài gòn. Ðối với dân chúng tôi đã tìm cách nâng cao dân trí lên. thành ra chúng tôi phải ở lại Huế hơn ba tháng. có một người con người bạn cũ của tôi. Nhưng ra Hà Nội con tôi lo tiền chưa được. liền bảo ông bộ trưởng y tế bắt người y sĩ ấy phải đi ngay. viện lẽ việc nội trị là việc chúng tôi. Trong khi đó tôi cho con ra Hà Nội thu xếp rồi vào đem chúng tôi ra. chỉ một mình vui với trăng. Tàu bỏ một phiếu tức là được năm phiếu cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập. hễ có việc gì. các tỉnh có những người quen thói cũ. Tôi còn nhớ. Việc ấy ở Huế ai cũng biết. Rồi sau lại thấy mở cuộc quyên vàng khắp cả nước.

rút cục tay không lại hoàn tay không. khi hứng thì đem Ðường thi ra dịch. ngồi nghe chim hót. chúng tôi mới thuê mấy chỗ trên xe hơi chở hàng đi Hà Nội. nghĩ lại thấy nực cười. may nhờ có một người đến chơi. Chờ mãi không thấy con vào. ngắm cò bay. bận rộn hơn bốn tháng trời. mà thành ra phải làm việc này đến dự định làm việc nọ. Khi ở Băng Cốc về. Ấy thế là xong một giấc mộng Nam Kha. . nhờ thế khuây khỏa được qua ngày. biết rõ tình thế của tôi. tôi vẫn định bụng không làm gì cả. tự nhiên giúp tôi món tiền.lụt.

tôi hỏi: Tàu có chạy không?. người ấy nói: Cụ cho bao nhiêu cũng được. đi nói với mấy người chở đò nên họ mới đi lấy đò và cho tàu chạy. tôi thấy gần đó có chiếc tàu con kéo phà chở xe hơi sang sông.Chương 5 Về Hà Nội Cuối tháng một dương lịch. Sau tôi mới biết người tài xế biết chúng tôi. chiều bảy giờ lên xe hơi chạy ra nghỉ ở Ðông Hà. chỉ vui với mấy quyển sách cổ và mấy người bạn cũ. định bụng mình già yếu rồi. Sáng hôm sau ra đến Nghệ. rồi hôm sau nữa mới đến Hà Nội. Chỉ có khi đến Thanh Hóa bị lính Tàu và Lính Việt Minh khám xe đâm thủng nát cái bồ đựng sách của tôi. mừng quá. Sang bên kia hỏi người lái đò lấy bao nhiêu. Tôi hỏi: Có đò nào có mui cho thuê một chiếc để đưa chúng tôi sang trước. không có gì làm nữa và cũng chẳng đi đâu cả. Chúng tôi đang lo nghĩ không biết tính sao. trưa hôm sau xe mới ra Thanh Hóa. Tôi về đến Hà Nội. Người ta nói: Tàu hết dầu xăng. gió to. Dọc đường nhờ trời được bình an. không ai ta oán gì trong khi chúng tôi vẫn làm việc. . Khi xe đến bến đò sông Gianh. thì thấy người tài xế chạy đi nói thì thầm gì với mấy người chở phà. Người ta nói chỉ có chiếc đò không mui thôi. sóng lớn. ngờ đâu tình thế phải phiêu lưu lần nữa. Khi chiếc đò chở chúng tôi ra ngoài. rồi một lát thấy chiếc đò có mui đến mời chúng tôi xuống. trò chuyện tiêu khiển. Tưởng thế là yên. thấy chiếc tàu đốt máy kéo phà đi. vào nghỉ nhà người cháu. sông rộng. Ðây là một việc tỏ ra nhân dân trung bộ đối với tôi vẫn có chút cảm tình.

Lê Văn Hiến.. Việt Minh muốn tỏ cho những người ngoại quốc biết Việt Minh không phải là cộng sản. Việt Minh đem một số người ở ngoài đảng của họ vào trong chính phủ như Nguyễn Mạnh Hà. bộ trưởng bộ thông tin tuyên truyền Dương Ðức Hiền. Song những cơ quan trọng yếu như quốc phòng. Khi ấy tôi đã về ở Hà Nội rồi. ủy viên không giữ bộ nào Võ Nguyên Giáp người Quảng Bình. tài chính.. Nói là kiêm chức phó bộ trưởng bộ quốc phòng. Cuộc tuyển cử được ấn định vào ngày 23 thán chạp. nội vụ. thường viết báo ký tên là Lâm Bá Kiệt.. tôi xin bầu người ấy. trước đã làm châu đoàn coi lính dõng. có một người của Việt Minh trông coi. bộ trưởng bộ thanh niên quốc dân Nguyễn Mạnh Hà. tức là Quảng Nam trở vào.. họ gọi hết cả đàn ông đàn bà đến bỏ phiếu. quân Anh và quân Pháp lên chiếm giữ nam bộ và các thành thị phía Nam Trung Bộ từ vĩ tuyến 16. ủy viên không giữ bộ nào Nguyễn Văn Xuân. tức là cộng sản như Võ Nguyên Giáp. Ngày 11 tháng một năm 1945 chính phủ lâm thời lại xuống lệnh giải tán đảng cộng sản Ðông Dương. rất lanh lợi và táo tợn. bộ trưởng bộ cứu tế xã hội Cù Huy Cận. đó là một việc lý thú. lẽ dĩ nhiên những người Việt Minh đưa ra được đến tám chín mươi phần trăm số người đi bầu. . cộng sản giải tán cộng sản.v. rồi cho người lên Bắc Giang đón ông Hồ Chí Minh về lập lâm thời chính phủ gồm có những người này: Hồ Chí Minh. rồi đọc những tên ấy lên và hỏi anh hay chị bầu cho aỉ Người nào vô ý nói bầu cho một người nào khác thì họ quát lên: Sao không bầu cho những người nàỷ Có phải phản đối không?. Sở dĩ chủ ý họ làm như vậy là vì lúc đó có các ủy viên của các nước Ðồng Minh đi lại trong nước. sau theo cộng sản. chủ tịch kiêm bộ ngoại giao Võ Nguyên Giáp. một tay trọng yếu trong đảng Việt Nam Cộng Sản. Ðó là một phương pháp rất mới và rất rõ để cho mọi người được dùng quyền tự do của mình lựa chọn lấy người xứng đáng ra thay mình làm việc nước. Cách cưỡng bách ra mặt như thế. sau hoãn đến ngày mồng 6 tháng giêng năm 1946. để tỏ ra là một chính phủ liên hiệp có cả các hạng người.. Ðào Trọng Kim v. Việt Minh lên cầm quyền trước hết lập ủy ban giải phóng. Trước đã sang ở bên Côn Minh. bộ trưởng bộ lao động Phạm Văn Ðồng. Nguyễn Văn Tố.. tuyên truyền đều ở tay những người chính thức Việt Minh. vì Chu Văn Tấn là người Thổ ở mạn thượng du. Mỗi chỗ để bỏ phiếu. nhưng kỳ thực là kiêm cả bộ quốc phòng. bộ trưởng bộ giáo dục Vũ Ngọc Khánh.v. bộ trưởng bộ nội vụ. thấy cuộc tuyển cử rất kỳ cục. Việt Minh đưa ra những bản kê tên những người họ đã định trước. Còn từ vĩ tuyến 16 trở ra quân Tàu đóng giữ các thành thị. bộ trưởng bộ y tế Ðào Trọng Kim. ai không biết chữ thì họ viết thay cho. bộ trưởng bộ quốc phòng Trần Huy Liệu. bấy giờ giữ chức bộ trưởng bộ nội vụ và kiêm chức phó bộ trưởng bộ quốc phòng. Phạm Văn Ðồng v. Trần Huy Liệu. nên đảng Việt Minh đưa vào giữ địa vị ở bộ quốc phòng để khuyến khích những người Thổ đã theo mình. Người kia sợ mất vía nói: Anh bảo tôi bầu cho ai. bộ trưởng bộ tư pháp Phạm Ngọc Thạch. bộ trưởng bộ quốc dân kinh tế Vũ Ðình Hòa. bộ trưởng bộ tài chánh Nguyễn Văn Tố. Chính phủ lâm thời tổ chức cuộc tổng tuyển cử để triệu tập quốc hội..Chương 6 Chính Phủ Việt Nam và Tình Thế Trong Nước Lúc bấy giờ tình thế trong nước bối rối lắm. bộ trưởng bộ giao thông Lê Văn Hiến. kiêm chức phó bộ trưởng bộ quốc phòng Chu Văn Tấn.

Ðại Việt dân chính. thì mưu mô do bọn tướng Tàu muốn làm tiền. cho Việt Nam Quốc Dân Ðảng được 50 ghế và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội được 20 ghế để hai đảng ấy tự cử người mình ra. tôi từ chối. Lúc ấy có theo quân Tàu về nước. tôi cũng biết có một hôm ông Bảo Ðại cho đi tìm người trước làm việc ở Huế. Những tướng Tàu như Lư Hán và Tiêu Văn muốn làm tiền. khó lòng biết đích xác được. cộng sản. Xã hội dân chủ đảng.. không đảng phái. làm chủ tịch Nguyễn Hải Thần. Sau chuyện ấy thấy im bẳng không ai nói đến nữa. Khi ở Hương Cảng tôi có hỏi lại việc ấy. Quốc hội này có cái đặc sắc hơn cả quốc hội của các nước trên thế giới là chỉ họp có một ngày xét qua bản lập hiến của Việt Minh đã định.. bộ trưởng bộ giáo dục Lê Văn Hiến..v. Ðoạn quốc hội giải tán. Mấy ngày trước kỳ họp quốc hội. Ðộ ấy ở Hà Nội. không đảng phái. Dân chủ đảng. Nếu quốc hội các nước mà biết làm việc lanh lẹ như thế thì đỡ được bao nhiêu thì giờ và tiền chi phí! Chính phủ liên hiệp quốc gia thành lập như sau: Hồ Chí Minh. cộng sản. Nguyễn Hải Thần. sau hình như bọn tướng Tàu ấy được số vàng lớn mới đứng ra dàn xếp. bộ trưởng bộ nội vụ Nguyễn Tường Tam. Ðến khi bọn tướng Tàu được tiền đút lót mới đứng ra dàn xếp cho xuôi chuyện. cộng sản. kể lại cho tôi nghe thái độ mấy lãnh tụ Việt Minh và Quốc Dân Ðảng hôm họp ở nhà Lư Hán để dàn xếp hai bên đoàn kết với nhau. Hôm sau cụ Hồ lại đến năn nỉ về việc ấy. Vả tôi thấy những người biết qua việc ấy đều đồng ý kiến như thế cả. Việt Minh và Quốc Dân Ðảng công kích nhau kịch liệt. Cho nên việc ấy mới im. bộ trưởng bộ ngoại giao Phan Anh. một mặt xui bọn Quốc Dân Ðảng không chịu nhượng bộ. Ðó là một việc rất bí ẩn. có Hồ Chí Minh. Theo ý tôi hiểu. Sau tôi sang Tàu gặp Nguyễn Dân Thanh là một người cách mệnh Việt Nam đã làm sĩ quan trong quân đội Tàu và đã đi lính Nhật ở mặt trận Diến Ðiện. để Việt Minh muốn im chuyện thì phải bỏ tiền ra. bộ trưởng bộ kinh tế Trương Ðình Chi. tỏ ra có ý bênh vực Việt Nam Quốc Dân Ðảng. sau họ muốn làm cho êm dư luận nên lấy thêm 70 ghế nữa. thì cụ kê cho tôi biết danh sách những người trong đảng cụ có những ai ra giúp việc. Việt Nam Cách mệnh Ðồng minh . đến bàn định cách chia các ghế bộ trưởng trong chính phủ mới. Cụ Hồ nói để ngày mai cụ sẽ đưa. phó chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng. Ông Bảo Ðại nói: Việc ấy có thật. biết rõ đầu đuôi việc ấy. đến ngày mùng 2 tháng ba thì mở cuộc họp quốc hội. đến nói rằng: việc ấy hãy hoãn lại.Trước Việt Minh đã định lấy có 300 ghế đại biểu. Nhưng đến ngày hôm sau cụ Hồ có vẻ mặt vui vẻ. Một hôm cụ Hồ có vẻ mặt lo nghĩ đến bảo tôi rằng cụ muốn để tôi đứng ra lập chính phủ. Quốc hội lại giao toàn quyền cho một ủy ban thường trực có 15 người do chính phủ đề cử. bộ trưởng bộ quốc phòng Vũ Ðình Hòe. Tôi nói: nếu cụ muốn lập chính phủ.. và thừa nhận một chính phủ liên hiệp do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Khi việc dàn xếp của các tướng Tàu xong rồi. một mặt làm ra bộ có ý ép ông Hồ Chí Minh phải lui đi để ông Bảo Ðại ra lập chính phủ. bộ trưởng bộ tư pháp Ðặng Thai Mai. bộ trưởng bộ công chánh Chu Bá Phượng. bộ trưởng bộ tài chính Trần Ðăng Khoa. Việt Nam Cách mệnh Ðồng minh hội. và để ông Nguyễn Văn Tố làm trưởng ban. họp các lãnh tụ hai đảng ở nhà Lư Hán. đến nói rằng: Ông Hồ Chí Minh nhường cho ông ra lập chính phủ. chẳng qua chỉ là sự xét đoán theo tình trạng hiện ra bên ngoài mà thôi. Dân chủ đảng. Vũ Hồng Khanh v. để cụ ở lại làm việc ít lâu nữa.

Xã hội đảng và Dân chủ đảng là những đảng phụ thuộc của Việt Minh và không có thế lực gì. người bên nọ bắt người bên kia. Vệ quốc quân và Tự vệ quân tức là công dân do các ủy ban xã. nhưng ai đã hiểu bí quyết của họ là phải đi đến chỗ độc tài. mỗi nơi đều có một nhân dân ủy ban và một chủ tịch do nhân dân ủy ban chọn lấy. chứ không thể có những người đứng ngang với mình mà hợp tác với mình được. trung bộ và nam bộ. Còn các đảng khác thì chỉ có tên nêu ra mà thôi. Khi tôi còn ở Hà Nội. có thể gọi là năm đảng nhưng chỉ có đảng Việt Minh cộng sản là có chương trình chính trị rõ ràng và có thế lực hơn cả. Bộ quốc phòng không biết rõ thực trạng quân đội của hai bên có bao nhiêu. chỉ có những người phục tùng theo mệnh lệnh của mình. quân đội vẫn không thống nhất được. Lúc ấy khẩu hiệu của chính phủ là thống nhất quân đội mà ba tháng sau khi chính phủ liên hiệp đã thành lập. bộ trưởng bộ xã hội y tế Bồ Xuân Luật. xã hay phố ở các thành thị. cộng sản. Ngồi nói chuyện. phố cắt để canh gác và giữ trật tự. Người không biết phương sách của đảng cộng sản thì lấy thế làm lạ. là bắc bộ. Việt Nam Cách mệnh Ðồng minh hội. chứ không có thực quyền làm được việc gì cả. chắc là bận việc lắm. làm phó chủ tịch. Về phương diện cai trị Việt Minh vẫn để ba khu như trước. có đến thăm tôi. Ở các tỉnh. Cụ . nhưng không có lòng thành thật.hội. nhưng không có tính cách thống nhất và không có kỷ luật chặt chẽ. nhưng thực ra bộ ấy không có quyền hành gì cả. Mỗi bộ có một nhân dân ủy ban dưới quyền một chủ tịch do chính phủ trung ương cử ra. Bởi vậy đảng Cộng sản chỉ có ba người trong chính phủ nhưng quyền bính vẫn ở cả Cộng sản. Việt Minh bắt những người Việt Nam quốc dân đảng hay những người bị tình nghi vào tra tấn cực hình. Có người giữa ban ngày đang đi giữa đường bị mấy người ở đâu đến lấy mền trùm đầu rồi bắt đi mất tích. Người một nước với nhau mà đối xử vô nhân đạo như thế. hay bao vây để tiêu diệt lực lượng của đối phương. bộ trưởng bộ canh nông Xét thành phần chính phủ liên hiệp lúc ấy. Việt Nam Quốc Dân Ðảng và Việt Nam Cách Mệnh Ðồng Minh Hội tuy có thế lực là nhờ có quân đội Tàu bênh vực. Quân Việt Minh và quân Quốc dân đảng tuy nói là đoàn kết. thành ra hai bên cứ kình địch nhau mãi. Về phương diện quân sự thì quân của Việt Minh có Giải phóng quân là quân đã được huấn luyện chính trị cộng sản. Theo chính sách của Việt Minh. tôi hỏi: Cụ nay đứng đầu một bộ rất quan trọng trong chính phủ. đem những người các đảng phái hay không đảng phái vào làm bộ trưởng là cốt làm cái bình phong che mắt người ngoài. Ở các địa phương và những nơi đô thị như Hà Nội. làm chủ tịch và Vũ Hồng Khanh. thật là thê thảm. Tuy bề ngoài nói các quân đội thuộc về bộ quốc phòng. kể cả những người không đảng phái. Ai trông thấy những cảnh tượng ấy cũng bùi ngùi tủi giận vì gà một nhà mà lại đá nhau dữ bằng mấy gà lạ. chứ không có chương trình phân minh. Việt Nam quốc dân đảng. Quân của Quốc dân đảng thì có từng khu riêng. Hải Phòng. cụ Huỳnh Thúc Kháng ra nhận chức bộ trưởng bộ nội vụ. huyện. có khi họ dùng những cách tàn nhẫn ghê gớm hơn thời Pháp và Nhật cai trị. Việc gì cũng quyết định ở quân sự ủy viên hội có Võ Nguyên Giáp. Quân Việt Minh chỉ có rình cơ hội là đánh quân Quốc dân đảng. lập ra một chính phủ. sở công an.

