You are on page 1of 43

MỞ ĐẦU

Trong ngành công nghiệp dầu khí, một mạng lưới phức tạp các hệ thống
đường ống vận chuyển dầu thô, khí tự nhiên, các sản phẩm từ dầu khi từ các khu chế
biến, nhà máy lọc dầu.... Hệ thống đường ống này bao gồm các đường ống dẫn dầu
chính từ các mỏ khai thác đến các hệ thống xử lý và tank chứa, hệ thống đường ống
thu gom dầu và khí tự nhiên, hay đường ống vận chuyển các sản phẩm từ dầu thô từ
nhà máy lọc dầu đi đến các nơi tiêu thụ. Hệ thống này đóng vai trò vô cùng quan
trọng và là sự sống của nền công nghiệp dầu khí. Nó đóng vai trò như mạch máu lưu
thông cho dàn khai thác và nhà máy chế biến. Do đó việc vận hành và đảm bảo vận
hành thông suốt cho hệ thống là một yêu cầu bức thiết. Một nguyên nhân gây đau
đầu các kỹ sư vận hành là sự ăn mòn. Việc bảo vệ và phát hiện hiện tượng ăn mòn là
yêu cầu số một.
Trong đề tài tiểu luận này nhóm nêu ra những nguyên nhân chủ yếu và các
biện pháp chống ăn mòn gồm 4 phần:
Phần 1: Đặc điểm môi trường
Phần 2: Cơ chế gây ăn mòn
Phần 3: Phương pháp xác định và kiểm tra ăn mòn đường ống
Phần 4: Các phương pháp bảo vệ và chống ăn mòn đường ống

1

MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG........................................................................3
I.

PHÂN LOẠI ĐƯỜNG ỐNG, BỂ CHỨA.........................................................3

II. ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC TÁC NHÂN GÂY ĂN MÒN.4
1. Ảnh hưởng của môi trường................................................................................4
2. Các tác nhân gây ăn mòn.................................................................................10
PHẦN 2. CƠ CHẾ GÂY ĂN MÒN...........................................................................17
I.PIN ĂN MÒN.....................................................................................................17
II.ĂN MÒN DO ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH LUYỆN KIM.....................21
III. ĂN MÒN LỖ...................................................................................................23
PHẦN 3. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ KIỂM TRA ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG
................................................................................................................................... 26
1. Mẫu thử...........................................................................................................26
2. Khớp nối kiểm tra và trục quấn (test nipple spool)..........................................27
3. Đo bằng các thiết bị điện tử.............................................................................27
4. Phân tích hóa học.............................................................................................29
5. Hoạt động của vi khuẩn...................................................................................29
6. Thiết bị kiểm tra bề mặt...................................................................................30
PHẦN 4. CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ VÀ CHỐNG ĂN MÒN.........................31
1. Vật liệu............................................................................................................31
2. Lớp phủ chống ăn mòn....................................................................................31
3. Sử dụng chất ức chế.........................................................................................35
4. Phương pháp bảo vệ Cathod...........................................................................36
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................41

2

PHẦN 1. ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG
Ngành công nghiệp dầu khí có một mạng lưới phức tạp các hệ thống đường
ống vận chuyển dầu thô, khí tự nhiên, các sản phẩm từ dầu khi từ các khu chế biến,
nhà máy lọc dầu.... Hệ thống đường ống này bao gồm các đường ống dẫn dầu chính
từ các mỏ khai thác đến các hệ thống xử lý và tank chứa, hệ thống đường ống thu
gom dầu và khí tự nhiên, hay đường ống vận chuyển các sản phẩm từ dầu thô từ nhà
máy lọc dầu đi đến các nơi tiêu thụ. Hệ thống này đóng vai trò vô cùng quan trọng và
là sự sống của nền công nghiệp dầu khí.
Hệ thống thu gom và phân phối bao gồm hàng ngàn km đường ống với các
kích thước khác nhau, có đường kính thay đổi từ 2in. đến 60 in. Phần lớn hệ thống
đường ống được hệ thống trạm bơm và các bộ phận khác nằm rải rác dọc theo chiều
dài đường ống.
Các thiệt hại phát sinh do ăn mòn đã không đảm bảo được sự vận hành thông
suốt cho hệ thống đường ống, bể chứa. Điều này gây ra thiệt hại cho cả nhà sản xuất
lẫn nhà tiêu thụ. Vì vậy cần tìm hiểu để kịp thời phát hiện nguy cơ gây ăn mòn và sử
dụng phương pháp bảo vệ tránh những tổn thất không đáng có.
I.

PHÂN LOẠI ĐƯỜNG ỐNG, BỂ CHỨA
Theo môi chất bên trong
-

Hệ thống đường ống chuyển sản phẩm của nhà máy lọc dầu;

-

Hệ thống ống vận chuyển dầu thô;

-

Hệ thống ống dẫn nước làm mát (nước biển, nước sông);

-

Hệ thống ống nước thải;

-

Hệ thống ống nước chữa cháy…

-

Hệ thống ống vận chuyển khí
Theo môi trường bên ngoài

-

Hệ thống đường ống chìm dưới biển

-

Hệ thống đường ống chìm dưới đất

-

Hệ thống đường ống ngoài không khí (không khí biển, không khí trong bờ)

3

Bể chứa
-

Khu bể chứa sản phẩm

-

Khu bể chứa dầu thô

-

Ngoài ra còn một số hệ thống bể chứa khác như: bể chứa nước cứu hỏa, bể chứa
nước thảỉ …v.v…
Như vậy, môi trường mà đường ống, bể chứa tiếp xúc trực tiếp:
Bề mặt bên ngoài tiếp xúc trực tiếp với: Khí quyển, đất và nước (sông hồ,
biển)
Bề mặt bên trong luôn tiếp xuc với sản phẩm, dầu, khí, nước…, môi trường ăn
mòn của hệ thống công nghệ. Bề mặt bên trong đường ống dẫn dầu, bể chứa xăng
dầu thì phần đáy luôn bị đọng nước, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến ăn mòn cục bộ.

II.

ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG VÀ CÁC TÁC NHÂN GÂY ĂN MÒN
1. Ảnh hưởng của môi trường
Điều kiện khắc nghiệt của khí hậu nhiệt đới nóng ẩm kèm thêm sự xâm thực
mạnh của môi trường, đặc biệt là của Clo, đã khiến cho hàng ngàn công trình xây
dựng ở vùng biển nước ta phải gánh chịu sự ăn mòn và phá huỷ nghiêm trọng. Các
thiết bị cảng biển, công nghệ khai thác dầu và các tàu biển… đều bị nước biển ăn
mòn. Nước biển chứa 3-3.5% muối hoà tan. Thành phần của nước biển phụ thuộc vị
trí địa lý của vùng biển.
a. Đặc điểm ăn mòn trong nước biển:
Ăn mòn trong nước biển bị kìm hãm chủ yếu bởi quá trình catot. Ion Cl - ngăn
cản sự tạo thành màng thụ động trên bề mặt kim loại. Nước biển dẫn điện tốt nên
không có sự khống chế điện trở.
Các thực nghiệm cho ta thấy tốc độ ăn mòn thép cacbon phụ thuộc vào khoảng
cách đến bề mặt thoáng của nước biển. Tốc độ ăn mòn lớn nhất là ở vùng bắn toé tại
đó oxy hoà tan dễ tiếp cận kim loại và nồng độ clorua cao hơn đôi chút vì màng ẩm
bốc hơi. Tốc độ ăn mòn thấp nhất ở dưới mức bùn vì oxy khó thâm nhập. Tuy nhiên
các vi khuẩn khử có mặt trong bùn có thể làm tăng tốc độ ăn mòn.
Ảnh hưởng của oxy hòa tan
Độ hòa tan của oxy trong nước biển phụ thuộc vào độ muối của nước biển và
nhiệt độ: độ hoà tan giảm đáng kể khi tăng nhiệt độ và giảm nhẹ khi tăng nồng độ
muối.
4

càng xuống sâu. Vi sinh vật không tạo ra một loại ăn mòn duy nhất. hàm lượng oxy hòa tan dao động từ 5-8mg/l. ăn mòn do ứng suất và giòn hydro. nước thải. tốc độ ăn mòn tăng nhưng vẫn bị khống chế bởi quá trình khuếch tán. do đó dòng điện ăn mòn lưu thông dễ dàng hơn. vi khuẩn oxy hóa sắt. trên bề mặt nước biển. một loại vi sinh vật có thể 5 . ngành thủy điện. tốc độ ăn mòn phụ thuộc vào hàm lượng của oxy hòa tan trong dung dịch. Các vi sinh vật không nhìn bằng mắt thường gồm các vi tảo. vận chuyển và chế biến dầu khí. nhiều nhà khoa học cũng thừa nhận rằng trong khi ăn mòn vi sinh được cho là do một nhóm đơn lẻ các vi sinh vật thì ăn mòn vi sinh lại xảy ra mạnh nhất với sự có mặt của nhiều loại vi sinh vật trong môi trường. nhiên liệu hydrocacbon đã chưng cất. hợp kim có hàm lượng nicken và crom cao. Khi có mặt oxy hòa tan. Ăn mòn vi sinh xảy ra trên vật liệu kim loại và phi kim loại khi các vật liệu này tiếp xúc với nước biển. Các ngành công nghiệp bị dạng ăn mòn này ảnh hưởng nhiều nhất là công nghiệp khai thác. Ăn mòn do vi sinh vật Ăn mòn vi sinh (Microbiologically influenced corrosion – MIC) là dạng ăn mòn xảy ra khi có mặt các vi sinh vật và sự hoạt động của chúng. vi khuẩn oxy hóa mangan. Hơn nữa. nước ngọt. suy ra làm tăng tốc độ phản ứng. Trong nước biển tại pH trung tính và vắng mặt oxy hòa tan. tốc độ ăn mòn kim loại rất nhỏ gần như không đáng kể.Ở điều kiện thường. Các vi sinh vật gây ăn mòn rất đa dạng về mặt hình dạng và thường được nhóm thành chất nhận điện tử hoặc nguồn năng lượng liên quan đến phản ứng ăn mòn như vi khuẩn khử sunphat. mà nó gây ra ăn mòn cục bộ bao gồm ăn mòn pitting. và vi khuẩn. gây ăn mòn điểm (ăn mòn lỗ) đối với thép cacbon và với hầu hết thép không gỉ Ảnh hưởng của nhiệt độ Ngoài việc ảnh hưởng đến tốc độ hòa tan của oxy trong nước. Độ muối tăng dẫn đến tăng độ dẫn điện của nước. ăn mòn galvanic. hàm lượng oxy hòa tan càng giảm.. trừ một số hợp kim như hợp kim titan. nấm. Sự có mặt của ion clorua trong nước biển phá vỡ trạng thái thụ động của kim loại. Vi sinh vật có thể làm tăng tốc độ của một số phản ứng trong quá trình ăn mòn hoặc làm thay đổi cơ chế ăn mòn. Nó làm điện thế của kim loại dịch chuyển về phía âm hơn. Ăn mòn vi sinh được cho là chiếm khoảng 50% tổng chi phí do ăn mòn [10]. ăn mòn xói mòn.. nhiệt độ còn là một trong các yếu tố đông học quan trọng quyết định đến tốc độ ăn mòn kim loại. Ăn mòn vi khuẩn xuất hiện trên hầu hết các kim loại và hợp kim. Tuy nhiên. Ảnh hưởng của độ muối Sự có mặt của ion clorua có ảnh hưởng lớn đến tốc độ ăn mòn. dầu thô.

