You are on page 1of 42

CHÚA GIÊSU

NÓI VỚI
MỘT LINH HỒN
(LỜI YÊU THƯƠNG)
Bạn thân mến, những lời yêu thương bạn sẽ đọc trong tập nhỏ này được trích từ
cuốn Ino ren Metachio Lamore do nhà sách Poraghenda marigalna tại Rô-Ma xuất bản
vào năm 1972, sau đó được xuất bản bằng tiếng Pháp với nhan đề Nơ On Mectadamua
(lưu ý: các tên hoàn toàn không đúng như vậy vì người viết chỉ viết theo phiên âm cho dễ
đọc) .
Vào đầu năm 1973 rồi được tiếp tục xuất bản bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Riêng bản
gốc bằng tiếng Ý chỉ hơn 1 năm đã xuất bản tới 5 lần. Vừa khi ra đời, cuốn sách đã được
dư luận tán thưởng và nhiệt tình đón nhận. Từ tòa thánh Vatican, có nhiều giám mục, linh
mục, tu sĩ và giáo dân, tất cả đều nói lên sự sửng sốt, bỡ ngỡ, đều biểu lộ niềm xác tín và
cảm phục.
Đó là cuốn sách tường thuật đầy đủ cuộc tâm sự của Chúa GiêSu với một nữ tu trong thời
gian từ cuối năm 1967 đến cuối năm 1971. Cuộc sống của vị nữ tu này rất tầm thường, ẩn
khuất, chẳng ai quan tâm tới. Nhưng về cuối đời chị, chị đã được Chúa GiêSu ưu ái tuyển
chọn để trao gửi những bí nhiệm của trái tim từ ái Người qua những lời yêu thương tràn
ngập nỗi khổ đau của một Thiên Chúa tình yêu bị ruồng bỏ.
Ngày 02/04/1968, Chúa GiêSu nói :”Cha không biết tìm đâu ra một tình bạn thân thiết
và trung thành. Cả trời đất mưu phản Con Người đã lên của lễ hi sinh đền tội. Tại sao
Cha phải héo hắt vì tình yêu. Chính là để tạo vật của Cha nhiệt tình yêu mến Cha. Ôi,
nếu con muốn cho Cha được sung sướng hãy yêu thương mối tình của Cha đang bị ruồng
rẫy, bị từ chối, bị khinh chê, tên Cha là tình yêu”.
Một tình yêu ban phát tất cả. Chúa GiêSu nhờ chị trao gửi lại tâm sự của người cho toàn
thế giới đặc biệt là cho các linh mục và tu sĩ. Cuộc tâm sự này được chuẩn bị bằng những
lời thiết nghĩa của người chị ruột mới qua đời của vị nữ tu. Chị loan báo sứ mệnh của
người nữ tu và thôi thúc chị kêu gọi người ta yêu mến Chúa. Em có một sứ điệp về tình
yêu, vì tình yêu đã không được yêu lại. Chúng ta phải rao giảng tình yêu ấy vì tình yêu đã
không được yêu lại. Đây là điều chị khát khao, đó là ước gì lời chị mà ngày ngày em viết
đây đến được với mọi người là tình yêu Chúa không được yêu lại. Hãy làm cho người ta
yêu mến tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu và người muốn được yêu lại.
Chỉ duy tình yêu chân chính của Chúa là không được yêu lại, hãy làm cho người ta yêu
lại tình yêu của Chúa. Những lời yêu thương của Chúa phải được ghi lại và xuất bản để
làm cuốn sách tùy thân cho các linh mục và tu sĩ đồng thời phải được loan báo cho hết
mọi người như một thông điệp của tình yêu và đau khổ. Đây là một thông điệp mà chỉ
luôn luôn nói đến tình thương xót , tình nhân hậu và khoan dung. Bất cứ ai đọc những lời
yêu thương này sẽ được ơn hối lỗi và trở về với Chúa như lời hứa của Người. Chúa
GiêSu còn quả quyết thêm “Những lời Cha đã nói sẽ phát sinh kết quả trong các linh
hồn vì sự chính xác, vì tính hợp thời và vì cảm xúc mạnh mẽ, nó sẻ là cuốn sách tùy
thân của các linh mục và các linh hồn trở về với tình yêu Cha sẽ rất đông ”.

Khi chị nữ tu ái ngại rồi đây những lời yêu thương của Chúa sẽ được đón nhận như thế
nào thì Chúa cho biết ‘Nó sẽ được đón nhận như một nguồn ánh sáng và như một
động lực thúc đẩy yêu mến Thánh Tâm Cha, nó sẽ không bị phê bình, chỉ trích. Nó sẽ
xuất hiện như một tin mới , một mạc khải hợp thời về tình yêu bất di dịch của Cha đối
với mọi người, như một tiếng kêu gọi mọi người hãy hân hoan quay về ngay với trái
tim Cha đang héo hắt vì yêu thương ’. Ngày nay những lời yêu thương của Chúa đã
được rao truyền khắp nới như lời người đã hứa.
Ngày 17/05/1968, bản thảo đã thâm nhập khắp nơi, nhà giam, nông trại , gia đình , trường
học và các tu viện. Phần bạn, nếu lần đầu bạn tiếp nhận thông điệp này thì bạn hãy hân
hoan đọc đi. Nếu đã đọc rồi , bạn hãy cứ vui mình đọc lại nữa, và nhiều lần nữa để cảm
nghiệm được dồi dào hơn điều Chúa GiêSu quả quyết ‘Những lời này sẽ ngọt ngào như
mật , êm ái cho tâm trí nhiều linh hồn’. Ước mong Chúa GiêSu thực hiện sung sướng
nơi bạn như lời người đã hứa. Cha hứa với con “Sẽ không có một linh hồn nào đọc bản
thảo này mà không thấy mình khá hơn, không thấy mình ở gần Thánh Tâm Cha
hơn”. Rồi một khi đã đọc, đã lãnh nhận được tràn trề niềm hoan lạc của những lời yêu
thương, bạn hãy truyền đạt cho người khác, cho thật nhiều người khác nữa. Đây là điều
Chúa Giê-su mong mỏi.
Ngài nói, vào ngày 08/03/1969, ‘Cha hứa với con rất nhiều ơn trọng đại sẽ đổ xuống
cho tất cả những ai bằng cách này hay cách khác vào việc phổ biến thông điệp tình
yêu của Cha. Và như thế tình thương xót của Cha sẽ thắng vì người ta sẽ không còn
thể không nghe biết về tình yêu của Cha được nữa’.

Phần thứ nhất :
Tâm sự của chị tôi
Ngày 04/08/1967
Chị tôi nói “Ôi, lòng thương xót của Chúa”.
“Này chị nhưng sao Chúa lại phán xét.”
”Đó cũng như một người mẹ vừa mơn trớn đứa con nhỏ vừa nói :”Ôi, tội nghiệp bé quá,
nó không chủ ý làm điều đó đâu nhỉ ”.
Ngày 11/08/1967
“Xin chị cho biết chị đã thấy gì sau khi chị chết.”
“Chị thấy lòng thương xót của Chúa, 2 cánh tay mở rộng và một trái tim đầy tình yêu.Em
đừng sợ đau khổ vì những đau khổ đời này không thấm vào đâu, không thấm vào đâu
cả.”

Ngày 15/08/1967
”Ôi, biết bao hoan lạc Chúa dành cho những ai yêu mến Người. Những đau khổ đã qua
rồi.Còn những giọt mồ hôi và nước mắt của chị đã trở lên những hạt ngọc đính vào áo
chị. Đời đời chị sẽ ca ngợi lòng thương xót Chúa.
Mắt chưa hề xem, tai chưa hề nghe, đó là phúc Chúa dành cho người được tuyển chọn.
Em hãy viết, viết đi kẻo quên mất. Điều chị nói với em đây là sự thật.
Trong khi sống ở trần gian, cái đáng kể và tồn tại mãi ở trên trời chính là những đau khổ
và nước mắt của chúng ta.
Tình yêu, tình yêu,tình yêu ”

Ngày 23/08/1967
“Em hãy nói cho mọi người biết ‘Đừng phung phí các ân huệ của Chúa ’.Nếu em biết
Nước Trời là gì và kiếp hư vong của kẻ mất nó. Tin mừng đã chẳng nói phải bán hết gia
tài để mua Nước Trời sao ?”

Ngày 23/08/1967
Này chị, sắp xảy đến cho giáo hội điều gì ?Với tất cả những diễn biến hiện nay, Đức
Thánh Cha lo lắng ưu phiền. Đại khủng hoảng về ơn thiên triệu linh mục sắp sửa thiếu
thừa tác viên của Chúa, những người có trách nhiệm đại diện cho chúng em ở gần tòa
Chúa, và có quyền trọng đại được bẻ bánh hằng sống. Rồi chúng em sẽ ra sao ?
Chị tôi trả lời :‘Sắp có một nước Thiên Chúa mới ở trần gian
Nếu thiếu ơn gọi linh mục, Chúa sẽ sai chính chúng ta đi. Chúng ta là người Chúa tuyển
chọn và cũng là người Chúa sai đem Bánh Hằng Sống đến cho thế gian.
Vì nếu Chúa muốn, những viên đá cũng thành con cái Apraham được. Vì Chúa đã nói
trong thánh kinh “Vì ngươi mà Chúa đã ra lệnh cho các thiên thần” sao? Vậy Chúa sẽ
gửi các Thiên Thần đến cho em.”

Ngày 03/09/1967
Chị tôi nói “Có một thông điệp, thông điệp đó là Tình Yêu, vì Tình Yêu đã không được
đáp lại”.

Ngày 05/09/1967

“Chúa GiêSu nào có bao giờ Người tính toán với chị.”
“Tính gì vậy chị”.
“Chẳng tính gì cả, ‘Chúa GiêSu không biết làm toán’. Người chỉ đòi chị một điều duy
nhất là yêu mến Người. Em có một sứ điệp về tình yêu vì Tình Yêu đã không được đáp
lại.”

Ngày 07/09/1967
“Ở trên trời, chị muốn làm việc, chị muốn thâm nhập và chuẩn bị lòng người để thắp lên
ở đó một vầng lửa tình yêu vì Tình Yêu đã không được yêu lại.”

Ngày 09/09/1967
“Chúng ta phải rao giảng tình yêu Chúa vì Tình Yêu ấy đã không được yêu lại”
Ngày 14/09/1967
“Đây là điều chị khát khao, ước gì lời chị mà ngày ngày em viết đây đến với mọi người
đó là tình yêu Chúa đã không được yêu lại.
Hãy làm cho người ta yêu mến tình yêu. Thiên Chúa là Tình Yêu và Người muốn được
yêu lại. Hãy hăng say rao giảng tình yêu Chúa, bắt đầu là một tia lửa nhỏ, rồi đến cả một
vầng lửa. Thiên Chúa là Tình Yêu và tìm Tình Yêu lại. Chúng ta phải cung cấp cho
Người.”

Ngày 15/09/1967
“Chỉ duy Tình Yêu chân chính của Thiên Chúa là không được yêu lại. Yêu Tình Yêu, hãy
làm cho mọi người yêu lại Tình Yêu của Thiên Chúa. Phải nói cho anh em chúng ta biết
và cứu các linh hồn về cho Chúa GiêSu.”

Ngày 16/09/1967
“Em hãy cầu, cầu nguyện nhiều cho các linh hồn tận hiến đã mất hứng vui trong việc
phụng vụ cao cả. Em cũng hãy cầu nguyện cho các linh mục, những người làm phép lạ
lớn lao trên bàn thờ nhưng khốn nạn thay, đức tin của họ đã tàn lụi. Họ như ngọn đèn leo
lét chỉ còn tỏa được chút ánh sáng hay đã lịm tắt hoàn toàn.”

Ngày 21/09/1967
“Hãy luôn luôn mở rộng trái tim để có những cao vọng, để hoàn thành nước Thiên Chúa
nơi linh hồn mình, trong tâm hồn người khác và trên toàn thế giới. Em hãy học chị mà
đâm xả vào cánh tay tình yêu lân tuất của Chúa”
Ngày 22/09/1967
“Hãy yêu mến Đức trinh nữ Maria bằng một tình yêu khôn lường vì tình yêu của Người
đối với các linh hồn thật vô biên”
Ngày 23/09/1967
“Phải chuẩn bị cho giáo hội và cho các linh hồn một Nước mới, người ta vào Nước đó
bằng việc thanh tẩy và thu dọn những gì đổ nát. Hãy chuẩn bị cho Thiên Chúa một dân
tộc mới, một dòng dõi mới, một thế hệ thánh thiện. Cả những người hèn mọn nhất cũng
sẽ tuyên xưng danh Chúa. Thành thánh Giêrusalem dưới đất sẽ khởi đầu cho thành thánh
Giêrusalem trên trời.”

Ngày 07/10/1967
“Trước khi Chúa thiêu hủy thế giới bằng Lửa Thịnh Nộ, những người lành phải thắp lên
ngọn lửa trong lòng anh em mình ngọn lửa tình yêu. Vì thế hãy cấp bách cho họ biết đây
là trách nhiệm của mọi linh hồn và thông điệp này sẽ giúp họ rất nhiều.
Đã đến giờ phải giao tranh quyết liệt với sự ác. Thông điệp này gửi đến hết mọi người và
ai nấy phải loan báo khắp nơi tùy sức có thể làm được. Các cơ binh trên trời đã dàn trận,
sẵn sàng đáp lại tiếng thét oai hùng “Ai bằng Thiên Chúa”, như cát bụi trong cơn lốc,
các linh hồn sẽ bị tung lên và vất xa khỏi nhan thánh Chúa trong lửa đời đời.
Không được giấu diếm Chúa trong tập vở, và cũng không được chôn dưới đất, trái lại cần
phải công bố cho mọi người biết tình yêu của Đấng tạo hóa đối với tạo vật.
Phải nói cho anh em Chúa biết không ai được miễn nhiệm vụ này. Giờ nghiêm trọng đã
đến, nguy hiểm đã gần kề. Duy chỉ tình yêu mới có thể cứu được thế giới. Trước khi loài
người phá hủy tất cả, chính Đấng Tạo Hóa chỉ dùng một lời mà biến họ ra không. Cũng
như xưa cũng chỉ bằng một lời “Hãy Có”, Người đã dựng lên mọi sự từ hư vô. “Hãy
Có”, thế là có cả thế giới.
Chính Đức Trinh Nữ đang ngăn hình phạt lại, nếu có giây phút nào mà Người và các linh
hồn ưu tuyển ngưng cầu bầu, thế giới sẽ bị hủy diệt ngay lúc ấy. Giá người ta biết được
Đức Maria là mẹ nhân lành dường nào.
Về thông điệp, em có thể biết mà không sợ hãi, kinh hoàng chăng ? Phải nhìn thẳng vào
nạn đói kém, giặc giã, dịch tễ, bệnh tật, lụt lội, hỏa hoạn, cướp bóc, phá hoại, khóc than

và chết chóc nữa. Nếu người ta không trở lại với đức tin ban đầu. Vậy, hãy báo, hãy dạy,
hãy nói, hãy làm, và đừng sợ. Thiên Chúa ở với em nếu em ở với Người , tình yêu không
đi đôi với sợ hãi được.
Cũng phải có đức ái hiện hữu nữa. Giảng về tình yêu chưa đủ, phải làm sao cho tình yêu
được sống động. Chớ gì em có tình yêu ấy ở trong em.Người ta có thể chống đối được lời
nói chứ không chống đối được gương sáng vì gương sáng bao giờ cũng để lan truyền.
Phải chống trả tính ích kỉ và an phận cá nhân. Phải biết chia sẻ cái mình có mặc dầu có ít
và rất ít. Hãy giúp đỡ anh em cách quảng đại. Có biết bao anh em đang phải cùng cực.
Tất cả các tâm hồn thiện chí đều dễ hiểu rằng chỉ có trở lại với Thiên Chúa mới có thể
thoát được trầm luân, nhưng nếu cứ người nọ chờ người kia bắt đầu thì sẽ chẳng có ai
làm gì cả.
Thời thế nghiêm trọng, chị nhắc lại lần nữa “Thời thế tối nghiêm trọng” , Chính em hãy
bắt đầu trước đi, trong gia đình, tu viện, nơi xứ sở, đoàn hội. Đừng nghĩ tới đi dạo, đánh
cờ, xem phim nữa.
Trái lại, hãy nói, hãy giúp, hãy an ủi họ, hãy làm nhanh đi. Vì sắp đến giờ người ta nói
với em câu này “Phúc cho ai được chết trong Chúa ”. Và người ta sẽ thèm số phận của
những người đó. Thật, chị không thích nói về những điều ấy nhưng tại em xin chị. Đàng
khác, em có nghĩ rằng những vất vả , khổ đau của người Cha thường phải giấu, không
cho con cái biết chăng.
Hãy tỏ cho anh em biết bộ mặt thật của Chúa GiêSu.”Này là Người “.Và khi chịu treo
trên thánh giá, Người đã đăm đăm nhìn trời mà kêu lên “Lạy Cha ,xin tha cho chúng, vì
chúng không biết việc chúng làm”. Rồi Người gục đầu, rồi trước khi tắt thở Người
nói ”Mọi sự đã hoàn tất”. Bộ mặt thật của Đức KiTô là ở đó. Đó là đau đớn man mác từ
Tình Yêu vô biên. Quả thật, “không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến
mạng sống mình vì người mình yêu”.