người Quảng Bình. Ðó mới thực là chính phủ. Xem như thế thì các ông bộ trưởng chỉ đứng để làm vị mà thôi. ông thấy có việc gì quan trọng lắm không? Ông trả lời: Tất cả giấy má trong bộ ngoại giao của cụ Hồ giao lại cho tôi. và khi có việc gì. chứ không có quyền quyết định gì cả. người Hưng Yên Nguyễn Lương Bằng. thành ra không có việc gì mấy.Những khi có hội đồng chính phủ thì bàn định những gì? . Trung Bộ Pô.Cũng chưa thấy có việc gì. người Hải Dương Bùi Lâm. và tìm cái ví đựng tiền bị kẻ cắp lấy mất. . rất bí mật. thường thì họ đem những việc họ đã làm rồi nói cho chúng tôi biết. nhất danh là Quận Thọt. nhưng đủ rõ việc các ông bộ trưởng không có gì. có những người sau đây: Hà Bá Cang. Nam Ðịnh Bùi Công Trừng. Cái thực quyên trong chính phủ lúc ấy là ở mấy người như ông Hồ Chí Minh. nhất danh là Sao Ðỏ. người làng Hành Thiện. tôi chỉ thấy có ba lá đơn của mấy người sĩ quan Tàu nhờ tìm cho mấy cái nhà. hội họp chỗ nào chẳng ai hay. Tổng bộ có ưng thuận mới được thi hành. Tổng bộ cộng sản theo người ta nói. người Nhật Những người ấy ở đâu không ai biết. Võ Nguyên Giáp và ở tổng bộ cộng sản điều khiển hết cả. thì họ làm sẵn xong cả rồi.Huỳnh nói: Bây giờ việc gì cũng do địa phương tự trị cả. người Trung Hoa Tiêu Sung. người Trung Bộ Ðặng Xuân Khu. Tôi đem những câu chuyện đó nói ra đây để chứng thực là các bộ trưởng chỉ giữ hư vị chứ không có thực quyền. tôi chỉ có vài chữ ký mà thôi. song phàm việc gì trong chính phủ cũng phải qua tổng bộ. Câu chuyện có thể là ông Tam nói khôi hài. . Có người hỏi ông Nguyễn Tường Tam rằng: Khi ông nhận chức bộ trưởng bộ ngoại giao của cụ Hồ giữ trước. một chính phủ bí mật mà có quyền thế vô hạn.

cho thiên đường không phải ở cõi trời mà chính ở cõi trần gian này. cũng chỉ là cái phương pháp dùng tạm thời trong một cơ hội nào để cho được việc mà thôi. bè bạn không có tình nghĩa gì cả. giết hại lẫn nhau. nhất thiết phải nghĩ sùng bái những người như Các Mác. để tự mình thống trị hết thiên hạ. là tà giáo. người tốt. tất không ai thờ phụng thần thánh nào khác nữa. Vì có tư tưởng như thế. là một chi cộng sản phản đối Sử Ta Lin. chứ không hoài nghi hay đi trệch ra ngoài. thì cứ tranh đấu mãi để bảo vệ quyền lợi của giai cấp ấy và xóa bỏ hết những cương giới nước nọ với nước kia để thực hiện một thế giới đại đồng. thì là người phản đạo. Sống có một đời rồi hết. nên ai nấy chỉ lo làm cho mình được mọi điều thắng lợi. Sử Ta Lin để thay những bậc thần thánh cũ đã bị truất bỏ. xã hội. Khi ở đâu sự tranh đấu cho giai cấp ấy được thắng lợi. nhưng lại áp dụng chế độ độc tài áp chế hà khốc và tàn ác hơn thời xưa. chứ mục đích cốt yếu là tranh đấu cho giai cấp vô sản. Ai tin theo đạo ấy là phải tin lý thuyết của Các Mác và Lê Nin là tuyệt đối chân chính. tức là những bậc giáo chủ. Gia đình. đem áp dụng là được sung sướng đủ mọi đường. Cộng sản giáo ngày nay thì hoàn toàn duy vật. sá chi những điều phúc họa thiện ác. lừa đảo nhau: hễ ai làm những việc mà lợi cho đảng là người giỏi. bỏ đến tận cội rễ. thì ngoài cái lý thuyết ấy ra. Vậy những tín đồ cộng sản phải là những người cuồng tín và chỉ biết có đời sống vật chất mà thôi. chỉ biết tôn trọng chủ nghĩa của cộng sản và phục tòng những người cầm quyền của đảng. Còn về đường tín ngưỡng. tất phải trừng trị rất nghiêm. Về đường thực tế. Thành ra các nước đã theo cộng sản đều phải là những nước phụ thuộc nước . Dù có nói tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc nữa. Ai không tin theo và phản đối những người đứng đầu đảng. có thiên đường là nơi cực lạc. Cái phương thuật của đảng cộng sản bên Nga không khéo chỗ ở ấy. ngoài ra không có gì nữa. nhưng còn muốn giữ tư tưởng quốc gia như nước Nam Phu Lạp Tư (Yougoslavie) bên Ðông Âu là bị trục xuất ra ngoài hội nghị của các nước cộng sản. là người mê muội. chế độ cũ đều bỏ hết. không biết có nhân nghĩa đạo đức như người ta vẫn tin tưởng. và gây ra một thứ đế quốc chủ nghĩa theo một danh hiệu khác. tức thực hiện được cảnh thiên đường ở cõi đời. tuy nói là bài trừ đế quốc chủ nghĩa và tiêu diệt những chế đô độc tài áp chế đời xưa. Người cộng sản cho cái điều đó là hủ tục của xã hội phong kiến thời xưa. Song các tôn giáo cũ nói có cõi trời. là một thứ tôn giáo mới. Cái xã hội mới ấy không tranh đấu cho quốc gia hay cho dân tộc. chủ Cộng sản Ðệ Tứ Quốc tế. theo cách tổ chức và hành động của họ. chủ Cộng sản Ðệ Tam Quốc tế. đặt ra để lừa dối dân chúng. không có sự tin tưởng nào khác nữa. ngoại giả. cho nên cha con. đặt dưới quyền chỉ huy của giáo chủ cộng sản ở bên Nga. phong tục. ai không tin là người mờ tối. là người giác ngộ. Vì vậy mới có sự tàn sát những người trong đảng cộng sản theo Trotsky. nghĩa là ngoài vật chất ra. thì đạo Cộng sản là đạo hoàn toàn duy vật. còn nước nào tuy theo chế độ cộng sản. Ðã tin mê cái đạo ấy và đã coi lý thuyết ấy là chân lý tuyệt đối. là tả đạo. giống như các tôn giáo cũ cốt lấy sự mê tín mà tin. Ai tin chỗ ấy là người sáng suốt. để thành lập xã hội mới. Lê Nin.Chương 7 Tôn Chỉ và Sự Hành Động của Cộng Sản Đảng Cộng sản đảng. nên họ tìm cách xóa bỏ hết. các đặc sắc của cộng sản là không nhận có luân thường đạo lý. Vì vậy cho nên bất kỳ nước nào đã theo cộng sản là phải phục tùng mệnh lệnh bên Nga. anh em.

chứ có hơn gì? Cứ như ý tôi. trẻ con và những người lao động là hạng người dễ khuyến dụ. bị đày v. thì cũi cũ hay cũi mới cũng vẫn là cái cũi.. Nhân dân trong nước vẫn bị đàn áp lầm than khổ sở. làm cho người ta được ung dung thư thái. thì giải phóng phải theo đúng cái lẽ công bằng. miễn làm cho người ta mắc lừa hay sợ mà theo mình là được. thế gọi là giải phóng không? Nếu cái nghĩa giải phóng là thế. Trong những lời tuyên truyền của Việt Minh. Nói thế thì uy tín của chính phủ để đâu? Cái thủ đoạn của Việt Minh là dùng mọi cách bạo ngược. và dân được tha hết các thứ thuế. không bị bắt bớ và giết hại một cách ám muội. Như thế thì giải phóng ở đâủ Giải phóng gì mà cả chính thể một nước phải nương cậy ở những đội trinh thám để đi rình mò và tố cáo hết thảy mọi người. Người nào nói xấu hay công kích những người cầm quyền của đảng là phải tội bị đày. không kiêng dè gì cả. Ai theo đảng là đắm đuối vào chủ nghĩa của đảng. Về sự hành động thì đảng cộng sản chuyên dùng những thủ đoạn quỉ quyệt. dễ lừa dối. đánh không được thì lại đoàn kết. bây giờ họ đem cái cũi kiểu mới đến bên cạnh rồi bảo người ta chạy sang cái cũi mới ấy. Nên dân gian thường có câu nói như Vẹm. Những lối họ dùng là nói dối. Dân tình thấy thế thật là ngao ngán chán nản. có người hỏi họ: Sao trước kia các ông bảo tha hết các thứ thuế rồi kia mà? Họ trả lời: Ấy trước nói tha thuế. nào là tự do. nhưng bây giờ chính phủ cần có thuế để làm mọi việc. Ngay như họ đối với Việt Nam Quốc dân đảng nay nói là đoàn kết. Người cộng sản. Thì ra trong thế gian này chẳng có gì là mới lạ. bình đẳng. Cũng vì vậy mà họ bài trừ trí thức và chỉ ưa dùng đàn bà. Theo việc làm của họ. không biết ai là bạn là thù. lại định các ngạch thuế.. Thôi thì chỗ dân gian nghe nói thế chạy ùa ùa theo. có lâm nguy nan gì thì cho là một vinh hạnh được tuẫn tử vì đảng. Sau chẳng thấy độc lập đâu cả và dân lại phải đóng góp nặng hơn trước. đọc nhanh mà thành ra. tôi vẫn chưa hiểu rõ nghĩa hai chữ ấy. oan ức. mai nói đoàn kết. đánh lừa cướp bóc. thật trái với lời nói thiên đường ở cõi trần. lừa đảo để cho được việc trong một lúc. Ðảng cộng sản đã có cái tổ chức rất đúng khoa học. nhưng chỉ ngấm ngầm trong bụng mà không dám nói ra. thành ra nhân dân trong xã hội ấy lúc nào cũng nơm nớp lo sợ. tàn nhẫn. khi đã hành động. phải chịu mọi điều phiền khổ. giết hại tàn phá. Ai không sốt sắng theo mình thì bị tình nghi. bị giết. và cũng dùng những quyền mưu quỉ quyệt để thống trị hết cả các nước. mất hẳn sinh thú ở đời. thấy luôn luôn nói nào là hạnh phúc. ai nấy biết trọng quyền lợi của mọi người theo pháp luật đã định. Khi họ đánh được thì giết phá. riêng có một số ít người có địa vị to lớn là được sung sướng. nên tuy có thắng lợi mà những người trí thức ít người theo. . Vẹm là do hai chữ Việt Minh viết tắt V M. giả dối.. mà sự thật thì trái ngược tất cả. vẫn bao vây cho tuyệt lương thực. So chế độ cộng sản ở nước Nga ngày nay có khác gì chế độ nhà Tần thời chiến quốc bên Tàủ Có khác là ở những phương tiện theo khoa học và những mánh khóe hiện thời mà thôi. hay dùng đến chữ giải phóng. rất chịu khó làm việc và có tín lực rất mạnh. Khi Việt Minh đã nắm quyền binh rồi.v. còn thì cũng tàn bạo gian trá như thế. đảng viên lại giữ kỷ luật rất nghiêm.. Ðàng này tôi thấy chế độ các nước cộng sản giống nhau như in cái chế độ chuyên chế thuở xưa. được hành động trong một cái khuôn khổ rộng rãi.Nga. không bị đàn áp và lừa dối. Xem như lúc đầu Việt Minh tuyên truyền rầm rĩ lên rằng: Nước Việt Nam đã được các nước Ðồng Minh cho hoàn toàn độc lập. Có phải trước kia có cái cũi giam người. cũng như bên Tàu ngày xưa các nước chư hầu phải phục tùng mệnh lệnh thiên tử. nhưng họ vẫn đánh úp. Hễ ai vô ý nói lỡ một câu là bị tình nghi có khi bị bắt. rồi cách ngày lại đánh phá.

chủ tịch Tưởng Giới Thạch có tiếp ông tử tế. Xem thế cũng rõ cái ý chính phủ Việt Minh là muốn đưa ông Bảo Ðại ra ngoài để họ dễ làm việc và khỏi lo ngại về việc có thể xảy ra được. nói rằng chủ tịch Tưởng Giới Thạch có điện mời ông Bảo Ðại sang Trung Hoa chơi. rồi sau lại đem ông lên Phủ Thọ Xuân. sang Hương Cảng chữa mãi không khỏi. vì ở trong nước có nhiều sự nguy hiểm cho ông. ông phải vay mà tiêu. nên bảo gì chẳng được. ông nói qua việc ấy tôi nghe. Phái đoàn ấy để ông Bảo Ðại đứng đầu. Sang đến Trùng Khánh. Song mấy người Việt Minh và Quốc dân đảng bỏ ông ở bên ấy không để tiền nong gì cho ông. Ðó là mưu sự của người. tướng Tiêu Văn cứ chạy theo cụ Nguyễn để cố mời cụ trở về Hà Nội làm việc. họ sợ để ông ở Hà Nội có xảy ra sự biến gì chăng. Họ để ông ở nhà của viên đốc lý Hà Nội ở trước. ông phó chủ tịch Nguyễn Hải Thần bỏ sang Tàu. đến cái mùng ông cũng phải đi mượn. . Việt Minh mới để ông trở về Hà Nội. ông Hồ có hứa rồi sẽ cho sang sau. Sau cuộc tổng tuyển cử vào quảng tháng giêng năm 1946. nhưng rồi cũng không cho sang. nhưng ông từ chối rồi về ở Hương Cảng. chỗ nằm ngủ. mới bày ra cách lập một phái đoàn sang Trùng Khánh tỏ tình thân thiện với nước Tàu. nhưng biết đâu lại không phải là ý trời xui khiến ra như thế. Sau chính phủ Việt Minh gửi thư sang bảo ông cứ ở bên Tàu đừng về nữa. Hôm tôi đến thăm ông lần đầu. Khi Việt Minh lập xong chính phủ do quốc hội chuẩn y rồi. để ông ra khỏi chỗ nguy hiểm ở trong nước. Còn hoàng hậu và mấy người con. Cứ như ý riêng của tôi. Hãy xem như sau khi ông Hồ đã ký hiệp ước với Pháp. thì việc ấy ông Hồ Chí Minh có thể mưu với những tướng Tàu là bọn Lư Hán và Tiêu Văn. Cơm nước thì họ cử một người hào phú trù liệu cho ông. họ thấy dân chúng và người ngoại quốc có nhiều cảm tình đối với ông Bảo Ðại và lại biết quân Pháp sắp vào Bắc Trung Bộ. Song tôi tưởng còn lâu mới đi.Chính phủ Việt Minh đối với ông Bảo Ðại rất là đơn bạc. việc lập một phái đoàn để đưa ông Bảo Ðại sang Tàu có tính cách vội vàng và bí mật lắm. nào ngờ cách bốn hôm sau tôi đến thì ông đã đi hôm trước rồi. có mời ông về đấy. Song mỗi khi ông đến chỗ dân chúng. Tôi cũng khuyên ông đi ra ngoài. có mấy người Việt Minh và mấy người Quốc dân đảng đi theo. Việt Minh thấy dân chúng kính mến ông Bảo Ðại và người ngoại quốc để ý đến ông. thành ra ông mắc phải bệnh nóng lạnh ngã nước. Lúc ấy chính phủ Trung Hoa đang dọn về Nam Kinh. Vì lúc ấy bọn tướng Tàu đã lấy tiền của ông Hồ. thì biết dù sao đi nữa. song đồ đạc không có. nhưng bề ngoài vẫn làm ra bộ thân thiện. họ bèn đem ông vào ở Sầm Sơn trong Thanh Hóa. nhân dân rất hoan nghinh và các phái viên ngoại quốc như Tàu và Mỹ rất kính trọng và thường chú ý đến ông.

