1

TIẾNG TƠ LÒNG
Nguyên Tác: The Sound of Music Tác Giả: Maria Von Trapp Bản Dịch: Vân Anh

PHẦN MỘT: ÁO QUỐC
CHƯƠNG 1: CHỈ LÀ CHO VAY MƯỢN Có người đập nhẹ vào vai tôi. Tôi rời mắt khỏi chồng vở bài tập của các học trò bé bỏng của tôi đang chấm dở dang để nhìn lên khuôn mặt nhăn nheo nhưng hiền từ của chị coi nhà khách. Chị nói nhỏ nhẹ: - Mẹ Bề trên cần gặp chị tại phòng khách của Mẹ. Trước khi tôi có thể ngậm lại cái miệng của tôi đã phản xạ há ra vì ngỡ ngàng thì cánh cửa đã đóng lại sau cái khuôn mặt nhỏ nhắn ấy rồi. Các chị coi nhà khách ít khi được nói chuyện với những người dự bị vào nhà Tập. Chẳng biết cái tai tôi có nghe rõ ràng hay không. Có người dự bị vào nhà Tập như chúng tôi chỉ được thấy Mẹ Bề Trên ở mãi xa xa trên gác đàn dành cho ca hội. Chúng tôi thuộc thành phần thấp bé nhất của bề dưới, sống ở vòng đai ngoài nhà tập, đội lúp đen, mòn mỏi chờ đợi ngày được nhận vào nhà tập. Tôi đã học xong khóa Sư Phạm Quốc Gia dành cho giáo viên trung cấp. Tôi phải có văn bằng trước khi cánh cửa nặng trịch của Dòng kín này đóng lại đời đời phía sau tôi. Tôi chưa nghe thấy khi nào Mẹ Bề Trên Đan Viện lại cho gọi một người dự bị vào nhà Tập lên gặp Mẹ như thế này. Không biết có chuyện gì đây? Phòng khách riêng của Mẹ thì xa. Nó ở mãi đầu đằng kia của Đan Viện cửa kính. Tôi chọn lối quành dài nhất vòng đến đó, để tôi có đủ thời giờ xét mình. Tôi cảm thấy mình là con chiên ghẻ thuộc cộng đồng tu này. Thật đúng là như thế. Tôi tuy chưa làm điều gì bậy nhưng lối sống của tôi ngang tàng như một thanh niên bướng bỉnh chứ đâu có phải là một thiếu nữ nhu mì. Bao nhiêu lần Bà Giáo Tập cảnh cáo tôi không được hối hả chạy trên cầu thang bằng cách nhẩy ba bốn nấc thang một trật như vậy; dứt khoát không được tuột trên tay vịn của cầu thang;
2

không được huýt gió, dù là huýt gió theo điệu nhạc thánh ca vì xưa nay đâu có ai nghe thấy như vậy trong các phòng tu thánh thiện này; không được nhẩy lên những ống khói bên cạnh nhà trường vì không xứng với một thỉnh tu đang chờ ngày vào nhà Tập của Dòng tu thánh Biển Đức. Mỗi lần nghe cảnh cáo, tôi đều đón nhận lời sửa lỗi với hết ca tấm lòng thành thật. Thế nhưng đâu lại hoàn đấy. Tôi vẫn tái phạm đều đều mỗi ngày. Không biết Mẹ gọi lên về việc gì. Tôi vừa nghĩ vừa đi vào hai chặng cầu thang cũ mòn bắc qua sân nhà bếp lát đá to bản, nơi có tượng chịu nạn khổng lồ đón chào người qua lại, và cũng là nơi dựng tượng thánh Erentrudin, đấng sáng lập Đan Viện cổ kính của chúng tôi đây: Tượng ngài đặt trên trục vòi nước máy. Tôi bước chậm chạp vào lối đi thuộc khu nội cấm bên kia sân bếp. Dù lúc đó hồi hộp, tôi vẫn cảm nghiệm ra vẻ huyền bí của nơi kỳ diệu trên trần gian này. Mười hai thế kỷ đã đóng góp vào việc tạo dựng Đan Viện Nonnberg, một đan viện đầu tiên của các nữ tu Dòng Biển Đức miền bắc dãy núi Alps, một nơi đẹp lạ lùng chưa từng có trên trái đất. Tôi dừng lại giây phút để nhìn lại bức tường khu nội cấm màu lam đã có đến tám thế kỷ, trước khi bước lên cầu thang xoáy trôn ốc dẫn tới vùng nội vi của Mẹ Bề Trên Đan Viện. Tôi e lệ gõ lên cánh cửa nặng nề bằng gỗ sồi. Nó dầy đến độ tôi chỉ nghe được tiếng “Ave” mờ ảo vọng ra từ bên trong. Theo ngôn ngữ Dòng Biển Đức, Ave có nghĩa là “Mời vào!” Đây là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi đặt chân vào vùng nội vi này của Đan Viện. Cánh cửa đồ sộ mở ngay vào căn phòng rộng lớn mà trần nhà uốn theo vòng cung. Chiếc cột giữa phòng mang những đường nét đơn giản nhưng đẹp dung dị. Hầu hết các phòng của Đan Viện tuyệt diệu này đều uốn theo vòng cung. Trần nhà nằm tựa trên các dãy cột. Cửa sổ ghép kính sơn màu, ngay các cửa sổ phòng Mẹ Bề Trên là chiếc bàn giấy rộng lớn. Khuôn mặt hiền từ nhỏ nhắn của Mẹ ngước lên, Mẹ đeo cây thánh giá bằng vàng với sợi giây chuyền trên cổ cũng bằng vàng. - Maria con yêu dấu của Mẹ! Con có khỏe không? Ôi! Tiếng nói Mẹ nhân từ và dịu ngọt làm sao! Tôi cảm thấy những tảng đá trong tim tôi như tan vỡ ra khi nghe giọng nói của Mẹ. Thế mà trước đó tôi cứ lo sợ viển vông. Không! Mẹ Bề Trên không phải là người như tôi lầm tưởng. Mẹ đâu có đếm xỉa chi đến điều nhỏ nhặt như huýt gió này nọ. Tim tôi lúc này lóe lên tia hy vọng là có lẽ Mẹ sắp nói chuyện về ngày cho tôi vào nhà Tập.
3