Ngày 13/10/1967
“Chị tôi nói “Phải tìm cách tránh hình phạt dù đáng phải chịu vì Thiên Chúa nhân lành và
giàu lòng thương xót. Hãy chạy đến cầu nguyện với Đức Mẹ Maria vì người rất mạnh thế
bên tòa Thiên Chúa. ”
Ngày 29/10/1967
“Toàn thể nhân loại đang ở trong vực thẳm mà tại sao em không phổ biến ít điều. Đó là
những lời cảnh tỉnh của Chúa”.

Ngày 05/11/1967
“Không có vật nào trong vũ trụ cũng như không có việc gì trong đời sống con người là
bởi tình cờ. Tất cả đều nói lên Tình Yêu Thiên Chúa”

Ngày 08/11/1967
“Có ngày người ta sẽ phải nói ‘Đây là thời kì của Satan’. Người lành cũng nghi nan, lo
lắng và hỏi nhau ‘Làm sao biết được những sự dữ đó !?’.Nhưng Chúa GiêSu đã thắng thế
gian. Ôi, con người ít đức tin, sao lại sợ. Đức KiTô chẳng phải đã chịu đau khổ rồi mới
được vinh quang sao?
Bây giờ cần phải có một cuộc đại thanh tẩy để tách dê ra khỏi chiên. Sau đó mới được
sáng lên trong giáo hội và thế giới mới chói lọi làm cho Giêrusalem được sáng lạng, huy
hoàng với tất cả vẻ rực rỡ của nó. Nước mới nay sẽ là nước của bình an, của tình yêu
thuận hòa trên mặt đất, là dạo đầu của bản nhạc hạnh phúc trên trời.
Nước Thiên Chúa sẽ đến và xây nền trên đức ái và kết quả là con người không còn lạc
đường được nữa.Trước phải Giao Tranh sau mới được chiến thắng”

Ngày 18/11/1967
“Hãy nhìn xem tất cả các biến cố cá nhân, xã hội, thế giới với con mắt đức tin vì tất cả
đều do tình yêu của Chúa”

Ngày 18/12/1967
“Cần phải thức tỉnh thế giới để tỏ cho nó biết rằng nó đang bị nguy tử. Quả thật, thế giới
đã đi sâu vào vòng vô luân, tội lỗi, đến nỗi nó lấy vậy làm thoải mái.
Phải kéo nó ra khỏi cơn hôn mê. Phải đốt lên một ngọn lửa lớn trên thế gian. Phải đốt lên
từng ngọn nến như ở đêm vọng phục sinh. Rọi ở cây nến sáng ánh sáng thật ở thế gian.”

Ngày 20/12/1967
“Phải thức tỉnh thế giới khỏi cơn hôn mê, thông điệp Chúa GiêSu gửi cho thế giới sẽ
được đón nhận. Rồi em sẽ thấy đúng như thế vì nó chứng tỏ tình yêu của Chúa. Người đã
đến với thân nhân mà thân nhân chẳng nhận biết người.
Chớ gì tất cả công trình của Chúa đều ngợi khen Chúa. Chúa đã dựng lên một thế giới
diễm lệ tuyệt vời. Người đã đến ở đấy nhưng lại chẳng có chỗ cho Người và kết cuộc
Người phải ở trên Thánh Giá. Đây là tấm bi kịch của Chúa. Đó là trong đêm khuya,
người ta đã phản bội Người, phản bội tình yêu Đấng cứu chuộc.
Ôi, con người, ngươi là ai ?
Ngươi là hình ảnh thật của Thiên Chúa hằng sống. Ước gì ngươi đừng quên điều đó.

Chúa đã dựng lên thế gian và đã dựng lên cây gỗ làm cây thập giá. Người đã dựng lên bụi
gai và đã chăm sóc cho nó sinh ra để làm vương mão cho Người. Người đã giấu sắt trong
lòng đất cho người ta lấy để làm đanh đóng thâu qua chân tay Người.
Ôi, mầu nhiệm của tình yêu khôn lường. Chim trời người cho tổ, thú rừng Người cho
hang. Kẻ giàu Người cho vinh dự. Thợ thuyền Người cho nhà ở, trẻ sơ sinh Người cho
nôi. Phận già cả Người cho chỗ nương thân. Thế mà khi Người đến thăm trái đất lại
chẳng có chỗ nào cho Người trong các lữ quán trần gian. Có chăng chỉ là đêm lạnh lùng
băng giá. Chính đêm ấy đã đón Người đến giữa nhân loại.
Còn ngày nay thì sao, trong thời đại mới này hoặc người ta là ngọn đuốc
sáng, hoặc không là gì cả, không thể hâm hâm dở dở được nữa. Thế giới cần sức nóng,
cần khí anh hùng. Chỉ duy tình yêu mới cứu được thế giới.
Ôi, con người, ngươi là ai ?
Ngươi là hình ảnh của đấng đích thực của Đấng đến thăm viếng ngươi vậy mà ngươi dám
đóng sầm cửa lại trước mặt người. Ngươi đã tự bán mình cho kẻ thù, sao ngươi làm một
giao ước đê hèn đến thế.
Dân Chúa tuyển chọn ngày xưa mà ngày nay cũng thế, đã ngán manna bởi trời, tiếc xót
củ hành, củ tỏi Ai Cập nên cứ giao ước với kẻ thù, đúc bò vàng rồi sấp mình thờ lạy nó.
Một mai thế giới sẽ có thể sa sầm xuống vực thẳm, không phải vì Chúa muốn nhưng là vì
loài người độc ác đã lạm dụng tự do và phát triển vô thần một cách kinh khủng, chỉ một
nước bắt đầu thôi cũng đủ cho cả thế giới ùa theo. Đừng ảo tưởng, hãy cầu nguyện, cầu
nguyện.”
Phần thứ

Phần thứ hai :
Chúa Giê-su nói
2:Tâm sự của Chúa Giê Su
Ngày 28/12/1967
Chúa GiêSu nói :
”Cha sẽ tỏ cho con những bí mật của trái tim Cha, con hãy nhìm ngắm trái tim Cha trong
máng cỏ, chính Cha đã dựng lên thế gian, mà thật, mẹ Cha và Cha nuôi của Cha đã đặt
Cha nằm trên máng cỏ.
Ôi, không có chỗ nào cho Cha trên trái đất này. Con hãy nhìn sang bên trái xem. Núi sọ ở
búc họa trên tường nhà nguyện. Tay Cha bị trói. Philatô hỏi Cha ‘Chân lý là gì’. Ngày
nay cũng còn như thế, kẻ ngoại, người vô thần vẫn lập lại “Chân lý : công thức hóa học
có sức tiêu hủy thế giới trong mấy giây” ! Con người văn minh đã tìm ra chân lý kiểu ấy.
Nó lấy làm thỏa mãn và không tìm gì hơn nữa.
Một mình Cha, Cha không thể cứu được thế giới hay sao? Cha đã cứu nó trên đồi CanVê,
Cha đã đổ đến giọt máu cuối cùng. Nhưng bây giờ tay Cha đã bị trói trước mặt Philatô

chỉ vì Cha đã cho con người hồng ân tự do mà Cha không thể rút lại được nữa. Rồi con
người đã lạm dụng hồng ân đó.”
Tiếng Chúa vừa nói thật dịu dàng nhưng vô cùng buồn thảm đến nỗi tôi cảm thấy đau
đớn như chết đi được .Tôi tưởng như nghe thấy tiếng một người thường, nhưng không ,
đó chính là tiếng Thiên Chúa.
Chúa GiêSu nói tiếp :
“Chính giáo hội của Cha cũng không nhận ra Cha hiện diện nữa vì nếu nhận ra thì sự việc
đã không đến nỗi như thế. Cả một số những người linh mục cũng không nhận ra Cha hiện
diện”. Thế chẳng phải là Cha không được ai hiểu mà bị ruồng rẫy đó sao ? Mặc dù Cha là
đấng hiện hữu đời đời . Lạy Chúa GiêSu, con có thể làm gì để an ủi Chúa. “ Con hãy yêu
mến Cha, yêu mến Cha thật nhiều. Ngoài ra, mọi sự đều thuộc về Cha, trời đất, mọi
người, mọi vật ở trong đó. Chỉ có tình yêu của tạo vật không thuộc về Cha mà đó chính là
cái Cha đang đi tìm kiếm.”

Ngày 03/01/1968
“Trời sẽ tối tăm mù mịt. Tối tăm sẽ sập xuống khắp mặt đất. Địa cầu như bị bọc trong
một chiếc áo choàng đen dày đặc suốt nhiều ngày đêm nhưng chưa phải là tận thế vì hiện
giờ Thiên Chúa chưa muốn phá hủy công trình của người. Đó chỉ là sữ tối tăm trong trí
khôn của con người, sự tối tăm sẽ lan tràn trên mặt đất cho đến lúc những người không
tin Cha, cả những kẻ đã làm lên các phương tiện phá hoại phải bỡ ngỡ, sửng sốt ngước
mắt lên trời van xin cho được một chút ánh sáng. Cha không bảo con là các việc đó sẽ
đến với con ngay bây giờ vì lúc này còn là giờ của Thương Xót và tha thứ nên các con
phải hết sức cầu xin.”

Ngày 09/01/1968
“Ôi, các dòng tu. Ôi, con ơi, hầu hết đã mở rộng cửa đón nhận tinh thần thế tục nên
chẳng còn chỗ cho Cha trú ngụ. Đối với nhiều dòng tu, thà đừng có thì hơn. Những canh
tân, cải cách đã lôi cuốn họ làm họ thích thú.
Nhưng phần con hãy kiên trì bên Cha để Cha biến con lên dụng cụ ngoan ngoãn của tình
yêu hòng cứu thế gian”
Lúc ấy tôi lập lại lời dâng mình làm của lễ hi sinh.
Chúa GiêSu nói :
“Đúng, phải cầu nguyện cho các tu sĩ và linh mục để đừng thêm số các linh mục như thế
trong giáo hội nữa vì họ chỉ kính Cha bằng môi miệng còn lòng họ thì xa Cha ”

Ngày 11/01/1968

“Lạy Chúa GiêSu, con muốn hiến thân mình để cầu cho các linh mục và tu sĩ ấy.”
“Đúng, cầu cho các tu sĩ đang buông mình sống không mục đích, cầu cho các linh mục có
sẵn trong tay chén lạc thú. Vì để tận hưởng, họ không ngơi uống cho đến giọt cuối cùng.
Ôi, đâu phải thế là đường lối canh tân do giáo hội đề ra.”

Ngày 20/01/1968
“Hình phạt chỉ được chậm lại nếu Nước Thương Xót và tha thứ được người ta nhìn nhận
và sử dụng. Nước Cha không thuộc về thế gian này, nếu nước Cha thuộc về thế gian
này, Cha sẽ ra lệnh cho mọi người, mọi vật phải suy phục Cha, và cả người lẫn vật sẽ suy
phục Cha ngay.
Nhưng nước Cha và nước của những ai thuộc về Cha không thuộc về thế gian này. Vì
vậy, Cha liên lỉ kêu van với Chúa Cha “Lạy Cha, xin cho họ cũng được ở với con nơi
con ở để họ được xem thấy Cha và vinh quang của Cha.Vinh quang mà Cha đã ban
cho con.
Có chỗ cho mọi người trong nước Cha và nơi Cha ở Cha ước ao cho hết mọi người được
Chúa Cha yêu thương cũng đến đó như chính Cha vì Cha yêu thương Chúa Cha. Trong
nước Cha, mặt trời không lặn bao giờ. Đời đời chỉ có mùa xuân và an nghỉ đời đời trong
Chúa.
Nào vất vả đời này chẳng phải là ngắn ngủi so với sự vui mừng đời sau đó sao? Trong
nước Cha không có đồng hồ tính thời khắc bởi hạnh phúc đời đời không đo lường được.
Chẳng có chiều dài, chiều cao, chiều rộng, chiều sâu. Chẳng có thời hạn. Cha đã chọn
con làm dụng cụ để chứng tỏ tình yêu của Cha cho thế giới. Con sẽ nghe thấy tiếng Cha
trong thinh lặng, Cha nói với hồn con”.

Ngày 23/01/1968
“Bản thảo này có thể kích động giới thiện chí vì trong đó chẳng có gì là nhân loại đặc biệt
chẳng có gì là bởi con. Nhưng tất cả là bở Thiên Chúa, điều con không thầy là điều mạc
khải cho những người thông thái và những đấng có thẩm quyền.
Có một cái băng bịt mắt con là điều tốt để đức khiêm nhường có thể phát triển trong lòng
con nhưng đối với những người khác lại không được như vậy.”

Ngày 29/01/1968
Chúa GiêSu nói
“Con ơi, nỗi phiền cực lớn nhất của Cha đó là những linh hồn ăn ở bất xứng.Con ơi,
những linh mục ấy rất nhiều và cứ tăng số mãi. Con hãy viết lên điều đó cho người ta
biết, cho người ta đọc.”

Ngày 30/01/1968
“Một trái tim chia sẻ không phải là trái tim dâng hiến Chúa GiêSu. Người là vị lang
quân hay ghen tị đòi phải dành cho người trọn vẹn trái tim của hiền thê. Sự hoàn thiện
hệ tại không muốn từ chối tình yêu Chúa một điều gì.”
Ngày 03/02/1968
“Con hãy ở bên Cha, hãy ở gần Cha, hãy an ủi Cha. Thế giới các linh hồn không thuộc
về Cha nữa vì những linh hồn được Cha cứu bằng máu đã lìa xa Cha. Cha có Chúa Cha ở
trên trời, có mẹ Cha, các thánh, các thiên thần, các linh hồn ưu tuyển.
Nhưng còn loài người !
Giá mà Cha có thể nhỏ lại để chết một lần nữa trên đồi Canvê”

Ngày 05/02/1968
“Cuộc chiến thắng sau cùng còn rất xa. Trước đây cũng có nhiều trận chiến cũng phải
chiến, cũng phải thắng vì bắt buộc phải tách dê ra khỏi chiên”.