Khoản thứ hai: Chính phủ Việt Nam phải lấy tình thân thiện mà đón tiếp quân đội Pháp chiếu theo những thỏa hiệp quốc tế. chính phủ Pháp mở cuộc điều đình với chính phủ Trung Hoa ở Trùng Khánh để nước Tàu rút hết quân về và để nước Pháp thu lại chính quyền. Lúc đầu mới có lâm thời chính phủ. Khi chính phủ Pháp ký kết hiệp ước với chính phủ Trung Hoa rồi. đại biểu chính phủ Việt Nam ký tờ hòa ước ngày mùng 6 tháng ba năm 1946. Ông đi với ông Nguyễn Tường Tam. có quân đội và có tài chính. mà tôi cho là cách ngoại giao của chính phủ có nhiều chỗ hớ hênh. bộ trưởng bộ ngoại giao và mấy người khác nữa. và phải gây ra một không khí hòa hảo để mở cuộc thương thuyết theo tình thân thiện và chân thật. Về mặt quân sự thì có bản phụ ước sau này. còn mọi người đứng ở ngoài. Lúc ấy người ta nói rằng chính phủ Trung Hoa có điện sang cho chính phủ Việt Minh cho đại biểu sang dự thính trong khi đàm phán. nói rằng: Chính phủ Việt Nam không cần tiền người Mỹ. Xong việc nói chuyện với chiếc tàu chiến rồi. mới trù tính đem quân ra bắc bộ. Cao cấp ủy viên nước Pháp lúc bấy giờ là hải quân trung tướng D Argenlieu có ra vịnh Hạ Long mời ông Hồ Chí Minh xuống nói chuyện. cùng ký một ngày với bản hiệp ước sơ bộ vừa nói trên: . Ông liền đến bảo ông bộ trưởng tài chính thì ông ấy chối phắt đi. chỉ có mình ông Hồ được mời vào buồng nói chuyện. Về việc hợp nhất ba kỳ thì chính phủ Pháp cam đoan thừa nhận sự quyết định của dân chúng sau cuộc trưng cầu ý kiến. Chính phủ Việt Minh làm thinh không trả lời. Xuống đến tàu. dự vào liên bang Ðông Dương và Liên Hiệp Pháp. Trước khi nước Pháp đem quân vào bắc bộ. thì phải thi hành ngay những điều đã định trong tờ hiệp ước này và mỗi bên phải tìm các phương tiện để đình hết thảy cuộc xung đột ở các nơi. Khoản thứ ba: Sau khi hai bên đã ký tên rồi. Bản hiệp ước sơ bộ có ba khoản: Khoản thứ nhất: Chính phủ nước Pháp nhận nước Việt Nam Cộng Hòa là một nước tự do có chính phủ có quốc hội. vào thay những quân Pháp đã đóng trong nước. quân đội hai bên ở đâu cứ đóng ở đấy. Cuộc thương thuyết ấy sẽ bàn về: Việc ngoại giao của nước Việt Nam với các nước ngoại quốc Quyền pháp tương lai của Ðông Dương Những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.Chương 8 Sự Giao Thiệp của Chính Phủ Việt Nam Với Nước Pháp Việc khó khăn lúc bấy giờ là việc đối phó với nước Pháp. cao cấp ủy viên ông Sainteny thay mặt để lên Hà Nội cùng với ông Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh. có người phái viên Mỹ đến bảo ông Bảo Ðại rằng: Chính phủ Việt Nam có cần tiền để kiến thiết thì người Mỹ sẵn sàng cho vay. Có bản phụ ước đính theo hiệp ước này định rõ cái thể cách về việc luân chuyển quân đội ấy.

và quân Tàu đến đóng từ vĩ tuyến 16 trở ra. Xem những bản Hiệp ước. nhưng vẫn thuộc quyền chính phủ Việt Nam. Sau Hiệp ước sơ bộ ngày mùng 6 tháng ba. Vả lại lúc ấy Việt Minh còn có cái hy vọng là đảng cộng sản Pháp sẽ thắng lợi trong cuộc tuyển cử bên Pháp. Ðó là những Hiệp ước ký ngày mùng 6 tháng ba năm 1946 của chính phủ Việt Minh do ông Hồ Chí Minh làm chủ tịch đã thỏa thuận với Pháp. hạn trong năm năm không còn quân Pháp thuộc hạng này đóng tại Việt Nam nữa. kể cả quân Pháp hiện đang đóng trong xứ từ phía bắc vĩ tuyến 16 trở ra. Hạng quân này cứ mỗi năm triệt hồi 1% (một phần trăm) và thay bằng quân Việt Nam. . khi quân Pháp đã đổ bộ. lúc ấy sẽ xoay sang với quân Pháp. rồi chờ quân Tàu rút xong. thì chẳng thấy đâu là thống nhất và đâu là hoàn toàn độc lập như Việt Minh đã tuyên truyền rầm rĩ từ lúc đầu. 15. sự đóng trại và cách dùng những quân đội ấy sẽ định sau. chỗ đồn trại phải định giới hạn rõ ràng. định các chi tiết về những điều đã nói ở bản phụ ước. Võ Nguyên Giáp. Lúc bấy giờ người Pháp gọi nước Việt Nam là kể từ trung bộ trở ra mà thôi. khi quân Pháp đã vào bắc bộ và trung bộ rồi. hoạt động rất mạnh. thống nhất hết thảy các lực lượng. khi tù binh đã đem đi hết. Họ nghĩ hãy ký với nước Pháp để tạm yên. Hết thảy những quân đội ấy thuộc dưới quyền chỉ huy của Pháp. Ký tên: Sainteny-Salan. Những toán quân phải giữ những nơi căn cứ ở Việt Nam thì đóng ở đấy. còn đất Nam Bộ thì phải đợi khi nào trưng cầu dân ý rồi mới định được.Quân đội thay thế quân đội Trung Hoa (tức là từ vĩ tuyến 16 trở ra) gồm có: 10. có đại biểu Việt Nam tham dự.000 quân Pháp.000 quân Việt Nam có sĩ quan Việt Nam chỉ huy. Tại sao chính phủ Việt Minh lại chịu ký những tờ Hiệp ước ấy? Ðó là câu hỏi ở đầu lưỡi mọi người. Quân đội ấy quê quán ở nước Pháp. ở hội đồng của Tham mưu bộ Pháp và Việt. ở trong lại có Quốc dân đảng nhờ quân Tàu binh vực. còn có hội đồng bộ tham mưu ngày mùng 3 tháng tư năm 1946. Những toán quân ấy hạn không quá sáu tháng sẽ rút về. Các ủy ban Pháp và Việt sẽ đặt trong các giai cấp để giữ cái tinh thần về sự hợp tác thân thiện trong sự liên lạc giữa quân Pháp và Việt. Việt Minh tự biết chưa có đủ thế lực chống với Pháp. sẽ trừ hết Quốc dân đảng. Những toán quân đội của Pháp đi lại luân chuyển chia làm ba hạng: Những toán quân canh giữ tù binh Nhật Bản. Chính phủ Pháp cam đoan không dùng lính Nhật Bản về việc binh bị. để tùy tư lệnh Pháp sử dụng. Hễ bên Pháp mà đảng cộng sản lên cầm quyền. trừ quân sang canh giữ tù binh Nhật Bản không kể. Những toán quân có phận sự phải hợp tác với quân Việt Nam để giữ trật tự và an ninh trong lãnh thổ Việt Nam. thì công việc bên Việt Nam sẽ giải quyết dễ dàng mau chóng hơn.

Những ủy viên trong những ủy ban ấy phần nhiều là những người vô học.. Nhưng trước khi đi đến hội nghị chính thức ấy. giết hại những người không theo đảng họ. Song vì quan điểm mỗi bên một khác thành ra hội nghị đó không có kết quả gì cả. sau sáu tháng chính phủ Việt Minh lên cầm quyền. Một đàng dân ta oán Việt Minh. ai nấy đều chán nản và lại thấy việc chính trị rối beng. người Pháp mở một hội nghị dự bị ở Ðà Lạt để đại biểu hai bên gặp nhau và biết quan điểm của nhau.Bên người Pháp thì cái kế hoạch là muốn từ từ. gồm cả Pháp và Việt để lập ra Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc và cử đại tá Nguyễn Văn Xuân làm phó chủ tịch. làm cho ai cũng uất ức tức giận. thường là thợ thuyền hay phu phen. đại tá Nguyễn Văn Xuân bỏ sang Pháp. . nhưng chỉ có hai con đường: một là chịu lép một bề. Hai bên định tháng bảy năm ấy sẽ họp hội nghị chính thức ở Fontaineblou bên Pháp để giải quyết cho xong vấn đề Pháp Việt. Ðó là cái tình thế gay go giữa nước Pháp và Việt Nam. Ai cũng tự hỏi rằng: nếu như thế này mãi. Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm được mấy tháng.. việc điều đình cứ điều đình. ông Bùi Bằng Ðoàn làm thanh tra chính trị. cái thái độ của quân Pháp lúc ấy. trước hết cắt đứt Nam Bộ ra ngoài nước Việt Nam. Vậy khởi đầu ngày 17 tháng tư đến ngày 12 tháng năm năm 1946. chính phủ phải phái binh lính sang mới được tha về. Hiệp ước mùng 6 tháng ba chỉ là một Hiệp ước sơ bộ mà thôi. Dân tình trong nước đối với chính phủ Việt Minh sau khi ký bản hiệp ước ngày mùng 6 tháng ba và sự thất bại ở Ðà Lạt. thì cho là phản động. rõ rệt là có ý khiêu khích. Người Pháp lại đem y sĩ Lê Văn Hoạch lên thay. đại biểu hai bên họp ở Ðà Lạt. thành ra người ta lại tức giận thêm. ở các nơi đều có Nhân dân Ủy ban làm việc. quân Pháp vào đóng ở Hải Phòng. để cho người Pháp điều khiển.. thì nhân dân sống làm saỏ Vậy nên mọi người đều mong có sự thay đổi để những người đứng đắn ra làm việc cho dân đỡ khổ.. việc chiến đấu cứ tiến hành dự bị. Song trong cái hoàn cảnh ấy người đứng đắn ra làm việc sao được. Vậy nên vừa ký bản Hiệp ước sơ bộ ngày mùng 6 tháng 3 thì đến ngày 26 tháng ba đã họp tư vấn hội nghị có độ mười người. đâu đâu cũng náo động cả lên. Hai là tìm cách phòng bị để chống với Pháp. mới thất vọng tự tử. hay vì tư thù hờn oán mà chém giết một cách tàn nhẫn. Hà Nội. bắt người lấy của. Ông Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng bộ nội vụ cũng phải khoanh tay ngồi nhìn. tất phải có một hội nghị chính thức giữa nước Pháp và Việt để định rõ cái địa vị của hai nước liên lạc với nhau. Lúc ấy cái nếp cai trị cũ đã bỏ hết. thấy người Pháp không cho mình được quyền tự chủ và lại bị người trong nước thóa mạ. Nam Ðịnh v. tất là rồi cũng đến chỗ tiêu diệt. một đàng sau Hiệp ước sơ bộ ký với chính phủ Việt Minh. Ai có dị nghị điều gì. là Việt gian. không có trật tự gì cả. bị bắt bớ. như thế lại trái với chủ nghĩa của họ mà dân chúng sẽ không ai theo nữa. Tuy hội nghị Ðà Lạt không có kết quả nhưng cũng làm người ta biết rõ thái độ và quan điểm của hai bên. nhưng họ phải lợi dụng hai chữ quốc gia để chống với quân địch mà đứng vào cái địa vị tranh đấu cho nền độc lập nước nhà. Thành thử lúc ấy ngoài những người cộng sản ra. rồi được thăng chức lục quân thiếu tướng.v. Bởi vậy. dù cái mục đích cốt yếu của họ không phải là vì quốc gia. nhất là ở Hà Nội và Hải Phòng tung hoành bạo ngược. Lẽ tất nhiên là họ phải đi vào con đường thứ hai. Ý người Pháp là muốn dần dần dùng vũ lực đàn áp Việt Minh để lập lại chủ nghĩa thuộc địa như trước. không ai làm gì được. sang Gia Lâm khám xét việc gì bị ủy ban nhân dân bắt. Việt Minh cũng biết rõ như thế. trước là hợp với cái lòng ái quốc của dân chúng. được khi có quyền trong tay làm điều tàn ngược. đánh đập tàn nhẫn.

Mà đi thì đi đâu? Bấy giờ tôi có biết mấy người Quốc dân đảng. bên ấy có ông Nguyễn Hải Thần. chắc không đến nỗi có chiến tranh. nhưng không ngờ mấy người lo liệu việc ấy làm lộ chuyện. Nếu cụ bằng lòng đi. thành ra không đi được. Mọi việc thu xếp đâu đấy. thì chúng tôi có thể thu xếp mọi việc cho cụ đi. nhưng tôi cũng muốn đi. Lúc ấy ông Nguyễn Hải Thần đã bỏ chính phủ Việt Minh chạy sang ở bên Tàu rồi. họ nói rằng: Chúng tôi có đủ các cơ quan làm việc bên Tàu. Tôi đem chuyện ấy nói với mấy người bạn thân. lại phải đến ở nhà một người Quốc dân đảng khác. . Ðến ngày cuối cùng. Trước tôi còn muốn đem mấy người bạn thân cùng đi với tôi. Chờ đến sáu bảy ngày mà tàu bay vẫn không có. nay nhân có ông Bảo Ðại ở bên ấy và nghe nói ông đang vận động với các nước đồng minh để củng cố địa vị nước Việt Nam. tàu bay không có. những người Quốc dân đảng đến dục tôi hãy đi trước một mình đã. Chính phủ Việt Minh cử Phạm Văn Ðồng lên thay làm chủ tịch phái đoàn. Tôi bèn quyết định đi và nhờ mấy người Quốc dân đảng thu xếp mọi việc cho tôi đi. Tôi nghĩ: ở đây rồi trong cuộc binh lửa. Phái đoàn đi thì đi. trong cuộc chiến tranh. tối hôm trước tôi tới nhà một người Quốc dân đảng. Việc đi như thế là phải giữ kín. thì được tin phi công bên Tàu đình công. rồi từ đó đi thẳng sang Nam Ninh. may ra có ích lợi cho nước. Bấy giờ là cuối tháng 5 năm 1946. sáng hôm sau đi lên phi trường bay Gia Lâm. Hay là chúng tôi lấy xe hơi đưa cụ đi đường bộ lên Lạng Sơn. dù sao Việt Minh cũng phải nhượng bộ. và muốn ra ngoài xem những công việc của các nhà cách mạng xưa nay tuyên truyền rầm rĩ. biết là thế nào cũng có xung đột lớn. cũng sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau để giải quyết vấn đề Việt Nam.Chương 9 Đi Sang Tàu Hà Nội. Vậy để tôi nghĩ xem thế nào. Vì vậy mà Việt Minh để ý đến tôi và cho người rình mò ở gần nhà tôi. quân Tàu đã rút về gần hết. chờ chuyến tàu bay sau. ngọc đá đều tan thì ở sao được. Cụ nên sang bên ấy rồi cùng ông Bảo Ðại làm việc. rồi tôi trả lời. tôi trông thấy cách hành động của người Pháp và của Việt Minh. rồi những người khác sẽ đi sau. Lúc ấy ông Hồ Chí Minh sửa soạn sang Pháp và cử một phái đoàn có ông Nguyễn Tường Tam. ai biết là ai. ông Nguyễn Tường Tam cáo bệnh ở lại và xin từ chức. Một bên Việt Minh. bộ trưởng bộ ngoại giao. Tôi thấy những người bên Tàu về nói lại là họ có các cơ quan tổ chức chu đáo ở bên ấy và họ muốn giúp đỡ tôi. người thì bảo nên đi. nếu không cũng là một dịp cho ta ra khỏi cái hoàn cảnh nguy hiểm này. Họ cử một người y sĩ là ông Nguyễn Văn Mão đi với tôi. người lại bảo đi chẳng ích gì. Tôi trở về nhà không tiện. Song tôi thấy cái không khí không sao tránh khỏi sự chiến tranh được. nhưng không ai chắc đã thành công được. sẽ trù liệu mọi việc cho cụ đi Nam Kinh gặp ông Bảo Ðại. nếu có thật mà làm được việc gì càng hay. một bên quân Pháp. đến ngày mai đi. Mấy người Quốc dân đảng đến bảo tôi rằng: Cụ đã định đi mà chùng chình mãi không nên. nên tôi đã có cái hứng thú muốn đi. Tôi nói: Bây giờ tôi già rồi và lại có bệnh tật chẳng làm gì được nữa. để tránh cái họa binh lửa sắp đến đây. lấy vé tàu bay sang Côn Minh rồi lên Trùng Khánh.

Mới nói được vài câu. cho một người trung hiệu Tàu làm thông ngôn đưa chúng tôi đi. Ông Mão cũng đem đi độ bốn năm ngàn. Cả đội quân ấy độ vài trăm người có đủ súng ống. Những người trong đám Phục quốc quân ở Lạng Sơn vì không có lương thực cũng tìm cách lấy tiền chi dụng cho qua ngày. Thành Lạng Sơn bấy giờ thuộc quyền đội quân phục quốc đóng giữ mà chung quanh thì bị quân Việt Minh bao vây. không đến nỗi rời rạc như mọi người đã trông thấy. về cũng dở. Tất cả đổi ra được hơn tám vạn quan kim tiền Tàu. mười ngày. nói chuyện với ông Nguyễn Hải Thần thì thấy ông là một người lão thực. nhưng không hòa hợp với các đội quân khác của Quốc dân đảng.500 bạc quan kim lên Ðồng Ðăng. vì lúc ấy mọi người đều yên chí ông Bảo Ðại đã ở Nam Kinh rồi. Tôi bảo phải trù liệu cho tôi 120. tôi mới thuận. đến ngày mùng 6 tháng sáu mới đi Lạng Sơn. Trước khi đi. Người sĩ quan Tàu gặp đoàn sáu chiếc xe vận tải của quân đội Tàu. Ông có tiếng là người làm cách mệnh đã lâu năm. bảo rằng: Sang bên Tàu đã có trụ sở cung cấp đủ cả. không phải lo ngại gì. Lúc đi các bạn đưa cho tôi một vạn bạc Ðông Dương để làm lộ phí. nghe nói ông Nguyễn Hải Thần ở Nam Kinh đã trở về đấy. Họ liền đi điều đình với quân đội Tàu. Ðội quân phục quốc do một người thổ hào tên là Nông Quốc Long cai quản. Từ trước tôi chưa gặp ông ấy bao giờ. tôi muốn gặp ông và rủ ông đi lên Nam Kinh để gặp ông Bảo Ðại. Ðến Ðồng Ðăng. ông hẹn sẽ cho xe đến đón chúng tôi đến Ðồng Ðăng để nói chuyện cho tiện. Ông lại nói: Vả tôi còn phải điện lên Nam Kinh để lấy xe hơi về đón chúng ta lên. người sĩ quan và người thông ngôn đi với chúng tôi ở lại chờ một xe cam nhong sắp đến. đi cũng dở. Còn bọn ông Vũ Kim Thành. Tôi biết những người ấy không làm nỗi việc gì. Chúng tôi lên đến Lạng Sơn. chỉ biết ông và những người Quốc dân đảng khác theo quân Tàu về nước. Sáng hôm sau ông Nguyễn Hải Thần đến thăm tôi ở khách sạn. Chúng tôi chờ đến 2 giờ chiều không thấy xe đến. Tôi tìm cách gặp ông ấy. sau là để khi làm việc gì. tô. nhưng có những người đi theo ông Nguyễn Hải Thần ở bên Tàu đã lâu quen biết nhiều người Tàu. Chờ ở phủ Lạng Thượng mất ba ngày ở khách sạn. Chúng tôi đi từ Ðồng . Nghiêm Xuân Việt đi mấy cái xe cam nhong đi trước. mà tinh thần kém cỏi lắm rồi. mới điều đình với quản đoàn xe ấy. có tổ chức chắc chắn. không thấy tin Hà Nội lên mà cũng không thấy xe ở Nam Kinh xuống đón. Vậy ta hãy chờ xem họ trả lời thế nào.000 đồng để tôi lập một đoàn đại biểu 9 người cùng đi với tôi. phải cho xe trở lại. Ông ưng thuận nhưng lại nói rằng: Mấy hôm trước có người Quốc dân đảng lên bàn với tôi về việc ấy. mà công việc làm cũng chẳng thấy gì xuất sắc lắm. sau thấy mấy người nói mãi. bốn người chúng tôi lên chiếc xe hơi của Quốc dân đảng đi đến phủ Lạng Thượng thì xe hỏng. nghĩa là mất hơn 300 bạc Ðông Dương mà chỉ có 15 cây số. Chúng tôi ở lại Ðồng Ðăng chờ đến chín. Ngồi nói chuyện qua loa rồi hẹn đến hôm sau sẽ nói chuyện dài. Trước là để tụ họp hết các đảng phái làm một cho có tính cách duy nhất trong việc hành động. Sáng sớm ngày 17 tháng sáu mới lên đường. rồi cùng đi một thể. cho tôi đi nhờ lên Lạng Sơn. Hương Ký. tuyên truyền huyên thuyên mà không thấy làm được việc gì ra trò. Tôi ngỏ lời rủ ông đi Nam Kinh. Tôi gặp ông Nguyễn Hải Thần ở Lạng Sơn cùng với Vũ Kim Thành và mấy người khác nữa. nhưng phải đợi chữa xong xe mới lên được. Sau cùng ông Nguyễn Hải Thần phải đi điều đình với người sĩ quan coi việc vận tải của quân đội Tàu để đi nhờ xe của họ. Người sĩ quan Tàu để ông Nguyễn. Chiều hôm mùng 2 tháng sáu năm 1946. chúng tôi thuê xe hàng mất 1. để ông Mão .Bấy giờ tôi rất phân vân. thì tướng Tiêu Văn cho người đến mời ông đi. và cháu ông Nguyễn cùng ngồi với y trên cái xe jeep.

