Bằng công nghệ nano, người ta có thể "nhét" tất cả thông tin của 27 cuốn Từ điển Bách khoa

toàn thư của Anh nằm gọn trong một thiết bị chỉ bằng sợi tóc. Người ta cũng có thể chế tạo ra những con robot mà mắt thường không nhìn thấy được. Và, còn vô số điều kỳ lạ khác mà con người có thể khai thác nhờ vào công nghệ nano. Dưới đây là một số lĩnh vực đang hướng đến ứng dụng mạnh mẽ công nghệ nano : Điện tử và cơ khí: Máy tính và bóng đèn nano Nhiều phòng thí nghiệm đang bắt tay vào nghiên cứu thế hệ máy tính nano, máy tính có các chi tiết được thiết kế bằng việc sắp xếp những nguyên tử mới có khả năng lưu giữ ( chứa được nhiều terabyte thông tin ), xử lý thông tin với tốc độ lớn hơn hiện nay rất nhiều lần và đặc biệt là giá thành rẻ. Các ống nano cũng có thể làm sợi tóc thắp sáng bóng đèn, do vậy mà chúng đang được phát triển để thay thế các bóng điện, các bảng hiển thị thông tin, màn hình máy tính, điện thoại di động. Các ống nano cũng cực kỳ vững chắc, có sức mạnh gấp mười lần thép và đặc biệt là kháng nhiệt, điều này có thể giúp con người sản xuất ra hàng loạt thiết bị cho ngành sản xuất xe hơi, máy bay và tàu vũ trụ. Các tập đoàn đang tham gia lĩnh vực này là Hewlet Parkard, IBM, Intel, Nano-Proprietary, Natero, NVE, Samsung, Zettacore, General Motors và Ford. Y học: Robot nano đi vào cơ thể để chữa bệnh Các nhà khoa học về lĩnh vực nano đang hi vọng tạo ra một thế hệ robot thu nhỏ mà có thể chinh phục được mọi thách thức của cuộc sống. Trước tiên là trong y học, robot nano có thể dùng để chiến đấu chống virus, vi trùng. Chúng có thể đảm nhiệm là một nhà phẫu thuật hoàn hảo, được huy động để thực hiện kiểm soát hệ mao mạch và tiêu diệt các tế bào gây bệnh. Lợi ích chính của loại robot trong y học này là có thể phát hiện những dị dạng của tế bào và sửa chữa nó. Tuy nhiên, các nhà khoa học dự tính con người phải mất 25 năm nữa mới có thể triển khai những ứng dụng này. Các nhà khoa học Mỹ cũng đang chế tạo ra các phòng thí nghiệm siêu nhỏ mà có thể nằm gọn trong lòng bàn tay nhờ công nghệ nano. Những phòng thí nghiệm này có thể cho ngay những kết quả phân tích ở mọi bệnh tật, từ tiểu đường cho tới HIV. Trong công nghệ dược phẩm và hóa sinh, ứng dụng công nghệ nano, người ta có thể bào chế ra nhiều loại thuốc trên cơ sở cấu trúc nano để có thể tập trung chính xác vào khu vực cơ thể cần dùng đến thuốc. Đặc biệt, công nghệ nano trong tương lai còn có thể cho phép tạo ra những vật chất gần giống với cơ thể con người nhằm dùng thay thế những cơ thể bị hỏng của con người. Các công ty đang phát triển công nghệ này là BioPhan, General Electrics, Johnson & Johnson, LabNow, Nanokinetics, NASA và Quantum Dot. Năng lượng: Pin nano-năng lượng sạch và rẻ Nhờ công nghệ nano, những loại pin mới có khả năng quang hợp nhân tạo sẽ giúp con người sản xuất năng lượng sạch. Với công nghệ nano, người ta cũng có thể chế tạo ra những thiết bị ít tiêu tốn năng lượng hơn do sử dụng những loại vật liệu nhỏ nhẹ hơn. Hơn nữa, các màng nano (với chi phí sản xuất rất thấp) hứa hẹn có thể hấp thụ được nhiều năng lượng mặt trời hơn quang điện hiện nay. Việc này có thể khởi động cho một cuộc cách mạng trong việc sử dụng năng lượng mặt trời.