Ngày 07/02/1968
“Con ơi, con thấy rõ không, các dòng tu hiện nay hăm hở lao mình vào việc tông đồ
nhưng lại làm việc đó với tinh thần thế tục, họ ôm vào nhiều việc, họ phát triển, họ
khuếch trương, nhưng còn Tình Yêu, Tình Yêu thật đối với Cha ở đâu ? Họ đã quá xa
Cha, xa tinh thần của Cha, cha muốn cho người ta biết điều Cha nói với con đây. Tất cả
những cái đó, thí dụ về từ thiện, bác ái không làm cho Cha hài lòng; Cha đã nói với con
điều đó, còn với cha linh hướng, con hãy kể lại với người.
Không đâu, những cái đó không thể làm Cha hài lòng được. Cha không muốn một việc từ
thiện bác ái nào giữ trái tim con người xa Cha. Cha muốn tình yêu, tình yêu đích thực,
chân thành vô vị lợi.
Cha muốn trái tim con người, nhất là trái tim bạn tình của Cha phải dành trọn cho Cha.
Trái tim của các linh mục phải dành cho duy một mình Cha, Cha không muốn thái độ
lừng khừng hay tình yêu chia sẻ. Con hãy viết bằng chữ lớn câu này:
“GIÊSU CHỈ MUỐN TRÁI TIM CON NGƯỜI TRƯỚC HẾT CÒN MỌI SỰ
KHÁC LÀ SAU”.
Công đồng Vatican II đã đưa đến lộn xộn, vì người ta nói nhiều quá và càng nói thì ý
tưởng càng lộn xộn , vì người ta giải thích biết bao vấn đề theo chiều hướng khác với tinh

thần công đồng nhưng chỉ có một điều cần là tình yêu. Cha ước ao cho người ta biết như
vậy. Chớ gì toàn thể nhânh loại biết cẩn thận để khỏi sa vào vực thẳm.
Hãy sẵn sàng. Chớ gì các linh hồn trở lên như những bông lúa chín vàng để được thu vào
kho lẫm đời đời.

Ngày 14/02/1968
“Đấy, tại sao Cha phải héo hắt vì tình yêu, là cốt để tạo vật của Cha nhiệt tình yêu mến
Cha. Nếu con muốn cho Cha được sung sướng hãy yêu mến mối tình của Cha đang bị
ruồng bỏ, bọ từ chối, bị khinh chê. Tên Cha là Tình Yêu, một Tình Yêu ban phát tất cả.
Thiên Chúa là Tình Yêu mà tại sao người ta lại không biết như thế. Con hãy xem, Cha đã
thí thân cho con, đã thổ lộ tâm tình với con. Cha biết rõ con sẽ truyền bá thông điệp tình
yêu này cho anh em con cách xác thực chừng nào. Đừng thay đổi gì những lời của Cha.
Vì đó là những lời con đã nghe Cha nói mà viết ra. Bù lại, Cha sẽ cho con hưởng niềm
hoan lạc lớn lao và được thấy sự thăng tiến của các linh hồn nhờ bản thảo này.”

Ngày 03/03/1968
“Hỡi con, Cha còn biết bao nhiêu điều phải nói với con, bản thảo sẽ có những dấu phi
thường, Cha có thể làm được mọi sự, Cha sẽ cho con rất nhiều linh hồn để con được giải
khát, tất cả những tu sĩ nam nữ đặc biệt là các linh mục phải là những người khao khát
các linh hồn. Con không tin thế giới sẽ được thay đổi nếu Cha tìm được những người
khao khát các linh hồn ở giữa các tu sĩ và linh mục sao ?”

Ngày 06/03/1968
“Có ai đó được tình yêu của Cha đối với thế giới bao giờ ? Thế mà trái tim Cha không
tìm được chỗ nghỉ.”

Ngày 07/03/1968
“Cha muốn nhờ con làm trung gian nhắc lại cho loài người lời giao ước huynh đệ và yêu
thương của Cha. Cha là GiêSu anh cả của các con đây. Đừng sợ, Cha là người mà các con
đã bán cho người ngoại bang. Áo Cha đỏ thẫm máu đã đổ ra cho tất cả thế gian, nhưng
hãy đến với Cha.
Đừng sợ! Cha đã quên tất cả. Cha không hận thù báo oán, chỉ duy Tình Yêu mới có thể
thắng, miễn là các con trở về với Cha; Cha không muốn gì hơn; Cha cần tất cả các con ở
với Cha; Cha sẽ làm cho các con trở thành những người cai trị trong nước Cha; Cha sẽ

mở cho tất cả các con vựa lúa của Pha-ra-on, mà sẽ không còn nạn đói trên mặt đất này
nữa nhưng phải hứa một điều là hãy trở về với trái tim Cha.”
Ngày 18/03/1968
“Cha đã bảo hãy coi Cha là Người - Thiên Chúa, vì Cha chính là thế. Cha đã là Trẻ Nhỏ
như bất cứ trẻ nhỏ nào và là người như bất cứ ai khác; Cha tìm một chút tình yêu giữa
loài người và Cha sung sướng khi gặp được.
Con ơi, con nghĩ Cha thấy gì trong các tu viện ngày nay nói chung và trong mỗi tâm hồn
tận hiến nói riêng, có biết bao tu viện trong đó chỉ có rộn ràng và tinh thần thế tục mặc
dầu để được hoan hỉ tối đa trong tâm hồn ngày khấn dòng người ta đã từ biệt mọi tiếng
ồn ào huyên náo thế gian và long trọng tuyên hứa chỉ muốn nghe tiếng Cha mà thôi.
Nhưng nếu thế gian đã rộn rã, om sòm với những vui vẻ giả tạo và sai lầm của nó thì Cha
phải ắng đi. Cha làm như thế đó, rồi dần dần hình ảnh Cha biến khỏi mặt đất; biến khỏi
lòng người vì họ đã tạo ra một hình ảnh khác thay thế hình ảnh Cha; số các linh hồn tận
hiến mặc áo dòng nhưng tâm hồn thì hoàn toàn thế tục đông quá. Nói chung là vậy.”
“Lạy Chúa GiêSu, có phương dược nào để chữa được tệ tật ấy không”
“Thuốc chữa tật đó là toàn thể con người phải trở về với trái tim Cha, đang bị lưỡi đòng
đâm thâu trên thập giá mà không ngớt chảy máu ra vì tội lỗi các con, nghĩa là phải trở về
bằng tình yêu.
Cha muốn thiết lập trên thế gian một nước mới, nước thương xót, thương xót đến nỗi bỏ
xa mọi cảm nghĩ về lẽ công bình và hận thù, về sợ hãi và e lệ, thương xót đến nỗi thông
cảm, miễn xá, dung tha tất cả, không giữ lại một vết tích gì về tội lỗi dù rất lu mờ đang đè
nặng trên lương tâm của con người, của các quốc gia, các dân tộc.
Đừng một ai sợ. Với tất cả mọi người Cha hứa sẽ đem tình bạn thân thiết, khoan hồng của
Cha để đổi lấy lòng chân thành nồng nhiệt yêu mến của họ. Cha muốn mở cho toàn thể
nhân loại vựa lúa của Pha-ra-on, làm mưa liên lỉ đêm ngày trên thế giới tội lỗi ấy, không
phải để làm lụt nhân loại chết chìm, chết đuối, nhưng để đổ xuống như thác lũ nguồn ơn
tha thứ và thương xót.”
“Lạy Chúa GiêSu, còn giáo hội của Chúa thì sao ?”
“Giáo hội sẽ được nhờ thông điệp này trước hết và sẽ phân phát Tình Thương Xót hải hà
của Cha, các vựa lúc Pha-ra-on sẽ mở ra và lúa sẽ được phát đầy tay để không còn nạn
đói trên mặt đất này nữa sau khi đã lập nước Tình Yêu.

Ngày 24/03/1968
“Thế giới đang bị một làn sóng khổng lồ của ghen ghét và phá hoại ồ ạt nhưng Cha sẽ
khôi phục thế đứng của Cha vì Cha sẽ chiến thắng tội lỗi và sự chết. Các tu viện của Cha
đã thành hoang vắng như đền thánh Giêrusalem ngày xưa, bị hoang tàn sau khi Cha chết,
nhưng rồi sẽ được đầy những hạt giống tốt.

Hỡi con, Cha là Thiên Chúa của con, Cha làm được mọi sự. Người ta sẽ đọc điều con
đang viết bây giờ.”

Ngày 02/04/1968
“Cha không làm con kinh hoàng trong tình trạng này chứ? Cha chịu người đời sỉ nhục,
chịu xa Chúa Cha, một mình với gánh nặng tội lỗi, chịu đóng đinh thập giá, con còn dám
đăm đăm nhìn Cha với cái nhìn với cái nhìn tín nhiệm , cậy trông và tin tưởng rằng Cha
là Thiên Chúa của con, là bạn tình của Cha không ?
Tất cả đã bỏ Cha, họ hoảng hốt vì thấy Cha bị thất bại hoàn toàn, có 2 hay 3 người nhìn
Cha với đôi mắt mờ lệ. Ôi, Mẹ Cha, Mẹ rất yêu dấu của Cha, Gioan, người môn đệ mà
Cha hết tình yêu mến, Madalêna, và con nữa, con cũng ở trong số ấy, Cha nhận ra con và
lấy làm sung sương, nhưng còn những người kia đâu ? Phêrô, đá tảng mà bão táp đâm
vào nhưng vẫn đứng vững đâu? Giáo hội sơ sinh mà chỉ sau một phút sẽ xuất hiện từ vết
thương đỏ thắm của trái tim Cha do người lý hình mở ra đâu?
Giáo hội ấy sẽ xuất hiện như một đoá hoa đẹp nhất của thiên đàng, được cưu mang bằng
tình yêu và nuôi dưỡng bằng máu cha. Ôi hiền thê yêu dấu, ôi Giáo Hội sơ sinh, thậm chí
cho đến nay ta vẫn chưa thấy bạn ở gần ta, bạn đã khuất mặt ta, bạn đã tránh xa người
gây dựng lên bạn, ta chỉ có một mình thôi, đáng sợ chừng nào?Cô đơn và bị bỏ rơi trên
thập giá đã làm lên cái chết dữ dằn gấp đôi. Một trái tim nhạy cảm đau đớn biết bao khi
bị những người mình yêu mến bỏ rơi.
Cha không biết tìm đâu một tấm lòng bạn thân thiết và trung thành. Cả trời đất đã mưu
phản con Người đã lên lễ hi sinh đền tội. Phải, Giáo Hội sơ khai của Cha đã ẩn náu và
còn ẩn náu như thế trong mọi thời đại chỉ vì thiếu đức tin vào Cha, vào lời Cha.
Có biết bao nhiêu người của Cha đã đào ngũ chỉ vì thiếu đức tin. Chỉ vì thiếu đức tin mà
xảy ra biết bao hư hỏng bây giờ cũng như xưa, Cha đã để lại Tin Mừng đã được ghi chép
rồi, nhưng con hãy viết nữa đi, vì nhân loại đã quên mất Tin Mừng, nhưng phúc cho
những ai không thấy mà tin. Chính đức tin mới cứu rỗi, nếu còn đức tin trong giáo hội
Cha thì con rồng hỏa ngục đã không đưa về được nhiều chiến thắng đến như vậy.
Khoa học là ảo tưởng và sẽ tiêu diệt nhân loại thời mới này. Khoa toán học chứng minh
rõ ràng các sự kiện nhưng đồng thời lại làm hư hỏng các linh hồn và các dân tộc vì cái gì
cũng được chứng minh một cách máy móc, cả đến người mù cũng quay về với một số
chứng minh nhưng đức tin chỉ được hướng qua làn sương mù mà thôi. Đó là lý do tại sao
người ta khó tin vào Cha, người ta cố gắng tìm tòi khám phá và nếu có thể đồng cả ý
tưởng của Thiên Chúa.
Tất cả những cái đó được họ gọi là tiến bộ mà cập nhật hóa. Họ làm như Thiên Chúa
cũng phải canh chừng mà lập đi lập lại với chính mình. Con người đã đặt tay vào trái
cấm rồi, nó muốn chính mình cũng trở lên Thiên Chúa. Con rất yêu dấu, trái tim Cha
buồn sầu và tràn đây nhục nhã, Cha còn phải làm gì hơn nữa để cứu các con, nếu đối với
các con Cha còn thiếu phương cách nào thì Cha muốn biết phương cách đó là gì ? Cha đã
và còn đang tiếp tục hiến thân mình làm của lễ hi sinh đền tội nhưng hình như vẫn chưa
đủ.

Nay Cha có thể kéo chú ý loài người tới hình phạt. Nhưng không, vì Cha là Thiên Chúa,
là tình yêu muốn cứu lại những gì đã hư mất. Chính Cha là người mang lại chiến thắng.
Cha sẽ làm cho điều ác phải hổ thẹn vì điều thiện và làm cho tội phản phúc phải xấu hổ vì
lòng nhân hậu, khoan dung. Cha đã quên đi hết, sẽ bắt đầu lại tất cả, Cha sẽ canh tân thế
giới, sẽ có một thế giới mới xuất hiện, nhưng trước hết Cha muốn canh tân Giáo Hội , các
thừa tác viên, các linh hồn tận hiến, các bạn tình của Cha, Cha sẽ cho Giáo Hội của Cha
một bộ mặt mới đầy tươi trẻ. Giáo hội sẽ được mặc áo cưới, Cha sẽ trang sức cho giáo
hội bằng những đá ngọc quý và giáo hội sẽ tiến ra rất xinh đẹp, trẻ trung qua nhiều thế kỉ,
các thừa tác viên của Cha đi theo giáo hội sẽ là những gương mẫu không ai chối cãi được
về chân lý, về đức tin, sẽ là các bạn tình chân thành, thanh khiết và khiêm nhường của
Cha.
Thành Giêrusalem mới sẽ hát bài giải phóng như trong thời Cựu Ước sẽ hát bài Hãy Vui
Lên, nhưng con ơi, đời sống lý tưởng ấy, càng ước ao bao nhiêu, càng cần đòi người ta từ
bỏ mình bấy nhiêu, quả thật, Cha đã dựng lên con người tự do và Cha cần có những
người lành cộng tác để canh tân thế giới. Chỉ cần một ít đức tin, cũng đủ đốt cháy lại tình
yêu trong lòng người và tình yêu sẽ làm được mọi sự.
Ngày 09/04/1968
Thứ ba Tuần Thánh.
“Con hãy nói với Cha linh hướng là bắt đầu từ hôm nay Cha ban ơn khoan hồng vĩ đại
nhất, Cha tha thứ các lỗi lầm. Cha kéo các linh hồn lại gần Cha và sẵn sàng tha cho họ để
đổi lấy một tình yêu nhiệt thành. Đối với những người Cha khao khát nước từ bi thương
xót bắt đầu, còn đối với thế giới là từ khi bản thảo này được biết tới”.

Ngày 21/04/1968
Sau khi tôi chịu lễ, Chúa GiêSu nói :
“Nhan thánh Cha, Cha hứa cho con ở trên trời, lúc này đang hết sức rực rỡ, huy hoàng
trong tâm hồn Cha. Con hãy xem, các linh hồn đã không biết đón nhận thánh giá trong
những gian nan, đau khổ, đó là vì họ không biết hết tất cả những gì Cha phải chịu khi
thấy nhân loại đau khổ. Cha đã đổ máu ra để tránh đổ nước mắt cho mọi người. Cha
muốn mang trên mình gánh nặng đau khổ của nhân loại và chịu một mình như Cha đã
làm thế trong cuộc khổ nạn.
Tuy nhiên, nếu người ta thấy được vinh quang ngày sau sẽ dành cho đau khổ đời này , thế
nào thì chính họ cũng xin Cha gửi thánh giá và đau khổ đến cho họ. Cha muốn đưa mọi
linh hồn vào nước Cha trên trời, đó là lí do tại sao Cha viếng thăm các tâm hồn trong đau
khổ. Nhưng ít có ai, kể cả các tâm hồn tận hiến dám đi sâu vào mầu nhiệm tình yêu. Cha
là tình yêu, tình yêu luôn luôn muốn ban phát nhưng nào có ai hiểu Cha, rất ít linh hồn
hiểu thấu tình yêu của Cha. Bởi vì nhân loại đã trở thành củi khô dễ đốt và toàn thể
nhân loại sắp trở lên một hỏa lò mênh mông.
Từ ngày có thế giới, chưa ai thấy như vậy bao giờ, đến nỗi các tầng trời cũng phải lấy
cánh che mặt lại. Con ơi, tại sao Cha ít nói với con về chuyện ngày nay vì sợ con xỉu mất.
Con hãy kể lại với Cha linh hướng và nói là Cha cho phép ngài được tỏ bày với các cha

khác, những Cha có thẩm quyền nhất, thánh thiện nhất, khôn ngoan nhất cũng biết nữa.
Còn con thì đừng nói gì với ai khác.
Sau cùng con hãy lập lại rằng đừng coi Cha như một người không có thật hay chỉ như
một nhân vật của thời xa xưa, hay chỉ là một anh hùng của lịch sử vì Cha là đấng luôn
luôn hiện diện và hoạt động trong lòng người. Cha là người bạn trung thành không phản
bội không bỏ rơi bạn mình bao giờ. Cha luôn luôn sẵn sàng dang tay vì tình yêu đó lấy
tạo vật của Cha.