- Ngồi xuống đi con! Ngồi chỗ này cơ! Gần bên Mẹ đây này! Ngừng lại giây phút, Mẹ nắm chặt lấy hai bàn tay tôi trong tay Mẹ. Mẹ đưa ánh mắt thăm dò nhìn tôi và nói: - Maria! Con nói cho Mẹ biết đi! Bài học quan trọng nhất mà Đan Viện cổ kính của chúng ta đây dạy con là gì? Không do dự, tôi nhìn thẳng vào đôi mắt màu nâu đẹp dịu dàng của Mẹ và trả lời: - Thưa Mẹ, duy chỉ có một điều quan trọng nhất nơi trần gian này đối với chúng ta là tìm ra thánh ý Chúa, rồi làm theo đó. Đôi tay Mẹ nắm chặt tay tôi hơn. Mẹ hỏi: - Thế nhưng nếu thánh ý Chúa không vừa ý mình, hay khó khăn mà có lẽ rất khó thục hiện, thì sao hả con? Thôi xong rồi! Mẹ đang có ý nói là phải vĩnh biệt thế gian và từ bỏ mọi sự để theo Chúa. Tôi nghĩ thầm như vậy. - Dạ thưa Mẹ đáng kính dù thế nào đi nữa, con cũng đón nhận với trọn vẹn tấm lòng thành. Mẹ buông tay tôi rồi dướn mình tựa vào lưng ghế: - Được rồi Maria con ơi! Hình như thánh ý Chúa muốn con rời khỏi nhà dòng... một thời gian ngắn. Mẹ tiếp tục ngay khi thấy tôi run sợ và ấp a ấp úng.... R...ời rời Nonnberg sao! Tôi nghẹn ngào và nước mắt trào ra. Tôi không thể cầm nổi. Người Mẹ đầy tình mẫu tử đang ở bên tôi đó giang tay ôm chầm lấy bờ vai tôi đang rung động vì nức nở. - Con biết đấy. Căn bệnh nhức đầu của con trở nên mỗi ngày một trầm trọng. Bác sĩ cảm thấy con thay đổi quá nhanh chóng từ khi con sống đời tu kín trên miền núi cao này. Do đó bác sĩ gợi ý nhà Dòng nên gửi con đi xa khoảng non một năm đến một nơi nào đó để con có thể tịnh dưỡng bình thường. Rồi mọi sự sẽ trở lại đều hòa, và tháng sáu tới con về lại và ở đây mãi mãi. Mãi tháng sáu tới mới về! Trời ơi, bây giờ mới đang là tháng mười!
4

- May sao hôm nay có ông Nam Tước tên là Von Trapp điện thoại đến đây. Ông ta là thuyền trưởng trong Hải Quân nước Áo hồi hưu. Ông cần một giáo viên dạy cho đứa con gái nhỏ ốm yếu. Con hãy lên đường đến nhà ông ta chiều nay. Bây giờ con hãy quỳ xuống Mẹ chúc lành cho con. Tôi quỳ gối xuống. Bàn tay nhỏ xinh đẹp làm dấu thánh giá một cách từ ái trên trán tôi. Tôi hôn lên chiếc nhẫn của Mẹ. Và dù vướng tấm voan, tôi cũng đưa mắt nhìn lần cuối cùng vào đôi mắt khó mà quên nổi của Mẹ, đôi mắt như nhìn thấu được mọi nỗi sầu muộn và cả những niềm vui an bình hay chiến thắng. Tôi quá ư nghẹn ngào, nói chẳng nên lời. - Thôi bây giờ con hãy đi thực hiện thánh ý Chúa với trọn vẹn tấm lòng thành. Thế là xong tất cả. Chỉ mấy tiếng đồng hồ sau đó tôi đã ngồi trên chiếc ghế màu xanh dưới đám cây chà là ở trạm Residenz Platz tại Salzburg để đón xe buýt đưa tôi đi Aigen. Một tay nắm chặt mảnh giấy viết dòng chữ: “Thuyền Trưởng Georg Von Trapp, biệt thự Trapp, thị trấn Aigen, tỉnh Salzburg”. Còn tay kia nắm cái quai của chiếc giỏ đựng quần áo bằng da lỗi thời, để ngay trên ghế bên cạnh chỗ tôi ngồi. Chiếc giỏ chứa đựng tất cả gia sản trần gian của tôi, gồm hầu hết là sách vở. Ngoài ra tôi còn cặp dưới nách chiếc đàn guita yêu quý của tôi. Tôi mua nó từ mấy năm về trước với số tiền đầu tiên tôi làm việc vào những lúc rảnh rỗi cho trường Sư Phạm. Nó theo tôi đi mọi nơi mọi chỗ, từ những cuộc đi dạo leo núi trên dãy Alps cho tới ngọn đồi thánh thiện Nonnberg này. Và giờ đây nó cũng theo tôi đi vào cuộc lưu đày. Đầu óc tôi vẫn còn chới với. Mọi sự diễn tiến quá nhanh chóng. Tôi cố gắng hồi tưởng lại những giờ phút vừa mới trôi qua, sao nó trôi đi như cơn ác mộng. Sau khi tôi rời phòng Mẹ Bề Trên, thì bà giáo Tập đã chờ tôi sẵn ở phòng các thỉnh tu, tay bà ôm đầy quần áo. Năm trước khi vào nhà dòng, tôi cởi bỏ hết y phục nước Áo để đổi lấy áo dài đen và lúp đen của các thỉnh tu. Quần áo riêng của tôi được mang cho mấy người nghèo trong năm, sau khi hội đồng dòng quyết định sẽ nhận tôi vào nhà Tập. Lúc này tôi thấy chị Frau Rafacla ra vẻ bối rối. Chị áy náy nhìn mấy bộ quần áo trên tay là quần áo của một chị đệ tử nhà tập lùn hơn tôi và cũng mập hơn tôi. Chị Frau chọn lấy một chiếc áo dài, và tôi ngoan ngoãn mặc thử cái áo màu xanh lam lỗi thời có đường thêu ren, không cúc ở tay và cổ. Tôi loay hoay mặc đi thử lại đến ba lần vì không biết đâu là đằng trước đâu là phía sau. Rồi đến cái nón bằng da. Nó giống hệt như cái nón