Hiện nay, các công ty đang tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực này là Carbon Nanotechnologies, mPhase Technologies, NanoSolar, Nanosys và UltraDots. Môi trường: Màng nano lọc nước thải Để giải quyết những vấn đề môi sinh, người ta có thể tạo ra những màng lọc các phân tử gây ô nhiễm nhỏ bé nhất. Công nghệ nano này giờ đây đang được áp dụng khá phổ biến ở Pháp để lọc nước thải. Những ứng dụng gần hơn với đời sống thường ngày là hiện nay một số công ty đã bắt tay vào sản xuất hạt nano dùng trong sơn, kính che nắng và ống carbon dùng trong công nghiệp điện tử. Các ống carbon này có thể sử dụng trong nhiều mặt hàng thông dụng như transitor, điện thoại di động, xe hơi và cả những mặt hàng mỹ phẩm. Quốc phòng: Quân đội nano Quốc phòng cũng là một lĩnh vực đang rất chú ý đến nghiên cứu công nghệ nano. Giới quân sự Mỹ giờ đây đặc biệt quan tâm đến công nghệ này. Điều dễ hiểu là những thiết bị kỹ thuật siêu nhỏ có thể trở thành vũ khí nguy hiểm hơn cả bom nguyên tử. Với một đội quân vô hình và sự nhân bản, robot siêu nhỏ có thể tiêu diệt kẻ thù chỉ trong chớp nhoáng. ... Hiện nay, công nghệ nano đang là một thách thức đối với chiến lược phát triển khoa học ở nhiều nước, đặc biệt là những nước có nền khoa học phát triển như Mỹ, Đức, Pháp và Nhật Bản. Bước vào thế kỷ 21, các quốc gia phát triển đã tăng ngân sách đáng kể cho phát triển công nghệ nano. Với tiến độ phát triển khoa học như ngày nay, nano có lẽ sẽ trở thành hiện thực trong tương lai không xa. Theo: BusinessWeek, Newsweek, TTO
ỨNG DỤNG CỦA CÔNG NGHỆ NANO TRONG DƯỢC PHẨM

Công nghệ nano, một trong những chiến lược công nghệ mũi nhọn trên thế giới đang được ứng dụng rộng rãi và có hiệu quả trong y-dược. Một trong những hệ sản phẩm dược ứng dụng công nghệ nano nhiều triển vọng nhất là các chế phẩm dẫn thuốc dạng liposome. Các chế phẩm này có khả năng tăng nồng độ dược chất tại vi trí đích, do đó tăng hiệu quả điều trị và giảm thiểu độc tính. Các chế phẩm liposome đang được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới hiện nay là các chế phẩm chứa dược chất chống ung thư Doxorubicin và chống nấm Amphotericin B. Giới thiệu chung về công nghệ Nano NanoPharmaceuticals (dược Nano) là dạng dược phẩm tạo ra bởi “công nghệ Nano”. Vậy “công nghệ Nano” là gì? Đó là nghành khoa học kỹ thuật sáng tạo và sử dụng các vật liệu, thiết bị và các hệ thống thông qua việc kiểm soát vật chất ở phạm vi kích thước nanomet (một nanomet bằng một phần tỷ met). Định nghĩa về công nghệ Nano do vậy bao hàm hàng loạt các lĩnh vực khoa học khác nhau từ các lĩnh vực in ấn, vật liệu tới các lĩnh vực cơ khí, tự động, công nghệ sinh học và dược phẩm... Từ năm 1959, khi tìm hiểu sự hoạt động của tự nhiên ở phạm vi kích thước nanomet, Tiến sỹ Feynman (Người đoạt giải thưởng Nobel về vật lý năm 1965) đã kết luận rằng con người hoàn toàn có thể làm được những điều như tự nhiên với một bài phát biểu dưới tiêu đề “There Is Plenty of Room at the Bottom” (tạm dịch “Có một khoảng rộng tồn tại dưới Đáy”. Từ đó một ngành khoa học phôi thai đã được sinh ra mà ngày nay được biết đến rộng rãi với tên gọi “Công nghệ Nano”. Ngành khoa học này đã thu hút mạnh mẽ một cộng đồng đông đảo các nhà khoa học cả trong lĩnh vực học thuật cũng như trong sản xuất; tạo ra những vật liệu nhỏ bé không thể nhìn thấy được nhưng đã tác động lớn đến cuộc sông của toàn bộ chúng ta. Và người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Công nghệ Nano” là K. Eric Drexler, người sáng lập và Chủ tịch danh dự Viện Chiến lược Hoa Kỳ, đó là vào thời điểm những năm 1980. Tầm quan trọng của công nghệ Nano nằm ở hai vấn đề: thứ nhất nó sẽ tạo ra một ngành “công nghiệp” với doanh thu ước tính 1000 tỷ USD vào năm 2015; thứ hai nó sẽ tác động đên cuộc sống của tất cả chúng ta. Quả thực, chúng ta đã và đang sử dụng rất nhiều các sản phẩm có chứa các tiểu phân nano mà không hề biết. Dược phẩm Nano