Sán ngày 27 đến Nhung Hí rồi xuống đò đi đến Ngô Châu. tức là đến chiều tối ngày 18 mới tới nơi. rồi sau đứng chỉ huy quân Cần Vương chống với quân Pháp ở Bãi Sậy. thì ra Hương Cảng đi tàu thủy lên Thượng Hải. Ði lối Côn Minh rất khó và có nhiều trộm cướp. Ông trước làm Tán tương quân vụ cuối đời Tự Ðức. giá thuê phòng là 7000 bạc quốc tệ Tàu một ngày. Sáng ngày mùng 9 đến nơi. ông không đi Quảng Châu được. sau họ giao lại cho quân Pháp. chúng tôi đi rồi không thấy xe cam nhong đã hẹn đến. may là thoát khỏi. ông Nguyễn Hải Thần còn đến bàn tính cách đi. Sáng ngày 24. Tôi bàn riêng với ông đi lên Nam Kinh với tôi. chúng tôi đỡ nhiều nỗi khó khăn. phải ngủ ở cái quán dọc đường. tôi có dịp biết cả ông Nguyễn Thiện Thuật ở gần Nam Kinh. hoặc là trước ông có ý định đi. Ðến 5 giờ chiều tàu mới chạy và đến 10 giờ sáng hôm sau mới tới nơi. nhờ người bạn dọc đường chỉ dẫn cho mới thuê được cái phòng ở khách sạn Ðại Ấn đường Thái Bình Lộ. Trước sau ông Nguyễn Hải Thần vẫn nói là cùng đi với chúng tôi. bọn ông Mão phải thuê xe khác mà đi. chúng tôi lên xe hơi chở hành khách đi đến chiều tối tới Quí Huyện. nhưng đến 6 giờ chiều ông đến khách sạn nói rằng: Ngày mai tôi sẽ đưa cụ ra Quảng Châu rồi sẽ thu xếp cho cụ đi Nam Kinh. Nhờ có người bạn ngẫu nhiên gặp đó. Tôi biết ý ông Nguyễn Hải Thần không muốn đi với tôi. Bấy giờ tôi bàn với ông Nguyễn Hải Thần xem đi Nam Kinh thì đi đường nào tiện hơn. nhưng sau ông bị bọn người Tàu muốn giữ ông lại để lợi dụng sang cướp phá bên biên giới. Khi đi trên tàu.Ðăng đến Nam Kinh chỉ độ hơn 200 cây số mà phải mất hai ngày. Ngày mùng 7. Nếu không có tàu bay. tôi thường nói chuyện với ông Vũ Kim Thành. Ðến Nam Kinh tôi vào ở khách sạn. Ðến nơi xuống thẳng tàu thủy đi Quảng Châu. tàu bay không lấy được. ông lại bảo tôi ông có việc đi gấp. vì đến Nam Kinh người sĩ quan Tàu và người thông ngôn ở lại. thấy ông là người chơn thực và lại nói thạo tiếng Quảng Ðông. Chúng tôi nhất định đến ngày 24 tháng sáu khởi hành. người ấy vui lòng nhập bọn với chúng tôi để chỉ dẫn đường lối. tàu vào đậu ở cửa sông Hàng Phố. Chúng tôi lên bờ. Chẳng may lúc ấy những người quen với Vũ Kim Thành đi vắng cả. chúng tôi định đi Hương Cảng. Ðến 11 giờ đêm. chúng tôi gặp một người hạ sĩ quan Tàu từ Nam Kinh về Quảng Châu rồi trở lên. Hỏi ra mới biết ra mới biết rằng cả ngày 17. nhưng vì gặp mưa to và đường xấu. lối Liễu Châu rồi cũng không có tàu bay. Sáng ngày 26 thuê cái xe con đi Nhung Hí. để cho Vũ Kim Thành đưa chúng tôi đi. Vào khách sạn rồi Vũ Kim Thành đi tìm người quen để tính việc đi Nam Kinh. Vũ Kim Thành bằng lòng. Mấy hôm tôi ở Ðồng Ðăng và ở Nam Kinh. Dọc đường ông Mão gặp mấy cái nạn rất nguy hiểm. Chờ hôm sau cũng không thấy. Trong khi chờ đợi mấy người kia. đến chiều xe lửa đi Nam Kinh. Sáng ngày 23. tàu vào Thượng Hải. Tôi còn phải trở về trù tính việc đánh lấy lại thành Lạng Sơn đã vào tay Việt Minh rồi. Rồi đến ngày mùng 4 xuống chiếc tàu của người Trung Hoa đi Thượng Hải. đem đồ hành lý ra gửi ở nhà trạm xe lửa. Sáng ngày mùng 8. rồi đi ăn cơm. Ngày 11 tôi cùng Vũ Kim . chờ ông Mão mất hai ngày mới thấy ông và hai người kia đến.

không mấy cái còn nguyên vẹn. nhà minh lúc đó mới dựng nghiệp cũng lập kinh đô ở đó và xây thành bao bọc chung quanh dài đến hơn 30 cây số. Cách chỗ ấy độ vài ba cây số.Nghe nói ông ấy đi từ Trùng Khánh đến Hương Cảng. May nhờ có ông Ngô Thiết Thành cho người đưa giúp cho 500. Trong thành có sông có núi. vì là một thành đã từng đặt làm kinh đô trong thời Lục Triều. người ta đi du ngoạn rất tấp nập. . người ta nói khi xưa đó là cái cầu trong các cung điện. Song sự sinh hoạt và buôn bán không được náo nhiệt như ở Thượng Hải hay ở Quảng Châu. Ðường đi rất sạch sẽ và ở chỗ gần lăng người ta trồng rất nhiều cây thông.Thành đến Hải ngoại bộ hỏi thăm tin tức ông Bảo Ðại. Phía nam sông Tần Hoài có một nhánh từ thành chảy ra. tức là Ngô. làm ở chân núi trong một khoảng đất rộng lớn. Lăng ở trên núi. Những bậc thang lên lăng làm rất rộng lớn và khi đến trên lăng trông xuống phong cảnh rất vĩ đại.000 bạc Ðông Dương) mới có tiền ở chờ tin ông Bảo Ðại. chỉ thấy chỗ hoàng thành cũ còn một mẩu đá hình rồng. Sông Tần Hoài chảy từ phía nam thành rồi vòng qua phía tây trước khi chảy vào Trường Giang. Lưu Vũ Tích và Ðỗ Mục nói trong thơ văn là Phượng Hoàng Ðài. thì Lưu Bá Ðạt và Lưu Ðức Trung ở Thượng Hải. Phía hữu ngạn nhánh sông ấy có những phố xá cũ đông đúc và dưới sông có nhiều thuyền chơi để những khách làng chơi đến đêm đem những ca kỷ xuống hát xướng chơi bời. Tôi bảo Vũ Kim Thành thảo ngay bức điện tín đưa cho người thư ký ở tổng bộ Quốc dân đảng gửi đi. làm theo kiểu mới có vẻ tráng lệ lắm. Tôi liền điện đi Thượng Hải mời Lưu Ðức Trung lên để bàn tính mọi việc. Còn các dinh thự và phố xá ở một khu cũng khá rộng. Ðến lúc tôi sang đến nơi. nói rằng: Ông Bảo Ðại không có ở Nam Kinh. Tôi hỏi: . phía đông bắc ngoài thành có cái hồ Huyền Vỏ là một nơi đến mùa nực. Tề. Những tượng người cùng voi ngựa và lạc đà bằng đá ở xa xa mé ngoài cũng đã sứt mẻ. Trần (222-420) rồi đến khoảng đầu thế kỷ XIV. tôi có gặp ông Lưu Bá Ðạt.Hiện nay ông Bảo Ðại ở đâu? . sự kiến trúc cũ kỹ và có phần đã đổ nát. Ngày 12. Lương. Nam Kinh lúc đó chẳng có một người Việt Nam nào khác. Gặp ông bộ trưởng ấy là Trần Khánh Vân. là người Việt Nam sang bên Tàu đã lâu và cố mời tôi sang với ông Bảo Ðại đã về Nam Kinh và đã có cơ sở làm việc. Bạch Lộ Châu. hỏi ra. chúng tôi đến gặp ông Ngô nói chuyện được ông cho biết ý chính phủ Tàu muốn ông Bảo Ðại đến Nam Kinh. Thành Nam Kinh là một nơi thắng cảnh bên Tàu. Tổng bộ Quốc dân đảng Tàu có cho người đem xe đến đưa chúng tôi đi xem lăng Tôn Dật Tiên ở cách thành Nam Kinh độ 10 cây số. Ông có thể làm bức điện mời ông ấy về đây. Thạch Ðầu. Việc ấy phải sang hỏi ông Bí thư trưởng Quốc dâng đảng là ông Ngô Thiết Thành. song những cung điện cũ chẳng còn gì cả. thì chẳng có gì cả. Tấn. Sau khi chúng tôi đến Nam Kinh được mấy ngày.000 bạc quốc tệ Tàu (5. để tôi gửi đi ngay thì chóng hơn. Ô Ly Hạng. có nhiều chỗ là ruộng đất. thì nay chỉ còn tên không. chứ không có di tích gì nữa. Trước kia ở Hà Nội. Những nơi cổ tích mà những thi nhân đời Ðường như Lý Thái Bạch. Thành ấy đến nay hãy còn nguyên. có lăng vua Minh thái tổ. Thế là bao nhiêu sự mong mỏi trong khi đi khó nhọc vất vả dọc đường đến đó là tiêu tan tất cả. Tống.

Sáng hôm sau đến nơi. có những người Quốc dân đảng đã hứa sẽ tìm cách đưa gia quyến tôi sang Tàu. cứ đi thẳng lên Thượng Hải. ra Hải Phòng đi tàu thủy tới Hương Cảng. Hai hôm sau ông Lưu trở về Thượng Hải. Người ấy gặp chúng tôi mừng rỡ lắm. Hà Nội. ấy là không may mà lại hóa may. Chiều ngày 30 tháng bảy hồi 4 giờ chiều chúng tôi đi xe lửa qua Thượng Hải. Ông Lưu đi lấy buồng ở khách sạn Tân An thuộc con đường Trung Sơn Bắc Bộ. giá vé tàu bay phải trả gấp đôi. Tôi đến trung ương đảng bộ Tàu nói giúp tiền cho tôi đi Hương Cảng để gặp ông Bảo Ðại. chúng tôi đến khách sạn chỗ Lưu Ðức Trung ở. Tôi biết cái ý của người Tàu.000. một mình tôi còn chưa biết xoay xở ra sao để sống được. và Thường sắp đến Nam Kinh vào quãng ngày 20 tháng bảy. Trong bọn đó có con Hương Ký về Hà Nội. sau thấy tôi mắc bệnh đau bụng. rộng rãi và mát mẻ hơn. mà tiền chúng tôi chỉ còn hơn triệu bạc quốc tệ. Song ông Bảo Ðại thấy rõ tình thế nước Tầu. gặp được người xứ sở thật là quý hóa. gặp nhau mừng rỡ quá. Lưu Ðức Trung và Trần Quang Tuyên ở Thượng Hải lên. để ông Trần Văn Tuyên ở lại với chúng tôi và nói mấy ngày nữa có bốn người ở Trùng Khánh là Ðinh Xuân Quảng. Nhờ có giấy của trung ương đảng bộ giới thiệu. nên việc lấy vé tàu bay cũng nhanh chóng.000 bạc quốc tệ. rồi nếu thuận tiện. chứ không có một chút gì gọi là có tổ chức. mà tôi không biết. nói rằng: Tôi không có tiền lên Nam Kinh được. thì vợ con tôi đi đường bộ không được.000 bạc quốc tệ (một vạn bạc Ðông Dương) và tặng tôi thêm 500. Sau nhân có bọn Hương Ký mà mấy người nữa chạy từ Móng Cái qua đất Tàu. nơi xa lạ. để ở tạm vùng biên giới ít lâu. cùng ở một khách sạn với chúng tôi. Lúc ấy tôi xem lại cái ý những người trong chính phủ Tàu muốn ông Bảo Ðại cùng ít yếu nhân Việt Nam sang lập một chính phủ Lưu Vong ở Nam Kinh. chưa biết tính thế nào mà báo cho vợ con biết để đừng đi nữa. tôi sẽ mời ông ấy đến Nam Kinh. Thành ra khi tôi đang ở Nam Kinh. tôi biết thế nào rồi Việt Minh và Pháp cũng đánh nhau. theo lời những người Quốc dân đảng nói thì ở biên giới Tàu có các tổ chức sẵn sàng của họ. chờ cho yên ổn rồi hãy về. Tôi lên đến Ðồng Ðăng tôi biết là nhỡ việc rồi. mỗi người phải trả 270. nhưng từ đầu thánh tám trở đi. tôi chắc là không đi được. chính là lúc gia quyến tôi và ông Bảo Ðại đã ở Hương Cảng rồi. có người bí thư của trung ương đảng bộ Quốc dân đảng Tàu đem cái điện tín của ông Bảo Ðại gửi cho tôi. Chiều ngày 14 tháng bảy. Trong cái tình cảnh eo hẹp này. tôi viết mấy chữ nhờ đưa cho nhà tôi. Ðược tin ấy tôi giật mình. Vả lúc tôi đi con tôi còn đau nặng. bảo đừng đi đâu cả. nói là người ở phố hàng Nón. cho nên ông không đi qua Nam Kinh mà bỏ về Hương Cảng. nay lại cả gia quyến cùng ra nữa thì làm thế nào? Thật là lo quá. Khi tôi đi qua Hương Cảng vào ngày mồng 4 tháng bảy. Chúng tôi ở Nam Kinh đến ngày 28 tháng bảy.Lúc chúng tôi chờ tin Lưu Ðức Trung chúng tôi ngẫu nhiên gặp một người đàn bà Việt Nam lấy một người Thượng hiệu Tàu. Quốc dân đảng Tàu cho tôi vay 1.000 bạc (5000) để làm lộ phí. mới trở về Tàu được vài tháng và cùng ở chung một khách sạn. Ðặng Văn Sung. Nhưng người con Hương Ký về lại không đưa cái giấy ấy. gia quyến của cụ cũng ở Hương Cảng. nên tôi có dặn nhà tôi và con tôi rằng: hễ tôi đi rồi. Tôi nói tình hình cho ông Lưu nghe và nhờ đi lấy vé tàu bay. Vì lúc ấy. rồi lên Nam Kinh mà trở về Ðồng Ðăng. Trước khi sang Tàu. Ai nấy đều ngong ngóng được tin ông Bảo Ðại. Hai người vợ chồng ấy thường đi lại nói chuyện. Phan Huy Ðàn. . Trước chúng tôi định lấy vé tàu bay đi cả ba người. chứ đi đường bộ thì không biết chết sống thế nào. lại ngày ngày nấu cháo và làm cơm cho chúng tôi ăn. Mấy người ấy đến. Ngờ đâu là một chuyện vu vơ.