Sơ đồ quá trình ăn mòn trong khí quyển Nhìn vào sơ đồ ta cũng hình dung được các ảnh hưởng của môi trường không khí đến bề mặt thép đường ống. cũng là nơi tập trung các tác nhân gây ăn mòn bị hòa tan. hòa tan các chất xâm thực từ không khí (muối biển. do đó 6 . khi đó sự ngưng tụ bắt đầu – điều kiện quá trình ăn mòn xảy ra ngay cả khi khí quyển sạch. SO x. Khi vượt qua độ ẩm tới hạn.không đáng kể. Tẩm được định nghĩa là khoảng thời gian (h) mà không khí có nhiệt độ >0oC và độ ẩm tương đối >80%. Màng ẩm có vai trò dẫn điện. lớp màng ẩm bắt đầu có tác dụng như một lớp điện dịch thì tốc độ ăn mòn tăng theo độ ẩm trong không khí. bể chứa. Đặc điểm ăn mòn trong khí quyển Có thể hình dung quá trình ăn mòn trong môi trường khí quyển xảy ra theo sơ đồ sau: Hình 1. Thời gian lưu ẩm được tính là thời gian mà trên bề mặt kim loại tồn tại một màng dung dịch điện ly mỏng – đủ để các pin ăn mòn hoạt động và quá trình ăn mòn xảy ra. Đáng chú ý hơn là lớp ẩm hấp phụ tại thành bởi những ngưng tụ đầu tiên sẽ dễ dàng bão hòa oxi. NOx. Thời gian lưu ẩm (Tẩm) là một khái niệm cơ bản được sử dụng rất phổ biến trong nghiên cứu Ăn mòn kim loại. vì vậy sự ăn mòn thường xảy ra ở vùng bề mặt dễ bị tích tụ ẩm. Ảnh hưởng của chế độ nhiệt ẩm: Màng ẩm: Ăn mòn kim loại chỉ xảy ra khi có một lượng ẩm tới hạn trên bề mặt kim loại đủ để tạo thành một màng ẩm (trong không khí độ ẩm tới hạn này là 80%). Sự chết đi hay suy giảm các tế bào ở lớp màng sinh học không có nghĩa là có sự ngừng ảnh hưởng đến các quá trình điện hóa mà quá trình ăn mòn pitting vẫn có thể tiếp tục diễn ra dưới lớp lắng đọng của vi khuẩn khử sắt b.gây ra quá trình ăn mòn theo nhiều cơ chế. H2S…). Ở dưới độ ẩm tới hạn này thì quá trình ăn mòn không xảy ra hoặc tốc độ rất nhỏ .

lượng mưa lớn là các yếu tố làm tăng thời gian lưu ẩm và gia tốc quá trình ăn mòn. do đó làm giảm thời gian lưu ẩm. nhiệt độ tăng làm tăng tốc độ bay hơi của màng dung dịch bề mặt. Ngược lại. NH4(SO4)2. NOx. MgSO4…) giá trị độ ẩm tới hạn sẽ giảm xuống. Tẩm giảm do độ ẩm tương đối giảm cùng với sự tăng nhiệt độ.Tuy nhiên. Sự tăng nhiệt độ làm tăng tốc độ của các phản ứng điện hóa và quá trình khuếch tán. khi đó ăn mòn kim loại xảy ra thậm chí cả khi độ ẩm của không khí chỉ khoảng 40-50%. Tẩm tăng theo nhiệt độ đến khoảng 910oC. Các vùng khí hậu nhiệt đới ẩm trong đó có Việt Nam được đặc trưng bởi nhiệt độ cao (trung bình 20-30oC). Theo đó. Nhiệt độ: Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình ăn mòn kim loại phức tạp hơn và không đơn giản theo một chiều. Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình ăn mòn kim loại. Tẩm tỷ lệ thuận với độ ẩm tương đối. các vùng khí hậu nhiệt đới có thang nhiệt độ cao. khi không khí bị ô nhiễm hoặc trong không khí biển thì do sự sa lắng các tạp chất hút ẩm trên bề mặt kim loại (SO x. MgCl2. Sự tăng nhiệt độ cũng làm giảm sự hòa tan oxy và các khí ăn mòn khác. khi thử nghiệm dài hạn thì nhiệt độ không còn là yếu tố quyết định đối với quá trình ăn mòn kim loại trong khí quyển ngoài trời.tốc độ ăn mòn trong trường hợp này sẽ lớn hơn (nguy hiểm hơn) so với trường hợp trên bề mặt kim loại tạo thành màng nước mỏng ở độ ẩm cao hơn. ở nhiệt độ cao hơn. nên nhiệt độ có tác dụng giảm tốc độ ăn mòn. NaCl. Trên thực tế. thay đổi nhiệt độ theo mùa không lớn và độ ẩm tương đối của không khí ≥80% chiếm 12h/ngày kéo dài liên tục khoảng 2-12 tháng/năm. Hình 2. Thời gian lưu ẩm có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ và độ ẩm tương đối của không khí. Sự phụ thuộc của tốc độ ăn mòn kim loại vào nhiệt độ không khí. 7 . người ta thấy rằng tốc độ ăn mòn tăng theo nhiệt độ ở vùng nhiệt độ thấp và giảm theo nhiệt độ ở vùng nhiệt độ cao.

Mặt khác mưa axit lại mang đến bề mặt kim loại các ion gây ăn mòn dưới dạng ướt như H+. Một mặt.5) và gia tốc quá trình ăn mòn kim loại: NO2 được sinh ra chủ yếu là do sự cháy ở nhiệt độ cao. SO 2 hòa tan trong màng ẩm. do đó có tác dụng làm giảm đáng kể tốc độ ăn mòn.có khả năng hút ẩm tốt. NOx. các ion Cl. hoặc do quá trình luyện kim từ các quặng chứa lưu huỳnh. do đó các tác nhân ăn mòn từ môi trường dễ dàng tiếp xúc với kim loại và tốc độ ăn mòn tăng lên. kể cả khi thời gian lưu ẩm trở nên dài hơn. vì vậy nguy cơ hư hỏng các chi tiết thiết bị và công trình cao hơn nhiều lần so với trong đất liền và dễ xảy ra các tai nạn rủi ro. Ở Việt Nam tốc độ ăn mòn đạt cực đại trước khi có mưa và giảm đáng kể khi mưa bắt đầu [5]. Ion 8 .Ảnh hưởng của chế độ mưa Mưa góp phần tạo nên màng dung dịch trên bề mặt kim loại. góp phần hình thành dung dịch điện ly trên bề mặt kim loại và kéo dài thời gian lưu ẩm ngay cả khi không khí có nhiệt độ cao. tuy nhiên. NOx: Khí SOx. sự ảnh hưởng của mưa đến ăn mòn kim loại rất phức tạp. Ảnh hưởng của nhiễm bẩn khí quyển Các tạp chất phổ biến gia tốc ăn mòn khí quyển: SOx. khi đó NO nhanh chóng bị oxy hóa bởi ôzôn và tạo thành NO 2. NO2 hoàn toàn không tan trong nước. Ion Cl . ion Cl . nước mưa rửa trôi hoặc hòa tan sản phẩm ăn mòn.là tác nhân chủ yếu gây ăn mòn. axit này tan tốt trong nước và là tác nhân gây ăn mòn. tốc độ mưa. tần suất mưa.là một tác nhân nguy hiểm đối với các vật liệu kim loại. lơ lửng trong không khí. NOx là những khí thải công nghiệp chủ yếu gây ăn mòn khí quyển. Cl-…. Ảnh hưởng của Cl-: Ion Cl. SO42-. Chế độ mưa như tổng lượng mưa. tạo nên môi trường axit (pH<4. bị oxi hóa. Trong khí quyển biển/ ven biển. Hơn nữa. nó gia tốc ăn mòn kim loại và là tác nhân gây ăn mòn lỗ. làm giảm tính năng bảo vệ của lớp sản phẩm trên bề mặt. nước mưa rửa trôi các chất xâm thực là tác nhân gây ăn mòn sa lắng trên bề mặt kim loại dưới dạng khô. thường gặp trong khí quyển biển/ ven biển hoặc vùng công nghiệp sung quanh các nhà máy sản xuất HCl hoặc natri hypoclorua. ClẢnh hưởng của SOx. Khí SO2 được hình thành khi đốt cháy các nhiên liệu có chứa lưu huỳnh . cường độ mưa đều liên quan đến những tác động nói trên đối với ăn mòn kim loại trong khí quyển.tồn tại dưới dạng các hạt rắn hoặc lỏng li ti. chỉ có 1 phần nhỏ phản ứng trong pha khí với gốc hydroxyl và tạo thành axit nitric. đồng thời.

Sự sa lắng của Ion Cl. Bảng 1. không có các mỏ muối thì tốc độ ăn mòn kim loại rất thấp. cũng như tốc độ và hướng gió. Bên cạnh đó. Có rất nhiều dụng cụ và thiết bị chôn ngầm trong đất như: ống dẫn khí nước. điều kiện địa hình và khoảng cách từ bờ biển. sự có mặt của Ion Cl . ở đó tốc độ ăn mòn luôn cao hơn trong các vùng khí quyển ôn đới và các vùng khí quyển thành phố/ công nghiệp nhiệt đới. do đó làm tăng tốc độ ăn mòn. độ dẫn điện tốt (>0.Bản thân độ thâm nhập này lại phụ thuộc vào cấu tạo hạt và độ xốp của đất + Độ ẩm của đất + Độ muối của đất + Độ dẫn điện Trong thực tế người thường chỉ đo pH và độ dẫn điện của đất trong đa số trường hợp (pH=5-8). Điện trở riêng Ω. Các vùng khí quyển biển nhiệt đới thường có tốc độ ăn mòn cực đại. Những số liệu dưới đây cho thấy sự tương quan giữa điện trở và tính xâm thực của đất.m: <5 5-10 9 10-20 20-100 >100 .cũng làm tăng độ dẫn điện của lớp ẩm trên bề mặt kim loại và phá hủy lớp màng bảo vệ.Cl.nên hằng năm phải sửa chữa thay thế một lượng lớn các loại kể trên vì bị hư hỏng do ăn mòn Tính xâm thực của đất phụ thuộc vào các yếu tố: + Độ thâm nhập của không khí và nước vào trong đất.sẽ làm tăng nguy cơ và tốc độ ăn mòn ứng lực của các chi tiết. Ta có thể dự đoán rằng một nền đất ẩm. axít. kết cấu kim loại. Ở những vị trí cao. Tốc độ ăn mòn thép cacbon tại một số địa điểm của Việt Nam c. ít không khí. khô ráo. Tốc độ phá huỷ các cấu kiện do ăn mòn phụ thuộc vào địa hình. đặc biệt là các kết cấu làm bằng thép không gỉ. tùy theo địa phương mà đặc tính của đất khác nhau rất nhiều. cáp điện và điện thoại…. dầu. Đặc điểm ăn mòn trong đất Đất là môi trường không đồng nhất.2S/m) sẽ rất xâm thực.được quyết định bởi vị trí địa lý.

