Thay lời giới thiệu Trạng thái khó xử của một hành giả Trong thời điểm bắt

đầu của hành trình tâm linh, một hành giả nhất thời vẫn duy trì mối liên hệ với cộng đồng xung quanh. Mặt khác anh ta chưa tích luỹ đủ một thế năng dồi dào về phương diện tâm linh nên việc xuất hiện những vấn đề cần dàn xếp giữa cá nhân và cộng đồng là điều đương nhiên. Tôi gọi đó là trạng thái khó xử của một hành giả. Điều đầu tiên hành giả phải đối mặt là thái độ khinh mạn và thiếu thông cảm của những người xung quanh. Điều này đặc biệt trở thành một tác động tiêu cực và trầm trọng đối với hành giả nếu như nó xảy ra ở những người thân của y. Kinh nghiệm của tất cả những hành giả cho biết tìm được người thân có cùng quan điểm và tôn trọng thực hành của mình thì hiếm hơn cả các nguyên tố đất hiếm. Tiếp theo hành giả bị khó xử khi nhiệt tình của y bị mọi người dè bỉu và hắt hủi. Chẳng qua là y quá quyết tâm và từ bi chia sẻ chân lý với những người xung quanh, nhưng trí huệ của y chưa xuất hiện đủ để có thể áp dụng phương tiện thiện xảo. Các năng lực tiên tri, thấu thị của y trở thành chủ đề đàm tiếu của mọi người và điều này là thử thách to lớn cho hành giả. Trong vài chục năm thậm chí lâu hơn nữa, hành giả phải chiến thắng chính mình để nhận thức được rằng nhân gian là si ngốc và đáng thương chứ không đáng giận. Chỉ đến khi đó, hành giả mới lập lại được trạng thái an bình nội tâm và đi tiếp. Nỗi khó xử tiếp theo sẽ là sự đối diện với thói đố kỵ của những người nghiên cứu tâm linh. Bản thân những người này không nhận ra mình đang đố kỵ, nếu nhận ra thì họ đã hối hận và sửa chữa. Vấn đề thú vị chính là ở chỗ đấy, chỉ có hành giả nhận ra các biểu hiện của thói đố kỵ đang hun đốt tâm can của người đối diện Nhưng không thể chỉ ra và cứu chữa cho y bởi vì ngay lập tức y sẽ phát khùng lên…và cuộc trao đổi tâm linh đi vào bế tắc. Hạnh phúc thay nếu y có được một người thầy tâm linh mà y đặt trọn niềm tin. Tại đó y có thể trao đổi tất cả không e dè và không bị nhân gian khi dễ. Tuy nhiên nếu không có trường học lớn đó thì liệu hành giả có thể trưởng thành được chăng??? ( 27.10. 2008) Bài viết số 1 Sự giải thoát của tâm trí Bây giờ là lúc tôi nhường lại diễn đàn cho quý vị… Dù quý vị có sự khác biệt về tuổi tác, giới tính, trình độ, tín ngưỡng, tính cách…v.v…thì quý vị vẫn đang tồn tại trong một thế giới vật chất và điều này là tốt lành! Đôi khi quý vị thư giãn và lắng nghe các giai điệu cuộc sống. Có thể là tiếng thác đổ, tiếng sóng biển…hay tiếng gió rít trên mái nhà vào đêm giao mùa… Thường xuyên hơn quý vị có lẽ chọn được cho mình và người thân những giai điệu trữ tình…và vì đang tồn tại trong thế giới vật chất nên quý vị sẽ dùng một thiết bị âm thanh để khuếch tán vào không gian các bản giao hưởng hay các tình khúc… Điều này thật tốt lành! Đôi khi các giai điệu cuộc sống không nhất thiết xuất hiện dưới dạng thức âm thanh. Nếu quý vị lặng lẽ ngắm bình minh, ngắm hoa nở, ngắm tuyết rơi…hay vuốt ve một tặng vật

của người thân yêu…thì trong tâm hồn của quý vị cũng đang vang lên những giai điệu không âm tuyệt vời của cuộc sống. Tôi thấy những điều đó thật trọn lành! Thế rồi có những lúc quý vị không thể cưỡng được tính hiếu kỳ của bản thân… Có lúc tôi chợt so sánh một cách ngây thơ rằng tính tò mò của con người thật giống một thứ “siêu giác quan” chi phối diện rộng mọi hành vi và vận động tư duy của con người. Hiển nhiên quý vị đồng ý với tôi là tất cả chúng ta đều chịu ơn đặc tính hiếu kỳ này. Thật vậy! Làm sao mà bản thân mỗi chúng ta hay toàn thể xã hội có thể phát triển nếu nhân loại không chịu tìm tòi khám phá… Điều này thật tốt lành! Cũng vậy, thường xuyên quý vị tư duy theo xu hướng phủ định và bộc lộ sự phủ định thành hành vi một cách có hoặc không có ý thức. Xu hướng này cũng ước thúc nhân loại như một thứ “siêu ý chí”. Điều đó giúp cho sự kiện duy trì và bảo tồn các giá trị cá nhân của mỗi người. Trực tiếp hay gián tiếp điều đó làm cho các giá trị cá nhân cũng như xã hội không ngừng được cải thiện… Do đó điều này cũng thật trọn lành! Cuối cùng không ai trong quý vị có thể phủ nhận rằng trong tâm hồn quý vị có một quan tâm rất lớn cho tình yêu. Không chỉ giới hạn trong tình yêu đôi lứa, đặc trưng vĩ đại này của nhân loại còn thể hiện trong tình yêu thương đồng loại, niềm tri ân, sự quan tâm đến những cá nhân quen biết hay xa lạ…Đặc trưng tình yêu này không chỉ giới hạn trong các phần tử hữu hình hữu hạn mà còn có xu hướng vươn tới các khái niệm siêu hình…như một tình cảm vũ trụ! Điều này thật trọn lành! Như vậy dù chúng ta không ai giống ai nhưng tất cả chúng ta đều đang sống trong một xã hội vật chất và chúng ta sẽ thả hồn mình vào lúc vắng theo một mô-típ vận động tinh thần gồm bốn bước: + lắng nghe và hòa mình vào các giai điệu cuộc sống + ý thức khám phá thế giới xung quanh, bên trong cũng như bên ngoài cơ thể + phủ định các giá trị không trường tồn để ngày càng tiệm cận các giá trị có vẻ trường tồn hơn. (Tiếc rằng tất cả mọi giá trị vật chất hay tinh thần trong vũ trụ đều vô thường nên con người cứ phủ định hoài không thôi!) + tình yêu. Vô hình dung quý vị đang hiện thực hóa tâm trí và tiến tới những vấn đề thuộc về bản thể luận: ý nghĩa của đời sống, tình yêu là gì, vũ trụ có tận cùng không, thời gian là gì, bản chất của không gian…v.v… Và rồi quý vị tư duy rằng có một con đường dẫn đến sự giải thoát. Nhưng trong quá trình đi tìm con đường đó, quý vị không ngừng hiện thực hóa tâm trí… Tâm trí khốn khổ được khoác lên những phục súc lòe loẹt của những giáo phái vĩ đại, những giáo lý tuyệt diệu, những pháp môn bất nhị... Ôi! Những câu thần chú…! Hiển nhiên là quý vị sẽ có vẻ đi đúng đường, nhưng làm sao có thể giải thoát bản thân thật sự nếu quý vị ngăn nhốt tâm trí trong những nghi quỹ ngặt nghèo của một thực hành tôn giáo hay áp đặt cho tâm trí một tư duy hữu tuyến…”Phải thế này mới đúng”…hic… Thực sự là tôi vẫn đang nhường diễn đàn cho quý vị và quý vị chả cần thiết phải tin tôi. Nhưng tôi nghĩ quý vị không thể thờ ơ với lời của Đức Phật Thich-ca Mâu-ni: “Này, các đệ tử, cái được hưởng của đời sóng thánh thiện không phải là cái đi xin, không phải là danh vọng, tiếng tăm, không phải là những đức hạnh tu hành, không phải là hạnh phúc được tìm thấy trong thiền định, không phải là hào quang phát ra từ nội tâm, mà là sự giải thoát vĩnh viễn của tâm”. (Trung A-hàm – Majjhimanykaya) Tôi luôn mong quý vị được an trú trọn lành và sớm đạt đến một tâm trí giải thoát! (14.10.2008)

Bài viết số 2 Nhận thức về Bốn Cửa, Ba Đích và Bốn Chiến Thắng Bốn Cửa: + đang kinh nghiệm tri giác hư vọng + đang nuôi dưỡng bản ngã + đang nhận về đức tin + đang cho đi tình thương. Ba Đích: + tính thấy (rigpa) + thoát khổ + Phật tính thị hiện trong ba thân Phật. Bốn Chiến Thắng: + các chướng ngại của các kinh nghiệm tạm thời về định (samadhi) + các chướng ngại của bệnh tật + các chướng ngại của ý tưởng về chư Thiên, ma quỷ trong tâm + các chướng ngại do ô nhiễm tạm thời của hoàn cảnh xấu. (15.10.2008) Bài viết số 3 Làm thế nào để đạt đến quả vị giải thoát Tôi đang viết cho quý vị như một thông điệp được ban phước bởi đại nguyện của chư Phật. Xin quý vị đừng hồ nghi gì về những gì tôi viết với danh xưng và dòng phái mà quý vị đang thực hành. Bởi vì mọi con đường đều chung một đích nhắm là sự giải thoát và mọi con người giải thoát đều là Phật. Như vậy dù quý vị có sự khác biệt về con đường hay các đặc điểm cá nhân thì thông điệp này vẫn giữ nguyên ý nghĩa. Sở dĩ tôi sử dụng hệ thống ngôn ngữ này không phải chỉ vì tôi là một Phật tử. Công bằng mà nói tôi thấy rằng đây là hệ thống ngôn ngữ phong phú nhất, chi tiết và chính xác nhất… đủ để mô tả hành trình tâm thức của một người đến đích cuối cùng: sự giải thoát vĩnh viễn của tâm. Có một việc nhỏ cũng cần cứu xét nữa là cá nhân tôi có đủ tư cách để chuyển tải thông điệp này đến quý vị hay không? Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về vấn đề này và xác lập mối liên hệ hoàn toàn riêng tư, không khi nào có ảnh hưởng tiêu cực đến quý vị. Việc quý vị khởi phát niềm tin đối với cá nhân tôi không quan trọng, thậm chí không hề có ý nghĩa một chút nào. Bởi vì cánh cửa đại nguyện của chư vị thành tựu thì luôn rộng mở và khi hành trình duyên nghiệp của một hành giả tiệm cận thì y tự nhiên xuất hiện thái độ ứng xử thỏa đáng. Điều này không bị ảnh hưởng đáng kể do các ảnh hưởng ngoại lai… Kinh nghiệm cá nhân của tôi cũng đã cho thấy rằng thuyết phục để có thể thay đổi niềm tin của một con người thì khó khăn biết nhường nào. Tôi cầu nguyện và trông cậy ở niềm tự tín của quý vị! - Quý vị tự tín điều gì?! Điều gì để có ích lợi tức thì cho sự giải thoát?! - Đó chính là niềm xác tín sâu sắc vào đại nguyện của chư vị thành tựu.

Sau khi khởi phát sự tín tâm như vậy quý vị nên tìm kiếm một truyền thống đáng tin cậy thông qua một vị thầy tâm linh. Vị thầy này nên được khảo sát kỹ lưỡng thông qua kinh nghiệm của chính bản thân quý vị chứ không phải thông qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc đại loại như vậy… Hành trình tiếp theo là nên thực hiện nghi lễ gia nhập truyền thống đó. Truyền thống Phật giáo gọi nghi lễ đó là lễ quy y. Tùy theo nguyện vọng và hoàn cảnh cá nhân của mỗi người sau đó mà quý vị có thể trở thành một tu sĩ chính thức hay một cận sự nam, nữ của Tăng đoàn. Xin quý vị đừng băn khoăn về tình trạng hiện tại của quý vị có thể ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc giải thoát. Phật quả thành tựu tại tâm của mỗi mỗi hành giả mà không phải thông qua bất cứ hình thức trung gian nào. Nhân danh cá nhân, tôi khẳng định và hoàn toàn chịu trách nhiệm về điều này. Bản thân tôi cũng chỉ là một cận sự nam của Tăng đoàn, nhưng tôi thành tựu niềm xác tín lớn lao vào năng lực giải thoát của tất cả mọi người bao gồm cả tôi và mỗi người trong quý vị. Chính trong niềm xác tín này như nguồn động lực chính đáng duy nhất và thù thắng mà tôi có thể có đủ sự dũng cảm để chia sẻ với quý vị những dòng tâm sự này bất chấp thái độ của quý vị. Tóm lại là dù quý vị là một cư sĩ hay một tu sĩ thì ơn màu của Phật pháp đều tưới thắm quý vị. Nhận thức này theo tôi có quan hệ rất lớn! Nếu quý vị cả tin vào điều này thì quý vị mới có thể dẹp bỏ được những hồ nghi vi tế. Như vậy sự thực hành của quý vị mới có hiệu quả và tiến bộ vững chắc được! Tôi xin cam đoan rằng chỉ như vậy đã hoàn toàn có đủ cơ sở để khẳng định năng lực giác ngộ tự nhiên của mỗi người trong quý vị. Mỗi quý vị có thể trưởng thành những cách thức rất khác nhau nhưng đều tắm nhuần trong niềm tin vào sự mầu nhiệm của Phật pháp và cùng hướng tới quả vị giải thoát như nhất. Tóm lại, đầu tiên quý vị khởi phát niềm tin vào sự hộ trì của chư Phật. Chư vị đã thành tựu sự giải thoát cá nhân cũng như thành tựu nguyện lực để gia trì cho tất cả chúng hữu tình. Thứ nhì quý vị khởi phát niềm tin vào dòng truyền thừa mà vị đạo sư là đại diện cho truyền thống. Tiếp theo quý vị nên khẳng định niềm tự tín vào năng lực giải thoát của bản thân. Cho đến lúc này quý vị đã vạch ra cho mình một lộ trình hợp lý. Quan trọng hơn là quý vị đã có được thái độ đúng đắn để tận dụng tốt nhất cơ hội làm người của mình. Việc quý vị thực hành miên mật hay chểnh mảng sẽ quyết định hành trình của mỗi người nhanh chóng hay chậm rãi. Nhưng tôi dám quyết là không có ai trong những người đã khởi phát tín tâm sâu sắc lại có thể bị thoái lui trong hành trình đi đến Phật quả. (16.10.2008) Bài viết số 4 Quả vị Arhat đối với người cư sĩ Arhat trước tiên là một danh từ để trỏ người đắc Thánh quả cao nhất trong hành trình tâm linh theo truyền thống Đông phương. Cụ thể là nền văn minh Ấn – Hằng. Theo quan niệm của truyền thống này thì Arhat là các vị Thánh có quyền năng và vượt thoát luân hồi. Có vô vàn nhiều các mô tả để giúp quý vị hình dung về một vị Arhat. Tuy nhiên sự mô tả này không thể không gây hoang mang cho người tiếp cận. Bởi vì người ta luôn gặp khó khăn trong việc kiểm chứng những sự kiện siêu nhiên; khó khăn trong việc

lĩnh hội các khái niệm siêu hình và phân vân trước những khái niệm chồng chéo mâu thuẫn. Tôi nghĩ rằng đây là một vấn đề quan trọng, bởi vì nếu chúng ta không có các thông tin chính xác về Thánh quả này thì chúng ta sẽ trở nên phân vân ít nhiều trong việc phấn đấu tu tập. Điều này là đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn sau chót của cuộc hành trình. Bởi vì chỉ cần thiếu vắng chính tư duy trong một sat-na, hành giả có thể tự thỏa mãn với thành quả tạm thời của mình và trở nên dừng bước. Hoặc giả có thể y nảy sinh tâm lý kiêu mạn và làm hủy hoại vô số công đức tích lũy bấy lâu nay… Trong một nhận xét khác của tôi, tôi cũng lưu ý rằng việc một hành giả bị dừng lại trên hành trình tu tập cũng đồng nghĩa với việc thoái bước, và vì thế điều này trở nên vô cùng đáng tiếc. Mặt khác, một nhận thức xác đáng về vị Arhat còn giúp cho hành giả thoát ra khỏi vọng tưởng của chính bản thân mình. Vì thế mà tránh được những tội chướng đáng tiếc gây nên do vọng ngữ, vọng ý…; do kiêu mạn gây nên. Như phần giới thiệu đầu tiên của tài liệu này đã viết là tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những ý kiến của mình và hơn nữa nó được giới hạn trong phạm vi hẹp nên tôi không ngần ngại đưa ra các nhận định của cá nhân tôi. Chắc chắn là tôi cũng không quan tâm đến thái độ của quý vị đối với các ý kiến đó, và vì thế xin miễn cho tôi phải tranh luận với ai đó trong quý vị. Điều đầu tiên tôi xin khẳng định là quả vị Arhat hoàn toàn có thể đạt được ở các truyền thống ngoài Phật giáo. Hơn thế nữa khái niệm này còn xuất phát sớm hơn rất đáng kể so với bình minh của đạo Phật. Điều thứ nhì tôi xin khẳng định là chỉ một vị Arhat mới có thể đánh giá đúng về một vị Arhat. Hay nói cách khác chỉ có một Arhat mới hiểu biết đầy đủ về quả vị Arhat. Vậy nên nếu chúng ta chưa phải là một Arhat nhưng lại xây dựng nên những tiêu chuẩn để tự giới hạn tư duy của bản thân thì có xứng đáng là một việc làm có ý nghĩa hay không?! Điều thứ ba tôi xin khẳng định là một Arhat thì có năng lực tự tri. Có nghĩa là ngài tự nhận biết mình là một Arhat. Do hành trình tích tập trí huệ đầy đủ nên vị Arhat đó đạt được tri kiến như thị nên ngài tự xác định được Thánh quả của mình. Do hành trình tích tập công đức đầy đủ nên vị Arhat đó đẩy lui, chuyển hóa được tất cả nghịch cảnh và tác động tiêu cực của ma vương để tránh khỏi sự ngộ nhận về bản thân. Cuối cùng tôi cũng xin tái khẳng định một chân lý đã được lưu lại dấu ấn trong các kinh điển nguyên thủy đáng tin cậy là Thánh quả Arhat hoàn toàn có thể xảy đến cho một cư sĩ. Ít nhất cũng đã có 21 vị thành tựu Thánh quả này trong cương vị là một cộng sự nam, nữ của tăng đoàn… (17.10.2008)

Bài viết số 5 Arhat và thần thông Như vậy chúng ta hoàn toàn có thể ngưỡng mong đạt tới Thánh quả cao quý đó, dù cho tôi hay quý vị chỉ là một cư sĩ thấp thỏi. Nhưng liệu chúng ta có vượt thoát được sự băn khoăn sau chót không?!

Tôi nghĩ rằng rất khó vượt qua sự băn khoăn này. Cho đến chừng nào tin tưởng thật sâu đậm rằng giải thoát thật sự chính là sự giải thoát vĩnh viễn của tâm. Chỉ đến khi đấy chúng ta mới dám chấp nhận thực tế về một vị Arhat chính là người đạt tới tri kiến giải thoát. Chừng đó chúng ta mới có thể dứt bỏ được các ảo ảnh của thần thông và các khái niện siêu hình đang làm cho một vị Arhat và sự kiện giải thoát trở nên mất tính đồng nhất. Trong ba con đường samadhi, samatha và vipassana thì kỳ diệu thay chính con đường Minh sát tuệ (vipassana) của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni là con đường trực tiếp nhất dẫn đến tri kiến giải thoát. Dù quý vị đang thực hành giáo lý của dòng tu Phật giáo nào ngoài truyền thống Nguyên thủy thì đây cũng mới chính là đích đến của quý vị. Nếu bất cứ ai chưa nhận thức được điều này thì quả là chưa hoàn toàn! Không nhấn mạnh đến vai trò của thần thông hay những vấn đề thuộc về siêu hình, bản thể luận…nhưng vipassana hoàn toàn giới thiệu giải thoát tri kiến cho quý vị và do vậy đưa quý vị đạt đến quả vị Arhat. Vì thế nên chăng chúng ta không đưa ra tiêu chuẩn của các truyền thống khác để nhìn nhận thành tựu của truyền thống của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Trong trường hợp này, chính sự kiện không câu nệ vào vai trò của thần thông còn là một khẳng định ưu việt của quả vị Arhat thành tựu trong truyền thống của Đức Phật. Thật vĩ đại làm sao khi chúng ta được chứng kiến Đức Phật như một Arhat thành tựu thần thông nhưng ngài không hệ lụy điều đó. Chính ngài rời bỏ nhục thân như một thông điệp quý báu cuối cùng cho chúng ta về sự vô thường. Mặc dù như chính ngài đã nói rằng một vị thành tựu như ngài hoàn toàn có thể sống lâu một kiếp-ba hoặc sẽ niết bàn cùng lúc với kiếp-ba ấy hoại diệt. Tôi mong rằng quý vị nên tri ân và suy tư sâu sắc về sự kiện nhập niết bàn của Đức Phật để chúng ta có thể thoát khỏi những hệ lụy của việc bám chấp vào thần thông. Nói như vậy cũng không có nghĩa là một Arhat đạt tới tri kiến giải thoát thì hoàn toàn lẩn tránh thần thông. Điều đó là hệ quả tất nhiên và vì vậy vị Arhat sẽ tùy nghi sử dụng năng lực đó của ngài. Tuy nhiên nếu chúng ta chỉ lấy các tiêu chí về thần thông để đánh giá một vị Arhat thì thật là không khỏi lệch lạc. Thật là tuyệt vời biết bao khi chúng ta đang được sống trong thời đại của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Liệu còn điều gì có thể giản dị và vĩ đại hơn thông điệp của ngài?! Trong tất cả các vị Phật đã từng xuất hiện trong quá khứ thì Đức Phật lịch sử của chúng ta có tuổi thọ ngắn nhất. Ngài chỉ tại thế có 80 năm nhưng cho đến nay giáo pháp của ngài vẫn còn. Các vị Phật quá khứ có tuổi thọ rất dài, nhưng đáng tiếc bao giờ giáo pháp của các vị cũng đều mất luôn đi theo sau sự kiện tịch diệt của chư vị. Tất nhiên tôi không có ý nghĩ làm một phép so sánh lệch lạc ở đây, nhưng tôi xin nêu ra các sự kiện để chúng ta khởi lên niềm tự hào chính đáng về hoàn cảnh của mỗi người cũng như của thời đại này. (17.10.2008) Bài viết số 6 Nhận định cá nhân về 5 việc của Đại Thiên Năm việc của ngài Đại Thiên được quy kết trong bài kệ sau: “Dư sở dụ, vô tri

Do dự, tha linh nhập Đạo nhân thanh cố khởi Thị danh chân Phật giáo.” (Còn bị dẫn dụ Còn sự không biết Còn điều hoài nghi Còn nhờ người khác Chứng nhập thánh đạo Cũng nhờ âm thanh Như thế gọi là Chân thật Phật dạy.) Theo quan điểm của Thượng tọa bộ thì quan điểm của ngài Đại Thiên là tà thuyết, vọng ngữ và phi Phật giáo. Việc tranh luận về 5 việc của Đại Thiên làm giáo đoàn bị phân chia thành hai bộ phận là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Thật đáng tiếc! Ở đây tôi không cảm thán trước việc Tăng đoàn bị chia rẽ, mà cảm thán trước việc những người tham gia tranh luận vẫn còn tâm nghi. Thật vậy! Nếu không còn tâm nghi ngờ thì không thể tham gia vào sự kiện này. Do đó nếu nhận định rằng trong cuộc tranh luận có sự tham gia của một bên gồm 500 Arhat với một bên là một mình ngài Đại Thiên là thiếu xác đáng. Nói như vậy có nghĩa là tôi khẳng định quan niệm cá nhân rằng một Arhat hoàn toàn không quan tâm đến tranh luận như vậy. Sự kiện khách quan đầu tiên cần phải xem xét là bản thân Đại chúng bộ không có bất cứ một tài liệu gì mô tả hay biện hộ cho sự kiện này (5 sự của Đại Thiên). Điều đó thật là khó hiểu (?!). Các tài liệu mà chúng ta có thể tham khảo hiện nay đều có nguồn gốc từ Thượng tọa bộ gồm: Luận Ma-ha Tăng Kì 33, Luận Đại Tì-bà-sa 99 và các chiết xuất của Dị bộ tông luận của Bồ tát Thế Hữu. Bản thân việc Bồ tát Thế Hữu trong việc nhấn mạnh đến vai trò của Nhất thiết hữu bộ như một bộ phái gốc của Thượng tọa bộ cũng có phần khiên cưỡng. Và vì vậy ít nhiều làm giảm sút sức thuyết phục của Dị bộ tông luận cũng như uy tín của cá nhân ông. Việc các nguồn của Thượng tọa bộ mô tả ngài Đại Thiên phạm 3 trong 5 tội ngũ nghịch gồm: loạn luân và giết mẹ, giết cha, giết Arhat e rằng cũng không khỏi không có dụng ý. Hai tội kia gồm phá hòa hiệp Tăng đoàn và làm Phật chảy máu lại không thấy nhắc đến. Tội làm Phật chảy máu thì xuất phát từ thời ngài Đề-bà Đạt-đa. Còn tội phá hòa hiệp Tăng đoàn mới là ngụ ý chính của Thượng tọa bộ nhằm vào ngài Đại Thiên. Nhưng điều này cũng tuyệt nhiên không thấy nhắc đến (?!). Cụ thể thời gian năm sinh, năm mất cũng như niên đại hoạt động của ngài Đại Thiên không thấy có tài liệu ghi chép cụ thể. Thậm chí việc phân biệt một ngài Đại Thiên là lãnh tụ của Đại chúng bộ với một ngài Đại Thiên lãnh tụ của Chế đa sơn bộ cũng không ngã ngũ. Việc ngài Đại Thiên có thực lực và chiếm được sự sủng ái của bậc quân vương đương thời là việc được đề cập đến trong các tài liệu. Nhưng tuyệt không thấy nhắc tên của vị quân vương này… Về sau trong các tài liệu như Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa, Luận phân biệt công đức…lại có phần dẫn giải vị quân vương đó là vua A-dục. Vua A-dục tán thành