mỗi ngày là 15 dollars Hương Cảng. đưa chúng tôi đến khách sạn ông Bảo Ðại và gia quyến tôi ở. Nhà thuê không được. còn tiền ăn không kể. người cầm lái là người Mỹ.v. Ấy là câu chuyện nói đầu tháng 8 năm 1946 mà sau hóa ra đúng thật. đã thạo việc. Chúng tôi bàn định nếu ở bên Việt Nam Quốc dâng đảng có tiếp tế sang được. Tôi cùng gia quyến ở tạm khách sạn.Tôi bảo lấy hai vé để Vũ Kim Thành đi với tôi. Vậy chúng ta cứ đứng ở ngoài chờ xem tình thế biến đổi ra sao sẽ liệu. phải quay về Thượng Hải nhưng không ai biết. tôi cũng nghĩ ông trở về là phải.. biết máy hỏng mà quay trở lại ngay. nhưng sự thực thì họ không thể giúp ta được việc gì ra trò đâu. Ông Mão đòi về Hà Nội. nhưng vì tình thế bắt buộc không làm sao được.. ít ra là bảy tám chục dollars nữa.. Vợ con có gì bán đi để tiêu dùng. Khi trở về tới nơi mới có giấy báo tàu bay hỏng phải quay trở lại. bọn ông Mão. 6 giờ lại ra trường bay đi Hương Cảng.Ngài không về ở Nam Kinh là phải lắm. ông dọn đến ở đấy. Tuy bề ngoài thì họ đối đãi tử tế và nói những chuyện giúp đỡ nọ kia. Viên thư ký Quốc dân đảng hết lòng tử tế. sao lại trở về. vì đã thấy tàu bay rồi. họ làm thế nào mà giúp chúng ta. vì xem tình thế nước Tàu đang có nạn cộng sản. chính phủ Tàu còn gỡ không ra. Ông Bảo Ðại ở khách sạn được 10 hôm sau khi tôi đến gặp ông. tức là mỗi ngày phải tiêu đến 30 dollars. Song đó là những điều dự đoán như vậy mà thôi. Ai cũng lấy làm lạ. Tin tức ở trong nước đợi mãi chẳng thấy gì cả. Ðến 10 giờ hơn chúng tôi phải quay trở lại nhà khách sạn. Tôi đi tìm nhà thuê không được. Ðến 1 giờ trưa đến nơi. công việc con đi làm cũng không có. 8 giờ tàu bay cất cánh. thì vào cả Quảng Châu lập một cơ sở rồi tụ tập hết thảy những thanh niên chạy sang Tàu. . rồi ông nhờ một người Tàu thuê cho ông một căn nhà gần trường đua ngựa. Hôm sau tôi gặp ông Bảo Ðại. Ðến đó gặp vợ con rất là mừng rỡ. Sau thấy ông Ðỗ Ðình Ðạo ra Hương Cảng cũng ra tay không.. Ông Mão tỏ ý không bằng lòng. giá mỗi dollars lúc ấy là 7 đồng Ðông Dương. Một căn nhà rất nhỏ hẹp ở chung với một gia đình người Tàu mà cũng phải trả bảy tám chục dollars một tháng. Tôi thấy ông chán nản lắm rồi. còn ông Mão thì bảo ông chịu khó đi tàu thủy với bọn ông Thường. Lo về nỗi làm thế nào mà sống ở cái xứ sinh hoạt đắt gấp mười lần bên nước nhà. Sáng ngày mùng một tháng tám. và để cho con đi kiếm việc làm. nhưng cái mừng lúc ấy chỉ có được một lát thôi. Sung và ông Thường về Thượng Hải. bay được một giờ tự nhiên nghe một tiếng nổ. Ông lại nói thêm: Chưa biết chừng bọn Tưởng Giới Thạch cũng phải cuốn gói chạy ngày nào đấy. Tôi đem tình thực trình bày rằng: . ông Bảo Ðại cũng đồng ý như vậy. ai làm nghề gì thì tìm việc cho làm. Ngày ngày đi tìm thuê một gian nhà ở. Ðem hành lý vào để nhà khách sạn rồi tôi cùng Vũ Kim Thành đến Quốc dân đảng bộ hỏi thăm chỗ ông Bảo Ðại ở. vì cái lo đến ngay. trăm việc phải có tiền mới làm được. và thu xếp cho ai đi học thì đi học. Ấy là không kể lúc đến thuê phải trả một thứ tiền gọi là tiền trả cho người có nhà. Sáng hôm sau. nếu không mà cứ đi thì có lẽ chết cả. nhưng tàu vẫn bay. Cách ba hôm sau. thành ra ai cũng ngong ngóng tưởng đợi có tiền đưa ra thì khởi đầu tổ chức mọi việc. lời đầu tiên ông nói: Chúng mình già trẻ mắc lừa bọn du côn. Làm thế nào? Ðặng Văn Sung và Vũ Kim Thành vào Quảng Châu để tìm việc làm. chỉ thay đổi phương hướng. Ấy cũng là may. Thì ra tàu bay hỏng. còn ai làm nghề buôn bán thì lo việc buôn bán v. Vũ Kim Thành và tôi lên tàu bay.

tôi nói: Tôi xem nước Tàu không giúp ta về đường thực tế và ngoại giao đâu. Song chủ nhà giao hẹn chỉ được ở ba tháng thì phải trả lại cho người thuê cũ. Ngồi nói chuyện với ông Nguyễn Hải Thần. lúc ấy tính vào khoảng hơn ba vạn bạc Ðông Dương. dân cư trù mật. Ông Sung may khỏi chết đuối.làm mọi điều khó dễ. Rồi sau lại có ông Ðỗ Ðình Ðạo ở Hương Cảng cũng vào ở với chúng tôi. Nhưng nếu cụ đã định đi. Lúc ấy ông Bảo Ðại ở cái nhà mới thuê không tiện. Phố xá có nơi đường phố sạch sẽ. mong lấy được tiền để đem ra làm những việc đã định. Cách ít lâu nghe tin ông Nguyễn Tường Tam ở Côn Minh đã lên Nam Kinh. con cháu thành ra người Tàu cả. nhà cửa rộng lớn. cơm gạo còn rẻ hơn. Tôi đem việc ấy bàn với Ðặng Văn Sung và Vũ Kim Thành. Hôm 19 tháng tám. chiếc tàu ấy chở đồ nặng quá. nhưng có nhiều nơi đường xá còn giữ nguyên vẻ cũ. có nhà buôn bán xuất nhập cảng ở Hà Nội và Hải Phòng.Sau thấy Vũ Kim Thành và Ðặng Văn Sung ở Quảng Châu ra bảo tôi vào để gặp tướng Trương Phát Khuê là chủ nhiệm quân sự cả vùng Quảng Ðông và Quảng Tây để xem có thể thực hiện được cái chương trình của chúng tôi đã dự định không. hai người đều đồng ý kiến như vậy.000 bạc quốc tệ (120 dollars) tiền trà và mỗi tháng trả tiền thuê nhà là 60. Ðến cuối tháng 10 năm 1946. thì đi làm thông ngôn cho tôi. gần Sa Diện. Khi ấy ở Hương Cảng tôi có biết một người Trung Hoa họ Lý. ông để cái nhà ấy cho tôi ở. nhờ người họ Từ thuê cho được cái nhà ở khu Hoàng Xá. Ông lại bảo tôi nên vào gặp tướng Trương Phát Khuê. tôi vào Quảng Châu lại bị tướng Tiêu Văn ở bên Việt Nam trước. Con tôi vẫn không tìm được việc làm. buôn bán phồn thịnh. Trước khi đi Vũ Kim Thành đưa Nguyễn Dân Thanh đã nói ở trên đến ở với tôi để giúp tôi trong khi có giao thiệp với người Tàu và khi tôi có đi đâu.000 dollars. Tình thế rất bối rối. Tôi vào gặp ông. mới biết ý ông muốn lên Nam Kinh. rồi lại thấy ông Nguyễn Hải Thần cũng ra Quảng Châu và cho người mời tôi ra nói chuyện. chỉ phải trả mỗi tháng 120 dollars mà không mất tiền trà. ra khỏi Hương Cảng được ít lâu thì tàu đắm. Tìm đâu cũng không thuê được nhà khác. Giữa đường cứ cách độ trăm thước tây lại có một khải hoàn môn bằng đá đục chạm theo . Nhờ có món tiền ấy tôi mới duy trì được mấy tháng. mất 120. Ðặng Văn Sung định tìm cách về nước xem thế nào. chúng tôi đến Quảng Châu.000 quốc tệ (60 dollars). cụ đi vô ích. Khi ông chạy sang Tàu đến cư trú ở vùng Nam Hùng phía bắc tỉnh Quảng Ðông. Tôi trở về Hương Cảng. Tôi vào Quảng Châu lần này. thành ra tôi lại phải trở ra Hương Cảng không gặp họ Trương. và mất ở đấy. chi bằng dọn vào Quảng Châu ở. Lúc ấy quốc hội Trung Hoa sắp họp để chuẩn bị hiếp pháp mới. lại trở về quần áo mất sạch. Ông Nguyễn nhận lời làm việc ấy. quanh quẩn đã sắp hết hạn ba tháng thuê nhà. thì nên xin chính phủ Tàu cho chúng ta một cơ sở ở Quảng Châu để tụ tập các thanh niên Việt Nam chạy sang đây được ở với nhau và nuôi nhau cho khỏi đói khổ. Ðến khi đi chiếc tàu con của người Tàu Bắc Hải. có giúp tôi hai lần. Sau tôi nghĩ ở Hương Cảng ăn tiêu đắt quá mà nhà không thuê được. mỗi lần 2. Quảng Châu là một thành thị lớn lao vào hạng nhì hạng ba ở nước Tàu. cốt để tìm cách liên lạc với các bạn trong nước. có gặp một người đàn bà nói là cháu ông Tôn Thất Thuyết. Tôi về Quảng Châu ở mấy hôm thì Ðặng Văn Sung và Vũ Kim Thành đi Nam Kinh rồi về Ðông Hưng bên Móng Cáy.

chung quanh có con sông nhỏ bao bọc. Người Tàu thường ưa ở những cái buồng nhỏ hẹp. Xem cách làm nhà cửa và những nghệ thuật về đường trang sức của người Tàu hình như nó phản chiếu cái hình tượng của nước Tàu. thì sự sinh hoạt rất náo nhiệt nhưng xét kỹ ra thì còn kém về đường tổ chức. cây cối sầm uất. Nay hàng năm đến ngày 29 tháng ba dương lịch có lễ kỷ niệm những liệt sĩ ấy ở đó. Người Tàu đem chôn ở chỗ bây giờ. sáng dậy người ta cho một chậu nước rửa mặt. Những người ở thôn quê thì làm ruộng làm vườn rất chăm chỉ. Người ta nói đó là nơi Tôn Dật Tiên đóng trụ sở hồi Quốc dân đảng mới khởi lên. còn thì không có cửa sổ hay cửa nào khác nữa.kiểu cổ. đến ném tạc đạn vào đám tiệc của người Pháp đãi viên Ðông Dương toàn quyền Merlin. Nhà cửa ở các làng làm thành dẫy ở hai bên đường như ở các thành thị. Ngày 19 tháng sáu năm 1925 lấy danh hiệu một phóng viên nhà báo. đường xá mát mẻ. Trời nực ai muốn tắm mất độ 300 bạc quốc tệ. Nhà cửa hay miếu mạo thường làm to lớn vững chắc. khi thấy cái buồng nào rộng. Những nơi thành thị lớn gần mé biển. nói ta làm nhà để buồng là phí đất. nay thấy có mấy cái đồi và mấy cái nhà làm theo kiểu mới. Còn ở nội địa như ở Nam Kinh cũng có nhà máy điện song những đèn không sáng hơn ngọn đèn dầu của ta ngày trước. nhà ngân hàng và nhà buôn bán của ngoại quốc. khi viên ấy sang Sa Diện. hai bên có cống rãnh bẩn thỉu. nhưng có đi qua các nơi mới thấy rõ sự rộng lớn của nước ấy và sự trù mật của dân nước ấy. như Thượng Hải hay Quảng châu. Những người ấy trông có vẻ đói rách khổ sở. Ðường xá khu ấy sạch sẽ và không cho xe cộ đi lại. nhà cửa lụp sụp và không được sạch sẽ lắm. chết đuối. chứ không phải là dúng mình vào nước hay là lấy nước dội lên mình. Còn có những đường. Người Tàu gọi tắm là lấy khăn dúng vào nước rồi lau mình. chắc là để mừng những người thi đỗ về vinh quy. tưởng có gió to thì đổ hết cả. Xe chở hành khách chạy trung bình 25 cây số một giờ mà phải chạy năm sáu giờ mới hết địa hạt một huyện. Những nhà mái lợp ngói. và có những kiểu trang sức rậm rạp. có nhiều buồng nhiều ngõ. thật là bẩn thỉu. mà người ta chỉ cho vào cái thùng gỗ độ chừng hai ba thau nước. bên kia con đường có cái ngôi mộ một người Việt Nam tên Phạm Hồng Thái. thì đến khu trường đại học làm trên những ngọn đồi. rồi quét ngoài vôi trắng. Ngoài thành thị có thể gọi là Phiên Ngung. Dân ở đấy thì dùng nước sông đầy bùn. Phía dưới. Ði qua thấy ở chỗ đồng áng có người làm ruộng tát nước như ở bên ta. Phạm Hồng Thái ném xong chạy trốn. thì họ lấy gỗ ngăn thành mấy phòng nhỏ để mấy người hay mấy gia đình ở chứ không thích những buồng rộng rãi và khoáng đãng. Bên cạnh Hoàng Hoa Cương. mà chỉ tát bằng thứ guồng nhỏ đạp bằng chân. vào trong nhà lại thấy tối tăm và gà lợn ở lẫn với người. tức là nơi Triệu Ðà đóng đô ngày xưa. Những làng bên Tàu không như bên ta có lũy tre bao bọc chung quanh. có dựng cái bia do Hồ Hán Dân viết. những ngõ lát đá tảng. đấy đi xuôi một quãng xa. Những cột đèn thì thường làm bằng cây tre nhỏ. Nhà làm theo lối một cửa trước và một cửa sau. để một lát thì bùn đọng ở đáy chậu một lớp khá dầy. . Tôi còn nhớ ở khách sạn Nam Kinh. Nước Tàu thì ai cũng biết là một nước rộng lớn và có rất nhiều người. nhảy xuống sông. đề những khoa thi tiến sĩ đời xưa. Ðó cũng có lẽ là vì sự chiến tranh và nổi loạn trong mấy chục năm mà gây ra cái hoàn cảnh thê thảm ấy. trông xa còn khá. giáp bờ sông có một khu đất gọi là Sa Diện. nhưng đến gần thì thấy tiều tụy. và có nhiều làng rất trù mật. Ði xa một đoạn nữa là Hoàng Hoa Cương nơi chôn 72 liệt sĩ trong đảng cách mệnh nổi lên đánh nhà Thanh vào khoảng hơn 40 năm về trước. nhưng họ không tát nước bằng gầu. tường xây bằng gạch sống xếp chồng lên không có vôi hồ. chen chúc giáp mái nhau. Tôi gặp những người đã sang ở bên ta. ở trong là những lãnh sự quán.

thì không thể biết được. Nhất là những nơi thành thị lớn gần miền bể. trời ơi. liền nhờ một người bạn của Vũ Kim Thành. thật có sang bên Tàu mới hiểu rõ cái tiếng chế nhạo ấy. ghẻ lở. thì ít ra cũng phải đợi đến 8. Trông thấy mà rùng mình rồi. vì tôi là người đi qua đường. thế mà phải đợi hàng tháng mới tới nơi. Việc cá nhân đối với nhau cũng vậy. Tôi nói cái cảnh tượng bề ngoài mà thôi. Trước ta thường nghe người Pháp gọi sự hàm hồ cẩu thả của người Tàu là Chinoiserie.Một hôm tôi mới đến Nam Kinh. Tính người Tàu rất cẩu thả. dơ bẩn nữa. Xem thế thì mới biết công việc làm ăn ở sở bưu điện của Tàu hỗn độn và cẩu thả chừng nào. Một chính phủ mà công chức làm việc như thế. tưởng chừng năm ba ngày là chậm. lừa dối. thấy thế nào thì nói thế nấy. còn thì các công chức trong sở ấy chia nhau mất cả. không có làm việc gì cho đúng hẹn. không thấy gì là lễ nghĩa liêm sỉ cả. đưa đến sở bưu điện đánh cái điện tín lên Nam Kinh hỏi một việc. Xưa ta học đạo Nho. không cho là ghê tởm. lễ trí. Các công chức thì bất cứ việc gì cũng có mánh khóe để ăn hối lộ và những thanh niên phần nhiều xem ra rất xa hoa phù phiếm. thì thật là một cái cảm tưởng rất ngao ngán cho giống người học một đàng làm một nẻo. Người ta đưa cho mỗi người một cái khăn tắm. trừ khi nào người ta có những việc quan hệ tới quyền lợi hay tiền bạc. chứ hoặc giả còn nhiều cái tốt đẹp ẩn nấp ở bề trong nữa. đang hì hụp trong cái bể ấy. ta tưởng nước Tàu là nước đạo gốc ấy. 9 giờ mới bắt đầu đi. . Cái cảnh bề ngoài nước Tàu ngày nay chẳng thấy gì là cảnh tượng một nước đã thấm nhuộm lâu đời trong cái đạo học của nho giáo. chờ đến mấy ngày không thấy có tin trả lời. còn thì ít khi người ta giữ đúng lời hẹn. Dù sao cái cảm tưởng của một người ở phương xa đã từng học theo đạo nho và chỉ biết nước Tàu nói trong sách cổ. tất người Tàu dù sao cũng còn giữ được cái căn bản nhân nghĩa. và hầu hết đều muốn bắt chước sự hành động. người Mỹ. thì làm gì mà không đổ nát. Mỹ ở bề ngoài. trong chi bộ Quốc dân đảng. Song người Tàu quen như thế rồi. người ta đắm đuối vào cuộc sống vật chất hèn kém. Lúc đầu tôi mới đến Quảng Châu. Khi có việc cần kíp đánh điện tín đi chỗ nào. thấy một cái bể tắm nước đục như nước rửa bát mà có đến năm sau người đầy những mụn nhọt. chỉ thấy rặt những sự đa trí xảo. có khi lại không bao giờ tới. Sau tôi đã lên đến Nam Kinh được hơn hai tuần lễ cái điện ấy mới đến nơi. giống như cái khăn lau bát của mình. Xe hàng hẹn đúng 6 giờ sáng chạy. Ðến lúc vào đến buồng tắm. cử chỉ của người Âu. tôi thấy một người làm trong sở quan thuế nói rằng những tiền thu vào được mười phần thì chính phủ chỉ được có ba phần là cùng. ngờ đâu cái nền học cũ đã tiêu diệt mất hết cả. kỳ thực thì Âu Mỹ chẳng phải Âu Mỹ mà Tàu thì thật chẳng phải Tàu như ta vẫn tưởng tượng. Thượng Hải. mỗi người phải trả 450 quốc tệ. Nhưng hình như chỉ có cái vẻ Âu. trời nóng mấy người rủ nhau đi đến nhà tắm công cộng. còn ai dám tắm nữa.