là một trong các tác nhân chính gây ăn mòn bên trong hệ thống đường ống khai thác và vận chuyển dầu khí. Tại các vị trí lớp cặn ăn mòn không sít chặt.hố sâu. các tác nhân ăn mòn có khả năng khuếch tán qua lớp sản phẩm kết tủa dẫn đến quá trình ăn mòn tiếp tục xảy ra theo cơ chế ăn mòn cục bộtạo ra các lỗ sâu (pitting). Đôi khi ta cũng gặp đất axít (pH=3-4) hoặc kiềm (pH=10-12). Nơi oxy đến nhiều hơn sẽ là catot. Tuy nhiên ẩm quá sẽ làm giảm tính xâm thực vì oxy khó thâm nhập vào bề mặt lim loại. ngăn cản ít nhiều quá trình ăn mòn xảy ra. gần đường sắt chạy điện…các thiết bị ngầm trong đất cũng bị ăn mòn do dòng điện lạc 2. pyrrhotite (Fe7S8) and troilite (FeS). Trong đất xốp cũng có thấy sự kìm hãm quá trình anot.các vùng anot và catot có thể cách xa như hàng trăm mét. Còn nơi oxy khó đến sẽ là anot và bị phá hủy. trừ trường hợp đất rất axít thì có thể là khử ion H+. Ăn mòn dưới đất có đặc điểm là: kim loại bị phá hủy ở dạng ăn mòn điểm. Trong trường hợp lớp sản phẩm ăn mòn sít chặt và độ bám dính cao.không/ít xảy ra quá trình ăn mòn. thậm chí hàng cây số. Sự có mặt của các sản phẩm sulfite sắt ở thành trong của đường ống dẫn khí chứng tỏ có sự ăn mòn với tác nhân H2S và các sản phẩm này kết tủa trên bề mặt thép. Hình thành cặp pin do thông khí không đều trong đất. Đất cát xâm thực hơn đất sét. 10 Thấp . Ăn mòn do H2S H2S là một khí có tính axit. H2S phá huỷ théptạo các sản phẩm ăn mòn kết tủa lắng đọng trên bề mặt kim loại dưới dạng pyrite (FeS2). Còn khi anot và catot xa nhau thì có kìm hãm do điện trở Trong khu vực công nghiệp.Tính xâm thực của đất: Rất cao cao Tương đối cao Trung bình Tăng độ ẩm của đất sẽ tăng tính xâm thực của nó. Các tác nhân gây ăn mòn a. Các loại đất này có tính xâm thực rất cao Ngoài ra. rỗ và chủ yếu ở mặt dưới của ống. sự ăn mòn kim loại trong đất còn chịu ảnh hưởng của vi sinh vật và nhiệt độ nữa Ăn mòn trong đất có quá trình là khử oxy. Trong phần lớn các loại đất thì quá trình ăn mòn xảy ra với sự kìm hãm quá trình catot do khó vận chuyển oxy đến bề mặt kim loại. Cấu trúc không đồng nhất của đất có thể tạo ra các cặp pin ăn mòn do thông khí oxy không đều. Tuy nhiên sản phẩm ăn mòn lắng đọng có khả năng bảo vệ hay không phụ thuộc vào thành phần. theo phản ứng sau: Fe + H2S = FeS + H2 Trong môi trường ẩm. dạng kết tủa và điều kiện hình thành lớp phủ.

tạo thành vảy sunfit sắt và giải phóng H 2. khi áp suất riêng phần của CO 2 lớn hơn 7 psi thì quá trình ăn mòn thép có thể xảy ra. giảm tính năng cơ lý. Ăn mòn do CO2 Khí cacbonic (CO2) thường có mặt trong hầu hết các pha dầu và pha khí.Tiếp xúc với H2S ở nồng độ 800 ppm có thể gây tử vong. Khi hòa tan trong nước. phản ứng với hydro sunfua tạo ra sunfua kim loại và hydro nguyên tử. kéo dài tuổi thọ của đường ống và trang thiết bị. vừa cho phép giảm thiểu ô nhiễm môi trường do H 2S rất độc. Việc loại bỏ khí H2S là vô cùng cần thiết. Hidro giải phóng ra thẩm thấu vào kim loại gây giòn hóa thép. Nồng độ giới hạn đối với phơi nhiễm H2S liên tục là 10 ppm. Nguyên tử hydro sẽ kết hợp với nhau tạo thành H 2 trên bề mặt kim loại hoặc khuếch tán vào mạng kim loại. H+ + CO32Tuy nhiên nồng độ CO2 hòa tan trong pha lỏng lớn hơn nhiều so với lượng H2CO3 hòa tan (gấp khoảng 103). CO2 + H2O  H2CO3 H2CO3  H+ + HCO3HCO3.Nồng độ H2S cao có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng do quá trình ăn mòn với sự khửphân cực của H+. Nứt do ứng suất sunfua trong H2S ẩm là vô cùng nguy hiểm và là vấn đề đặc biệt quan trọng trong ngành công nghiệp dầu khí vì chỉ cần hàm lượng H 2S rất nhỏ (hàm lượng vết) quá trình ăn mòn ứng suất sulfua cũng có thể xảy ra. Dạng ăn mòn thứ hai do H 2S gây nên là nứt ứng suất (SSC – Sulfide Stress Cracking). Các phân tử hidro và metan tạo ra một áp lực tích tụ trong các khoảng trống của mạng tinh thể kim loại dẫn đến hiện tượng giòn hóa thép. Trong môi trường khí có mặt oxy. b. vừa có tác dụng làm giảm thiểu tối đa quá trình ăn mòn thép. Các hợp kim dễ bị ảnh hưởng. khí cacbonic tạo thành axit cacbonic. giảm tính năng cơ lý. đặc biệt là thép. Bên cạnh đó. Điều kiện cân bằng giữa các được định lượng thông qua độ hòa tan của khí CO2 trong pha lỏng. thậm chí gây ra nứt do ứng suất. làm tăng ăn mòn cục bộ dưới lớp vảy. Cơ chế của quá trình này là nứt catot. điều đó chứng tỏ không phải toàn bộ lượng CO2 hòa tan đều chuyển thành H2CO3. theo phản ứng sau: 2Fe + 2CO2 + O2 → 2FeCO3 Khi có mặt CO2 và hơi nước quá trình ăn mòn xảy ra theo phản ứng: 11 . hydro khuếch tán vào thép có thể kết hợp với cacbon có trong hợp kim tạo ra metan (CH4). Vảy sunfit sắt đóng vai trò catôttrong quá trình ăn mòn điện hóa.

Tuy nhiên. sự hiện diện của H2S làm tăng tốc quá trình ăn mòn kim loại. oxy đóng vai trò là chất khử phân cực. sự có mặt của oxy còn góp phần tăng tốc quá trình ăn mòn trong CO 2 như biểu diễn ở phương trình (8). Ăn mòn do O2 Oxy hòa tan trong dung dịch khoan cũng là nguyên nhân chính gây ăn mòn đường ống. Tùy thuộc vào hàm lượng của oxy trong khí. chỉ với nồng độ oxy rất nhỏ khoảng 5 ppb có thể gây ăn mònkim loại.Sự có mặt của ôxy làm tăng mức độ ăn mòn của khí axit (H2S và CO2).Áp suất riêng phần của CO2 .Fe + H2CO3→ FeCO3 + H2 Các nghiên cứu [9] đã chỉ ra rằng. đường ống vận chuyển. Nó có khả năng oxy hoá thép tạo lớp sản phẩm ăn mòn dạng oxit Fe 2O3 hoặc Fe3O4 trên bề mặt kim loại.pH . việc loại bỏ oxy là cần thiết. Sản phẩm ăn mòn thép do oxy tạo ra rất phức tạp.Độ thấm nước của bề mặt kim loại .Nhiệt độ . Do vậy. ngoài các oxit sắt Fe 2O3 vàFe3O4.Nồng độ của sản phẩm ăn mòn (FeCO3) . Dòng dung dịch chảy trong đường ống với vận tốc cao cung cấp oxy cho phản ứng catot. 12 . do đó tốc độ ăn mòn trong pha khí thường rất nhỏ. làm tăng tốc độ phá hủy kim loại trong phản ứng anôt. c.Vi cấu trúc của kim loại (mối hàn) Bên cạnh CO2. gây dòn kim loại do ứng lực xung quanh việc hình thành sunfua kim loại và giải phóng hidro. khi có mặt của hơi nước lắng đọng. nhận điện tử trong phản ứng catôt. Do sản phẩm ăn mòn xốp nên oxy và các tác nhân ăn mòn khác hoà tan trong nước vẫn có thể khuếch tán đến bề mặt kim loại gây ăn mòn theo cơ chế điện hoá. các biện pháp vật lý hoặc hóa học có thể được áp dụng. Oxy được biết đến như một trong các tác nhân ăn mòn rất phổ biến trong pha khí. ăn mòn thiết bị. khai thác dầu khí do CO2 (khi có mặt của nước) bị ảnh hưởng bởi các thông số sau: .Dòng chảy (chế độ chảy. Lớp sản phẩm ăn mòn này ngăn cản ít nhiều quá trình ăn mòn tiếp tục xảy ra. Bên cạnh đó. còn tồn tại sản phẩm ăn mòn dạng FeOOH với các dạng thù hình khác nhau. vận tốc) . đặc biệt dưới tác dụng của nhiệt độ.

Ăn mòn do vi sinh vật Ăn mòn cũng có thể tăng tốc do sự góp mặt của các vi sinh vật sống trên thành ống. Ăn mòn vi sinh xảy ra trên vật liệu kim loại và phi kim loại khi các vật liệu này tiếp xúc với nước biển. Vi sinh vật có thể làm tăng tốc độ của một số phản ứng trong quá trình ăn mòn hoặc làm thay đổi cơ chế ăn mòn. Vi sinh vật không tạo ra một loại ăn mòn duy nhất. ăn mòn vi sinh (Microbiologically influenced corrosion – MIC) là dạng ăn mòn xảy ra khi có mặt các vi sinh vật và sự hoạt động của chúng.. 13 . dầu thô. ăn mòn galvanic. Các vi sinh vật không nhìn bằng mắt thường gồm các vi tảo. hơi nước có sẵn trong đường ống. nước thải. ăn mòn do ứng suất và giòn hydro. các sản phẩm khí axit.Hình 3. và vi khuẩn. Ăn mòn vi sinh được cho là chiếm khoảng 50% tổng chi phí do ăn mòn [10]. trừ một số hợp kim như hợp kim titan. nấm. nước ngọt. chuyển hoá các hợp chất chứa lưu huỳnh tạo các sản phẩm có thể làm tăng tốc quá trình ăn mòn thép. ngành thủy điện. hợp kim có hàm lượng nicken và crom cao. Ngoài ăn mòn hoá học và điện hóa dưới tác dụng của các khí ăn mòn. chất bám cặn… trên đường ống là nơi cư trú thuận lợi cho các vi khuẩn phát triển. ăn mòn xói mòn. Các sản phẩm ăn mòn. mà nó gây ra ăn mòn cục bộ bao gồm ăn mòn pitting. Vi khuẩn hoạt động có thể tạo ra các tế bào tập trung hoặc sản xuất axit hữu cơ. Loại ăn mòn này xảy ra khi có các vi khuẩn và các chất dinh dưỡng. Ảnh hưởng của nồng độ khí hòa tan đến tốc độ ăn mòn d. nhiên liệu hydrocacbon đã chưng cất. Các ngành công nghiệp bị dạng ăn mòn này ảnh hưởng nhiều nhất là công nghiệp khai thác.. Ăn mòn vi khuẩn xuất hiện trên hầu hết các kim loại và hợp kim. vận chuyển và chế biến dầu khí.

