You are on page 1of 10

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP

QUYỀN VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CỦA DÂN, DO


DÂN VÀ VÌ DÂN
NGUYỄN TRỌNG THÓC (*)
Hiện nay chúng ta đang từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền
Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) của dân, do dân và vì dân. Chỉ khi có
một Nhà nước như vậy mới có thể phát huy được quyền dân chủ của nhân
dân, đảm bảo quyền sống, quyền được làm việc, được lao động, được học
hành, được đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội. Nó ảnh hưởng tới sự
lành mạnh của nền dân chủ, tới cuộc sống và số phận của từng người dân,
tới chiều hướng phát triển của xã hội.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân
trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong Nhà nước đó, dân chủ đi đôi
với kỷ cương trật tự, được thể chế hoá thành pháp luật, trong khuôn khổ của
pháp luật. Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân biểu hiện
trực tiếp sức mạnh của hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản. Đó là một nhà nước đại diện cho quyền lực chân chính của nhân dân;
một tổ chức nhà nước dựa trên nền dân chủ, vì dân chủ và do đó bằng pháp
luật và vì công lý. Để làm được những điều đó cần phải giải quyết tốt một số
nội dung chủ yếu sau đây:
1. Đảm bảo mọi lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân.
Để đảm bảo mọi lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân, nhất
thiết phải giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội, phát triển sự nghiệp giáo
dục, văn hoá, y tế… tất cả các yếu tố đó phải tiến hành đồng thời, nhưng
phải ưu tiên cho những vấn đề kinh tế, chăm lo tốt hơn đến cuộc sống hạnh
phúc và mọi nhu cầu phong phú, đa dạng của con người. Tất cả những điều
đó phải dựa trên cơ sở của sự phát triển kinh tế, nhất là khi đất nước còn
nghèo như hiện nay. Bởi vậy, nếu thoát ly sự tăng trưởng kinh tế, đặt ra
những yêu cầu quá cao đối với các lĩnh vực văn hoá – xã hội là không thực
tế. Nhưng cũng sẽ là sai lầm, nếu chỉ coi trọng phát triển kinh tế, lợi ích về
văn hoá – xã hội của nhân dân. Thực tiễn những năm qua cho thấy nếu
không chú trọng xây dựng và phát triển giáo dục, văn hoá, y tế, phúc lợi
công cộng, để cho những mặt này yếu kém và xuống cấp thì chẳng những
ảnh hưởng xấu tới việc chăm lo bồi dưỡng, phát huy nhân tố con người, mà
còn kìm hãm nguồn lực thúc đẩy kinh tế phát triển.
Nhân dân là người sáng tọ ra lịch sử cho nên nhân dân là nguồn gốc
của quyền lực. Trong xã hộI XHCN, quyền lực Nhà nước được bắt nguồn từ
nhân dân, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Vì vậy, trong công
cuộc đổi mới Nhà nước hiện nay, phải ra sức phát triển và hoàn thiện chế độ
đại diện, làm cho nó thực sự thể hiện bản chất nhân dân của Nhà nước ta.
Một Nhà nước như vậy mới đảm bảo quyền con người sống trong hoà bình,
độc lập, tự do; được quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và làm chủ bản
thân mình; được quyền có cuộc sống ấm no, bình đẳng và hạnh phúc. Tôn
trọng quyền của mỗi con người (quyền bình đẳng của công dân trước pháp
luật, bình đẳng dân tộc, bình đẳng nam nữ, tự do tín ngưỡng và không tín
ngưỡng cũng như các quyền tự do, dân chủ khác) phải gắn với nghĩa vụ và
trách nhiệm của mỗi người trước đất nước và xã hội.
Muốn đảm bảo mọi lợi ích và quyền hành đều thuộc về nhân dân, phải
kiên quyết đấu tranh chống lại những hiện tượng vi phạm pháp luật mà nổi
bật là tham nhũng và buôn lậu, xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của
công dân; làm hàng giả, trốn – gian lận thuế… gây tổn thất lớn cho Nhà
nước và nhân dân. Đó chính là tâm tư, nguyện vọng và cũng là đòi hỏi của
nhân dân đối với Nhà nước, thông qua Nhà nước.