Rất nhiều nghên cứu đang được tiến hành nhằm ứng dụng công nghệ nano trong lĩnh vực điều trị. Với kích thước siêu nhỏ, các tiểu phân nano chỉ có thể cấu tạo từ một số rất ít các phân tử, khi kích thước của nguyên liệu giảm xuống dưới 100 nm, vật chất sẽ

thể hiện các bản chất của vật lý lượng tử với những đặc tính hoàn toàn mới. Ví dụ, vật chất có thể mạnh hơn, nhẹ hơn và có độ hoà tan cao, ít hút ẩm, nói chung là thể hiện đặc tính hoá lý hoàn toàn mới. Một ví dụ đơn giản là carbon, từ carbon Thiên nhiên đã tạo ra than đá và kim cương, ngày nay Nhân loại hoàn toàn có thể, với công nghệ nano, tạo ra nhiều vật liệu, thiết bị và cấu trúc hoàn toàn mới. Trong ngành dược, các sản phẩm ứng dụng công nghệ nano có thể được phân thành 2 lĩnh vực chính: các thuốc tạo ra bởi công nghệ nano (NanoEngineered Drugs) và hệ dẫn thuốc nano (NanoCarriers). NanoEngineered Drugs

Các nhà khoa học dược đã điều khển các phân tử thuốc để tạo ra những đặc tính vật lý mong muốn thông qua các quá trình kết tinh, muối hoá hoặc sử dụng các phân tử nước của dạng kết tinh. Nhờ vậy các phân tử thuốc trở nên bền vững hơn về mặt hoá học, có nhiều ưu việt hơn cho mục đích chế dược học, tăng sinh khả dụng hoặc tăng hiệu quả điều trị. Tương tự, việc thiết kế các phân tử thuốc dưới các dạng nanocrystals (tinh thể nano), nanoprecipitas (kết tủa nano), nanosupensions (hỗn dịch nano) và nanoparticles (tiểu phân nano) có các tác dụng sau: -Tăng độ hoà tan và tăng sinh khả dụng của các phân tử thuốc (các vật liệu dưới dạng tinh thể nano tăng sinh khả dụng đường uống). -Phát triển các dạng thuốc khác nhau (ví dụ hỗn dịch nano dùng cho đường tiêm). -Khai thác các đường dùng thuốc khác nhau (ví dụ vận chuyển thuốc qua mũi và mắt tạo ra nhiều tiện lợi cho bệnh nhân). NanoCarriers và Hệ vận chuyển thuốc liposomes Công nghệ nano đã tạo ra hàng loạt hệ vật chất với kích thước từ vài nanomet tới 250 nanomet được sử dụng để vận chuyển dược chất đến các bộ phận mong muốn trong cơ thể với liều lượng thích hợp và theo đúng thời gian mong muốn, nói tóm lại đảm bảo được 3 yếu tố góp phần tạo nên tính an toàn và hiệu quả của thuốc: đúng noi, đúng lúc và đúng liều. Các hệ vận chuyển thuốc có nhiều triển vọng là polymer-micelles, dendrimers, các tiểu phân nano có nguồn gốc kim loại polymer, ceramic, protein, virus, và các tiểu phân liposome. Các dược chất hoặc các tác nhân chẩn đoán sẽ được đưa vào bên trong, liên kết hoá học hoặc gắn vào bề mặt của các tiểu phân này. Hệ vận chuyển thuốc tiêu biểu có nhiều triển vọng nhất là dạng thuốc liposome. Liposomes là những tiểu phân nhân tạo hình cầu có kích thước nano được cấu tạo cơ bản từ các thành phần phospholipid tự nhiên và cholesterol. Năm 1961, nhà khoa học người Anh Alec D. Bangham đã phát hiện ra rằng khi các phân tử phospholipid kết hợp với nước sẽ lập tức hình thành những quả cầu được cấu tạo bởi những màng kép do cấu trúc phân tử phospholipid với một đầu phân tử hoà tan được trong nước, trong khi đó đầu kia của phân tử không hoà tan trong nước (xem hình minh họa). Ngay sau đó liposome đã được xem như là hệ vận chuyển thuốc lý tưởng, một "magic bullets"(viên đạn thần diệu), có khả năng định vị và phá huỷ
các mô bị bệnh mà không gây hại cho các mô khoẻ mạnh như ước mơ của nhà vi khuẩn học nổi tiếng thế kỷ 19 người Đức Paul Ehrlich.