exp (-E/RT) (13) Với k : Hằng số tốc độ phản ứng ko : Hằng số E : Năng lượng hoạt hóa của phản ứng R : Hằng số khí T : Nhiệt độ phản ứng Nhiệt độ còn là một trong các yếu tố quan trọng trong việc hình thành màng bảo vệ cacbonat sắt trong quá trình ăn mòn dưới tác nhân CO2 cũng như làm tăng tốc 14 . Ảnh hưởng của vi sinh vật đến quá trình ăn mòn Sự có mặt của vi sinh vật trên bề mặt kim loại cùng với các hoạt động trao đổi chất của chúng làm thay đổi các quá trình điện hóa Các vi sinh vật gây ăn mòn rất đa dạng về mặt hình dạng và thường được nhóm thành chất nhận điện tử hoặc nguồn năng lượng liên quan đến phản ứng ăn mòn như vi khuẩn khử sunphat. vi khuẩn oxy hóa mangan.Hình 4. Sự chết đi hay suy giảm các tế bào ở lớp màng sinh học không có nghĩa là có sự ngừng ảnh hưởng đến các quá trình điện hóa mà quá trình ăn mòn pitting vẫn có thể tiếp tục diễn ra dưới lớp lắng đọng của vi khuẩn khử sắt e. Ảnh hưởng của nhiệt độ Nhiệt độ là một trong các yếu tố động học quan trọng quyết định đến tốc độ phản ứng trong pha khí. vi khuẩn oxy hóa sắt. Hơn nữa. một loại vi sinh vật có thể gây ra quá trình ăn mòn theo nhiều cơ chế. Tuy nhiên. nhiều nhà khoa học cũng thừa nhận rằng trong khi ăn mòn vi sinh được cho là do một nhóm đơn lẻ các vi sinh vật thì ăn mòn vi sinh lại xảy ra mạnh nhất với sự có mặt của nhiều loại vi sinh vật trong môi trường. Tốc độ phản ứng hóa học tăng theo hàm mũ khi nhiệt độ tăng như được biểu diễn trong phương trình Arrhenius : k = ko.

quá trình giảm nhiệt độ là nguyên nhân gây ngưng tụ hơi nước và hydrocacbon theo suốt chiều dài tuyến ống. khi nồng độ Fe 2+ và CO32-vượt quá các giới hạn độ hòa tan. Các tác nhân làm cho môi trường bên trong đường ống trở thành môi trường ăn mòn mạnh. giới hạn độ hòa tan (K sp) và tỷ lệ giữa diện tích bề mặt và thể tích (S/V) [5-6] : RFeC03 = (A/V) * f(T) * Ksp* f(S) Nhiệt độ cũng có thể làm thay đổi dạng phân tử của màng kết tủa bởi sự tăng tốc độ tạo mầm và sau đó là tăng tốc độ phát triển màng. H2S. để hình thành màng bảo vệ cacbonat sắt trong một thời gian ngắn. Trong dòng chảy nhiều pha. Khi tốc độ kết tủa được kiểm soát bởi tốc độ phát triển tinh thể. Do đó.Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng. phản ứng ăn mòn diễn ra hoặc ở điều kiện nhiệt độ cao hoặc pH cao. Nhiệt độ tới hạn cũng thay đổi theo pH và nồng độ ion Fe 2+ trong dung dịch như phương trình dưới.quá trình khuếch tán các tác nhân ăn mòn và sản phẩm ăn mòn tại bề mặt phân chia pha kim loại – dung dịch. Tăng nhiệt độ giúp cho việc đạt được trạng thái quá bão hòa bằng các tăng hằng số động học của kgr. làm giảm tốc độ ăn mòn kim loại. cho phép hình thành màng cacbonat sắt bảo vệ và giảm tốc độ ăn mòn. Khi nhiệt độ quá nhiệt độ giới hạn. các axit hữu cơ. Chất lỏng chảy trong đường ống có thể chứa một lượng CO 2. sít chặt và ổn định hơn so với nhiệt độ thấp. các màng bảo vệ không hình thành. sự hình thành kết tủa cacbonat sắt hình thành như một rào cản quá trình khuếch tán. sự tăng nhiệt độ có thể làm tăng hoặc làm giảm tốc độ ăn mòn phụ thuộc vào sự hòa tan của sản phẩm cacbonat sắt. tốc độ ăn mòn tăng theo nhiệt độ. f. Để có được một tốc độ kết tủa đáng kể. sự tăng nhiệt độ sẽ tăng tốc độ kết tủa. Khả năng bảo vệ của màng cacbonat sắt kết tủa có thể tăng lên ở nhiệt độ cao. Tăng nhiệt độ làm tăng tốc độ ăn mòn kim loại cho đến khi đạt được nhiệt độ giới hạn. Ở pH thấp. Bề mặt lớp kết tủa được hình thành ở nhiệt độ cao liên tục. Tốc độ hình thành cacbonat sắt (RFeCO3) có thể được biểu diễn như một hàm của nhiệt độ (T). độ quá bão hòa (được định nghĩa như là tỷ lệ của sản phẩm của nồng độ ion Fe 2+ và CO32-và các sản phẩm hòa tan (K sp)) phải lớn hơn 1 và hằng số tốc độphản ứng phải lớn. Ảnh hưởng của dòng chảy đến tốc độ ăn mòn Trong đường ống dẫn dầu/nước bơm ép. độ quá bão hòa (S). Tuy nhiên ở pH cao. tốc độ phát triển tinh thể có thể được biểu diễn theo độ quá bão hòa như sau: Rgr = kgr (S − 1)2 Trong đó : Rgr là tốc độ tăng trưởng và kgr là hằng số tốc độ tăng trưởng. 15 . ở các tốc độ khác nhau sẽ tạo ra các chế độ dòng chảy khác nhau. do vậy tạo ra tốc độ ăn mòn kim loại khác nhau.

Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng 16 . Ăn mòn diễn ra cả ở phần dưới và phần trên bên trong đường ống. Khi chảy trong đường ống một phần của chất lỏng (tồn tại như các hạt bụi nhỏ) có thể bám lại ở trên của đường ống. Đây là dòng chảy điển hình trong đường ống.Dòng chảy sương – mist flow: dòng chảy khi lượng chất lỏng trong đường ống là rất ít. Pha khí nằm ở giữa chất lỏng. PHẦN 2. một trong những nguyên nhân gây ăn mòn đường ống dẫn dầu. . Chế độ dòng chảy đặc trưng bên trong đường ống Ngoài ra trong đường ống dẫn dầu thực tế luôn có cát nên khi tốc độ dòng chảy tăng còn gây ra hiện tượng mài mòn. pha khí nằm ở phần trên. Trường hợp này xảy ra khi tốc độ dòng khí lớn. pha lỏng nằm ở phần đáy của đường ống. Hình 5. . CƠ CHẾ GÂY ĂN MÒN Bản chất của ăn mòn kim loại trong đường ống là quá trình ăn mòn điện hóa. mà cơ chế chính là quá trình khử phân cực catot oxi.Dòng chảy phân tầng: khi tốc độ dòng chảy thấp.Dòng chảy sương hình khuyên – annular mist flow: là dòng chảy mà pha lỏng tiếp xúc toàn bộ chu vi của đường ống. tốc độ dòng khí rất cao.Dòng chảy của chất lỏng và khí bên trong đường ống được chia ra 3 dạng: .

Quá trình ăn mòn bên trong đường ống dẫn dầu do các tác nhân. áp suất khí. nhiệt độ. - Pin ăn mòn có thể do sự tiếp xúc điện của hai kim loại khác nhau (ăn mòn galvanic) hoặc do sự chênh lệch về nồng độ oxy (ăn mòn hốc) 1. tác động của dòng chảy. - Sự khác nhau về thế điện cực là do tính dị thể của vật liệu (pha khác nhau.tới tốc độ ăn mòn kim loại là O2. Các yếu tố này đồng thời tác dụng với nhau tạo ra môi trường ăn mòn rất mạnh phá hủy bề mặt bên trong đường ống Dầu khí. Ăn mòn galvanic - Ăn mòn galvanic xảy ra khi hai hoặc nhiều kim loại có thế điện cực khác nhau. Sơ đồ ăn mòn bên trong đường ống dẫn dầu Nói chung các quá trình ăn mòn bên trong và bên ngoài xảy ra theo các cơ chế sau: I. tạp chất…) hoặc của môi trường (mức độ thông gió. pH. biên giới hạt. đối lưu. tiếp xúc điện với nhau và cùng nằm trong môi trường ăn mòn. Ví dụ ăn mòn galvanic giữa vỏ tàu bằng thép và chân vịt bằng hợp kim đồng. nhiệt độ …). ảnh hưởng đến tốc độ ăn mòn được mô tả như sau: Hình 6. chúng sẽ tạo thành một pin điện hóa gọi là pin ăn mòn. - Ăn mòn galvanic còn có thể xuất hiện trong các hợp kim đa pha có thế 17 . PIN ĂN MÒN - Khi hai phần của một cấu trúc có thế điện cực khác nhau nhúng trong dung dịch điện ly.

Dãy galvanic trong nước biển có khuấy và sục khí của một số kim loại & hợp kim 2.2 đến -0. Điện thế ăn mòn là một đại lượng động học phụ thuộc vào nhiều yếu tố. gang -0.2 Graphit 0. Tại đó nồng độ oxi của không khí hoà tan vào nước ở vùng gần mặt nước cao hơn trong thể tích.8 đến -0.07 Inox 314. Hiện tượng ăn mòn chênh lệch khí thường xảy ra trong các trường hợp sau: a.5 Bảng 2.3 Đồng -0.5 đến -0.8 Al và hợp kim Al -0. có pha  giàu Cu và pha  giàu Zn. Ăn mòn khe 18 .05 Inox 314. hai pha này có thế điện cực rất khác nhau.5 Thép. thụ động 0. Dãy Galvanic Sự khác nhau về điện thế ăn mòn giữa hai kim loại tạo thành sức điện động của pin ăn mòn. do vậy một kim loại không thể chỉ có một điện thế ăn mòn duy nhất. song có sự chênh lệch nồng độ khí O2 hoà tan tại hai vùng trên bề mặt kim loại. hoạt động -0.4 Zn -0. Vậy mỗi vùng là một pin ăn mòn mà sự hoà tan kim loại gắn liền với sự khử oxi. Ăn mòn do sự chênh lệch nồng độ oxy Ví dụ kim loại sắt (Fe) đặt trong dung dịch NaCl. Tuy nhiên nếu biết dãy các điện thế ăn mòn của các kim loại khác nhau trong một môi trường nào đó (được gọi là dãy galvanic) thì lại tỏ ra rất hữu ích. Ví dụ ăn mòn galvanic trong các hợp kim đồng thau đúc. Kim loại Ecor.điện cực khác nhau. inox 316.4 Đồng thau -0.V/(SHE) Mg -1.