5

của đội cứu hỏa. Cái vành nó trễ ngang xuống mắt khiến tôi phải bẻ nó lên để nhìn chị Frau đang nói với tôi: - Được rồi! Để em coi chị xem như thế nào! Chị lùi lại một bước, đưa mắt nhìn tôi từ cái nón đến bộ áo lam xuống tới đôi vớ dài đen và đôi giày nặng nề cũng màu đen. Chị gật gù ưng ý: - Trông được và dễ thương lắm. Chị Frau Rafacla là nữ tu già nua thánh thiện. Cái ngày chị giã từ thế gian để nhập tu có lẽ phải đến ba mươi năm rồi. Nhìn cung cách chị lúc này tôi có thể mường tượng cái tính nhí nhảnh của chị thời còn là thiếu nữ trẻ trung. Sau đó là đến mục nhắn nhủ. Nào là vào ngày nghỉ tôi nên nhớ về nhà dòng. Nào là đừng có quên lời bác sĩ khuyên phải ngủ cho đầy đủ và tập thể dục, mà tập cho điều hòa, nhớ là điều hòa. Cuối cùng phải luôn để trong trí khôn rằng nhà và nơi sinh sống tôi là Nonnberg, cho dù làm việc với thế gian nhưng đó chỉ là cho vay mượn mà thôi. Lòng tôi đau nhói khi phải tạm biệt ba chị thỉnh tu chờ vào nhà Tập mà tôi đã xử dụng chung cái phòng giải trí nhìn ra cái thung lũng màu xanh lá cây rừng núi của con sông Salzach. Trong khi chị Fraula cúi xuống trên mảnh giấy để viết địa chỉ mà tôi sắp phải đến, tôi nhìn lại lần cuối quang cảnh căn phòng bầu dục rộng rãi với sáu cửa sổ, những ô ngăn có màu trắng dọc theo tường là chỗ chúng tôi ngủ, chiếc bàn học lớn ở giữa nhà, và chiếc lò sưởi đồ sộ loại cổ hiệu Kachelofen, bằng ngói, chế tạo tại Âu Châu cung cấp đủ hơi nóng ấm áp vào những mùa đông lạnh giá của miền núi đồi Salzburg. Tôi đã từng sống sung sướng ở đây. Chẳng biết bao giờ tôi mới trở lại. Nhưng “Xin vâng thánh ý Cha”. Những dòng chữ đó được viết bằng sơn ở tường trắng phía trên cửa ra vào này đã mờ phai. Tôi vào nhà nguyện cầu xin Chúa chúc lành. Những ngón tay tôi nhúng vào bình nước phép lần cuối cùng. Tôi quỳ ở dãy ghế dành cho ca hội đôi phút và nhìn xuống bàn thờ chính để cầu nguyện xin Chúa ban thêm sức cho tôi. Thế rồi cánh cửa bằng gỗ sồi cổ kính mở ra với tiếng kêu kẽo kẹt miễn cưỡng đưa lối cho đứa con út của cộng đồng Nonnburg trở lại một thế giới mà lẽ ra nó phải được bảo vệ bằng cách thoát khỏi đó mới đúng. Khi bước từ lối đi vòng cung xuống vườn nho trồng từ mấy thế kỷ nay, đôi mắt tôi như tối lại phần vì căng mọng nước mắt, phần vì quáng do ánh nắng mặt trời
6