Ngày 04/05/1968
Chúa GiêSu nói :
”Dân ông đã nộp ông cho tôi !”. Cha biết điều đó lắm, luôn luôn là dân Cha nộp Cha,
“Ông đã làm gì, ông không trả lời tôi sao ? Ông không biết là tôi có quyền đóng đinh ông
hay sao ?”
Nhưng hỡi Philatô, ngươi lo tuyên án cho ta làm gì vô ích? Bởi chính ta, ta đã tuyên án
cho ta rồi. Chúa Cha đã kí bản án và chữ kí của Người có quyền trên mọi giá trị luật
pháp. Các thiên thần làm chứng điều đó. Lý hình, hãy sửa soạn thập giá.
Đó là bản án đã được kí và được ấn định trên trời từ đời đời vì thế giới đã sa vào vực
thẳm và phải cứu nó. Ôi, dân ta, ta đã làm gì cho ngươi ?
Ta đã yêu ngươi bằng một tình yêu không thể hiểu được. Cha ở đâu, Cha cũng muốn cho
loài người ở đó với Cha.
Con chưa biết Cha đâu, Cha đồng bạn với con, chia bánh vui mừng, đau khổ với Cha
nhưng con không biết nhìn Cha tận mắt bằng cặp mắt đầy lệ của con trong đôi mắt rực
sáng của Cha. Cha ở với con trong cùng một nhà, Cha sống với con, Cha là người bạn
thân trung tín nhất, thế mà con lại đi kể lể nỗi lòng với một người nào khác để họ phản
bội con ngay khi có dịp đầu tiên.
Có thể là con chưa biết Cha chăng ? Cha là GiêSu, chỉ cần gọi tên Cha là Cha đến liền,
Cha đến ngay tức khắc để cứu và chuộc lại những gì đã hư mất, cho dù của sở hữu có bị
bán cho ngoại bang.Cha cũng sẽ chuộc lại và đem về cho con.
Chỉ cần gọi Cha ban sáng, ban trưa, ban chiều, hoặc muộn hơn nữa vào lúc đêm khuya là
Cha đến ngay, không bao giờ Cha để con phải đợi, hãy gọi Cha bằng tên Cha, hãy gọi
Cha bằng GiêSu, tên đó có đầy đủ ý nghĩa.
Cũng chẳng cần con quỳ gối trước mặt Cha vì chính Cha là người rửa chân cho con như
Phêro và các môn đệ khác. Nếu con nói với Cha như Phêro, là con không muốn, Cha sẽ
trả lời rằng con không biết việc làm bây giờ nhưng sau sẽ hiểu, Cha sẽ rửa chân con,
những bàn chân đi trên đường trơn trượt và bị thương vì vấp vào đá. Đúng, Cha sẽ lau, sẽ
chữa, sẽ hôn và con sẽ được lành và sẽ không biết đường nào khác ngoài con đường dẫn
đến với Cha.
Nhưng tại sao con lại cố chấp, không muốn nhìn thẳng vào mặt Cha, không muốn Cha
rửa chân, con là đứa trẻ thất thường, cố tình không muốn tin vào kẻ muốn làm ơn cho

mình, sao con không biết rằng nếu Cha không rửa cho con, con sẽ chẳng được thông
phần với Cha. Vậy, hãy nói với Cha như Phêro, “Lạy Chúa”, không, đừng gọi Cha là
Chúa, “Ôi, Giêsu, vậy xin Giêsu hãy rửa chân cho con, chẳng những chân mà cả đầu nữa,
miễn là con được nghĩa cùng GiêSu.
Tiệc đã dọn sẵn mà những người được mời không đến. Vì thế Cha sẽ gọi thật to và làm
cho tiếng các thiên thần của Cha vang dội khắp bốn phương, từ Bắc chí Nam, từ Đông
sang Tây, Cha sẽ tụ tập những người đã được Cha cứu chuộc về quanh bàn tiệc đã được
dọn sẵn sàng, chu đáo do các thiên thần của Cha.
Và bấy giờ sẽ chỉ còn một nước, Nước Tình Yêu. Con yêu dấu, hãy viết tất cả các lời của
cha đã đọc cho con, những lời này sẽ ngọt như mật và êm ái cho nhiều linh hồn.

Ngày 17/05/1968
“Những lời Cha đã nói sẽ phát sinh kết quả trong nhiều linh hồn vì sự chính xác, vì tính
hợp thời và vì cảm xúc mạnh mẽ. Cha sẽ ban cho những ai đọc nó được ơn hối lỗi và trở
về với Cha. Bản thảo sẽ thâm nhập hết mọi nơi, nhà giam, nông trại, gia đình, trường học,
tu viện. Nó sẽ là quyển sách tùy thân của các linh mục và các linh mục trở về với tình
yêu Cha sẽ rất đông.”

Ngày 25/05/1968
“Con hãy viết và làm nổi bật lên những lời này “Những đau khổ và cay đắng lớn nhất
Cha phải chịu là do các linh mục và các tu sĩ , khi các con đi không bao bị, không
tiền bạc, không giày dép, các con có thiếu gì chăng ? Hãy nắn lại những khúc đường
quanh co, hãy san bằng những lối đi ghồ ghề, Cha đã an bày quan phòng cho hôm
qua, hôm nay và cũng vẫn như thế cho cả ngày mai nữa, không bao giờ thiếu sự gì
cho người tin cậy vào Cha, các con hãy làm chứng về Chúa Kito ở Giêrusalem và
cho đến tận cùng trái đất, các con hãy là những nhân chứng xác thực của Chúa
Kito, hãy trút bỏ mọi quyến luyến nhân loại, từ bỏ tư lợi danh vọng , tiền bạc, thần
tượng của thời đại này. Đó, những linh hồn đã tận hiến cho Cha phải như thế
đó.Con ơi, con hãy gạch dưới những lời Cha sẽ nói với con đây “Những đau khổ và
cay đắng lớn nhất Cha phải chịu là do các linh mục và các tu sĩ””.

Ngày 08/06/1968
“Nhân loại tiến nhanh vào về cuộc Thanh Tẩy vĩ đại, về việc canh tân nhưng điều đó
không thực hiện được nếu không chịu phiền cực và đau khổ, mặc dù sự ác như thắng đoạt
sự thiện hoàn toàn nhưng một số ít người sẽ là nhân tố mới giống như Abraham để sinh ra
con cái thật của Thiên Chúa.

Trận giao tranh đã bắt đầu và sẽ luôn diễn tiến ác liệt đến độ chỉ còn ít lòng tin cậy cả nơi
những người lành. Tất cả coi như bị hư hỏng hết, người ta sẽ kêu lên “Lạy Chúa,xin cứu
chúng con kẻo chết mất”.
Chỉ có lúc đó, họ mới nhớ ra rằng duy chỉ có một mình Thiên Chúa mới cứu vãn được.
Các nền văn mình cần phải được canh tân dần dần như lịch sử đang chứng minh, các nền
văn minh ấy đã già cỗi, người ta phải tái thiết bằng nền văn minh mới. Đó là trường hợp
ngày nay.

Ngày 01/07/1968
“Thật là phiền cực cho Chúa Cha vì không thể tụ tập con cái Chúa dưới một mái nhà
chung quanh một bàn ăn để họ cùng thông phần gia tài của Người. Đây là lúc đức mến đã
nguội lạnh trên thế giới nhưng cũng là lúc để canh tân.
Sau một mùa đông giá lạnh, người ta sẽ cảm thấy một mùa xuân ấm áp. Mùa xuân ấy sẽ
thức tỉnh tất cả những gì đã ngủ.
Cũng thế, nhờ hơi thở hồi sinh mới, mọi tạo vật sẽ được thức tỉnh khỏi cơn hôn mê của
thế giới cằn cỗi, với các thế hệ mới, có các giáo hội mới, giáo hội sẽ được mở ra trong
mùa hoa lộng lẫy sắc hương của tuổi trẻ vĩnh cửu và trong đức mến vô biên của đấng
sáng lập.
Sẽ có cả một thế giới mới của an bình, của hòa thuận và yêu thương. Đó là lời ngợi khen
Thiên Chúa Hằng Hữu. Đó là thế giới được canh tân trong hi sinh, trong đau khổ.

Ngày 06/07/1968
Bây giờ là 12h30 đêm, con hãy dậy cầu nguyện, tôi nghe có tiếng chân bước vội trên sỏi
ngoài sân dưới cửa sổ, và một chìa khóa lớn quay vào trong cánh cửa chính, cánh cửa
này không có ổ khóa bên ngoài, rồi im bặt. Chúa phán:
”Đó là một linh hồn đi lang thang“.
Tôi hỏi: “Lạy Chúa, có phải chị con không ?” …
“Không đâu, chị con đã ở trên Thiên Đàng rồi, đó là một linh hồn đi lang thang ”.
Tôi hiểu đó là một linh hồn tận hiến.
“Lẽ ra sau giờ chết đã được đi đến nơi dành cho họ là Thiên Đàng mà họ lại phải sa vào
án phạt theo lẽ công bằng của Cha thì còn sự bất hạnh nào mà không phải là của họ.”
Hết sức sợ hãi tôi vùng dậy quỳ gối và cầu nguyện. Lúc đó là 12h45 đêm, tôi kêu
lên: “Lạy Chúa, con có được vào thiên đàng không ?”.
”Có, nếu con cứ ngoan ngoãn”.

Tôi âu yếm hôn bức họa “Này là Người” đồng thời lập lại những lời còn đang phảng
phất trong trí “Nếu không được ào thiên đàng, tôi sẽ bất hạnh biết bao !”. Chúa GiêSu
nói :
“Chắc chắn như thế đó con.”
Tôi lại đặt mình xuống giường nhưng sợ hại lắm. Có tiếng chị tôi nói với tôi :
“Không, em không cần phải sợ vì tất cả đó là ơn Chúa thương ban cho em và cho thế giới
nữa”.
Chúa GiêSu nói :
”Lẽ công bằng của Cha đó, con hãy kể lại cho Cha linh hướng tất cả, hãy vâng lời ngài
trong mọi sự và làm điều ngài dạy. Chính Cha là chủ, Cha sẽ làm như Cha muốn”.
“GiêSu, con sợ lắm” .
“Không, con không được sợ Cha !”
Bây giờ là 1h30 đêm, tôi muốn ngủ lại để quên đi tất cả, bỗng nhiên tôi nhớ đã rất nhiều
lần tôi nghe đập mạnh ở cửa phòng, có khi ban đêm, có khi giờ nghỉ trưa, tôi cầu nguyện
với Đức Mẹ. Chúa GiêSu nói:
“Con muốn ngủ trong khi Cha phải thức vì kẻ thù đang lùng bắt Cha sao? Cha ở trong
vườn Cây Dầu, bị căng thẳng, bị kiệt sức, toàn thân đẫm máu ”.
Nghe tiếng Chúa than thở như thế, tôi lại xuống khỏi giường quỳ cầu nguyện.
”Hỡi con, sự lo nghĩ của con không những hướng đến các linh hồn còn tại thế mà còn
phải đến với một số đông các linh hồn đang đau khổ trong luyện ngục nữa. Con số đó còn
lớn hơn số các vì sao trên trời và cát dưới biển. Những linh hồn ấy lẽ ra đã được hưởng
vinh quang trên trời, hát mừng ngợi khen Thiên Chúa, nhưng vì họ chểnh mảng, vô tư,
sống buông trôi theo tính tự nhiên như thể giờ tính sổ không bao giờ đến.
Con đừng sợ, với Chúa GiêSu, con không được sợ. Đó là ơn ban cho con và cho cả thế
giới; chớ gì người ta biết điều đó; cơn khát các linh hồn của con có giới hạn nếu không
trải nó ra cả một đại dương cho các linh hồn trong luyện ngục đang mong được cứu thoát.
Vinh quang của Cha đòi con điều đó. Cha đã nói nỗi đau khổ lớn lao đau đớn nhất mà
Cha phải chịu đó là do số đông các linh mục mà với biết bao ơn Cha đã ban lẽ ra họ đã
được vào Thiên Đàng ngợi khen Thiên Chúa rồi.
Trong giáo hội người ta đã thay đổi các giáo thuyết về các chân lý chính yếu của đức tin.
Ngày nay người ta chỉ nói rất ít hoặc không nói gì về thiên đàng, hỏa ngục, luyện ngục dù
những nơi đó vẫn có thật.
Có rất nhiều linh hồn tận hiến đã phải chết khốn khổ như họ sống vì đời tu như gươm 2
lưỡi. Nếu người ta sống trong từ bỏ mình và yêu mến Cha thì đời tu sẽ mở rộng cửa trời,
còn nếu họ sống ngược lại thì nó sẽ làm Cha tăng cực hình. Rất nhiều linh hồn tận hiến
phải ở luyện ngục bằng bao thế kỉ, chứ không phải chỉ nhiều năm, nhiều tháng, nhiều
ngày. Còn một số phải ở đó cho đến tận thế nữa.
Với tất cả những gì Cha đã làm cho các con. Hỡi các linh mục và tu sĩ , tại sao các con
không sống đúng với đời sống của mình. Đau khổ cho Cha biết bao khi phải đưa họ ra xa
Cha, xa nhan thánh Cha từng rất nhiều năm. Bằng một ngôn ngữ có thể hiểu được, Cha

xấu hổ vì sự thua thiệt của một số linh hồn, Cha gửi họ vào luyện ngục và Cha bảo
họ “Thôi, bây giờ hãy rảo khắp thế giới và ăn mày ơn cứu thoát khỏi ngọn lửa thanh
tẩy đi vì ơn cứu chuộc và máu ta đổ ra không đủ cứu các con” .
Chính vì thế họ phải vào số đi lang thang khắp mặt đất ăn mày đôi lời cầu nguyện của các
linh hồn quảng đại. Vì đối với những linh hồn tận hiến ấy, án công bằng của Thiên Chúa
luôn luôn nghiêm phạt. Ôi, nếu người ta có thể thấy được phận hư vong khi bỏ phí các ơn
của Cha, các linh hồn ấy như những đứa trẻ, Cha nó đã hi sinh cho nó tất cả để cho nó ăn
học thế mà cuối năm nó chỉ đem về cho Cha nó một thất bại ê chề, Cha tự hỏi : thế còn ăn
thua gì tất cả những đau đớn, khổ cực Cha đã chịu trong cuộc tử nạn.
Đó là những lời cảnh tỉnh đáng sợ Cha báo cho thế giới biết về các linh hồn đã tận hiến
cho Cha.”

Ngày 20/08/1968
“Cha hứa với con sẽ không có bất cứ linh hồn nào đọc bản thảo này mà không thấy mình
khá hơn, không thấy mình gần trái tim Cha hơn. Cha muốn giảm cơn khát các linh hồn
của Cha như thế đó.”