Việc của đất nước là việc của nhân dân. Vì vậy, cần phải tập hợp rộng
rãi mọi lực lượng quần chúng nhân dân, phát huy đầy đủ khả năng và trí tuệ
của toàn dân để cùng lo việc nước. Hơn nữa, mọi quyền hành chỉ thuộc về
nhân dân khi có một cơ chế thích hợp để nhân dân có thể trực tiếp giám sát
các hoạt động của Quốc hội và đại biểu Quốc hội, của Hội đồng nhân dân và
đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, cũng như giám sát mọi hoạt động của
các cơ quan Nhà nước và viên chức Nhà nước. Phải có cơ chế thích hợp để
cử tri có thể bày tỏ sự tín nhiệm hay bất tín nhiệm của mình đối với đại biểu
Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân mà mình bầu ra, tạo điều kiện để
các đại biểu gắn bó hơn với cử tri, đề cao ý thức trách nhiệm của người đại
diện nhân dân, phải luôn xứng đáng với sự tín nhiệm của dân. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu lợi ích đều
vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính
phủ Trung ương do dân cử ra.” (1) Muốn đảm bảo mọi lợi ích và quyền
hành đều thuộc về nhân dân, phải chiến thắng được nghèo nàn và lạc hậu,
phát triển kinh tế, văn hoá, cải thiện đời sống nhân dân, xây dựng và từng
bước hoàn thiện nền dân chủ làm cho dân giàu, nước mạnh và bảo vệ vững
chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
2. Giải quyết mối quan hệ công dân – Nhà nước là mối quan hệ chính
trị cơ bản để xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.
Cơ sở để giải quyết mối quan hệ công dân – Nhà nước trong Nhà
nước pháp quyền XHCN là vấn đề quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi người
được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong đó Nhà nước pháp quyền có nghĩa
vụ tôn trọng giá trị cao nhất là con người; Nhà nước đề ra pháp luật, đồng
thời phải tuân thủ pháp luật và bảo đảm cho công dân được chống lại chính
sự tuỳ tiện của Nhà nước. Điều đó có nghĩa là “Nhà nước phải tạo ra cho
công dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi hỏi cái ngoài hoặc trên
những điều kiện quy định trong Hiến pháp và pháp luật” (2). Mặt khác, con
người là mục tiêu và giá trị cao nhất. Do đó, Nhà nước phải đảm bảo cho
công dân sự an toàn pháp lý, được hưởng các quyền và tự do cơ bản đó vi
phạm, kể cả từ phía các cơ quan Nhà nước và những người có chức vụ.
Chính vì vậy, một mặt Nhà nước đề ra pháp luật; mặt khác, chính Nhà nước,
các cơ quan Nhà nước, những người có chức vụ đều có nghĩa vụ bắt buộc
phải tuân thủ triệt để pháp luật, không có một tổ chức Nhà nước hoặc công
chức nào được đặt mình đứng ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật. Mọi
người và mọi tổ chức hợp pháp đều bình đẳng trước pháp luật. Cùng với
nguyên tắc này, Nhà nước ta tiến tới thực hiện nguyên tắc không cấm, tất
nhiên phải trong khuôn khổ của nền đạo đức XHCN và tôn trọng lợi ích của
xã hội và của người khác. Nguyên tắc này bảo đảm một mặt chống lại biểu
hiện lộng quyền, lạm quyền và mặt khác chống những hành vi tự do, vô
chính phủ.
Giải quyết mối quan hệ công dân – Nhà nước là xây dựng chế độ
trách nhiệm qua lại giữa Nhà nước và công dân (cá nhân), tức là giữa một
bên là người đại diện quyền lực Nhà nước và một bên vừa là chủ thể, vừa là
khách thể của quyền lực Nhà nước. Ở đây, Nhà nước xác định cho mình, cho
các cơ quan Nhà nước và những người có chức vụ trách nhiệm pháp lý rõ
ràng về các hành vi của họ. Công dân được đảm bảo quyền và khả năng bắt
buộc cơ quan Nhà nước và những người có chức vụ phải chấp hành pháp
luật, thực thi trách nhiệm của mình đối với họ.
