You are on page 1of 10

Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt

A – LÝ THUYẾT
Câu hỏi: Đơn vị ngữ pháp cơ sở của tiếng Việt là gì? Nó chi phối và giải
thích quy luật ngữ pháp tiếng Việt như thế nào?
Trả lời:
1. Đơn vị ngữ pháp cơ sở của tiếng Việt là tiếng vì tiếng là đơn vị đơn
giản nhất về mặt tổ chức và có giá trị ngữ pháp.
* Tiếng là đơn vị đơn giản nhất về mặt tổ chức:
- Mỗi tiếng tạo thành một chỉnh thể, không thể tách thành những bộ phận nhỏ
hơn được nữa. Ví dụ: trong tiếng “em”, ngữ âm học còn tách ra thành các âm vị
(em = e + m), nhưng ngữ pháp học thì coi tiếng “em” là một khối hoàn chỉnh,
không có tổ chức nội bộ.
- Tiếng là điểm xuất phát của quá trình tổng hợp các đơn vị ngữ pháp và cũng là
điểm kết thúc của quá trình phân tích các đơn vị ngữ pháp. Khi tổng hợp các âm
vị thành các kiểu đơn vị ngữ pháp thì tiếng là đơn vị xuất hiện đầu tiên trong
quá trình. Ngược lại, khi phân tích câu nói để tách ra thành các kiểu đơn vị ngữ
pháp thì tiếng là đơn vị cuối cùng có thể tìm ra được.
* Tiếng có giá trị về mặt ngữ pháp:
- Tiếng có khả năng giải thích mặt ngữ nghĩa: Tác dụng này thể hiện rõ qua
việc đối chiếu các đơn vị chỉ giống nhau bộ phận, tức là vừa có tiếng giống
nhau vừa có tiếng khác nhau. Ví dụ:
+ Đối chiếu không quân với không tặc, không gian, không khí, ta thấy được
tác dụng ngữ nghĩa của tiếng không và có thể tách không ra được.
+ Đối chiếu không quân với hải quân, thủy quân, lục quân, dân quân, ta
thấy tác dụng ngữ nghĩa của quân và tách quân ra được.
Như vậy, việc đối chiếu giúp chúng ta thấy được ý nghĩa của của tiếng và
tách tiếng ra được. Đơn vị tiếng là những bộ phận nhỏ nhất có thể bắt gặp
được, lặp đi lặp lại nhiều lần ở những trường hợp khác nhau nhưng vẫn giữ
nguyên nội dung ngữ nghĩa.

1

Tiếng có khả năng giải thích mặt tổ chức đơn thuần hình thái: Tác dụng này của tiếng thể hiện rõ qua việc khảo sát các hiện tượng tách.Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt . ta có thể thấy rằng trong bất kỳ từ song tiết nào của tiếng Việt. ta không thể khẳng định được vội vàng chỉ làm thành một chỉnh thể và không có tổ chức nội tại. ngoại lai) thì khi đặt chúng vào trong tiếng Việt. giữa tiếng phải giữ nguyên và tiếng phải iếc hóa. tách chúng thành hai bộ phận có giá trị ngữ pháp. mỗi tiếng cũng đều được xem như là một đơn vị gốc của ngữ pháp. tách mỗi tiếng ra thành một hình vị. Ví dụ: So sánh sung sướng với ăn sung mặc sướng. + Hiện tượng tách: Từ bị tách đôi thành hai nửa đặt rời nhau và đường tách đi ngang qua biên giới giữa hai tiếng. Tiếng chi phối và giải thích quy luật ngữ pháp của tiếng Việt. + Hiện tượng lặp: So sánh vội vàng với vội vội vàng vàng. đường tách giữa hai tiếng sung và sướng không phải đơn thuần chỉ là một đường ranh giới ngữ âm giữa hai âm tiết sung và sướng. 2. Cụ thể là: 2 . … chủ yếu là các từ phiên âm. mà là một đường ranh giới có giá trị ngữ pháp để từ đó ta có thể giải thích được quy tắc biến đổi từ sung sướng nhằm phục vụ cho việc đùng từ đặt câu trong tiếng Việt. ra-đi-ô. Với các từ đa tiết (gồm 3 hoặc 4 tiếng vô nghĩa trở lên. + Hiện tượng iếc hóa: có thể vạch đường ranh giới ở chỗ biên giới giữa hai tiếng. Rõ ràng. như a-pa-tít. có sự tồn tại của một đường ranh giới đi ngang qua ở sau vội và ở trước vàng. Các đặc trưng cơ bản của tiếng đã chi phối và giải thích quy luật ngữ pháp của tiếng Việt. đường ranh giới ngữ pháp cũng đi ngang qua ở biên giới giữa các tiếng. Ở đây. Nói cách khác. Ví dụ: cà phê với cà phê cà phiếc sư phụ với sư phụ sư phiếc Vận dụng phương pháp đối chiếu và phương pháp so sánh các khả năng biến đổi tổ chức từ. hiện tượng lặp và hiện tượng iếc hóa.