Pha rắn thép. T. Sau 1 thời gian Hình 7. Ăn mòn khe Ăn mòn mớn nước Tại những vùng mớn nước. Sự hình thành lớp gỉ diễn ra theo các phản ứng: 19 .Lớp gỉ Hình 8. pha rắn (thép). 1.Pha khí . pha nước (dung dịch muối hoặc nước lợ) và có thể tồn tại một pin hoạt động thụ động do sự chênh lệch về độ thoáng khí.v… tại đó có 3 pha tiếp xúc với nhau: không khí (chứa oxi).không khí. Ăn mòn mớn nước Vùng mớn nước tại lớp gỉ 2 có cấu trúc xốp.Vùng bị ăn mòn.Tại những khe giữa các mặt bích có lớp đệm của các chỗ nối hai ống kim loại.Pha lỏng . N. mớn nước của thành tàu biển v.dung dịch nước biển. 2. K. a. Ban đầu b. ví dụ vùng mớn nước của chân cầu sắt cắm xuống sông vùng nước lợ. hoặc dưới các vật đệm đã tán ốc (tán rivê) hoặc có ốc xiết có thể sinh ra ăn mòn cục bộ vì trong các khe đó nồng độ oxi của không khí nghèo hơn ở phía ngoài.

Ăn mòn do lắng đọng Dạng ăn mòn này tương tự ăn mòn khe dưới các lớp cát. 3. sản phẩm ăn mòn lắng đọng. Vùng nghèo oxi do che khuất. Vùng giàu oxi. bùn. Fe2O3. Hình 9. 2-2’. 4. Tại những chỗ bị che khuất nghèo oxi và bị ăn mòn. Vùng 1: ở đó nghèo oxi nhưng lại bị ăn mòn mạnh hơn (hoà tan hoạt động) là do sự hoạt động của pin hoạt động . Fe3O4 Lớp gỉ xốp bị kiềm hoá và dưới lớp gỉ này thép bị thụ động. Vật lắng đọng 20 . Ăn mòn lắng đọng 1.thụ động. Kim loại.Tại vùng anot nghèo oxi sắt bị hoà tan: Fe – 2e →Fe2+ Tại vùng mớn nước giàu oxi hơn và đóng vai trò catot xảy ra phản ứng: 1 O2 + 2e + H2O → 2OH2 và hình thành lớp kết tủa: Fe + 1 O2 + H2O →Fe(OH)2 2 Đồng thời xảy ra phản ứng hoá học tạo Fe(OH)3.

kẽm bị hoà tan và còn lại một khối đồng xốp. ĂN MÒN DO ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH LUYỆN KIM 1. 21 . Sự ăn mòn như vậy gọi là sự ăn mòn chọn lọc. Hình 10. Ăn mòn chọn lọc Ví dụ hoà tan kẽm trong hợp kim đồng thau bằng dung dịch axit H 2SO4 loãng.hợp kim là dung dịch rắn đồng thể. sau đó đồng bị khử và kết tủa trở lại. Mặt khác có thể giả thiết cho rằng cả hai kim loại Cu và Zn đều bị hoà tan do phản ứng anot.II. Hình ảnh ăn mòn chọn lọc Đối với hợp kim Cu-Zn người ta giả thiết rằng các ion kẽm chuyển đến bề mặt bị ăn mòn bằng dòng khuếch tán từ thể tích. Dạng ăn mòn này xảy ra trong những điều kiện nhất định . giá trị thế của kim loại bị hoà tan âm hơn so với kim loại bền trong môi trường ăn mòn. Sau một thời gian ngâm mẫu.

22 .

Trong một số trường hợp (thường là trong quá trình xử lý nhiệt). Hình ảnh kim tương của mẫu ăn mòn chọn lọc Sự ăn mòn chọn lọc hợp kim đồng niken (Cu-Ni) hoặc hợp kim thép không gỉ FeNi8Cr18. CrO42-) đồng thời có mặt các chất hoạt hoá Cl -. khi một kim loại bị ăn mòn thì ở vùng biên giới hạt (nơi tập trung nhiều tạp chất. III. Ni. NO2-. nhưng sự chênh lệch này rất nhỏ có thể bỏ qua. Nếu thêm vào hợp kim đó 1% Sn hoặc một hàm lượng nhỏ asen (As) thì tốc độ ăn mòn chọn lọc đồng thau giảm một cách đáng kể. Thường với lượng kẽm trong hợp kim nhỏ hơn 15% thì kẽm không bị hoà tan. I. Ngoài ra một số vật liệu kim loại khác như các hợp kim nhôm có độ bền cao. do những nguyên nhân khác nhau làm cho biên giới hạt có hoạt tính rất cao.Hình 11. 2. độ sâu của lỗ có thể lớn hơn đường kính của nó. nhiều sai lệch mạng hơn) có hoạt tính cao hơn so với nền  bị ăn mòn nhanh hơn. Zn. Dạng ăn mòn này xảy ra trên các kim loại. Dạng ăn mòn này rất nguy hiểm. hợp kim có màng thụ động (Al. Br-. thép không gỉ) hoặc có các lớp phủ bảo vệ bị xuyên thủng. đặc biệt đối với một số loại thép không gỉ. một số hợp kim đồng (nói chung là các hợp kim thụ động) đều nhạy cảm với loại ăn mòn này.(ví dụ môi trường nước biển) của các thiết bị máy móc … 23 . Hiện tượng ăn mòn này thường xảy ra khi môi trường ăn mòn có chứa các chất oxi hoá (NO3-. Ti. Ăn mòn trên biên giới hạt Ăn mòn trên biên giới hạt là dạng ăn mòn xảy ra ở biên giới hạt hoặc lân cận biên giới hạt. Thông thường. Để tránh hiện tượng ăn mòn chọn lọc nên sử dụng các hợp kim chứa ít kim loại có điện thế âm. Động học chung của quá trình phụ thuộc vào hai cơ chế:  Tốc độ tạo mầm tăng với độ quá bảo hòa. nghĩa là đi kèm với sự giảm nhiệt độ  Tốc độ khuếch tán của cacbon đến vùng biên giới hạt tăng theo sự tăng nhiệt độ. ĂN MÒN LỖ Ăn mòn điểm hay ăn mòn lỗ là một dạng ăn mòn cục bộ tạo ra các lỗ có kích thước nhỏ. Ví dụ giảm hàm lượng kẽm trong hợp kim đồng kẽm. Chính vì thế ăn mòn ở biên giới hạt trở nên rất quan trọng có thể gây nên phá hủy nhanh chóng vật liệu.

Al.Hình 12. ăn mòn điểm bắt đầu gọi là thế ăn mòn lỗ (thế pitting – Elỗ). tại đó kim loại bị hoà tan với tốc độ lớn tạo lỗ phát sinh ăn mòn điểm và tạo nên các muối dễ tan. tại đó lớp thụ động bắt đầu bị xuyên thủng. FeCr-Ni… song trong môi trường xâm thực có chứa các ion halogen Cl-. Ví dụ: Fe. Br-. Ni. Những vị trí có màng thụ động chưa hoàn chỉnh thường là biên giới giữa kim loại và tạp chất phi kim.thì chúng sẽ bị ăn mòn lỗ bao gồm các giai đoạn sau: Sự hình thành lỗ Cho đến nay vẫn chưa có được quan niệm rõ ràng về sự hình thành lỗ. I. Trước hết ta xét cơ chế ăn mòn lỗ đối với kim loại có lớp phủ là màng thụ động. 24 . Ti và các hợp kim Fe-Cr. Dạng ăn mòn điểm Hình dáng các điểm (lỗ) do ăn mòn gây ra phụ thuộc vào bản chất các lớp phủ. Giá trị thế. Song có thể giả thiết rằng: tại một số chỗ bề mặt màng thụ động chưa hoàn chỉnh có sự hấp thụ các ion halogen. Tại đó màng thụ động không bảo vệ được kim loại và dễ hấp thụ các ion halogen. Cr. Một số kim loại hay hợp kim có độ bền chống ăn mòn cao là nhờ có lớp thụ động bám trên bề mặt kim loại ngăn cách kim loại với môi trường ăn mòn.

Độ sâu các lỗ tập trung phân bố trong khoảng từ 200 đến 600 µm. Sự phát triển lỗ Tại vị trí ăn mòn lỗ. Mặt khác vì các lỗ nhỏ. 2 tháng. hoặc các kim loại dương hơn có mặt trên bề mặt thụ động (ví dụ đồng trên bề mặt Al) có tác dụng kích thích sự ăn mòn lỗ. Vì vậy mà kích thước các lỗ to dần lên. Các số liệu thực nghiệm trong 1 tháng. ví dụ trên kim loại Al. 4 tháng. Ngoài các anion halogen. số lượng lỗ dạng đường cong phân bố bắt đầu ổn định. số lỗ ít cho nên diện tích hoà tan anot của kim loại rất bé so với diện tích màng thụ động đóng vai trò là catot cho nên mật độ dòng hoà tan tại các lỗ rất lớn. khi đó xem sự hoà tan của các lỗ như là các anot hi sinh. ví dụ các sunfua trong thép không gỉ. nghĩa là có sự phát triển lỗ. số lượng lỗ mới xuất hiện tương đối ít. 6 tháng và 1 năm đều cho thấy rằng sau khoảng 2 tháng.Hình 13. sự ăn mòn kim loại làm cho pH của môi trường giảm và với sự có mặt ion halogen trong lỗ hạn chế hiện tượng tái thụ động. 25 . Đối với những kim loại có màng thụ động dẫn điện rất kém. một số cấu tử có mặt trong kim loại. Phân bố số lượng và chiều sâu lỗ theo thời gian Hình trên trình bày một số thực nghiệm về sự phân bố dải chiều sâu các của các lỗ (pits) theo thời gian. Ti thì sự phát triển lỗ diễn ra rất chậm.

Dạng ăn mòn lỗ của thép thụ động trong môi trường có mặt Cl- 26 .Hình 14.