Liposome có 3 khả năng đặc trưng: -Có thể vận chuyển được các dược chất hoà tan trong nước (được giữ ở các khoang nước bên trong) cũng như các dược chất hoà tan trong dầu (được cấu tạo trong các lớp màng kép phospholipid). Các tiểu phân liposome đồng thời còn có tác dụng bảo vệ và phóng thích một cách có kiểm soát các hoạt chất. Do vậy liposome có thể thay đổi hoàn hoàn các đặc điểm dược động học của hoạt chất. -Cấu trúc màng phospholipid của liposome đồng thời cũng là cấu trúc màng sinh học của cơ thể sống, do vậy liposome sẽ là chế phẩm y học có tính an toàn cao. -Liposome có khả năng được thiết kế để tăng nồng độ thuốc ở những mô đặc biệt, được coi là dạng thuốc “đích” (targeting drugs) lý tưởng. Liposome tạo ra nhiều hệ vận chuyển thuốc chọn lọc (selective drug delivery) như các thế hệ liposome miễn dịch (Immunoliposome) và liposome nhạy cảm với sự thay đổi của nhiệt độ hoặc pH (Thermal-sensitive liposome và pH-sensitive liposome). Dựa theo cấu trúc màng phospholipid, liposome có thể phân loại thành: -Multilamellar liposomes (Liposome đa lớp): có cấu trúc gồm nhiều lớp màng kép phospholipid hình cầu đồng tâm. -Unilamellar liposomes (Liposome đơn lớp): có cấu trúc gồm chỉ một lớp màng kép phospholipid hình cầu. Đặc của các tiểu phân liposome tạo ra nhiều ưu điểm về chế dược như sau: cấu trúc ổn định khi bị pha loãng -Có thể dễ dàng thay đổi tính thấm của lớp màng kép với các phân tử phospholipid khác nhau. -Có khả năng kết hợp tất cả các dược chất tan hay không tan trong nước và vận chuyển chúng đến môi trường mong muốn.
-Có