. Vì thế lực không đủ. bị đốt phá gần hết. là kỳ hạn cuối cùng. đại ý nói theo những điều trong hiệp ước sơ bộ trước mà giữ thái độ thân thiện cho đến thánh giêng năm 1947. Ông Hồ Chí Minh về đến Hải Phòng vào quãng tháng giêng. hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang. Những phố như hàng Hòm. và đại biểu Ai Lao bàn định mọi việc.. lẽ tất nhiên là quân Việt Minh thất bại phải lui ra ngoài Hải Phòng. thì quân Pháp vào lấy đồ đạc. nhưng quân hai bên vẫn cứ đánh nhau. rút cuộc hội nghị ấy không thành kết quả gì cả. Khi người Pháp và người Việt đang bàn cãi ở bên Pháp. thì ông Hồ Chí Minh và phái đoàn Việt Nam đang hội nghị ở bên Pháp. hàng Thiếc v. của cải. Ðến cuối thượng tuần tháng chín các phái viên Việt Nam xuống tàu thủy về nước. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi. Xem như vậy thì người Pháp cũng có một phần khá lớn trong cái lỗi đã gây ra cuộc Pháp Việt chiến tranh kéo dài cho đến ngày nay. Cuộc hội nghị ở Fontainebleau khởi đầu vào khoảng giữa tháng năm. mãi đến tháng chín mà không xong được việc gì cả. hai bên phải họp hội nghị để giải quyết các vấn đề cho thành bản điều ước nhất định. bộ trưởng bộ hải ngoại Pháp. Chính phủ Việt Minh biết là không sao tránh khỏi sự tấn công của quân Pháp bèn mưu sự đánh trước một ngày để mong được thắng lợi trong khi bất ngờ. tích trữ trong mấy chục năm. Trong khi hai bên chống cự nhau phần thì quân Pháp bắn phá. có lắm quyển rất cổ. Việt Minh tổ chức việc đón tiếp rầm rĩ. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi.. nhưng thực tình thì nhiều người ngậm ngùi vì tình thế mỗi ngày một nguy ngập. Dân khí tức giận. Hai bên đều xuống lệnh đình chiến. Quân tự vệ chống với quân Pháp trong thành Hà Nội được hai tháng mới rút lui. ký thỏa hiệp án (Modus vivendi) với ông Marius Moutet. Thế là sau hai kỳ hội nghị ở Ðà Lạt và ở Fontainebleau. thì ở Ðông Dương. rất quí. coi như không có nước Việt Nam. chỉ có các đội quân tự vệ ở lại để đánh phá và bắt người Pháp và những người Việt Nam theo Pháp. Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. trước ngày 19 tháng chạp dương lịch. Quân Pháp ở Bắc Bộ thì sẵn sàng tấn công cho nên mới có sự xung đột ở Hải Phòng vào quãng cuối tháng một. nhà cửa phố xá bị đốt rất nhiều. họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức.v. đều hóa ra tro tất. Ông Hồ Chí Minh ký bản thỏa hiệp ấy rồi chính phủ Pháp cho chiếc tàu binh đưa ông về nước. Vì vậy mà cuộc hội nghị bên Pháp lại càng gay go thêm. hoặc là Việt Minh thấy tôi bỏ đi. rồi sau lại cho bọn người Tàu vào cướp phá. Những nhà nào chủ nhà bỏ chạy. Việc dai dẳng như thế đến mấy ngày. thì người Pháp gửi tối hậu thư cho chính phủ Việt Minh bắt phải giao sở công an cho họ. Trước ngày 19 tháng chạp năm 1946. việc nước Việt Nam không sao giải quyết được. đại biểu Cao Miên. Ông Hồ Chí Minh ở lại đến ngày 14 tháng chín năm 1946. họ giữ không được. . hẹn đến ngày 20 là hết hạn.. quân chính quy Việt Minh đã rút ra ngoài cả rồi. các yếu nhân trong chính phủ. Thỏa hiệp án ấy.Chương 10 Cuộc Pháp Việt Chiến Tranh Trong lúc chúng tôi còn ở Hương Cảng. thà chết còn hơn quay trở lại làm nô lệ như trước. cao cấp ủy viên là Hải quân trung tướng D Argenlieu họp hội nghị kinh tế ở Ðà Lạt có đại biểu Nam kỳ Cộng Hòa quốc.

Ông Bảo Ðại ở Quảng Châu mấy ngày rồi trở ra Hương Cảng. Người Việt Nam ai đã có lòng yêu nước thì không sao theo Pháp được. một phong tục lịch sử. Trong cái tình thế ấy. ông Bảo Ðại vào Quảng Châu. Trong cái hoàn cảnh bối rối đau đớn ấy chúng tôi lại thấy những nhà cách mạng ở bên Tàu như bọn ông Nguyễn Hải Thần tuy có lòng tốt. rồi đói khổ điêu đứng. ai bị giết. Hôm sau ông Bảo Ðại với tôi gặp ông Cousseau. Pháp thì dùng võ lực mà đàn áp và dùng quyền mưu để lấy thắng lợi. nghĩa là đốt phá hết sạch những nhà cửa dinh thự. Người Pháp ấy là ông Cousseau. Lúc ấy tôi đang ở trong cái hoàn cảnh nguy ngập. Tôi nói rằng: Tuy Việt Minh đã có nhiều điều lầm lỗi. Khi việc chiến tranh đã bùng nổ ở Bắc Bộ. nhưng không đủ tài năng mà cáng đáng việc lớn. tức là có bên được bên thua. Thành ra hai bên tuy có hội nghị ở Ðà Lạt và ở Fontainebleau. ai không theo họ thì bị bắt bớ.Cái chiến lược của Việt Minh khi ấy là nếu chiến đấu thắng thì thôi. nói chuyện chiến tranh ở bắc bộ. Vì thế cho nên có nơi họ phá hoại từ xưa tới nay chưa từng có bao giờ. chỉ để lại đám đất không. mà các . tiện lợi cho sự du kích của mình. những người ngay chính vì nước rất khó nghĩ. Chúng tôi quay về mặt nào cũng không thấy có phương pháp nào giúp được nước. Ông rất băn khoăn về việc bắc bộ. người ta đã trông thấy rõ khi quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng và Hà Nội. thì họ có cái thế danh chính ngôn thuận. Ai theo họ thì họ để yên. mà theo họ thì nhiều người không làm được những việc họ làm. là phần lớn tại các ông gây ra. đi đến đâu không có chỗ cư trú. cho nên tôi mời cụ qua để bàn tính cho kỹ về việc ấy. không biết nghĩ sao. chúng tôi ở bên Quảng Châu ai cũng ngơ ngác. muốn gặp chúng ta để nói chuyện về việc bên nước ta.. nhưng vì Việt Minh lừa dối. Một bên người Pháp cố tình muốn lập lại chủ quyền như cũ. chứ không có cái gì là thành thực thì không sao tránh khỏi chuyện xung đột được. tức là mấy ngày trước tết nguyên đán năm Ðinh Hợi.. Một bên là Việt Minh đã trải bao phen hứa hẹn giữ nền độc lập của nước nhà. chỉ có theo cộng sản là sống mà không theo là chết. chờ đến khi tình thế rõ rệt. Ðột nhiên ông Bảo Ðại cho người ra Quảng Châu mời tôi ra Hương Cảng có việc cần. trừ ra một bọn xu danh trục lợi không kể. ông nói rằng: Có một người Pháp bên Ðông Dương sang đây. ai làm trái ngược lại là dân chúng không theo. có bạn bè và bà con có thể tư trợ cho được ít lâu. Tính như thế nhưng biết là thế nào mà về được. trước có biết cụ. chém giết. Ðối với nghĩa quân Việt Minh thì cái phương sách thứ hai có hai chủ đích: một là gây sự cản trở cho quân địch. do sự tôi biết. thì không mong có sự tiếp tế được nữa. Tôi ra Hương cảng gặp ông Bảo Ðại. thật là thiệt hại cho cả hai bên. Nước Việt Nam chúng tôi là một nước từ Nam chí Bắc có tính cách duy nhất. ai bị bắt. nhưng nay họ đã đứng về phương diện kháng chiến để dành độc lập. Chúng ta đành phải để thời cơ biến chuyển ra sao rồi sẽ tính. ta sẽ liệu có thể làm được việc gì ích lợi cho nước. không lẽ lại bó tay chịu hàng phục người Pháp. Hai là làm cho dân cư ở những phố phường trong các thành thị mất cả nhà cửa cơ nghiệp. đồng một ngôn ngữ. tiền thì sắp hết. không thì rút ra ngoài. Sau ông nói rằng: Cao cấp ủy viên Pháp bên Ðông Dương muốn hết sức điều đình để đem lại cuộc hòa bình. Một hôm vào khoảng cuối tháng giêng năm 1947. rồi sẽ dùng phương sách du kích và tiêu thổ. có gặp tôi nói chuyện về việc nước nhà. việc ấy dù muốn che đậy thế nào mặc lòng. Việt Minh thì chỉ muốn dùng cách áp chế để củng cố địa vị của mình. Tôi nói: Cuộc chiến tranh này. Tôi tính chỉ còn đường về Sài gòn. ở trong thì đã đánh nhau. nhưng kỳ thực là dùng mưu thuật để lừa nhau. nên mới có sự chiến tranh. Nay việc chiến tranh đã xảy ra.

ông đem chia từng mảnh.. Nước Pháp nên đổi thái độ mà theo đúng tinh thần thời nay.Việc điều đình bây giờ. Trong cái tình thế ngày nay. Nước Việt Nam phải có quân đội quốc phòng độc lập. . Mọi.Ðó là những việc tạm bợ nhất thời mà thôi. vì có nhiều nơi không theo Việt Minh.Việc ấy là việc của các ông. rồi lại lập ra Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc và gây những sự trêu chọc. Nước Pháp nên định một cái hạn trong mấy năm sẽ cho nước Việt được độc lập hẳn. Nước Việt Nam sẽ có đại biểu ngoại giao với các nước ở Á Ðông và các nước khác có quyền buôn bán với Việt Nam. Mà nay số nhiều dân chúng đã theo Việt Minh. . người Pháp không can thiệp vào việc cai trị trong nước. . rồi kê ra 7 điều sau này để đưa cho ông Cousseau: Lập lại nền thống nhất của nước Việt Nam. . Việc liên kết với Cao Miên mà Ai Lao là việc riêng của mấy nước lân bang chúng tôi. vì đó là một cách lập lại chế độ Ðông Dương toàn quyền. gồm cả ba kỳ và các dân tộc thiểu số như Mường. thì ít ra cũng được hoàn toàn tự trị. Nước Việt Nam sẽ có các cơ quan tài chính cho đúng với cái nghĩa một nước tự chủ. đứng vào mặt trận kháng chiến. Ðịnh rõ cái địa vị nước Việt Nam trong các nước liên hiệp của Pháp. đừng cho đổi cái tên gọi mà vẫn giữ sự thực như cũ. tất là phải làm sao cho dân vừa ý mới mong có kết quả. Nước Việt Nam chưa được độc lập hẳn. .. Các ông nên tìm những điều kiện cho hai bên có thể thỏa thuận được. Các ông là người yêu nước nên ra sức mà giúp nước các ông. Bảy điều ấy là những điều chúng tôi đưa cho người đại biểu cao ủy Ðông Dương là ông Cousseau vào khoảng đầu năm 1947. Nếu có những người quốc gia đứng đắn ra điều đình thì nước Pháp sẽ sẵn sàng nhượng bộ. Tôi về bàn với ông Bảo Ðại.Nước Pháp phải trả cái quyền độc lập cho nước chúng tôi và cho nước chúng tôi thống nhất từ Nam chí Bắc. thì nay tôi không dám chắc.Việc thống nhất có thể được. Chúng tôi nhất quyết không muốn ở dưới quyền một chức toàn quyền như trước nữa. thì phải có toàn dân ưng thuận mới được. nhưng sự độc lập thì hiện bây giờ chính phủ Pháp chưa nghĩ đến tôi không thể nói được. Nghĩa là lập lại nền thống nhất như các triều trước đời Tự Ðức. thật rõ rệt là các ông không muốn hòa bình. Thái. Xin để chúng tôi nghĩ kỹ rồi mai chúng tôi xin cho ông biết. Chúng tôi sẽ sẵn sàng xét các quyền lợi về đường kinh tế của nước Pháp và các nước lân bang như Cao Miên và Ai Lao cho đúng lẽ công bằng. vì tôi không có phận sự bàn về việc ấy. Chỉ có một điều thứ sáu là hẹn cho hoàn toàn độc lập. Ông Cousseau xem rồi nói rằng: Nước Pháp sẽ cho nước Việt Nam được hơn nữa. cứ như ý ông thì nước Pháp phải làm thế nào cho người Việt Nam vừa ý? . muốn cho thành công. Chúng tôi xin bỏ cái dự án liên bang ở Ðông Dương.

Ông Cousseau nói: Những việc ấy có thể được cả. rồi cựu hoàng Bảo Ðại sẽ đứng ra điều đình với quân kháng chiến để đem lại hòa bình. Chỉ xin một điều là cho những người làm việc ra Hương Cảng giúp cựu hoàng mà làm việc. nhưng để tôi điện về Sài gòn và chờ bên ấy trả lời ra sao đã.Tôi nói: Nước Pháp ưng thuận những điều ấy. thì phải đảm nhận hẳn hòi. . người Pháp đừng ra mặt can thiệp vào việc của ngài làm. Nhưng cần nhất là phải để cho cựu hoàng hành động tự do.

cụ nên về tận nơi. người mình có đánh nhau đến cùng cũng không thể đòi hơn được. cũng không sao. thiếu thốn đủ mọi đường. Về bên ấy cụ sẽ có nhà ở và không phải lo gì cả. ông Vũ Văn Hiến. có đưa giúp tôi 500 dollars. Khi ấy ông Cousseau ở lại Hương Cảng để chờ tin bên Ðông Dương. lại có vợ con chạy ra đây. Tôi nói: Tôi về chỉ cần gặp được ông cao cấp ủy viên để nói chuyện cho rõ ràng rồi cho tôi trở sang trình bày cho cựu hoàng biết. Ông nói rằng: Cụ về rồi. tôi tưởng cụ nên về Sài gòn và nhân tiện đem cả gia quyến về. chờ tàu Champollion ở Thượng Hải đến là về cả. tôi về ăn tết nguyên đán ở Quảng Châu. làm việc gì cũng đen. ta sẽ trù tính mọi việc. . ta đã tin gì mà về. có bị sao cũng không ngại mấy. Công việc định như thế rồi. Nay đã có cơ hội đem cả về cho yên chỗ là phải. là chị hoàng hậu. lúc ấy có làm gì mới làm được. Lúc ấy có ông Ðinh Xuân Quảng và Phan Huy Ðán ở Thượng Hải mới về Hương Cảng. thì người Pháp đã muốn điều đình và có ý nhận cho nước Việt Nam thống nhất tự chủ. bảo tôi về gặp bà Didelot. người Pháp không cho tôi trở sang lại thì saỏ Ông nói rằng: Nếu họ không để cho cụ sang thì tôi còn bên này. mà đưa tận tay cho bà ấy. Sau tôi gặp ông Cousseau. Trước khi về. trực tiếp với mấy người cầm quyền của Pháp xem tình ý của họ như thế nào. Sau tết nguyên đán được dăm hôm. Chi bằng ta cứ về cho biết rõ tình thực. Một mình tôi về. Rõ là vận đen. Về bên ấy tôi muốn gặp mấy người như ông Hoàng Xuân Hãn. ông cũng nói: Nếu cụ bằng lòng về thì tôi thu xếp giấy má xong ngay. rồi chờ có chuyến tàu thủy thì chúng ta cùng về cả. Chúng tôi đi tàu thủy ra tới nơi. tôi có nói chuyện thêm với ông Cousseau. Trước khi đi. Tôi hỏi rằng: Về bên ấy rồi. chứ để nheo nhóc ở bên này chẳng có ích gì.Chương 11 Về Sài Gòn Sau cuộc nói chuyện với ông Cousseau. thì cụ lại trở ra. ông Bảo Ðại có dặn cách gửi thư cho ông và lại đưa cho cái thư. đều cùng xin về với chúng tôi. nhưng hôm sau ra nhà trạm xe lửa bị kẻ cắp lấy mất. nhưng công việc chưa ra gì mà đã mắc lừa thì dại quá. ông Bảo Ðại bảo tôi rằng: Trong cái tình thế này. để hỏi ý kiến và việc làm. và lúc nào cụ trở sang cũng được. đến gặp ông Bảo Ðại. biết rõ công việc bàn định ấy. Tôi nói: Ðây là mới gặp ông Cousseau. Nếu thuận tiện làm được gì thì làm mà không thì thôi. Nếu thật làm được. Ông nói: Việc ấy rất dễ. cụ đừng lo. ông Bảo Ðại cho người bảo tôi đem cả gia quyến ra Hương Cảng. nay có cơ hội may ra có thể cứu được nước mà mình do dự không làm gì thì sao cho phải. Tôi nghĩ: một mình tôi ở ngoài này đã vậy. cụ nên nghĩ kỹ. Còn về việc nước. Ông nói: Nước mình đang lâm vào cảnh khổ vì chiến tranh. ông Bảo Ðại biết tôi không tiền.