khiến tôi không đọc nổi dòng chữ khắc trên tảng đá: “thánh ý Chúa không có chữ Tại Sao”. Thế rồi tôi thẫn thờ bước vào lối đi xuống khỏi ngọn đồi mà Thánh nữ Erenteudis đã xây ngôi pháo đài Thiên Chúa vào thế kỷ thứ tám. Ngôi pháo đài được xây trên nền đá vững chãi với những bức tường có chân móng dày tới chín tấc. Nền đá dưới chân móng chĩa lồi ra ngoài đã được đẽo gọt làm thành một sân nhỏ. Tôi dừng chân lại đây đôi phút đưa mắt nhìn qua bờ tường đá mọc lên sừng sững cao đến hai trăm thước. Nhiều căn nhà nhỏ bé trông ra khác gì những tổ chim đu đưa trên cây cối xanh của rừng núi. Chỗ tôi đứng còn cao hơn cả mấy tháp nhà thờ. Qua khỏi những mái nhà Grabendacher đẹp cổ kính, loại mái thông dụng ở miền Salzburg có cửa trổ ra trên mái, tôi nhìn thấy con sông Salzach như con rắn đang bò lên các dãy núi nơi mà nó khởi nguồn. Ở đằng kia chắc là vùng Aigen nơi tôi phải đến. Bây giờ thì, Chúa ơi, tôi phải ra trạm xe buýt, bằng cách phải bước xuống một trăm bốn mươi bốn bước, mỗi bước xuống hai nấc thang. Tôi chẳng còn nhớ gì đến lời nhắn nhủ mới đây nữa. Đến trạm Residruzplatz, tôi được biết là phải chờ nửa giờ nữa mới có chuyến xe kế tiếp. Mệt đến đứt thở vì chạy, tôi ngồi nghỉ trên chiếc ghế băng màu xám. Tôi cảm thấy mình bơ vơ. Đầu óc tôi hơi trống rỗng. Chuyện gì sắp xảy ra đây. Mắt tôi nhìn xuống mảnh giấy nhàu nát: “Thuyền trưởng Von Trapp”. Dòng chữ làm tôi thắc mắc. Tôi chưa hề bao giờ ở miền ven biển. Cũng chưa lần nào trong đời gặp ai là thuyền trưởng của biển khơi. Tôi chỉ biết họ trong tranh ảnh hay sách vở mà thôi. Tôi nghĩ thầm có lẽ ông ta là một người có bộ râu xám rậm, đôi má hồng hào, lưỡng quyền cao và cặp mắt xanh. Chắc hẳn lúc nào cũng ngậm điếu tẩu và nhỏ bọt luôn miệng. Nếu là thuyền trưởng, ông ta phải đi vòng quanh thế giới nhiều lần. Có lẽ phòng ông ở đầy những mề đay, da cọp và sư tử, cùng các lọai vũ khí treo kín tường. Vậy thì thích thú lắm nhỉ! Đồng thời tôi cảm nhận ra một cảm giác sờ sợ đang len lỏi trong tim, bởi vì ông ta chắc hẳn phải gào to khi nói chuyện. Các người thuyền trưởng thường có giọng khàn khàn. Lúc ấy tôi nhớ lại câu chuyện Mutiny ở Bounty, một cuốn phim họat họa tôi đã coi ngay trước khi vô nhà dòng. Nó ám ảnh tôi bao nhiêu đêm trời.

7

Một tiếng động lạ làm ngắt quãng các tư tưởng lo âu của tôi. Giữa đám bụi mù, một chiếc xe lớn gầm lên chạy qua bến Residenzplatz và dừng ngay phía trước tôi. Một người đàn ông xuống xe buýt. Tôi muốn nhìn xem có phải là người tài xế hay không, nhưng vành nón bằng da phủ xuống mắt nên tôi chỉ nhìn thấy xa xa cái miệng ông chìa ra cái tăm lớn. Kéo cái nón ra phía sau một chút tôi mới nhìn thấy được cái mũ lưỡi chai của bác tài xế. Tôi lên tiếng hỏi: - Xe buýt này đi Aigen chứ bác? Người đàn ông ngậm chiếc tăm gật đầu. - Thế bao giờ thì đi? - Ngay bây giờ. Ông ta đưa mắt đảo quanh một lát muốn chừng xem còn hành khách nào nữa. Tôi bước lên xe và ngồi ở ghế đầu bên phải. Đồ hành trang quý báu của tôi để ngay bên cạnh. Cái giỏ quần áo của tôi chẳng khác gì cái cặp của bác sĩ miền quê. Bác tài xế bước vào bên trong, đóng cửa lại và nói: “Mười xen!” Tôi đưa tay hất cái nón lại phía sau, ngước mắt nhìn bác. Trong lúc bác đếm tiền lẻ thối lại thì tôi ngắm nghía cái tăm của bác. Cái tăm di động lên xuống, qua lại từ bên mép này sang mép bên kia cả khi bác nói hay nhỏ bọt mà vẫn không rơi. Bác tài xế ngồi vào tay lái, bật công tắc. Tiếng động cơ gầm lên rồi nổ mệt nhọc và đau đớn. Xe khởi đầu đưa chúng tôi xuống Residenzplatz, dọc qua Mazarplatz, tiến sâu vào con sông Salzach. Con đường dốc quanh co. Có đến hai lần tôi ngã nhào xuống sàn xe ở những khúc quẹo gắt. Được ít phút xe vượt qua cầu Karolinenbreidee trên sông Salzach, đưa chúng tôi hẳn vào miền quê, đi qua mấy nông trại với vườn cày rộng lớn, cánh đồng cỏ và lúa mênh mông. Đôi lúc xe dừng lại bất chợt để đón thêm khách miền quê. Mọi người hình như đều quen biết nhau. Những tiếng chào hỏi oang oang, rồi những câu trả lời như hét vào tai, vì tiếng động cơ ầm ĩ át đi tiếng nói, nên dù là nói một tiếng thôi cũng phải lên giọng. Theo lời chào của bà con thì bác tài xế có tên là ông Muller. Bác phải trả lời nhiều câu hỏi, đưa ra nhiều lời giải thích này nọ và phải cười họa theo những lời bông đùa. Bác nhỏ bọt mỗi lần hút xong một điếu thuốc mà nhổ nghệ thuật xuyên qua cái lỗ nhỏ trên cửa kính bên trái phía đằng trước, và chẳng bao giờ bác để rơi mất cái tăm. Xe chạy được chừng hai mươi phút thì bỗng dừng lại. Ông Muller vẩy vẩy cái tăm thẳng phía tôi và nói:
8