điểm

cấu

tạo

Trong cơ thể sống, sau khi được đưa vào tuần hoàn máu bằng cách tiêm, truyền tĩnh mạch, khác với các dạng thuốc thông thường, các tiểu phân liposome không khuyếch tán được qua thành mạch máu bình thường để đi đến các mô trong toàn cơ thể. Mặc dầu có cấu tạo lớp màng kép tương tự các tế bào cơ thể, các tiểu phân liposome vẫn có thể bị cơ thể coi là “ngoại lai” và ít nhiều sẽ bị đào thải theo cơ chế miễn dịch, chủ yếu thông qua tác dụng thực bào của hệ thống lưới nội mô (reticuloendothelial system (RES)) và/hoặc bị phá vỡ (lysis) trong huyết tương. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp người ta đã khai thác tác dụng thực bào để đưa thuốc đến các tổ chức RES. Một ví dụ tiêu biểu là chế phẩm liposome chứa Amphotericin B, một hoạt chất chống nấm hoạt phổ rộng. Mặc dầu các tế bào thực bào là những tế bào chủ yếu đảm nhiệm chức năng bảo vệ cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh vi sinh vật, tuy nhiên trong các trường hợp bệnh lý, nhiều vi sinh vật đã thâm nhập và tồn tại bên trong các tế bào này. Theo cơ chế thực bào, các tiểu phân liposome cũng sẽ xâm nhập vào bên trong tế bào bị bệnh, giải phóng hoạt chất và tiêu diệt vi sinh vật. Ngoài tác dụng tăng cường nồng độ thuốc bên trong các tế bào bị bệnh, chế phẩm liposome còn có tác dụng làm giảm độc tính đối với thận và giảm tiết cytokin. Các kết quả nghiên cứu lâm sàng cho thấy chế phẩm liposome chứa amphotericin B chỉ với liều 1 mg/kg/ngày đã mang lại hiệu quả điều trị thành công trên 91,1% bệnh nhân bị nấm hệ thống (invasive, system fungus infection) hoặc Leishmaniasis so với hiệu quả 46% khi sử dụng 4-6 mg/kg/ngày chế phẩm amphotericin B thông thường (Amphocil/Amphotec). Chỉ có 2 trong tổng số 109 bệnh nhân phải tạm thời ngừng sử dụng chế phẩm liposome nhưng sau đó đã tiếp tục điều trị thành công trong khi 34-60% bệnh nhân sử dụng chế phẩm amphotericin B thông thường phải chịu các độc tính đối

với thận.