Muốn giải quyết mối quan hệ giữa công dân và Nhà nước thì Nhà
nước phải đặt mục tiêu của mình là phục vụ lợi ích chính đáng của dân. Hơn
nữa, việc của đất nước là việc của dân, cho nên muốn làm việc của dân, cho
nên muốn làm việc của đất nước thì phải tập hợp rộng rãi, phát huy khả đầy
đủ năng và trí tuệ của toàn dân để cùng lo việc nước. Đồng thời phải xây
dựng một cơ chế để nhân dân kiểm soát có hiệu quả đối với các cơ quan Nhà
nước và nhân viên Nhà nước. Liên quan tới vấn đề này, phải từng bước hoàn
thiện chế độ dân chủ đại diện, nhưng cần hết sức coi trọng việc phát huy
quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân, tạo thành thói quen tốt trong sinh hoạt
xã hội.
Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước của dân, do dân bầu ra. Do
đó, một khi Nhà nước không còn vì dân, nghĩa là nó không đáp ứng được lợi
ích và nguyện vọng của nhân dân có quyền bày tỏ sự bất tín nhiệm đối với
nói. Đó là cơ sở để Bác Hồ nói rằng: “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân
có quyền đuổi Chính phủ”. (3)
Trong các chế độ cũ, Nhà nước là bộ máy của giai cấp bóc lột dùng để
thống trị và áp bức nhân dân; cho nên viên chức, quan lại tự xưng là cha mẹ
dân, đè đầu cưỡi cổ dân. Trong chế độ dân chủ XHCN, người chủ Nhà nước
là nhân dân; người cán bộ Nhà nước là do dân lựa chọn, được nhân dân ủy
quyền là “công bộc”; làm cán bộ là “làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không
phải là làm quan Cách mạng”(4). Trong các cơ quan Nhà nước, cán bộ vừa
là lãnh đạo, vừa là người hướng dẫn của nhân dân. Do đó, “nếu không có
nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng. Nếu không có Chính phủ, thì
nhân dân không có ai dẫn đường”(5). Chính vì vậy, trong Di chúc của mình,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở cán bộ, Đảng viên phải làm thế nào để
xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân. Là
người đầy tớ, cán bộ phải trung thành, tận tụy, cần kiệm liêm chính, chí công
vô tư, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ… Là người lãnh đạo thì phảI có trí
tuệ hơn người, minh mẫn, sáng suốt, nhìn xa trông rộng, gần gũi và trọng
dụng những người hiền tài, đức độ. Bởi vậy, người thay mặt và người đại
diện cho dân phải là người có đức, có tài, phải vừa “hiền” lại vừa “minh”.
3. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân
và vì dân phải dựa trên truyền thống, đặc điểm dân tộc, nhất là truyền thống
chính trị của đất nước.
Ngay từ khi Nhà nước Văn Lang được hình thành và qua hầu hết các
triều đại phong kiến trước đây, trong không ít trường hợp chính quyền Nhà
nước đã đóng vai trò tổ chức toàn thể dân tộc chống giặc ngoại xâm. Khi đó,
Nhà nước đại diện cho quyền lợi cơ bản sống còn của cả dân tộc là độc lập,
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Trong quan hệ với phong kiến
Trung Hoa trước đây, Nhà nước Đại Việt về hình thức thì mềm dẻo, khôn
khéo, nhưng mục tiêu bảo vệ độc lập tự chủ của quốc gia thì hết sức kiên
định.
Trong hơn 10 thế kỷ Bắc thuộc tổ chức bộ máy Nhà nước và chế độ
quan chức của các triều đại nước ta tuy chịu ảnh hưởng của Nho giáo và
Phật giáo, nhưng chúng vẫn được cải biên cho phù hợp với đặc điểm chính
trị - xã hội Việt Nam và chịu ảnh hưởng của văn hoá bản địa từng tồn tại
trước nó và cùng với nó. Suốt cả 10 thế kỷ ấy, ông cha ta đã đấu tranh chống
Bắc thuộc, chống đồng hoá, giành độc lập dân tộc và giữ gìn bản sắc văn
hoá dân tộc; đồng thời cũng biết tiếp thu có chọn lọc những thành tựu chính
trị - văn hoá của phong kiến phương Bắc để xây dựng Nhà nước độc lập tự
chủ theo hình thức Nhà nước Trung ương tập quyền. Sự tiếp thu đó là một
tất yếu lịch sử.