câu. người Việt rất chú ý đến sự hài hoà về ngữ âm. truy cập ngẫu nhiên.v. thơ thẩn. người ta tạo ra các đơn vị từ vựng khác để định danh sự vật. phiên bản (version). Vốn từ vựng tối thiểu của tiếng Việt phần lớn là các từ đơn tiết (một âm tiết. máy bay. nói chung. chẳng hạn: chôm chỉa. hiện tượng.Về ngữ âm: mỗi tiếng là một âm tiết. đỏng đa đỏng đảnh. ngữ pháp. siêu liên kết văn bản. vừa đa dạng trong hoạt động. gọi là hình tiết. Hệ thống âm vị tiếng Việt phong phú và có tính cân đối. một hoạt động hay một đặc trưng. có thể có nhiều từ ngữ khác nhau biểu thị. Theo phương thức này. tạo ra tiềm năng của ngữ âm tiếng Việt trong việc thể hiện các đơn vị có nghĩa. Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức láy thì quy luật phối hợp ngữ âm chi phối chủ yếu việc tạo ra các đơn vị từ vựng.Về ngữ pháp: Từ của tiếng Việt không biến đổi hình thái. . 3 . Tiếng là đơn vị cơ sở của hệ thống các đơn vị có nghĩa của tiếng Việt. Sự linh hoạt trong sử dụng. Nhiều từ tượng hình. thư thoại (voice mail).. đây là phương thức chủ yếu để sản sinh ra các đơn vị từ vựng. Hiện nay. v. Khi từ kết hợp từ thành các kết cấu như ngữ.Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt * Tiếng trùng âm tiết. tiếng Việt rất coi trọng phương thức trật tự từ và hư từ. v. là một yếu tố có nghĩa. đó là mỗi một tiếng (âm tiết) được phát âm tách rời nhau và được thể hiện bằng một chữ viết. vừa phong phú về số lượng.v. thư điện tử (e-mail). . một tiếng). tạo lời.Về từ vựng: Mỗi tiếng. Đặc điểm này sẽ chi phối các đặc điểm ngữ pháp khác. Từ tiếng. ví dụ: đất nước. ví dụ: tiếp thị. chỏng chơ. nhà tan cửa nát.. Đặc điểm này thể hiện rõ rệt ở tất cả các mặt ngữ âm. ngữ mới. . tượng thanh có giá trị gợi tả đặc sắc. Khi tạo câu. từ vựng. hiện tượng. chủ yếu nhờ phương thức ghép và phương thức láy Việc tạo ra các đơn vị từ vựng ở phương thức ghép luôn chịu sự chi phối của quy luật kết hợp ngữ nghĩa. nhà lầu xe hơi. đến nhạc điệu của câu văn. tiếng Việt triệt để sử dụng các yếu tố cấu tạo từ thuần Việt hay vay mượn từ các ngôn ngữ khác để tạo ra các từ.. xa lộ thông tin. lúng lá lúng liếng.. trùng hình vị. việc tạo ra các từ ngữ mới một cách dễ dàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển vốn từ. Cùng một sự vật. Đặc điểm này của tiếng làm nên đặc trưng loại hình đơn lập của tiếng Việt.. karaoke.

Phương thức hư từ cũng là phương thức ngữ pháp chủ yếu của tiếng Việt. Hư từ cùng với trật tự từ cho phép tiếng Việt tạo ra nhiều câu cùng có nội dung thông báo cơ bản như nhau nhưng khác nhau về sắc thái biểu cảm. "anh vì em". Trật tự chủ ngữ đứng trước. vị ngữ đứng sau là trật tự phổ biến của kết cấu câu tiếng Việt. "tình cảm" khác với "cảm tình". Nhờ hư từ mà tổ hợp "anh của em" khác với tổ hợp "anh và em". Trong tiếng Việt khi nói "Anh ta lại đến" là khác với "Lại đến anh ta". Nhờ trật tự kết hợp của từ mà "củ cải" khác với "cải củ".Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt Việc sắp xếp các từ theo một trật tự nhất định là cách chủ yếu để biểu thị các quan hệ cú pháp. 4 .