Ngày 23/08/1968
“Thế giới sẽ tìm ra được sự quân bình của của nó khi các linh mục, các tu sĩ tìm ra được
thế quân bình của họ bởi vì sự thánh thiện của các linh hồn vượt trên mọi biến cố chính
trị. Hòa bình thế giới phụ thuộc vào sự thánh thiện của linh hồn con người.”

Ngày 27/08/1968
Chúa GiêSu nói
“Đức Thánh Cha ở Châu Mỹ Latinh phải không? Đó là biểu tượng, từng đoàn hoan hô
Ngài phải không? Đó chính là Giáo Hội mừng chiến thắng sau sự canh tân diễn ra trên
những đổ nát đang bốc khói của thế giới cố hủ. Chưa bao giờ có một Giáo Hoàng trong
lịch sử giáo hội phải chạm chán với những vấn đề bao la của thế giới như vậy. Thế giới
đang đi về canh tân mà không biết.
Canh tân thế giới, đúng, đó là hướng đường mà thế giới đang đi từng bước để đặt nền cho
canh tân.

Ngày 28/08/1968

“Cha đã chẳng ủy thác cho con một thông điệp sao ? Một thông điệp của đau khổ và tình
yêu.”

Ngày 31/08/1968
“Cha đã báo trước cho con biết bao điều về thế giới, về các linh hồn và giáo hội. Tất cả sẽ
được thực hiện vì trời đất này sẽ qua đi nhưng lời Cha không qua được.”
“Lạy Chúa, vậy cả những hình phạt đáng ghê sợ kia cũng sẽ được thực hiện sao ?”
Đúng, cả những hình phạt ấy nữa nếu thế giới cứ tiếp tục con đường vô luân, tội lỗi của
nó. Trước đây, đã có những lần mẹ Cha loan báo về những hình phạt ấy. Những quốc gia
hùng mạnh sẽ hủy diệt những dân tộc tiểu nhược. Tất cả những quyền lợi con người sẽ bị
xúc phạm.
Máu, lửa sẽ tràn ngập mặt đất, chưa bao giờ người ta thấy như vậy từ khi có thế gian.
Trời sẽ chỉ còn đỏ ánh lửa, sẽ không còn bầu trời xanh biếc nữa mà sẽ chỉ còn một bầu
trời đầy khói lửa bởi những phương tiện tàn phá gây lên. Rồi sẽ chỉ còn đêm tối tăm trên
khắp mặt đất. Địa cầu sẽ như bị bọc kín trong chiếc áo choàng đen.”
“Ôi, lạy Chúa, người ta sẽ bảo đó là ở sách Khải Huyền”.
Chúa GiêSu đáp:
“Thời gian đích thực ở sách Khải Huyền sẽ còn rất xa và nó chỉ đến khi nào Chúa muốn
còn hình phạt này là con người muốn và tự người ta chuẩn bị gây lên. Ớ Giêrusalem,
biết bao lần ta muốn tập hợp con cái ngươi lại như gà mẹ che chở con dưới cánh mà
ngươi đã không muốn. Đó là thông điệp Cha nói với con hôm nào, thông điệp Tình Yêu
và đau khổ, Cha ủy thác thông điệp ấy cho con”.
”Nhưng lạy Chúa, nếu thế giới cũng có thể biết ngay được những điều Chúa nói với
con.”
“Không, phải đợi đã, vì chưa đến giờ, thế giới cứng lòng và bất trung này không dễ tin
một số điều đâu vì nghi ngờ thì dễ nhưng đón nhận chân lý lại khó, đàng khác không bắt
tay vào việc người ta lấy làm dễ chịu hơn. Một lần nữa Cha bảo con không ai làm xướng
ngôn ở nhà mình đâu, nếu thế giới cần một Dấu Lạ để tin thì sẽ có.”

Ngày 01/09/1968
“Người ta nghĩ đến chiến tranh, còn Cha thì nghĩ đến hòa bình. Con người không được
dựng lên để làm theo ý mình đâu.”

Ngày 30/10/1968

“Lạy Chúa GiêSu, con yêu mến Chúa, nhưng Chúa vẫn cho con biết Chúa muốn con làm
gì về bản thảo. ”
”Con yêu dấu, Tình Yêu của con đó, Tình Yêu ấy giống như 1 đóa hoa quý hiếm có trong
thời đại này làm cho được thỏa lòng như được nghỉ ngơi trên một chiếc giường sức thuốc
thơm.
Con đừng may nữa, hãy nghe Cha nói đây. Tình yêu là một đóa hoa từ vườn trời, nhưng
nó đã héo mất rồi. Trong công viên kì thú ấy, đóa hoa đẹp nhất ấy đã mất hương thơm
quý giá. Vì làm hỏng nó, người ta đã thay bằng một đóa hoa khác.Nếu Cha thấy được
trong một linh hồn nao có đóa hoa ấy thì hỡi con yêu dấu, Cha ngắm nhìn hoài hình ảnh
của Cha trong đóa hoa ấy, và Cha đưa nó lên ngang hàng với các thiên thần”
”Lạy Chúa GiêSu, Chúa có bằng lòng cho con hiến dâng đời mình để canh tân đời tu
trong Giáo Hội và nhất là cho từng linh mục giữ được đức trinh khiết không? Chúa đã
nói với con Cha muốn trái tim các bạn tình của Cha sẽ thuộc về Cha hoàn toàn và Cha
muốn trái tim các linh mục chỉ hoàn toàn thuộc về Cha mà thôi”…
”Con yêu dấu, con xin Cha điều đó phải không? Đó là điều Cha chờ đợi, Chúa Thánh
Thần linh ứng cho con đấy, bàn thờ Cha luôn luôn phải được trang hoàng bằng hoa huệ
thơm, các linh mục của Cha sẽ biết ơn con, ở trần gian cũng như ở trên trời, họ sẽ kêu
đến con như kêu đến một người bảo trợ đức trinh khiết của họ. Như vậy là trọn lời Cha đã
hứa, bản thảo này sẽ là quyển sách tùy thân cho các linh mục.
Con ơi, đời sống độc thân trong Giáo Hội! Ôi, đời sống độc thân trong Giáo Hội. Hỡi
con, hãy nhắc lại đời sống độc thân trong giáo hội vì trái tim chia sẻ không phải là trái
tim dâng hiến Chúa GiêSu.”
Sau lần tâm sự này tôi sửng sốt, rụng rời, tự bảo mình có lẽ là mơ. Chúa GiêSu đáp:
“Không phải mơ đâu, con đã không mơ, các vị đại thánh của Cha cũng nói như thế khi
được Cha cho biết những điều bí nhiệm, con chỉ là dụng cụ mà dụng cụ thì không bao giờ
làm theo ý riêng nhưng theo ý người sử dụng nó.“

Ngày 31/10/1968
“Ngay từ hôm nay, con hãy nhận họ, các linh mục trên toàn thế giới làm anh em thiêng
liêng để giúp họ bảo vệ đức trinh khiết vẹn toàn.”
Từ lúc đó nảy ra trong tôi một ơn gọi siêu việt, tôi thấy mình vượt ra khỏi tu viện đang ở,
tôi thấy mình ở trong chính trái tim của Giáo Hội. Chúa GiêSu nói :
”Cho tất cả các linh mục trong giáo hội tại mọi quốc gia trên thế giới vì tình đại nghĩa
con hãy chịu đau khổ cho họ, cầu nguyện cho họ, hiến thân làm lễ hi sinh cho họ, con là
trái quý được chọn để đưa vào bàn tiệc cho khách dùng, con là của lễ toàn thiêu thơm tho
được Thiên Chúa là Cha hài lòng.”
Lúc ấy tôi thấy trong trí khôn như trong một thị kiến diễn ra trước mắt tôi con số đông vô
kể các linh mục thuộc mọi quốc gia mặc phẩm phục tư tế, các ngài cầm nhành huệ trên

tay.Các ngài đến từ khắp nơi trên thế giới và từ hết mọi dòng tu. Ôi,Lạy Chúa, như thế
thì chịu đau khổ cho các linh mục là một niềm vui và chết cho họ là một mối lợi.
“Con ơi, Cha giao cho con chăm sóc vườn nho ưu tuyển này, cả những vị còn sống và
những vị đã qua đời.”
Chính hôm nay tôi bắt đầu việc hiến dâng mới này. Trong thánh lễ tôi cầu nguyện:”Lạy
mẹ đồng trinh vô nhiễm, xin mẹ quy tụ các linh mục trên toàn thế giới dưới áo choàng
của mẹ để họ thực sự trở lên những bông huệ tinh tấn dành cho Chúa GiêSu.

Ngày 06/11/1968
“Nếu có sức con hãy đến coi tất cả các linh mục trong vườn nho ưu tuyển của Cha, họ
giống Cha lắm. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu hiến mạng vì bạn mình, mạng thế
mạng, tình yêu đáp trả tình yêu, điều con đang khao khát đó không thể không được Cha
chấp nhận. Vậy bây giờ con không còn việc gì khác hơn phải làm ngoài việc yêu mến và
chịu đau khổ vì họ, con hãy yêu mến họ tất cả, yêu họ như Cha yêu họ, chính Cha cũng là
linh mục và là đấng trung gian đời đời bên Chúa Cha. Con hãy ở trong tình yêu của Cha.”

Ngày 10/11/1968
“Cha ước ao thế giới này coi Cha như Giuse xưa, mở vựa lúa của Pha-ra-on cho mọi
người, và phân phát dồi dào lúc thóc để không còn ai phải đói khát trên trần gian này nữa.
Cha cũng khát khao được người ta nhìn nhận là người Cha của đứa con phung phá trong
phúc âm. Người Cha ấy ưu sầu héo hắt, già đi vì đứa con vắng mặt. Mỗi chiều ông lên
sân thượng, đi đi lại lại, hi vọng được thấy đứa con trở về.
Cha luôn luôn ở giữa các con, trong không khí các con thở, trong nước các con uống,
trong bánh các con ăn, bởi vì công việc sáng tạo không bao giờ ngừng. Đúng thế, Cha ở
giữa các con, Cha sinh hoạt và sống động đích thực bằng lễ hi sinh thánh giá liên lỉ trong
Thánh Thể.
Cha cần phải cho thế gian biết rằng Thiên Chúa không bao giờ thay đổi, không bao giờ
Cha lại hỏi đứa con phung phí của Cha đã hoang phí gia tài như thế nào cũng chẳng bắt
nó tính lại các tội ác nó đã phạm. Đây là tình yêu lân tuất mới Cha muốn dành cho thế hệ
mới này.
Loài người bị quyến rũ từ của cải vật chất đã xa lìa Cha là mạch suối luôn luôn tươi mát
trong lành với tất cả của cải chân thật. Mặc dầu đã muộn nhưng sau bao nhiêu kinh
nghiệm đau đớn con người lại không nghĩ đến việc phải trở về nhà Cha sao? Cha còn
phải đợi cho tới bao giờ ? Tiệc đã dọn sẵn, cũng có cả áo mới và nhẫn cưới rồi.”

Ngày 19/11/1968
“Cha muốn người ta học hiểu từng lời Cha nói trong bản thảo này. Dưới ánh sáng thần
học, Cha sẽ cho con những dấu chắc chắn để không ai có thể chối cãi được, cả những
người thông thái nhất cũng phải chăm lo nghiên cứu nó.”
“Lạy Chúa, làm sao được,vì Chúa đòi con phải thinh lặng mai danh ẩn tích. Đức Mẹ nói
“Phải để tất cả Chúa Thánh Thần hướng dẫn, Người là đấng điều khiển toàn vũ trụ
cũng như thế giới các linh hồn. Sau khi mẹ khấn giữ mình đồng trinh, Chúa Thánh Thần
đã đến với mẹ báo cho mẹ biết mẹ sẽ trở thành mẹ Thiên Chúa vì đối với Thiên Chúa
không có gì là không thể, con hãy tin điều ấy “.
Chúa GiêSu nói: “Con hãy viết, vì đây là ngày hồng ân, hãy viết những điều này nữa,
những gì hèn mọn nhất, đáng khinh mạt nhất trong thế giới thì chính Cha đã chọn để làm
cho những kẻ lớn trong thế giới này phải hổ ngươi, dụng cụ càng bất xứng với việc làm
thì Cha sẽ dùng nó cách tài khéo hơn, tất cả sẽ được dùng vào việc hoàn thành ý định yêu
thương. Thế giới đang mong đợi thông điệp tối hậu của Tình Yêu”.

Ngày 26/11/1968
“Hãy bỏ tất cả các tạo vật qua một bên, mà trong trái tim con, con hãy lập một nhà
nguyện nhỏ rồi vào đấy mà tưởng nghĩ đến một mình Cha thôi. Sau khi Cha lên trời, Đức
Mẹ và các môn đệ Cha đã tĩnh tâm cầu nguyện, con cũng hãy làm như vậy.
Bằng cách này hay cách khác Thiên Chúa luôn luôn nói với mọi người nhưng họ
không lắng nghe tiếng Ngài.
Bản thảo này không phải là một cuốn tiểu thuyết tình cảm nhưng là một tiếng gọi làm cho
những ai đọc nó sẽ nhận ra Chúa Giê-Su ở trước họ. Con đừng nhìn vào cái hư vô của
mình nhưng hãy chiêm ngưỡng sự cao cả của Cha.”

Ngày 08/12/1968
“Bản thảo này sẽ được đón nhận như một nguồn sáng và như một nguồn động lực thúc
đẩy yêu mến trái tim Cha. Nó sẽ không bị phê bình, chỉ trích. Nó sẽ xuất hiện như một tin
mới, một mạc khải hợp thời về tình yêu bất di dịch của Cha đối với mọi người.
Nó sẽ là tiếng gọi mọi người hãy hân hoan quay về với trái tim Cha đang héo hắt vì yêu
thương. Con hãy viết tất cả những điều đó. Con yêu dấu, hãy viết đi.
Đây là lời hứa mới Cha ban cho con hôm nay, ngày lễ của Mẹ Cha , Đấng Vô Nhiễm
Nguyên Tội.”

Ngày 09/12/1968

“Con hãy mang lấy gánh nặng của Cha, nghĩa là những lầm lỗi của các linh mục, con hãy
giúp Cha mang ghánh nặng ấy. Ở vườn cây dầu và núi sọ, Cha đã vác ghánh nặng tội lỗi
của loài người cho đến tận thế. Cha chia sẻ cho con một phần rất nhỏ, đó là lầm lỗi của
các linh hồn tận hiến. Chính con đang muốn điều đó, và việc con hiến thân cho họ đã làm
cho trái tim Cha tràn ngập vui mừng, không bao giờ Cha xin điều đó vì Cha luôn luôn tôn
trọng tự do Cha đã ban cho tạo vật.
Con hãy vác lấy gánh nặng ấy để chúng ta cùng lên đồi Gon-go-tha. Chúng ta cần phải
tối tăm nếu muốn cho các linh mục trở lên ánh sáng cho thế gian, cần chúng ta phải trở
lên đói khát nếu muốn cho các linh mục được sống. Cần chúng ta phải bằng lòng chấp
nhận để mình đầy bùn nhơ nếu muốn cho các linh mục được trong sạch tinh tấn. Chúng
ta hãy cùng lên núi sọ với nhau nhưng một mình con sẽ không lên được đâu vì con yếu
quá nhưng Cha sẽ trợ giúp cho con, Cha vẫn luôn làm thế với các linh hồn quảng đại,
Cha bồng họ trên tay như người mẹ bồng con. Tuy nhiên các linh mục cần ý thức rằng
chúng ta đã phải chịu đau khổ vì họ.

Ngày 13/12/1968
“Đời sống của con được dệt thành từ những điều rất nhỏ mọn. Hãy thu lấy những cộng
rơm nhỏ nhất, nó sẽ trở lên vàng và con hãy dâng nó theo chủ ý của con.Với những cái bé
nhỏ nhất, Cha làm lên những điều lớn lao nhất. Nó càng ti tiện bao nhiêu Cha lại càng
làm lên những điều vĩ đại biết bao nhiêu.”