Trong suốt thời kỳ bị thực dân Pháp thống trị, dân tộc Việt Nam đã
kiên cường đấu tranh nhằm giành độc lập dân tộc. Các phong trào yêu nước
vào những năm cuối của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX (như phong trào Cần
Vương do các sỹ phu phong kiến yêu nước lãnh đạo nhằm tái dựng một Nhà
nước quân chủ an ninh; phong trào Đông Du của Phan Bội Châu nhằm xây
dựng một chính thể như nước Nhật tư sản – quân chủ nghị viện; phong trào
Đông Kinh Nghĩa Thục của Phan Chu Trinh nhằm thiết lập một quốc gia
độc lập theo mô hình của Pháp - Cộng hoà đại nghị tư sản; phong trào của
Việt Nam Quốc Dân Đảng theo gương của Cách mạng Tân Hợi Trung
Quốc…) đều nhằm giải phóng dân tộc và thiết lập Nhà nước theo mô hình
dân chủ tư sản. Mục tiêu của những phong trào đấu tranh trên đều không còn
phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đất nước nên bị thất bại.
Thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám năm 1945 do Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đưa lịch sử dân
tộc Việt Nam nói chung và lịch sử Nhà nước ta nói riêng bước sang một
trang sử mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã có những đóng
góp to lớn trong quá trình Cách mạng, xứng đáng là công cụ đắc lực của
nhân dân trong công cuộc đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, trong tổ
chức và xây dựng cuộc sống mới, xã hội mới phù hợp với những truyền
thống lịch sử và bản sắc dân tộc Việt Nam.
Ngày nay, trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo
cơ chế thị trường với định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội; việc mở cửa đối
với bên ngoài sau khi bình thường hoá quan hệ với Mỹ; những yêu cầu dân
chủ hoá đời sống xã hội đang đòi hỏi bộ máy Nhà nước phải được đổi mới
theo hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Việc xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam không phải là quay lưng lại với quá khứ vẻ
vang, xây dựng lại từ đầu một bộ máy Nhà nước theo một đường hướng
khác, mà là kế thừa và nâng lên tầm cao mới những giá trị truyền thống của
Nhà nước để xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt
Nam XHCN.
4. Xây dựng quyền lực Nhà nước của các công dân trên nền tảng một
hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện.
Tư tưởng về xây dựng quyền lực Nhà nước trong quan hệ xã hội của
các công dân thực chất là giải quyết mối quan hệ giữa quyền lực với pháp
luật. Trong đó pháp luật là cơ sở để duy trì quyền lực Nhà nước, bản thân
Nhà nước vừa là công cụ tổ chức của giai cấp, lại vừa là hình thức thực hiện
quyền lực công khai. Vì vậy, Nhà nước chỉ có thể biểu hiện ý chí phổ biến
và quyền lực công khai của mình đối với xã hội, với mọi công dân thông qua
pháp luật. Xây dựng quyền lực Nhà nước trong quan hệ xã hội của các công
dân là xây dựng một hệ thống pháp luật trên nền dân chủ thực sự, xuất phát
từ nhân dân và vì nhân dân. Pháp luật phải định hướng mọi công dân và tổ
chức xã hội vươn tới cái chân, thiện, mỹ, vươn tới tự do đích thực của con
người. Để đạt được mục đích đó, pháp luật phải khách quan, công bằng,
bình đẳng và dân chủ, lấy quyền con người, giải phóng con người làm trung
tâm để xây dựng quyền lực Nhà nước. Quyền lực Nhà nước phải thuộc về
nhân dân, phải thể hiện ý chí của nhân dân, là sự phản ánh khách quan các
nhu cầu xã hội, thúc đẩy tiến bộ xã hội. Mặt khác, khi đặt ra các thiết chế
của mình trong khuôn khổ pháp luật, hoặc thiết lập cơ chế để kiểm tra tính
hợp pháp, hợp hiến của các đạo luật, các cơ quan quyền lực Nhà nước cũng
phải làm sao cho hệ thống pháp luật được xây dựng trên sự tự do và các
quyền công dân được bảo đảm. Pháp luật XHCN thể hiện ý chí chung của xã
hội, được bảo đảm bằng sức mạnh cộng đồng. Nhà nước tôn trọng pháp luật
như một giá trị xã hội chung; đồng thời quyền lực Nhà nước là cơ sở, là tiến
đề quan trọng nhất để bảo đảm cho pháp luật có được bản chất pháp lý của
nó. Hệ thống pháp luật của Nhà nước luôn là chỗ dựa cho việc tổ chức và
hoạt động của quyền lực làm giá đỡ cho việc xác định các mục tiêu của
quyền lực Nhà nước là vì con người, vì xã hội của các công dân. Vì vậy, mọi
thiết chế quyền lực Nhà nước phảI thực sự bảo đảm tính công bằng, bình
đẳng và dân chủ của xã hội công dân. Bảo đảm trên nguyên tắc mọi người
đều bình đẳng trước pháp luật.