- Aigen đây rồi! Tôi xuống xe và lập tức một đám khói phủ đầy lấy tôi. Chiếc xe biến dạng rồi, tôi mới hất chiếc nón về phía sau và nhìn thấy duy nhất có một căn nhà với bảng đề “lữ quán.” Tôi hỏi người đàn ông đang hút thuốc ngay cửa ra vào: - Bác có biết biệt thự Trapp ở đâu không? Ông ta chẳng nói chẳng rằng lững thững đi ra ngoài con lộ bặm bụi miền quê, rồi cầm cái tẩu thuốc chỉ ngang qua cánh đồng cỏ về phía lùm cây rậm rạp và nói: - Đằng kia kìa! Phía bên phải đường rầy vắt ngang qua con lộ là hàng rào giây kẽm ven theo con đường mòn. Hình như hàng rào vây quanh khuôn viên của một gia trang. Phía bên kia đường rầy là những cánh đồng cỏ trải rộng tới một chân núi cao xinh đẹp theo tôi biết đó là núi Gaisberg. Con đường mòn kia có lẽ dẫn đến chân núi. Không, phải có một khúc quanh chỗ nào đó. Tôi đi bộ đã khá xa. Đôi ba lần tôi phải chuyển cái giỏ quần áo từ tay nọ sang tay kia. Tôi cố liếc mắt nhìn vào gia trang nhưng cây cối bụi rậm dày đặc như bức tường xanh vững chãi. Có lẽ đây là những lùm cây mà tôi đã nhìn thấy từ chỗ xuống xe, thế rồi một căn nhà hiện ra. Không! Một dinh thự thì đúng hơn. Cánh cổng bằng song sắt mở vào một lối cho xe đi rộng. Và đằng sau thảm cỏ xanh rộng hình bầu dục, qua những cành lá vàng úa của các cây dẻ cổ thụ, tôi thoáng nhìn thấy căn nhà. Tôi dừng lại giây lát, hất cái nón về phía sau rồi trố mắt nhìn. Nơi ấy là đây! Tôi chới với trong những cảm giác hỗn độn. Một phần trong tôi vẫn còn nỗi buồn của giây phút từ giã ngắn ngủi nơi thánh thiện yêu dấu. Đàng khác tôi lại nôn nóng muốn biết về nơi cư ngụ của một viên thuyền trưởng hải quân thực thụ cùng với những dị điểm của chính con người thuyền trưởng... Tôi nhủ thầm: - Thế nhưng mình không thể đứng mãi ở đây được. Khi bước dưới những lùm cây để vào lối đi trải đá sỏi, tôi mới nhìn rõ toàn diện tòa nhà to lớn có cái tháp nho nhỏ bên góc phải. Giàn nho leo phủ kín mặt tiền của tòa nhà. Mấy cửa sổ lầu một đã lôi cuốn tôi ngay lập tức. Khung cửa cao lạ thường. Mắt tôi nhìn thấy rõ đồ vật đỏ và trắng gì đó treo trên tường phía trong. Tôi phải bước hai bậc thang mới đến cửa chính có hai cánh cửa bằng gỗ sồi nặng nề uốn vòng cung. Tôi bấm chuông, cánh cửa mở ra với tiếng kêu nhẹ. Tôi
9