Ngày 24/12/1968
“Con phải giải bày tất cả cho cha linh hướng của con. Hãy kể cho ngài tình Cha thương
xót con và những gì Cha làm cho con, tâm hồn linh mục phải được phong phú hóa bởi
những kinh nghiệm ấy để trong bí tích giải tội ngài có thể phân phát lúc thóc đầy tay hơn
cho những người đói lả khi họ nhớ đến lòng lân tuất lớn lao mà Cha muốn ban cho họ.”

Ngày 25/12/1968
Ngày lễ Giáng Sinh, ngồi trước máy truyền hình chờ phép lành được ban từ Đức Thánh
Cha cho Rô-ma và toàn thế giới. Tôi nghe tiếng Chúa nói :
“Hỡi con, hãy loan truyền cho mọi người biết giây phút hòa bình và niềm hoan lạc vì một
thế giới mới đang chuẩn bị. Thế giới sẽ được canh tân hoàn toàn bởi tình yêu và sự lân
tuất hải hà của Cha.”.
Vào khoảng 3h chiều, Chúa lại nói với tôi :
“Mẹ Cha đã phải có một đức tin rất lớn mới có thể nhìn nhận được Cha, dưới hình hài
của một trẻ sơ sinh vì Cha là Thiên Chúa thật của người mà cũng là con thật của người “.

Ngày 28/12/1968
Tôi ngỡ ngàng sửng sốt sao Chúa lại thân mật đến thế được. Người liền bảo tôi :
”Thật vô ích khi một số nhà thần học muốn tìm hiểu một số hiện tượng bí ẩn nhưng ai
cấm được Cha thân mật với tạo vật Cha đã tạo lên khi chính nó cũng bằng lòng sống thân
mật với Cha. Cha ưa liên lạc với nó về những điều Cha muốn và Cha thích ở với nó.
Tình yêu Cha đã đặt con trong lò luyện tình yêu. Ba đạo sĩ đã theo ánh sao dẫn lối và
không bị lạc đường. Linh hồn nào cũng có một ngôi sao hướng dẫn. Phúc cho linh hồn đi
theo ánh sao của mình. Phải chịu để ánh sao soi sáng cho.”

Ngày 01/01/1969
Tôi đang ở trước máy truyền hình để nghe Đức Thánh Cha nói chuyện về nền hòa bình
thế giới. Chúa GiêSu nói với tôi :“Chúng ta đang ở chốn hừng đông báo hiệu một sự canh
tân lạ kì, hãy động viên các lực lượng trong Giáo Hội ”.
Tôi xin được giải thích những điều ấy thì Chúa GiêSu trả lời “Điều con không hiểu thì
Đức Thánh Cha sẽ hiểu ”.
Tôi bắt thăm để chọn vị thánh bảo hộ cho năm mới. Trong giấy thăm ghi Đức Maria, Mẹ
Giáo Hội. Tôi vui mừng tràn trề, đêm đến Đức Mẹ nói với tôi “Con ơi, khi kẻ thù cám dỗ
con, muốn làm khổ con, con hãy bảo nó đã có Đức Maria Mẹ Giáo Hội nâng đỡ ta, từ nay
con hãy lấy danh hiệu ấy mà gọi Mẹ, bởi vì chính con cũng hiến thân cho Giáo Hội rồi.
Chính Đức Phaolo VI đã gắn hạt ngọc ấy vào triều thiên Mẹ, trước đây Mẹ thiếu hạt ngọc
ấy nên bây giờ Mẹ biết ơn Ngài.”
Chúa GiêSu nói: ”Sự chia rẽ, lộn xộn đã tăng thêm trong các khu vườn của Giáo Hội
nhưng bây giờ hạt giống đã mọc. Đây là lúc phải nhổ cỏ xấu mà kẻ thù ban đêm đã lén
gieo trồng vào ruộng Cha. Thế giới sẽ giác ngộ dần dần”. ….
“Lạy Chúa, vậy những hình phạt đã nói trong bản thảo mà thế giới phải chịu thì sao ?”.
Chúa GiêSu trả lời:
“Vì ở nơi Thiên Chúa có tràn đầy tình thương và ơn cứu độ, Thiên Chúa có tình thương
và ơn cứu độ dư dật đủ để cứu hàng ngàn thế giới như trái đất này. Con ơi, Cha là Tình
Thương Xót đối với kẻ sống và kẻ chết; Cha là đấng giàu tình thương; tình Hiền Phụ đối
với ai yêu dấu Cha; nhưng Cha lại là Thẩm Phán nghiêm nghị đối với kẻ từ chối cử chỉ
yêu thương của Cha. Thỉnh thoảng con hãy ngừng lại công việc con đang làm để nghĩ đến
một mình Cha và nói với Cha: ‘Bây giờ con phải lo việc Cha trên trời’.
Cha sẽ cho con biết sức mạnh của Cha và biết ai là người hướng dẫn con. Sự khốn nạn
của con dù lớn lao nhưng lòng thương xót của Cha lại vô bờ bến.”

Ngày 07/01/1969
“Bình minh mọc lên soi sáng thế gian thế nào thì vừng đông của thời đại mới cũng vậy.”

Ngày 16/01/1969
“Đừng bao giờ con chấp nhận một lời nào phản đối Đức Thánh Cha, dù là bởi những
người thân yêu của con vì Cha yêu mến Ngài bằng một tình thương yêu đặc biệt. Đây là
lần thứ 3 Chúa nhắc cho tôi điều đó. Ngài là của lễ hi sinh tinh tuyền cho hòa bình thế
giới. Cùng với Cha người là trung gian cho toàn thế giới giữa Thiên Chúa và nhân loại.”
“Lạy Chúa, con phải làm gì để đền đáp muôn hồng ân của Chúa.”
“Con hãy yêu, yêu mến Cha luôn luôn, con hãy chỉ nhìn Cha, chỉ nghe Cha, chỉ phục vụ
Cha, con hãy an ủi Cha trong những nỗi khổ cực Cha phải chịu và hãy chia sẻ với cha”.

Ngày 19/02/1969
“Mộ hốc đá trong núi phun ra một dòng nước trong sạch mát mẻ thế nào thì trái tim Cha
cũng luôn luôn rộng mở và ban phát tình yêu cho loài người như vậy.”

Ngày 20/02/1969
“Việc con tận hiến cho Cha sẽ được Chúa Cha chúc phúc, con hãy nhắc lại việc đó với
Cha luôn mãi ở mỗi nhịp tim con đập, ở từng hơi thở của con. Lạy Chúa GiêSu, bạn tình
con yêu mến, con hiến thân mình cho Chúa và cho Cha trên trời làm của lễ tự nguyện hi
sinh với Chúa để canh tân đời tu và mưu cầu cho Giáo Hội một hàng giáo sĩ trinh trong,
thánh thiện.”
Lạy Chúa cao cả, để thánh hóa các linh hồn đã tận hiến cho Chúa, con xin đón nhận tất cả
những gì mà vì lòng nhân hậu, thương xót vô biên Chúa nghĩ rằng gửi đến cho con là
đích đáng và thích hợp. Đó là những thử thách, đau khổ thể xác và tinh thần, con không
dựa vào sức yếu đuối của con nhưng dựa vào tình yêu bao la muôn đời của Chúa để cứu
nhân loại.
Lạy Chúa, chớ gì dựa vào lửa yêu mến nồng nàn của trái tim vô nhiễm Mẹ Maria, Mẹ
Giáo Hội, những lời hiến dâng này được lên tới Chúa nhiều lần hơn cả số nhịp tim con
đập.
Vì nền hòa bình thế giới tùy thuộc sự thánh thiện của Kitô hữu, nên xin Chúa cho các
linh mục và tu sĩ mặc lấy sự thánh thiện và trinh trong của hoa huệ nhờ cuộc khổ nạn và
cái chết bi thảm của Chúa trên cây Thánh Giá. AMEN.
Ngày 27/12/1969

Tôi hỏi Chúa GiêSu: ”Lấy tên gì mà đặt cho bản thảo”.
Chúa GiêSu trả lời: “Đặt tên nó là ‘Chúa GiêSu nói qua một linh hồn’, còn cha linh
hướng sẽ thêm phụ đề gì thì tùy ý ngài.”
Tôi viết tên sách ấy cho Cha linh hướng, nhưng tôi sợ lắm. Chúa GiêSu nói: “Cho tới
giây phút này con có bao giờ con lầm lẫn chưa? Tại sao bầy giờ lại lầm được? Chính con
cũng như cha linh hướng của con, không bao giờ Cha để cho bị lầm”.
Chúa GiêSu nhắc lại “Chúa GiêSu nói qua một linh hồn. Đó là nhan đề cho bản thảo, còn
cha linh hướng sẽ thêm phụ đề gì thì tùy ý ngài.”

Ngày 28/02/1969
Một đêm tôi đến xem một tượng chịu nạn rất đẹp. Tay phải đã tháo đinh cầm những tờ
giấy. Tôi tự hỏi :”Thế nghĩa là gì ?”.
Chúa GiêSu nói với tôi:
“Nghĩa là bản thảo đang ở trong tay Cha đó vì nó là việc của Cha. Những lời Cha đã nói
trong đó là một thông điệp của Thiên Chúa, một Tin Mừng bình an và hòa hợp giữa nhân
loại, chắc chắn đó là thông điệp dành cho nhân loại sẽ đi đến những cực hình mà họ sẽ
chịu.
Sau ngày thứ sáu tuần thánh là bình minh huy hoàng của Chúa nhật phục sinh. Cha chưa
muốn phá hủy thế giới vì Cha còn muốn canh tân nó, hồi sinh nói, nhưng cây già cỗi cần
được cắt tỉa để đâm lộc mới, còn những cành già lá khô thì đốt, phải tách dê khỏi chiên
để chiên có thể dễ dàng tìm được cánh đồng cỏ tươi, nơi chúng được ăn no, nơi có những
mạch nước cứu rỗi tuôn tràn.
Khi máu cứu chuộc của Cha sẽ tưới xuống thửa đất khô cằn hoang vu của thế giới các
linh hồn. Máu đó còn tuôn tràn chảy trên mặt đất bao lâu còn có một người cần được cứu
rỗi. Này hiền thê yêu dấu của Cha, Cha đã chịu chết trên Thánh Giá với trăm ngàn cực
hình không phải để đưa các linh hồn vào hỏa ngục nhưng là vào Thiên Đàng.”

Ngày 08/03/1069
“Cha hứa ban rất nhiều ơn trọng đại cho những ai cộng tác bằng cách này hay cách khác
vào việc phổ biến thông điệp tình yêu của Cha.”

Ngày 15/03/1969
“Hỡi con, con phải tin thật lời Cha nói đây. Cha cần tình yêu chừng nào, như một người
đói lả cần bánh, như một người khát cần nước. Cha cũng cần tình yêu như vậy”

.
Ngày 19/03/1969
“Thế giới văn minh ngày nay đang tái diễn cuộc khổ nạn của Cha, nhưng giả sử tất cả các
linh mục cũng từ bỏ Cha như các môn đệ xưa, mà Cha còn được ở với một người cũng
như xưa, như Cha từng được ở với Gioan ở trên đồi Canvê với Cha thì Cha cũng sẽ làm
mới lại thế gian.”

Ngày 03/04/1969
“Cha sẽ để cho thuyền Phê-rô trôi dạt cho đến cùng rồi mới cứu”.

Ngày 06/04/1969
“Chúa GiêSu nói :”Các nhà thần học, các tiến sĩ luật lục lọi sách vở để tìm chân lý ngàn
đời nhưng tình yêu đâu có ở trên trang sách mà thấy được, cả đức tin cũng thế, họ đã mất
tình yêu nên mất luôn cả đức tin. Cũng như các tiến sĩ xưa ở đền thánh Giêrusalem bây
giờ họ tìm cách thuyết phục dân chúng theo họ, các mầu nhiệm phải được chấp nhận và
sống theo đúng mầu nhiệm. Đức tin là một ơn Chúa ban mà người ta phải làm triển nở
bằng tình yêu ”.
“Nhà thần học đi tìm tình yêu trong sách vở nhưng linh hồn thần bí là bạn tình của Cha
lại gặp tình yêu đúng chỗ ngay trong lòng họ như những mũi đinh đã được đóng đúng
vào chỗ trên thịt Cha. Việc canh tân sẽ như một cuộc tạo dựng mới, bấy giờ sẽ có nhiều
người tin Cha. Từ một sự dữ lớn lao, Cha sẽ làm lên một sự lành lớn lao hơn nhiều.
Hiện nay, các con phải rên xiết như một người mẹ rên xiết đau đớn lúc sinh con, toàn thể
Giáo Hội, Đức Thánh Cha, toàn dân Chúa phải khóc lóc u sầu trước bao cảnh tang tóc,
hỗn loạn đang đè trên nhân loại.
Nhưng đến lúc con người mới được sinh ra vào khi thế giới đã được canh tân bằng chính
đau khổ. Bấy giờ khóc lóc sẽ trở thành vui mừng. Bấy giờ trong kỉ nguyên mới tình yêu
sẽ thay thế hận thù và nhân loại sẽ vì danh Cha mà trở lên anh em với nhau. Lời Chúa
không thể bị nghẹt cũng không thể bị dập tắt vì lời của người là lời vĩnh cửu cũng như
chính hữu thể của Người là vĩnh cửu.
Không có gì thay đổi nơi Cha, Cha là tình thương xót, tha thứ và yêu thương .Người mục
tử tốt lành chăn giắt đoàn chiên và chiên nghe tiếng người. Rồi sẽ chỉ có một đoàn chiên
dưới quyền một mục tử.
Thời gian chẳng là gì, đời đời mới đáng kể. Khi coi như bị mất hết mọi sự thì đó là lúc
được tất cả. Hỡi các chiên nhỏ bé! Đừng sợ ! Vì tên Cha là GiêSu ! Đấng Cứu Thế.

Ngày 07/04/1969

“Cũng như các môn đệ đã làm sứ giả Tin Mừng sau khi Cha đã chịu đau khổ nhiều. Cũng
vậy, thế giới u sầu, đau khổ này cũng trở lên hạt giống mẩy chuẩn bị cho nhân loại một
đời sống mới.”

Ngày 17/04/1969
“Các con hãy biết đỡ gánh nặng cho nhau. Hỡi con Cha, trên nỗi đau đớn của Giáo Hội
do sự phản bội của các linh hồn tận hiến gây ra, con hãy trải lên tấm thảm nước mắt của
con để thông cảm. Những linh hồn hồn như thể chẳng khác nào như Madalêna xưa đổ lên
chân Cha lọ thuốc thơm của lời cầu nguyện để nhiều tội nhân được ơn khoan hồng.
Những cám dỗ nghịch đức trong sạch bao giờ cũng nặng nề nhất nếu không có ơn đặc
biệt và không tỉnh táo đề phòng, linh hồn khó có thể chống trả được. Đó là lí do tại sao
Cha giải tội phải khoan dung với các linh hồn sa ngã và giúp họ trỗi dậy bằng mọi
phương thế nhất là trông cậy vào tình thương vững vàng của Cha vì Cha vừa có quyền
lực, vừa muốn nhận họ vào tiệc cưới trên trời.”

Ngày 25/05/1969
“Lạy Chúa GiêSu, xin dẫn người thủ lãnh vào nơi hứa địa. Chúa GiêSu nói :”Người thủ
lãnh mà Cha đặt là Đức PhaoLô VI”. Vị tông đồ của các dân tộc, nếu người ta vui lòng
nghe tiếng Ngài, Cha sẽ sai Thánh thần xuống canh tân mặt đất, sẽ có một lễ hiện xuống
thứ hai. Con có xem thấy trái tim Cha dải ánh sáng xuống mặt đất không? Sẽ như thế đó,
từ Trái Tim Cha sẽ phát ra một nguồn sáng vĩ đại để soi sáng tất cả các dân còn ngồi
trong bóng tối của tội lỗi và sự chết.”