Việc giữ lại kết quả kiểm tra ăn mòn rất cần thiết cho việc đánh giá tốc độ ăn mòn trong một thời gian dài và hổ trợ cho việc lựa chọn hệ thống kiểm tra tương ứng. người ta xác định được tốc độ ăn mòn mm/năm. Từ sự chênh lệch khối lượng. Những mẫu thử được làm sạch và cẩn thận đưa vào hệ thống. Sử dụng các phương pháp kiểm tra khác nhau luôn mang lại kết quả tốt hơn. Trong kỹ thuật này bao gồm việc sử dụng spool và thiết bị đặc biệt dò ăn mòn. Một mẫu thử là một mẫu kim loại được đưa vào trong phép đo ăn mòn.Vị trí đặt mẫu thử: chú ý rằng việc sử dụng mẫu thử phản ánh tốc độ ăn mòn và sẽ tăng gấp năm lần khi đặt mẫu thử giữa ống so với thành ống.PHẦN 3. Cần tránh dấu tay bám trên bề mặt mẫu thử.Môi trường: Do tính chất của lưu chất ảnh hưởng lớn lên độ ăn mòn. loại ăn mòn.Thao tác lắp đặt và thu hồi mẫu thử: phải đảm bảo mẫu thử chưa bị ăn mòn trước khi lắp đặt và hạn vế sự ăn mòn diễn ra sau khi tháo ra khỏi hệ thống. Có nhiều phương pháp xác định khác nhau. ví dụ như mẫu thử có thể bị bao phủ một phần bởi một lớp parafin. . độ tin cậy của thiết bị. Để giảm thiểu tốc độ ăn mòn. đặt trong đường ống (đối với kiểm tra ăn mòn bên trong) sau đó đem phân tích. Phương pháp thông thường nhất để xác định và kiểm tra ăn mòn bằng mẫu thử. một mẫu kim loại tương tự kim loại làm đường ống đặt trong vùng ăn mòn (đối với kiểm tra ăn mòn bên ngoài). Mẫu thử có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau giữa bộ phận cách điện hoàn toàn với một phần kim loại còn lại. 1 Mẫu thử.vùng chảy rối. thời gian ngắn thường cho kết quả không chính xác do một số dạng ăn mòn như ăn mòn lỗ cần một vài tuần mới 27 . do đó việc xác định và kiểm tra ăn mòn là không dễ dàng và ít định lượng. Rất nhiều hệ thống đường ống vận chuyển và trong các nhà máy được kiểm tra độ ăn mòn bằng phương pháp mẫu thử. việc sử dụng mẫu thử là không thể phụ thuộc vào các yếu tố sau đây: . co… . Với một số công cụ khác. các chuyên gia khuyên rằng nên tìm kiếm trước khi chọn lựa kỹ thuật xác định ăn mòn và cần thiết phải có sự hỗ trợ của các kỹ sư chống ăn mòn nhiều kinh nghiệm. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH VÀ KIỂM TRA ĂN MÒN ĐƯỜNG ỐNG Các phương pháp kiểm tra và phát hiện ăn mòn hư hỏng do ăn mòn có rất nhiều dạng và thường xuyên xuất hiện ngẫu nhiên ở những vị trí khác nhau. tuy nhiên lựa chọn phương pháp có hiệu quả nhất thì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường. Do đó mẫu thử cần được đặt gần sát với vị trí cần chỗ nối.Thời gian kiểm tra: là một yếu tố quan trọng. .

Nó thể hiện được mức độ ăn mòn cho toàn bộ bề mặt đường ống.xảy ra. ρ . Ví dụ như đầu dò có thể bị một số chất bám. Mẫu thử hay đầu dò được làm từ kim loại tương tự như kim loại làm đường ống và được đưa vào qua đường vào đặc biệt. tuy nhiên điều này không thể kết luận đối với ăn mòn lỗ. 2 Khớp nối kiểm tra và trục quấn (test nipple spool) Những khớp nối và trục quấn được chuẩn bị sẵn đưa vào đường ống như những Coupon lớn và thường có thời gian hoạt động khá lâu. Một số yếu tố khác như việc chuẩn bị. Việc phân tích giá trị thu được gặp một số giới hạn giống như việc sử dụng Coupon.3650 A. t Với m: là khối luợng kim loại bị mất(g) A: tiết diện bề mặt (cm2) ρ: khối lượng riêng của kim loại(g/cm3) t: thời gian (ngày) Giá trị tốc độ ăn mòn được tính từ lượng kim loại bị mất với giả thiết tốc độ ăn mòn đồng đều trên toàn bộ bề mặt của mẫu thử. nhưng lỗ này tếp tục khoan sâu vào bề mặt kim loại trong một thời gian ngắn. 3 Đo bằng các thiết bị điện tử  Máy dò điện trở Thiết bị đo điện trở corrosionmeter xác định lượng kim loại mất mát bằng cách đo mức tăng điện trở của những mẫu kim loại khi diện tích ngang của chúng bị giảm do ăn mòn. Ngoài ra báo cáo cần thêm kết quả về khảo sát bề mặt của mẫu thử để xác định loại ăn mòn. tốc độ ăn mòn được xác định như sau: mm/năm = m. Một số trường hợp tốc độ ăn mòn tính được ở trong khoảng giá trị có thể chấp nhận. Những giá trị nhận được sẽ được chuyển đổi sang tốc độ ăn mòn bằng các dữ liệu và công thức do nhà sản xuất cung cấp.ngăn cản sự tiếp xúc với những chất trong môi trường ăn mòn.  Máy đo điện trở phân cực 28 . Sau khi cân và xác định khôi lượng mất mát. làm sạch cũng ảnh hưởng. và có thể đo được chiều sâu của những lỗ ăn mòn bằng cách cắt ra. đều này không đúng. khoảng vài tháng và thường kết hợp với những kỹ thuật đo khác. Sau đó giá trị điện trở sẽ được xác định khi đầu dò ở trạng thái cân bằng với môi trường (nhiệt độ và tình trạng bề mặt) tại những thời điểm cách đều.

Trong phương trình này. Trong phản ứng ăn mòn hydrogen sinh ra khuếch tán qua thành ống thép. Giá trị của cường độ dòng điện có liên quan đến tính ăn mòn của môi trường. áp suất do phân tử hydrogen sẽ được đo và chuyển thành 29 . dE Rpol = (di) Khi cường độ dòng điện i bằng 0. Máy dò Galvanic Máy dò galvanic ñược làm từ hai điện cực kim loại khác nhau thường là đồng và sắt.icorr (mm/năm) Hằng số B phụ thuộc vào cơ chế ăn mòn và có giá trị riêng cho từng hệ. sau đó đo dòng dI. tốc độ ăn mòn là tốc độ tức thời. tốc độ của đường cong phân cực được gọi là điện trở phân cực. Giữa điện trở phân cực và dòng điện ăn mòn có quan hệ như sau: Icorr = B Rpol (mA/cm2 ) Từ định luật Faraday. Phương pháp này sử dụng chỉ có tính định tính trong việc kiểm tra tốc độ ăn mòn của thiết bị: . Nếu một điện thế E của một mẫu kim loại được gắn với cường độ dòng điện tương ứng. Chúng được nối với nhau và được đưa vào hệ thống (bồn chứa hoặc đường ống). nó được chủ yếu sử dụng trong môi trường chua. một đường cong phân cực được ghi nhận. điện thế E bằng với điện thế ăn mòn.nước nếu nước là pha liên tục. Tại điểm mà cường độ dòng điện bằng 0. tốc độ ăn mòn có thể nhận được bằng cách đo Rpol. Phương pháp này không áp dụng cho hệ gas hay dầu nhưng có thể đo cho hệ dầu .Ít được sử dụng đối với ăn mòn do CO2 và H2S . theo đồ thị chuyển đổi thành giá trị tốc độ ăn mòn. Sau khi các điện cực cân bằng với môi trường. hiện tượng điện hoá được gọi là điện trở phân cực tuyến tính được sử dụng.Với máy đo điện trở phân cực. được áp vào hai điện cực. Môt hiệu điện thế nhỏ (dE) khoảng 20mV.  Máy dò Hydrogen Được cấu tạo bởi một ống thép có thành rất mỏng nối với một thiết bị đo áp.Nó chủ yếu được sử dụng để đo ăn mòn do oxygen tan trong dung dịch gây ra . một cường đô ô dòng điện được ghi nhận.6. quá lớn được khuếch tán ngược trở lại. Theo phương trình trên. Trong thực tế. tại đó nó kết hợp thành phân tử. tốc độ ăn mòn bằng 11. Cực được đổi ngược lại và lặp lại quá trình. Việc sử dụng thiết bị đo điện trở phân cực giới hạn cho những dung dịch dẫn điện do dòng điện phải di chuyển qua dung dịch khi đi từ cực này đến cực kia. thiết bị có hai điện cực làm bằng kim loại với hệ thống được đưa vào môi trườn ăn mòn. Trong môi trường không có tính ăn mòn giá trị dòng thu được rất nhỏ còn trong môi trường có tính ăn mòn cao dòng đo được rất lớn.Cũng có những giới hạn tương tự như những phương pháp trên. từ hai giá trị dòng thu được.

xác định các khí khó khăn hơn. Mẫu có thể lấy từ Coupon. khi muốn xác ñịnh tại một điểm nào đó. Khi biết được thành phần những chất có trong hệ thống có thể giúp đánh giá và xác định vấn đề.Thành phần nước giống nhau ở mỗi lần lấy mẫu.Độ ổn định của mỏ. một số sản phẩm ăn mòn thường bị biến đổi về mặt hoá học khi di chuyển ra khỏi hệ thống. van này thường được làm bằng đồng để hạn chế yếu tố trên. Chú ý vị trí và tình trạng mẫu khi lấy là rất quan trọng. 5 Hoạt động của vi khuẩn Hoạt động của vi khuẩn có thể gây ra nhiều vấn đề khác nhau. xác định 3 khí trên tương đối đơn giản nếu chúng tập trung một lượng lớn. . . .Thời gian hoạt động của mỏ. H2S và O2. . điều này có thể dẫn đến những kết luận sai lầm. Trong mỏ dầu.Phân tích khí: Những khí quan trọng trong đánh giá ăn mòn là CO 2.Xác định hàm lượng sắt hòa tan.Mẫu lấy phải đại diện cho toàn bộ lưu chất. kết quả phân tích cho một mỏ mới hoạt động vài ngày với một mỏ đã hoạt động lâu là rất khác nhau. một lượng vết H2S có thể gây nứt gãy cho ống thép chịu lực cao. Có một vài phương pháp để xác định sắt có trong mẫu và mẫu phải thỏa mãn các yêu cầu như: . . Phương pháp quan trọng nhất là đếm số vi khuẩn.Phân tích sản phẩm ăn mòn. Mẫu có chứa vi khuẩn sẽ 30 . Một phương pháp dự đoán và đánh giá ăn mòn có hiệu quả là xác định lượng sắt có trong lưu chất thông qua mẫu lấy. tránh lấy mẫu khi mỏ mới được sữa chữa hay thay thế thiết bị .giá trị tốc độ ăn mòn. 4 Phân tích hóa học . Trong mỏ khí hoặc những thiết bị dùng khí. Sự có mặt của H2S và oxygen ở lượng vết rất khó xác định nhưng rất quan trọng. . phân tích hoá học sản phẩm ăn mòn và những chất bám trên hệ thống là một phần quan trọng trong việc kiểm tra ăn mòn. nipple hay trực tiếp từ hệ thống. Hiện nay có những máy dò phức tạp hơn có thể đo được lượng hydro khuếch tán qua thành ống thiết bị.Thiết bị lấy mẫu phải thật sạch. đặc biệt là trong các đường ống dẫn nước. Có một số phương pháp xác định hoạt động của vi sinh vật. Thiết bị này có thể dùng đo ăn mòn một cách định tính hay bán định lượng và thường được kết hợp với nhiều phương pháp khác. Ví dụ như sắt sulphide khi đưa ra không khí bị biến đổi thành oxyt sắt. phải lấy mẫu càng gần điểm đó càng tốt.Van lấy mẫu phải không bị rỉ và vấy bẩn.