Có phái thì muốn chủ trương sự lập Ðông Cung mới 11 tuổi lên làm vua. chứ tôi có mưu cầu danh lợi gì đâu mà bảo đừng mơ tưởng. Ông Trịnh Ðình Thảo từ khi ở Huế về. đến gặp tôi ở nhà ông Thảo. Sau khi tôi nói chuyện tình đầu cho ông nghe. đến ngày mùng 5 đến Sài gòn. Bất thình lình thấy chúng tôi kéo đến. thì hãy đi kháng chiến đã. đóng cửa trong nhà. Lo sợ là không biết chúng tôi về làm gì. Tôi nói với ông rằng: Theo cái tình thế này. Mấy hôm sau nữa.. Tôi có nhắc lại chuyện cho tôi được gặp những người như ông Hiến. Có phái thì muốn lập lại chủ quyền như trước. Tôi nghe thấy nhiều người nói rằng: Chúng tôi chẳng ưa gì cộng sản. Thế là chúng tôi thuê xe về cả nhà ông Thảo. chỉ thay đổi có cái tên gọi mà thôi. chia rẽ giết hại lẫn nhau. cho nên có nhiều người khuynh hướng về mặt trận kháng chiến. Tôi phải từ chối không tiếp ai cả. Tôi ở lại nhà ông Thảo. tôi bảo ở đây tôi quen ông Trịnh Ðình Thảo. chờ đến khi biết rõ sự thực rồi trở sang Hương Cảng. Ông Quảng và ông Ðán đi tìm chỗ khác ở. phái quốc gia và cái phái tôn giáo như Thiên Chúa giáo. Ông Nguyễn Văn Sâm trước là người đã được bổ làm nam bộ khâm sai. nào tuyên truyền.. ngược bằng có ý lừa dối thì thôi. ông Pignon lúc ấy làm ủy viên coi việc chính trị. Tôi mơ tưởng cái gì? Tôi về nếu mà người Pháp thành thực. không làm việc gì cả. vả lại có một người quen của ông ấy nói với tôi rằng: ông Cousseau nói với người ta rằng: Ông Kim đừng mơ tưởng.. cho nên thành ra có phe nọ đảng kia.. thì ông Pignon nói rồi sẽ đưa những người ấy vào gặp tôi. rất lấy làm ngạc nhiên và lo sợ. Nhưng từ khi đến nơi xem ra bộ ông lúng túng. Việc đã định rồi thì cứ về. thường đến gặp tôi nói chuyện. Nhà tôi tìm thấy người anh ruột là ông cử Bùi Khải rồi cũng về đó ở. Rồi mỗi phái có một bọn người Việt Nam. Còn một phần hoặc vì quá ghét Việt Minh hoặc vì Việt Minh áp chế để chuyên giữ độc quyền. thì làm thế nào rồi ta cũng phải điều đình với nước Pháp mới xong việc. nhưng cũng vì Việt Minh có cái danh nghĩa chống Pháp để đòi lại nền độc lập. Thế mà cách mấy hôm đã có người đến tìm tôi. thà chết thì thôi chứ không bao giờ chịu. Ở đấy được vài hôm. để bà Hoàng Hậu nhiếp chính.Tôi hỏi như thế là vì tôi vẫn không tin lời ông Cousseau nói. nào thóa mạ. nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ. nhưng họ đã có cái tổ chức để kháng chiến. nhưng vì cao cấp ủy viên Pháp là trung tướng D argenlieu phải về Pháp. ông mới yên bụng. mỗi khi họ muốn hội họp để biểu tình gì đó. Phía bên người Việt Nam thì có phái Việt Minh. Nói thế nhưng rồi sau chẳng thấy ai cả. Song hoạt động hơn cả là phái Việt Minh. Có phái thì muốn ít ra cũng tách nước nam bộ đặt dưới quyền điều khiển ngấm ngầm của họ. Cao Ðài giáo và Hòa Hảo giáo v. chúng tôi hãy tạm lên ở đấy. chờ cho đến khi ông trở sang mới nói chuyện được. chứ cúi đầu làm nô lệ cho Pháp như trước. Xong muốn cho sự điều đình có lợi cho nước nhà thì người trong nước phải đoàn . Trước khi đi ông Cousseau đã giao hẹn về đến Sài gòn sẽ có nhà ở. Song những người Việt Nam ấy là một thiểu số ít ỏi lắm.v. ông Cousseau nói chưa tìm được nhà. Cái phái khác tuy không ưa Việt Minh. Sáng ngày mùng 2 tháng hai năm 1947 chúng tôi xuống tàu Champollion. vì tôi về Sài gòn là đã giao hẹn từ trước nên giữ kín đừng cho ai biết. thì có mấy phái. ông Hãn và ông Khiêm. vì quyền lợi riêng cũng phụ họa thêm vào. ngồi nói chuyện rất ôn hòa và cho tôi biết ông cũng đồng ý về mấy điều tôi đã đưa cho ông Cousseau khi ở bên Hương Cảng. chỉ thấy có độ vài ba trăm người là cùng. rồi sau nếu mà thành công. thì là việc giúp nước trong lúc nguy nan. bấy giờ có làm việc gì mới làm. nào ám sát là việc họ thường làm rất táo bạo và hăng hái. Tôi xem cái tình thế trong nước phía bên người Pháp. thì ta sẽ liệu với nhau.

Tôi nói: Cựu hoàng Bảo Ðại có cái thư riêng. nói chuyện rất tử tế. Ðộ hơn một tuần lễ sau. Họ không biết rằng sự sợ có giới hạn. thì ai cũng nói ở chỗ bị một cái khổ còn hơn ở chỗ bị hai cái khổ. Vì xem ý người Pháp lúc ấy là muốn lợi dụng ông Bảo Ðại. nào bắt bớ. Tôi nói: Tôi về đây cốt để biết rõ cái ý định người Pháp và xem tình hình trong nước thế nào. tiết nghĩa. sẽ báo cho ông biết. tôi không tiếp ai cả. Một bên thì quyền mưu giả dối. muốn làm cho người ta sợ. Một bên thì gian ác. cụ nên ra mặt làm việc đi. chỉ muốn thừa thời cơ mà làm sang làm giàu. Tôi thấy thế rất lấy làm buồn và chán nản. nghĩa là đánh thành trì không bằng đánh lấy lòng người. nhưng không phải là ai cũng mến Pháp mà về.000 người mà đến năm 1949 có đến 1. Người Pháp thấy tôi không chịu làm gì. bắn giết. có câu rằng: Công thành bất như công tâm. Khi tôi còn chờ đợi ở nhà ông Thảo. Những người họ đem ra làm việc với họ phần nhiều là những người xu nịnh. nhờ cố giới thiệu hộ. rồi đưa những người thân tín của họ ra làm việc cho dễ. rồi nói chiến tranh là chiến tranh. Người Pháp thì không hiểu cái tâm lý của người Việt Nam. chứ không nghĩ gì đến liêm sỉ. Làm như thế. có nhà in sẵn sàng. Một hôm tôi thấy trong một tờ báo Sài gòn. Nếu không thì chỉ mắc mưu người ta lợi dụng rồi chẳng được gì cả. thường muốn đến gặp tôi. Ðó không phải là cái chứng xác đáng về sự lòng dân mến người Pháp. dâm hiếp. cái lòng phẫn uất của người ta càng ngày càng tăng thêm lên. Như thế làm thế nào mà đem lại hòa bình được. còn ở phía thuộc quyền Việt Minh kiểm soát thì đã bị Việt Minh đàn áp. lúc ấy có làm gì hay không mới quyết định được.500. cố nói: Bà ấy đã về nhưng bận lắm. mà lại thấy những người như ông Phan Văn Giáo. bèn nói nọ nói kia. nhưng lại mượn được cái danh nghĩa rõ ràng. nên mới hứa hẹn đủ mọi điều để đem tôi về. Những người ấy người Pháp có thể sai khiến. Rồi đến những người cùng về với tôi như ông Ðinh Xuân Quảng và ông Phan Huy Ðán đều đi làm việc với ông Quế và ông Giáo. hiểm độc ai cũng biết. Cái ý ấy có lẽ đúng sự thực. thành một cổ đôi tròng. cho nên người ta phải tìm đến chỗ hại ít mà lánh mình. Người ta về chỗ thành thị thuộc người Pháp kiểm soát cũng bị nhiều sự bắt bớ cực khổ. Chợ Lớn trước khi có sự chiến tranh chỉ có 500. mà để tôi gần ông sợ có điều bất tiện. Cố lại thêm rằng: Bà ấy chỉ yêu cháu bà ấy thôi. Người Pháp chỉ biết lấy võ lực mà đàn áp. Cố nói: Bà ấy bây giờ ở Ðà Lạt. Khi nào bà ấy về. Như vậy thì đoàn kết sao được. nào cướp bóc. . Ông Sâm nói: Mình muốn đoàn kết nhưng Việt Minh đâu có thật lòng đoàn kết! Họ chỉ muốn mình theo họ để làm tay sai cho họ củng cố địa vị mà thi hành cái chủ nghĩa cộng sản của họ. rồi ra nói cho cựu hoàng Bảo Ðại biết. Có người Pháp nói rằng: Nếu người Việt Nam không mến người Pháp. mà lại bạo ngược tàn ác. Theo cái tư tưởng của người đời xưa bên Á Ðông ta. nhưng đối với dân chúng trong nước. tôi nghe nói bà ấy đã về. tôi cho người hỏi cố Moreau. khi người ta đâm liều. Khi tôi mới về Sài gòn. chứ thực ra họ có thiết gì đến quốc gia. Họ lấy thí dụ như khu Sài gòn. Nếu có lợi dụng được thì dùng mà không thì để cho xa cách ông Bảo Ðại ra. có người Pháp đến bảo tôi rằng: Chính phủ ở đây có tiền.000 người. khi đã quá lắm. đăng một đoạn rằng: người Pháp đem tôi về. lại bị quân Pháp đến đánh phá. sao những nơi thuộc quyền kiểm soát. mà đã liều thì không có gì ngăn cản được nữa. dân cư càng ngày càng đông hơn trước. Tựu trung trong những người về ở chỗ đô hội đó. nhưng chỉ có bị một bên thôi. Những người tôi muốn gặp đều không có ai. không những là không có uy tín gì. bảo tôi đưa tận tay cho bà Didelot. tôi có đến gặp ông cố đạo Moreau do ông Bảo Ðại giới thiệu. Tôi lại thấy bao nhiêu điều hứa hẹn của ông Cousseau là không có gì cả. lại ỷ thế có sức mạnh. trái với lòng người. mà lại gây thêm cái lòng oán ghét. không biết bà ấy có tiếp được không. ông Trần Ðình Quế. Hãy hỏi những người thường ở những nơi thành thị.kết chặt chẻ với nhau mới được. cũng có một số người vì quyền lợi muốn theo Pháp. là cốt để tôi không mưu mô bên cạnh ông Bảo Ðại. độ một tuần lễ nữa mới về. chứ không biết cách làm cho người ta kính phục. Vì người Pháp làm những việc thất sách như thế cho nên cái thế Việt Minh vẫn mạnh và giữ vững được mặt trận kháng chiến.

mà lại cản trở việc làm của phái quốc gia. ở lâu nhà ông Thảo vô ích và có điều không tiện. Còn tôi thì đã nhất định không dính dáng đến việc gì cả. Ông trở sang. Hai lần trước tôi gặp ông Pignon. tôi nghĩ mình đã định không làm gì nữa. Cao cấp ủy viên Bollaert sang hứa hẹn lờ mờ chưa rõ là ý định của chính phủ Pháp là thế nào. Ông nói: Sao ông không ra hành động đi. Thế là bao nhiêu hy vọng của mấy người còn tin tưởng ở cái chính sách mới của ông Bollaert mất hết. Tôi sở dĩ muốn gặp bà Didelot là vì có cái thư của ông Bảo Ðại nhờ tôi đưa tận tay cho bà ấy. Tôi hỏi sao ở đây người Pháp đối với những báo ấy lại rộng rãi như thế? Người ta chỉ cười mà không đáp lại. Việc làm của người Pháp thật là ngoắc ngoéo khó hiểu. Sau khi ông đi kinh lý các nơi ông cho ông Paul Mus. giám đốc trường hải ngoại nước Pháp. tôi khuyên ông rằng: Tôi xem tình thế khó lắm. Trong phái này có ông Nguyễn Văn Sâm ra mặt chống Việt Minh. Hải quân trung tướng D Argenlieu về Pháp bị cất chức. Thành ra không xong. tôi thấy ủy viên nước Pháp muốn thay đổi chính sách. Họ nói muốn điều đình với những người trong phái quốc gia. thì đổi ông Pignon đi làm ủy viên nước Pháp ở Cao Miên. Có một điều tôi lấy làm lạ rằng là ở Sài gòn dưới quyền kiểm soát của người Pháp mà lại có nhiều báo chí Việt Nam công nhiên ra mặt bênh vực Việt Minh. nhưng ông Kim có muốn gặp thì chỉ tiếp trong năm phút thôi. chứ có cầu cạnh gì đâu. Họ đánh nhau với Việt Minh mà lại dung túng người của Việt Minh. ông còn đợi gì nữả Tôi nói: Hành động gì? Cái mục đích của tôi về đây là để biết rõ cái ý chính phủ Pháp định đối với Việt Nam thế nào rồi tôi ra nói cho ông Bảo Ðại biết. tôi bèn về nhà ông Bùi Khải. ông có làm việc gì phải thận trọng. thà chúng ta cứ đứng ra thành lập mặt trận quốc gia thống nhất để cho người ngoài biết trong sự hành động kháng chiến không phải ai cũng là Việt Minh cộng sản hết cả. nhưng không nên vội vàng nông nổi mà hại cho việc các ông làm. Ông Hòe đi rồi về nói rằng: Bà ấy nói không tiếp người làm việc chính trị. Cao cấp ủy viên lại về Pháp được toàn quyền hành động để đem lại cuộc hòa bình ở Ðông Dương. đừng có khinh xuất mà mắc mưu gian. . Tôi thấy thái độ của bà ấy như thế. Khi ông sang đến nơi. câu chuyện không có gì. nguyên đổng lý văn phòng của vua Bảo Ðại trước. tôi không đến và nhờ ông Hòe đem cái thư ấy lại cho bà ấy. Có người viết trong báo rằng: Tôi lấy làm hân hạnh được là người của Việt Minh. Tôi kể cái chuyện lặt vặt ấy là vì có một sự gì u ẩn mà tôi chưa rõ. nhưng còn có ý vị. và cái điều kiện quan trọng nhất là bắt quân Việt Minh phải nộp khí giới mà đầu hàng. định ra Hà Nội đọc bài diễn văn ấy ở Hà Ðông. thì bị người Pháp ghét và bị Việt Minh hăm dọa. đi gặp ông Hồ Chí Minh để thương thuyết. tôi nhờ ông Hòe đến hỏi bà ấy xem bà ấy có tiếp thì tôi đến đưa cái thư của ông Bảo Ðại cho bà ấy. Ông Sâm nói: Tôi cũng biết thế. nhưng không lẽ vận nước gian nan mà mình ngồi nhìn. Ngày mùng 8 tháng năm. nhưng hình như muốn bắt Việt Minh đầu hàng. Tôi nói: Việc ấy tùy ông.Khi ấy có ông Phạm Khắc Hòe. mấy hôm trước khi ông Bollaert ra bắc. Rồi đây chúng tôi sẽ tái bản tờ báo Quần Chúng đã bị đóng cửa từ trước. Khi tôi gặp ông. Bấy giờ là ngày 29 tháng tư năm 1947. chính phủ Pháp cử ông Bollaert sang thay. để ông Didier Michel quyền chức ủy viên coi việc chính trị. lần này tôi gặp ông Didier Michel thì nhạt nhẽo lắm. và đến nay tôi chưa thấy gì là rõ rệt cả. ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi ở nhà ông Thảo. đại ý nói sẽ cho nước Việt Nam thống nhất và được độc lập trong liên hiệp Pháp theo mấy điều kiện. để bày tỏ ý định chúng tôi. đang ở Sài gòn.

tấp nập đi lại Sài gònHương Cảng-Sài gòn.Thế thì ông muốn thế nào? . Nhưng vì ông quá tin người ta xui dục làm việc vội vàng quá thành ra bị tai vạ. . hoặc ở nam hoặc ở trung. .Ông không đọc những lời diễn văn của ông Ramadier. Ðến khi người Pháp đem cựu hoàng hậu và các con sang Pháp thì về ở nhà riêng ở thành Cannes gần Nice. thật là đáng thương tiếc. nhưng vì tôi già yếu và lại có bệnh tật. Qua đầu năm 1948 ở Nam Kỳ cộng hòa quốc. nhưng đó chỉ là lời diễn văn thôi. Khi thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân lên làm chủ tịch trung ương lâm thời chính phủ.. đến khi trở về được mấy ngày thì bị ám sát. rồi về ở Thụy Sĩ. và những lời bố cáo của ông Bollaert đã nói à? . Ông vốn là người ôn hòa trầm tĩnh. nên tôi từ chối. đi qua nước Anh chữa mắt. Lúc ấy tôi đã ở Nam Vang được mấy tháng rồi.Tôi muốn có sự thành thật rõ ràng rồi mới có thể làm việc được. Lê Văn Hoạch phải từ chức. Trần Ðình Quế và những người khác. chuẩn định sự hứa hẹn cho nước Việt Nam được thống nhất và độc lập ở trong khối liên hiệp Pháp.Tôi có đọc. Từ đó rồi thôi. Ông Nguyễn Văn Sâm cũng sang Hương Cảng gặp ông Bảo Ðại. tôi không gặp người Pháp nào nữa. rồi thấy có những người như ông Phan Văn Giáo. có viết thư mời tôi về làm cố vấn. để sau ta sẽ nói chuyện. . tự biết không làm được việc gì ích lợi cho thế cục. thủ tướng nước Pháp. hay ở bắc. Người Pháp đưa thiếu tướng Nguyễn Văn Xuân về thay. Ðến ngày mùng 5 tháng sáu năm 1948 thì có hội nghị giữa ông Bollaert và ông Bảo Ðại ở vịnh Hạ Long. Ông Xuân nhận chức chủ tịch ít lâu rồi để Trần Văn Hữu lên thay và đứng ra lập Việt Nam Trung Ương lâm thời chính phủ. ông Bảo Ðại về từ biệt Hương Cảng. chứ chả có gì là thiết thực. Xong cuộc hội nghị ở vịnh Hạ Long.Bây giờ tôi vội về có việc. ngay chính và hết lòng lo việc nước.

