You are on page 1of 10

FOOD IMPACT

Bs. Võ Phú Cường

Nói về food impact/food impaction (không biết dịch thế nào cho đúng mắc thức ăn, nhét thức ăn,
dính thức ăn, nhồi nhét thức ăn….e hèm rắc rối quá..tại hạ chẳng bao giờ dám mon men tới ranh
giới siêu thực của thuật ngữ) thì tại hạ đây là người thường “ngày quên ăn, đêm vỗ gối tóc bạc cả
đầu” vì nó và tính tránh đề cập tới nhưng trời không dung đất chẳng chịu tha, dính phải chưởng
của Bs Hồng. Nên mấy ngày nay nhờ trợ lực của Nam trưởng lão nội công tăng thêm chút ít
phần xin đem múa may trước quý chư vị, nếu có điều thất lễ xin lượng thứ. Mời xem các chiêu
sau:

Chiêu thứ I: Quan điểm

Mỗi khi nghe bệnh nhân than phiền về food impaction chúng ta bị hút vào chuyện thức ăn bị
nhồi nhét gây đau do viêm vùng kẽ rồi ra sức tìm phương cách nào để điều trị mà quên truy tìm
nguyên nhân, vì không thấu triệt nguyên nhân nên điều trị nhiều khi không hiệu quả còn lãnh
thêm đạn vào mình. Tại hạ cùng với Nam trưởng lão bí mật đột nhập (vì dùng username và
password chùa) vào tàng kinh cát của nhiều môn phái (tạp chí) ăn trộm được vài bí kíp về nhà
ngâm cứu mới tỏ ngộ thế này: food impact là hậu quả của sai tiếp xúc chuẩn (less than ideal) của
proximal contact/interproximal contact/ interproximal contact point (tạm gọi là tiếp xúc
bên/điểm tiếp xúc bên). Có thể diễn giải theo cách khác: tiến trình theo chuỗi mất tiếp xúc chuẩn
– food impact – caries formation and periodontal problems (© J Can Dent Assoc 2003; 69(3):162–7).
Như vậy, food impact là hậu quả không phải nguyên nhân, đây chính là quan điểm chính để
chúng ta sang chiêu thứ II.

Chiêu thứ II: Những hiểu biết về interproximal contact

Phân lọai: 4 lọai proximal contact (J Can Dent Assoc 2003; 69(3):162–7) : lọai mở (open); lọai không
chặt (not tight enough); lọai lý tưởng (ideal); quá chặt (too tight). Theo tại hạ đây là 4 lọai cơ
bản để đánh giá khi lập kế họach điều trị. Tại hạ chẳng biết cho đến giờ (2007) đã có phân lọai
mới chưa, nhưng nhìn vào phân lọai này cũng thấy được tính lâm sàng của nó!

Hằng số tiếp xúc – proximal contact strength - tại hạ tạm dịch như vậy vì đây là đại lượng cường
độ tiếp xúc ở trạng thái nghỉ (răng không hoạt động chức năng)

Biến số tiếp xúc - tightness of proximal tooth contact (TPTC)/interproximal contact tightness –
đây là đại lượng cường độ tiếp xúc ở trạng thái hoạt động chức năng. Chúng ta thường chỉ quan
sát proximal contact ở trạng thái nghỉ mà không biết rằng proximal contact còn có hoạt động
chức năng. Tức là cường độ tiếp xúc thay đổi khi có tác động của lực nhai, nghiên cứu thấy rằng
lực nhai tác động lên cung răng, các răng nhún trên khớp nha chu và cung răng bị thu nhỏ lại, các
conptact point siết chặt với nhau làm TPTC tăng lên. Khảo sát biến số này cho chúng ra biết ý
nghĩ hoạt động chức năng của proximal contact. Dưới đây là thiết bị dùng để đo TPTC
TPTC có các mức độ -The Journal of Prosthetic Dentistry 2002; 87 (5) : 528:

• Open
• Ideal (giấy thiết 8-μm không rách)
• Light (ideal + 10 μm)
• Medium (ideal + 50 μm)
• Heavy (ideal + 90 μm).

Hình thái, vị trí của proximal proximal contact point – Theodore M. Roberson, DDS: Direct gold
restoration, Oper Dent 20:899, 2006

A B C

Đây là 3 vị trí cơ bản.

Hình A proximal contact point ở vị trí lý tưởng.