hỏi người đàn ông dáng người bảnh bao xuất hiện nơi cửa ra vào, ăn mặc theo y phục Nước Áo, chỉ khác ở mấy chiếc nút bạc thay vì nút gạc nai thông thường. - Đây là biệt thự Trapp phải không ạ? - Dạ phải! - Tôi là cô giáo mới đây. Ông có phải là vị thuyền trưởng không? Gương mặt màu nâu rạm nắng của ông ta lạnh như tiền: - Dạ không. Tôi là Haus, người quản gia. - Dạ chào ông Haus. Vừa nói tôi vừa đưa tay ra để chào bắt. Ông ta bắt tay tôi hơi vội vã làm tôi nghĩ ông ta không được thoải mái là bao. Ông cầm lấy cái giỏ quần áo và dẫn lối tôi đi qua một cửa bằng kính, bước vào hành lang rộng lớn làm nổi bật chiều cao của tòa nhà. Ông bảo tôi ngồi xuống, rồi âm thầm biến mất làm tôi không kịp hỏi han gì. Tôi cảm thấy thất vọng. Tại xóm làng Tyrô miền núi nơi tôi sinh trưởng, mọi người quen biết nhau và chẳng ai vội vã như thế bao giờ. Tôi cần nói chuyện đôi chút với cái ông già bảnh bao có vẻ thân tình này, để hỏi ông ta ít nhiều điều trước khi đối diện vị thuyền trưởng của biển khơi đầu tiên trong cuộc đời. Nhưng có lẽ vai trò của các người quản gia phải xử sự như thế chăng. Đời tôi chưa hề gặp một người nào như vậy, trên miền núi cũng như ở trường nội trú Vienna và ngay cả vùng Nonnberg cũng không có nữa. Tôi chỉ thấy họ xuất hiện trong tiểu thuyết và phim ảnh như mấy ông thuyền trưởng của biển khơi thế thôi. Tôi ngồi đợi trên chiếc ghế màu nâu điêu khắc rất nghệ thuật. Nó làm tôi liên tưởng đến dáng dấp nhưng ngăn ghế quỳ dành cho ca hội ở nhà Dòng. Tôi đưa mắt tò mò lùng kiếm chung quanh xem có các bộ da sư tử hay hổ báo và vũ khí lạ kỳ hay không. Tôi chẳng thấy gì ngoài mấy bộ bàn ghế đặt để trong chiếc hành lang rộng thênh thang, với hai bức họa sơn dầu treo trên tường. Xuyên qua các cửa gỗ lớn, tôi chiêm ngắm ánh sáng mặt trời chiếu sáng trên dẫy cầu thang lộng lẫy vòng lượn lên lầu một cách quý phái. Chiếc cờ đỏ trắng có lẽ lớn nhất tôi từng thấy trong đời treo trên tường. Chiều dài có đến mười thước, chia thành ba phần đỏ - trắng – đỏ với vòng lá chiến thắng ở giữa. Đột nhiên tôi nghe tiếng chân người đi và tiếng nói giọng oang oang phía sau lưng: - Tôi thấy cô đang nhìn xem lá cờ của tôi.
10

Thôi chính ông thuyền trưởng đây rồi. Dáng người cao lớn, ăn mặc tề chỉnh, ông đứng ngay trước mặt tôi. Giọng nói khác hẳn loài sói biển trong trí tưởng tượng của tôi. Ông tỏ ra đầy bản lãnh và cung cách quý tộc nên làm tôi sờ sợ. Thế nhưng cái bắt tay lại tỏ ra niềm nở và thân tình. - Tôi lấy làm vui mừng được biết cô đã đến, cô Fraulen... Tôi điền ngay vào đó là cái tên “Maria”. Ông đảo mắt nhanh chóng nhìn tôi từ đầu đến chân. Tôi chợt khựng lại khi nhớ lại bộ áo tức cười, nó thụng thịnh đến nỗi tôi như đang bơi lội trong đó dưới chiếc nón cứu hỏa của tôi. Nhưng cặp mắt vị thuyền trưởng dừng lại trên đôi giày của tôi. Chúng tôi vẫn còn đang đứng tại tiền đường. Ông lên tiếng : - Tôi muốn cô gặp bọn trẻ trước đã. Ông lấy trong túi chiếc còi đồng xinh đẹp đúc theo lối cổ, và thổi những chuổi hiệu còi phức tạp. Trông tôi lúc đó chắc là ngớ ngẩn lắm khi ông nói như để chữa lỗi: - Như cô thấy đó, tôi gọi chúng theo hiệu còi riêng, vì nếu gọi hết tên chúng thì dài và mất giờ lắm. Lúc đó tôi tưởng chừng sẽ nghe tiếng các cửa đóng sầm sập với những tiếng cười la ồn ào, rồi nhìn bọn trẻ chạy rầm rộ xuống dưới cầu thang hay ngồi tuột xuống trên chiếc tay vịn. Trái lại, bốn đứa gái hai đứa trai hiện ra trong y phục thủy thủ dẫn đầu là chị cả có khuôn mặt thùy mị dễ thương trạc tuổi trăng tròn. Tất cả đi theo dịp diễu hành trịnh trọng bước xuống từng nấc thang một trong im lặng. Đột nhiên hai chúng tôi trố mắt nhìn nhau ngỡ ngàng. Tôi chưa hề thấy quý tử hay tiểu thư nhà ai lại ngoan đến độ như vậy, và có lẽ chúng cũng chưa hề thấy ai có cái nón cứu hỏa kỳ cục như tôi. - Đây là cô giáo mới của chúng ta, cô Fraulen Maria. - Chào cô Fraulen Maria. Sáu giọng nói vang lên đều nhau như một theo sau là sáu cái đầu cúi xuống một cách rất ư là lịch thiệp. Trời đất ơi! Cái gì kia? Thật hay hư vậy? Tôi lại phải hất vội cái nón kỳ cục một lần nữa, và thực sự cũng là lần chót. Tôi giương mắt nhìn con vật dài dài màu
11

nâu xấu xí nằm khoanh tròn trong chiếc hộp bóng sáng. Nó trườn mình leo xuống đôi chân nhỏ xinh đẹp của bé gái bụ bẫm chừng năm tuổi đang cười như nắc nẻ. Tiếng cười vô tư và sung sướng vang lên trong bầu khí yên lặng nghiêm trang. Khối băng như tan vỡ. Tất cả chúng tôi đều cười rộ lên. Người cha liền giới thiệu bé gái đang cười khúc khích: - Đây là Joanna và đây là Martina, bé cưng của chúng tôi. Tôi nghĩ thầm, sao cô bé lại dễ thương đến thế thì thôi. Bé dè dặt để hai tay ra phía sau lưng và im lặng đưa mắt nhìn tôi như tra vấn điều gì. - Cháu Hedwing là nữ sinh lớn rồi đó. Vừa nói người cha vừa chỉ vào cô thứ ba trong số ba cô gái trẻ nhất. Cả ba cô đều cắt tóc ngắn, trong khi cô thứ bốn mà vị thuyền trưởng giới thiệu là Agathe, con gái lớn nhất ấy thì để tóc chảy thõng từ chiếc băng vải trên đầu xuống vai. Tôi dậy lên niềm cảm mến cô gái mới lớn có khuôn mặt dung dị với nụ cười chúm chím e lệ. Hy vọng hai chúng tôi sẽ trở thành bạn thân. Tuy nhiên lúc này không đủ thời giờ làm một cái gì để tỏ tình thân được vì người cha còn đang tiếp tục: - Và đây là các bé trai. Cháu lớn là Rupert. Cháu kia là Werner. Rupert có dáng điệu chững chạc như người cha. Werner là cậu bé có đôi mắt nhung nâu dễ thương đến nỗi tôi muốn ôm ngay vào lòng để mà nựng hôn. Tôi hỏi vị thuyền trưởng: - Thế ai là học sinh của tôi? Một nét buồn thóang hiện ra trên ánh mắt còn tươi của ông. Ông đáp: - Cô chưa gặp học sinh của cô đâu. Tôi sẽ đưa cô lên gặp cô gái đó. Ông gật đầu ra hiệu giải tán bọn trẻ. Trong lúc tôi theo ông lên lầu, ông trình bày: - Cháu gái này là cả một vấn đề cho chúng tôi trong mấy năm qua, vì sức khỏe yếu ớt của nó. Cháu hay bị ban nóng nên làm cho tim mệt nhoài. Bây giờ cháu đang cảm cúm, và xem ra khó mà bình phục. Tội nghiệp con bé.
12

Tại hành lang lầu hai, ông thuyền trưởng mở một cánh cửa và chúng tôi còn phải lên một chặng cầu thang khác hẹp hơn để vòng lên lầu ba dẫn tới một căn phòng rộng rãi đầy ánh sáng mặt trời, nhìn ra chiếc ban công. Cô bé ngồi giữa đống gối trên chiếc giường gỗ rộng khắc theo kiến trúc cổ kính. - Đây là cô giáo Fraulen Maria. Ông thuyền trưởng vừa nói vừa cúi người sát xuống khuôn mặt bé nhỏ vàng vọt với đôi mắt đen to có quầng thâm. Ông tiếp với giọng nhỏ nhẹ âu yếm. - Ba tin chắc là con và cô giáo sẽ hợp nhau. Bé cưng ạ. Cô giáo và con đều có cái tên như nhau. Nụ cười héo hon lóe trên khuôn mặt nhỏ bé, rồi một giọng yếu ớt trả lời: - Thưa ba vâng! Cô Fraulen Maria ơi, cháu lấy làm sung sướng được gặp cô. Ông thuyền trưởng lên tiếng phân trần: - Bây giờ thì cô Fraulen Maria phải lên phòng của cô, nhưng cô sẽ xuống với con ngay. Khi chúng tôi xuống lầu, bất chợt ông quay lại hỏi tôi: - Sao, cô thấy bọn trẻ thế nào? Câu hỏi làm tôi ngỡ ngàng, tôi ấp úng: - Chúng có bộ mặt đẹp kỳ diệu, nhưng tất cả đều có nước da xanh và tỏ vẻ nghiêm trang quá. Nói rồi tôi cảm thấy hối hận. Cha của bọn trẻ biết đâu cho tôi là người quá nông nổi trong việc phê bình. Thế nên tôi vội nói thêm: - Tuy nhiên cháu nào cũng ngoan ngoãn lắm. Ông thuyền trưởng nhún vai tiếp ngay: - Nhưng không phải là luôn luôn ngoan ngoãn đâu! Rồi ông trở nên nghiêm nghị. Hình như ông hiểu ý nghĩa của lời tôi nói sâu xa hơn cả chính tôi muốn nói. Ông tiếp lời đang khi chúng tôi tiếp tục xuống lầu với giọng nhỏ đến độ thì thầm:
13