hội đồng coi việc nhà cửa mới thuê cho được một căn nhà. bỏ cháu không ai trông coi. Trong lúc nguy nan. không thấy được mặt mẹ trong phút cuối cùng. Con tôi đi Nam Vang chờ đến ba tháng. Lúc ấy nhạc mẫu tôi đau nặng chưa biết thế nào. Tôi đến nhờ ông cử Bùi Khải. hết lòng giúp đỡ. Sau tôi nghĩ ở Sài gòn cũng ngồi không mà con thì ở trên Nam Vang một mình. thì rể tôi về đón chúng tôi. ông vì tình anh em. cái nạn khan nhà thật là điêu đứng. ra đến nơi buổi trưa. coi như anh em trong nhà vậy. cậu Nam được tin vội vàng ra ngay. con tôi phải về ở nhà ông Phạm Chí Tùng trong khi chờ đợi có nhà ở. Sau tôi gặp những người quen biết có giúp đỡ ít nhiều để mua thuốc thang và may vá lặt vặt. mình phiêu lưu ở đất khách quê người. gặp được người bạn như ông Trần Văn Văn đến thăm tôi thật là ít có. Ấy cũng là một sự may mắn. ngày dạy học vất vả. thì lấy tiền đâủ Sau hai vợ chồng con tôi gặp những người quen nói ở trên Nam Vang. biết rõ tin tức người nhà. Lên ở nhà khách sạn được mấy ngày chẳng may con tôi bị bỏng suýt chết. định tìm nhà xuất bản cho in lại. Nhưng vì cả gia quyến bốn năm người đến ở đấy lâu ngày. trong lưng chỉ còn có 20 đồng bạc Ðông Dương. nghĩ cũng khó coi. nỗi đau đớn. Ông thấy tôi ở trong cái hoàn cảnh rất eo hẹp. Nhà ở Nam Vang lại có phần khó thuê hơn ở Sài gòn. các cháu đều hết lòng kính mến. nhà tôi rất sầu khổ. nhưng tôi không lấy. tiếp đãi một cách thành thực và tử tế. Sài gòn cũng như ở bên Tàu. Cái sầu khổ lúc ấy lại có phần tăng thêm là vì phải khi loạn lạc. chúng tôi lên xe hơi chở hành khách lên Nam Vang. ít ra cũng phải trả tiền trà mất một vài vạn bạc. lần hồi cũng đủ ăn tiêu. ăn không ngồi rồi. Nhờ có những người quen biết trông nom giúp đỡ nên không việc gì. thì cậu Bùi Nam. cho nên đã quen từ trước. cơm gạo rẻ và dễ thuê nhà. Con gái tôi biết tiếng Anh. ông liền cho tôi vay một món tiền khá lớn và ông nhận việc tìm nhà xuất bản để in những sách của tôi.Chương 12 Lên Nam Vang Khi tôi về Sài gòn. rồi đến ngày mùng 6 tháng ba tức là ngày 26 tháng giêng năm Mậu Tý. Muốn thuê một cái nhà nhỏ. ông có ra làm việc ở bộ kinh tế với ông Hồ Tá Khanh. bên Cao Miên. Nhà tôi muốn lên ở trên ấy. thành ra nhà vẫn chưa thuê được. nhưng không thuê được nhà. nhờ trời dun dủi làm cho đỡ được bao nỗi đau buồn khổ não. định đi thuê nhà để dạy học. mở lớp dạy học tiếng Anh. Lúc ấy tôi gặp ông Trần Văn Văn đến thăm tôi. Ông Phạm Chí Tùng là người rất hiền hậu. Ðến quãng đầu tháng ba năm 1948. anh em nhà tôi ở Hà Nội vào Sài gòn thăm chúng tôi. chúng nó mới xin giấy lên Nam Vang. có cóp nhặt những sách của tôi. Vậy nên chúng tôi định qua tết nguyên đán năm Mậu Tý (1948) thì lên Nam Vang. nhờ ông Pignon can thiệp mấy lần. thấy con tôi lên ở nơi xa lạ. để cha mẹ con cái cùng ở một chỗ. Vào khoảng tháng chín năm 1947. có nhiều người muốn học. Tôi ở Sài gòn. Khi tôi ở Huế. Ông Cousseau thấy vậy có đưa tiền. thì buổi chiều mẹ tôi mất. . Tình mẹ con.

thì khó lòng mà đem lại lòng tín nhiệm của dân chúng. chẳng có gì là thực. Việc thành bại sau này. để về nghỉ ngơi cho trọn tuổi già. Ông Pignon chuyện trò một cách vui vẻ và cho giấy một cách rất dễ dàng. Ðàng này ngồi yên một chỗ. Khi đã mắc vào thì lắm lúc lại phải đi vào những nơi hôi thối. thì ông Bảo Ðại phải có cái chính sách cương quyết và biết lựa chọn lấy những người ngay chính đứng đắn ra giúp ông mà làm mọi việc. Danh với lợi ở đời là những cái mồi nó dử mình vào cạm bẫy để hành hạ cái thân mình. thì thường hay có những sự tàn ác. Ðến tháng ba năm 1949. Tôi nương náu ở đây chờ cho tình thế yên yên. Giá hai năm trước. xin cái giấy được lưu trú ở đất Cao Miên. ấy là cái sở nguyện chân thực của tôi. mà nghĩ cuộc đời cũng xoay vần trôi nổi có khác gì dòng nước chảy xuôi. ngắm rõ trò đời và tự mình tỉnh sát để biết cái tâm tình của mình. trốn danh không bằng không có danh. trải bao những cảnh huống đau buồn khổ sở. chỉ phải nóng nực khó chịu. Muốn có danh không bằng trốn danh. thấy ông Bảo Ðại đã điều đình với chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam được thống nhất và độc lập trong khối liên hiệp Pháp. may như Trời Phật cứu giúp. bạn bè để khi vui buồn có nhau. nhảy múa nhọc mệt rồi hết trò. thật là khổ. thì phải tìm cách trốn danh vậy. thì thu xếp về bắc. không có hăng hái làm được việc gì nữa. chính phủ Pháp đi hẳn vào con đường ấy. Song cái tính con người ta bao giờ cũng thế. ngày đêm tự do. tôi xem cũng nguôi được nhiều điều phiền não. thật là cái phúc lớn vậy. những người Việt Nam đi lại rất khó mà ai muốn ở lâu phải có giấy cho ở mới được. Vả trong quãng đường tôi vừa đi qua. Nếu lại để cho những người muốn thừa cơ hội mà làm giàu làm sang.Lên đến nơi một tuần lễ. nhưng mình đã trót đeo lấy cái danh vào mình. chung quy chỉ là một cuộc mộng ảo. cần phải chờ đợi sự thực hành xem có đúng lời giao kết hay không. Tôi chỉ mong được yên ổn. đại khái theo cái nguyên tắc ông Bảo Ðại và tôi đã đưa cho người Pháp khi chúng tôi còn ở Hương Cảng. không có cấm đoán gì cả. tôi duy trì được đến bây giờ. mà không trụy lạc vào đâu cả. nhất là những sách vở nói về đạo Phật và đạo Ấn Ðộ. đâu lại vào đấy. Việc ông Bảo Ðại điều đình đã được kết quả. nếu không đem cái lòng công minh chính trực mà ngăn ngừa lòng tư dục. gây ra nhiều nỗi đau buồn. Cuộc đời của tôi đi đến đấy đối với người ngoài cho là thật hiu quạnh. Khi sự độc lập và sự thống nhất đã thực hiện rõ ràng rồi. Cho nên tôi thường nhớ bài thơ của một nhà thi sĩ Ấn Ðộ mà người ta dịch ra tiếng Pháp như sau này: . Tôi lên đây nhờ có ông Phạm Chí Tùng và mấy người khác cho mượn sách vở. còn thì cứ muốn bám lấy cái lợi một lúc. cứ để cho đến khi bất đắc dĩ mới chịu làm những việc phải làm. một bên là cái chính sách ngay thẳng của ông Bảo Ðại. là nơi có bà con. Vì ở xứ ấy bấy giờ. tôi đến gặp ông Pignon là ủy viên nước Pháp. là một bên ở cái lòng thành thực của người Pháp. có lẽ đỡ được bao nhiêu thì giờ và sự tổn hại. Tôi nhớ lại câu cổ nhân đã nói: Hiếu danh bất như đào danh. đào danh bất như vô danh. Tôi nay già rồi. Ở Nam Vang được yên ổn hơn Sài gòn. song tự tôi lại thấy có nhiều thú vị hơn là những lúc phải lo toan làm công việc nọ kia. rồi cứ xoay quanh mãi thành ra hư hỏng việc lớn. Mỗi khi trời mát mẻ. chiều đến tôi chống cái gậy ra đứng bờ sông trông nước chảy. Người có trí tuệ mà biết giữ mình ở chỗ vô danh là bậc cao sĩ tuyệt bậc. Lòng tham của người ta không có bờ bến. phải bưng mắt bịt mũi. như thế cũng đã lợi cho nước Việt Nam rồi nhưng đó mới là phần giao kết. giống như người đóng tuồng ra sân khấu. còn hơn là chỗ xa lạ.

cứ tưởng lấy võ lực mà đàn áp và dùng quyền mưu mà lừa dối để đem người ta vào tròng như ý mình muốn. Việc người Pháp làm ở Ðông Dương có nhiều lầm lỗi. Jusqúau rivage de sécurité Tôi lược lấy ý trong bài thơ ấy mà dịch ra bài thơ song thất lục bát sau này: Chiếc thuyền vô trạo Sông nhân thế nước trôi cuồn cuộn. thì người ta ưa cái chính sách trong sạch ngay chính. Cái chủ nghĩa cộng sản về . ballotte. không có phá bậy giết càn. Vì vậy cho nên việc người Pháp muốn đem lại sự hòa bình ở xứ Ðông Dương. bề trong không ai phục. au milleu des orages. A giudé la barque sans voiles Parmi les rochers. thành ra mình cô lập. sau thì nước Nga vì xa cách không giúp được họ việc gì. Ma barque. nhân trí đã biến thiên. đảng cộng sản bên Pháp thất thế. sans rames. thì bề ngoài thế nào mặc lòng. Lênh đênh đây đó biết đâu bến bờ.La barque à la dérive Au millieu du fleuve de vie. Tay tế độ trong cơ huyền bí. sự thù oán ghét giận lại càng tăng thêm bấy nhiêu. Người Pháp lại có cái tính hay cậy sức mạnh của mình rồi có khi có xảy ra việc gì. Cái phương pháp ấy đối với cái tâm lý của dân tộc khác thể nào tôi không biết. là vì những việc ấy quan hệ với nhau. không biết rằng lòng người đã thay đổi. Ðến bên bến nọ là nơi yên lành. thì sự tàn phá càng tàn nhẫn bao nhiêu. Theo cái tâm lý người Việt Nam. không nói không ai hiểu manh mối việc tôi làm thế nào. Thuyền không buồm e lệ ngoài khơi. có ý muốn cho người ta sợ. thì để cho quân lính đi tàn phá giết hại. thế bất đắc dĩ nên phải lập ra mặt trận kháng chiến. thành ra ở trong thì dân tình ta thán. Nhân khi ngồi rồi tôi giở quyển nhật ký ra xem rồi viết thành cuốn sách này để sau ai xem thì biết rõ sự tình và công việc của tôi làm trong mấy năm đây đó. nhưng khi người ta biết rõ cái mưu thuật của mình thì cái mưu thuật ấy không có công hiệu nữa. Hễ người Pháp không hiểu chỗ ấy. nhưng đối với dân tộc Việt Nam mà chỉ dùng sức mạnh để tàn phá. mà ở ngoài thì không có ai muốn giúp đỡ. Bản tâm là tôi viết truyện riêng của tôi. nhưng vẫn không đủ sức để ngăn cản được sự tiến hành của quân địch. chưa gì đã đem áp dụng cái chủ nghĩa cộng sản một cách đường đột quá. Về phương diện chính trị của người Việt Nam thì chính phủ Việt Minh đã thất sách từ lúc đầu. Chính phủ Việt Minh tuy biết lợi dụng cái lòng ái quốc của quốc dân và nhờ có sự tổ chức chu đáo và sự tuyên truyền khôn khéo. Phàm cái quyền mưu lừa dối là chỉ dùng được khi người ta không biết. Trước thì họ trông cậy ở nước Nga và ở đảng cộng sản ở bên Pháp. Flottait à la dérive. song tôi phải nói đến chính trị của chính phủ Việt Minh và sự hành động của người Pháp ở Ðông Dương. Mais ton invisible main. Secourable dt pitoyable. Périlleux et fouetté de vent. Giữa dòng sông gió cuốn ào ào. mà cứ ngoắt ngoéo không cho nước Việt Nam độc lập và thống nhất. ngay từ lúc đầu không chịu thay đổi cái thái độ với người Việt Nam. lại không thành thực thi hành những điều giao kết. thì làm việc gì rồi cũng thất bại. không thể lấy thế lực mà bắt người ta đi lại con đường cũ được. Ðưa qua sóng gió thác ngòi. Chiếc thuyền vô trạo lao đao. thì khó lòng mà giải quyết được cái tình thế ngày nay.

tin là chỉ có mình là phải. thì cũng nên đi từ từ để cho thời gian dũa mòn bớt góc cạnh có thể gây ra nhiều đau khổ. là tự mình lui bước đi. Làm được như thế. cũng không chắc đã vững bền. Cũng bởi tấm lòng vì dân vì nước ấy và thấy khi quốc gia gian nan. thì đó là cái phương sách cứu nước rất ngay thẳng và có phần mau chóng hơn cả. thì tất là chỉ có phần thiệt hại mà thôi. Theo ý tôi thì đó là chỗ những người cầm quyền trong đảng Việt Minh phải liệu mà hành động. nhưng về đường kinh tế. nên tôi tự biết mình đã già yếu kém cỏi không làm gì được. thế nào người ta cũng không để đất này thành cộng hóa. Song trong cái tình thế quốc tế hiện thời. làm lắm điều hà khốc và dùng những thủ đoạn quỷ quyệt giả dối. còn người ta là sai lầm hết cả. Cho các đảng phái được công nhiên lấy nghĩa lý mà tranh đấu trên trường ngôn luận. Như vậy mình cố chấp muốn cộng hóa. thì mình chưa sao thoát khỏi cái thế lực của Anh Mỹ. Khi ấy mọi người trong nước phải quả quyết đi vào con đường kiến thiết. hay đảng phái nào. để cùng với thế giới đi lên con đường tiến bộ. chứ không làm nô lệ ai không? Lẽ nào ta lại theo một cái lý tưởng chưa thực hiện được mà đem mình làm nô lệ một dân tộc khác. để mọi người suy xét cho đúng sự thực. chứ khó lòng thành công được. thì lại áp chế quá. đảng Việt Minh đã có cái công lớn tổ chức được cuộc kháng chiến ấy mà nước Pháp phải cho nước Việt Nam được độc lập và thống nhất. chỉ mong người trong nước bỏ bớt cái lòng tư tâm tư lợi mà ra sức giúp cho nước nhà chóng được yên ổn và thịnh vượng. không lẽ ngồi nhìn. Ðời chưa đủ khổ hay sao. nhưng ít ra cũng theo cái lương tâm mà đem những sự tôi đã biết và đã thấy mà phô bầy ra. không làm hơn được nữa. tất nhiên là họ giúp cho nước Việt Nam sẽ có cái địa vị rõ ràng trong quốc tế.đườn luận thuyết cũng có điều bảo thủ. Chỉ trừ khi nào trống mái rõ rệt. mà còn muốn gây thêm ra nữa. Dù ta có say mê một lý tưởng nào nữa. thì thiên hạ hoặc là đều bị cộng hóa cả. tôi đã nhứt quyết không mưu cầu danh lợi gì hết. Trong việc làm của Việt Minh cộng sản có hai điều trở ngại. Ðem cái bất công bình nọ mà phá cái bất công bình kia thì dù có thắng lợi đi nữa. để cho đảng chân chính quốc gia đứng ra thực hiện sự độc lập và thống nhất của nước nhà. Trong khi hai cái lý tưởng còn đối lập. phải hiểu thời thế mà tùy cơ ứng biến. song những người làm chính trị có quan hệ đến vận mệnh một nước. Vả cái mục đích ấy định đi đến đâủ Tại sao người mình đã phơi xương đổ máu trong sáu bảy mươi năm trời từ khi có cuộc bảo hộ của nước Pháp đến giờ? Có phải là tại người mình muốn sống cái đời sống tự chủ của mình. Ðó là một điều trở ngại khá lớn. Dù hay dở thế nào mặc lòng. không ai xâm phạm được nữa. Hai là vì cái vị trí nước Việt Nam ở trong cái phạm vi Anh Mỹ theo cái hiện tình bây giờ. Một là đem cái phương sách hành động ở các nước bạn tây phương sang thi hành ở Việt Nam. Hiện nay đảng Việt Minh có nước cờ đáng rất cao. không biết các bậc cao minh trong nước nghĩ sao? Tôi đem cái ý kiến ấy mà phô bày ra đây. phải mê và tin. chứ không phải là một điều mơ tưởng. Mà cũng không phải là tôi thiên vị chủ nghĩa nào. thì đảng Việt Minh chỉ làm được đến đấy thôi. rồi lập thành một chính thể theo đúng cái nghĩa dân chủ đang thịnh hành ngày nay. hoặc là đều sống ở trong cái chế độ tư bản cả. là theo cái tình thế hiện thực mà nói. như là muốn chữa những điều bất công trong xã hội. Dù ai có bảo đó là lời nói của . khiến người ta mất lòng tin cậy. có nhiều điều không thích hợp với hoàn cảnh và tính tình của nhiều người trong nước cho nên thành ra có nhiều chỗ trái ngược. nhưng không được dùng võ lực mà tranh quyền cướp thế. Lúc ấy dù muốn hay không cũng chẳng làm gì được. ai nấy đem hết tài lực của mình mà học tập và làm việc để đem nước đến cái trình độ cường thịnh như các nước khác. Ðã hay rằng đảng cộng sản có cái tính cách tôn giáo. Nếu cố chấp muốn làm cho được như ý muốn thì chỉ làm khổ dân hại nước mà không chắc đạt được cái ý của họ. Cứ như thiển kiến của tôi.

. tôi cũng cam tâm mà tự cho mình đối với cái tâm của mình đã làm hết bổn phận làm người vậy.một anh hủ nho.