Các nhà khoa học đã nhận thấy rằng các tiểu phân có bề mặt bên ngoài thân nước có thể tránh được tác dụng thực bào RES và tồn tại lâu trong tuần hoàn máu. Các tiểu phân tồn tại kéo dài trong máu này được xem là những chất vận chuyển thuốc lý tưởng đến các tổ chức mô có cấu tạo hệ mạch máu có các lỗ hổng thành mạch lớn, ví dụ các mô ung thư và các tổ chức viêm theo cơ chế tăng tính thấm và tăng thời gian lưu giữ (enhanced permeation and retention (EPR)). Các chế phẩm liposome nghiên cứu theo hướng này được coi là Liposome thế hệ hai (tiếng Anh gọi là long-circulating liposome, extended circulating liposome hay “Stealth” liposome). Các sản phẩm tiêu biểu cho liposome thế hệ hai này là các chế phẩm có chứa Doxorubicin, một chất chống ung thư truyền thống có hoạt phổ cao nhưng còn nhiều hạn chế do độc tính lớn. Các tiểu phân liposome này có kích thước trung bình 100 nanomet và được cấu tạo bên ngoài bởi lớp polyethylene glycol. Lớp polymer này có tác dụng ngăn cản sự tiếp xúc giữa tiểu phân liposome và các thành phần huyết tương có tác dụng opsonin, nhờ đó giảm tác dụng thực bào. Do vậy các chế phẩm liposome này có nửa đời sinh học (là thời gian để đào thải hoặc phân huỷ 1/2 lượng thuốc) kéo dài tới 71.5 giờ so với thời gian 10 phút cho dạng thuốc Doxorubicin thông thường. Các kết quả nghiên cứu trên bệnh nhân Kaposi's sarcoma đã ghi nhận đáp ứng lâm sàng tích cực ở 43.2% bệnh nhân, so với tỷ lệ đáp ứng 24,5% khi điều trị kết hợp ABV (Doxorubicin-Bleomycin-Vincristin). Đáng lưu ý là trong số 928 bệnh nhân thử nghiệm sử dụng chế phẩm này chỉ có 100 người (10.8%) xuất hện các phản ứng không mong muốn, tỷ lệ bệnh nhân ngừng điều trị vĩnh viễn là 2%. Các độc tính chủ yếu thường xuất hiện đối với dạng thuốc Doxorubicin thông thường như độc tính tim, suy tuỷ và rụng tóc được giảm đi rất nhiều. Theo một báo cáo thử nghiệm lâm sàng pha III, chỉ có 10/254 bệnh nhân sử dụng chế phẩm Doxorubicin dạng liposome có biểu hiện độc tính tim và không ai trong só bệnh nhân này có diễn biến suy tim xung huyết (congestive heart failure), trong khi đó có 48/255 bệnh nhân sử dụng dạng thuốc Doxorubicin thông thường bị độc tính tim và 10 trong số này có triệu chứng suy tim xung huyết. Do vậy chế phẩm dạng liposome được chỉ định điều trị cả trong ung thư di căn có nguy cơ cao về tim. Các tác dụng không mong muốn về mặt huyết học do tác dụng ức chế tuỷ của doxorubicin trong chế phẩm liposome ít được báo cáo hơn và hầu hết ở mức độ nhẹ hoặc vừa phải và có thể kiểm soát được, chỉ có dưới 1% bệnh nhân bị ngộ độc huyết mức độ 4. Các trường hợp rụng tóc chỉ được quan sát ở 7% bệnh nhân điều trị dạng chế phẩm liposome so với 54 % bệnh nhân sử dụng dạng thuốc doxorubicin thông thường. Nói tóm lại, chế phẩm liposome đã chứng minh hiệu quả vượt trội với độ an toàn cao hơn hẳn các dạng thuốc thông thường. Thế hệ liposome vận chuyển chọn lọc: thế hệ này có thể coi là thế hệ liposome thứ ba, hay còn gọi là liposome “đích”, bao gồm các liposome miễn dịch (immunoliposome) và liposome nhạy cảm với pH hoặc nhiệt độ. Người ta có thể gắn vào bề mặt của tiểu phân liposome những phân tử peptid hoặc các kháng thể như kháng thể tác dụng với ICAM-1 (Intercellular cell adhesion molecule1) hoặc PECAM-1 (platelet endothelial cell adhesion molecule-1). Các phân tử này có khả năng nhận biết và kết hợp đặc hiệu với các chất dẫn (surface marker) trên bề mặt tế bào đích, do đó có tác dụng tập trung đặc biệt các tiểu phân liposome tới các tế bào này. Như vậy, so với các liposome thế hệ hai với cơ chế vận chuyển thụ động (do tăng thời gian tồn tại trong máu), các liposome miễn dịch có cơ chế vận chuyển tích cực (active targeting). Các liposome thế hệ này đã được nghiên cứu thành công và sẽ sớm được đưa vào thực tế điều trị các bệnh ung thư phổi, ung thư hầu họng và các bệnh nội mô tim. Hơn nữa, người ta còn có thể kết hợp cả 2 cơ chế vận chuyển trên, nghĩa là tạo ra các tiểu phân liposome vừa có cấu trúc polymer trên bề mặt để kéo dài thời gian tồn tại trong máu vừa gắn với các chất dẫn (ligan) để chủ động dẫn thuốc tới các tế bào mong muốn. Để có thể vận chuyển dược chất vào trong bào tương của tế bào đích, người ta đã đưa vào lớp màng kép của tiểu phân liposome các tác nhân nhạy cảm với pH (ví dụ polymethylacrylate), các tiểu phân này sẽ bị phá vỡ và dung hợp trong môi trường pH acid của thể endosome thứ cấp bên trong tế bào đích. Tương tự người ta còn gắn vào bề mặt liposome một antigen chủ yếu có ở influenza virus là hemagglutinnin (HA) glycoproteins. Dạng liposome kiểu virus này sẽ dễ dàng kết hợp với tế bào trình diện antigen (antigen presenting cell) thông qua các tiểu đơn vị (sub-unit) HA1 và sau đó bị phá huỷ đồng thời giải phóng dược chất khi đã đi vào bên trong té bào thông qua tiều đơn vị HA2 dưới tác động của pH acid của dạng endosome thứ cấp. Liposome trong trị liệu gen: có thể coi đây là thế hệ liposome thứ tư, thực chất là phức hợp cationic liposome (liposome cấu tạo bởi các phân tử phospholipid mang điện dương) có khả năng nén nhỏ các phân tử ADN hoặc plasmit cồng kềnh và đưa vào trong nhân tế bào. Đây là một giải pháp điều trị thay thế gen đầy triển vọng, đặc biệt an toàn so với các hệ vận chuyển khác, đặc biệt là so với hệ vận chuyển có nguồn gốc virus. Liposome không chỉ ứng dụng trong vận chuyển thuốc hoặc gen, khả năng ứng dụng liposome như chất thay thế hồng cầu nhằm vận chuyển oxy ó rất nhiều triển vọng. Có rất nhiều chương trình nghiên cứu thử nghiệm đưa hemoglobin vào các tiểu phân liposome theo các cấu trúc kết hợp tương tự tế bào hồng cầu tự nhiên. Cho tới nay các nghiên cứu này đã đạt được rất nhiều thành công tên động vật thử nghiệm, tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu về các phản ứng của cơ thể người khi sử dụng liều lớn liposome như một chất thay thế máu độc đáo. Mặc dầu việc sử dụngliposome với mục đích thay thế máu đặt ra vấn đề về cạnh tranh về giá thành, tuy nhiên lipisome có ưu việt cơ bản về độ an toàn, liposome không có nguy cơ truyền nhiễm virus hoặc đối kháng miễn dịch cho cơ thể người nhận. Triển vọng kinh tế của công nghệ dược nano Theo báo cáo của NanoMarkets, một công ty tư vấn công nghiệp thì các hệ vận chuyển thuốc sử dụng công nghệ nano sẽ tạo ra trên 1.7 tỷ USD vào năm 2009 và trên 4.8 tỷ USD vào năm 2012. Thị trường dịch vụ và các sản phẩm chất vận chuyển thuốc toàn cầu sẽ vượt 67 tỷ USD vào năm 2009 và sẽ thu hút đầu tư của rất nhiều công ty dược đa quốc gia. Tóm lại, liposome nói riêng và các dược phẩm công nghệ Nano, và rộng hơn nữa là sản phẩm công nghệ nano sử dụng trong chẩn đoán, phòng ngừa, điều trị bệnh, nâng cao chất lượng sống con người (ví dụ mỹ phẩm) đã và đang góp phần không những cho cuộc sống con người mà còn tạo ra những biến chuyển lớn cho các ngành sản xuất. Tài liệu tham khảo 1.S. Moein Moghimi, A. Christy Hunter, and J. Clifford Murray. Nanomedicine: current status and future prospects. The FASEB Journal Vol 19, March 2005 (310-330). Drummond DC, Meyer O, Hong K, Kirpotin DB, and Papahadjoulos D (1999) Optimizing liposomes for delivery of chemotherapeutic agents to solid tumors. Pharmacol Rev 51: 691-743