thôn – thôn xóm .Với các tiếng không phải là từ có nghĩa. Chúng ta thử so sánh 2 câu sau để thấy sự khác nhau trong nội dung thông báo: .Ông ấy không hút thuốc. Trên văn bản. có thể nói. có 7 tiếng / 7 từ / 7 âm tiết được đọc và viết tách rời nhau. Ngoài trật tự từ và hư từ. cầu gãy.Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt Ví dụ. ngữ điệu thường được biểu hiện bằng dấu câu. qua cầu gãy. 7 tiếng này đều có khả năng cấu tạo nên các từ ghép như về . .Đêm hôm qua. trong tiếng Việt.Đêm hôm.Thuốc. Từ lâu chúng ta đã sử dụng khái niệm 5 . Ngữ điệu giữ vai trò trong việc biểu hiện quan hệ cú pháp của các yếu tố trong câu. so sánh các câu sau đây: . tiếng mới là đơn vị tự nhiên. còn khi xét về mặt sử dụng thì chúng có tư cách của từ trong điều kiện ngữ cảnh nhất định. .trở về. tiếng là từ hoặc là yếu tố cấu tạo nên từ. * Tiếng có vị trí trung gian giữa hình vị và từ của các ngôn ngữ Ấn-Âu . nhưng hình vị ở các ngôn ngữ này thì khó nhận diện.Thuốc. cơ bản hơn hình vị. hầu như người bản ngữ nào cũng dễ nhận thức được.Với các tiếng mà là từ đơn (từ đơn tiết). Ví dụ: tiếng chóc trong chim chóc trở thành một từ hoàn toàn độc lập trong cụm không một con chim một con chóc nào cả * Tiếng là đơn vị tự nhiên. tồn tại một cách thực hơn đối với mỗi người Việt. nhờ đó nhằm đưa ra nội dung muốn thông báo. . từ là đơn vị tự nhiên. ông ấy không hút. dễ nhận diện đối với người bản ngữ Với các ngôn ngữ Ấn-Âu. xét về mặt vỏ vật chất thì chúng cũng tạo thành một âm tiết như các từ đơn tiết. tiếng Việt còn sử dụng phương thức ngữ điệu. chỉ những người am hiểu về ngôn ngữ mới phát hiện ra được thông qua phương pháp phân tích từ về mặt ngữ pháp học. Ví dụ: Trong câu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”. ông ấy cũng không hút. Trái lại.

6 .hoặc chữ hơn. tiếng một. chữ trước cả khi có khái niệm từ. và khi có khái niệm từ rồi thì chúng ta vẫn thường quen dùng tiếng. hầu như mọi đặc điểm quan trọng của ngữ pháp tiếng Việt đều bắt nguồn sâu xa từ đặc điểm của đơn vị gốc được gọi là tiếng.  Kết luận: Có thể nói.Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt tiếng. tiếng một.

Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt B – BÀI TẬP Phân tích câu ra các ngữ và biểu diễn mối quan hệ giữa các thành tố trong ngữ.Ngữ vị 1: đi đến ngã ba . * Đề ngữ: do ngữ danh từ đảm nhiệm (chính tố là “Ông”. Ông Năm đi đến ngã ba thì gặp một đám đông người đang vòng trong vòng ngoài xem hai con trâu húc nhau chí tử.Ngữ vị 2: gặp một đám… chí tứ + Chính tố là động từ “gặp” + Có 1 thành tố phụ (sau): là một cú. 1. phụ tố là “Năm”) Ông Năm * Thuyết ngữ: do 2 ngữ vị từ có quan hệ chính phụ đảm nhiệm . 1 sau): TTP thứ 3 là một cú. Ông Năm đi đến ngã ba thì gặp một đám đông người đang vòng trong vòng ngoài xem hai con trâu húc nhau chí tử. có chức năng làm bổ tố  Đề: là một ngữ danh:  Thuyết: là một ngữ vị từ: đang vòng trong vòng ngoài xem hai con trâu một đám đông người húc nhau chí tử o Chính tố: là động từ “xem” o Có ba thành tố phụ (2 trước. có chức năng làm bổ tố hai con trâu húc nhau chí tử 7 .

Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt 8 .

có chức năng làm trạng tố trong không gian mát lạnh của mưa.Có bốn thành tố phụ (1 trước. Tôi đã hít được trong không gian mát lạnh của mưa. có chức năng làm bổ tố cái mùi hương êm dịu của những hạt ngô rang  Chính tố: là một ngữ danh:  Có ba thành tố phụ (1 trước. 2 sau): mùi hương 9 . của miền rừng cộng với độ lạnh trong xe  Giới ngữ 1: trong không gian mát lạnh của mưa. không có thành tố phụ * Thuyết ngữ: do ngữ vị từ đảm nhiệm .Chính tố là động từ “hít” . của miền rừng  Giới ngữ 3: cộng với độ lạnh trong xe + TTP thứ tư: là một ngữ danh từ. của miền rừng cộng với độ lạnh trong xe cái mùi hương êm dịu của những hạt ngô rang. * Đề ngữ: do ngữ danh từ đảm nhiệm (đại từ lâm thời “Tôi” thay thế danh từ. Tôi đã hít được trong không gian mát lạnh của mưa.Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt 2. 3 sau): + TTP thứ ba: gồm 2 giới ngữ quan hệ đẳng lập. của miền rừng cộng với độ lạnh trong xe cái mùi hương êm dịu của những hạt ngô rang.

Hoàng Trọng Phiến ( 2006). Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng – từ ghép – đoản ngữ. NXB Đại học Quốc gia 10 .Tiểu luận – Môn Từ pháp tiếng Việt o TTP thứ 3 là một giới ngữ. có chức năng làm định tố: của những hạt ngô rang TÀI LIỆU THAM KHẢO Mai Ngọc Chừ. Vũ Đức Nghiệu. NXB Giáo dục Nguyễn Tài Cẩn (1998).