 Sử dụng tia phóng xạ: Trong sản xuất dầu khí. trong quá trình hoạt động của thoi nó sẽ ghi nhận tình trạng của thành ống. 31 .được nuôi cấy trong môi trường nuôi dưỡng đặc biệt sau đó sẽ được đếm và phân tích hoạt động để đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng đối với quá trình ăn mòn. phương pháp chụp ảnh bằng tia phóng xạ chủ yếu dùng để kiểm tra các mối hàn và bề mặt bên trong của đường ống và thiết bị.  Kiểm tra bằng siêu âm: Kỹ thuật siêu âm sử dụng năng lượng siêu âm để đo bề dày của vật thể bằng kim loại và xác định chỗ rạn nứt trong kim loại.  Thiết bị kiểm tra đường ống bằng điện tử: Thiết bị này được gắn trên thoi. 6 Thiết bị kiểm tra bề mặt.

và đặc biệt là ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên. Trong khi đó. luôn luôn có khả năng hư hỏng lớp phủ đó trong quá trình vận chuyển hoặc trong khi lắp đặt. chống chịu 32 . Một chất kết dính mạnh mẽ của lớp phủ bên ngoài trên toàn bộ chiều dài của đường ống sẽ có xu hướng ngăn chặn sự ăn mòn. Để đường ống làm việc an toàn trong đời sống thiết kế. sự an toàn đường ống biển có tầm quan trọng đặc biệt. Thông thường. thông thường sử dụng kết hợp với biện pháp bảo vệ cathod. mềm dẻo. 1 Vật liệu Tính toán ngay từ khâu thiết kế. tùy thuộc từng môi trường mà lựa chọn vật liệu cho đường ống. CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO VỆ VÀ CHỐNG ĂN MÒN Vấn đề ăn mòn là một trong những nguyên nhân chính gây ra hư hỏng đường ống. bồn bể chứa cho hợp lý. Môi trường gây ăn mòn đường ống bao gồm môi trường trong và ngoài ống. bên trong thì dùng chất ức chế hay bao phủ. Vận tốc và nhiệt độ dòng truyền dẫn cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ ăn mòn.PHẦN 4. Những đặc tính cần xem xét của vật liệu làm lớp phủ là: Khả năng bám dính. Là phương pháp chống ăn mòn hữu hiệu nhất hiện nay. Môi trường bên trong ống phụ thuộc trực tiếp vào thành phần chất truyền dẫn trong ống có tính xâm thực cao hay thấp. Các hợp chất lắng đọng tạo nên các hiện tượng gỉ sét trong ống tạo điều kiện cho sự phát triển của quá trình ăn mòn cục bộ. đường ống cần được bảo vệ khỏi ăn mòn cả trong lẫn ngoài. Phương pháp bảo vệ catốt bằng anốt hy sinh được sử dụng để ngăn chặn ăn mòn ở những khu vực dễ bị hư hỏng. Hư hỏng đường ống dẫn tới tổn thất về con người. về kinh tế. Vì vậy. đối với đường ống bể chứa thường lựa chọn vật liệu như sau: - Ống thép C-Mn hàn - Ống đúc liền - Ống thép ferritic-austenitic - Các loại thép không gỉ và thép hợp kim niken 7 Lớp phủ chống ăn mòn. khả năng cách nhiệt. công tác chống ăn mòn được quan tâm đặc biệt cả trong giai đoạn thiết kế lẫn thi công và vận hành đường ống. Bảo vệ bề mặt bên ngoài thường dùng các phương pháp bao phủ hoặc bảo vệ bằng cathode hay anod. điện trở.

2. Lớp phủ được tạo thành bằng cách cho nhựa đường nóng chảy tự do bên ngoài ống. nhưng có thể lấy khoảng 0 100 C **: Chỉ đúng trong điều kiện môi trường khô ráo (750C) Nhựa đường (hoặc nhựa than đá): Được sử dụng khá lâu trước đây. tính chất vật lý hoá học ổn định. Tuy nhiên đối với đường ống ngoài khơi. thường được phủ trước khi vận chuyển và lắp đặt.các tác động cơ học. Gần đây ứng dụng khuynh hướng sử dụng lớp phủ nhẹ và mỏng hơn như PE. lớp nhựa đường vẫn sử dụng rộng rãi bên dưới lớp bọc bê tông.1 Lớp phủ cho bề mặt ngoài: Vật liệu làm lớp phủ: Những loại vật liệu quan trọng dùng bao phủ bên ngoài như: - Nhựa đường nóng PE và PP FBE Bằng plastic Asphal mastic Epikote (một loại nhựa xuất phát từ than đá) Giới hạn nhiệt độ sử dụng của những loại vật liệu trên theo bảng sau: Loại vật liệu Nhiệt độ tối đa Nhựa đường 60 PE 65 PP * FBE 100** Băng plastic 60 Asphalt mastic 60 Epikote 80 Bảng 3. FBE cho đường ống trên bờ thay thế cho lớp phủ nặng nề bằng nhựa đường. bề dày cần đạt được ít nhất là 2. Bên ngoài được phủ bằng lớp vải sợi thuỷ tinh để hạn chế tác động cơ học của đất đá và quá trình lắp đặt. dùng chủ yếu cho những đường ống bị chôn lấp hoặc đường ống ngoài khơi.5mm cho đường ống trên bờ và ít nhất 5mm cho đường ống ngoài khơi. Giới hạn nhiệt độ sử dụng của các loại vật liệu *: Nhiệt độ giới hạn trên chưa được shell thiết lập. không cần lọc tạp chất kỹ càng. 33 . dễ sử dụng và bền trong môi trường.

Trong cả hai phương pháp.5 > 80 3. Bề dày của lớp PE tuỳ thuộc vào đường kính ống. bám dính tốt vào thép.0 3. tuy nhiên có một nhược điểm lớn là dễ bong tróc. có thể cho hệ thống có đường kính đến 1600mm. đặc biệt là tại những điểm chồng lên nhau.2 3. một lóp mỏng FBE được phủ lên trước lớp PE. nhưng rất bền. nên làm giảm dòng bảo vệ cathod. Có rất nhiều loại vật liệu plastic dưới dạng băng bao gồm PVC. Phương pháp này có nhiều ưu điểm và dễ thực hiện. điện trở cao. nhược điểm trên làm giảm hiệu quả của dòng 34 .5 Bảng 4. tuy nhiên trong môi trường ẩm ướt. đặc biệt là những hệ thống trên bờ. hoạt động ở nhiệt độ đến 100 0C và có nhiều tính chất vượt trội so với những vật liệu khác. Bề dày tối thiểu của lớp PE Quá trình phủ PE được tiến hành theo hai cách: Bột PE được phủ lên bề ngoài của ống đã được làm sạch và gia nhiệt trước đến khoảng 300 0C hay lớp PE nóng được kéo phủ lên bề mặt đã được làm sạch và gia nhiệt khoảng 120-180 0C. độ bền hoá học rất cao. chống tác động cơ học trong quá trình vận chuyển. từ 350-450µm. Trong phương pháp này cần phải sử dụng chất bám dính ban đầu ví dụ (cao su butyl) do PE không dính vào thép. được coi là loại vật liệu bảo vệ bên ngoài tốt nhất khoảng 10 -15 năm trở lại đây. Nhưng những va chạm như vậy không làm bong tróc khu vực xung quanh và có thể trám lại bằng nhựa epoxy tại hiện trường. PE… có độ dày khác nhau. FBE (Fusion Boned Epoxy): Lớp băng epoxy mỏng hoặc bột epoxy đã được sử dụng nhiều trong hệ thống đường ống.0 2. Lớp phủ tạo thành rất mỏng. Lớp phủ epoxy được tạo ra bằng cách dùng súng phun tĩnh điện. Lớp phủ dễ bị hỏng bởi các va chạm với vật sắc nhọn.0 500-800 2. lắp đặt tốt. chỉ hoạt động tốt ở 75 0C. có thể tham khảo theo bảng sau: Bề dày tối thiểu của lớp PE(mm) Đường kính ống (mm) Tiêu chuẩn Gia cường < 250 2.5 3. để tăng cường sự gắn kết và khả năng chống bong tróc. Lớp PE bền. có thể tự bám dính vào bề mặt hoặc cần phải có một lớp trợ dính.5 250-500 2.PolyEtylen: là loại vật liệu được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Bọc bằng băng plastic: Kỹ thuật này đã được thực hiện từ năm 1950. phun bột nhựa lên bề mặt ống đã được làm sạch và gia nhiệt trước đến khoảng 230-2400C. khả năng chịu nhiệt giảm sút. cần phải cẩn thận trước khi vận chuyển lắp đặt. Khi được sử dụng cùng với hệ thống bảo vệ cathod.

. gia nhiệt cho đường ống. sau đó phun lớp bột FBE. nơi luôn cần tăng thêm trọng lượng. Nó được phủ làm nhiều lớp lên bề mặt ống đã được làm sạch. ít bị cứng và lão hoá.Băng cold-applied: Chủ yếu được sử dụng cho đường ống ngoài khơi. nhằm điều khiển bề dày của đường ống. như Somatic là một hỗn hợp của asphalt. quấn quanh các mối hàn. Những loại vật liệu sau đây thường được sử dụng: . đàn hồi tốt. Hỗn hợp asphalt được nung nóng và phủ lên bề mặt ống đã được làm sạch. ngoài việc bảo vệ chống ăn mòn còn nhằm mục đích giảm ma sát và tạo sự sạch sẽ cho bề mặt bên trong ống. chỗ lắp đặt những thiết bị chuyên dùng. Loại băng này thường được dùng để che phủ bên ngoài lớp FBE hoặc bao phủ bằng bột PE. có thể chịu được nhiệt độ đến khoảng 900C.3 Lớp phủ bề mặt bên trong của đường ống: Lớp phủ bên trong nhằm mục đích tạo ra một rào ngăn cách giữa lưu chất và bề mặt kim loại. PE hoặc sử dụng dung dịch của chúng. Trước khi sơn phủ. lớp phủ có bề dày ít nhất 400µm và có thể chịu nhiệt độ đến 80 0C. bề mặt bên trong ống được súc rửa sạch bằng một dung dịch acid 35 . sau đó sử dụng ngọn đuốc hơ nóng để co lại và bám chắt vào bề mặt cần bao phủ. Lớp phủ bên trong thường là lớp sơn epoxy. Epikote: Nhựa Epikote là một loại nhựa có nguồn gốc từ than đá.2 Lớp phủ tại điểm nối: Trên đường ống thường có những điểm rẽ nhánh. làm thường rất dày. Những vị trí này thường được bảo vệ kỹ hơn để đảm bảo an toàn cho hệ thống. cát.bảo vệ nên ngày nay phương pháp bọc ống bằng băng plastic không còn được áp dụng trong hệ thống dẫn dầu và khí nữa. nặng và chống mòn tốt. . Nó được phủ bằng cách quấn xung quanh. Lớp phủ asphalt mastic: Asphalt plastic. Lớp phủ asphalt thường rất chắc. asphalt không cần có lớp bọc bên ngoài như những trường hợp trên. cuối cùng được bọc bên ngoài bởi lớp băng PE như đã nói trên.PolyEtylen: Loại băng PE có khả năng co lại khi bị đốt nóng. Sau khi phủ xong.Phủ bằng bột FBE hoặc bột PE: Thực hiện bằng cách làm sạch bề mặt bên ngoài. bột đá và sợi amiăng. khoảng từ 12mm trở lên. bột đá vôi. chống lại những quá trình ăn mòn của những sản phẩm có tính ăn mòn. Quá trình sơn phủ bên trong diễn ra nhờ một thiết bị được gắn giữa hai thoi. được sử dụng trong một số trường hợp đối với đường ống chôn lắp và đường ống ngoài khơi. 2. 2. Lớp asphalt được thực hiện tại nhà máy với những thiết bị phức tạp. sau đó được phủ lên bằng một lớp asphalt mastic nóng. do đó nó chủ yếu được áp dụng cho đường ống ngoài khơi. tuy nhiên ngày nay người ta sử dụng lớp FBE có nhiều ưu điểm hơn.