Xây dựng quyền lực Nhà nước trong quan hệ với xã hội của các công
dân là để bảo đảm cho mỗi công dân được hưởng những quyền tự do vốn có
của họ và không thể bị tước bỏ. Nhưng sự tự do của mỗi công dân phải dẫn
tới sự thống nhất của cả trật tự xã hội. Sự thống nhất đó chống lại mọi sự
chiếm đoạt quyền lực Nhà nước bởi các cá nhân chuyên quyền đứng bên
trên và bên ngoài dân, hoặc là loại bỏ sự vô trách nhiệm và bất lực của
những người cầm quyền. Chính vì vậy, mỗI ngườI dân là một giá trị tuyệt
đối của quyền lực Nhà nước chứ “không thể là công cụ của bất kỳ ai, dù là
có mưu đồ tốt đẹp nhất” (6).
Thực chất quyền lực Nhà nước là quyền lực của mọi công dân liên
hiệp lại tạo thành Nhà nước, chính công dân giao cho người đại diện của
mình thừa hành quyền lực đó. Cơ quan Nhà nước tự nó không có quyền mà
chỉ thừa hành quyền lực do công dân uỷ nhiệm. Vì vậy, công dân mới thật
sự là chủ thể của quyền lực Nhà nước. Xây dựng quyền lực Nhà nước trong
mối quan hệ với xã hội của các công dân là giải quyết mâu thuẫn giữa quyền
lực Nhà nước tập trung với quyền lực và tự do của công dân. Xã hội phải có
quyền lực Nhà nước tập trung, nhưng không phải mọi nhu cầu của người lao
động Nhà nước đều lo được. Bởi vì “không gian quyền lực Nhà nước là có
giới hạn, còn đối với cá nhân tự do thì không gian là vô tận” (7). Do đó xây
dựng quyền lực Nhà nước là phải tạo ra một hệ thống chính trị để làm cho
hai mặt trên trở thành điều kiện và nguyên nhấn của nhau. Trong hai mặt đó,
mặt công dân là nền tảng, là ngọn nguồn, là mục đích của mọi quyền lực
Nhà nước. Chính vì vậy, Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước của dân,
do dân và vì dân.
5.Nhà nước pháp quyền XHCN phải được tổ chức và vận hành theo
nguyên tắc tập trung dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản.
Tập trung dân chủ là nguyên tắc căn bản, là một yêu cầu tự nhiên và
tất yếu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền và nền dân chủ XHCN với
tư cách là một chế độ chính trị. Vì nếu không có dân chủ thông qua bàn bạc,
thảo luận, tranh luận để chọn một giải pháp hợp lý nhất thì không thể tạo
được sự thống nhất thật sự. Nhưng không có tập trung để chuyển sự thống
nhất từ quan niệm, nhận thức sang hành động, thì không bao giờ dân chủ trở
thành một giá trị hiện thực, một kết quả thực tế được “vật chất hoá” mà con
người có thể kiểm nghiệm, cảm nhận được một cách trực tiếp như cơm ăn,
nước uống hàng ngày.
Tập trung dân chủ trong Nhà nước pháp quyền XHCN là sự cần thiết
hợp lý để cho dân chủ tránh được những thói xấu tệ hại của thứ dân chủ bất
chấp pháp luật, kỷ cương, vượt quá hành động pháp lý để rơi vào tự do, hỗn
loạn, phá phách, vô chính phủ. Nó bảo đảm cho các cơ quan quyền lực
không thể trở nên nhu nhược, bất lực mà có thực quyền. Nó kết hợp tính tôn
trọng dân chủ, tôn trọng các quyết định của tập trung với tinh thần trách
nhiệm của các tổ chức và các cá nhân có quyền lực.
Điểm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý Nhà
nước theo tinh thần của Nhà nước pháp quyền là đề cao tinh thần tôn trọng
pháp luật, hoạt động hợp hiến, hợp pháp, thực hiện sự bình đẳng của mọi tổ
chức và cá nhân trước pháp luật, xác lập rành mạch quy chế, chức trách, bổn
phận công chức trước Nhà nước và xã hội. Đó là cơ sở để khẳng định rằng:
“sự kết hợp đúng đắn tập trung và dân chủ là yếu tố quyết định sức mạnh và
hiệu lực của bộ máy Nhà nước ta”.