Đại chúng bộ nên sau đó phần lớn Tăng chúng thuộc Thượng tọa bộ dời sang nước Cathấp-di-la (?). Tại sao trong phần trước đấy không nhắc đến việc tiếp xúc của ngài Đại Thiên với vua A-dục, nhưng việc hậu thuẫn Đại chúng bộ lại có sự hiện diện của đức vua thì cũng thật là khó hiểu (?!). Tôi nghĩ rằng dẫn chứng bấy nhiêu là quá đủ để chúng ta có một thái độ khách quan hơn khi cứu xét việc này. Không còn nghi ngờ gì nữa việc nêu ra vấn đề và tham gia tranh luận là công việc của những kẻ hiếu sự trong Tăng đoàn. Quan niệm cá nhân của tôi về 5 việc này rất rõ ràng. Và để dập tắt mọi tranh luận thị phi đi kèm theo sau đây, tôi tái khẳng định hoàn toàn chịu trách nhiệm về những tuyên bố cá nhân và hơn thế nữa tôi không có hứng thú tranh luận với bất cứ ai trong quý vị. Xin đi thẳng vào vấn đề và sau đây là quan niệm của tôi về 5 sự của Đại Thiên: + Arhat không mộng tinh, không phiền não và không thể bị ma vương uy hiếp đến độ đem tinh khí vấy bẩn vào y. + Arhat không còn sự gì không biết. Xin chú ý vấn đề mà Arhat thành tựu là liễu ngộ về nhân - quả. Do vậy bất cứ sự kiện gì đã, đang xuất hiện hay chưa xuất hiện thì vị Arhat đều nắm bắt được duyên khởi của nó. Đây mới chính là khái niệm trung thực về sự “biết”. Còn việc đánh giá cụ thể từng sự kiện là do nhận thức của cá nhân mỗi người trong mỗi hoàn cảnh tùy hành. Tuyệt không thể lấy sự đánh giá của cá nhân phàm phu để cắt nghĩa trí huệ liễu ngộ nhân quả của bậc Arhat. Cai “biết” của phàm nhân thì không thể nhận biết được tính không có tự tính của sự vật hiện tượng. Ví dụ như một cái bút vẽ đối với một đứa trẻ con thì có thể biến thành một cái kiếm, đối với một người nông dân miền núi chưa nhìn thấy bút vẽ bao giờ thì có thể hình dung ra đó là một cái gậy chọc lỗ để gieo hạt… Đó là những cái thấy ngoại vi, không phải cái thấy thấu suốt nhân quả trùng trùng, thấu suốt lẽ duyên khởi trong sự vật hiện tượng của bậc giải thoát. Khác với cái thấy của Arhat là cái thấy bản chất không có tự tính của sự vật hiện tượng; thấy sự tương tác trùng trùng không giới hạn trong một hình tướng cũng như cả vũ trụ. Cái “biết” của phàm phu không phản ảnh thực tại vô tướng, không có tự tính và dẫn đến giải thoát như cái “biết” của bậc Arhat. Vì vậy cái thấy biết của vị Arhat đem đến tri kiến như thị và giải thoát. Do đó nói rằng: “Arhat không còn sự gì không biết”. Theo tôi việc đánh giá trí huệ của một bậc Arhat mà lại tách bạch ra khỏi năng lực của ngài là nhận thức về nhân-quả thì là một việc làm không xứng đáng, nếu không muốn nói là lệch lạc. + Arhat là bậc không còn do dự. + Arhat là người tự biết mình đã được giải thoát. Arhat là người tự tri giác được giải thoát tri kiến của mình nên tự biết mình đã được giải thoát. Việc ngài Mục Kiền Liên và ngài Xá Lợi Phất là hai người đạt tới đại thần thông nhưng phải nhờ Đức Phật ấn chứng mới biết mình đã giải thoát là bởi vì hoàn cảnh lịch sử. Khi mà khái niệm giải thoát chưa được gắn liền với giải thoát tri kiến thì một ấn chứng của Đức Phật là cần thiết. Nhưng sau này con đường tu tập của một vị Arhat theo con đường Vipassana đã được hoạch định cụ thể rồi thì việc tự ấn chứng trở nên hiển nhiên. + Việc chứng đạo nhờ âm thanh là việc có thật. Nhưng đó là các âm thanh vi diệu của Pháp giới hoặc các âm thanh bình thường trong đời sống tác động vào tâm thức đã chuẩn bị và trở nên chín muồi của hành giả. Trong bối cảnh của cuộc tranh luận của ngài Đại

Thiên thì mọi chuyện không đơn giản như vậy. Tôi sẽ trích dẫn nguyên văn mô tả của một văn bản Thượng tọa bộ điển hình để quý vị có thể hình dung về vấn đề này đã từng bị cụ thể hóa đến mức nào. “Đại Thiên tuy tạo các ác kiến, nhưng các thiện căn vẫn còn, cho đến giữa đêm ông suy nghĩ về những tội lỗi của mình, lòng cảm thấy vô cùng khổ đau, miệng buông thành tiếng “khổ”. Những đệ tử ở gần ông đã nghe được tiếng than khổ này, lòng cảm thấy kinh ngạc, sáng dậy bèn hỏi Đại Thiên: “Thầy có an lạc không?”. Ông trả lời: “Đó là tiếng than của thánh đạo, ông không nên nghi ngờ, nghĩa là thánh đạo nếu không chí thành nói lên tiếng “khổ” thì thánh đạo khó xuất hiện. Do đó đêm qua ta đã xướng lên tiếng “khổ”. Đây là ác kiến thứ năm.” (trích A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận – quyển 99. Dịch Hán văn: Pháp sư Huyền Trang. Dịch Việt văn: sa môn Thích Hạnh Bình) Quý vị có thể tham khảo bản dịch Việt văn đầy đủ phẩm này trong tác phẩm Nghiên cứu về 5 việc của Đại Thiên của sa môn Thích Hạnh Bình - NXB Tôn Giáo – Hà Nội 2006. Nhân đây tôi cũng xin ngỏ lời cảm ơn thầy Thích Hạnh Bình về nội dung đã trích dẫn ở trên. Xin cảm ơn tinh thần của tác phẩm và tính chân xác trong dịch thuật của thầy! Ở đây năng lực chuyển hoá tâm linh duy nhất còn có thể “cứu chữa” cho ngài Đại Thiên chính là tâm tàm quý… Nhưng chính điều đó lại bị xoá sạch vì những lời bao biện, vọng ngữ của ông khi ông giải thích và trấn an học trò… Như vậy việc tranh luận nội dung thứ năm trong 5 sự của Đại Thiên đã trở nên đi quá xa. Giữa nội dung tranh luận và mô tả thực tế tỏ ra đồng bộ về hình thức nhưng thiếu nhất quán về mục tiêu. Do vậy mà sự tranh biện càng trở nên không thể vãn hồi. (18.10.2008) Phụ lục: 5 việc của Đại Thiên Bài viết số 6* Con đường xuyên suốt của một hành giả không bộ phái Hành giả nắm bắt vững vàng tinh thần của quy luật nhân quả. Quy luật này được cụ thể hoá trong các tư duy về nghiệp báo, ân sủng và công đức. Con đường xuyên suốt của một hành giả không bộ phái trải qua ba giai đoạn: + Hành giả thanh tịnh nghiệp tự thân, hội nhập ân sủng và tích tập công đức để thực hiện giai đoạn khởi đầu. + Hành giả quán chiếu tính không có tự tính của vận động nhân quả, nhờ đó thâm nhập được vào tính Không. Đây là giai đoạn trưởng thành. + Hành giả hội nhập ân sủng tuyệt đối và thể nhập tình trạng công đức tuyệt đối để đạt tới ý thức tuyệt đối. Đây là giai đoạn hoàn thiện. Trong tất cả các giai đoạn của con đường hành giả luôn ý thức sâu sắc về khái niệm nhân quả và do đó xuyên suốt thực tướng của ba thừa. Hành giả vô hình dung là một hành giả không bộ phái. (18.10.2008) Bài viết số 7 Sự vận động của công đức và trí tuệ.

+ Vận động công đức chia làm hai giai đoạn là tích tập công đức và thể nhập công đức vô lượng. Công đức vô lượng biểu hiện ra ngoài là sự tôn trọng, biểu hiện bên trong là sự vô ngã. + Vận động trí tuệ chia làm hai giai đoạn là tích tập trí tuệ và thể nhập trí tuệ vô ngại. Trí tuệ vô ngại biểu hiện ra ngoài là sự từ bi, biểu hiện bên trong là sự không nghi ngờ, do dự. + Bất cứ hành trình tu tập nào cũng phải thông qua 2 vận động công đức và trí tuệ. + Nếu có hành trình bắt đầu bởi vận động công đức thì sẽ phải kết thúc bởi vận động trí tuệ. Nếu có hành trình bắt đầu bởi vận động trí tuệ thì sẽ phải kết thúc bởi vận động công đức. + Trí tuệ chính là công đức tột bậc và công đức chính là trí tuệ tột bậc. + Trong ba con đường samadhi, vipassana, samatha tuy phương pháp thực hành khác biệt nhưng kết quả là thành tựu về công đức và trí huệ thì như nhất. (19.10.2008) Bài viết số 8 Tôn trọng thay thế cho kiêu ngạo Kiêu ngạo là vấn đề quan trọng cần chuyển hóa trong hành trình của mỗi người. Việc tự nhận thức được điều này không khó, nhưng có thể chuyển hóa nó thì hoàn toàn không dễ. Lý do rất đơn giản là hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả quý vị bị ngộ nhận trong nỗ lực chuyển hóa kiêu ngạo. Cụ thể hơn người ta nghĩ rằng muốn chuyển hóa kiêu ngạo thì phải xây dựng tính khiêm tốn. Hay nói cách khác thì cái trái ngược và có thể khắc phục kiêu ngạo chính là khiêm tốn! - Điều này là tuyệt đối sai lầm! Bởi vì càng cố tỏ ra khiêm tốn thì chúng ta càng trở nên kiêu ngạo một cách tinh tế hơn. Sở dĩ khiêm tốn được mỗi cá nhân hay dư luận và xu hướng đạo đức xã hội ủng hộ vì mọi người ai cũng khó chịu khi phải tiếp xúc với những cá nhân có cách thể hiện bản ngã thô bạo. Khi một ai đó có cách thể hiện bản ngã tinh tế hơn một chút thì được mọi người ngợi ca là người đó khiêm tốn (!). Do đó mà khiêm tốn được đề cao như một quy luật ứng xử văn hóa. Ôi! Lầm lạc! Muốn chuyển hóa kiêu ngạo cần phải có một chuyển biến từ trong nội tâm của mỗi người chứ không phải cố tỏ ra nhún nhường để ve vuốt, thỏa mãn thị dục bản ngã của người khác. Nếu chúng ta bị ngộ nhận rằng khiêm tốn có thể chuyển hóa được kiêu ngạo thì bức màn vô minh tiếp tục phủ lên quý vị. Mỗi người sẽ cư xử ngày càng khéo léo hơn, nhưng đó chỉ là chuyển hóa bề ngoài. Kỳ thực bên trong mỗi người bản ngã tinh tế đang ngủ ngầm được ẩn náu kỹ càng hơn nữa… Muốn chuyển hóa kiêu ngạo cần phải có một chuyển biến từ trong nội tâm của mỗi người. Mỗi người cần phải tập rèn luyện thói quen tôn trọng người đối diện hay hoàn cảnh mà bản thân mình đang là một phần của tồn tại. Chỉ có rèn luyện sự tôn trọng mới có thể chuyển hóa được sự kiêu ngạo. Ngoài ra không thể có cách gì mà có thể dùng

một hành vi ứng xử bên ngoài để chuyển hóa một thức tình trong nội tâm. Giống như người ta dùng sự khiêm tốn để cố san bằng và che giấu cho kiêu ngạo vậy! Ngay khi trưởng thành sự tôn trọng hoàn cảnh như vậy, hành giả cũng sẽ trưởng thành niềm tự tôn tuyệt đối. Sự kiện này hoàn toàn không phải là một hình thức phì đại bản ngã. Sống trong niềm tôn trọng từng mảnh hồn của đời sống như vậy, hành giả đang trải nghiệm tri kiến như thị và đạt tới thành tựu kép về niềm tri ân và sự xác tín. Tóm lại chúng ta sẽ chỉ có thể chiến thắng hoàn toàn kiêu ngạo bằng cách trở nên tôn trọng tất cả các giá trị và hoàn cảnh của cuộc sống. Tất cả chi tiết của tồn tại đều trở thành một bài học lớn cho kẻ khát khao chân lý. Tại đó các thằng thức khác (tham, sân, si, nghi…) nhanh chóng bị cắt đứt. Hành giả vừa thực hiện một chuyển biến cơ bản và anh ta trở nên đồng nhất với đích đến. Anh ta đã thực hành đúng nhờ có tư duy đúng, và đúng ngay từ đầu. - Tôn trọng thay thế cho kiêu ngạo! Chừng nào mà một cá nhân còn kiêu ngạo thì công đức của anh ta còn có nguy cơ bị hủy hoại. Chừng nào mà kiêu ngạo được chuyển hóa thành sự tôn trọng thì công đức bắt đầu được tích lũy đến vô lượng. Vì công đức vô lượng chuyển hóa thành trí huệ nên tại đó quý vị thành tựu về cả hai phương diện: công đức và trí huệ và đạt tới hoàn toàn giải thoát. (21.10.2008) Bài viết số 9 Tình thương chuyển hóa nghi ngờ Trong sâu thẳm tâm hồn quý vị liệu có ai đó ý thức thường nhật rằng trí huệ chính là tình thương và nghi ngờ chính là sợ hãi. Nếu ý thức được như vậy thì không những quý vị có thể trưởng thành trí tuệ, tình thương yêu đồng thời hóa giải được các cảm xúc tiêu cực như nghi ngờ và sợ hãi. Nếu các khái niệm này không được định hướng và kết hợp như một chỉnh thể hợp nhất thì cuối cùng chúng ta không thể tới đích vì nghi ngờ là một trong năm thằng thức chính trói buộc ta trong sinh tử. Trong cuộc đời này muốn chuyển hóa sợ hãi chỉ có cách dùng tình thương, niềm tri ân. Lầm lạc lớn nhất của con người là ngộ nhận trạng thái đối lập của tình yêu là thù ghét. Nhận thức ngây thơ nhất của con người là không nhận ra rằng trí huệ chính là tình thương. Không phải tình thương theo nghĩa đen gồm có đối tượng được thương yêu và người ban phát tình thương, mà chính là tâm Từ. Tâm Từ hiển nhiên như Tồn Tại…Không có sự kiện hay cá nhân nào nằm ngoài tâm Từ. Không còn điều gì rơi sót vào nhị nguyên ở đây… Xin quý vị vui lòng lưu ý khái niệm tâm Từ đề cập ở đây hoàn toàn khác biệt với tình thương yêu có đối tượng để thương. Trong trường hợp như vậy hiển nhiên sẽ có những đối tượng khác không được tình thương chiếu cố. Với tâm Từ thì hoàn toàn không có chuyện ấy… Tâm Từ hiển nhiên như Tồn Tại…Không có sự kiện hay cá nhân nào nằm ngoài tâm Từ. Không còn điều gì rơi sót vào nhị nguyên ở đây… Như vậy đối tượng chuyển hóa của trí huệ không hẳn là ngu si. Chúng ta có thể nhận định trong một trường hợp cụ thể hơn, ở đó ngu si đã hiện tướng thành nghi ngờ. Quý vị hãy

quét sạch tâm nghi, từ các định kiến, các trạng thái phân biệt cho đến các tâm nghi vi tế. Xin hãy vững tin rằng năng lực chuyển hóa của trí huệ là vô song. Như ở trên chúng ta đã thống nhất với nhau là trí huệ chính là tình thương nên có thể khẳng định năng lực vô song của tình thương chuyển hoá nghi ngờ. Khởi đầu hành trình chúng ta là những kẻ khởi tâm nghi ngờ. Cho đến khi nhận thức được sự bao dung, tình thương yêu và tâm Từ đang vây bọc và trưởng dưỡng cho ta. Đến một ngày quý vị nhận thức rõ ràng về tình thương, tâm Từ của một chủ thể chuyển hoá nghi ngờ nơi một chủ thể khác. Khi đó nhu cầu trưởng dưỡng tâm Từ của quý vị sẽ thật sự phát triển. Vì sự đồng nhất giữa từ bi và trí huệ nên hành giả sẽ đào luyện tâm Từ thông qua huân tập trí tuệ cho đến kỳ phát huệ. Việc gìn giữ và trau dồi năng lực vĩ đại của trí huệ có thể gói gọn trong duy nhất một điều: nhận thức về tính không có tự tính của lý duyên khởi. Ngoại trừ điều này ra tất cả là ảo ảnh. Trưởng thành trong thành tựu về nhận thức như vậy, hành giả sẽ trưởng dưỡng tâm Từ một cách hoàn toàn vô ngã, không phân biệt tính và chấp thủ. Bởi vậy mà quý vị thành tựu tứ vô lượng tâm: Từ - Bi – Hỷ - Xả. Bài viết số 10 Thái độ cư xử với các trạng thái tiêu cực Tham, sân, si nên được tôn trọng như chúng là. Thực sự đó là các thuộc tính bình thường của mỗi con người. nếu chúng ta cố gắng kìm chế chúng thì tam độc sẽ ẩn giấu sâu hơn vào bên trong lớp vỏ của bản ngã vi tế. Tam độc sẽ được chuyển hóa khi trí huệ thành tựu. Nhưng nếu nó bị ức chế và che giấu sau lớp vỏ bản ngã tinh tế thì cơ hội để thành tựu trí huệ là không có. Bởi vì toàn bộ tâm trí đâng mải chạy đuổi theo tam độc rồi thì làm sao mà phát sinh trí huệ được… Giờ đây là lúc mà chúng ta nên đối diện với thực tế là đang bị trói buộc bởi 5 sợi dây: tham, sân, si, mạn, nghi… Nhưng thay vì để cho chúng ta có cơ hội đối diện với các thằng thức này một cách trực tiếp thì các quy tắc đạo đức xã hội lại khuyên chúng ta nên cất dấu chúng, che đậy chúng dưới một vỏ bọc của những thái độ ứng xử xã hội lịch sự, nhã nhặn, khiêm tốn… Thật nguy hiểm hết mức! Cách cư xử đúng duy nhất là chấp nhận 5 thằng thức này chính là 5 đặc thù của phàm phu. Chấp nhận rằng chính chúng ta là phàm phu chứ chưa phải là thánh nhân. Do đó chưa cần thiết phải cố tỏ ra các cư xử trá ngụy học theo các thánh nhân. Đồng thời phải ý thức được rằng chính 5 món dây trói này sẽ lôi giữ ta trong luân hồi. Chỉ cần ý thức được nỗi khổ của luân hồi một cách thường trực thì tất cả rào cản sẽ lần lượt bị phá vỡ. Trong 5 món dây trói thì có hai món rất dễ chuyển hóa chính là mạn và nghi. Hai món này chuyển hóa bằng tình thương và sự hòa mình vào các giá trị của đời sống. Như vậy các bài học sẽ tự bộc lộ tự nhiên và con người thành tựu về trí tuệ, tích tập được công đức như nguyện. Bài viết số 11 Con đường Đại thủ ấn

Con đường Đại thủ ấn (Đại ấn – Maha mudra) là một hành trình vĩ đại của nhiều cõi giới và nhiều nền văn minh. Trước đây và mãi mãi sau này, Đại ấn luôn luôn hấp dẫn chúng ta. Không thể định nghĩa về Đại ấn. Nhưng có thể khái quát được rằng Đại ấn bao gồm quán tâm và năng lực. Trước Phật giáo, truyền thống Đại ấn đã phát triển. Nhưng chủ yếu là phát triển theo xu hướng tập luyện về năng lực. Vì vậy sự thành tựu của các vị đại thành tựu giả được đánh giá chủ yếu theo các tiêu chuẩn về thần thông. Từ thời Đức Phật, Đại ấn được tăng cường thêm năng lực của quán tâm và điều đó mới là đối tượng vận động của Đại ấn. Nói chính xác hơn, thay đổi lớn lao là ở về phía người tập. Người thực hành Đại ấn lúc đó đã ý thức được sâu sắc hơn tầm quan trọng của quán tâm và kết hợp nhuần nhuyễn tu tập quán tâm với rèn luyện năng lực. Tóm lại Đại thủ ấn chịu ảnh hưởng rất tích cực của Phật giáo và trở thành lựa chọn tuyệt diệu cho các Phật tử trong thời điểm khó khăn hiện nay. Trong một bối cảnh mà ánh sáng của các kỹ thuật quán tâm đã được hiển lộ rõ ràng nơi truyền thống của Đức Phật thì có thể nói chúng ta đang có cơ hội bằng vàng. Dù Đức Phật đã nhập Niết bàn nhưng thông điệp của ngài vẫn nguyên vẹn giá trị thức tỉnh cho tất cả chúng ta. Trong các tài liệu Phật giáo Nguyên thuỷ có thể tiếp cận rất nhiều các kỹ thuật quán tâm. Tiêu biểu nhất là các kỹ thuật được tổng kết trong Tứ niệm xứ, Bốn đối tượng quán niệm trong đó bao gồm: thân, thọ, tâm, pháp. Trong đó thân là sở thuộc của tâm; thọ là đặc tính của tâm; pháp là đối tượng vận động của tâm… Như vậy cả bốn kỹ thuật đều có bản chất quán xét tâm… Trong các tài liệu của truyền thống Đại toàn thiện mô tả trạng thái duy trì tính tỉnh giác của tâm với từ chuyên môn là rigpa… Trong các tài liệu Thiền tông thì khái niệm tính thấy, ngộ tính…là từ để trỏ sự thâm nhập cho đến thăng hoa tình trạng quán tâm. Trong Thiền tông Nhật Bản xuất hiện các khái niệm kensho để trỏ sự xâm nhập tính thấy của một hành giả nhập môn và satory để trỏ tình trạng quán tâm hoàn hảo của một trưởng lão thiền… Trong trường hợp của tôi, tôi phát triển vấn đề quán tâm theo một kỹ thuật kết hợp bao gồm rigpa-bardo. Ở đây lẽ ra cần phải có vài dòng giải thích về tình trạng bardo. Nhưng do khó có thể định nghĩa vài dòng về tình trạng đặc biệt này nên chúng ta có thể tìm hiểu kỹ hơn về khái niệm này trong phần phụ lục. Ngay bây giờ chúng ta có thể hình dung đó là một trạng thái trung gian tạm thời vắng bặt các tư duy tuyến tính phản ảnh qua các giác quan bình thường. Vì vậy vào thời điểm đó tính thấy (rigpa) có cơ hội được hiển lộ. Do tính khẩn cấp của vấn đề nên tôi xin phép không trình bày nội dung Khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian như một bài viết độc lập mà đưa vào phần phụ lục như quý vị sẽ chứng kiến ngay sau đây…. Thực ra các tài liệu riêng biệt về rigpa hoặc bardo đều đã từng phát lộ. nhưng việc kết hợp các khái niệm và triển khai thực hành nó như một định hướng cho việc quán tâm thì lần đầu tiên được trình bày ở đây. Vì vậy nên tuy bài viết nói trên của tôi khá dài và trúc trắc nhưng tôi cúng xin đề nghị quý vị tiếp cận nó một cách thận trọng! Xin cám ơn quý vị về sự chú tâm! Song song với vận động quán tâm là con đường trau dồi năng lực. Theo Đại thủ ấn, việc trau dồi năng lực được khái quát trong ba vận động: Khí – Mạch – Hạt. Việc vận động khí (năng lượng - Prana) trong kinh mạch (lung) theo những kỹ thuật cụ thể giúp cho

năng lượng được tích tụ và chuyển hoá dẫn đến các hình thức đặc biệt (hạt - thigle) có công dụng chuyển hoá hành giả theo hướng tích cực. Hệ thống kinh lạc đặc biệt quan trọng được đề cập trong nhiều tài liệu của nhiều truyền thống trong và ngoài Phật giáo là hệ thống kinh mạch trung ương. Có vô vàn nhiều cách vận động năng lực trong hệ thống kinh mạch trung ương tuỳ theo nhu cầu của mỗi hành giả. Trong trường hợp của tôi, tôi vận động chuyển hoá năng lực trong hệ thống kinh mạch trung ương nhằm mục đích chuyển hoá nghiệp. Thực chất của vấn đề chuyển hoá nghiệp chính là vận động nhân - quả. Nói cách giản dị là tôi dùng kỹ thuật này để chuyển hoá nghiệp của bản thân. Nói cách chính xác hơn là tôi thậm nhập tính không có tự tính của vận động nhân – quả. Qua đó thâm nhập thực tướng của vạn hữu là tính Không. Trên cơ sở đó mà thành tựu hai phương diện : công đức và trí huệ. Do cách vận động đặc biệt không bị giới hạn bởi các trung tâm năng lượng nên năng lực vận động một cách vô cùng tích cực theo tuyến và sáng chói như mặt trời. Vì vậy đây chính là một loại kỹ thuật chuyển hoá ánh sáng có thể đưa hành giả đạt tới giác ngộ nhanh chóng. Tôi gọi đó là kỹ thuật chuyển hoá nghiệp trong trung mạch bằng kỹ thuật chuyển hoá ánh sáng. Tên khác của kỹ thuật này có thể có tính tượng trưng cao hơn là: giáo pháp một triệu mặt trời. Kỹ thuật này tôi đã có cơ hội trình bày trong ấn phẩm Cầu vồng (Tụng ca về Đại Ấn) – NXB Văn hóa thông tin – Hà Nội 2008. Phần kỹ thuật bổ sung trình bày dưới dạng ảnh minh hoạ thì nằm trong một tác phẩm khác đang được tôi hoàn thiện và dự định đặt tên là Kỹ thuật chuyển hoá ánh sáng. Xin trân trọng giới thiệu với quý vị! Tóm lại con đường Đại thủ ấn có thể là một cơ hội tốt và chóng vánh với ai đó trong quý vị. Tham khảo tư liêu trong các truyền thống là rất cần thiết trước khi có một quyết định chính thức. Trong trường hợp của tôi, quý vị đang tiếp cận một sự kết hợp táo bạo và quyết liệt. Nếu quý vị có dự định ứng dụng các kỹ thuật của tôi thì yêu cầu bắt buộc đi kèm là phải tìm đọc và thấu hiểu Cầu vồng trước khi bắt tay vào thực hành. Xin chân thành cảm ơn quý vị và kính chúc quý vị thân tâm an lạc, giải thoát! (27.10.2008) Phụ lục1: Tụng ca về sự khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian Vì thấm đẫm ân sủng vô biên nên từng phút giây của đời sống đều trở thành cơ hội giác ngộ. Điều này xảy ra chính xác, công bằng và vô ngã cho mọi cá thể ở mọi trạng thái nhận thức. Trong cuộc đời của mỗi người, cơ hội đó không ngừng xảy ra. Điều này thực vĩ đại! Trong mỗi thời điểm của trạng thái trung gian của nhận thức, tính thấy hiển lộ như những tia chớp. Nếu không có ý thức về tình trạng này thì điều đó trôi qua rất nhanh. Thật đáng tiếc! Hành giả nên giữ tâm thức ở trạng thái tỉnh giác. Luôn luôn tỉnh táo để nắm bắt các cơ hội này. Đây là các cơ hội con có tên gọi rất khác nhau tùy theo truyền thống tu tập…(xin xem thêm phần IV – Phụ lục)

Cho đến thời điểm các trạng thái này xuất hiện chủ động và thường xuyên thì tâm thức hành giả sẽ khai mở hoàn toàn trong tình trạng tính giác bản nguyên liên tục hiển lộ. Đây còn gọi là cơ hội mẹ. Vì thấm đẫm ân sủng vô biên nên các cơ hội khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian xuất hiện trong cả sáu giai đoạn của đời sống. Tùy theo mỗi giai đoạn của đời sống mà hành giả có đặc trưng nhận thức khác nhau. Sáu giai đoạn nhận thức của đời sống gồm có: + nhận thức lúc thức + nhận thức lúc ngủ + nhận thức lúc thiền định + nhận thức lúc hấp hối + nhận thức trong tình trạng ánh sáng Pháp thân + nhận thức trong tình trạng trưởng thành và tái sinh. Trong mỗi giai đoạn phát triển nhận thức nêu trên, hành giả đều có cơ hội chứng kiến trạng thái trung gian, ở đó tính thấy hiển lộ như những cơ hội con. Nhận thức về trạng thái trung gian trong từng giai đoạn đời sống tương ứng gọi tắt là các bardo, bao gồm: + bardo của trạng thái thức. (Sanscrit (Sa) viết là: jati antarabhava - Tây Tạng (TT) phiên âm là: kye ne bardo) + bardo của trạng thái mộng. ( Sa: svapnantabhava - TT: milam bardo) + bardo thiền định. ( Sa: samadhi antarabhava - TT: samten bardo) + bardo cận tử. ( Sa: mumursantarabhava - TT: chilkai bardo) + bardo của Pháp thân diệu dụng. ( Sa: dharmatantarabhava - TT: chonyid bardo/ có tài liệu viết là cheunyi bardo) + bardo của trưởng thành và tái sinh. ( Sa: bhavantarabhava - TT: sipa bardo/ có tài liệu viết là sipai bardo). Vì thấm đẫm ân sủng vô biên nên: Khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian là quá trình tập hợp từng cơ hội con để hình thành sự dung hợp về nhận thức với cơ hội mẹ. Cơ hội mẹ xuất hiện trong tình trạng đại giác hoặc đặc biệt hơn trong trạng thái nhận thức được giải phóng khỏi sự ràng buộc của ngũ uẩn vào lúc chết. Khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian là hiện tượng phổ biến. Nhưng một người bị ảnh hưởng của các nghiệp bất hảo ngăn nhốt trong vô minh thì không ứng dụng được gì từ kinh nghiệm này. Ngược lại họ sẽ nhìn nhận kinh nghiệm đó như một câu chuyện ly kì, hầu giúp họ tăng cường bành trướng bản ngã. Khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian là hiện tượng phổ biến. Hành giả cần coi đó là những cơ hội quý báu để tiếp cận cơ hội đại giác từ nhiều giác độ. Điều này khiến hành giả không bị “sốc” nếu đột nhiên đương đầu với cơ hội mẹ xuất hiện trong lúc chết hoặc đại giác. Sau khi kinh nghiệm cơ hội con, hành giả cần nêu cao tâm thức để hội nhập cơ hội mẹ xuất hiện trong lúc chết hoặc đại giác. Muốn vậy hành giả phải nêu cao khát vọng đại giác (1)… Điều này vô cùng quan trọng và là điều kiện tất yếu khiến hành giả có thể đạt tới đích cuối cùng…