Ứng dụng của công nghệ nano trong một số lĩnh vực
Bằng công nghệ nano, người ta có thể "nhét" tất cả thông tin của 27 cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư của Anh nằm gọn trong một thiết bị chỉ bằng sợi tóc. Người ta cũng có thể chế tạo ra những con robot mà mắt thường không nhìn thấy được. Và, còn vô số điều kỳ lạ khác mà con người có thể khai thác nhờ vào công nghệ nano. Dưới đây là một số lĩnh vực đang hướng đến ứng dụng mạnh mẽ công nghệ nano : Điện tử và cơ khí: Máy tính và bóng đèn nano Nhiều phòng thí nghiệm đang bắt tay vào nghiên cứu thế hệ máy tính nano, máy tính có các chi tiết được thiết kế bằng việc sắp xếp những nguyên tử mới có khả năng lưu giữ ( chứa được nhiều terabyte thông tin ), xử lý thông tin với tốc độ lớn hơn hiện nay rất nhiều lần và đặc biệt là giá thành rẻ. Các ống nano cũng có thể làm sợi tóc thắp sáng bóng đèn, do vậy mà chúng đang được phát triển để thay thế các bóng điện, các bảng hiển thị thông tin, màn hình máy tính, điện thoại di động. Các ống nano cũng cực kỳ vững chắc, có sức mạnh gấp mười lần thép và đặc biệt là kháng nhiệt, điều này có thể giúp con người sản xuất ra hàng loạt thiết bị cho ngành sản xuất xe hơi, máy bay và tàu vũ trụ. Các tập đoàn đang tham gia lĩnh vực này là Hewlet Parkard, IBM, Intel, Nano-Proprietary, Natero, NVE, Samsung, Zettacore, General Motors và Ford. Y học: Robot nano đi vào cơ thể để chữa bệnh Các nhà khoa học về lĩnh vực nano đang hi vọng tạo ra một thế hệ robot thu nhỏ mà có thể chinh phục được mọi thách thức của cuộc sống. Trước tiên là trong y học, robot nano có thể dùng để chiến đấu chống virus, vi trùng. Chúng có thể đảm nhiệm là một nhà phẫu thuật hoàn hảo, được huy động để thực hiện kiểm soát hệ mao mạch và tiêu diệt các tế bào gây bệnh. Lợi ích chính của loại robot trong y học này là có thể phát hiện những dị dạng của tế bào và sửa chữa nó. Tuy nhiên, các nhà khoa học dự tính con người phải mất 25 năm nữa mới có thể triển khai những ứng dụng này. Các nhà khoa học Mỹ cũng đang chế tạo ra các phòng thí nghiệm siêu nhỏ mà có thể nằm gọn trong lòng bàn tay nhờ công nghệ nano. Những phòng thí nghiệm này có thể cho ngay những kết quả phân tích ở mọi bệnh tật, từ tiểu đường cho tới HIV. Trong công nghệ dược phẩm và hóa sinh, ứng dụng công nghệ nano, người ta có thể bào chế ra nhiều loại thuốc trên cơ sở cấu trúc nano để có thể tập trung chính xác vào khu vực cơ thể cần dùng đến thuốc. Đặc biệt, công nghệ nano trong tương lai còn có thể cho phép tạo ra những vật chất gần giống với cơ thể con người nhằm dùng thay thế những cơ thể bị hỏng của con người. Các công ty đang phát triển công nghệ này là BioPhan, General Electrics, Johnson & Johnson, LabNow, Nanokinetics, NASA và Quantum Dot. Năng lượng: Pin nano-năng lượng sạch và rẻ Nhờ công nghệ nano, những loại pin mới có khả năng quang hợp nhân tạo sẽ giúp con người sản xuất năng lượng sạch. Với công nghệ nano, người ta cũng có thể chế tạo ra những thiết bị ít tiêu tốn năng lượng hơn do sử dụng những loại vật liệu nhỏ nhẹ hơn. Hơn nữa, các màng nano (với chi phí sản xuất rất thấp) hứa hẹn có thể hấp thụ được nhiều năng lượng mặt trời hơn quang điện hiện nay. Việc này có thể khởi động cho một cuộc cách mạng trong việc sử dụng năng lượng mặt trời. Hiện nay, các công ty đang tập trung vào nghiên cứu lĩnh vực này là Carbon Nanotechnologies, mPhase Technologies, NanoSolar, Nanosys và UltraDots. Môi trường: Màng nano lọc nước thải Để giải quyết những vấn đề môi sinh, người ta có thể tạo ra những màng lọc các phân tử gây ô nhiễm nhỏ bé nhất.