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước pháp quyền
XHCN là nhằm đảm bảo cho Nhà nước mang bản chất của giai cấp công
nhân, thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Hoạt động của Đảng thể
hiện bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Sự lãnh đạo của Đảng tạo điều kiện phối hợp và phát
huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, giúp Nhà nước hoàn thành
thuận lợi mọi nhiệm vụ của mình. Đảng lãnh đạo Nhà nước được thể hiện
bằng những phương thức khác nhau. Một là, Đảng lãnh đạo Nhà nước để nó
thể chế hoá đúng đắn lập trường, các quan điểm chính trị cơ bản của mình.
Hai là, Đảng định hướng hoạt động của Nhà nước vào việc tổ chức thực
hiện có hiệu quả những nghị quyết đã được thể chế hoá đó. Ba là, Đảng lãnh
đạo công tác cán bộ ngay trong lĩnh vực Nhà nước…
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phải đổi mới
và chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước không phải nhờ vào uy quyền,
mệnh lệnh, mà ở trình độ năng lực vạch ra đường hướng chính trị đúng đắn
và thông qua công tác tuyên truyền, thuyết phục, làm cho mọi tổ chức và
toàn xã hội tự giác chấp nhận, ở tính gương mẫu và vai trò tiên phong chiến
đấu của tổ chức Đảng, của đội ngũ cán bộ, Đảng viên; ở sự gắn bó, tín
nhiệm của quần chúng đối với Đảng; ở sự trong sạch, vững mạnh về bản
lĩnh chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng.
Đổi mới, chỉnh đốn Đảng bao gồm đổi mới nội dung và phương thức
lãnh đạo của Đảng, xác định đúng mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước;
Đảng lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xây dựng nền pháp chế, nhưng Đảng và
mọi Đảng viên hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, gương
mẫu chấp hành chính sách và pháp luật; Đảng không lấn sân Nhà nước,
không làm thay Nhà nước.
Hiện nay vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản đối với Nhà nước
pháp quyền XHCN Việt Nam là không thể có một lực lượng chính trị nào có
thể thay thế được. Vấn đề đó không chỉ mang tính nguyên tắc được khẳng
định từ lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mà con là kết luận chắc
chắn được rút ra từ thực tiễn của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời
đến nay.
6. Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải phù hợp với những
giá trị phổ biến tiến bộ của nhân loại.
Quan niệm về một Nhà nước “Đức trị” và “Làm chính trị phải tựa vào
Nhân” của Khổng Tử là điểm tựa để xây dựng một Nhà nước lý tưởng thân
dân, gần dân, lấy dân làm gốc. Quan niệm đó có những giá trị quý báu mà
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam phải tiếp thu. Mặt khác, những nhà
tư tưởng cổ đại đã thấy được mối liên hệ giữa Nhà nước và pháp luật, vai trò
pháp luật trong tổ chức, hoạt động của Nhà nước, trong đó pháp luật phải thể
hiện ý chí của dân và phải khách quan, công bằng và bình đẳng.
Tư tưởng Nhà nước pháp quyền tư sản trong thời kỳ đầu cũng đã gắn
liền với ý tưởng về tự do, công bằng, bình đẳng, bác ái… ngọn cờ tư tưởng
giải phóng đó đã tạo nên những động lực xã hội hết sức mạnh mẽ cho sự giải
phóng xã hội, giải phóng giai cấp mà dù muốn hay không vẫn còn giữ
nguyên giá trị. Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của
dân, do dân, vì dân cũng vì những mục đích đó.
Vượt lên trên các nhà tư tưởng tư sản, các nhà kinh điển của chủ nghĩa
Mác – Lênin không chỉ dừng lại ở lĩnh vực tư tưởng về sự cần thiết của Nhà
nước pháp quyền mà còn hành động cách mạng để thực hiện hoá tư tưởng
đó trong xã hội. Chủ nghĩa xã hội làm nền tảng kinh tế dựa trên chế độ sở
hữu XHCN là biểu hiện cho việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân và vì
dân; đồng thời nó cũng là sự biểu hiện thực tế của tự do, bình đẳng bác ái…
của con người.