Ngày 27/05/1969
“Con không được giấu điều gì Cha đã nói với con vì tất cả là để thi ân cho toàn nhân loại.
Điều Cha nói với con trong kín đáo hãy lập lại giữa ban ngày. Điều Cha rỉ tai con, hãy rao
giảng trên mái nhà.”

Ngày 01/08/1969
Tôi đang ngồi trước máy truyền hình xem Đức Thánh Cha ở bên Phi Châu giữa một
đoàn người đông đảo đang hoan hô nhiệt liệt. Chúa GiêSu nói với tôi: ”Giáo Hội khải
hoàn đó, hạt giống mới đó, nói, động viên tất cả các lực lượng của Giáo Hội là thế đó”

Ngày 16/08/1969
“Con nên im lặng khi Chúa Thánh Thần phán, tiếng rì rầm trong rừng thâm thế nào thì
làn gió nhẹ nhàng của lời Người cũng thế, Người thổi rất êm ái để hồi sinh, sưởi ấm,
thiêu đốt lòng người. Chính Chúa Thánh Thần gây sinh lực làm sống động vì chính người
là Đấng ban sự sống cho tất cả các sinh vật. Con hãy luôn luôn lắng nghe tiếng người.”

Ngày 08/09/1969
“Không nên ước ao các ơn Chúa mạc khải. Đúng, nhưng khi người ban cách nhưng
không, thì phải kể lại hay ghi nhận ngay”.

Ngày 25/09/1969
“Lạy Chúa, Chúa là ai ? Còn con là ai ?”
“ Làm sao con có thể tự cứu mình được! Điều đó là một ánh sáng chiếu soi tràn ngập linh
hồn con, sáng đến nỗi không thể chối cãi được. Cũng vì thế dù đã xin con làm những việc
trọng đại, bây giờ Cha phải nói rõ cho con biết tác giả cuốn sách đó chính là Cha.
Về ơn biết mình thì không ai có thể cho con biết được, cả sách vở, cả các nhà thần học
cũng không, duy chỉ có Đấng dựng lên ánh sáng. Hãy có ánh sáng, và ánh sáng đã có.
Còn ơn biết Chúa, đó là ơn chiêm ngưỡng do chính Chúa ban, ơn này là một luồng ánh
sáng từ Thiên Chúa phát ra, chiếu thấu tận linh hồn làm cho linh hồn được xem thấy và
nhận ra rõ ràng trong giây phút bản tính của Thiên Chúa.”
Ngày 08/10/1969
Chúa GiêSu nói:”Có tiếng kêu trên rừng, hãy dọn dường Chúa, một tiếng đã vang trong
hoang địa, hãy sửa đường Chúa , hãy làm thẳng lối Người đi.”
“Lạy Chúa, có thể áp dụng những lời ấy vào ai?”
Chúa GiêSu trả lời “Áp dụng vào bản thảo”.

Ngày 09/10/1969
Tôi nghĩ đi nghĩ lại những lời đó mà chẳng tìm được cách nào có thể áp dụng vào bản
thảo. Một lát sau, tôi trở lại suy ngẫm nữa, suy ngẫm nửa giờ ở nhà nguyện. Tiếng Chúa
đã nói lên nhắc cho tôi rằng
“Tiếng kêu trong hoang địa, hãy sửa đường Chúa đi, đó là bản thảo đã xong, nó là tiếng
kêu gọi người ta đến tập họp vì thông điệp đã hoàn thành. Thông điệp cứu rỗi này sẽ
được Người ban cho những người khiêm nhường và nghèo khó, luôn luôn chính họ là
những người được Cha ưu đãi, chứ không phải những người có tiền bạc và có phương
tiện để chinh phục.

Họ là những ai giống Cha khi ở dưới thế, sống phiền cực, túng thiếu, không tiện nghi.
Chính những mục đồng xưa là những người được Cha trao sứ mạng loan báo tin mừng và
những ngư phủ là những người được Cha ủy thác cho việc thiết lập Giáo Hội.
Con hãy nói cho cha linh hướng biết bản thảo đã chấm dứt với thông điệp này. Không
phải ngày nay người ta không thể sống khó nghèo, thuần phục được, thế giới đang cần
một cảnh tương phản vĩ đại, ngoạn mục, trái ngược với giàu sang, uy quyền và hống
hách.
Các con đừng để mình bị lường gạt, kích thích bởi thần dữ vì nó đang tìm cách phá hoại
trong con người những cảm hứng thánh thiện để đẩy con người xa khỏi điều lành.Một
người nghèo hèn, khiêm tốn, vâng phục là một sức mạnh vô địch.
Sống với đức khó nghèo trong một thế giới đang ham thích lạc thú, xa xỉ đó là sự điên rồ
của thập giá.
Nhưng sự điên rồ của thập giá cũng là vấn đề thời sự. Đi theo Chúa Kitô bị đóng đinh đó
là kỉ phần của những người Cha ưu tuyển. Có biết bao người cuồng tín để bảo thủ ý kiến
mình, họ dám chết bằng cách tuyệt thực, tự thiêu. Thế mà, chỉ duy có Chúa KiTô là
không tìm được trên mặt đất những người say mê giáo lý và thập giá của Người.”

Ngày 25/12/1969
Chúa GiêSu nói :”Khi một linh hồn thuộc về Cha, Cha đong đưa nó như sóng biển, linh
hồn ấy cử động, nói năng mà chẳng biết được Cha dẫn dắt, họ vâng theo ý muốn của Cha
trong mọi sự, quả thật, sức mạnh của tình yêu đã hòa trộn ý muốn của họ với ý muốn của
Cha, đã trộn sự vâng lời yếu ớt của họ vào sự vâng lời yếu ớt của Cha ”.
“Lạy Chúa, Chúa là sức mạnh của con, Ôi, Lạy Chúa, Chúa là sức mạnh của con”
“Con hãy nhớ không bao giờ một lời kinh dâng lên, một giọt nước mắt chảy ra vì một
linh hồn mà bị Cha ruồng rẫy. Cha là mục tử tốt lành quy tụ lại chung quanh mình một
đàn chiên nhỏ.”

Ngày 01/01/1970
Đã quá lâu người ta không phổ biến cho thế giới tình thương của Cha. Cha linh hướng
bảo tôi phải lo ngay từ bây giờ để thực hiện cuốn sách tùy thân.
Chúa GiêSu nói : “Cha sẽ đọc cho con viết, chính Cha đọc cuốn sách tùy thân. Đã quá lâu
người ta không phổ biến cho thế giới tình thương của Cha, thông điệp tình thương và tha
thứ của Cha, tất cả tự nhiên sẽ thu xếp”
Đã nhiều lần Chúa bảo con, mọi sự sẽ được thu xếp. “Vậy, Lạy Chúa GiêSu, làm sao có
thể truyền bá thông điệp của Chúa được”
“Con hãy bắt đầu viết ra mấy bản nhưng đừng để thông điệp của Cha trong ngăn kéo.
Hãy nói, hãy làm, Cha sẽ làm cho thông điệp của Cha đi tới tận cùng trái đất. Các thiên

thần của Cha sẽ làm sứ giả. Nhưng con muốn Cha cộng tác vào để các thiên thần và các
linh hồn được tuyển chọn nghe tiếng Cha. Cha không dùng lời nói nhưng để loài người
nghe và hiểu Cha, Cha đã phải mặc lấy xác phàm.”

Ngày 11/01/1970
Tôi soạn cuốn sách tùy thân nhưng sau đó nó bị tịch thu và nghe nói rằng Chúa GiêSu
bảo tôi phải bỏ bớt và thêm vào ít điều nữa mới được. Chúa GiêSu nói: “Có nhiều linh
mục khi đọc những trang đó sẽ phải đấm ngực và nói rằng Người này thật là con Thiên
Chúa. Cha sẽ cho con thấy quyền lực của Cha và con sẽ thấy rất đông các linh mục khát
khao hòa bình của tình yêu ngồi ở giếng Gia-cóp và khát khao xin uống nước, thứ nước
vọt lên Sự Sống Đời Đời. Con hãy cho Cha các linh hồn, ngoài ra Cha không cần gì nữa
hết.”

Ngày 24/01/1970
“Thánh thần của Cha sẽ thổi khắp 4 phương trời trên mặt đất, Cha sẽ gọi tất cả các dân
tộc về với Cha.”
Ngày 04/02/1970
Giờ đã điểm, giờ xuất bản cuốn sách tùy thân, giờ tái sinh các linh hồn linh mục đó là
giờ phát hành cuốn sách này. Cuốn sách này đã xác quyết lời đức PhaoLô VI nói về việc
độc thân linh mục.

Ngày 14/02/1970
“Nhiệm thể Đức KiTô phải được cứu rỗi, Cha muốn thanh tẩy Giáo Hội của Cha và canh
tân bạn tình thân mến của Trái Tim Cha. Cha muốn các thừa tác viên của Cha phải được
mặc áo cưới tinh tuyền. Ước gì những người đã kết hôn cứ tiếp tục thánh hóa mình mãi, ở
giữa thế gian theo bậc đôi bạn, vì nếu còn thiếu linh mục ở trong các phương, các nước
trên thế giới, thì chính Cha, Cha sẽ gây lên các linh mục chân thành, say mến Đức KiTô
khó nghèo và trinh khiết.
Ơn kêu gọi linh mục càng nhiều càng dễ hoạt động cho công cuộc thanh tẩy hơn. Giới trẻ
đang muốn sống một đời sống chân chính hơn. Cha thấy vì thiếu tin cậy nên có một số
người khao khát phối hợp đời sống hôn nhân với đời sống linh mục nhưng không thể làm
tôi hai chủ được.
Cha đã nói với con rằng Cha muốn thanh tẩy Giáo Hội Cha, Cha muốn xóa đi những vết
nhăn để giáo hội Cha được phục hồi sinh lực như thưở ban đầu.”

Ngày 20/02/1970
Đức Mẹ nói “Bánh lái thuyền Phê-rô ở trong tay Mẹ vì Mẹ là Maria, là Mẹ của Giáo Hội,
Mẹ phải săn sóc đoàn chiên của con yêu dấu của Mẹ”.

Ngày 02/03/1970
Từ hôm qua, tôi lại bắt đầu chuẩn bị lần thứ hai cho cuốn sách tùy thân như Chúa GiêSu
ao ước. Trong khi tôi viết tôi cầu xin để biết giờ phổ biến cuốn sách ấy đã đến chăng?
Tôi cảm thấy sợ hãi và bối rối quá. Nhưng có tiếng Chúa GiêSu nói rất êm ái và ngọt
ngào làm tôi hết lo lắng và được yên trí ngay :
“Giờ ấy đến từ trái tim Cha phát ra các ơn mạnh mẽ như thác đổ làm cho các linh hồn
phải ngập lút ơn Cha. Cha không thể cầm mình mà không cho ơn Cha đổ xuống. Vì nhân
loại đang bị đói, bị khát tình yêu và ơn tha thứ ”.
Ngày 03/03/1970
Ngay từ trang đầu cuốn sách tùy thân, tiếng của chị tôi ở trên trời đã nói rằng “Chúa
thổn thức đến run lên vì muốn đổ thác nước Hồng Ân của Lòng Thương Xót Chúa trên
thế giới nhưng người ta đã không sẵng sàng đón nhận. Phải chuẩn bị cho thế giới đón
nhận thông điệp của tình yêu. Phải tìm cách phổ biến tối đa thông điệp này.”

Ngày 07/03/1970
Khi tôi đi đàng thánh giá, Chúa GiêSu nói:
“Con đã đánh mạnh vào Trái Tim Cha, làm sao Cha có thể từ chối của lễ con hiến dâng
cho các linh mục và lòng con khát khao cứu các linh hồn, phải có một phần thưởng cho
của lễ hiến dâng đó, rất nhiều linh hồn sẽ trở về yêu mến Cha, một giao ước mới, một
hàng linh mục mới.”

Ngày 09/03/1970
“Cha đã làm gì cho con, Cha đã ấp ủ con dưới cánh Cha. Phải nói rằng con đã chịu đau
khổ cho Thiên Chúa về thể xác lẫn tinh thần. Không dễ làm được gì với một số nhà thần
học đang moi móc khắp nơi vì muốn khám phá những điều lạ trên trời.”
Cuốn sách tùy thân đã xong, khi nào con phải đưa nộp.”
Chúa GiêSu trả lời “Sớm hết sức đi con”.

Ngày 10/03/1970
Đức Mẹ nói “Hỡi con, con không thể biết được những việc lạ lùng Chúa GiêSu đã làm
với cuốn sách tùy thân của người. Chúa GiêSu hài lòng, nhưng hỡi con, cần phải hăng
hái”.

Ngày 11/03/1970
Sáng nay tôi đưa cuốn sách tùy thân đến nộp cha linh hướng vì hôm qua trời xấu không
đi được. Lúc ấy Chúa GiêSu bảo tôi “Ngày mai trời sẽ đẹp”.
Hôm sau, tức sáng nay tôi ra mở cửa sổ, Chúa Giêsu nói ngay “Con thấy không, mặt trời
le lói”.
Tôi xuống nhà nguyện. Từ bức ảnh Chúa chuộc tội ở bên phải bàn thờ bay đến tôi những
làn hương ngào ngạt, Chúa GiêSu hài lòng. Tối hôm qua tôi ngủ muộn để cố cho cuốn
sách tùy thân được hoàn mỹ hơn. Vừa tắt đèn thì một chùm hoa huệ to trắng kết thành bó
trên nền đá xanh hiện ra trước mắt tôi. Chưa bao giờ tôi được thấy những bông huệ trắng
tinh như vậy. Đèn đã tắt nhưng tôi vẫn thức, những bông huệ ấy đẹp không thể tả. Hôm
nay chỉ nhớ lại thôi cũng đủ làm tôi sung sướng.
Những bông huệ ấy biến đi rồi lại hiện ra trước con mắt say xưa nhìn ngắm của tôi. Sau
đó lại hiện ra một đóa hoa lạ khác. Hoa gì? Tôi chưa từng thấy bao giờ. Màu nó sáng như
vàng, óng ánh rực rỡ. Tôi tự bảo mình “Chắc đây là những bông hoa ở vườn thiên đàng ”.
Rồi tôi thiếp đi, một giấc say sưa vui sướng.
Đồng ý với cha linh hướng, chúng tôi chọn đặt một bông huệ đẹp ở giữa bìa cuốn sách
tùy thân tượng trưng cho đức trinh khiết mà Chúa GiêSu ước ao thấy ở các linh hồn tận
hiến cho người.

Ngày 14/03/1970
“Lạy Chúa GiêSu của con, Chúa muốn dùng con làm gì?
Chúa GiêSu đáp :
”Chỉ duy một việc”.
Hôm nay tôi đã khóc rất nhiều nhưng cũng thấy vui mừng tràn ngập sâu xa, cuốn sách
tùy thân đã đến lúc ra ánh sáng và đi khắp thế giới gần xa vì Chúa Thánh Thần làm cách
êm ái dịu dàng.

Ngày 15/03/1970
“Ôi, Chúa GiêSu, Chúa có nghe tiếng con nói không?”

Chúa GiêSu nói: ”Cha luôn luôn lắng nghe tạo vật của Cha”.
”Lạy Chúa GiêSu, Chúa như thế nào?”
Tôi tỏ cho người biết tôi khát khao được xem thấy người. Chúa GiêSu nói “Cha là vẻ
xinh đẹp Tự Hữu, Tình Thương Xót vô biên, Ơn Tha Thứ khôn lường và là Tình Yêu mà
nhân loại không thể hiểu được ”.