- Này cô nên nhớ! Cô là người thứ hai mươi sáu trong danh sách y tá, cô giáo và người dẫn dắt bọn chúng mà chúng tôi đã có từ khi mẹ chúng qua đời bốn năm về trước. Điều đó cho cô hiểu được nhiều sự. Cô giáo mới đây chỉ ở được với chúng tôi hai tháng, nhưng tôi có cảm tưởng là lần này thì khác biệt hẳn với mọi lần. Tôi trả lời: - Dạ đúng! Sẽ kéo dài chín tháng. Ông mở cánh cửa cao của một căn phòng cho tôi. Trước khi rời đi, ông cúi đầu chào với câu: - Chuông báo cơm chiều sắp sửa reo. Căn phòng hết sức rộng. Cửa sổ có ban công lớn. Sân nhà phủ thảm Đông Phương. Đồ đạc trong phòng toàn là đồ cổ nặng nề cùng với lớp giấy dán tường tạo nên bầu khí trang trọng. Chiếc giường trắng nằm ngay vào hốc tường với tấm phủ bằng lụa mầu xanh nhạt. Bàn giấy bọc nỉ kê ở giữa nhà với chân nến chùm mỹ thuật. Ở Nonnberg, chúng tôi không có thảm hay lụa là hoặc nỉ, nhưng trên vách tường thì treo đầy những bức họa cổ kính hay tượng khắc bằng gỗ về Chúa, Đức Mẹ hay tất cả các thánh được sùng mộ đặc biệt. Ngay mỗi cửa ra vào đều có bình nước thánh làm bằng gỗ, bạc hay sành. Tại phòng tôi ở đây không có thứ nào như vậy cả. Phía chân giường là chiếc ghế đẩu đơn sơ. Tôi để cái giỏ quần áo méo mó và cũ kỹ trên đó cùng với cái nón bất hạnh của tôi. Cây đàn guita thì đem vào giường. Tất cả đồ đạc của tôi cảm thấy như lạc lõng ở nơi đây. Chính tôi cũng thế. Tôi ngồi xuống chiếc ghế đẩu, ôm đồ đạc của tôi trên đùi. Lúc này tôi hoàn toàn thấy mình cô đơn và vô duyên lạ thường. Bỗng nhiên một âm thanh kỳ lạ nhưng trang trọng làm tôi giật mình. Thì ra chuông báo hiệu cơm chiều. Một lát sau ai nấy tề tựu tại phòng ăn lịch sự. Ở đầu bàn là ông thuyền trưởng. Bọn trẻ thì ngồi thứ tự dọc theo hai bên. Đầu bàn đàng kia là một thiếu phụ tuổi độ trung tuần. Tôi ngồi bên trái người thiếu phụ, đứa bé gái nhỏ nhất ngồi bên phải bà ta. Tôi được biết đó là nữ nam tước Matilda, người quán xuyến mọi việc trong nhà này. Con người bà ta toát ra phong độ thân thiện và hiền hậu. Y phục mặc trên người thanh thoát làm tôi nhớ đến hương thơm của một loài hoa. Giờ đây ngồi trong phòng ăn, tôi nảy ra một số câu hỏi khác thêm vào nhiều thắc mắc đã có sẵn trong đầu. Mấy cái đĩa pha lê hay bằng bạc kia để làm gì? Sao ông Haus, người quản gia ở trong nhà mà lại đeo găng tay trắng như vậy.
14

Tất cả đều là ngẫu nhiên ư? Bàn tay trái ông ta làm sao mà cứ phải cắp chặt ra sau lưng thế kia? (Hay chiếc găng tay ấy bị rách). Rồi tại sao nữ nam tước cứ phải lắc lắc cái chuông nhỏ để đàng trước mặt? Tại sao bà không gọi ông quản gia vì ông luôn đứng chờ sẵn ngay phía sau cửa? Vân vân và vân vân. Sau cơm chiều, tôi được cho biết là tối nay tôi được rảnh việc để lo sắp xếp đồ đạc cho ổn định. Thực ra việc xếp quần áo của tôi đâu có lâu la gì, chỉ năm phút là hoàn thành. Vỏn vẹn chỉ có bàn chải đánh răng, vài bộ đồ lót, bộ áo dài nhung trông bạc cũ như cái giỏ quần áo và chừng mươi cuốn sách nếu xếp rất là nhanh chóng. Cái giỏ đựng quần áo và cái nón thì liệng vào cái góc tủ thênh thang. Cuốn Thánh Kinh Tân ước, tập quy luật Dòng Biển Đức và cây Thánh Giá nhỏ thì để ngay trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường. Xong đâu vào đấy, tôi tiến lại bên cửa sổ. Dưới ánh nắng hoàng hôn rực đỏ nằm trải rộng một cánh đồng mênh mông trồng cỏ với đây đó đôi ba lùm cây lớn. Xa hơn nữa, tôi thấy ngọn núi Lutersberg sừng sững nổi bật trên bầu trời xanh mờ trong ánh tà dương, ngọn núi thân thuộc và trìu mến mà chúng tôi thường nhìn hằng ngày từ Nonnberg. Ngoài ra còn nhiều ngọn khác như Tennengeberge, Hagengeberg, Stanpen, Wazmamn. Tôi cảm thấy lúc này người thoải mái lại. Tôi sinh trưởng tại miền cao nguyên, nên cảm nghiệm mình thuộc về núi rừng. Tôi thấy cần có rừng núi làm bạn. Chúng trở thành những người giám hộ đáng tin tưởng của tôi. Nếu không được luôn luôn sống cùng độ cao với chúng, thì ít ra ai cũng muốn nhìn chúng mỗi khi có chuyện buồn một người xa xưa hay ba ngàn năm đã viết : “Tôi ngước mắt nhìn lên đồi núi và đón nhận từ đấy niềm an ủi giúp đỡ.” Chắc tác giả thấu hiểu cái cảm nghĩ của tôi lúc này. Ngay đến Chúa, khi mệt mỏi và đau buồn Ngài cũng muốn đi đến nơi vắng vẻ để sống một mình với Chúa Cha. Ngài đã lên một nơi vắng vẻ trên núi. Giống như một nữ sinh nhỏ tôi tự làm ra lịch trình làm việc cho hai trăm năm mươi ngày, đúng số ngày tháng tôi sẽ phải sống ở cái nhà này. Ngày thứ nhất thông qua. Tư tưởng sau cùng đến trong tâm trí tôi vào cuối cái ngày quan trọng này là : “dầu sao tôi cũng chẳng thuộc về nơi này, mà chỉ là cho vay mượn.”

15

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful

Master Your Semester with Scribd & The New York Times

Special offer: Get 4 months of Scribd and The New York Times for just $1.87 per week!

Master Your Semester with a Special Offer from Scribd & The New York Times