C. Mác viết: “Tự do là biến Nhà nước từ cơ quan đứng trên xã hội,
thành cơ quan hoàn toàn phục tùng xã hội, vào thời đại chúng ta, tự do ở
mức độ cao hơn hay thấp hơn của các hình thức Nhà nước được xác định
bởi mức độ chúng hạn chế tự do của Nhà nước”. V. I. Lênin tiếp thu tư
tưởng của C. Mác về Nhà nước pháp luật và phát triển nó trong điều kiện
thực tiễn mới phải kế thừa di sản mà loài người đã tích luỹ được; dưới chủ
nghĩa xã hội để điều tiết sản xuất và phân phối sản phẩm cần phải dùng pháp
quyền mà tính tư sản, do đó cần “Một Nhà nước tư sản không có giai cấp tư
sản”. Tiếp tục tư tưởng đó của Lênin, các nhà tư tưởng sau này khi bàn đến
nội dung, bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN đã khẳng định: “Không thể
nêu một nguyên tắc nào của quan điểm Nhà nước pháp quyền XHCN mà
chưa được xây dựng từ lâu hoặc không có những điều tương tự trong các
Nhà nước thuộc các hệ thống xã hội khác nhau”. Từ quan điểm đó, các nhà
chính trị pháp lý và triết học Mác – Lênin về Nhà nước pháp quyền đều nhấn
mạnh đến các đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân, vì dân như: quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, tính tối cao của
luật, nguyên tắc phân quyền và thống nhất quyền lực. Trong Nhà nước đó,
về bản chất pháp luật phải đảm bảo tính khách quan công bằng, bình đẳng;
pháp luật đảm bảo quyền con người, quyền tự do dân chủ được quan tâm đặc
biệt.
Kế thừa và phát huy những tư tưởng tiến bộ đó của nhân loại, Đảng ta
cho rằng việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do
dân, vì dân phải phù hợp với chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân
phối của nền kinh tế thị trường với định hướng XHCN. Nhà nước pháp
quyền XHCN của dân, do dân, vì dân phải phù hợp với tính chất xã hội hoá
theo hướng phát huy cao độ sáng kiến của cá nhân, tạo điều kiện cho mỗi cá
nhân tự do sáng tạo trong mọi hoạt động của mình. Để làm được điều đó,
Nhà nước có vai trò điều tiết kinh tế ở tầm vĩ mô, Nhà nước lo cho dân, tạo
điều kiện để nhân dân thực hiện mọi chức năng xã hội của mình. Do vậy,
chức năng xã hội của Nhà nước ngày càng được mở rộng và đi vào chiều
sâu.
Trong khi nhấn mạnh sự cần thiết phải kế thừa những giá trị nhân loại
trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, chúng ta cũng
không xem nhẹ truyền thống, đặc điểm dân tộc, hoàn cảnh cụ thể của đất
nước. Như vậy, Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của dân, do dân và
vì dân vừa phản ánh cái vốn có, đang có, lại vừa phản ánh cả xu hướng đang
đến của lịch sử dân tộc và của thời đại.
SOME ISSUES REGARDING THE BUILDING OF A
JURISDICTIONAL GOVERNMENT OF THE SOCIALIST REPUBLIC
OF VIETNAM WHICH IDS OF, FOR AND BY ITS PEOPLE
NGUYEN TRONG THOC
The Socialist Republic of Vietnam which is of, for and by its people,
is the demonstration of the organic integration between the nature of the
working class and the nationality and humanity. The governmental authority
belongs to the people led by the Communist Party. The governmental
authority is integrated with the authority distribution and close cooperation
among governmental authorities in 3 powers: legislative, executive and
judiciary powers. It is a government representing its people’s rights; it is a
governmental organization based on democracy, for democracy, by laws and
for justice.
CHÚ THÍCH
1. Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, NXB Chính trị quốc gia, HN – 1995, Tr. 698.
2. Nguyễn Duy Quý. Một số suy nghĩ về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp
quyền ở nước ta. Tạp chí nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, số 2 – 1992,
tr. 13.
3. Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, NXB Chính trị quốc gia, HN – 1995, tr. 60.
4. Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, NXB Chính trị quốc gia, HN – 1996, tr. 375.
5. Hồ Chí Minh toàn tập, T.5, NXB Chính trị quốc gia, HN – 1995, tr. 56.
6. Chính trị học. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, HN – 1994, tr.
197.
7. Chính trị học. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, HN – 1994, tr.
199.
8. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 – Khoá VII, HN – 1995, tr.
24.