Ngày 17/03/1970
“Lạy Chúa GiêSu,vậy Chúa ở đâu? Con muốn ở với Chúa luôn, luôn mãi. Mà Lạy Chúa
GiêSu, tại sao con ….?”.
Chúa GiêSu đáp: “Tại vì con kiên gan tìm Cha, đối với người tìm Cha, Cha sẽ luôn luôn
cho họ thấy Cha, Cha không trốn những người chọn Cha làm bạn, Cha sẽ tỏ cho con biết
nhiều bí nhiệm khác và chính bản thể của Cha nữa, con hãy nhận lấy những lời tâm sự
Cha nói với con nhưng đừng lo tìm kiếm những điều đó. Hãy lo tìm kiếm Thiên Chúa qua
những điều đó mà thôi”.
Về phần tôi, tôi tưởng phải cố gắng đạt đến sự hiệp nhất với Chúa. Nhưng Chúa GiêSu
nói “Con đã là bạn tình của Cha nhờ mối dây bền bỉ là hồng ân Cha ban cho con.”
“Vậy đáp lại con sẽ lấy gì để dâng cho Chúa”
“Lòng trung thành và sự tin cậy vào Cha, đó là điều con phải có luôn và thế là đủ rồi.”
Đức Mẹ nói “Chúa GiêSu muốn làm nhiều điều lạ lùng với cuốn sách tùy thân ”

Ngày 19/03/1970
Đang ngủ say, tự nhiên thức giấc. Tôi nghe tiếng Chúa, giống như một con sông đầy bùn
lầy. Bùn cứ dâng lên mãi, làm nước cũng dâng lên. Dâng lên mãi. Đó là những xúc phạm
của mọi người, của mọi thời đại. Tôi thấy mình đang tâm sự với Chúa ở ngoài vườn. Trí
tôi bỗng sáng lên như một ánh sáng rực rỡ chiếu soi bên trong. Tôi viết những lời Chúa
nói, tôi cầu nguyện một lát. Rồi lại trờ về giường, vì trời rét lắm. Tôi cầm tràng hạt đọc
kinh mùa thương. Nhưng Chúa bảo tôi
“Con hãy ở lại với Cha. Thật, Cha không chịu nổi nữa, ở lại để nhìn Cha, để ngắm Cha
thôi mà. Cha muốn tỏ cho con nhiều điều bí nhiệm khác nữa, chính bản thể của Cha
nữa.”.
Đây là lần thứ ba Chúa lập lại với tôi điều đó.
“Là Thiên Chúa, Cha không thể chịu đau khổ và chịu chết. Nhưng là con người, Cha phải
chịu biết bao nhiêu đau khổ dữ dội. Cha đã phải trả giá đắt chừng nào để mua lại các linh
hồn mà Cha muốn chuộc lại. Thăm đã trúng vào Cha với câu “Ngài phải trả một giá đắt
hết sức có thể”.

Khi tôi đã viết xong điều ấy, Chúa GiêSu nói “Bây giờ con về giường ngủ đi, Cha không
cần con phải bệnh nhưng cần con khỏe”.
Nói thế Chúa có ý bảo là tôi còn phải làm việc nữa.

Ngày 20/03/1970
Sáng nay khi vừa thức dậy tôi đọc lại những gì đã viết nửa đêm và xin Chúa cho tôi được
nhiều nước mắt để cùng khóc với người. Chúa trả lời tôi :
”Không cần, đừng xúc phạm đến Cha là đủ rồi”.
Trong thánh lễ, đến lúc dâng của lễ, Chúa GiêSu nói với tôi :
“Tất cả những gì Cha đã nói với con, Cha muốn cho mọi người đều biết cả, biết bao nghi
ngờ, biết bao ngụy biện, tăng gấp mãi, làm xáo trộn Giáo Hội Cha, chính những thừa tác
viên của Cha cũng muốn khước từ chân lý và đức tin. Con có tin rằng các linh mục của
Cha bằng lòng đàm thoại với Cha được một lát không? Cha đến với con không phải để
sửa các lỗi lầm của con nhưng để có một mối liên lạc thân tình. Để mở trái tim Cha cho
con như một người si tình chỉ có thể sống được vì tình nhân. Người si tình theo dõi, tin
tưởng, tìm cầu tình yêu và bị những lo lắng ấy quấy nhiễu luôn. Cha đến như một người
bạn đến với bạn, một người anh đến với em. Như lang quân đến với tân nương của mình.
Cha đã cho con thấy những dấu rõ ràng là Cha tin tưởng con và con cũng đã cho lại Cha
những dấu ấy.
Đối với một tạo vật, khó có thể tin được tất cả những điều mà con đã tin cho đến bây giờ.
Ôi, đức tin, Cha sẽ đi đến với ai trên mặt đất này để được một lời an ủi. Tất cả những việc
con làm đều đáng được thưởng, và Cha là Thiên Chúa, Cha rất thông minh, Cha không
thể không cho con phần thưởng ấy. Cha muốn tỏ cho con biết trái tim nhân loại của Cha
với tất cả cái nhạy cảm của nó.”

Ngày 24/03/1970
Thứ Ba Tuần Thánh
“Ngày trọng đại để kết thúc tuần thánh sẽ là ngày đại lễ mà tình thương xót, công bằng sẽ
liên kết với nhau trong tình yêu vĩnh cửu của Chúa Cha, Chúa con, và Chúa Thánh Thần.
Sẽ không còn ai có thể nói là mình không được Chúa thương xót và tha thứ vì chính ngày
đó Chúa Cha yêu thương nhân loại đã hi sinh con yêu dấu của mình vì họ.
Tin mừng sẽ được rao giảng cho hết mọi dân tộc trước ngày tận thế để không ai có thể
chữa mình là không được biết nữa.

Ngày 29/03/1970

Lễ phục sinh.
“Cha đã qua một tuần chịu nạn đau đớn không thể tả về thân xác lẫn tinh thần. Thân xác
Cha hầu nhữ đã bị hư thối rữa, nhưng Cha đã tìm cách dấu kín điều đó hết sức. Cha chịu
tất cả vì mục đích lớn lao, cao cả của Cha.
Chúa GiêSu đã vắng mặt, người đến để cho người ta tìm kiếm người, khao khát người.
“Ôi,Lạy Chúa, nếu Chúa nói với con Con ơi như Chúa đã nói với Madalêna đau khổ
“Maria”, thì lập tức con sẽ vui mừng khôn xiết đáp lại Chúa ngay “Lạy thầy, lạy thầy
đáng tôn thờ, chính thầy đây phải không ?”. Và con nhận ra được Chúa đã sống lại.Hôm
nay, Lễ Phục Sinh, ngày hân hoan vui mừng mà tôi lại bị đau đớn vô cùng nhưng tôi
không thất vọng cũng không mất hăng say. Đến chiều, Chúa GiêSu không phụ tình tôi
nữa. Vì thế tôi mải miết tìm người,và người nói với tôi:
“Ôi, Cha sung sướng biết bao khi người ta tìm Cha như thế”.

Ngày 04/04/1970
Tôi nhạy cảm biết chừng nào về những phiền cực thể xác và tinh thần. Dù chỉ hơi 1 tí
cũng biết ngay tôi chịu để cầu cho một linh hồn. Chúa GiêSu hài lòng nói với tôi:
”Con hãy lướt thắng những phiền cực ấy vì phần thưởng của con trên trời rất trọng
đại.Con phải trưởng thành trong đưc khiêm tốn, con phải trưởng thành trong tình yêu.Đối
với người yêu Chúa chân thành tất cả đều có lợi”.
Vì Chúa biết dùng mọi phiền cực, mọi đau khổ, mọi nhẫn nại chịu đựng để làm lên vinh
quang cho người. Sau đó Chúa GiêSu an ủi tôi nhiều bởi tôi đã chịu phiền cực vì Người,
Người biết lắm.

Ngày 06/04/1970
Chúa GiêSu nói “Cha đã dựng lên con giống hình ảnh Cha và giống Cha phải chịu phiền
cực, chịu chống đối, chịu đau khổ”.

Ngày 07/04/1970
“Khi nói với con là Cha đã in hình ảnh Cha vào con thì Cha có ý nói về hình ảnh Thiên
Chúa tình thương, Cha không hứa với con là Cha sẽ không để con lầm lỗi, hãy bị khuyết
điểm gì nhưng là làm cho con nên trọn hảo trong tình yêu. Cha không hứa với con là Cha
sẽ cho con nên giống các thiên thần khi còn ở dưới đất nhưng sau này trên trời.”

Ngày 11/04/197

Về những khó khăn mà cha linh hướng gặp phải về cuốn sách tùy thân. Chúa GiêSu nói
“Hãy ý tứ vì đây là giờ của tối tăm, ma quỷ ghen tương tìm cách ngăn cản việc phát hành
nhưng hãy tin cậy vì yếu tố nhân loại cần hòa hợp với yếu tố Thiên Chúa. Khi Cha bị
đóng đinh trên Thánh Giá, đã có biết bao người tin kính Cha, tất cả mọi công việc của
Thiên Chúa đều được đánh dấu bằng Thánh Giá và bằng phản đối. Đó là ấn tín ”.

Ngày 30/04/1970
“Khoa thần học muốn nhốt Cha vào một cái vòng nhưng Cha, Cha không chịu bị chế
biến theo thời gian đâu. Quả thật, người ta đang nói những mạc khải chỉ được một thời
gian thôi.”
Mặc dầu có những cản trở chống đối phát hành cuốn sách tùy thân, Chúa GiêSu vẫn hài
lòng vì Người thấy Người được nhiều bàn tay niềm nở đón tiếp. Chúa GiêSu nói “Ôi,
người ta có những ý tưởng nghèo nàn chừng nào về Thiên Chúa của họ, cả đến những
người suốt đời miệt mài vào sách vở cũng thế, nhưng Cha, Cha mới chính là người thầy
dạy tuyệt vời về chính Cha.”.
Ùn ùn nổi lên nhiều khó khăn quá. Sách tùy thân bị từ chối cho phép in và khi đã được
phép lại chậm chạp. Dẫu vậy, Chúa GiêSu nói:
“Đó là điều tốt”.

Ngày 06/05/1970
Bây giờ không còn gì làm cho tôi nao núng nữa, tôi bình tĩnh và tin cậy, nếu phải là việc
Chúa, mà dĩ nhiên là thế thì Chúa biết cách đưa nó ra ánh sáng. Tình cờ tôi nghe tiếng
Chúa. Lúc ấy tôi đang thu dọn chén dĩa.
“Dụng cụ chỉ được dùng khi có lợi, xong việc rồi ta lại để nó vào một chỗ thôi. Nhưng
họa sĩ không bao giờ quên được bút vẽ của ông, cũng như nhà văn không bao giờ quên
được cây viết của mình.”

Ngày 22/05/1970
Tôi đến một bệnh viện để thực tập. Tôi làm việc một mình, vì thế tôi có thể cầu nguyện và
nói với Chúa rất nhiều trong đó chắc chắn cũng có nhiều chuyện ngây ngô. “Ôi , Lạy
Chúa GiêSu của con, xin giúp con nên như Chúa muốn, xin cho con nên thành một ngọn
lửa tình yêu” và Chúa GiêSu đáp lời tôi:
“Con phải dịu hiền và cảm thông hơn với những anh chị em lầm lỗi vì không phải Cha đã
cho mọi người 10 nén bạc cả đâu.”.

Ngày 30/07/1970
“Con yêu dấu, những lời con nói chan hòa niềm tin tưởng và cậy trông. Thế là con đã tin
vào lời Thiên Chúa của con rồi. Cha có thể để con bị lừa không. Làm thế không xứng với
một con người, huống nữa là Chúa GiêSu của con. Vậy con hãy cứ tin tưởng, cậy trông
và tìm cách gieo niềm cậy trông ấy vào các linh hồn khác nữa. Đường con phải đi chính
là yêu mến.”

Ngày 06/08/1970
“Đừng ham muốn gì khác ngoài tình yêu mến Cha. Cha đã yêu mến con bằng một tình
yêu vĩnh cửu. Hỡi con, Cha không xin con điều gì khác ngoài tình yêu mến. Từ đời đời
Cha đã yêu con, hãy biết lấy tình yêu đáp lại tình yêu của Cha. Cha là Thiên Chúa ghen
tương và yêu sách, Cha thử các linh hồn để xem Cha có nhận lại được vàng ròng không ?
Phần Cha, Cha đã ban mình trọn vẹn, không cần đền đáp, cũng không chia sẻ.”

Ngày 08/08/1970
Trong lúc Chầu Mình Thánh tôi nghe tiếng nói với tôi:
“Phép xuất bản sẽ đến để cha linh hướng được vui mừng và an ủi”.
Tôi tự nghĩ:”Làm sao có được, bao giờ mới có, sau khi tôi chết chăng ? Không biết nữa.”

Ngày 10/09/1970
Ngày qua tháng đoạn, ôi khô khan biết chừng nào? Chúa gọi đó là nhật thực. Chúa
GiêSu nói :
“Mặt trời không phải không sáng chói lọi trong lúc nhật thực, đấy chỉ là những hành tinh
đứng xen nhau tránh không cho ta xem thấy mặt trời thôi. Khô khan chỉ là cơn mây mù
của đức tin”.

Ngày 02/10/1970
“Biết bao lần Cha kề bên Cha với Thánh Giá mà con không nhận ra Cha. Một linh hồn
càng khốn nạn, tội lỗi càng có quyền hưởng tình thương xót và ơn tha thứ của Cha.
Những quyền lợi mà người con phung phí được hưởng là quyền dự tiệc mừng, quyền dự
tiệc cưới, quyền được đeo nhẫn giao hòa.”

Ngày 11/01/1971
“Đã đến giờ phải tỏ cho thế giới biết nỗi thống khổ của Cha.”

Ngày 14/01/1971
“Con đừng chia trí những gì khác ngoài Cha, chúng ta đang ở trong cuộc tâm sự thân
mật. Cha cần phải yêu con. Cha cần. Cha nói rõ, Cha là Đấng Tạo Dựng lên con, là Thiên
Chúa, là Cha Toàn Năng nhưng Cha cần hơi thở của con, sức nóng của con, và cái hôn
tình ái của con. Chắc hẳn con ngỡ ngàng và muốn hỏi Cha “Làm sao có thể như thế
được”…
Đó là chỉ vì Cha cần tình yêu, cần rất nhiều tình yêu. Cha cần tất cả thứ tình yêu ấy mà
người ta lại khước từ Cha. Đó là lí do con phải tăng cấp tình yêu của con để yêu mến
Cha. Có Thiên Chúa nào cần tạo vật hơn Cha không? Sao con lại có thể không xem thấy
Cha, không nghe thấy tiếng Cha, các con không nhận thấy Cha hiện diện ở khắp nơi sao ?
Cha thinh lặng đi qua giữa các con, điều đó đúng. Nhưng ở trước mặt Cha, nước chảy và
đổ xô tất cả. Các tầng trời rung động, sấm sét vang rền. Đó là Cha đi qua mà các con
không thấy. Cha đi qua để tìm, để xin, để cảnh cáo, để van nài, Cha đi qua để tìm tình
yêu.

Ngày 04/06/1971
Chúa GiêSu nói: “Phép xuất bản mà con mong đợi sẽ được nhờ Cha Vexe. Cha linh
hướng đã nhận lo xuất bản và tất cả những gì liên hệ.”
Tôi lại nghe Chúa GiêSu nói là đặt nhan đề cho sách là “Sách tùy thân của linh mục và
tu sĩ ”.

Ngày 03/07/1971
Chúa GiêSu nói : “Cha đã chọn con làm máy phóng thanh của Cha, nên Cha lồng trái tim
con vào Trái Tim Cha, con ơi con, một sự khác biệt lớn lao giữa Trái Tim Thiên Chúa
của con và trái tim của nhân loại là ban ơn mà chỉ nhận toàn bội bạc. Con ơi, Cha yêu
thương con, nỗi cay đắng của con ghê gớm thật nhưng nhờ đó trái tim con sẽ lên giống
Trái Tim Cha. Quả thật, nó sẽ như thế đó. Tình thương xót của Cha sẽ thắng vì người ta
sẽ không còn có thể không nghe biết về tình yêu của Cha được nữa.
Nguồn memaria.org