Phụ lục 2: Khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian Khai ngộ tính thấy là bước chuyển biến quan trọng, gặp gỡ trong tất cả các truyền thống tu tập. Chúng ta có thể thấy trạng thái khai ngộ tính thấy được đề cập dưới rất nhiều tên gọi. Ví dụ như "ngộ", "chứng ngộ",... trong Thiền tông; "rigpa" trong các truyền thống Ấn-Tạng...Ngoài ra có thể thấy mô tả bằng các khái niệm: "chứng", "hội", "chứng nhãn giới", "khai mở nhãn giới"... Sau khi khai ngộ tính thấy hành giả sẽ có thay đổi vượt bậc. Khai ngộ tính thấy có thể gặp trong nhiều hoàn cảnh tu tập khác nhau. Khai ngộ tính thấy có thể xuất hiện trong những thời điểm và tâm trạng khác nhau: thức, ngủ, đau đớn, sợ hãi, thương xót, nỗ lực... Rất nhiều trường hợp được khai thị bởi ân sủng và sùng tín. Rất nhiều trường hợp khác được khai ngộ tính thấy trong kinh nghiệm cận tử. (Đó là trạng thái nhận thức sau khi trải qua cái chết lâm sàng. Người bệnh sống lại và thay đổi hoàn toàn nhận thức, cách hành xử. Có thể chia sẻ với những người xung quanh hoặc không...). Chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều bằng chứng từ những người sống cùng môi cảnh. Ngoài ra có cuộc nghiên cứu của tiến sỹ y khoa Raymond Muddy, thể hiện qua cuốn sách "Life after life". Bản dịch tiếng Việt của dịch giả Nguyễn Quốc Khánh, tựa “Sự sống sau khi chết” – NXB Văn hóa Thông tin - Hà Nội, 1998. Có thể nói khái niệm “ngộ” được gắn liền với Thiền tông. Truyền thống sinh sau đẻ muộn nhưng dồi dào sức sống này đã có những cú đột phá ngoạn mục làm phong phú đáng kể cho lịch sử Phật giáo. Đặc biệt trong đó chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của học giả nổi tiếng Daisetz Tetaro Suzuki. Ông là người có công giới thiệu Thiền tông với phương Tây những năm đầu thế kỷ XX. Tuy sự đóng góp của D.T.Suzuki cho lịch sử văn hóa nhân loại nói chung và lịch sử Phật giáo nói riêng là không thể phủ nhận, nhưng chúng ta cần lưu ý rằng ông chưa bao giờ được công nhận là một Thiền sư. Điều đó có nghĩa là ông đứng trên quan điểm của một học giả để nghiên cứu về "ngộ", chứ không phải là mô tả của một người thực sự trong cuộc. "Ngộ" vì thế theo D.T.Suzuki một cái gì đó giống như là hậu quả của "kỹ thuật trừng tâm và khai phóng nhân sinh". Điều đó khó có thể coi là xuất phát từ một nhãn quan thấu đáo... Trên tinh thần đó chúng ta sẽ dễ thông cảm với D.T. Suzuki khi ông cố sức hoặch định khoa học cho "satory" (tiếng Nhật, nhằm chỉ tình trạng tại đó hành giả được "ngộ"). Theo D.T.Suzuki thì satory có 8 đặc điểm: + tính phi lý + tính trực giác + tính đáng tin + tính khẳng định + tính vượt quá ý thức + tính vô nhân xưng + tính phấn khích + tính nhất thời Điều này đơn thuần là sự mô tả bề ngoài chứ không thể chấp nhận là một kinh nghiệm khai ngộ tính thấy thực sự.

Thật đáng tiếc! Dù sao thì kinh nghiệm khai ngộ tính thấy cũng chỉ diễn ra trong tâm thức học trò, còn người thầy sẽ tìm cách chỉ ra cho y. Người thầy "nhân đức" còn tạo tình huống để trò chóng rơi vào tình trạng này... Mặt khác, căn cứ vào đặc điểm cuối cùng trong tổng kết về satory của D.T.Suzuki là tính nhất thời, tôi cho rằng ông đã có sơ suất khi mô tả kinh nghiệm đó là đại giác. Thực ra theo mô tả của ông chúng ta mới chỉ tiếp xúc với một trạng thái chứng ngộ tức thời. Nên chăng có sự phân biệt rạch ròi giữa hai khái niệm: khai ngộ tức thời và đại giác ?! Kinh nghiệm về một trạng thái chứng ngộ tức thời, thường được nhận nhầm như một kinh nghiệm đại giác. Trong Thiền tông Nhật Bản có sự ngầm quy ước một vấn đề rất quan trọng là: satory là từ phiên âm tiếng Nhật để chỉ tình trạng đại giác của các Thiền sư trưởng lão hoặc của chư Phật. Một từ đồng nghĩa là kenshô dùng để chỉ "một thể nghiệm đang nảy sinh và có thể đẩy sâu hơn". (trích phần từ nguyên "kensho" trong Dictionnaire de la sagesse Orientale - Paris 1991). Tóm lại chúng ta có thể quan sát thấy các thể nghiệm trạng thái chứng ngộ tức thời. Các thể nghiệm này có thể phát triển cho đến kinh nghiệm đại giác – là trạng thái mà ở đó các chư Tổ đạt tới chứng ngộ hoàn toàn. Trong trường hợp của D.T.Suzuki, ông đã mô tả kensho thay cho một trạng thái satory hoàn hảo. Nhân tiện chúng ta có thể thống nhất với nhau rằng satory thì không có tính nhất thời! Như vậy chúng ta đã có các khái niệm tương đối về chuyển biến tâm thức của một hành giả. Sự kiện khai ngộ tức thời của một hành giả được tận dụng để xây dựng nên chuyển biến rốt ráo cuối cùng trong kinh nghiệm đại giác. Thay vì chỉ tiến hành các kỹ thuật Thiền (Zen), dòng Đại Toàn thiện triển khai kỹ thuật trạng thái trung gian để hành giả tăng cường cơ hội khai ngộ tính thấy. Các kinh sách Tây Tạng của dòng Đại Toàn thiện bắt nguồn từ một truyền thống xa xưa - một tôn giáo vĩnh hằng, mô tả rất chi tiết về khai ngộ tính thấy trong cái chết và quá trình đầu thai. Sách nổi tiếng nhất về vấn đề này là cuốn "Tử thư" hay "Tử thư Tây Tạng" do Evans Wentz chuyển ngữ. Tuy nhiên theo truyền thuyết thì trong kho tàng mà người ta khám phá ra có số lượng lớn các bản kinh, chứ không phải chỉ có bản kinh mô tả về cái chết. Như vậy có khả năng có sự mô tả đầy đủ về 6 tình trạng trung gian đặc biệt, thay vì 3 trạng thái trong lúc chết. Các trạng thái trung gian này làm tăng cường khả năng khai ngộ tính thấy một cách đột biến. Ngôn ngữ Phật giáo từ thế kỷ II (AD) bắt đầu gọi tên cho 6 tình trạng trung gian này là các bardo. Kinh nghiệm khai mở tính thấy được khả nhập trong trạng thái trung gian. Các trạng thái trung gian vẫn diễn ra suốt hành trình tâm thức, xuyên qua sống - chết. Ba bardo diễn ra trong lúc sống và ba bardo kia diễn ra trong lúc chết và tái sinh. Vấn đề là hành giả có nắm bắt được sự khai ngộ đó không, và tìm cách khiến cho điều đó phát huệ như thế nào? Như vậy tạm thời tôi có thể kết luận rằng: thực hành kỹ thuật bardo có hiệu quả to lớn đẩy hành giả đến các cơ hội khai ngộ tính thấy. Vì thế việc khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian nên được coi như một kỹ thuật phát triển tâm thức đặc biệt.Tôi tin rằng đây là vấn đề cơ bản và hầu như phần đông chúng ta vẫn còn hồ nghi về mối liên quan của hai khái niệm nêu trên… Từ đó dẫn xuất đến cách khế nhập giác ngộ theo truyền thống của dòng Đại Toàn thiện.

Ngược lại với cách đương đầu với thực tại bằng cách "trừng Tâm", dòng minh triết vĩnh cửu này không bận tâm lý giải mà tìm cách khế nhập với thực tại. Nhờ có sự hòa hợp tự nhiên như thế mà hành giả không sợ bị đột ngột thiêu cháy vì ánh sáng đại giác. Trái với suy nghĩ của nhiều người, sự khai ngộ tính thấy xảy ra khá thường xuyên, ngay trong ba trạng thái trung gian của đời sống. Sự khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian này nên được coi là cơ hội con. Việc làm quen với các cơ hội con là rất quan trọng. Bởi vì sau quá trình tiếp cận với chúng, hành giả có thể tiếp cận với cơ hội mẹ xuất hiện trong trường hợp đại giác – mà không bị bỡ ngỡ! Sự kiện chắp nối liên tục các cơ hội con này có tác dụng kích thích khả năng bành trướng tâm thúc sẽ khiến cho hành giả tiếp cận với cơ hội mẹ vào thời điểm đại giác. Hành giả nên tiếp cận với một bậc thầy để có nhận thức về cơ hội con. Sau đó thì y nên tự mình tích tụ các kinh nghiệm để có cơ hội chuyển hóa... Rất xa xưa hơn về quá khứ... Những văn bản đầu tiên vào khoảng đầu thế kỷ II ghi chép lại rằng truyền thống Đại Toàn thiện đã bắt đầu được hoằng dương bởi Garab Dorje - đạo sư loài người đầu tiên. Theo các nhà nghiên cứu thì ngài sinh năm 55 AD. Tuy nhiên các lạt-ma ngay tại truyền thống thì khẳng định ngài sống 166 năm sau Bát Niết Bàn (parrinirvana) của Đức Phật. Mặt khác người ta quan niệm ngài không ngừng tái sinh và tiếp nhận truyền thống Đại Toàn thiện từ các vị Phật quá khứ... Ngài nhấn mạnh đến khả năng khai ngộ tính thấy thông qua "Ba lời tuyên bố đánh vào những điểm thiết yếu", hay còn được biết đến với tác phẩm có tên gọi "Những chữ vàng" (John Reynoids - NXB Snow Lion - 1996). Nội dung ba tuyên bố: +Sự khai ngộ tính thấy được giới thiệu trực tiếp từ thầy cho trò. (Trong đó, theo tôi nên nhấn mạnh thêm rằng: trò là người cảm nhận và duy trì truyền thống, thầy là người đã trải qua sự khai ngộ và đồng nhất với truyền thống). +Người thực hành không còn nghi ngờ gì nữa về sự khai ngộ tính thấy. +Người thực hành tiếp tục trong trạng thái của tính thấy đã được khai ngộ cho đến khi đạt Đại Giác. Thông qua ba tuyên bố này chúng ta có thể thấy truyền thống Đại Toàn thiện rất chú trọng đến khả năng khai ngộ tính thấy tại tất cả các trạng thái trung gian, không phụ thuộc vào tình trạng sống, chết. Sự kiện khai ngộ tính thấy rất khác biệt tại mỗi cá nhân và hoàn cảnh. Sự kiện khai ngộ tính thấy là kinh nghiệm cá nhân nên không có giá trị gì khi phổ biến hay mô tả bởi chứng nhân. Sau khi đạt được tình trạng khai ngộ tính thấy, hành giả cần tăng cường khát vọng đại giác, ngõ hầu có thể nhanh chóng đạt được sự giác ngộ hoàn toàn. Như vậy trước khi đi sâu vào các trạng thái trung gian, tôi xin giới thiệu qua một chút về cặp phạm trù đại giác (bodhi) - khát vọng đại giác (bodhichitta). Truyền thống xa xưa từ tôn giáo vĩnh hằng chỉ ra rằng con người cũng như nhiều loài khác đều có rất nhiều cơ hội trải qua sự khai ngộ tính thấy, nhưng tất cả đều bị lãng quên, trừ những người tu tập theo truyền thống Du Già. (Truyền thống này rõ ràng siêu việt thời gian, nhưng chúng ta chỉ có thể dùng tên gọi này để trỏ. Tên gọi này bắt đầu cùng với văn minh Aryan trong kỷ nguyên loài người hiện nay) Đại giác chỉ hành trạng của người tu theo Tứ Diệu Đế, đạt quả thánh Alahan (Arhat). Nhưng khát vọng đại giác là sự tự nguyện của tâm thức cá thể.

Đây là sự kiện khác biệt cơ bản mà chúng ta nên phân biệt. Sự thành tựu chỉ đến khi có sự kết hợp hài hòa giữa hình thức và nội dung. Chúng ta có thể thấy có rất nhiều người tu tập nhưng các vị thành tựu giả thì không sản sinh theo đơn đặt hàng được... Chúng ta có thể học hỏi nhiều điều qua cuộc đời của Đức Phật. Khởi đầu ngài bị "sốc" khi chứng kiến cảnh khổ ở bốn cửa thành. Đây chính là "cơ hội con" đầu tiên. Kể từ đó ngài bắt đầu tầm sư học đạo và tiếp tục trải nghiệm rất nhiều cơ hội con khác… nhưng ngài chưa thỏa mãn với điều đó. Ngài học thiền theo Tứ Thiền Thiên và nhiều môn khác, nhưng không đạt tới đại giác nhờ các môn này. Sự đối diện với tâm thức của chính mình làm nẩy sinh trong ngài khát vọng đại giác. Sau khi phát nguyện - khẳng định khát vọng đại giác - và ngồi dưới bóng cây Bồ Đề ngài đã chứng quả Alahan (Arhat). Thông qua "Ba tuyên bố đánh vào những điểm thiết yếu" chúng ta có thể thấy người thầy - được đồng nhất với truyền thống, đã đánh thức các "cơ hội con" trong các trạng thái trung gian (bardo). Để sau đó người trò tự lực tu tập và đạt tới đồng nhất "cơ hội con" với "cơ hội mẹ" trong đại giác. Một vấn đề quan trọng nữa mà chúng ta nên lưu tâm. Đó là việc phổ biến kiến thức về bardo có lịch sử lâu đời. Kể từ các truyền thống xa xưa trước khi các văn bản Dzogchen đầu tiên ra đời rất lâu. Hơn nữa nó còn được tìm thấy trong các giáo lý của đại sư Naropa ( Sáu học thuyết của Naropa - Nâro Chodrug). Ông này truyền cho dịch giả Marpa. Đến lượt Marpa truyền lại giáo lý cho Milarepa... Cuối cùng các giáo lý này được thu thập và phổ biến trong cả hai trường phái khác tại Tây Tạng là Kagyupa và truyền thống Chod (Đoạn giáo - chú tâm đến hạnh từ bỏ, nên bị hòa vào các truyền thống khác)... Đại sư Naropa là người cùng thời với đại sư Atisha. Naropa đã từng có ảnh hưởng lớn tại học viện Nalanda. Hơn nữa điều quan trọng là ông tiếp nhận sự khai tâm từ thầy của ông là một Thiền giả Ấn Độ tên là Tilopa. Điều đó chứng tỏ kiến thức về bardo có chiết xuất từ nhiều nguồn và được kiểm định nghiêm ngặt qua thực hành của nhiều thế hệ. Một cơ duyên may mắn cho thời đại của chúng ta là sự tái khám phá giáo lý Bardo do Khai mật tạng Đại pháp vương Orgyen Kusum Lingpa. Ngài đã dành nhiều sự quan tâm để phát huy ích lợi của kho tàng này cho nhân loại trong giai đoạn khó khăn này… Xin quý đạo hữu tìm hiểu thêm trình bày của ngài Orgyen Kusum Lingpa trong tác phẩm Một kho tàng các giáo huấn siêu việt về tri giác của trí huệ nguyên thủy – NXB Thiện tri thức 2002. (Bản tiếng Anh – A treasury of sublime instructions on the percention of primordial wisdom – Jewel Island Press 2000). Có 6 bardo, 3 bardo liên quan đến sự tụ tập của 5 yếu tố là đất, nước, lửa, gió và không gian. Trong 3 bardo này chúng ta sẽ tìm các kinh nghiệm con là các cơ hội khai ngộ tính thấy như là một trạng thái "siêu thức". 3 bardo tiếp theo liên quan đến sự tan rã (và tái kết cấu) của 5 yếu tố nói trên, là một cơ hội quý báu để nhận biết bản chất hiện thực tinh thần cá vị. Nơi đó cơ hội (kinh nghiệm) con hoà nhập vào cơ hội (kinh nghiệm) mẹ. Đặc biệt là trong bardo thiền định, tuy chưa có sự giải phóng thần thức ra khỏi 5 yếu tố, nhưng thiền giả vẫn có thể đạt tới hòa nhập như vậy để đạt tới đại giác... Trong truyền thống của Ấn Độ giáo còn gọi đó là giai đoạn thứ tư của ý thức bậc cao (turiya) để đạt được ý thức về Brahman (Brahma chaitanya). Văn bản viết về bardo được tìm thấy theo truyền thống Dzogchen được coi như một kho tàng (gter_ma) do chính đại sư Liên Hoa Sinh truyền lại. Bản văn đó có tên là

Karling Shitro. Một phần trong bản văn này được tiến sỹ Evans Wentz mô tả thành sách Tử thư ( hay Tử thư Tây Tạng, để phân biệt với sách Tử thư Ai Cập). Karling Shitro mô tả 6 bardo: +Bardo của trạng thái thức. (Sanscrit (Sa) viết là: jati antarabhava - Tây Tạng (TT) viết là: kye ne bardo) +Bardo của trạng thái mộng. ( Sa: svapnantabhava - TT: milam bardo) +Bardo thiền định. ( Sa: samadhi antarabhava - TT: samten bardo) +Bardo cận tử. ( Sa: mumursantarabhava - TT: chilkai bardo) +Bardo của Pháp thân diệu dụng. ( Sa: dharmatantarabhava - TT: chonyid bardo/ có tài liệu viết là cheunyi bardo) +Bardo của trưởng thành và tái sinh. ( Sa: bhavantarabhava - TT: sipa bardo/ có tài liệu viết là sipai bardo). Trước khi cụ thể từng vấn nạn của trạng thái trung gian, tôi xin kính tổng soát lại một số vấn đề. + Lý thuyết bardo có nguồn gốc lâu đời. Tất cả các truyền thống tôn giáo trên thế giới đều có mô tả về một cõi sống trung gian sau khi chết cho đến trước khi tái sinh. Thậm chí ngay cả truyền thống Thiên Chúa giáo cũng công nhận sự luân hồi trong những thế kỷ đầu tiên... Do đó cũng gián tiếp công nhận bardo sau khi chết và trước khi tái sinh. + Khái niệm thân thể tâm thức (Sa: Mano kaya) là một khái niệm mới, còn gọi là thức thân, nó có xu hướng được cụ thể hóa theo tinh thần Hán hóa. Thực ra thức thân có thể chiết xuất từ trong giấc mộng, trong một nỗ lực thiền định, một cảm xúc đời sống... (nghĩa là khi mà cơ thể vật lý vẫn còn liên hệ với tâm thức). Vậy có thể kết luận lại là sự mô tả thân thức chỉ là tập hợp nhất thời sự phóng chiếu của tâm. + Kinh nghiệm về một trạng thái chứng ngộ tức thời, thường được nhận nhầm như một kinh nghiệm đại giác. Trong Thiền tông Nhật Bản có sự ngầm quy ước một vấn đề rất quan trọng là: “satory” là từ phiên âm tiếng Nhật để chỉ tình trạng đại giác của các trưởng lão Thiền hoặc của chư Phật. Một từ đồng nghĩa là “kenshô” dùng để chỉ "một thể nghiệm đang nảy sinh và có thể đẩy sâu hơn". (trích phần từ nguyên "kensho" trong Dictionnaire de la sagesse Orientale - Paris 1991). + Các từ có nguốn gốc nước ngoài khi phiên âm qua tiếng Việt thường có sự thiếu nhất quán. Ví dụ: satory = satori/ Yoga = Du già/ Arhat = A la hán = Alahan... Riêng các từ mô tả và phiên âm các bardo thì có thể phân biệt tùy theo nguồn tư liệu là theo tiếng Anh - Mỹ hay tiếng Pháp. + Các bản văn về "Ba tuyên bố đánh vào các điểm thiết yếu" là tương đương nhau về nội dung. Chỉ có hình thức diễn đạt là khác nhau một chút. Ở đây tôi chọn cách trình bày theo tinh thần "Thik Sum Nedek" của Namkhai Norbu. Thoạt tiên tôi cũng hơi hồ nghi về sự nhấn mạnh vai trò của người thầy với người tiếp thu truyền thống. Có lẽ tác giả (Namkhai Norbu) hơi nhấn mạnh chi tiết này(!). Tuy nhiên nó lại minh họa được hoàn cảnh kêu khóc vật nài tiếc thương sự ra đi của vị đạo sư Garab Dorje theo như trong cuốn "Những chữ vàng" mô tả... + Trong 6 bardo thì bardo của đời hiện tại (kyene bardo) chính là trạng thái trung gian đang diễn ra trong đời sống chúng ta. Có tài liệu nói đó là tình trạng diễn ra từ lúc vào bụng mẹ cho đến lúc lìa đời. Có tài liệu nói thời điểm tính bắt đầu từ lúc sinh... Thậm chí có tác giả còn dùng lẫn lộn cả hai mốc này trong một tài liệu.

+ Trong trạng thái trung gian của đời hiện tại cùng với trạng thái trung gian của giấc mộng và trạng thái trung gian của thiền định, chúng ta sẽ làm quen với một khái niệm mà chúng ta đã có lần đề cập qua là: "turiya" - giai đoạn thứ tư của ý thức bậc cao. + Các cơ hội khai ngộ tính thấy luôn xuất hiện trong các bardo. Khai ngộ tính thấy xuất hiện trong từng hoàn cảnh tâm thức khác nhau, nhưng trình độ khai ngộ là bình đẳng ở mọi hành giả. Vấn đề là các cơ hội khai ngộ đó vẫn trôi đi, trôi đi... trong từng giây phút, từng giây phút... mà chúng ta không nắm bắt được... Những người khai ngộ tính thấy trong bardo không phải hiếm có. Nhưng đừng vội nhầm cơ hội con đó với cơ hội mẹ trong đại giác!!! Không ít người bị ngộ nhận về điều này và chấm dứt luôn tiến hóa tâm linh của bản thân tại đó. + "Khát vọng đại giác" là một tất yếu nội tâm vô cùng quan trọng để đẩy hành giả đến đại giác. Đại sư Bạch Vân mô tả đó là trạng thái "nuốt chửng Vũ Trụ". Thật không có gì bằng!!! + Bardo của lúc chết (TT - chika bardo; Sa - mumursantarabhava), của ánh sáng tịnh quang (TT - cheunyi bardo; Sa - dharmatantarabhava) - còn gọi là bardo của Pháp thân diệu dụng và bardo của trưởng thành và tái sinh (TT - sipai bardo; Sa bhavantarabhava) được mô tả kỹ lưỡng trong tài liệu Tử thư Tây Tạng. Xin quý bạn đọc vui lòng tham khảo tài liệu trên! Chỉ cần chú ý một điều thú vị là trong trạng thái thức hoàn toàn có thể thực tập các bài tập tiếp cận với ba bardo này! Qua đó thu thập được các cơ hội con, thậm chí đạt tới đại giác như trong trường hợp của nhiều vị đại sư. Quay lại với kyene bardo, chúng ta có rất nhiều việc phải làm. Khởi đầu là cách nắm bắt được tình trạng trung gian này. Trong khi nó vẫn không ngừng diễn ra trong suốt cuộc đời. Đánh thức các kinh nghiệm và chuẩn bị các chiều hướng diễn biến (phóng chiếu) của tâm thức. (Tuy chỉ có vài dòng ngắn ngủi vậy thôi, nhưng tất cả đều là tâm tạo, nên nói mãi khôn cùng!). Kinh sách của truyền thống Dzogchen có giáo huấn "Giải thoát tự nhiên của bản tính nền tảng" (Kunshye rangdrol) để giúp cho hành giả tu tập với kyene bardo. Trong phần cuối của bài viết, tôi sẽ trình bày một số các trải nghiệm của bản thân trong đời sống để "đối phó" với các xúc tình. Qua đó đối diện với tâm thức của chính mình... Milam bardo là trạng thái trung gian trong giấc mộng. Bình thường con người ngủ trong 1/3 đời người. Theo Namkhai Norbu thì 1/4 của giấc ngủ trải qua trong giấc mộng. Điều này theo tôi còn phải căn cứ theo độ sâu của giấc ngủ nữa. Do các kỹ thuật hoặc tự phát, con người có thể nắm bắt được tình trạng trung gian của giấc mộng, và qua đó khai ngộ tính thấy. Điều đó đạt được do nhận thức được xúc tình và toàn bộ giấc mộng chính là phóng chiếu của tâm. Giáo lý giúp cho hành giả nắm bắt được sự đối diện với tâm thức trong mộng gọi là sự giải thoát tự nhiên của mọi ảo ảnh trong trạng thái mộng (Trelpa Rangdrol). Có rất nhiều kỹ thuật có thể áp dụng để tăng cường nhận thức tính của hành giả trong mộng. Nhưng nhìn chung có hai dạng kỹ thuật chủ động và thụ động. Sau khi làm chủ các xúc tình trong giấc mộng, người ta bắt đầu tham gia thao tác tâm trong giấc mộng. Đây bắt đầu sự giao lưu và học hỏi với nhiều cõi giới - là sự thị hiện của bể tâm... Nhìn chung sự phân biệt hai kỹ thuật mộng thụ động và chủ động chỉ là hình thức. Tuy nhiên ta có thể tạm thời tách bạch như thế để tiện theo dõi.