Hình B proximal contact point ở vị trí cao hơn vị trí lý tưởng, proximal contact point ở vị trí này
gây tích tụ mảng bám và mời gọi sâu răng (nguyên nhân sâu răng mặt bên).

Hình C proximal contact point ở vị trí thấp hơn vị trí lý tưởng, ở vị trí này gây food impact (nó
đây rồi ...chết mày chưa..).

Tuy nhiên thực tế do hoạt động chức năng proximal contact point bị mòn nên ta có 2 biến thể
nữa:
D E

Hình D mòn theo chiều ngoài- trong nhưng proximal contact point ở vị trí lý tưởng không gây
food impact nhưng gây dính thức ăn có xơ.

Hình E thì proximal contact point kéo xuống thấp vừa gây food impact vừa dính thức ăn có xơ.

Xét về vị trí thì proximal contact point ở vị trí thấp hơn vị trí lý tưởng sẽ gây food impact.

Trong chiêu thức này tại hạ trình bày khá nhiều thuật ngữ gần giống, dễ lầm, nên xin phân biệt
interproximal contact hay proximal contact là tiếp xúc bên, còn interproximal contact point hay
proximal contact point là điểm tiếp xúc bên. Một tiếp xúc bên cần 2 điểm tiếp xúc bên.

Chiêu thứ III: Khám lâm sàng

Kính thưa quý các hạ, những gì tại hạ biết về interpoximal contact chỉ có bấy nhiêu thôi không
biết có còn gì nữa hay không, sức tại hạ chỉ chừng đó, chắc là còn thiếu sót. Nhưng đã tới đường
này rồi thì phải tung luôn chiêu thứ III hầu quý cát hạ. Bắt đầu từ đây tại hạ sẽ lung tung luận.

Luận rằng: những biến thể về hình thái và vị trí làm thấp contact point sẽ gây food impact, tình
trạng này sẽ nặng thêm nếu có hằng số tiếp xúc lớn. Có nghĩa là hình thái và vị trí contact point
là nguyên nhân còn hằng số tiếp xúc là yếu tố phụ thêm. Riêng về TPTC – biến số tiếp xúc- thì
tại hạ không có đủ evident để xác định sự tham gia vào tình trạng nhét thức ăn. Nhưng lạm bàn
thế này: nếu cho rằng inperpromimal contact giống như cái cửa có 2 cánh (2 contact point),
trong họat động chức năng cánh cửa này sẽ đóng chặt khi load lực nhai (đo bằng TPTC). Nhưng
trước khi các răng khớp nhai, cánh cửa này phải chịu áp lực ép xuống của thức ăn (tăng dần khi
hai hàm tiến tới tiếp xúc nhai). Nếu áp lực thức ăn tăng đến mức đủ mở cánh cửa (áp lực thức ăn
bị ép lớn hơn hằng số tiếp xúc) mà TPTC chưa kịp tăng (do răng chưa tiếp xúc) thì cánh cửa sẽ
mở ra và thức ăn tràn vào vùng tiếp cận. Như vậy, TPTC có tác dụng giữ chặc interproximal
contact, vấn đề còn lại là thời điểm xuất hiện của TPTC trước hay sau khi áp lực thức ăn đủ lớn
để “mở cửa interpromimal contact”. Luận như vậy làm chúng ta liên tưởng ngay tới:

1. Hình thái học bảng nhai, răng mòn mất đường trượt thức ăn làm áp lực thức ăn tăng nhanh
(thức ăn bị nén nhanh);

2.Tình trạng tiếp xúc nhai của các múi (lồng múi) ảnh hưởng đến thời điểm xuất hiện TPTC.
Tiếp xúc cả A, B, C cùng lúc là lý tưởng, nhưng nghiến cứu thấy rằng chỉ có tiếp xúc B là làm
răng lún theo trục (Journal of Oral Rehabilitation 2006 33; 749–753) điều đó có nghĩ là thời điểm xuất
hiện TPTC nhanh hơn và gia tốc TPTC cũng lớn hơn, vậy tiếp xúc nhai cũng đóng vai trò quan
trọng trong food impact…thôi không dám luận về “cắn khớp chân kinh” nữa…Bs Phượng, Bs
Phi kìa…chấm dứt lung tung luận ở đây, đi khám bệnh nhân thôi!!!!!

Lời than phiền của bệnh nhân về food impact được xem như là một gợi ý về một tình trạng lâm
sàng mà phải được nhận định cẩn thận:

• Dính/mắc thức ăn có thể lấy được bằng tăm/chỉ và không có hậu quả về sâu răng/nha chu.
Mức độ này không điều trị chỉ khuyên bệnh nhân dùng chỉ/tăm để lấy thức ăn mà thôi.

• Dính/mắc thức ăn có thể lấy được bằng tăm/chỉ và có hậu quả về sâu răng/nha chu. Mức
độ này phải điều trị

• Dính/mắc thức ăn không lấy được, bất chấp có/không có hậu quả về sâu răng/nha chu.
Mức độ này tất nhiên phải điều trị.

Hỏi bệnh: chúng ta cần hỏi bệnh nhân về tình trạng food impact như thế nào để phân biệt là tất
cả, chỉ có thức ăn có xơ hoặc cả hai bị mắc. Mục tiêu của việc hỏi bệnh là để chúng ta có thêm
một ít ý niệm về hình thái học/hằng số tiếp xúc của contact point. Từ đó, gợi ý phương pháp
khám lâm sàng. Từ cơ sở này quý các hạ có thể mớm cung, ép cung ...gì thì mặc sức mà tra vấn.

Muốn xuất chiêu khám lâm sàng, Quý các hạ cần những chuẩn bị binh khí sau: Chỉ nha khoa,
giấy cắn, khay lấy dấu và chất lấy dấu(alginate/silicone...).

Khám hình thái tiếp xúc


A B

C D

Dùng chỉ nha khoa để khám:

• hình A giới hạn nướu của tiếp xúc,

• hình B,C là giới hạn ngòai trong của tiếp xúc,

• hình C kích thước ngòai-trong của tiếp xúc.

Chắc không cần giải thích nhiều làm gì. Có thể tham khảo thêm về hình thái tiếp xúc như các
hình dưới đây:
Với một dấu alginate hoặc silicone sẽ cho một mô phỏng interproximal contact mà ta có thể đo
đạt được ...xem hình dưới đây

Chắc không cần nói gì thêm... chỉ xin quý các hạ tha thứ vì làm công quả nên tại hạ chỉ dùng
alginate thôi, nếu dùng silicone thì sẽ thấy rõ hơn
Khám Hằng số tiếp xúc: dùng chỉ nha khoa đưa vào kẽ thấy mắc nhưng vượt qua dễ dàng và chỉ
không bị tưa, khi vượt qua contact tạo một âm thanh quen như …tiếng ngáy của chồng ấy mà,
cuối cùng là không hằng dấu chỉ trên gai nướu, đấy là 3 điều kiện của hằng số tiếp xúc lý tưởng.
Thiết tưởng không cần mô tả triệu chứng open contact and too tight contact …ở đây làm chi làm
mất thì giờ quý cát hạ.

Không có dụng cụ đo TPTC, nhưng có thể dùng giấy cắn xác định tiếp xúc nhai (xin đại ca Phi
giúp với…)

Chiêu IV: Điều trị

Sau khi khám rồi, biết rõ nguyên nhân rồi thì việc điều trị tựu trung chỉ có 3 việc:

Mài chỉnh contact point: dưới đây là những binh khí mà tại hạ dùng để mài chỉnh (Bang chủ đa
đoan, nên mấy món võ công cà khịa này tại hạ mới được hân hạnh tiếp cận, Ổng chuyễn bệnh
cho mình, làm hỏng được Ổng quánh, nên tại hạ rấp tâm nghiên cứu và sau cùng chọn được 3
món binh khi hữu dụng này…quý cát hạ có thể tìm thấy dễ dàng ở bất cứ cửa hàng nha khoa
nào…)
Mài kẽ răng làm giảm Hằng số tiếp xúc trong lọai Too Tight

2 hình này đã “thay lời muốn nói”

Điều trị open contact là điều thú vị nhất vì là món phục hồi (sở trường của tại hạ), khi điều trị
open contact cần phải có kỹ thuật tốt và vật liệu thích hợp. Cho đến thời điểm này có 2 vật liệu
thích hợp nhất là sứ (inlay/onlay sứ) và composit có trộn hạt độn thạch anh vào sứ (Beta Quartz
glass-ceramic inserts-) làm inlay composite - J Can Dent Assoc 2003; 69(3):162–7 - (tại hạ thường
xuyên làm… các Bác sỹ ở Inno Care đã từng thấy tại hạ modify kỹ thuật của Gs Hòang Tử
Hùng...về món võ công inlay composite rất thú vị này…). Tại sao hai loại này thích hợp vì đơn
giản 2 loại vật liệu này có độ mài mòn giống răng. Tuy nhiên, nếu bệnh nhân không có điều kiện
làm inlay sứ thì tại hạ chọn trám xoang II bằng composite P (compostie cho răng sau). Amalgam
không phải là chọn lựa tốt vì khi nhồi amalgam sẽ làm tăng hằng số tiếp xúc, đó là chưa kễ tới
tình trạng răng bị tách ra khi nhét chêm (chêm nhựa trong trường hợp này được ưa thích hơn vì
chêm gổ thấm nước bọt nở ra làm tăng kích thước sẽ càng làm tách răng ra, hậu quả là khi rút
chêm hằng số tiếp xúc sẽ rất cao – đây là một trong những thất bại sau điều trị). Trong khi inlay
kim lọai có vẻ là một trong những lựa chọn thích hợp cho tình hình Việt Nam, nhưng ai cũng
biết rằng một số kim lọai cứng hơn răng (còn kim lọai quý thì….).

Lạm bàn về kỹ thuật trám xoang II điều trị open contact. Khi điều trị open contact bằng phương
pháp trám xoang II thì không nên dùng khôn trám cổ điển - circumference matrix system- như
Tofflemire…là loại mà ta hay dùng. Chỉ nên dùng combination of matrices and separation rings
(mà đại diện là Palodent của Dentsply) sẽ tạo tiếp xúc điểm tốt hơn và hằng số tiếp xúc lý tưởng
hơn. Dưới đây là hướng dẫn dùng Palodent của nhà sản xuất, xin quý các hạ ghé mắt qua thử…
Quý cát hạ không đọc đuợc chữ thì mở file pdf mà tại hạ gởi kèm theo, và cũng có thể vào
website của Dentsply để xem.

Quý các hạ ôi, cho kẻ hèn này thở than một chút: sau 2 ngày cùng Nam trường lão lùng sục tàng
kinh các của “thế giới lâm tự” mà chỉ tìm được có 4 bài, tại hạ cầu cứu Bang chủ, bị Bang chủ
phán cho một câu tóat cả mồ hôi, dựng cả tóc gáy rằng “quần hùng chốn trời tây đã chỉnh nha hết
rồi đâu còn food impact nữa mà nghiên cứu, hãy tìm ở các lân bang China và Korea” mà quý các
hạ cũng biết rồi tiếng của lân bang thì tại hạ nghe được (vì không điếc) còn chữ thì tại hạ bị
mù..Thương lắm thay!!! Mà kỳ hạn Bang chủ giao đã như nước dâng tới …nhân trung… rồi. Tại
hạ quay về mạt xá bới tung tàng thư ra sức tham thấu…không đủ... bới tiếp tàng thư của labo
(ngày xưa tại hạ có thời gian làm trong môn phái này) để viết nên 4 chiêu này. Nhớ tới lời phán
của Bang chủ tại hạ ngữa mặt lên trời mà than: quần hùng chốn trời tây đã ở level phòng ngừa,
còn mình thì mãi đi tìm nguyên nhân mà điều trị…ôi thương lắm thương lắm tóc dài (Việt Nam
mình) ơi!!!!!!!!!!!!

Trong 4 chiêu của tại hạ còn một khuyết điểm rất lớn đó là chưa nó đến (vì không biết) về tính
thích ứng (adaptability) của cơ thể. Quý vị hãy xem các hình sau:
A B

• Hình A răng 14 xoay.

• Hình B kẽ giữa răng 47-48 interproximal contact thật quá tệ (so với kẽ răng 46-47).

• Hình C R26 xoay ngọan mục để tìm cách tiếp xúc răng kế bên (có thể là bẩm sinh
…nhưng ai mà biết được).

Tất cả những case này đều không có interproximal contact chuẩn nhưng không hề bị nhét thức
ăn. Vậy thì có cái gì đó đã vượt ra ngòai hiểu biết của tại hạ. Còn một điều nữa là liệu đỉnh
xương ổ tiêu dần theo thời gian có phải là cách làm tăng khỏang cách từ contact point tới đỉnh
gai nướu để thức ăn không bị mắc hay không (một cơ chế thích ứng chăng?). Không biết quý cát
hạ có cao kiến gì không…Người ta nói sở học vô cùng…giờ mới hiểu hết ý nghĩa này.

Sau một tuần vừa tham thấu kinh thư vừa layout rồi ngồi viết, tới đây tại hạ đã tàn lực. Mong có
chút gì cho quý các hạ nhẩm xà.

Đa tạ

Dr. Cường