biện pháp hiệu chỉnh pH làm tăng hiệu quả của chất ức chế. sulphide hoặc phosphate. Loại chất ức chế này thường không hiệu quả khi có mặt oxy. acid vòng mang N 2. chromate và phosphate. Các độ chất sinh học dùng để diệt vi sinh vật cũng là một loại chất ức chế nhằm làm giảm số lượng vi sinh vật hoạt động trong đường ống.1. Sau đó thoi sẽ di chuyển và toàn bộ bề mặt bên trong sẽ được sơn phủ. Các chất ức chế không được sử dụng riêng lẽ mà thường phối hợp nhiều loại với nhau.phù hợp. làm khô. Chúng phản ứng với kim loại và tạo thành một lớp film bảo vệ kim loại bên trong không bị ăn mòn. Chất ức chế thụ động hấp thu vào bề mặt kim loại và tạo thành những lớp film 36 . cấu tạo gồm hai phần: phần đầu mang những nhóm hoạt động có khả năng hấp phụ vào bề mặt kim loại. Phần đầu thường là những gốc amin. alcihol. phần đuôi mang những nhóm hữu cơ làm thành một lớp ngăn cảng sự khuyếch tán của những tác nhân ăn mòn vào bề mặt kim loại.2. kết hợp với việc sử dụng chất diệt khuẩn. 8 Sử dụng chất ức chế Chất ức chế hoá học được sử dụng để giảm tốc độ ăn mòn. Chất ức chế chủ động: Chất ức chế loại này được thêm vào hệ thống với nồng độ thấp và thường là loại chất rắn có thể tan hoàn toàn trong lưu chất vận chuyển. 3. 3. Nó được cho vào lưu chất vận chuyển hoặc là phụ gia trong lớp sơn phủ đường ống. Chất ức chế được đưa vào hệ thống theo từng đợt hoặc liên tục. tạo thành một lớp film bảo vệ chống ăn mòn. Chất ức chế được chia làm 3 loại: Chất ức chế chủ động: phản ứng với kim loại. Chi phí cho việc sử dụng chất ức chế thường khá cao. Phần đuôi thường là vòng thơm hoặc gốc acid béo. Chất ức chế thụ động: Chất ức chế loại này tạo thành lớp film bao phủ trên bề mặt kim loại. Chất ức chế loại này thường là những hợp chất cao phân tử. Thông thường loại chất này chứa các gốc nitrite. Biện pháp sử dụng chất ức chế không đảm bảo việc bảo vệ an toàn đường ống nên phải sử dụng cùng với các biện pháp bảo vệ khác. Quá trình sơn phủ được kiểm tra bằng camera gắn trên thoi. qua đó ngăn chặn khả năng ăn mòn. tuy nhiên hoạt động ngăn cản CO 2 và H2S rất tốt. Chất ức chế thụ động: Được hấp phụ vào bề mặt kim loại và tạo thành một bề mặt ngăn cản sự tiếp xúc của kim loại với những tác nhân ăn mòn. ngăn chặn các phản ứng cathod và anod.

liên kết với nhau bằng những liên kết vật lý. - Tạo kết tủa bám dính. do đó yêu cầu về khả năng phân huỷ nhanh và không gây ô nhiễm môi trường là rất cần thiết. số lượng lớp film đôi khi đủ dày để có thể thấy được. Những lớp film thường bị bóc và tạo thành liên tục. 3. Chất này được cho vào từng đợt và được sử dụng khi mức vi khuẩn trong đường ống khoảng 103/ml. Chất diệt vi sinh vật được sử dụng nhằm hạn chế sự phát triển của vi khuẩn khử sulphate (sulphate reducing . Quá trình bảo vệ này được thực hiện bằng cách cung cấp một dòng điện một chiều chạy dọc theo đường ống hoặc nối đường ống với một kim loại khác tạo thành một cặp pin điện. người ta thường quan tâm đến những yếu tố sau: - Tương thích với những chất hoá học trong dầu. 1: Anod 2: Cathod 3: Dây dẫn có bọc cách điện 4: Nguồn điện 37 . Khi lựa chọn chất ức chế thụ động. - Giá cả và khả năng cung cấp. Chất diệt vi sinh. Chất diệt khuẩn thường được kết hợp với chất ức hế khi tiến hành. Không gây ô nhiễm môi trường: tất cả những chất ức chế sau khi được sử dụng điều được thảy ra môi trường.SRB). chủ yếu để đảm bảo ngăn chặn quá trình ăn mòn điện hoá xảy ra tại những điểm lớp bọc bị hư hỏng. - Ổn định nhiệt. 9 Phương pháp bảo vệ Cathod Phương pháp bảo vệ cathod được sử dụng bảo vệ bề mặt phía ngoài của đường ống.3. - Không tạo nhũ tương với nước hay dầu.

quá trình ăn mòn diễn ra. Đối với một hệ thống. Nguồn cung cấp electron có thể là một nguồn ngoài hoặc nguồn tạo thành từ cặp pin galvanic giữa thép và một kim loại khác mạnh hơn thép như Mg. nguyên tử kim loại tạo thành ion dương tan vào môi trường điện ly. Hệ thống bảo vệ cathod cung cấp một nguồn electron thay thế. Các đường ống dẫn nhiên liệu dưới đấtđược nối với cực âm của nguồn điện một chiều. Lớp sulphide tạo thành do hoạt động của vi khuẩn trở thành một cathod đối với sắt. Sơ đồ nguyên tắc bảo vệ ống bằng Cathod * Nguyên lý của phương pháp bảo vệ Cathod Khi một kim loại nằm trong môi trường điện ly (nước. Trong đất và trầm tích có thể có vi khuẩn khử sulphate.Hình 15. hoạt động của vi khuẩn làm phức tạp thêm tính chất nhiệt động của kim loại. Hệ thống bảo vệ cathod có thể áp dụng đối với đường ống không có lớp bọc. cường độ dòng bảo vệ bằng 0. tại tất cả những khu vực cần bảo vệ. ngăn chặn phản ứng tạo electron của kim loại và quá trình ăn mòn. còn cực dương của nguồn điện nối với một anot bằng vật liệu ít tan. Trong thực tế khi phát hiện có hoạt động của vi khuẩn SRB điện thế bảo vệ cần tăng thêm –100mV. Tuy nhiên trong thực tế đường ống mới cần cường độ dòng bảo vệ khoảng 100200mA và có thể lên 50A cho hệ thống đã hoạt động lâu năm. Ăn mòn điện hoá xảy ra khi phản ứng diễn ra trên bề mặt kim loại bởi các tác nhân làm di chuyển electron từ kim loại vào môi trường điện ly. tuy nhiên chi phí rất đắt. Có hai phương pháp bảo vệ catot:  Bảo vệ catot bằng dòng ngoài: là phương pháp dịch chuyển thế ăn mòn về phía âm kéo theo sự giảm dòng ăn mòn đến cực tiểu. Ví dụ: O2 + 4e+ H2O → 4OHĐể tạo ra electron. đất…) nó dễ dàng bị ăn mòn theo cơ chế ăn mòn điện hoá. do đó cần nhiều electron hơn để bảo vệ. 38 . lớp bọc tuyệt đối tốt. Thế điện cực của kim loại sẽ cung cấp thông tin về mức độ bảo hoà của kim loại với electron khi lượng electron tăng lên vượt mức bão hoà. Ví dụ: Fe – 2e → Fe2+ Từ đó. thế điện cực của kim loại tạo nên âm hơn và có tính khử mạnh hơn. không dư. Zn… Sự phức tạp của phương pháp là ở chỗ phải cung cấp đủ electron. hệ thống bảo vệ cathod chỉ đảm bảo không bị ăn mòn tại những chỗ hư hỏng lớp bọc. Hệ thống đường ống trong thực tế được bao phủ hoàn toàn.

Công trình được bảo vệ thường làm bằng thép. còn cực dương của nguồn điện nối với một Anot bằng vật liệu ít tan (hình dưới). Hình 16. các đường ống dẫn nhiên liệu dưới đất. Ví dụ vỏ tầu biển. Trong trường hợp đó vật liệu làm anot hy sinh là các kim loại nhôm.Kim loại cần được bảo vệ. Hợp kim nhôm chỉ dùng trong môi trường mà nhôm dễ bị hoà tan. các giàn khoan khai thác dầu khí ngoài biển. ví dụ trong nước biển. vỏ tầu biển được nối với cực âm của nguồn điện một chiều. magie hoặc hợ p kim của chúng. Sơ đồ hệ thống bảo vệ catot bằng dòng ngoài Đối với một đường ống trên bờ. dòng điện thường cung cấp bởi một máy phát hoặc từ lưới điện.  Bảo vệ catot bằng anod hy sinh: là phương pháp nối kim loại cần bảo vệ với kim loại khác có điện thế âm hơn và thế kim loại cần bảo vệ được dịch chuyển về phía âm kéo theo sự giảm tốc độ ăn mòn. Sơ đồ bảo vệ chống ăn mòn kim loại bằng anot hy sinh được trình bày như sau: 39 . qua một bộ chuyển đổi thành dòng một chiều qua một thiết bị gọi là T/R. kẽm.

Thông số kỹ thuật của các loại anot hy sinh 40 . không bị thụ động.Hình 16. Bảng 5. Sơ đồ bảo vệ bằng anod hy sinh trong MT biển (a) và trong MT đất (b) Điều kiện để anot hy sinh hiệu quả: – Giữa vật bảo vệ và anot hy sinh có hiệu điện thế đủ lớn – Vật liệu anot có điện thế làm việc ít thay đổi. ổn định. – Vật liệu anot phải có dung lượng cao.

41 . do đó đường ống được bảo vệ bằng anod hy sinh. Những anod này được chôn ở những khoảng cách cố định với nhau và được nối với đường ống bằng dây dẫn.Đối với đường ống ngoài khơi. Vật liệu làm anod thường là Mg và Zn… nhưng gần đây nhôm được sử dụng nhiều nhất. không thể cung cấp dòng điện.

Ăn mòn và phá hủy vật liệu kim loại trong môi trường khí quyển nhiệt đới Việt Nam. 2012 42 .. 2006 3. John A. 2nd Edition. the Chemical Soiety. Ăn mòn và bảo vệ kim loại. 2002. 1973. Beavers and Neil G. 5. Lê Thị Hồng Liên. CC Technologies. Nhà xuất bản khoa học kỹ thuật Hà Nội. 2. Principles of metallic corrosion. 4.TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.P. Tạp chí khoa học và công nghệ. Chilton. External Corrosion of Oil and Natural Gas Pipelines. Ăn Mòn và Bảo Vệ Vật Liệu. Nguyễn Văn Tư. Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia Hà Nội. Trịnh Xuân Sén. J. Thompson.

43 .