Căn cứ theo hướng tập kết tâm thức khi mộng có hữu tuyến hay không mà ta sẽ xếp các kỹ thuật mộng thuộc dạng chủ động hay thụ động. Các kỹ thuật mộng thụ động cơ bản + Kỹ thuật chia tách giấc ngủ: hành giả chia tách giấc ngủ thành nhiều giấc ngủ nhỏ. Thường phải sử dụng báo thức trong thời kỳ đầu. Ví dụ một đêm ngủ trung bình 10 giờ được báo thức 3 - 4 lần... Chú ý: Kỹ thuật không áp dụng với người dễ bị rối loạn giấc ngủ. + Kỹ thuật quán tưởng không gian: hành giả quán tưởng đang ở trong một không gian thân thuộc, nhưng không phải là không gian hiện tại. + Kỹ thuật quán tưởng và bành trướng ý thức: hành giả quán tưởng thân người bồng bềnh, sau đó bành trướng ý thức bằng cách hình dung mình to lớn vô cùng. + Kỹ thuật quán tưởng và du hành xuất vía: quán tưởng tập trung năng lượng tại trục năng lượng trung ương. Bành trướng năng lượng qua đỉnh đầu trước khi đi vào giấc ngủ. Các hành giả có tiếp cận với kỹ thuật tĩnh khí công có thể hỗ trợ cho nỗ lực bành trướng bằng cách dồn năng lượng từ Đan Điền lên vùng huyệt Trung Quản rồi tràn lên phía trên, nơi huyệt Bách Hội... Chú ý: kỹ thuật cần có sự hướng dẫn và trợ giúp của người có kinh nghiệm! + Kỹ thuật ăn đạm bạc: ăn rất ít hoặc không ăn trước khi ngủ, có thể ăn vài hạt ngũ cốc buổi tối... + "Kỹ thuật" ăn nặng nề: thật ra đây khó có thể được coi là một kỹ thuật, mà thường thì do ngẫu nhiên mà hành giả bị quá tải trong bữa ăn gần nhất, kết quả có thể dẫn đến một diễn biến tự phát, trong đó hành giả chứng kiến một trạng thái trung gian chất lượng kém... + "Kỹ thuật" nỗ lực thân thể: nhân chứng chứng kiến trạng thái trung gian thường là tự phát, sau một nỗ lực thân thể quá mức. ... Tóm lại có rất nhiều kỹ thuật mộng thụ động, cần có sự trao đổi với người có kinh nghiệm và lựa chọn phù hợp với bản thân. Để đảm bảo chất lượng cuộc sống sau thực hành mộng không diễn biến tiêu cực, hành giả nên chọn thời điểm thích hợp để thực hành. Tốt nhất là tận dụng được một đợt nghỉ ngơi kéo dài. Hơn nữa ban đầu nên kéo dài giấc ngủ lên đến càng dài càng tốt. Các kỹ thuật mộng chủ động cơ bản Hành giả tiến hành quán tưởng và định hướng tâm thức trước khi ngủ một cách chủ động. Hầu như hành giả sẽ có thể định hướng và tiến hành thao tác mộng được trong thời gian rất ngắn nếu áp dụng các kỹ thuật này. + Kỹ thuật cầu mộng: thường là kỹ thuật hỗn hợp, trước đây khá phổ biến trong dân gian. Người cầu mộng thường bị một chấn thương tâm lý nặng nề, sau đó kết hợp với trai giới và hành lễ nghiêm ngặt trong vài ngày. Cuối cùng người cầu mộng cầu xin thần linh báo mộng và nằm ngủ tại bối cảnh hành lễ để chờ mộng. Giấc mộng này thường chỉ là một giấc mộng sáng tỏ, không giúp cho người mộng chứng kiến trạng thái trung gian và không có tác dụng khai tâm... Tuy nhiên một hành giả thì vẫn có thể rút tỉa được nhiều kinh nghiệm tâm linh từ dạng thực hành này.

+ Kỹ thuật nằm theo tư thế "sư tử": hành giả đã có quá trình tập luyện để đảm bảo hệ thống các kênh năng lượng (nadi) thông suốt. Trước và trong khi ngủ, con trai nằm quay về bên phải, con gái nằm quay về bên trái, hậu môn giữ chặt, cột sống thẳng. + Kỹ thuật cầu nguyện: hành giả cầu nguyện và hình dung được dẫn dắt bởi vị hóa thần bổn tôn hoặc đối tượng dẫn dắt tâm linh trong trường hợp cụ thể. + Kỹ thuật quán tưởng tại trung tâm cổ họng: đây là kỹ thuật phổ biến trong truyền thống Ấn-Tạng. Hành giả quán tưởng về một khối cầu năng lượng sáng trắng nơi trung tâm cổ họng, hoặc quán hình ảnh đức Liên Hoa Sinh ở tâm của khối cầu, hoặc quán chữ A (viết bằng chữ Tạng – phần tiếp theo tôi sẽ giải thích tại sao lại có ưu tiên quán chủng tự này), hoặc quán một hoa sen bốn cánh (trung tâm có chữ OM, mỗi cánh có một chữ là AH, NU, TA, RA). Nếu hành giả là người tu tập theo truyền thống khác thì có thể quán tưởng bất kỳ hình ảnh nào mà người đó có ấn tượng. Ví dụ quán tưởng hình ảnh Đức Phật Dược Sư… Hình quán tưởng khối cầu năng lượng sáng trắng là kỹ thuật đơn giản, không phụ thuộc vào truyền thống tu tập và do đó được áp dụng rộng rãi. + Kỹ thuật quán âm: nếu hành giả không thể tiếp cận được với các cách hình dung về Tạng tự thì có thể quán âm như thể xung năng của âm thanh đang từ trung tâm cổ họng lan tỏa đi khắp toàn thân. Có thể kèm theo quán chiếu thấy sự phóng chiếu của ánh sáng trong suốt từ trung tâm cổ họng... Đấy không là gì khác, mà cũng chính là sự phóng chiếu của tâm... + Kỹ thuật tình thương: thực ra cũng khó có thể nói đây là kỹ thuật chủ động hay thụ động. Khi thực hành các bài tập tập trung năng lượng tại vùng ngực trước khi ngủ, hành giả sẽ được tham gia các giấc mộng tại các cõi mà ở đó các sinh linh chỉ tồn tại bằng thân tâm thức (mano kaya). Có điều lợi thế là trong kỹ thuật này hành giả tiến hành các thao tác mộng rất dễ dàng... ... Như vậy các kỹ thuật mộng chủ động cũng rất phong phú. Nhưng việc sáng tỏ nhận thức rằng mình đang trong giấc mộng không phải là mục tiêu tối hậu của thực hành mộng. Đó mới chỉ là bước đầu để tiếp cận trạng thái trung gian trong mộng mà thôi. Truyền thống Ấn-Tạng rất đề cao tầm quan trọng của việc chứng kiến ánh sáng tịnh quang và chuyển hóa xúc tình trong mộng thành ánh sáng tịnh quang. Đây là khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian của giấc mộng. Một kinh nghiệm con điển hình rất đáng kể để khi thân vật chất tan rã trong lúc chết, hành giả sẽ chứng kinh nghiệm mẹ ngay lập tức. Song song với việc trải nghiệm và chuyển hóa ánh sáng, còn rất nhiều bài học tại các cõi giới trong mộng. Hành giả sẽ tập xử lý các bài học trong mộng. Các bài tập này sẽ trợ giúp cho hành giả rất nhiều trước khi chứng kiến ánh sáng tịnh quang. Nhưng một hành giả tinh tiến có thể chỉ cần trải qua các bài học này để đạt tới khai ngộ trong bardo mộng mà không nhất thiết phải chứng ánh sáng tịnh quang... Nói chính xác hơn sau khi hội nhập các bài học tăng trưởng nhận thức trong mộng, hành giả mặc dù đã có kinh nghiệm con hay chưa vẫn có cơ hội chứng ánh sáng tịnh quang... Ánh sáng này có đặc điểm vô cùng rực rỡ, xuyên thấu, không nóng rát... và có tính chất của một trường thông tin trực tuyến. Ánh sáng này không bị suy suyển trong không và thời gian. Lại nói về kỹ thuật tình thương là kỹ thuật có ưu thế trong việc xử lý và hội nhập các bài học trong mộng. Khi thể xác được thanh lọc tốt, thân thức (mano kaya) có thể thâm

nhập vào nhiều cõi giới mà ở đó sự sống chỉ tồn tại ở dạng thân tâm thức. Ở các cõi giới này, rất nhiều khi các sinh linh xa lạ với khái niệm tình thương. Tình thương như vậy mà được coi như một dấu kỳ, phép lạ. Các sinh linh không có thân vật lý rất dễ dàng bị tổn thương bởi các căn nguyên tâm lý, chẳng hạn như nỗi sợ có thể "giết chết" họ... Khi đó hành giả có thể dùng năng lực tình thương để phục hồi lại cả thân tâm thức lẫn “không gian” tại cõi đó... Các sinh linh tại các cõi giới khác có thể gặp một số vấn đề "hữu hình". Ví dụ họ bị mắc một số chứng bệnh đặc biệt, hoặc họ muốn "xây cất" một số công trình có tính cố định, khi đó hành giả có thể tham gia vào việc chữa trị hoặc "tư vấn" xây dựng ... Trước khi được chấp nhận xâm nhập vào đời sống các cõi giới này, chắc chắn hành giả phải sống tràn đầy tình thương ngay trong cõi vật lý. Việc hội nhập các cõi giới của hành giả giống như một vị khách quý, thích thì họ mời, không thích thì thôi… Trong phần kỹ thuật quán tưởng có kỹ thuật quán tưởng âm A. Hầu hết các sách vở bàn về yoga giấc mộng đều nhắc đến kỹ thuật này, nhưng không thấy giải thích gì về tầm quan trọng của việc này. Trong truyền thống Mật thừa thì vị Tỳ-lô-giá-na Phật có vị trí đặc biệt quan trọng. Kinh điển ân sủng chúng sinh các cõi của Tỳ-lô-giá-na Phật siêu việt các cõi giới và được gọi là Pháp nhĩ thường hằng kinh. Ngài Kim Cương Tát Đỏa tự thân nghe được Như Lai thuyết pháp, kết tập thành 100 000 lời tụng (mỗi lời 32 chữ). Ngài Long Mãnh Bồ Tát chọn lấy 3500 lời tụng biên tập thành kinh Đại Nhật Như Lai. Hầu hết các nghi quỹ lưu truyền thế gian thuộc Thai Tạng Pháp đều rút ra từ đại ý của kinh này. Kinh này tựu trung là nghĩa khai thị bản tâm của chúng sinh. Khởi trong muôn vạn pháp, trụ lại duy trong chữ A. Gọi là A - bản tâm bất sinh. A lại là khởi đầu của tất cả các âm, chu biến thành hết thảy các âm... nên quán âm này cũng hội được diệu dụng... Sự khai ngộ này có những mức độ khác nhau và có thể có trước, sau hoặc trong trạng thái bardo tuỳ thuộc vào mỗi hành giả. Trong quá trình thực hành về bardo giấc mộng hành giả có thể : - Không nhận biết giấc mộng là giấc mộng - Nhận biết giấc mộng là giấc mộng - Nối tiếp giấc mộng, khi đang trong giấc mộng thì bị ngắt quãng bởi tác động bên ngoài . - Điều chỉnh giấc mộng theo ý muốn. - Quan sát giấc mộng với sự tỉnh thức và ứng dụng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày . Các kĩ thuật quán: quả cầu ánh sáng trắng, đỏ, chữ phạn (có thể quán bằng chữ A Việt Nam ) bằng âm thanh, bằng tình thương,… đều có tác dụng tùy vào căn cơ và tính cách từng hành giả . Ngoài ra vấn đề dục trong giấc mộng là điều hầu hết mọi người đều gặp qua. Chúng ta có thể chuyển hóa dục ngay trong giấc mộng . Sẽ có các trường hợp : - Cảm giác mặc cảm và lo lắng sau giấc mộng. - Cảm giác mặc cảm và tính toán, không dám buông thả mình trong giấc mộng ( trường hợp không biết mình trong giấc mộng ).

- Buông thả mình hoàn toàn trong giấc mộng ( trường hợp không biết mình trong giấc mộng) và dẫn tới mộng tinh ở nam và khoái cảm ở nữ . - Biết là giấc mộng và tiếp tục buông thả mình. - Biết là giấc mộng, tham gia vào giấc mộng và kiểm soát sự mộng tinh hay khoái cảm về mặt thực thể. - Biết là giấc mộng và quán sát nó như là một trò chơi của tâm thức . Quay lại vấn đề chúng ta đang bàn luận thì milam bardo quả thật rất thú vị, nhưng giá trị tu chứng của nó không quyết định bằng chuyển hoá trong trạng thái trung gian của thiền định và trạng thái trung gian lúc thức. Bởi vì hành giả không chủ động rơi vào trạng thái trung gian trong mộng dễ dàng như trong hai bardo thiền định và lúc thức. Bardo của đời sống và bardo thiền định là những cơ hội bổ trợ và không ngừng làm sáng tỏ cho nhau. Ba mục tiêu của khai ngộ trong hai bardo này gồm có: + củng cố định lực + giác ngộ + hòa nhập cuộc sống Để thâm nhập được trạng thái này khởi đầu phải xây dựng quyết tâm và lập nguyện vững chắc. Sau đó tự nêu ra cho mình những câu hỏi, những tình huống để đấu tranh kịch liệt trong tâm thức như đang hành xử với một công án Thiền. Các bài tập thì muôn hình muôn dạng, nhưng chỉ là tạo cơ hội để hành giả đối diện với tâm thức của chính mình. Qua quá trình vật lộn - "đại nghi" - như thế, dần dần hành giả sẽ đạt được thanh lọc thân tâm. Đó là lúc mà mỗi hành vi của thân - khẩu - ý đều không còn cơ may tạo tác nghiệp. Bởi vì mỗi hành vi của thân - khẩu - ý đều chỉ phản ảnh ngoại cảnh trong tấm gương vô nhiễm của chủ thể. Sau khi đối diện với tâm của chính mình, hành giả sẽ chủ động nắm bắt được các cơ hội con và duy trì được trạng thái đó kéo dài trong suốt trạng thái trung gian của đời sống một cách thường trực. Đó là giai đoạn của bộ ba: + quán thế + ân sủng và thương yêu + khát vọng đại giác Muốn duy trì tính thấy trong trạng thái trung gian này chúng ta cần trụ trong tư thế thiền động hoặc tĩnh. Dù là thiền gì thì cũng cần đánh thức 11 điểm "đóng" và 11 điểm "mở". +11 điểm “đóng” là các điểm: vùng đỉnh đầu (huyệt Bách Hội), vùng sau tai (2 điểm), vai (2 điểm), vùng cẳng tay (2 điểm), vùng hông (2 điểm) và vùng cẳng chân (2 điểm). +11 điểm "mở" là: mắt(2), mũi(2),tai(2), miệng, vùng hầu họng, lỗ tiền âm, hậu âm, đoạn trên của trực tràng. Trong các kỹ thuật nêu trên thì kỹ thuật luyện tập vùng hầu họng và kỹ thuật luyện tập đoạn trên của trực tràng là rất cao cấp và tất nhiên là vô cùng quan trọng. Kỹ thuật luyện các điểm "mở" rất quan trọng. Điều đặc biệt cần lưu ý là các kỹ thuật không thể tiến hành đơn độc được, mà phải tiến hành đồng thời. Quán hai hệ thống này hành giả sẽ thoát ly khỏi sự phụ thuộc về con đường trao đổi năng lượng. Hành giả có sự khai mở các hệ thống kinh lạc đặc biệt để có thể tận dụng cả bốn con đường trao đổi năng lượng: đoàn thực, xúc thực, tư thực và thức thực.

Muốn khởi tạo trạng thái trung gian trong hai bardo này cần tận dụng một ưu thế nổi bật của hai giai đoạn này là sự chủ động về hơi thở. Tập trung nội quán để có thể hòa nhập hơi thở “bên trong” và “bên ngoài” với nhau một cách liên tục, chủ động... Nếu thực hành được như vậy hành giả sẽ thường xuyên an trú trong một trường ánh sáng thanh tịnh. Tại đó hành giả an trú như trong bụng mẹ và các ảnh hưởng của nghiệp cũng không còn tạo tác... Cuối cùng có thể kết luận là sự chứng kiến bản tâm là cơ hội quan trọng, chúng ta không ngừng truy tìm và đón bắt. Sau đó trải nghiệm này cần được bành trướng trong trạng thái trung gian kết hợp với sự chín muồi trong tâm thức hành giả - thể hiện trong khát vọng đại giác - đưa hành giả đạt tới đích cuối cùng.

Bài viết số 12 Các kỹ thuật quán tâm đặc biệt Trong thời điểm đầu tiên tôi thực hành quán tâm bằng hơi thở. Thay vì đi sâu vào kỹ thuật kiểm soát hơi thở hít vào và thở ra thì tôi tập trung vào kỹ thuật ngừng thở. Sau đó tôi thực hành quán tâm bằng các cử động của thân thể. Bắt đầu là các cử động chậm chạp, uyển chuyển ví dụ như trong trường hợp của các môn Dịch cân kinh và Thái cực quyền. Sau đó các chuyển động được gia tốc trong các môn đòi hỏi tốc độ như kiếm thuật và võ tay không. Trong giai đoạn gần cuối tôi thực hiện những bài tập quán tâm đặc biệt gồm bộ ba: + Quán tưởng về các hoàn cảnh chết: Quán tưởng các điều kiện bất kỳ như thật sự xảy ra, trong đó bản thân mình đối diện với cái chết. Sự quán tưởng này rất nguy hiểm với những người nhạy cảm. Sự kiện bị chi phối bởi các ấn tượng tiêu cực, ám ảnh do hoàn cảnh chết đem lại có lúc làm cho hành giả bị hoang mang, suy nhược…Do đó tôi đặc biệt khuyên mọi người cần cẩn thận khi quyết định tập luyện kỹ thuật quán tâm này. Tôi không tìm thấy tài liệu đề cập về điều này để trình bày cụ thể hơn cho quý vị… Do đó quý vị sẽ phải tự mình đối mặt với câu hỏi có lựa chọn kỹ thuật quán tâm này hay không. + Quán tưởng về nghịch cảnh đột ngột: Tôi thường xuyên quán tưởng đang đi đường thì có một người dội một thùng chất thải lớn vào người… Trong trường hợp đó tôi sẽ có dịp chuyển hoá lập tức các tình cảm tiêu cực và trưởng thành sự tôn trọng tức thì với đối tượng trong cuộc. Tôi coi vị này như hoá thần bổn tôn và lập tức trở nên thông cảm, tôn trọng và biết ơn nghịch cảnh. + Ngủ với một nửa người ở trên mép giường: Nhờ đó tôi duy trì được trạng thái tỉnh giác thường trực kể cả trong giấc ngủ. Điều này tôi thực hiện đã lâu và đến bây giờ tôi vẫn thực hành như một thói quen, mặc dù điều này giờ đây trở thành không cần thiết. Do duy trì khả năng tỉnh giác như vậy nên kể từ gần một năm nay tôi hầu như không ngủ. Chỉ trừ những lúc bị kiệt sức hoặc ăn phải thức ăn quá nhiều đạm thì một giấc ngủ ngắn khoảng vài mươi phút sẽ chi phối tôi. Như vậy quý vị cũng có thể hình dung ra một sự kiện khá thú vị là nếu như sinh hoạt bình thường, không ngủ thì tôi sẽ khoẻ hơn là sinh hoạt có bồi dưỡng bằng thức ăn nặng và ngủ sâu. Trong giai đoạn hiện nay tôi quán tâm bằng cách bành trướng Bồ đề tâm. Nếu điều kiện cho phép thì tôi sẽ trụ trong cảnh giới Thức vô biên xứ và các thâm nhập sau đó.

(28.10.2008) Bài viết số 13 Con đường năng lực của Đại ấn Con đường năng lực bao gồm ba bước: Khí (Prana) – Mạch (Lung) và Hạt (Thigle). Muốn trải nghiệm và hoà nhập với Prana cần có các bài tập cảm nhận khí. Nhưng bài tập cụ thể như thế nào không phải là vấn đề. Quan trọng nhất là duy trì thực hành một cách bền bỉ. Dù tiến hành bất kỳ loại thức bài tập gì đi nữa thì kết quả cuối cùng bao giờ cũng dẫn dắt hành giả đến cảm nhận khí. Tuy nhiên cảm nhận khí trước và sau khi kinh mạch thông suốt là cả một sự khác biệt. Do đó hành giả cần duy trì năng lực cảm nhận khí trong suốt hành trình. Mạch là một vấn đề mà mức độ siêu hình trong nó đã trở thành một trở ngại to lớn cho các hành giả. Hầu như không còn mấy người có năng lực nhận thức đúng đắn về hệ thống kinh mạch tâm linh này. Người có năng lực nhận thức đúng cần rèn luyện trong thời gian dài sau đó mới có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào hệ thống kinh mạch của người khác. Như vậy nghĩa là mỗi hành giả trong thời điểm hiện nay hầu như phải tự vận động để đi tới đich mà rất hiếm khi hoà vào truyền thống nhanh chóng thông qua một người thầy đủ năng lực về Đại ấn. Mạch phân bố khắp toàn thân và chỉ hiển thị bởi năng lực thấu thị. Khả năng thấu thị càng sâu sắc thì cảm nhận về mạch càng chi tiết. Như vậy tất nhiên là người có năng lục về Đại ấn nhất định phải hoàn thiện về năng lực thấu thị. Trong toàn bộ hệ thống kinh mạch thì quan trọng nhất là hệ thống kinh mạch trung ương. Hệ thống này bình thường hoạt động dưới một sự giám sát chặt chẽ của các trung tâm năng lực đặc biệt. Trong quá trình tập luyện chuyển hoá năng lực hành giả sẽ dần dần “giành quyền” kiểm soát các trung tâm năng lực. Hạt là sự hội tụ và chuyển hoá sau cùng của năng lực. Hạt tập trung chủ yếu tại đường kinh mạch trung ương. Tại đó tuỳ theo mục tiêu cụ thể của hành giả mà chuyển hoá năng lực dưới dạng hạt sẽ thể hiện khác biệt. Một trong những hiệu ứng tiêu chuẩn nhất của việc chuyển hoá sau cùng này là sự xuất hiênh các cấp độ lạc. (29.10.2008) Phụ lục Tụng ca về sự thành tựu về lạc như thành tựu tâm Hỡi hành giả! Đại ấn bao gồm kỹ thuật quán tâm và thực hành năng lượng. Năng lượng vận động theo ba phạm trù: khí, mạch và hạt. Do ảnh hưởng của các tình cảm và độc chất mà kinh lạc bị tắc nghẽn Nhưng tắc nghẽn do độc chất thì dễ trải nghiệm hơn tắc nghẽn do tình chí rất nhiều. Do sự vận động của cơ thể mà các kinh lạc toàn thân được thông suốt. Do sự bất động của cơ thể mà năng lượng trong kinh lạc toàn thân tập trung về kinh mạch trung ương. Sự vận động năng lượng trong kinh mạch trung ương sẽ dẫn đến hình thành các hạt.

Sự vận động các hạt sẽ tạo nên lạc. Lạc lan tỏa khắp toàn thân sẽ đảm bảo thông suốt 72000 kinh mạch. Nếu một cơ thể bị tắc nghẽn không đáng kể thì nên dùng một phương pháp vận động từ bên ngoài để thông suốt kinh mạch toàn thân rồi dẫn đến thông suốt kinh mạch trung ương. Nếu một cơ thể bị trở ngại về vận động, hoặc do khuyết tật thân thể, hoặc tắc nghẽn ghê gớm do hóa chất và tình chí (rối loạn) thì phải áp dụng phương pháp bất động để tập trung năng lượng tại kinh mạch trung ương. Dù đi theo con đường nào thì cũng kết thúc giống nhau: - Lạc. Chỉ có điều này mới đảm bảo cơ thể vĩnh viễn không bị tắc nghẽn trở lại Do đó hành giả nhận thức thành tựu về lạc như thành tựu tâm Phụ lục Sáu cấp độ lạc xuất hiện trong mô tả của ngài Jetsun Milarepa. Bài viết số 14 Các kiến thức cơ bản về hệ thống kinh mạch bí mật 1. Hệ thống kinh mạch bí mật không hiển thị dưới dạng thức vật chất thông thường. Hệ thống kinh mạch bí mật bao gồm các kinh mạch ngoại biên và kinh mạch trung ương. Trên kinh mạch trung ương có các trung tâm năng lực phân bố theo hệ thống. 2. Hệ thống kinh mạch bí mật không chỉ giới hạn trong cơ thể vật lý mà còn phân bố xung quanh cơ thể vật lý như một thực thể tâm linh giúp cấu tạo nên lớp vỏ phi vật lý (hào quang) của cơ thể vật lý. 3. Hệ thống kinh mạch bí mật sẽ được khai mở trong quá trình vận động và thao tác năng lực của hành giả. Như vậy dù muốn hay không hành giả bắt buộc có cảm nhận về hệ thống kinh mạch bí mật của bản thân. Điều này khiến cho hành giả có thể tự tri mà không cần bất cứ sự chi phối nào từ bên ngoài. 4. Mỗi lớp năng lực thấu thị của hành giả cho phép y nhận thức được các trình độ khác nhau của hệ thống kinh mạch bí mật. 5. Bình thường các kinh mạch bí mật ở dưới dạng cuộn xoắn hoặc uốn lượn như một đồ thị hình sin. Khi trình độ chi phối năng lực của hành giả tốt lên thì các kinh mạch bí mật chuyển sang dạng thẳng. 6. Nói năng lực chuyển hoá của hành giả tốt lên thực ra là năng lực chuyển hoá nghiệp quả tăng lên…Hệ thống kinh mạch bí mật luôn luôn khai mở ở trình độ phù hợp với năng lực tâm linh của hành giả. 7. Các trung tâm năng lực và hệ thống kinh mạch bí mật của mỗi người có những đặc trưng khác nhau. Mỗi tình trạng tâm lý, cảm xúc hay thể chất của mỗi người trong mỗi thời điểm sẽ khiến cho mỗi trung tâm năng lực cũng như toàn thể cơ thể năng lượng có đặc trưng khác nhau.

8. Các trung tâm và các kinh mạch bí mật có thể bị rách nát, tắc nghẽn hay rối tung. Các loại hình năng lượng vận động trong kinh mạch bí mật và trung tâm có thể không còn phù hợp về tần số và cách thức trao đổi năng lực. Ví dụ như các trung tâm không quay đều, có thể quay quá nhanh hoặc quá chậm. 9. Một cơ thể năng lượng không những được phản ánh qua hệ thống các trung tâm năng lượng, hệ thống kinh mạch bí mật mà còn thể hiện trong toàn bộ lớp hào quang của cơ thể. Một đánh giá chính xác về tình trạng cơ thể năng lượng cần dựa trên độ dày của lớp hào quang; độ mịn; sự giao động của các hạt năng lượng… 10. Khả năng thấu thị như thị bằng quán tâm mới giúp hành giả có nhận thức chân xác về hệ thống kinh mạch bí mật. (29.10.2008) Bài viết số 15 Các kiến thức cơ bản về hệ thống kinh mạch trung ương 1. Kinh mạch trung ương không nhất thiết phải có mô tả vật lý. Mọi hình thức mô tả sẽ chỉ là cách thức để cho hành giả dễ liên hệ và quán tưởng. Cần chú ý là có nhiều kỹ thuật tâm linh huy động đến vai trò của hệ thống kinh mạch trung ương, nhưng cả người hướng dẫn lẫn người thực hành thường xuyên lại không có đủ kỹ năng và nhận thức về hệ thống đặc biệt này. Do đó người ta mô tả về đường kinh mạch trung ương như một hình dung vật lý để người thực hành dễ nắm bắt. Điều này vì thế mà đưa người ta rời xa nhận thức thực sự về Đại ấn. 2. Các đường kinh mạch phụ kèm bên đường kinh mạch trung ương không nhất thiết bắt chéo mà có thể có dạng tuyến song song hoặc thậm chí có nhưng kết cấu riêng biệt tuỳ theo phương pháp tập luyện và tình trạng riêng của cơ thể năng lượng của mỗi hành giả trong từng thời điểm khác nhau. 3. Nhận thức về đường kinh mạch tích cực và tiêu cực trong các tài liệu dịch thuật ra bên ngoài Ấn – Tạng là hoàn toàn sai lầm. Như vậy các tài liệu mô tả rằng có hai kinh lạc phụ chạy bên cạnh đường kinh mạch trung ương. Đường kinh vận chuyển các yếu tố tích cực ở bên phải của nam giới và ở bên trái của nữ giới. Đường kinh còn lại là đường kinh vận chuyển các yếu tố tiêu cực. Sở dĩ có sự sai lầm như vậy là vì khi dich thuật cặp khái niệm năng lượng đối lập shacta – shacti ra tiếng Anh, người ta thay thế bằng cặp: possistive – negative. Điều sai lầm tương tự cũng xảy ra khá phổ biến với cặp phạm trù Jin – Jang (Âm – Dương). Hai thành tố này là có vai trò tương hỗ, độc lập nhưng thống nhất với nhau. Nói cách khác vai trò của chúng là tương đương nhau. Khi chúng ta gán cho chúng tên gọi là tích cực – tiêu cực (possistive – negative) thì vô hình dung chúng ta đã hiện thực hoá tính phân biệt vốn không bao giờ nên xuất hiện trong huyền học. Thực tế là cả hai tư thế nằm nghiêng bên phải và bên trái đều có vai trò tương đương. Không hẳn là chỉ có nằm nghiêng về bên phải với nam giới và nghiêng về bên trái với nữ giới mới có ý nghĩa. Điều này bị nhận thức nhầm vì mọi người cố gắng duy trì năng lực “tích cực” nên chỉ thực hiện tư thế nằm nghiêng về một bên như đã nói ở trên. 4. Các năng lực có thể vận động theo tuyến bên trong kinh mạch trung ương theo một trong hai hướng ngược nhau. Hoặc thậm chí cùng vận động theo hai hướng cùng một lúc.

Dòng năng lực vận động từ dưới lên trên đặc trưng là dòng năng lực đỏ (kundalini đỏ). Dòng năng lực vận động từ trên xuống đặc trưng là dòng năng lực trắng (kundalini trắng). 5.Có vô cùng nhiều cách thức vận động năng lực trong kinh mạch trung ương. Cách thức vận động năng lực trong trung mạch theo kỹ thuật mà tôi có vinh dự được trình bày là kỹ thuật đặc biệt tập trung vào vấn đề chuyển hoá nghiệp báo nhân quả chứ không bị phụ thuộc nhiều vào các mục tiêu quyền năng huyền học. Do vậy chuyển hoá năng lượng sẽ ít phụ thuộc vào vấn đề trao đổi năng lượng trong các trung tâm năng lượng, nhưng sẽ xảy ra trên toàn bộ tuyến kinh mạch trung ương. (Xin xem thêm mục 13 cùng bài viết này!). 6. Vận động tốc độ càng nhanh càng có xu hướng đưa năng lượng ra các kinh mạch ngoại vi. Các động tác tĩnh có xu hướng đưa năng lực dồn về kinh mạch trung ương. Đây là một kết luận quan trọng. 7. Bình thường kinh mạch trung ương không khai mở, cho đến khi nó được đối diện với tình trạng cận tử. Khi đó các dòng năng lực trắng và đỏ sẽ vận động theo hai hướng ngược nhau để dồn về giữa ngực. Do tình trạng phụ thuộc vào ngũ uẩn mà một thân trung ấm sẽ được hình thành và hành trình đi tìm thân xác mới bắt đầu… Trong trường hợp một người đã từng tập luyện thì trung mạch có thể tham gia các ứng dụng chủ động rất lợi ích. Tiêu biểu là kỹ thuật chuyển di thần thức(Phowa). Hành giả thành lập một tình trạng tiệm cận thức thân tại trung tâm ngực, sau đó phóng nó lên trung tâm ngực của hình ảnh quán tưởng Đức Phật Amitaba ở trên đỉnh đầu của mình. Việc hoà nhập được vào cõi Tịnh độ của Phật Amitaba đồng nghĩa với việc chấm dứt đầu thai trong tử cung nên có ý nghĩa giải thoát rất thù thắng. Các kỹ thuật này cần có sự chỉ dẫn của minh sư và không thể tham khảo hay tự tập thông qua mấy cuốn sách được… Một kỹ thuật khác rất có ý nghĩa là kỹ thuật sám Kim cương Tát đoả (Vajrasattva). Nếu có thời gian tôi sẽ trình bày các vấn đề này trong một mục riêng… 8. Quy y, quán đảnh có nhiều trình độ. Nhưng một nghi lễ quy y về phương diện năng lực thì chắc chắn phải xảy ra trong trung mạch. Điều này giờ đây rất hiếm xảy ra. 9Bằng cách tác động vào kinh mạch trung ương, một bậc thầy có năng lực chuyển hoá nghiệp cho hành giả để hành giả thuận lợi hơn trong hành trình tu tập. Điều này giờ đây rất hiếm xảy ra. 10.Việc kết hợp chuyển hoá năng lực trong lúc giao hợp giữa một người thầy và một phối ngẫu xảy ra tại trung mạch của hai người có thể dẫn tới những chuyển hoá rất tích cực cho cả hai người. Tuy nhiên truyền thống này khó có cơ hội được thực hành trở lại vì những quan niệm xã hội và các tài liệu bị thất truyền. 11. Các chuyển hoá quan trọng của kỹ thuật chuyển hoá ánh sáng đều xảy ra trong trung mạch. Cho đến giai đoạn chuyển hoá thân quang mới huy động các kinh mạch phụ và đến giai đoạn nhận thức về lạc thì khởi động trở lại toàn bộ hệ thống kinh mạch. Tuy nhiên cần ghi nhớ rằng nếu hệ thống kinh mạch toàn thân không thông suốt thì năng lực không thể tập trung tại kinh mạch trung ương đủ để có thể thao tác các kỹ thuật quan trọng. 12. Trung mạch là chủ thể của các kỹ thuật cao cấp cuối cùng của tất cả các dòng phái tâm linh. 13. Việc chuyển hoá các mối liên hệ nghiệp báo nhân quả trong trung mạch là huyền học thậm thâm.

(30.10.2008) Bài viết số 16 Các nguyên tắc cơ bản của huyền học Nước khởi nguyên của mọi hiện hữu. Lửa hoá tán mọi hiện hữu. Âm thanh là cánh cửa nối thông các vũ trụ năng lực với nhau. Các vận động ở tầm cao thì ứng dụng các cảnh giới. Các vận động ở tầm thấp thì ứng dụng không gian và thời gian. Các hiện tượng huyền học bao giờ cũng gồm phần linh và phần thực. Chỉ tiếp cận một khía cạnh của vấn đề là phiến diện. Tất cả các thực hành huyền học bao giờ cũng phải tiến hành trên hai phương diện này, nếu chỉ trông cậy vào một phía sẽ bị rơi vào bàng môn. Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Một hiện hữu bao gồm trong tổng thể, ngược lại tổng thể phản ảnh tất cả hiện hữu. (31.10.2008) Bài viết số 17 Các nguyên tắc cơ bản của điều trị năng lượng học 1. Điều trị năng lượng học là chuyển hoá bắt buộc của người thực hành năng lượng. Hành giả bắt buộc phải điều chỉnh năng lượng của bản thân cũng như thao tác cho những đối tượng có liên hệ nghiệp với y. 2. Hành giả đạt đến trình độ tâm linh nào thì chỉ có năng lực chữa trị cho đối tượng tại cấp độ đó. Tuy nhiên năng lực của cầu nguyện thì vượt thoát được điều này. Do vậy cầu nguyện là trình độ điều trị năng lượng học cao cấp nhất. 3. Năng lực của hành giả thể hiện trong khả năng thấu thị của hành giả. Nếu vấn đề cần chữa trị hiển thị trước nhãn quan của hành giả thì điều đó có nghĩa là giữa đối tượng và hành giả có mối liên hệ nghiệp cần giải quyết. 4. Ngay khi vấn đề cần chữa trị xuất hiện trong nhãn quan của hành giả thì quá trình chữa trị đã bắt đầu, bởi vì kể từ thời điểm đó nghiệp bắt đầu bị chuyển. Do vậy không thể phân biệt sự kiện chữa bệnh và khám bệnh mà phải thấy rằng hai sự kiện này là một. 5. Điều trị năng lượng học cao cấp là ứng dụng bản thân như một dây dẫn năng lượng siêu nhiên. Điều này bao gồm cả năng lực cầu nguyện của thầy chữa. Điều trị năng lượng học trung cấp là áp dụng được các hình thức nước và lửa vào quá trình điều trị, ví dụ kỹ năng bào chế thuốc, kỹ thuật cúng dường lửa, bố thí.... Điều trị năng lượng học sơ cấp là các điều chỉnh xảy ra tại đối tượng như ăn kiêng, tập luyện, cầu nguyện, uống thuốc… Trong quá trình điều trị năng lượng học cần áp dụng tất cả các hình thức có thể được. Đôi khi một hình thức tác động quá cao cấp thì không nhận được sự hưởng ứng và phối hợp cần thiết từ những bệnh nhân sơ cơ. Do vậy điều trị năng lượng học phân ra làm cao, trung và sơ cấp cho tiện nghiên cứu nhưng không có ý nghĩa lắm trong việc trị liệu. Điều quan trọng là thầy chữa áp dụng hình thức trị liệu nào phù hợp với năng lực tâm linh của đối tượng.

1. 2. 3. 4. 5.

6. 7.

6. Nhận thức cao cấp nhất trong điều trị học năng lượng là nhận thức về xuất xứ và diễn biến của căn bệnh như là hành trình của nghiệp. Thầy chữa giỏi là người có khả năng tác động để quá trình này xảy ra một cách hợp lý với luật nhân quả. Như vậy diễn biến bệnh tật xảy ra nhanh, châm, khỏi hay không khỏi không quan trọng mà điều quan trọng là trong quá trình trị liệu đó các món nợ nhân quả được thanh lý. 7. Các kỹ thuật điều trị năng lượng học rất phong phú nhưng việc truyền trao các kỹ thuật này bao giờ cũng sử dụng ngôn ngữ của ánh sáng. Tuy nhiên chỉ có những người đạt tới khả năng thấu thị mới chia sẻ với nhau một cách hoàn toàn. Điều này khiến cho việc điều trị năng lượng học luôn bị giới hạn trong một thiểu số và một số người khác thì lạm dụng nó như một biện pháp trục lợi. 8. Thầy chữa sẽ chỉ trở thành siêu đẳng duy nhất trong trường hợp anh ta tiệm cận tinh thần vô ngã. (31.10.2008) Bài viết số 18 Các kỹ thuật rèn luyện mắt Các kỹ thuật rèn luyện mắt chia làm hai nhóm kỹ thuật: bên trong và bên ngoài. Các kỹ thuật rèn luyện mắt bên trong có mục đích khai mở hệ thống kinh mạch bí mật liên quan đến mắt. Các kỹ thuật rèn luyện bên ngoài nhằm chuẩn bị cho mắt đạt tới trình độ linh hoạt cần thiết trước khi bước vào rèn luyện bên trong. Tất nhiên khi năng lực bên trong được củng cố thì chức năng con mắt bên ngoài cũng được cải thiện đáng kể. Nói cách khác thì hai nhóm kỹ thuật này hỗ trợ cho nhau rất tốt. Vì mục tiêu của việc rèn luyện mắt là củng cố và khai mở hệ thống kinh mạch bên trong con mắt nên cần phải nhấn mạnh một vấn đề sẽ làm cho mỗi hành giả có động lực cao hơn khi thực hành, đó là tất cả các đường kinh mạch trong cơ thể đều liên quan đến trung tâm năng lượng VI (nhiều tài liệu tâm linh mô tả vị trí này như là con mắt thứ ba). Do vậy các bài tập kích hoạt hệ thống kinh mạch bên trong mắt dẫn đến ích lợi cho toàn bộ cơ thể. A – Các kỹ thuật rèn luyện con mắt bên ngoài. 1. Đột ngột thay đổi cự ly nhìn của mắt. VD: đang nhìn xa thì đột ngột nhìn gần lại hoặc ngược lại. 2. Nhìn xoáy tập trung vào một điểm hoặc một đối tượng. 3. Nhìn lướt nhanh một đối tượng có các thành phần giống nhau. VD: đếm số chấn song trên một dãy hành lang mà không bị hoa mắt… 4.Thu rút tia nhìn: Thu rút tia nhìn tập trung vào trước mắt vài cm, sau đó đột ngột vươn dài tầm nhìn ra… Bài tập này khó hơn bài tập 1. Hơn nữa từ bài tập này có thể phát triển thành 2 bài tập: 5 thu rút triệt để tia nhìn của mắt và 6 - mở bừng mắt đột ngột. 5. Thu rút triệt để tia nhìn của mắt:

Thực sự bài tập này chỉ có thể hoàn thiện khi các kinh mạch bên trong bắt đầu khai mở. Tuy nhiên trong quá trình luyện mắt, đôi khi không thể phân biệt rành mạch trong, ngoài mà cần kết hợp một cách linh hoạt. Thu rút triệt để tia nhìn của mắt có tầm quan trọng đặc biệt. Nhưng các kỹ thuật chân chính bị trình bày sai lạc. Người ta cố tỏ ra cho giống với hình thức đó, nhưng họ không biết rằng ngay cả một con mắt nhắm nghiền vẫn thường xuyên để cho quang minh của mắt thẩm lậu ra ngoài. Trong khi một con mắt thu rút triệt để của các vị thành tựu giả thì thường khi lại mở nhưng không có quang minh nào bị thẩm lậu. Vậy nếu chúng ta tiếp cận cách thực hành nhìn chằm chằm vào chóp mũi để thu rút tia thị giác thì vô tình chúng ta lại càng làm cho con mắt bị kích thích dẫn đến việc thẩm lậu quang minh của mắt. Tốt nhất chúng ta chỉ có thể tập nhìn xuống trong một kết hợp 4 tư thế của Đại ấn bao gồm: + ngồi thẳng lưng + tay để dưới rốn + kéo cằm vào cổ để cho gáy thẳng + mắt nhìn xuống Chỉ khi đó Phong đại mới được chuyển hoá hoàn toàn trên cương vị ba đại kia cũng được chuyển hoá an ổn. Khi mắt bắt đầu hết các chuyển động run giật và có thể điều tiết dễ dàng mới là lúc thích hợp để rèn luyện kỹ thuật thu rút triêt để tia nhìn. Khi mắt đã có năng lực thu rút thì hành giả sẽ rơi vào tình trạng mi mắt nửa nhắm nửa mở một cách tự nhiên. Vì vậy ngay từ đầu hành giả không cần phải cố giữ mắt ở tư thế rủ rèm châu mà có thể nhắm lại cho đến khi mi mắt nâng nhẹ lên tự nhiên để có cặp mắt hé mở nhưng không bị thất thoát quang minh. 6. Mở bừng mắt đột ngột: Đây cũng là một kỹ thuật rất thú vị và cũng là bài tập kết hợp trong - ngoài như bài tập 5. Hành giả ứng dụng bài tập mở bừng mắt trong trường hợp năng lượng trong cơ thể bị xáo trộn và có nhu cầu giải phóng đột ngột năng lực ra ngoài. Tuy vậy do đã rèn luyện bên trong và bên ngoài nên kênh năng lực này sẽ chỉ giải phóng những năng lực thừa thãi một cách hợp lý, giúp cho các bộ phận khác của cơ thể không bị quá tải…( Nếu không kịp giải toả ra ngoài thì hành giả thường xuyên bị rơi vào những cơn cáu giận hoặc phải trút những năng lực thừa đó ra qua răng,miệng, mũi, chân tay… Nếu năng lực tiêu cực đó bị kéo vào ngực hoặc vào tới tận trung tâm III thì hành giả sẽ bị cơn đau ngực biến thái hoặc hội chứng dạ dày- tá tràng đe doạ…) Trong kỹ thuật này hành giả mở bừng mắt từ trạng thái mắt nhắm hoặc từ trạng thái mắt rủ rèm châu. Tuy nhiên cần lưu ý là mắt phải đang ở trong tình trạng thu rút tốt. Khi mở bừng mắt ra, do quán tính của việc thu rút mắt nên hành giả không nhìn thấy gì trong một thời gian ngắn. Sau đó có thể phải nhắm mắt lại và lặp lại bài tập vài lần cho đến khi mắt linh hoạt trở lại. Bài tập này có thể ứng dụng rất tốt vào cuối buổi ngồi thiền. 7. Tập triung tia nhìn và vẽ lên một mặt phẳng các hình vẽ vô hình theo một chủ đề tự chọn, ví dụ: một bông hoa có năm cánh, một cái ô… 8. Tập trung tia nhìn và vẽ trong không gian các hình vẽ có hình khối ví dụ một hình lập phương, một cái cốc… 9. Dùng tia mắt “ve vuốt” các vật dụng thường dùng để giao thoa với lớp năng lượng toả ra quanh vật dụng đó. Khẽ dao động đầu để cho sự tiếp cận với hào quang quanh vật

dụng đó trở nên cụ thể hơn. Dùng tia nhìn tập trung để kéo dài hay gọt giũa lớp năng lượng xung quanh đồ vật… 10. Quan sát cấu trúc đặc biệt của cơ thể sống hay của đồ vật xung quanh: Nhiều điều có thể được mô tả do cách thức chuyển hoá của mỗi hành giả. Nhưng khi quan sát đồ vật hành giả nên lưu ý đến cái mà nhiều tài liệu tâm linh mô tả là cơ thể tinh tú của đồ vật. Một cơ thể sống được trình bày đầy đủ toàn bộ lớp hào quang và diễn biến tình cảm trong mọi thời điểm chứng tỏ năng lực quan sát của hành giả đã tương đối phát triển. Nhưng hãy ghi nhớ rằng nơi đây vẫn chỉ là giao thoa giữa năng lực thị giác bên ngoài và bên trong mà thôi… B – Kỹ thuật rèn luyện mắt bên trong. Thực khó khăn để trình bày về trình tự rèn luyện bên trong con mắt theo các bài bản thông thường. Chỉ biết rằng đó không phải là việc phàm nhân có thể rèn luyện được. Các kinh mạch bên trong hiển nhiên là các kinh mạch tâm linh nên khi tập luyện chúng cũng đồng nghĩa với việc tăng trưởng tâm linh của hành giả. Hành giả sẽ phát triển 5 bậc của thị giác: + Nhục nhãn + Thiên nhãn + Huệ nhãn + Pháp nhãn + Phật nhãn Có hai giai đoạn chính để rèn luyện con mắt từ bên trong. Giai đoạn chuẩn bị và giai đoạn hoàn thiện. Trong giai đoạn chuẩn bị chúng ta tạo mối liên hệ: + từ phía sau mắt đến trung tâm VI + từ trung tâm VI đến Ngọc Chẩm + từ trung tâm VI xuống trung tâm IV. Trong giai đoạn hoàn thiện chúng ta thực hiện nghiêm ngặt sự quán tâm. Hãy ghi nhớ rằng tri giác thị giác như thị chính là quán tâm. Huệ giác chính là quán tâm thành công. Pháp nhãn là không trụ tâm ở điểm nào và Phật nhãn là thấu suốt nhân duyên hoàn hảo. Trong quá trình rèn luyện thị giác bên trong nếu móng tâm ham thích quyền năng thì sẽ gặp ma chướng ngay lập tức. Nếu nhẹ thì bị rủ rê tâm du đến các cõi. Nếu năng thì phát sinh tà kiến, không bao giờ đạt đến tri kiến như thị. Đặc biệt tai hại là hậu quả của tà kiến phát sinh làm cho tâm trí hành giả mê mờ. Từ đó phát sinh lòng đố kỵ, kiêu mạn… Hành giả phát tâm đánh giá người này người nọ…hoặc chê huỷ kinh sách viết thiếu, viết sai… Như vậy thật là tội chướng không nhỏ! Trường hợp của tôi cũng là khôi hài và đáng tham khảo. Khi tôi đạt được những tầm mức khai nhãn đầu tiên, tôi quá phấn khởi chia sẻ với một vài bạn tu. Họ là những người bạn tốt và luôn vui mừng trước sự tiến bộ của tôi, nhưng lần này thì chính họ bị ma chướng và họ kết luận rằng những điều tôi mô tả là kết quả của hoang tưởng. Về sau khi nghiên cứu về ma sự mới biết lúc đó tôi đang thấu thị bằng quán tâm đi qua tưởng ấm (tiêu dung tưởng ấm) nên ma sự nhập vào những người xung quanh để tác hại. Nhưng rõ ràng nếu tâm thức của những người đó không có sự đố kỵ thì ma sự không chiêu cảm vào được…

Đến giờ đây tôi lại nhận thúc được thêm rằng nhân quả nhãn tiền bởi vì chính tôi trước đây cũng đã từng hồ nghi vi tế với những điều mà tiền bối thấu thị kể lại… Vì sự hồ nghi này mà công đức của họ nhất thời bị thất thoát. Tôi thì không biết phải làm gì ngoài việc cầu nguyện và hồi hướng cho họ. Nhưng sau đó thì quan hệ của chúng tôi không còn khăng khít như trước. Chắc hẳn vì những người đó phát tâm tàm quý, hoặc giả chưa khế hợp về căn cơ…Chỉ mong là chướng duyên vừa kịp hết! Nói tóm lại thấu thị chính là quán tâm không khác. Nếu có bất cứ hình thức rèn luyện mắt nào mà không đề cập đến quán tâm thì đó chính là thủ đoạn của tà ma ngoại đạo. Phụ lục1: Bốn thắng trí đạt được do thấu thị Người tu luyện thấu thị như thị nói chung phải phát sinh bốn trí + trí biết vị lai + trí biết nghiệp tự tạo + trí biết các hành nghiệp + trí biết nghiệp quả báo. Phụ lục2: Khả năng thấu suốt Có nhiều cách phân loại khái niệm này. Sau đây là một số thuật ngữ liên quan: + Thấu suốt tia X: nhìn xuyên qua các vật thể không trong suốt. + Thấu suốt y học; phát hiện bệnh tật bên trong cơ thể hoặc chẩn đoán qua hào quang. Có thể thấu suốt cả phương cách trị liệu… + Thấu suốt từ xa: không bị giới hạn bởi khoảng cách + Thấu suốt không gian: không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. + Thấu suốt giấc mơ: thấu suốt và lý giải giấc mơ cho những mục tiêu hữu ích… + Thấu suốt hình sao: “Nhận biết bình diện hình sao và thinh không, các nguyên tố, quỷ thần và những sinh vật khác đang cư trú ở những bình diện đó. Đây cũng là nhận biết hào quang và màu sắc hào quang, hình thái tư duy và những biểu hiện từng phần của tư duy. Đây là cấp độ nhãn giới khác do các pháp sư, người tập Yoga và những người tinh thông sử dụng”. + Thấu suốt tinh thần: nhãn giới thuộc bình diện cao hơn và sinh vật thiên sứ, trạng thái huyền bí của tồn tại và hiểu biết. Phụ lục3: Sự tích hợp nhận thức đạt được trong rèn luyện thấu thị như thị. Trong hầu hết các trường hợp thấu thị chỉ đưa lại thông tin sơ cấp, nhưng trong những trường hợp thấu suốt có chiều sâu thì năng lực nhận thức này được tích hợp thành một hệ thống thứ cấp rất có giá trị. Ví dụ trong trường hợp của Thánh nữ Teresa Avila (Teresa of Avila, St (1515 – 1582)) bà đã trình bày một giáo điều tâm linh sử dụng lâu đài làm biểu tượng cho đời sống nội tâm. Thông điệp này được mạc khải trong nhãn giới của bà vào năm 1577 và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Mô hình lâu đài này có 7 phòng, phòng trung tâm là nơi ở của Vua Vinh quang. Người ta vượt qua các phòng khác có tên Khiêm tốn, Cầu nguyện, Suy ngẫm, Tĩnh lặng, Thiên khải và Đêm đen. Sau đó bước vào phòng thứ 7 để thực hiện việc kết hợp với Thiên Chúa.

(01.11.2008)

Bài viết số 19 Kỹ thuật quán nội Không Tôi phải nói trước cho quý vị rằng đây là kỹ thuật quán Không của riêng tôi, trước nay chưa hề có ai nói qua về cách rèn luyện như vậy. Do đó tôi không chịu trách nhiệm về tình trạng phát sinh kèm theo do tập quán Không theo phương pháp này mà không có sự trao đổi với tôi. Đầu tiên hãy quán nội Không. Kỹ thuật này tương đối dễ. Hành giả chỉ việc quán thân thể như một khối choán chỗ của không gian. Tất cả yêu, ghét, nội tạng…thức ăn, nước uống…đều đổ vào cái túi rỗng không này… Dần dần sẽ thấy rằng điều đó thật hợp lý, chỉ có không gian xung quanh của mình là còn có vẻ như thật Việc quán Không như vậy sẽ trở nên hiện hữu thường trực, nhưng nêu hành giả không nhận thấy rằng trong quá trình đó bản ngã được xả bỏ, các quan tâm đến cái túi rỗng không này được trở nên đúng mực thì hành giả chưa đạt được mục tiêu của quán nội Không. Bước tiếp theo hành giả quan sát các cái túi rỗng không khác mà hàng ngày mình đang tiếp xúc, nhìn thấy, nói chuyện với…(Tức là những người xung quanh). Hành giả sẽ thấy cách họ đang phì đại bản ngã lên, dường như họ đang tô vẽ cho cái túi da đó một cách thái quá…họ bị xúc động vì có người nhạo báng cái túi da đó… Quán nội Không thuần thục như vậy hành giả sẽ nhận thấy thân thể khinh an, thông suốt. Các tình trạng bệnh tật, mệt mỏi đau nhức…đều dễ dàng giải toả…Như vậy thì được thêm một tầng diệu dụng nữa của quán nội Không. Tiếp theo việc quán nội Không cho hành giả năng lực quản lý lục căn như như tự tại. Không ước thúc nhưng lục căn tự chế. Điều này lại giúp hành giả có thêm một tầng diệu dụng nữa của quán nội Không. Lúc đó chỉ cần có một sự chú tâm nhẹ nhàng thì thấy hơi thở đi qua mọi khiếu, thông suốt toàn thân. Thấy được dòng sinh lực thực sự ra vào khắp châu thân, nên dễ dàng tập trung được vào đường kinh mạch trung ương cũng như điều phối đi đến từng ngõ ngách trong cơ thể. Như vậy là chứng thêm một tầng diệu dụng nữa của quán nội Không. (01.11.2008) Bài viết số 20 Kỹ thuật quán ngoại Không Kỹ thuật quán ngoại Không rất tinh diệu và có thể đưa hành giả vào những tình trạng khó xử. Vì vậy hành giả cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi quyết định tập luyện. Chuẩn bị ở đây chỉ có nghĩa duy nhất là tìm hiểu kỹ lưỡng về kinh sách nhà Phật. Phải hiểu được tính Không chính là để mô tả tình không có tự tính của vận động (luật) Nhân – Quả. Vì

vậy mà có căn bản vững chắc. Chứng kiến được sự liền lạc, hậu thuẫn và phát huy của các nguồn mạch Phật giáo như vậy thì mới phát tâm thông suốt tìm về cái đích tối hậu cuối cùng là giải thoát. Chỉ có như thế hành giả mới không bị rơi vào chấp Không. Trước tiên quán ngoại không như là tình trạng huyễn. Vì đây là kỹ thuật quán huyễn chân chính nên quyết không có một dòng cụ thể nào làm hướng đạo cho người tập. Chỉ biết rằng nếu tâm thức của hành giả mà cứ bị bắt xoắn vào vấn đề này (quán thế gian như huyễn) thì đến lúc nhãn quan sẽ được khai mở. Chừng đó chứng được ngoại Không. Riêng trong kỹ thuật chuyển hoá ánh sáng của tôi trình bày trong Cầu Vồng thì có một giai đoạn hành giả thâm nhập vào Không ấn. Có vẻ như có những nhận xét tương đồng nhưng không thể tự lập kiêu hùng như kỹ thuật quán ngoại Không lần này. Nói thế nhưng tuỳ theo căn cơ của hành giả, nếu thấy chưa có hứng thì cũng không cần gò ép. Nếu đã có duyên thì chỉ một lúc có thể chứng ngộ được trạng thái ngoại Không. Điều khó khăn tiếp theo là làm sao để hoà tan ngoại Không với nội Không. Thực ra điều này là đương nhiên vì cả hai đều huyễn. Nhưng khổ nỗi cái ngã của mình lớn quá…cho đến tận lúc đó nó vẫn còn một chút ngã vi tế, dù đã chứng được nội Không… Lúc đó hành giả vẫn còn tâm phân biệt trong – ngoài. Vì xét cho cùng y vẫn còn chút xíu ngã vi tế đó ngăn che tự tính. Đến đây có một kỹ thuật chuyển hoá bằng hơi thở để hoá tán ranh giới trong – ngoài này. Hành giả hít vào toàn bộ thế giới. Thở ra toàn bộ khoảng không bên trong mình. Cho đến chừng nào mà bề mặt cơ thể tựa như chỉ còn lại một lớp da mỏng, rồi dần dần cũng tan biến đi vậy. Cũng có những kỹ thuật hoá tán bản ngã vào hư huyễn khác như kỹ thuật chuyển hoá ánh sáng, kỹ thuật chuyển hoá Tứ Vô lượng Tâm… nhưng cách thức áp dụng hơi thở như trên là rất phương tiện. Phụ lục1: Bài viết số 21 Hành trình của bản ngã + Khi hành giả đang cố gắng diệt ngã thì đó là y đang làm cho bản ngã trở nên vi tế hơn. + Khi hành giả đang nghĩ về chư Phật như một sự kiện bên ngoài thì điều đó có nghĩa là y đang đương đầu với bản ngã. + Khi hành giả còn ăn năn, còn nghi ngờ mà bảo là y đang trải nghiệm sự vô ngã thì điều đó có nghĩa là sự nói dối. + Khi hành giả chưa thấy mỗi ý nghĩ, hành vi và lời nói có ảnh hưởng nhân quả trong vô số kiếp mà bảo rằng đã trở nên vô ngã thì điều đó có nghĩa là y đang ngộ nhận. + Khi hành giả chưa hoàn toàn chứng nghiệm được tình trạng thanh tịnh của lục căn mà nói là y đang trải nghiệm sự vô ngã thì điều đó là khiên cưỡng. + Khi hành giả chưa có định lực đủ mạnh thì năng lực chuyển hóa bản ngã của y chưa thể thăng hoa. + Khi hành giả chưa đạt được thành tựu về niềm tin cứng chắc như kim cương thì anh ta còn bị chi phối bởi bản ngã. + Khi hành giả đạt tới bản ngã vô biên dưới dạng Bồ đề tâm thì y là con Phật chân chính. (06.11.2008)

Bài số 22 Sự vĩ đại của Mật thừa + Nếu hành giả chưa đạt tới sự kiêu hãnh thiêng liêng của sự hợp nhất với hoá thần bổn tôn mà nói là có thành tựu thì đó chỉ là sự nhảm nhí. + Nếu hành giả không nhận thức được rằng Mật tông chính là phương pháp quán tâm vi diệu thì anh ta đang bị sa lầy. + Nếu hành giả không tìm thấy sự hợp nhất với năm vị Phật Thiền, tại đó hành giả chuyển hoá thành tựu các uẩn thì có nghĩa rằng anh ta chỉ là kẻ ăn mày đáng thương trong kho tàng Mật thừa vĩ đại. + Nếu hành giả chưa nhận thức được từng âm thanh của đời sống như thần chú thì anh ta chưa ý thức được sụ vĩ đại của tantra thừa. + Nếu hành giả chưa tạo dựng được mối liên hệ với Báo thân Phật thì các hoạt động cúng dường của anh ta chỉ là chuyện cầu phúc nhỏ nhoi. + Nếu hành giả chưa nhận thấy mọi sự kiện xung quanh là hoá hiện của Hoá thân Phật thì anh ta chưa thể xả trừ bản ngã và vì thế không thể thành tựu. + Nếu hành giả chưa an trụ trong Pháp thân Phật mà nói rằng anh ta đã chứng ngộ tính Không thì đó chỉ là một ảo ảnh của tâm thức. + Nếu hành giả chưa chứng được ba thân Phật mà nói rằng anh ta thành tựu Mật thừa thì đó chỉ là huyễn hoặc. Bởi vì không có khái niệm tương đương nào khác có thể lý giải và dẫn nhập vào tình trạng của ba thân. Bài số 23 Nghệ thuật kiếm Quý vị sẽ khó tránh khỏi sự ngạc nhiên khi chúng ta đề cập đến vấn đề này trong một bố cục dường như có vẻ xa lạ. Tuy nhiên trong phần trên tôi đã có dịp trình bày về khai ngộ tính thấy trong trạng thái trung gian, và đấu kiếm chính là một cơ hội khai ngộ như vậy. Trạng thái trung gian trong lúc đấu kiếm là trạng thái trung gian trong lúc thức. Chúng ta đề cập đến vấn đề này như một phương pháp rèn luyện và khai thác triệt để tính tỉnh giác của tâm thức trong hoàn cảnh chiến trận sinh tử. Do vậy nghệ thuật này vượt thoát những kỹ thuật nhỏ nhặt mà chuyển mình thành kiếm đạo một cách tự nhiên. Có hai loại sử kiếm là loại đấu sỹ dùng một kiếm và hai kiếm. Trước khi phân tích về đấu pháp sử dụng hai kiếm, tôi sẽ trình bày những điều quan trọng về nghệ thuật sử dụng một kiếm cũng như những yêu cầu về thanh kiếm tiêu chuẩn. Thanh kiếm tiêu chuẩn có một sống và một lưỡi. Thanh kiếm có xu hướng cong tự nhiên, hướng phần lưỡi kiếm ra ngoài. Độ cong của thanh kiếm có thể lấy tiêu chuẩn của cột sống lưng người chiến sỹ lúc lâm trận. Phần eo lưng và lưng dưới sánh với chuôi và thân lưỡi kiếm vì thế mà tương đối thẳng. Phần đầu của lưỡi kiếm và mũi kiếm cong đều như đầu của chiến sỹ hơi cúi. Tự nhiên như vậy có thể nói một thanh kiếm tiêu chuẩn có độ dài thích hợp thì tương đương với chiều dài cột sống của người chiến sỹ. Phần tay cầm bằng đoạn đo từ rốn xuống hết vùng bụng dưới. Phần lưỡi dài bằng khoảng cách từ rốn lên đỉnh đầu.

Một cách khác để xác định độ dài của thanh kiếm là đo độ dài của khoảng cách từ rốn xuống chân. Một thanh kiếm như vậy sẽ có độ dài vừa phải. Sức mạnh được phân bố hợp lý và không bị vướng víu khi vận động… Như vậy phần nối giữa chuôi kiếm và lưỡi kiếm có vai trò cực kỳ quan trọng. Điểm đó tương tự như luân xa bụng của cơ thể, nơi xuất phát toàn bộ sức mạnh thể chất. Kinh nghiệm cho thấy nếu một thanh kiếm tốt thì trọng lượng của phần chuôi kiếm và lưỡi kiếm gần như tương đương nhau. Khi đó kiếm sỹ có thể sử dụng thuận tiện cả lưỡi kiếm hay chuôi kiếm trong chiến đấu. Mặt khác khi vung kiếm lưỡi kiếm có thể được nhận hợp lực chuyển sang từ chuôi kiếm… Như vậy vô hình dung chúng ta phải đặt một bàn tay ngay sát tại điểm tiếp xúc giữa chuôi và lưỡi kiếm, ngay sau lá chắn bảo vệ tay. Trong kỹ thuật đánh một kiếm thì kiếm sỹ dùng tay không thuận để đảm đương vị trí đó. Tay thuận giữ phần cuối của chuôi kiếm và tạo động lực cho toàn bộ thanh kiếm. Sau khi có sự chuẩn bị vừa đủ như vậy, kiếm sỹ cần chuẩn bị cho mình tinh thần để bước vào cuộc chiến. Đây là cuộc sinh tử! Không có cơ hội bất kỳ nào cho một đường kiếm thừa. Các ngón tay và cổ tay đặc biệt linh hoạt. Nếu bộ phận nào đó không linh hoạt thì bộ phận đó sẽ trở thành nạn nhân đầu tiên của cuộc sinh tử. Thật vậy: đòn kiếm của đối phương sẽ đập vào thanh kiếm của quý vị và truyền lực va đập vào bộ phận đang căng cứng, khiến vùng đó bị tê bại... Ngay lập tức đòn tấn công của đối phương làm cho người chiến sỹ rớt kiếm (nếu tay đang gồng cứng) hoặc sụp ngã (nếu chân không linh hoạt)… Ngược lại nếu toàn thân linh hoạt thì chúng ta dễ dàng hoá giải và sử dụng lực tấn công của đối thủ để biến thành chiêu thức đáp trả hợp lý. Đến đây có một chi tiết vô cùng quan trọng. Trong kiếm thuật Nhật Bản tiêu chuẩn người ta hướng dẫn đấu sỹ dùng lực của vòng nối ngón trỏ và ngón cái làm cơ cấu chính giữ kiếm. Theo kinh nghiệm của tôi, lực giữ kiếm chính nên được duy trì bằng vòng nối ngón giữa và ngón cái. Chỉ khi ấy độ mở linh hoạt cần thiết cho cây kiếm mới được phát huy. Thực tế là lúc xuống đòn các ngón tay đều mở thẳng và căng cứng, ngoại trừ cơ cấu ngón cái và ngón giữa vẫn giữ nguyên. Tư thế tiếp theo là tư thế của thân. Thân thể gọn gàng, linh hoạt, uyển chuyển nhưng không có các di động thừa. Cột sống lưng thẳng, đầu hơi hướng ra phía trước. Mắt nhìn bao quát nhưng không nhìn trân trối vào một đối tượng… Thực tế luôn cho thấy là trong cuộc sinh tử nguy cơ đến từ mọi phía… Kiếm sỹ cần duy trì một sự tỉnh giác đến độ siêu giác quan, như thể theo dõi kẻ thù bằng cả cặp mắt ở sau gáy vậy…Quay lại vấn đề tư thế của thân… Để duy trì được tư thế uyển chuyển linh hoạt của thân, người kiếm sỹ phải thả lỏng eo lưng. Chỉ có như vậy cơ thể mới như một khối thống nhất nhưng linh hoạt được… Trạng thái hoạt động của hành giả cần tuân thủ nguyên tắc cực tĩnh bên ngoài kết hợp với cực động bên trong. Tuy bên ngoài người chiến sỹ di chuyển thận trọng và kín đáo, nhưng bên trong trọng tâm của y không ngừng thay đổi. Từng mm của bàn chân được rê, miết và cử động của cổ chân, cổ tay không ngừng biến hoá để thích ứng với bên ngoài. Khi sáp trận toàn thể cơ thể người chiến sỹ là một thanh kiếm. Từ ánh mắt, hơi thở, tiếng thét cho đến đà xô vào địch thủ đều bén ngọt và tinh tuý, không có bất kỳ cử động nào thừa, cũng như không có kẽ hở cho một suy nghĩ loạn động, sợ hãi hay nao núng. Chỉ có việc thả lỏng nhưng tập trung cao độ như vậy thì khả năng thích ứng với hoàn cảnh mới được hoàn hảo. Sự thực là nếu người chiến sỹ không duy trì được một đòn xoay

chuyển hợp lý thì anh ta không thể hoá giải được lực đánh của đối phương. Mặt khác nếu anh ta không tạo nên một đà xoay thì đòn tấn công của anh ta cũng không đủ mạnh. Đòn xoay vì vậy mà vô cùng cần thiết trong một cuộc sinh tử. Xoay cấp độ thấp là xoay chuyển sống và cạnh của lưỡi kiếm. Xoay chuyển cấp vừa là xoay chuyển của cổ tay. Xoay chuyển cấp cao là xoay chuyển của thân thể. Khi đòn tấn công của đối thủ chạm vào lưỡi kiếm của người chiến sỹ thì một trong ba điều này xảy ra, hoặc hai, thậm chí cả ba điều này xảy ra để hoá giải toàn bộ sức tấn công. Người chiến sỹ xuất sắc là người chiến sỹ luôn đi sau, giành lấy toàn bộ sức mạnh của địch thủ và biến lực va chạm thành lực tấn công trả lại. Ý nghĩa cốt tử của Kiếm đạo vì thế không bị ràng buộc trong một chiêu kiếm mà trưởng thành trong tâm thức của người chiến sỹ. Người chiến sỹ giữ tâm mình lặng lẽ như nước hồ thu và thản nhiên phản ảnh trọn vẹn tâm thức và nỗ lực của địch thủ. Giống như một tấm gương tuyệt hảo, hãy để cho kẻ thù soi mình trong tấm gương vô nhiễm đó…Anh ta sẽ chỉ tìm thấy trong đó sự kính trọng! Như vậy mục tiêu chính của việc đánh kiếm được hiển thị là nghệ thuật quán tâm. Việc quán tâm ngược lại mới là công đoạn trui rèn kiếm thuật tuyệt diệu nhất. Đó đồng thời là công cụ duy nhất có thể chuyển hoá kiếm thuật thành kiếm đạo… Việc rèn luyện trong tâm này không cần sử dụng đến kiếm… Kiếm sỹ trở thành hành giả và mục tiêu của bài viết được thành tựu… Điều này thật tuyệt diệu và cần phải có sự phấn đấu chung thuỷ… Nếu xác định thấy biện pháp này là kỳ đặc và không có cơ hội tìm được người có kinh nghiệm chia sẻ thì chúng ta có thể lựa chọn một giải pháp khác. Bởi vì bản chất của việc luyện kiếm là luyện tâm, nên hành giả - chiến sỹ có thể rèn luyện và trưởng thành trong mọi hoàn cảnh của đời sống. Dù anh ta có kiếm trong tay hay không, dù có địch thủ bên ngoài hay là biến hiện của chính tâm thức của anh ta. Chiêu số ứng dụng của nghệ thuật tâm kiếm này có thể nói là vô cùng, vô tận. Sử dụng tâm kiếm, mặt khác là bí quyết cao cấp của khoa học huyền môn, là cơ sở của các pháp vô hình. Tuy tôi đã từng có ý định trình bày các chiêu số cơ bản và ứng dụng của vô hình kiếm dưới dạng một cuốn sách có minh hoạ, nhưng sau đó cứu xét thấy việc này không thiết thực mà ngược lại còn làm tăng cường khả năng hấp dẫn một số không nhỏ quý bạn đọc đi lạc vào nẻo quyền năng huyền thuật nên tôi đã huỷ bỏ ý định nêu trên. Tuy nhiên tôi nhắc lại điều này ở trên để nhấn mạnh rằng tâm kiếm mở ra những tiềm năng vô hạn. Nhưng một hành giả nếu không làm chủ được chính mình mà trở nên bị dẫn dụ bởi quyền năng thì rất dễ rơi vào ma chướng. Ngay kể cả một tâm thức tưởng chừng vô cùng kiên cố cũng có thể bất chợt trở thành một nạn nhân của ma chướng. Vì vậy việc luyện tập tâm kiếm không bao giờ giới hạn trong chiêu số, mà còn yêu cầu kiểm soát tâm nghiêm ngặt. Chỉ cần một chiêu kiếm loé ra từ trong tâm, mặc dù không tấn công vào một đối tượng cụ thể nhưng cũng có thể gây tổn thương vô số tinh linh vô hình xung quanh hành giả. Mặc dù tổn thương chỉ xảy ra trên thân tâm thức của các tinh linh vô hình nhưng điều đó khiến họ vô cùng đau đớn. Tuy họ hoảng sợ và khó chịu nhưng họ không tác động ngược lại tới hành giả ngay trong lúc đó được. Tuy nhiên khi hành trình nghiệp của hành giả tới hồi bĩ thì các nghiệp xấu gây nên trong trường hợp này có thể tấn công và ảnh hưởng tiêu cực đến hành giả. Trong trường hợp một hành giả - chiến sỹ có năng lực thấu thị thì anh ta không bao giờ lạm dụng đòn thế một cách bừa bãi, kể cả đòn thế đó là hữu hình hay vô hình. Ngược lại anh ta còn trau dồi nghệ thuật quán tâm bằng cách trình bày một không gian hợp lý cho

cuộc đụng độ để cho không một tinh linh vô hình nào bị tổn thương. Trong trường hợp đó chính đối thủ hữu hình là kẻ duy nhất bị hại!!! Thực ra mọi chuyện không đơn giản như vậy. Ở đây chính người hành giả - chiến sỹ đã trở thành một nhân tố tích cực trong hành trình nhân quả có mặt kịp thời để chuyển đi những nghiệp xấu cho đối thủ. Anh ta đã đánh và chiến thắng mà không hề có ý định giết hại, ngay cả địch thủ. Đối thủ đã mất mạng bởi sự ô nhiễm trong tâm thức của chính y. (10.11.2008)

Bài viết số 24 Tinh hoa của nghệ thuật chữa bệnh 1. Bản chất của tồn tại là sự hiện hữu của luật nhân quả. 2. Một thầy tâm linh bao gồm là thầy chữa và ngược lại. Ai chưa ý thức được điều đó thì còn phải phấn đấu để đạt được tri thức cao cấp nhất trong nghề nghiệp này. 3. Các bệnh tật bao giờ cũng bắt đầu từ một yếu điểm trên thân thể. Người thầy tài giỏi cần có năng lực thấu thị để tìm ra yếu điểm này, dù nó xảy ra cách đây rất lâu hoặc thậm chí xảy ra trong tiền kiếp. 4. Một tổn thương trên thân thể vật lý bao giờ cũng phản ảnh tổn thương tương ứng trên thân thể bên ngoài (lớp hào quang). Nếu chưa có năng lực chữa trị tổng thể cả lớp vật lý lẫn lớp vỏ hào quang thì người thầy thuốc mới chỉ đạt tới trình độ học việc. 5. Nếu tổn thương xảy ra ở mặt trước cơ thể thì nên điều trị bằng cách đưa nó xuống đưới. Nếu tổn thương xảy ra ở mặt sau của cơ thể thì điều trị bằng cách đưa nó lên trên. 6. Các tổn thương có xu hướng xâm nhập từ ngoài vào trong. Trong lúc chữa bệnh cần tác động và đẩy nó từ trong ra ngoài. 7. Hệ thống huyệt đạo của cơ thể chỉ có giá trị trên một cơ thể bình thường. Khi cơ thể bị bệnh, các vị trí huyệt liên quan sẽ bị di chuyển vị trí, rối loạn tốc độ quay và nghiêng đổ trục của huyệt. Nếu người thầy thuốc chưa có năng lực thấu thị để quan sát và điều chỉnh quân bình trở lại thì người thầy thuốc còn cần phải phấn đấu nhiều để làm chủ năng lực này… 8. Nghệ thuật cao nhất của chữa bệnh là cầu nguyện. 9. Người thầy thuốc đạt tới quyền năng chữa bệnh bằng ánh sáng là người thầy thuốc toàn diện nhất. Khi đó anh ta không những chữa cho bệnh nhân vấn đề cụ thể mà còn can thiệp toàn bộ vào quá trình chuyển hoá nghiệp của tất cả mọi người liên quan. Có thể nói chính xác hơn là cả thầy thuốc và bệnh nhân đều tham gia vào hành trình nhân quả trùng trùng vô tận của vũ trụ. (12.11.2008) Bài viết số 25 Quyền được chết

Bất cứ người nào cũng có một cơ hội chuyển hoá sau cùng vào lúc thân vật lý tan rã. Thần thức không bị chịu ảnh hưởng của ngũ uẩn và vì thế đạt được sự hoà nhập với ánh sáng tịnh quang. Đây là cơ hội quý hơn vàng của một hành giả. Nếu không có một bậc thầy có năng lực hộ niệm cho việc chuyển thức thì tốt hơn hết là để yên cho y chết một mình. Hành giả sẽ tự tìm cho mình một hành trình tốt nhất. Tuy nhiên trong những trường hợp lâm chung của người thường, nếu do nhu cầu bám luyến vào thân nhân của họ quá lớn đến độ nếu không có người thân bên cạnh họ sẽ bị vật vã ghê gớm thì nên có một sự động viên vừa đủ. Nhưng tuyệt đối không được gây cho người ra đi gia tăng tính bám luyến, hữu ái bằng những chuyện khóc than tuyệt vọng… Phải tin rằng chết là hành trình tự nhiên, tất yếu của sống và không ai có thể gánh hộ cho nhau gánh nặng nghiệp này… Việc giải phóng thần thức ra khỏi ảnh hưởng của ngũ uẩn và hai mươi yếu tố thô còn lại là một hành trình vĩ đại. Không ai có thể chia sẻ kinh nghiệm đó cho người khác. Mặc dù đôi khi có những người trở về từ bên kia cửa tử và có tường thuật lại sơ lược vài kinh nghiệm…Chỉ có một hành giả với năng lực quán tâm kiên cố mới có thể trải nghiệm các kinh nghiệm về sự chết một cách thấu đáo, hoan lạc và lợi ích cho mình cũng như những người khác. Hạnh phúc thay một người được chết trong sự hộ niệm của một người thầy tâm linh! Nhưng điều này giờ đây đang trở nên xa xỉ… Nếu điều đó khó có thể xảy ra, vậy thì điều gì sẽ trở thành giải pháp? Hãy để cho mỗi người tự đương đầu với cái chết một mình! Tôi gọi điều đó là QUYỀN ĐƯỢC CHẾT. Tốt đẹp nhất là để cho y ở riêng biệt trong một căn lều riêng biệt, cắt đứt những liên hệ không cần thiết. Chỉ trừ lại các liên hệ tâm linh nếu có! Trong nhà có một vài vật dụng như chăn đắp, lửa, bột ngũ cốc đã rang chín cùng với nước sạch. Điều này rất nên được áp dụng cho một thiền nhân. Nhưng còn một người bình thường anh ta sẽ khó khăn để đón nhận sự cách ly này như một cơ hội chuyển hoá. Vì vậy cần có ý thức sâu sắc và sớm về vấn đề này. Cần có sự chuẩn bị tốt về mọi mặt, đặc biệt là vượt qua tâm lý xã hội. Phải giác ngộ được năng lực chuyển hoá của cái chết là rất tuyệt diệu và vì thế nên mỗi khi có dịp chết là một lần chúng ta được đối diện với bản chất của tồn tại, đối diện với vấn đề bản chất của sự sống. Nếu may mắn ra có những người không hề bị vướng bận bởi những điều mà tôi cho là ngu ngốc đó, thì chắc chắn anh ta chết một mình an lạc hơn nhiều so với khả năng bị bâu quanh một đám đông thân nhân. Trong trường hợp do hoàn cảnh không thuận lợi cho việc ẩn cư trước lúc chết thì chí ít hành giả cũng nên có một sự chuẩn bị về tâm thức cho tất cả mọi người liên quan. Đó là khi hấp hối, tuyệt đối không cho phép thân nhân lai vãng, khóc lóc… Mọi người phải quan niệm và tôn trọng “giấc ngủ” của người quá cố. Tất cả những vật vã, đau đớn của người hấp hối là cơ hội tốt, rất tốt để anh ta chuyển hoá năng lực trong hệ thống kinh mạch một cách phù hợp. Vậy nên chăng là chúng ta cứ nhân danh lòng tốt và lương tâm để tiêm vào người hấp hối những thứ thuốc men ngu ngốc? Nếu không có các cơn đau và vật vã để chuyển dồn toàn bộ năng lực ngoại vi về kinh mạch trung ương thì người hấp hối sẽ chuyển hoá cận tử qua 25 yếu tố thô một cách đứt quãng và vì thế mà khó đạt tới hoan lạc.

Ngoại trừ một hành giả đã khai thông trung mạch thì những vật vã của anh ta sẽ có những mục tiêu khác mang tính chất thực hành tâm linh trong giai đoạn cuối, trước khi thiền định thể nhập. Quay lại với vấn đề chung là trường hợp một người hấp hối không thu gom được hết năng lực vào kinh mạch trung ương hoặc giả trong kinh mạch trung ương có sự hiện diện của nghiệp xấu khiến cho sự tụ họp của dòng năng lực đỏ và trắng không thu lại ở giữa ngực. Đến đây vai trò của người nhà có thể nói là rất ý nghĩa. Người nhà có thể đặt một nải chuối, một củ nghệ…lên ngực của người hấp hối. Đến khi nào theo dõi thấy chân và chóp mũi của người chết đã lạnh và hơi ấm tụ lại ở ngực thì chuyển sang giai đoạn quan trọng tiếp theo. Người nhà dùng tay vuốt qua các khiếu của người chết rồi nhổ vài sợi tóc trên đỉnh đầu của người chết một cách nhẹ nhàng. Thần thức của y sẽ theo cửa thoát này bay đi. (13.11.2008) Bài viết số 25 Kỹ thuật cúng dường Nếu hành giả chỉ nhìn nhận việc cúng dường như một thực hành thông thường mang tính kỹ thuật thuần tuý thì anh ta chưa thâm nhập được tinh tuý ẩn mật của pháp hành này. Cúng dường không chỉ dừng lại ở mục tiêu tích tập công đức mà hoàn toàn có thể giúp hành giả đạt tới giải thoát rốt ráo. Tất nhiên có thể chứng kiến một điều dễ hiểu là thực hành cúng dường của một hành giả sơ cơ thì chưa thể lĩnh hội được nhiều lợi lạc bởi vì những ràng buộc về nhận thức trong y còn ngăn cản việc hội nhập sâu tột với bản thể của tồn tại. Nhưng không thể chậm trễ thực hành việc cúng dường vì đây là bước nhanh nhất dẫn đến đoạn lìa ái thủ và tích tập công đức. Việc cúng dường đầu tiên là sự kết nối trực tiếp với Báo thân Phật. Một hành giả có thể chưa cần ý thức nhiều về tình trạng này nhưng cũng đã có thể thực hành cúng dường đều đặn. Khởi đầu nên là như vậy… Sau đó khi hành giả làm quen với việc mở rộng tâm thúc và có những cơ hội đầu tiên thâm nhập vào vũ trụ vĩ đại đại nguyện của chư Phật thì anh ta bắt đầu có nhận thức về Pháp thân Phật. Nhờ vậy các hình tướng hiện hữu trong cuộc sống tự nó trở thành các biểu hiện tuyệt diệu của Hoá thân Phật. Nhờ thực hành miên mật phép cúng dường và trụ vững trong đời sống bằng cách nương theo sự hoá hiện của hoàn cảnh (tức nương theo (ý thức về) Hoá thân Phật) mà hành giả tích tập công đức và dần dần thể nhập không gian công đức vô lượng. Tự điều này dần dần sẽ dẫn hành giả đến ý thức trọn vẹn về ba thân Phật. Trụ trong Pháp thân Phật lần này là miên mật, rốt ráo và hành giả mới có cơ hội tới đích. Trong bài viết này tôi đề cập khá chi tiết đến hành trình hội nhập ba thân Phật thông qua kỹ thuật cúng dường. Tuy nhiên cần lưu ý rằng việc nhận thức về ba thân Phật tuyệt đối không thể gọi là chín chắn nếu không thực hành mà chỉ nương theo hý luận viển vông bên ngoài. Việc một đại hành giả mô tả về ba thân Phật hoàn toàn không có nhiều ích lợi cho chính mình cũng như một kẻ sơ cơ nếu như hành giả không chịu thực hành. Thực tế hiện nay cho thấy hầu hết tất cả mọi người đều bằng lòng với dăm ba định nghĩa vu vơ về ba thân, rồi bỏ lơ là… Nên ghi nhớ nhận thức tinh tuý về ba thân thực sự chỉ gặt hái được trong thực hành…

Nhận thức ba thân là một trong ba đích đến của con đường. Ba đích đó là: sự thoát khổ, tính thấy và ba thân Phật. Một điều quan trọng như thế mà chỉ cần thuộc lòng mấy định nghĩa, tranh luận với nhau dăm ba câu là xong được sao? Hãy nhìn lại chính mình và nhận ra rằng như vậy là chúng ta đang vọng ngữ và thể hiện cái ngã vi tế một cách quá đáng… Quay lại với nội dung chính của bài viết là nghệ thuật cúng dường. Có lẽ chúng ta nên tham khảo những nhận định vắn tắt của tôi về cúng dường như sau: 1. Hành giả cần chuẩn bị kỹ càng trong tâm. Sao cho kỹ thuật cúng dường của anh ta trở nên rất sâu đậm trong tâm và rất nhẹ nhàng trong nghi thức và hiện vật. 2. Hành giả cần miên mật trụ tâm thức trong cảnh giới cúng dường mà không bị giới hạn trong không gian và thời gian của một buổi lễ. 3. Hành giả nên cúng dường tất cả những gì mình có, kể cả bản thân mình. 4. Nếu vẫn còn một tâm nghi vi tế nổi lên thì như vậy nghĩa là hành giả còn phải phấn đấu thêm nữa trong việc chuẩn bị tâm thức. Giả sử như hành giả nghĩ rằng món đồ cúng dường này chưa được chuẩn bị tốt… Hay là thời điểm này không hợp lý… Hay là cơ thể và quần áo của mình chưa chu đáo… Nên nhớ rằng một sự quyết tâm dâng hiến và lòng thành của hành giả mới là lễ vật chu toàn nhất dâng lên các đấng Thiện thệ. 5. Nếu hành giả còn lựa chọn đối tượng và hoàn cảnh dâng cúng thì điều đó có nghĩa là anh ta chưa thực sự thể nhập Pháp giới. 6. Nếu hành giả còn ngần ngừ trong việc cúng dường bản thân thì điều đó có nghĩa là anh ta chưa thực sự đoạn lìa bản ngã và vì vậy mà nói rằng anh ta đã giải thoát, chứng được tính Không hay thân huyễn… thì điều đó là gian dối. 7. Nếu hành giả chưa nhìn nhận được tinh tuỷ của nghệ thuật cúng dường là việc mở rộng năng lực quán tâm và tuệ giác cho đến độ thâm nhập sâu sắc sự vĩ đại của luật Nhân Quả thì anh ta chưa tới đích và vì thế còn phải nỗ lực nhiều. 8.Trong việc thực hành cúng dường có thể đương đầu với rất nhiều ma sự. Cho đến hành trình cuối cùng của tâm thức để đạt được giải thoát khỏi các ảo ảnh của thần và ma trong tâm. Tiếp theo tôi trình bày vắn tắt về thực hành cúng dường sơ khởi của tôi; 1. Đầu tiên tôi thực hành cúng dường vào miếng cơm đầu tiên của bữa ăn. Tiến tới thực hành cúng dường ngay trước bữa ăn. Tiến tới cúng dường suốt cả bữa ăn một cách chăm chú. Tiến tới cúng dường suốt bữa ăn một cách không cần chăm chú. Sau cùng tôi cúng dường ngoài bữa ăn, tăng cường trải nghiệm từ chú tâm đến cúng dường tự nhiên, không cần chú tâm. 2. Đầu tiên tôi cúng dường vật thực, sau đó là cúng dường tâm thức (các cảm thọ), cuối cùng là cúng dường thân thể mình. 3. Đầu tiên tôi cúng dường Tam Bảo, chư Thiên và các thiện thần, về sau tôi cúng dường không phân biệt… 4. Đầu tiên tôi cúng dường như một nghi lễ, sau cùng tôi thực hành cúng dường như một cơ hội trải nghiệm nhận thức về nhân quả. Điều này là vô cùng quan hệ và dẫn dắt tôi trưởng thành thậm thâm về nhận thức. 5. Tôi xác định tất cả cơ hội của cuộc sống là điều kiện để thực hành cúng dường. 6. Đầu tiên tôi có nhu cầu hồi hướng công đức của việc cúng dường nhưng sau đó nhu cầu này nhanh chóng mất đi. Việc hồi hướng và niêm phong công đúc hoà tan trong các mối liên hệ nhân quả trùng trùng.

7. Đầu tiên năng lực cúng dường của tôi giới hạn trong hiện tại nhưng sau đó năng lực này nương theo các mối liên hệ nhân duyên mà thâm nhập ba thời không ngăn ngại. 8. Đầu tiên việc cúng dường của tôi có ảnh hưởng đến những mối liên hệ nhân duyên gần nhất ( những người thân) và gây nên một chuỗi xáo trộn ở các đối tượng này, nhưng sau đó điều này nhanh chóng được ổn định. Tất cả các đối tượng liên quan vì vậy dù hữu ý hay vô tình đều tham gia chuyển hoá nghiệp theo hướng tích cực do thực hành cúng dường cùng với sự thực hành của tôi. 9. Tôi xác định thực hành cúng dường là hoan lạc và là nhu cầu tự nhiên quan trọng hơn cả việc hưởng thụ. Khi tôi không có gì để hưởng thụ thì tôi vẫn có thể cúng dường thân thể và tâm thức của tôi, khi đó tôi không còn nhu cầu hưởng thụ… Bên cạnh đó, do năng lực cúng dường thâm nhập vào tất cả bối cảnh cuộc sống của tôi nên tôi có trình bày một vài kỹ thuật đặc biệt sau đây: 1. Cúng dường như một năng lực chuyển hoá vật vô tình: Tiến hành trong mọi cơ hội tiếp cận với vật vô tri giác. Ví dụ 1: “Tâm sự” với nước đang đun để “lắng nghe” “nhu cầu” của nước…Trong trường hợp đó chính hành giả đã tạo cơ hội chuyển hoá và cúng dường cho một khối lượng nước. Thực tế đó cũng là một thế giới thu nhỏ, là nơi mà các mối liên hệ nhân duyên tồn tại…Khi một ấm nước được trân trọng và trở nên thiêng liêng hoá như vậy thì bản thân ấm nước đó trở thành vật phẩm cúng dường tuyệt hảo. Cho đến khi đó hành giả có thể áp dụng món nước sôi để chế biến món ăn, pha nước chè…và tiếp tục tiến hành các công đoạn miên viễn và hoan lạc của nghệ thuật cúng dường. Ví dụ 2: Khi pha một ấm trà hay chế biến món ăn ta cũng có thể “tâm sự” với các vật phẩm này như đang hàn huyên với người thân. Các món vô tri này sẽ có cơ hội chuyển hoá tốt nhất và ta sẽ thu được món vật phẩm cúng dường hoàn hảo. ….. Đặc biệt cần lưu ý là trân trọng các sản phẩm cúng dường mới là mục tiêu chuyển hoá của chúng ta chứ không phải mục tiêu của chúng ta là chế tạo một món cúng dường tuyệt hảo. Điều đó chỉ là hậu quả tất yếu sau khi hành giả chuẩn bị tình trạng tâm thức tốt mà thôi. Nếu một hành giả sơ cơ đánh giá các hành vi nêu trên là lập dị, điên rồ, hoang tưởng thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên. Thay vì giải thích và trách mắng anh ta…hành giả nên lặng lẽ thực hành, chỉ chia sẻ với một người thầy về các kinh nghiệm nói trên… Phải biết là bất cứ hành trình tâm linh nào cũng nhằm mục đích thâm nhập sâu chót về nhân quả. Hoan lạc cúng dường cũng vậy! Cúng dường nhằm giúp hành giả liễu ngộ nhân quả chứ tuyệt nhiên không hướng đến một sự đánh đổi nhỏ mọn. Cho đến khi nào hành giả nhận thức được điều này thì anh ta mới thoát ly khỏi thân phận của một kẻ ăn mày cửa Phật. 2. Cúng dường với một không gian hoặc sự vật gợi nên sự ghê tởm. Hành giả cần nhận thức được rằng mỗi không gian hoặc sự vật gợi nên sự ghê tởm chính là một thế giới thu nhỏ trong đó năng lượng chủ đạo để cho thế giới đó phát triển chính là sự ghê tởm. Thế giới đó không những tiếp nhận năng lượng trực tiếp tại chỗ mà sau này nếu như mỗi chúng ta nghĩ lại, nhớ lại, hình dung lại về thế giới đó

mà sự ghê tởm tái xuất hiện thì ngay lập tức năng lượng (của sự ghê tởm) lại chuyển đến cho thế giới đó. Vì vậy điều khôn ngoan nhất của một hành giả là thực hiện cúng dường ngay lập tức một không gian hoặc sự vật gợi nên sự ghê tởm ngay cơ hội tiếp xúc đầu tiên. Do nhận thức được bản chất của tồn tại đó chính là vấn đề nhân quả nên hành giả buông xả sự ghê tởm và thành tựu tình thương, tâm Bi và chuyển hoá thành công sự ghê tởm. Bản thân hành giả sẽ có một cơ hội tốt để nhìn nhận về sự vĩ đại của nhân quả. Mặt khác đối tượng ghê tởm kia sẽ không còn là chướng ngại trong tâm của hành giả cũng như người tiếp xúc về sau nữa… 3. Cúng dường ma quỷ. Các đối tượng này cũng có những nhu cầu của riêng họ, nhưng kể cả khi đối tượng đó được cúng dường đầy đủ thì chưa chắc họ đã được thụ hưởng. Chỉ có một hành giả liễu ngộ về nhân quả mới có thể chuyển hoá siêu thời gian và không gian cho đối tượng. Đó chính là năng lực vĩ đại của Bồ đề tâm. Chưa từng có một phép lạ nào thù tháng hơn năng lực của Bồ đề tâm…Giải thoát ma quỷ khỏi những nghiệp chướng do họ tạo ra và bị chấp cứng trong đó chỉ có thể bởi Bồ đề tâm vĩ đại này mà thôi. 4. Cúng dường như chuyển hoá ánh sáng Thực hành chuyển hoá ánh sáng cho bản thân đến một mức độ nhuần nhuyễn thì chứng ngộ được bản chất nhân quả của tất cả các mối quan hệ hiện hữu cũng như không hiện hữu. Do vậy việc thực hành ánh sáng cao cấp không bao giờ chỉ giới hạn trong cá nhân hành giả mà xảy ra xuyên suốt không thời gian. Tôi hay gọi tình trạng này là thấu thị như thị năng lực chuyển hoá ánh sáng của tất cả mọi người. Tình trạng này tương đương với một thực tế có vẻ rất khó chấp nhận là tất cả mọi người đều chuyển hoá ánh sáng. Hành giả chuyển hoá ánh sáng cao cấp sẽ thấu thị thấy bản chất ánh sáng của tất cả Pháp giới. Do đó hành giả thực hành chuyển hoá ánh sáng như một sadhana cúng dường đến toàn bộ Pháp giới.

Bài viết số 26 Thần chú trăm âm Thần chú trăm âm là mantra của hoá thần bổn tôn Vajrasattva (Dorje Sempa) và phối ngẫu của ngài. Trong thực tế hiện nay hầu hết hình thức giới thiệu ban đầu với hành giả nhập môn chỉ giới hạn trong hình tướng bổn tôn nhất thần không phối ngẫu. Dù hiện thân đi kèm phối ngẫu hay không thì ngài cũng đồng nhất với Báo thân Phật (Sambhogakaya). Màu trắng nơi thân ngài, hào quang xung quanh cũng như màu cam lồ từ ngài tuôn chảy là biểu hiện thống nhất cho cả năm gia đình chư Phật. Giống như màu trắng chuyển tải tất cả các màu khác vậy(!). Tay phải của Vajrasattva cầm một chày Kim Cương đưa về phía tim, tượng trưng cho thực tại bất biến của tâm ứng dụng thành phương tiện thiện xảo. Tay trái của ngài cầm một chuông để bên hông, tượng trưng cho trí huệ viên mãn. Mantra của Vajrasattva có năng lực tiêu trừ tội chướng, giúp hành giả sám hối tội lỗi từ vô thuỷ đến vô chung. Như vậy một mặt mantra có năng lực “tịnh”. Mặt khác mantra có năng lực “hoá” – đó là khả năng tích tập công đức và giúp cho hành giả thâm nhập Bồ đề tâm; thành tựu Bồ đề nguyện và Bồ đề hạnh. Theo tôn giả Jamgon Mipham (1846 –

1912) – ngài đồng thời là một học giả vĩ đại, một hành giả không bộ phái, thì bổn tôn Vajrasattva tượng trưng cho diệu ý phiền não tức Bồ đề và sự kiên cố bất hoại của Bồ đề tâm. Vì vậy nếu nói rằng thần chú trăm âm có năng lực tịnh hoá thì điều đó phải giúp hành giả thành tựu hai năng lực nêu trên. Hai năng lực này tuy tạm chia tách như vậy nhưng không thể tồn tại độc lập mà phải nương tựa vào nhau mới có thể chuyển hoá và trưởng thành. Đặc biệt lưu ý, ngoài các tác dụng của thần chú trăm âm như một cơ hội tịnh hoá cho hành giả, chúng ta cũng sử dụng thần chú trăm âm như phương pháp thù thắng để bổ khuyết cho tất cả pháp môn đã được truyền thừa nhưng vì điều kiện khách quan mà hành giả không thể thực hành đồng đều và miên mật. Có lẽ chúng ta không cần phải đề cập thêm đến tầm quan trọng của thần chú trăm âm nữa bởi vì điều đó quá phổ thông. Tuy nhiên tôi chỉ xin nhấn mạnh trở lại rằng đây là một trong bốn nghi quỹ quan trọng nhất của giai đoạn bắt đầu (ngondro) của mọi truyền thống Kim Cương thừa. Bốn nghi quỹ đó bao gồm: quy y, lễ lạy, sám trăm âm và cúng dường mandala. Để có thể tụng đọc dễ dàng cho người mới tiếp cận cần có sự liên hệ đơn giản nên tôi trích phần giải nghĩa vắn tắt trong Hoa ngũ (đã được phiên âm qua tiếng Việt). Nghĩa rộng hơn có thể tham khảo ở nhiều tài liệu khác nhưng lại hơi rườm rà và khó tạo điểm nhớ cho người mới nhập môn. Om = Quy mạng Vajrasattva = Kim Cương Tát Đoả Samaya = Tam muội da Manu palaya = Nguyện thủ hộ ngã Vajra Sattvenopathistha = Vi Kim Cương Tát Đoả vị Dridho me bhava = Vi kiên lao ngã Sutosyo me bhava = Ư ngã khả hoan hỷ Suposyo me bhava = Kim ngã tuỳ tâm dư Anurakto me bhava = Kim ngã thiện tăng ích dã Sarva Siddhim Meprayassca = Thọ dữ ngã nhất thiết tất địa Sarva Karmesu came = Cập chư sự nghiệp Cittam Siyam = Linh ngã an ổn Kuru = Tác Hum = Hồng Ha ha ha ha = Tứ vô lượng tâm Ho = Hỷ lạc chí thanh Bhagavam = Thế tôn Sarva tathagata = Nhất Thiết Như Lai Vajra ma me munca = Nguyện Kim Cương mạc xả ly ngã Vajra bhava = Linh ngã vi Kim Cương Maha samaya sattva = Tam muội da tát đoả Ah = Ah Một nẻo tiếp cận khác là thông qua tài liệu Pháp thực hành Mật giáo dòng Nying ma của ngài Khetsun Sangpo Rinpoche. Nguyên bản tiếng Anh Tantric practice in Nying

ma, được dịch thuật và biên tập lại bởi Jeffrey Hopkin, bản dịch Việt văn của nhóm banthienphaptri. Tôi xin trích nguyên văn lời dịch ý nghĩa của chú trăm âm như sau: “Om, Vajrasattva, xin giữ lời nguyện của ngài. Vajrasattva, trụ trong con. Hãy làm cho con vững chắc. Hãy làm cho con hài lòng. Gia tăng trí huệ cho con. Làm cho con từ bi. Ban cho con mọi thần thông. Cũng làm cho tâm con đức hạnh trong mọi hành vi. Hum ha ha ha ha hoh chư vị Như Lai đầy ơn phước, xin đừng bỏ con, làm cho con bất phân ly. Đấng Đại Nguyện, ah hum.” Nên nhớ mọi lời dịch nghĩa dù có xuất xứ giàu uy tín đến đâu cũng không bao giờ bộc lộ hết ý nghĩa và sự vĩ đại của thần chú trăm âm. Dù cho sau này vũ trụ có bị hư hoại rồi một vũ trụ mới hình thành thì sự vĩ đại của thần chú trăm âm vẫn không suy suyển. Dù có sự khó khăn trong việc tụng đọc vì bất đồng ngôn ngữ, nhưng vì nguyên văn của chú trăm âm là không thay đổi trong tất cả các cõi và tất cả các thời, cho nên việc tụng đọc chú này bằng Tạng văn thì có lợi lạc vô cùng. Hơn nữa vì điều này đã được thực hành trong hàng triệu năm nên khi cùng thực hành nó, hành giả sẽ hoà vào dòng nguyện lực của các hành giả khác và chịu hiệu ứng cộng hưởng tích cực từ cộng nghiệp này. Chúng ta cũng có thể tham khảo thêm một cách chú giải chú trăm âm của Lama Thubten Yeshe trong tài liệu Con đường Kim Cương thừa về sự tịnh hoá, được sưu tập và biên soạn bởi Nicholas Ribush. Bản dịch Việt văn của Kiến Không, nhà xuất bản Thiện Tri Thức 1999. Vì nội dung của tài liệu là trình bày về phương pháp Yoga Heruka Vajrasattva nên chú giải sẽ ghi danh đấng Heruka Vajrasattva thay cho Vajrasattva. Tôi xin trích dẫn nguyên văn đoạn chú giải về chú trăm âm trong tài liệu đã nêu như sau: “OM là chủng tự được tượng trưng cho thân kim cương thiêng liêng, đó là thân linh thánh của một bậc giác ngộ. Thân kim cương là sự kết hợp nhất thể với ngữ kim cương và tâm kim cương thiêng liêng. Hiện giờ thân, ngữ, tâm của bạn vận hành một cách riêng lẻ, nhưng khi bạn đạt đến trạng thái giác ngộ của Heruka Vajrasattva thì thân, ngữ, tâm thiêng liêng của bạn sẽ vận hành đồng thời, đồng bộ. VAJRA HERUKA. Năng lực thanh tịnh, tinh khiết của trí huệ bất hoại thiêng liêng của tâm phúc lạc sâu thẳm nhất, vĩ đại nhất, nó bao trùm tất cả hiện tương. SAMAYAM. Trong một lễ quán đảnh nhập môn, bạn phát ra lời danh dự thiêng liêng nguyện giữ gìn những thệ nguyện và cam kết của bạn được thanh tịnh, thì một năng lực vi tế được phát sinh trong tâm thức của bạn và trong hệ thống thần kinh bên trong của bạn. Năng lực này tự động giải phóng bạn khỏi cái xấu xa tiêu cực. Đây là ý nghĩa của samaya. Nó chính là cái ngược lại với những lời hứa nửa vời mà người ta thường làm; những lời hứa quá dễ dàng bị phá vỡ. Nơi nào có samaya của bạn, bạn chớ nên viện cớ biện minh, thậm chí với cái giá của cuộc đời bạn. ANUPALAYA. Thần lực của lòng từ thiêng liêng, nó đưa bạn đến hạnh phúc vĩnh cửu. HERUKA TENOPATISHTHA. Heruka tráng lệ, xin khắng khít trong lòng con. DRIDHO. Bất hoại, vĩnh cửu, không bao giờ biến đổi. ME BHAVA. Xin ban cho con trí huệ thiêng liêng bất hoại của sự chứng ngộ chân tính tuyệt đối của chính con và tất cả hiện tượng vũ trụ vĩ đại. SUTOSHYO ME BHAVA. Vajrasattva, qua sự khăng khít với con, xin hãy ban cho con trí huệ vĩ đại, hoan hỷ thiêng liêng, trí huệ ấy đem lại đại lạc. SUPOSHYO ME BHAVA. Nguyện năng lực phúc lạc này khai triển hoàn toàn trong lòng con. ANURAKTO ME BHAVA. Nguyện con được ảnh hưởng bởi sự kết dính thiêng liêng, phản chiếu của trí huệ bi mẫn, nó rốt ráo vượt khỏi nhị nguyên.

SARVA SIDDHIM ME PRAYACCHA. Xin ban cho con trọn vẹn tất cả mọi chứng ngộ tráng lệ. SARVA KARMA SUCHA ME. Xin ban cho con tất cả mọi hoạt động trí huệ thiêng liêng của Vajrasattva. CHITTAM SHREYAH KURU. Mong rằng trí huệ thiêng liêng tráng lệ của ngài vận hành trong lòng con. HUM. Chủng tự tượng trưng bản tính của lòng kim cương thiêng liêng, trí huệ phúc lạc thiêng liêng vĩ đại nhất. HA HA HA HA HOH. Năm âm này tượng trưng năm trí huệ của năm Thiền Phật (Ngũ Trí Như Lai). BHAGAVAN. Bậc Thế Tôn, bậc giác ngộ. VAJRA HERUKA. Trí huệ phúc lạc bất hoại vĩ đại tối thượng. MA ME MUNCHA. Xin chớ bỏ con. HERUKA BHAVA. Xin hãy an trụ bất hoại trong lòng con, do sự giữ gìn samaya bất hoại của con, như ngài cầm giữ kim cương bất hoại. MAHA. Lớn nhất. SAMAYA. Như trên. SATTVA. Tư tưởng trí huệ thiêng liêng. AH. Chủng tử tự tượng trưng ngữ kim cương thiêng liêng. HUM. Như trên. PHAT! Hãy phá huỷ mọi phóng dật tiêu cực! Tôi nghĩ rằng chúng ta không nên quan tâm nhiều hơn đến sự chi tiết hoá ý nghĩa của chú trăm âm. Thực sự chính bản thân người thực hành sẽ có những cảm nhận chi tiết và chính xác nhất phản ánh sự trưởng thành của tâm thức của người đó. Nói cách khác, tuỳ theo năng lực tịnh hoá và trình độ tâm linh của hành giả mà y cảm nhận về chú trăm âm này như một chỉnh thể khác nhau. Vì vậy sự chi tiết hoá ý nghĩa của nó trở thành một sự việc có ý nghĩa tượng trưng hơn là khuôn mẫu. Cũng nên lưu ý rằng chú trăm âm có nhiều cách trình bày và phiên âm có thể khác biệt về một số chi tiết. Nhưng điều quan trọng không nằm ở đó mà nằm trong sự trưởng thành tâm thức của mỗi hành giả. Trong hình thức trình bày chú trăm âm của dòng Drukpa thì dòng BHAGAVAN được đưa lên cùng dòng với năm âm HA HA HA HA HOH. Hầu hết các cách trình bày khác viết liền thành một dòng câu: SARVA KARMA SUCHA ME CHITTAM SHREYAH KURU. Tuy nhiên điều đó không ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc tịnh hoá. Vậy chúng ta có thể kết luận rằng điều quan trọng nhất là năng lực câu thông của hành giả với chính đối tượng thực hành là Vajrasattva. Trong giáo huấn của ngài Chagdud Tulku, ngài phân tích rằng chúng ta dùng “bốn lực” để đạt tới sự tịnh hoá trọn vẹn: + Thỉnh cầu sự chứng giám của một đấng trí huệ, chính là Vajrasattva và phối ngẫu của ngài là Dorje Nyema. + Sám hối, nhận biết tội lỗi của mình và thành tâm hối cải. + Phát nguyện không tái phạm tội lỗi.

+ Cam lộ hay ánh sáng của Vajrasattva nhập vào thân thể hành giả và tịnh hoá rốt ráo cho hành giả. Ngài Lama Jamgon Mipham cũng mô tả một kinh nghiệm quý báu của dòng mũ trắng. Trong đó hành giả thực hành quán Kim Cương Tát Đoả ngoài việc quán tưởng về chủng tử tự, thần chú và hình tướng của hoá thần bổn tôn và phối ngẫu còn thực hành quán một tam giác cân ánh sáng trắng có đáy hướng lên trên. Tam giác này tạo thành một giới hạn có đáy là hai bên thái dương của hành giả, đỉnh hướng xuống dưới và tiến sâu vào vùng họng. Đồng thời hành giả quán tưởng một chữ AH màu trắng ở trên đỉnh đầu đang chảy tràn cam lồ trắng xuống châu thân hành giả. Như vậy chúng ta có thể nhận thấy thực hành thần chú trăm âm có rất nhiều kinh nghiệm tiến hành và tác dụng như hiệu ứng độc lập đối với từng hành giả. Trong trường hợp của tôi, thật đáng buồn vì tôi thực hành thần chú trăm âm quá muộn màng… Khi tôi thực hành thần chú này năng lực thấu thị và các thực hành về ánh sáng của tôi đã trưởng thành. Tôi chứng nghiệm sự thực hành thần chú trăm âm và hợp nhất với hoá thần bổn tôn như một năng lực chuyển hoá ánh sáng vĩ đại. Do sự thực hành này mà tôi dần dần thâm nhập sâu hơn vào các lớp ý nghĩa của thần chú và trưởng thành kiên cố năng lực tâm linh. Hiện nay tôi nhận thức rằng năng lực chuyển hoá của thần chú trăm âm như sự cứu rỗi thù thắng và tự động. Mỗi khi có điều kiện thực hành miên mật hơn nữa thì năng lực thấu thị và nhận thức về nhân quả trong tôi càng được tăng cường. Ôi! Sự vĩ đại của thần chú trăm âm có thể nào nghĩ bàn… Có thể nào khác được nếu một hành giả Mật thừa đã phát nguyện: “Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn Pháp môn vô viên thệ nguyện học Phước trí vô cùng thệ nguyện tu Như Lai vô số thệ phụng sự Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành” mà bản thân y lại không thực hành chú trăm âm!? Bài viết số 27 Chân tuỷ của nghệ thuật Phong Thuỷ Nghệ thuật Phong Thuỷ có xuất xứ cao quý giờ đậy đang bị biến tướng thành một món hàng rẻ rúng. Điều đó thật là đáng tiếc… Cùng tột của Phong Thuỷ là Đạo học, tuyệt đối không phải là học thuật tầm thường. Khoa học Phong Thuỷ nằm trong nghi quỹ ngoại của Kalachakra. Học thuyết này có nguồn gốc từ trụ xứ huyền thoại Shambhala. Những điều này giờ đây e rằng tuyệt nhiên không còn ai nhắc đến… Hành nghệ Phong Thuỷ mà không biết gốc tích, chỉ chăm chăm đo đếm, dựa vào la kinh thì không khác gì chó lợn! Tôi nói mà không sợ quá lời vì Phong Thuỷ ảnh hưởng đến loài người nói riêng và vạn vật nói chung một cách sâu sắc trong thời gian dài. Không có nhận thức mà nhắm mắt làm bừa thì hậu hoạ thật không thể kể xiết… Muốn hành Phong Thuỷ phải tuân thủ các nguyên tắc sau:

1. Phong Thuỷ là Đạo tu thân. 2. Gốc của Phong Thuỷ là Nhân Quả. Nếu không biết rằng nhân nào quả đấy mà cứ cưỡng cầu thì tội chướng trùng trùng. 3. Bản chất của Phong Thuỷ là hai mặt đối lập của một phạm trù thống nhất. (Đây cũng là nội dung chính yếu của nghi quỹ ngoại Kalachakra). 4. Chất lượng của cuộc Phong Thuỷ phụ thuộc phần lớn vào năng lực thấu thị của người thực hành Phong Thuỷ. 5. Người thực hành Phong Thuỷ chân chính cần đạt năng lực thấu thị như thị thông qua quán tâm chứ không phải vay mượn từ các năng lực ngoại lai (ma, quỷ, tinh linh…). 6. Người thực hành phong thủy cần thoát khỏi các nhận định nhị nguyên như các ảnh hưởng tốt xấu của cuộc đất; các khái niệm đối đãi, sinh tử… Chỉ có như thế mới duy trì và phát huy nhanh chóng được toàn bộ năng lực tự nhiên của cuộc đất. 7. Sinh khí vận động thuận, tử khí vận động nghịch chiều kim đồng hồ. Chỉ riêng việc ứng dụng được điều này đã mang lại một cải thiện lớn lao cho chủ thể mà không cần phải có can thiệp thô bạo đến cuộc đất. 8. Người thực hành phong thủy phải nắm bắt thuần thục các năng lực vô hình liên quan đến cuộc đất cũng như xu hướng vận động của chúng. Hơn nữa người thực hành phong thủy phải đủ năng lực tâm linh để điều chỉnh các yếu tố vô hình này cho phù hợp với mục tiêu của việc cải tạo phong thủy. 9. Người thực hành phong thủy phải trực tiếp liên đới chịu trách nhiệm về các điều chỉnh phong thủy của mình. Trong trường hợp anh ta không có điều kiện bàn bạc thống nhất kế hoạch điều chỉnh với tất cả đối tượng liên quan trong cuộc đất cần cải tạo thì anh ta phải đủ năng lực để khống chế các ảnh hưởng không mong muốn do việc điều chỉnh phong thủy gây ra. Tuyệt đối không được lẩn tránh trách nhiệm hay làm qua loa cho xong việc rồi bỏ mặc khổ chủ. 10. Người thực hành phong thủy phải nắm vững tất cả các thuật pháp hữu vi và vô vi liên quan để kịp thời ứng dụng trong mọi trường hợp. nên ghi nhớ rằng thực hành phong thủy và cứu người là không khác về bản chất. Bài viết số 28 Ma sự trên đường tu Ma sự tính theo chuyển hoá tâm thức tại các uẩn (ấm) gồm có ma sự tại sắc ấm, ma sự tại thọ ấm, ma sự tại tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Nếu không nghiên cứu chuyển hoá tâm thức tại các uẩn thì chỉ đánh đập được mấy con ma thông thường thôi. Nếu thực sự muốn giải thoát thì phải nghiên cứu về ma sự tại tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Ma sự tại các uẩn này không thể hiện rõ ràng mà ẩn sâu trong tâm thức của hành giả nên nếu không có sự nghiên cứu thấu đáo và tu trì tinh tấn thì sẽ bị trói buộc mà không biết. Đành rằng ma sự tại tưởng ấm thường mượn người ngoài để thể hiện, nhưng vì tâm thức của hành giả không chuẩn bị sẽ bị trôi đi mà không thể thức tỉnh nên cũng bị coi như đang khép kín. Ma sự tại sắc uẩn và thọ uẩn thể hiện thô tháp nên dễ nhận thấy, tuy nhiên vì hành giả đang bị hạn chế về năng lực tuệ giác nên không phải y đã nhận ra dễ dàng. Hơn nữa vì ma sự hoành hành nên nhân loại bây giờ chấp nhận những ma sự thô tháp đó như sự hiển nhiên… Thực là chí nguy!

Trước khi hành giả tiêu dung được ma sự tại một ấm thì hành giả phải gánh chịu ma sự tại ấm đó và các ấm trên nó. Khi tâm thức chuyển hoá ở ấm cao hơn thì mới có năng lực tiêu dung ma sự ở ấm thấp. Khả năng chuyển hoá tâm thức của hành giả mỗi người đều rất khác biệt. Tuy nhiên chỉ có năm ấm nhưng vì bản chất của tâm là không ngăn ngại nên tuy bị “nhốt” trong một ấm thì nó cũng thể hiện vô cùng khác biệt. Vì vậy nên một hành giả không tự mình đối chọi với ma sự của mình thì thực sự không ai có thể chuyển hoá giúp y được. Nên nhớ rằng đối phó với ma sự bằng tuệ giác mới là chân tuỷ của giải thoát đạo. Hành vi trấn áp ma sự thì không thể thoát khỏi nhân quả. Dù tạm thời né tránh ma sự nhỏ nhoi nhưng cộng nghiệp thì vẫn sờ sờ ra đó. Một hành giả tu chứng giải thoát thì không thể không tu tập phát triển tuệ giác. Mỗi trình độ phát triển tâm thức sẽ khai thị cho hành giả một tầm sâu sắc hơn của tuệ giác. Chỉ có năng lực chuyển hoá do tuệ giác mới có thể đem lại sự giải thoát thật sự cho hành giả. Do năng lực tuệ giác là thành tựu tâm của hành giả nên đánh giá trình độ tuệ giác hoàn toàn có thể căn cứ vào năng lực thấu thị của hành giả. Bởi vì như ở trên tôi đã trình bày năng lực thấu thị như thị là năng lực được hình thành do tuệ giác. Ma sự tại các ấm tuy tiêu dung bằng tuệ giác nhưng trùng trùng điệp điệp cho đến khi hành giả chứng ngộ hoàn toàn sự vĩ đại của nhân quả. Cho đến khi hành giả nhận thức đầy đủ về nhân quả thì y ta mới có thể tiêu dung ma sự tại hành ấm. Trong ấm này ma sự hoá hiện phi phàm, tinh vi tuyệt diệu…mỗi mỗi hành nghiệp của hành giả mà buông lơi ý thức về nhân quả liền bị ma sự ở hành ấm chi phối. Từ đó trở đi hành trình có thể nói là quá dài…Nhưng miên mật sẽ chuyển… Dẫu có nói cũng không đủ lời, mà có lẽ cũng không cần phải nói thêm nữa… Vả chăng tôi đã đủ thẩm quyền mô tả…??? Cuối cùng hành giả không nên vội mừng là đã vượt qua ma sự ở ấm sau thì không bị tổn hao năng lực bởi ma sự tại ấm trước. Nhưng cũng nên “an tâm” phần nào là vì nếu hành giả chưa thâm nhập tâm thức vào một ấm, chưa tiêu dung những ma sự ở ấm trước thì chưa đủ năng lực để chiêu cảm ma sự ở các ấm cao hơn…Do đó còn có điều kiện để chuyển hoá một cách từ tốn… Hành giả phải tâm niệm lời Phật dạy ngài Anan trong kinh Lăng Nghiêm. Những lời này như búa tạ, như dao Kim cưong, như hải đăng soi đường… Ma sự đụng phải tâm kiên cố và trí huệ được độ trì này thì không thể không thoái lui: “Này Anan, năm cái ấm đó do năm vọng tưởng tạo thành. Nay ông muốn biết vọng tưởng sâu cạn thì chỉ tâm niệm: Sắc và không là biên giới của sắc ấm Xúc và ly là biên giới của thọ ấm Nhớ và quên là biên giới của tưởng ấm Sinh và diệt là biên giới của hành ấm Đứng lặng nhập vào đứng lặng là biên giới của thức ấm”. Tâm hành giả cho đến kỳ diệt hết thức ấm rồi còn phải đào luyện không ít. Nay nên nhớ lời kinh: “ Pháp môn như thế, các đức Như Lai nhiều như vi trần, trong hằng hà sa số kiếp quá khứ đều vận dụng nó mà khai ngộ đạo Vô Thượng. Khi thức ấm hết rồi thì hiện tiền các căn của ông được dùng thay lẫn nhau. Từ chỗ các căn của ông được dùng thay lẫn nhau, ông sẽ lên bậc Kim Cương Càn Tuệ Bồ Tát… Rồi, cứ như thế vượt lên các vị thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, tứ gia hạnh tâm và thập địa Kim Cương Bồ Tát, tính

Đẳng giác được viên minh vào bể Diệu Trang Nghiêm của Như Lai, viên mãn đạo Bồ Đề, về chỗ Vô Sở Đắc”. Trước khi kết thúc bài viết tôi xin mô tả loáng thoáng vài ma sự gặp trong đời để minh hoạ vui vui cho quý vị. + Ma sự tại sắc ấm: VD: cơn ăn cơn uống. Ăn đến nhiều không thể tưởng tưởng được để làm cho mọi người thán phục mà không nhất thiết là do nhu cầu của mình… + Ma sự tại thọ ấm: VD: cơn buồn dỗi, xúc động vì những căn nguyên nhỏ nhặt… + Ma sự tại tưởng ấm: nhập vào người xung quanh nói về đạo pháp tương lai… + Ma sự tại hành ấm: Không có chi tiết nào của đời sống mà ma sự tại ấm này không thâm nhập. VD: nghe một giai điệu hay mà bị quyến luyến bởi nó thì ma sự thâm nhập, vì thế mà không thoát ra khỏi sinh tử… + Ma sự tại thức ấm: xúi bẩy về quyền năng, ngộ nhận là đã đến đích, ngộ nhận về bản thân … Kinh nghiệm của tôi cho thấy nếu gặp ma sự ở tầng thức sắc ấm nào chúng ta có thể áp dụng lời tụng thể nhập tính không có tự tính của nhân duyên, chứng nghiệm tính huyễn của tâm, do đó tiêu dung ma sự cũng như ảo ảnh của cả thần lẫn ma trong tâm. Rằng: “ Sắc tức thị không, không tức thị sắc Thọ tức thị không, không tức thị thọ Tưởng tức thị không, không tức thị tưởng Hành tức thị không, không tức thị hành Thức tức thị không, không tức thị thức.” Phụ lục: Chú nhân duyên Bài viết số 29 Giáo lý Kalachakra Bài viết số 30 Bàn về tướng pháp tuyệt kỹ ứng dụng Tướng pháp tuyệt kỹ nằm trong hành vi. Vì vậy bản chất của tướng pháp không thể tách rời quy luật nhân quả. Hành giả nhận thức điều này để không bị rơi vào các trường hợp đánh giá về tướng pháp như học thuật bình thường. Vì vậy tướng pháp tuyệt kỹ không bị giới hạn trong một chi tiết cố định, mà hoàn toàn có thể thay đổi được. Đây là khía cạnh tích cực của tướng pháp cho một hành giả nhanh chóng loại bỏ những yếu tố tiêu cực nhằm đẩy nhanh hành trình hội nhập nhân quả Bản chất của tướng pháp tuyệt kỹ là hoàn toàn vô ngã. Nếu hành giả chưa nhận thức được điều này thì chưa đủ năng lực để bình luận về tướng pháp. Những sách vở rao dạy về tướng pháp như các đặc điểm cố định thật ra chỉ đủ tư cách như một tài liệu nhập môn. Nếu một người nghiên cứu mà chưa nhận chân được tính vô ngã của nghệ thuật tướng pháp thì sẽ áp đặt những định kiến của bản thân vào đối tượng. Vì vậy mà y vô tình can thiệp vào hành trình nhân quả… Nếu đối xử với điều đó như một

sản phẩm vô ngã thì y thoát tội chướng. Trong trường hợp y lồng ghép chủ kiến của y vào như một cách thể hiện bản ngã thì đời y liệu có khá được chăng? Đấy là chưa nói đến những toan tính có mục tiêu trục lợi thì không thể cứu vãn được trong nhiều trung kiếp… Nên nhớ rằng một thế giới được hình thành trong 19 trung kiếp và một cõi nhân loại được hình thành trong 1 trung kiếp… Sau 20 trung kiếp này (tức kiếp thành), bắt đầu chuyển sang 20 trung kiếp của kiếp trụ, rồi đến 20 trung kiếp của kiếp hoại và 20 trung kiếp tiếp theo rơi vào hư không. Điều này là tuyệt đối chính xác!!!!!!!!!! Liệu thống kê như vậy có cảnh tỉnh được chúng ta chấn chỉnh được bản ngã và học thuật của mình hay chưa?????????? Là người đi xem tướng phải biết quyền của mình là có khả năng thay đổi được số phận. Nếu không tin vào điều này thì tự nhiên người đó đã trở thành mồi ngon cho bọn thầy tướng giả hiệu. Than ôi! Bọn người vô lại này vì muốn giữ kế mưu sinh nên đã nhất quyết giữ lại quyền tự cứu này, trong khi tự ấn chứng rằng bọn chúng mới có năng lực hóa giải số mệnh. Chính khái niệm này như một cơ hội mở để cho chủ thể có thể lĩnh hội và tiến bộ thì lại bị bọn thầy tướng vô lương tâm biến thành một hình ảnh bất biến và đáng sợ để khống chế người khác. Bài viết số 31 Bàn về nghệ thuật sử dụng âm thanh Nghệ thuật sử dụng âm thanh là nghệ thuật cao tột, tuy nhiên cho đến bây giờ thì nghệ thuật này đang hấp hối. Chúng ta đang bị trói chặt trong những nguyên tắc cứng nhắc của sự thẩm âm nghèo nàn. Bị cuốn đi bởi những giai điệu thời thượng hoàn toàn thừa năng lực gây ô nhiễm. Chúng ta không biết rằng sở dĩ chúng ta bị cuốn đi như vậy là bởi ảnh hưởng của việc lan truyền tâm lý chứ không hẳn bởi sự tác động tích cực của âm thanh. Điều đó có nghĩa là chúng ta đang đánh mất một năng lực to lớn của loài. Sự thẩm âm thực sự đang bị giết chết! Các kiến thức âm học hiện đại ngày nay đang bị giới hạn một cách đáng kinh ngạc. Âm thanh bị giới hạn trong nguồn âm và môi trường dẫn truyền. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc âm thanh không thể lan truyền trong chân không. Còn đối tượng cảm thụ âm thanh thì được gán cho một đám tế bào thính giác… Tôi e rằng những kết luận đó chỉ mới đề cập đến một giới hạn rất nhỏ bé của khoa học thật sự của âm thanh. Có nhiều kỹ thuật cảm thụ âm thanh, nhưng nguyên tắc đầu tiên và cơ bản nhất là phải đón nhận âm thanh như một dòng suối, như một món ăn thật sự…tràn vào tất cả các giác quan kể cả đó không phải là đôi tai. Người cảm nhận âm thanh vì vậy phải đạt tới trạng thái trống rỗng trong tâm thức. Điều này là hoàn toàn có thể chiêm nghiệm. Bất kể anh ta đang trong hoàn cảnh gì…dù là một học giả đang hạnh phúc hay là một tử tù đang bước lên đoạn đầu đài…thì việc giữ tâm hồn thanh thản để có thể cảm nhận âm thanh như một sự cứu rỗi ngay lập tức và thù thắng là sự thật. Ngay lúc đó thậm chí anh ta cảm nhận tiếng chim hót, tiếng trẻ con khát sữa hay tiếng gà gáy… cũng là âm thanh trên thiên đường. Phải rơi vào tình trạng sẵn sàng như vậy để nhận thấy rằng âm thanh bản thân nó là vật sống, xuyên suốt không gian và thời gian. Một âm thanh bất kỳ đều có khả năng làm cho

vũ trụ rung chuyển. Đừng băn khoăn gì về những kiến thức âm học hiện đại… Những kiến thức này chỉ mô tả quá ít ỏi về sự lan truyền của sóng âm trong môi trường xác định. Âm học hiện đại hoàn toàn bất lực trước sự mầu nhiệm của vô âm. Hãy tin rằng khả năng nhận thức của bạn nếu được huấn luyện tốt và trưởng thành thực sự thì có thể lĩnh hội âm thanh siêu phàm này… Vô âm là âm thanh nền tảng trên đó mọi âm nghe được xuất hiện. Vô âm là nền tảng của vũ trụ. Vô âm là vũ trụ… Khác với các âm thanh hữu thanh có thể thu thanh, vô âm không thể thu thanh và chỉ có thể được nghe bởi một giác quan siêu linh đã phát triển trên một cá nhân có sự đào luyện tâm linh. Âm thanh hữu thanh sinh ra từ nguồn âm và bị giới hạn bởi môi trường truyền âm nhưng vô âm thì không như vậy. Vô âm không có nguồn cụ thể và xuyên suốt chân không bao la. Quay lại với những đôi tai tội nghiệp của chúng ta hiện nay đã hoàn toàn đánh mất năng lực thẩm âm, tôi sẽ trình bày tóm lược lại nội dung này thành một vài nhận định cụ thể hơn. 1. Cảm nhận âm thanh bằng bộ ba: giác quan – tâm thúc – sự buông bỏ. 2. Lắng nghe âm thanh như là tiếng của vũ trụ, như là hiện hữu tuyệt diệu của vô âm. 3. Âm thanh là sự mầu nhiệm, quan trọng như hơi thở, như thực phẩm vậy, thậm chí… 4. Âm thanh là thần dược chữa lành thân bệnh cũng như tâm bệnh. 5. Âm thanh xuyên thấu cơ thể và khai thông mọi bế tắc trong cơ thể vật lý cùng là tâm linh. 6. Âm thanh nền tảng là vô âm. 7. Âm thanh là tất cả.

Bài viết số 32 Bàn về nghệ thuật sử dụng màu sắc Không có nhiều người nắm được nghệ thuật này. Ý nghĩa và sự tế nhị của nó là vô song! Tôi đã trao một phần nhỏ nhưng quan trọng cho vợ tôi. Ngoại trừ nhân vật này ra, ai có thể tin tôi để tôi trao nốt…? Không có! Bài viết số 33 Bàn về nghệ thuật đặt tên Không có nhiều người nắm được nghệ thuật này. Ý nghĩa và sự tế nhị của nó là vô song! Tôi đã trao một phần nhỏ nhưng quan trọng cho vợ tôi. Ngoại trừ nhân vật này ra, ai có thể tin tôi để tôi trao nốt…? Không có! Bài viết số 34 Giữ gìn (tránh khỏi) sáu sự không cung kính

Là sáu sự không tuỳ thuận, không cung kính với: + Phật đà, bậc đạo sư + Pháp + Tăng + sự học Pháp + sự bất phóng dật + sự giao tiếp. (tham khảo Trường bộ kinh II) Bài viết số 35 Bàn về sự kế thừa di sản của loài người. Hơn bao giờ hết, chúng ta đang là những kẻ vô ơn thực sự. Nếu bây giờ có ai hỏi về nguồn gốc loài người thì câu trả lời gần như chắc chắn sẽ là loài người có nguồn gốc từ khỉ hoặc Thượng đế. Tôi không đề cập đến vấn đề Thượng đế như một giáo chủ của Nhất thần giáo. Tôi cũng không tán thành quan điểm loài người như một quái thai của loài khỉ. Thực sự không điều gì có thể phi lý hơn điều đó. Nhưng tất cả chúng ta hầu như bị ru ngủ bởi những điều nhảm nhí như vậy. Việc chối bỏ tổ tiên, chối bỏ những thành tựu vật chất và tâm linh của tổ tiên khiến chúng ta trở thành những kẻ thờ ơ đáng ghét và những kẻ vô ơn bậc nhất. Giò đây vì sự giới hạn của thể loại trình bày nên tôi không bàn sâu hơn về nguồn gốc của loài người. Tôi chỉ nhấn mạnh đến thái độ thờ ơ của loài người khi kế thừa di sản tâm linh một cách nghiễm nhiên và vì vậy tỏ ra quá vô ơn mà thôi. Tôi cũng lên án những nhà cầm quyền các nước lớn và liên quan đã sở hữu bí mật các thông tin tâm linh mà loài người hiện nay được tiếp nhận. Việc không công khai đại chúng và mở các hội thảo hợp lý tỏ ra có hại cho nhân loại và vì vậy cần phải lên án rộng rãi. Các tác phẩm thực sự về vấn đề này không được quan tâm đúng mức mà bị giới hạn trong các tác phẩm chuyên ngành hẹp ví dụ như y khoa… Do đó chưa được giới thiệu đến đại chúng và mất đi tính thông điệp. Không còn nghi ngờ gì nữa, trước chúng ta có cả một nền văn minh. Nền văn minh này chỉ còn dấu ấn trong tôn giáo như một hình tượng hoá thần của những vị cổ Phật hay Thượng đế… tất cả những dấu ấn về một tôn giáo vĩnh hằng bị nhường chỗ cho những thứ tạp nham nào đó…nơi mà các cá nhân tiếm quyền tự xưng tụng mình như những giáo chủ. Kinh sách có nói đến một loài cổ nhân có cấu trúc cơ thể vật lý khác xa loài người. Gồm có 32 tướng tốt và 80 tướng phụ. Thông qua các đồ hình còn sót lại đến ngày nay, tôi tạm kết luận rằng mô tả đó là chân xác và đủ để phác thảo chân dung của một tổ tiên biết bơi. Thật vậy! Bàn chân nằm ngang; mu bàn chân và bàn tay có dạng lượn sóng; đầu ít hoặc không có tóc; cổ liền với thân thành một khối…cổ tay và cổ chân vững chãi, không có xương cổ tay. Do không phải chịu tác động của trọng lực nhiều nên chỉ có một xương cẳng tay, một xương cẳng chân…

Cơ thể sinh hoạt ở lớp trên của đại dương nên hầu như trong suốt, nhìn thấy nội tạng. Một số tranh ảnh còn cho thấy loài tổ tiên từng là nạn nhân của cá. Một vài tài liệu phổ biến hơn, nhưng chỉ mô tả phần đầu của tổ tiên có dạng mũi hình dấu hỏi. Chỉ có mũi dạng này mới chống lại được áp suất lớn và phù hợp với một cơ cấu lặn. hai mắt của tổ tiên được lưu lại dấu ấn trên các bảo tháp là một cơ cấu thị giác cận thị rõ rệt với con ngươi rất to. Đó cũng là triệu chứng thích nghi với đời sống bơi lặn vì như chúng ta đã biết, mắt cá là mắt cận thị nặng. Tuy nhiên vì có phổi hoàn hảo nên tổ tiên có sinh hoạt lưỡng cư. Các tranh ảnh còn cho biết những thế hệ giao thoa giữa lớp người cổ xưa và nhân loại. Cho thấy sự chỉ dạy về các động tác, các bài học về sự sinh nở, các nghi thức cơ bản cũng như kiến thức về xây dựng và y học cơ bản... Đặc biệt thú vị khi nhận thấy các đồ hình kinh mạch bí mật và hệ thống các trung tâm năng lượng cũng được tổ tiên trao truyền một cách đầy đủ. Nhưng rủi thay những đồ hình này chưa được trả về đầy đủ ý nghĩa của nó. Có chăng nền văn minh Ấn – Tạng được kế thừa ít nhiều nơi các truyền thống yoga và toàn thể nhân loại đang mang ơn về vấn đề đó. Chúng ta cần phải nhận thức được rằng những điều thú vị này được ghi nhận trong các tài liệu cổ như những nguyên lý nội của giáo lý Kalachakra. Chưa hết, tại sao chúng ta có thể chối bỏ cơ sở rằng nền văn minh của chúng ta trong khi nó đang được xây dựng trên cơ sở sự thống nhất của những mặt đối lập. nguyên lý này đã có từ lâu và được trình bày trong nguyên lý ngoại của Kalachakra. Giáo lý này có nguồn gốc từ vương quốc huyền thoại Shambhala. Các tài liệu về vương quốc này mô tả một huyền thoại dài hơn rất nhiều so với lịch sử của nhân loại. kể từ thế kỷ XI, các văn bản nhân loại mới đề cập đến sự tồn tại của vương quốc này, nhưng cho đến ngày nay điều đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa nơi các truyền thống tu tập Mật tông cũng như các truyền thống Minh triết phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ. Bản thân điều này vì thế không thể là không có ý nghĩa. Sau hết tất cả những truyền thống tâm linh của nhân loại đều mô tả một hình thức đồng nhất với hoá thần bổn tôn. Đièu này cũng đã được mô tả như nguyên lý còn lại trong giáo lý Kalachakra. (Hai nguyên lý kia là nguyên lý nội và nguyên lý ngoại – xin xem bài liên quan!). Vì đâu mà văn minh Tây Tạng hiện nay lại ẩn mình dưới dạng một văn minh biển như thế? Nếu như trước vận động tạo sơn của Hymalaya chưa từng có một nền văn minh tồn tại. Chắc hẳn chúng ta cũng ít nhiều lần băn khoăn rằng địa danh trước đây của vùng đất liền kề với cao nguyên Tây tạng bây giờ có tên là Thanh Hải có nghĩa là biển xanh. Một trong những vật thiêng của vùng đất này, theo truyền thống chính là vỏ ốc thanh danh. Phép tu huyền thoại của hành giả với vỏ ốc thanh danh này còn gọi là phép tu tù và trắng nay đã thất truyền. Nhưng còn lưu lại dấu ấn trong tập quán thờ cúng vỏ ốc như một trong tám món cúng dường mở màn cho hầu hết mọi nghi lễ của dân Tây Tạng. Đi dọc theo bờ các con sông lớn trên lục địa Á châu cho đến thượng nguồn chúng ta đều chứng kiến dấu ấn vĩ đại của các vận động địa chất mà tại đó cho phép các vùng nước lớn trở thành núi cao. Đó là thời điểm mà tiểu lục địa Ấn Độ va chạm vào lục địa châu Á bây giờ tạo thành dãy Hymalaya. Nước rút đi theo các bờ sông và để lại ngấn nước cao đến hàng trăm mét hoặc hơn… Phù sa để lại trong lòng sông cổ rộng đến hàng ki-lô-mét trải dài từ thượng nguồn cho đến hạ lưu hàng ngàn cây số. Vận động tạo sơn vĩ đại đó đã huỷ diệt đi nền văn minh của những người lưỡng cư hay chính xác hơn đã biến những người lưỡng cư tổ tiên của nhân loại thành một chủng tộc

du mục. Họ đã thích nghi một cách khó khăn với điều kiện sống mới và chấp nhận một di sản nghèo nàn còn lại của tổ tiên. Nhưng những gì còn lại đều khẳng định về mức độ sâu sắc và hoành tráng của nền văn minh trước đây. Trong điều kiện sống mới, các đặc điểm thích nghi mới chiếm chỗ các đặc tính thích nghi với đời sống bơi lội trước đây. Kích thước con người nhỏ hơn. Xương chi xuất hiện thêm xương cẳng tay và cẳng chân để chịu lực. Cổ tay linh hoạt hơn nếu có thêm hệ thống xương cổ tay. Bàn chân linh hoạt hơn và quay ra trước để thích nghi với vận động tiến tới phía trước. (Trước đây vận động chủ đạo của tổ tiên là tiến phần đầu về phía trước trong khi bơi nên bàn chân xoay ngang hỗ trợ cho việc đạp nước!).Lồng ngực ít xương sườn hơn, từ 20 chiếc trở thành còn 12 chiếc. Mũi mất đi năng lực chống áp suất lớn và có dạng chóp nhọn. Mắt bị viễn thị hoá và trở nên bộ phận bị lão hoá hàng đầu trong các giác quan. Thân thể bị đặc dần và mất đi khả năng trong suốt không còn cần thiết. Quai hàm trở nên mạnh mẽ hơn với số răng ít hơn nhưng được biệt hoá hơn giúp tăng cường khả năng chấp nhận chế độ thức ăn phong phú và cứng hơn. Cấu trúc của vùng chậu hông do thích nghi với đời sống đứng thẳng nên xương chậu được tăng cường, trong khi vùng xương cụt bị thoái hoá. Trước đó do đời sống bơi lội nên chậu hông kém phát triển nhưng bù lại cột sống vùng cùng cụt rất nảy nở không kém gì các đốt sống phía trên. Mặt khác do ít chịu lực trong tư thế đứng thảng nên không có sự khác biệt đáng kể của các đốt sống vùng thắt lưng. Các đốt sống này ở loài người hiện nay có cấu trúc lớn để chịu lực nhưng đồng thời vẫn là bộ phận bị thoái hoá tương đối sớm. Dù muốn nói gì đi nữa thì những người Tây Tạng vẫn lưu lại trong hệ thống gen của mình những gen đặc biệt cho khả năng thích nghi với phân áp ô-xy thấp. Đặc điểm này có thể là đặc điểm thích nghi với phân áp ô-xy thấp trên núi cao nhưng cũng có thể là đặc điểm di truyền của loài bơi lặn. Đặc điểm này không thấy xuất hiện ở bất cứ dân tộc nào khác, kể cả những dân tộc có tập quán sinh sống trên độ cao. Do vậy chắc chắn đây là một đặc điểm di truyền của đời sống lưỡng cư thiên về bơi lặn. Cũng còn một tham khảo thú vị nữa là các tính toán và giả thuyết của nhà khoa học người Nga Erono Mundasev. Theo các nghiên cứu bởi phương pháp của riêng ông, ông khẳng định nguồn gốc của nhân loại bắt nguồn từ vùng Tây Tạng. Vì sự giới hạn của bài viết nên kính mời quý vị tham khảo thêm các tài liệu liên quan từ các nguồn khác! Sau cùng tôi phẫn nộ hỏi rằng do đâu mà đến thế kỷ XXI này mới có người đặt vấn đề này ra công luận, mặc dù tất cả khía cạnh mà tôi đề cập chưa hẳn là mang tính chuyên môn và không khỏi có phần chủ quan?!

Sign up to vote on this title
UsefulNot useful