Công nghệ nano này giờ đây đang được áp dụng khá phổ biến ở Pháp để lọc nước thải. Những ứng dụng gần hơn với đời sống thường ngày là hiện nay một số công ty đã bắt tay vào sản xuất hạt nano dùng trong sơn, kính che nắng và ống carbon dùng trong công nghiệp điện tử. Các ống carbon này có thể sử dụng trong nhiều mặt hàng thông dụng như transitor, điện thoại di động, xe hơi và cả những mặt hàng mỹ phẩm. Quốc phòng: Quân đội nano Quốc phòng cũng là một lĩnh vực đang rất chú ý đến nghiên cứu công nghệ nano. Giới quân sự Mỹ giờ đây đặc biệt quan tâm đến công nghệ này. Điều dễ hiểu là những thiết bị kỹ thuật siêu nhỏ có thể trở thành vũ khí nguy hiểm hơn cả bom nguyên tử. Với một đội quân vô hình và sự nhân bản, robot siêu nhỏ có thể tiêu diệt kẻ thù chỉ trong chớp nhoáng. ... Hiện nay, công nghệ nano đang là một thách thức đối với chiến lược phát triển khoa học ở nhiều nước, đặc biệt là những nước có nền khoa học phát triển như Mỹ, Đức, Pháp và Nhật Bản. Bước vào thế kỷ 21, các quốc gia phát triển đã tăng ngân sách đáng kể cho phát triển công nghệ nano. Với tiến độ phát triển khoa học như ngày nay, nano có lẽ sẽ trở thành hiện thực trong tương lai không xa. Theo: BusinessWeek, Newsweek, TTO

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful