You are on page 1of 5

1

“Cuối cùng tình yêu ... ...


đã thắng mọi trở ngại”

Quan niệm sống theo Phong Tục và Tập Quán đã khiến cho một người cha
đoạn tình với cậu con trai khi cậu ta cưới một nàng dâu khác sắc tộc trái với ý
định của người cha. Thế rồi cuối cùng nuớc mắt luôn chẩy xuôi... và hoàn cảnh
biến đổi vào giờ phút cuối đời của người cha.

By Thảo Nguyên

Cho tới nay, tôi vẫn không thể ngờ chuyện kết hôn của tôi đã đưa đẩy cha tôi đến chỗ
tuyệt tình với tôi như vậy. Chính sự kết hôn bản chất không làm cho ông buồn về tôi, vì ông
hằng mong muốn tôi kết hôn sớm để ông sớm có cháu đích tôn. Quan niệm nối dõi tông
đường luôn ám ảnh trên cuộc sống của ông. Ông hay thúc dục tôi mau lấy vợ để ông có thể
nhìn thấy cháu nội nhởn nhơ trong nhà trước khi ông nhắm mắt về với tổ tiên. Lý do chính
ông bất mãn với tôi là con dâu trưởng của ông không phải là mẫu người ông mong đợi. Ông
muốn tôi phải lấy người mà ông chọn lựa. Theo ông người ấy phải là người: thuộc về gia
đình gia giáo, phải môn đăng hộ đối, và phải là người Việt Nam. Helen, người bạn đời của tôi
lại không có đủ ba tiêu chuẩy này. Nàng là một cô bé mồ côi từ nhỏ và được gia đình dì ruột
nuôi nấng và cho ăn học tới hết lớp 12 rồi theo nghề giáo chức cấp tiểu học. Nàng không phải
là người Việt Nam. Nàng là người Thái Lan được Dì nàng bảo lãnh sang Úc theo diện con
nuôi sau khi bố mẹ nàng chết vì tai nạn xe cộ.

Khi tôi đưa Helen về ra mắt cha mẹ, cha tôi tiếp nàng một cách rất là lạnh nhạt. Nàng
buồn rồi xin phép ra về mà không ỏ lại ăn cơm tối như tôi đã xếp đặt trước. Sau cơm tối hôm
đó, cha tôi nói riêng với tôi và trước mặt mẹ tôi rằng “Dứt khoát tao không bằng lòng cho
mày lấy con Helen làm vợ. Nếu mày không nghe tao thì mày tự mà liệu lấy và đừng bao giờ
vác mặt về nhà này nũa! Còn mày muốn còn tình cha con thì phải bỏ con Helen và lấy con
Lan vì tao và mẹ mày đã có lời ngỏ ý vói ông bà bên đó rồi.” Nói xong ông bỏ lên phòng
ngủ. Mẹ tôi trấn an tôi là cứ để từ từ xem sao. Mẹ hứa sẽ giúp tôi lo cho xong chuyện này. Ít
tuần sau thì chị gái tôi và các em tôi biết câu chuyện căng thẳng giũa cha tôi và tôi. Họ cũng
ngạc nhiên về thái độ cứng rắn của ông.

Theo tôi nghĩ Helen chẳng có lỗi gì: nàng mồ côi và không thuộc về gia đình gia giáo là hoàn
cảnh không may của nàng diễn ra như vậy. Nàng không phải là nguời Việt Nam thì càng
không phải là lỗi của nàng nữa mà cũng chẳng phải là lỗi của ai. Còn cô Lan người mà cha
tôi thu xếm cho tôi là ai thục sự tôi chưa bao giờ gặp, hay tình cờ gặp ở đâu đó tôi cũng chẳng
nhớ.

Sau khi suy nghĩ, tôi đã đi đến quyết định cho cuộc đời của tôi: tôi sẽ sống đời ở kiếp với
Helen. Lý do không phải tôi muốn phản bác cha tôi. Tôi không muốn phê phán quan niệm lỗi
thời mà ông muốn áp đặt lên thế trẻ như tôi. Tôi vẫn kính trọng cha tôi, Tôi muốn sống cho
mình, nên quyết định tôi kết hôn với Helen là vì tình yêu của hai đứa chúng tôi. Chúng tôi có
quyền yêu nhau và sống với nhau. Theo luật đời chúng tôi là hai công dân hợp pháp. Theo

2
tôn giáo chúng tôi là người cũng giữ đúng luật đạo Công Giáo. Helen chấp nhận học giáo lý
và chịu rủa tội và sống đạo theo Giáo Hội Công Giáo Roma. Tôi rất buồn khi chuyện này làm
cho cha tôi thất vọng về tôi, Thế nhưng tôi không thể hy sinh tình yêu của tôi, đời sống của
tôi, chỉ vì ý muốn của cha tôi.

Vào ngày tôi thưa chuyện về quyết định của tôi với cha mẹ tôi, cha tôi vô cùng tức giận.
Ông đứng lên chỉ tay vào thẳng mặt tôi và quát: “Hãy cút ra khỏi nhà tao! Từ nay tao không
còn cha con với mày nữa! Và cũng từ nay không bao giờ tao muốn nhìn thấy mặt mày nữa
nghe chưa! Hãy đi cho khuất mắt tao ngay bây giờ!” Tôi ức đến nghẹ ngào mà không nói lên
lời nào khác. Mẹ tôi ôn tồn nói: “Thì bố mày cứ bình tĩnh và thủng thẳng mà nói với con
mình không được sao?” Cha tôi quạt luôn cả mẹ tôi: “Bà còn muốn bênh nó hả?” Tôi đành về
phòng thu dọn quần áo và gọi điện thoại cho chị gái tôi biết chuyện. Chừng mười phút sau chị
tôi đến đón tôi về ỏ tạm nhà chị.

Helen tỏ ra buồn và trong hoàn cảnh như vậy chúng tôi lại cảm thấy thương yêu nhau
hơn. Nàng ngoan ngoãn tham dự các buổi học giáo lý tân tòng rất đúng giờ và cũng mau
hiểu biết giáo lý và biết sống đạo thế nào cho xứng danh là người Kitô hữu. Sau sáu tháng
học giáo lý, Helen được rửa tội và lãnh phép thêm sức. Cha Sở của Giáo Xứ nơi nàng cư ngụ
nói rằng nàng nên lãnh nhận hai bí tích này trước để khỏi quá bận bịu vào ngày làm lễ cưới,
đồng thời việc tách ra hai lần như vậy cũng tạo điều kiện cho nàng chuẩn bị chu đáo lãnh bí
tích hôn phối. Hôm nàng nhận bí tích rửa tội, mẹ tôi, chị tôi và các em tôi đều có mặt đông
đủ. Mẹ tôi khóc khi Cha Sở xối nuớc lên đầu Helen lúc đọc lời rủa tội theo nghi thức. Có lẽ
mẹ tôi nhớ đến cha tôi và tiếc rằng ông không hiện diện trong thánh lễ quan trọng của vợ tôi
vào ngày hôm nay. Khi nàng lên rước lễ cùng với tôi, tôi thấy có một nguồn cảm xúc kỳ lạ
nào đó trào dâng trong tâm hồn. Tôi nghĩ đây là tình hiệp thông giữa nàng và tôi trong Bí
Tích Thánh Thể là khỏi đầu cho cuộc kết hợp trăm năm của chúng tôi: Cùng một Thánh Thể
Chúa Giêsu ngự trị trong hai tâm hồn chúng tôi. Tôi càu xin Thiên Chúa cho chúng tôi được
bền vững hợp nhất với nhau.

Suốt hai tháng sau đó, tôi vẫn có một mong ước là cha tôi sẽ đổi ý mà chấp nhận Helen
là con dâu của gia đình. Mẹ và chị gái tôi có đưa chuyện này ra thưa chuyện với cha tôi,
nhưng cha tôi vẫn một mực không thay đổi. Ông còn cấm mọi người không được đến tham
dự lễ cưới hay tiệc cưới của tôi. Đến ngày cưới, mẹ tôi cho biết mẹ không thể tham dự được
vì cha tôi muốn như vậy và bà không có cách nào hơn, nhưng bà nói rằng bà lúc nào cững
chúc lành và cầu nguyện cho vợ chồng chúng tôi. Chị tôi và các em tôi nói rằng cha tôi cư xử
như thế là quá đáng, còn nói Helen đâu có tội tình gì và bản thân tôi cũng có làm gì đáng tội
để cha tôi phải cấm đoán như vậy. Vào ngày cưới, chị tôi và các em trai, gái, dâu, rể đều có
mặt đông đủ. Họ hết mình giúp đỡ tôi về mọi mặt miễn sao cho vợ chồng tôi được vui vẻ và
đám cưới diễn tiến chu đáo. Tôi thông cảm cho mẹ tôi, thật là một bà mẹ biết thương con và
cũng biết chiều chồng. Việc mẹ tôi hiện diện ngày cưới của tôi thì cũng vui nhưng sau đó mẹ
có thể phải đối đầu với những lời căn nhằn của cha tôi, nên tôi rất thông cảm cho thế đứng
của mẹ tôi.

Vợ chồng chúng tôi ở tạm nhà chị gái thêm ba tháng nữa mới dọn về nhà riêng. Tiếp
theo đó là dịp Tết Nguyên Đán. Tôi chưa kịp báo cho mẹ tôi biết là chúng tôi sẽ về nhà tết
cha mẹ cho đúng tình hiếu thảo, nhưng mẹ tôi điện thoại cho tôi biết là đừng nên về dù là đi
một mình tôi cũng không nên vì có thể xẩy ra chuyện lớn làm mất vui cho ngày tết của gia
đình. Tôi không còn cách nào khác phải đón nhận thực tế phũ phàng. Tuy nhiên có một điều
an ùi là vào ngày ông táo về trời, mẹ tôi, gia đình chị gái tôi, cùng các em tôi đến thăm chúng

3
tôi và ở lại ăn với chúng tôi một bữa cơm gia đình lấy cớ là ăn mừng tân gia. Tôi không biết
cha tôi có được báo về chuyện mọi người đến thăm chúng tôi đông đủ và ở lại ăn cơm như
thế hay không. Ông nghĩ sao về việc mọi người đều chấp nhận Helen vào gia đình?

Gần một năm sau Helen sinh đứa con trai đầu lòng. Mẹ tôi thường xuyên thăm cháu nội
và cũng giúp đỡ việc lặt vặt trong nhà cho vợ con tôi. Mẹ tôi nói cha tôi khi nghe biết ông
có cháu nội và cũng là đứa cháu đích tôn của ông ông lặng yên không nói năng gì. Mẹ tôi nói
tôi cứ bình tĩnh, và trước sau gì cả gia đình cũng sẽ an vui đầm ấm như ngày nào thôi. Tôi
nhẫn nhục chờ đợi và cũng luôn cầu nguyện cho mọi người trong gia đình, nhất là cầu cho
cha tôi chóng nhìn nhận con dâu trưởng và cháu nội đích tôn của ông. Tôi nghĩ việc cha tôi
để cho mẹ tôi lui tới thường xuyên thăm và săn sóc vợ chồng tôi và con chúng tôi đó cũng là
một thiện chí của ông rồi. Nhũng dịp mẹ tôi đến thăm Helen, nàng cố gắng học nói tiếng
Việt với mẹ tôi. Bà không biết tiếng Anh nhưng luôn tỏ ra kiên nhẫn dạy đứa con dâu của bà
nói tiếng Việt, ăn cơm Việt. Khi nàng hiểu nhiều Tiếng Việt thì mẹ tôi nói thêm cho nàng
hiểu về phong tục Việt Nam, bà không quên nói đến tứ đức tam tòng là đạo nghĩa của người
con gái Việt Nam.

Ba năm sau Helen sinh đúa con thứ hai là con gái, sinh hoạt gia đình tôi cũng vẫn bình
thường. Cha tôi và tôi vẫn chưa có dịp gặp lại nhau, và ông cũng chưa tỏ thái độ hay dấu
hiệu gì là chấp nhận chúng tôi là phần tử trong gia đình. Đối với tôi, sự áy náy lương tâm
thuở ban đầu cũng ngày một nhạt nhòa dần khiến cho tôi chẳng còn quan tâm nhiều nữa. Vợ
chồng tôi bận bịu chạy đua với thời gian sáng trưa chiều tối, để lo cho con cái và công việc
làm ăn sao cho sinh hoạt diễn tiến nhịp nhàng bảo đảm hạnh phúc gia đình. Có điều tôi vẫn
chưa hề tuyệt vọng và vẫn luôn cầu nguyện xin Thiên Chúa ban xuống gia đình niềm vui an
bình trọn vẹn.

Mãi tới khi con gái vùa sinh được sáu tháng, mẹ tôi cho biết cha tôi phải vào nhà thương vì
bệnh tim. Tôi rất buồn và muốn đến thăm ba tôi nhưng mẹ tôi nói chưa phải là lúc thăm vì
gặp tôi ông có thể phẫn uất khiến cho cơn bệnh có thể lâm vào tình trạng nguy hiểm. Đến bây
giờ tôi mới cảm thấy thương nhớ cha tôi hơn bất cứ bao giờ hết. Người ta chi có một cha một
mẹ, dù thế nào đi nữa vẫn là cha là mẹ mình. Hàng ngày tôi luôn liên lạc với mẹ và anh chị
em khác để hỏi thăm sức khỏi của Cha tôi. Tôi vẫn kiên trì cầu nguyện.

Thế rồi vào một buổi chiều, đứa em gái điện thoại cho tôi báo rằng cha tôi muốn gặp vợ
chồng và hai đứa cháu nội. Tôi bàng hoàng không biết có phải mình đang năm mơ hay
chăng, nhất là không biết bệnh tình của cha tôi biến chuyển thế nào mà ông đổi ý và muốn
gặp vợ con tôi. Chị gái tôi lái xe đưa chúng tôi đến nhà thương. Tôi dắt thằng con trai, còn vợ
tôi thi bồng đứa con gái đi vào phòng bệnh. Cha tôi nằm trên giừờng bệnh gương mặt tỏ ra
mất sắc rất nhiều. Tôi cúi đầu chào ông, đồng thời đẩy con trai tiến gần bên cạnh giường và
ấn vai nó xuống nói: “Con chào ông nội đi con!” Chẳng biết thế nào con trai tôi thấy vai
mình ấn xuống nên theo đà nó liền qùy thụp xuống sàn nhà và áp úng chào: “Con... chào...
chào ông nội!” Nhìn thấy con tôi vội quỳ xuống và lên tiếng chào ông nội như thế bỗng
nước mắt tôi trào ra, như quá cảm động về cái giá của thời gian chúng tôi phải trả cho giây
phút xum họp gia đình của ngày hôm nay. Cùng lúc đó vợ tôi cũng tiến đến và chào: “Con
chào bố!” Cha tôi nở một nụ cười héo hon của tuổi già. Ông ra hiệu cho cháu nội đứng lên và
cất tiếng nói : “Ừ!” Tôi hỏi thăm về bệnh tình của ông, ông trả lời nhát gừng với giọng nóí
mệt mỏi. Vợ tôi cũng hỏi chuyện và cha tôi ngạc nhiên về giọng nói Tiếng Việt quá sõi của
Helen. Như để an ủi con dâu, cha tôi bảo nàng đưa con gái chúng tôi cho ông bồng. Vợ tôi
cảm động đến đỏ mặt và cũng rơi cả lệ nữa.

4
Cuối cùng lời cầu nguyện trong niềm cậy trông nơi Thiên Chúa đã được Ngài chấp
thuận. Tôi tiếp tục đưa con trai của tôi vô bệnh viện hằng ngày để cho ông vui vì có dịp gặp
cháu đích tôn của mình. Có điều niềm vui xum họp gia đình chẳng được mấy ngày thì cha tôi
đã nhắm mắt với cơn hấp hối trong vòng tay thương mến của mọi phần tử trong gia đình.
Lương tâm tôi không còn áy náy nhiều nữa khi nhìn thấy vòng khăn tang của vợ con tôi cùng
với gia đình đi theo quan tài của cha tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Có điều tôi vẫn thắc mắc và suy nghĩ về việc tôi tự quyết định kết hôn với Helen không
có sự đồng ý của cha tôi. Việc tôi làm đã dẫn đến hiệu quả cha tôi tuyểt tình như vậy
đúng hay sai? Nếu đúng thì tại sao lưong tâm tôi lúc nào cũng cảm thấy không yên ổn. Mà
nếu không đúng. thì lỗi này đến từ đâu. Bởi cha tôi? Do bản thân tôi? Cho tới bây gìờ tôi mới
có câu trả lời tạm ổn. Đó là: sự gắn bó với phong tục tập quán của cha tôi đã tạo nên một tâm
thức riêng hướng dẫn ông phải sống như thế nào cho phải.

Qua đó tôi mới hiểu thêm rằng các nhà truyền giáo đã từng gắn bó với tình mến Chúa yêu
người nên đã xả thân trên các cánh đồng truyền giáo để phục vụ tha nhân. Bao nhiêu người
Kitô hữu khác đã quá gắn bó và sống thực với niềm tin yêu Thiên Chúa nên dù có phải chết
cũng muốn chết cho niềm tin của mình. Các thánh Tử Đạo là đã từng chịu chết để chứng
minh lòng trung thành với niềm tin.