Chương 6: Quan trắc gió và dòng 1. Đo gió và dòng Cả đd và kq là môi trường lỏng, kỹ thuật đo cơ bản tương tự nhau.

1 là, phương pháp (pp) Euler mô tả trường dòng tại vị trí trong không gian tương đối với bề mặt Trái đất. Ví dụ, nhà khí tượng có thể mô tả trường gió bề mặt từ việc đo hướng và tốc độ gió tại một trạm thời tiết vào một thời gian nhất định. Trong toán học,vận tốc dòng Euler có thể được xác định như số vector tại 1 điểm x,y,z và tại time t: v = v( x, y, z , t ) Với trục x theo hướng Đông, trục y theo hướng Bắc, trục z hướng thẳng lên. Pp thứ 2 là pp Larrangeđo tại vị trí của chất lỏng đã chọn như là 1 hàm của time. Pp này cho ta thông tin trong lịch sử của khối khí và nước. dòng được xác định dựa vào số vector: v = v(a, t ) Với a là một vector. Ví dụ Larrange chỉ r4 đường đi của quả bóng đang di chuyển với vận tốc của không khí (kk) xung quanh nó. Điều quan trọng đáng chú ý ở đây là đặc điểm của 2 pp đo trường dòng là độc lập nhau, vì vậy nó cho ta thông tin khác nhau về các dòng kk và đd. Nó ko thể cho chính xác vận tốc Euler từ từ đường đi cả quả bóng hay vật nổi và tương tự, ko cho xác định chính xác vận tốc Larrang từ việc đo theo pp Euler. Tuy nhiên, ngay sau đó có thể so sánh xấp xỉ giữa 2 hệ thống đo, nếu như việc đo đồng thời cả vận tốc Euler và Larrange có thể xảy ra. Việc chọn lựa pp đo phụ thuộc vào thông tin yêu cầu. pp đo Larrange sử dụng cho vật trôi, nổi trong đd sẽ thích hợp cho việc xác định sự di chuyển và phân tán của dấu tích tự nhiên hay chất ô nhiễm. Mặt khác, dự báo thời tiết liên quan tới pp Euler riêng gió, vì người này quen với việc dự báo trên 1 khu vực riêng. Như chúng ta đã thấy ở trên, sự phân bố của các trạm khí tượng Sy-nốp thực chất là mô tả Euler của hoàn lưu và được ứng dụng trong mô hình dự báo thời tiết bằng pp số trị trong lưới Euler cho việc giải các ptrình chuyển động. Điều quan trọng là chú ý tới các qui ước riêng về hướng dòng trong kq và đd. Gió được xđ nhờ vào hướng thổi đến, trong khi dòng được xác định vào hướng chảy đi. Vì vậy, gió Tây thổi từ Tây tới Đông, trái ngược với dòng hướng về phía Đông trong đd. Từ đây, có những qui ước về hải dương học cho cả gió và dòng được thêm vào bất cứ nơi nào có thể.

Cả kq lẫn đd, vận tốc Euler thông thường đượcc đo bằng 1 thiết bị quay, vì thế thiết bị đo gió hay đo dòng, có thể quay bởi cánh quạt trong time được đo. Thiết bị đo gió phải được đặt từ các pháo đài hay cột buồm, vì thế chỉ sử dụng đo gió gần bề mặt TĐ. Đa số máy đo kiểu gáo nhạy với sự biến đổi của gió trên 10s, và chính xác tới 10m/s. máy đo gió nhỏ và nhẹ hơn có thể được dùng để quan trắc chính xác hơn gió gần bề mặt đất, vì thế yêu cầu có kinh nghiệm về vi khí tượng học. Khó khăn chính với việc đo bằng thiết bị gió là vấn đề thay đổi của sự cản trở dòng, riêng do tháp hay cột buồm. VD tàu có thể làm méo mó dòng kk và điều này sẽ dẫn tới sai số trong việc đo gió và điều này độc lập với hướng của tàu với hướng gió và tình trạng của thiết bị đo gió. Dụng cụ đo dòng bây giờ được neo vào cột buồm theo pp Euler trong đd. Những năm gần đây, có sự cải tiến trong kỹ thuật thiết kế máy đo dòng đã làm được, với cột buồm và hệ thống dữ liệu. Trong khi đo, hướng của chuyển động của cánh quạt trên 1 đường thẳng của thiết bị. Dụng cụ của Savonius đo tốc độ dòng chính xác 2cm/s. Dù các dụng cụ thường được thiết kế trong những năm 1930, nó được cải tiến bằng cách sử dụng hệ thống lưu trữ băng-từ để ghi vận tốc và hướng khoảng 8 lần trên mỗi lần rotor quay. Mẫu của dữ liệu mỗi lần 15 phút, vì tần số dòng biến đổi cao. Sự xuất hiện tự động đột ngột của các vector trung bình cho ta quá trình đo đạc chính xác. Điều này gần với bề mặt tại đó sóng sinh ra loan truyền tần số thấp. Một vấn đề ko may với rotor của Savonius là có sự nhạy với sự thêm vào của dao động thẳng đứng bởi sóng bề mặt, và có 1 vấn đề về chuyển động của rotor. Vấn đề này ko xuất hiện cùng với việc đo vector dòng mà sử dụng 2 trục ngang của chân vịt để định hướng vuông góc. Việc đo tự động cả thành phần theo phương ngang dòng và ko bị ảnh hưởng bởi chuyển động của sóng mặt. trong tất cả pp đo dòng, các thiết bị định hướng được đo bởi la bàn (magnetic compass). Đa số khó khăn trong nền ổn định tại vị trí liệu dưới sự chuyển động số việc đo này được lấy pp đo dòng Euler tại biển là sự cung cấp của biết trước. Việc đo dòng bằng thuyền các số của thuyền và phải được lấy cách cẩn thận. Đa ở bề mặt và ở đáy, tại các đường (lay). Các

dụng cụ đo dòng và các thiết bị khác nổi cách khoảng t hướng xuống đáy. Các thiết bị thường buộc từ 5 – 10 thiết bị đo dòng dọc theo dây. Sức nổi xảy ra là nhất thiết vì trọng lượng của thiết bị và dây, vì thế cần 1 khối cầu bên dưới với mỏ neo. Trong những ngày đầu phát triển, tốc độ khôi phục là khoảng 50%, nhưng bây giờ, với sự thay đổi của hệ thống thô (robust) hơn, tốc độ kéo dây là khoảng 95%. Một số vấn đề phải khắc phục (overcome) về cá, đường dây buộc, sẽ bị gặm mòn và dòng trên bề mặt lôi vật nổi bên dưới. Tại bề mặt chịu ứng suất cao hơn do chuyển động của sóng. Mặc dù, sự quan trắc đã chứng tỏ những thuận lợi đem lại từ việc quan trắc theo pp Euler, riêng tại hay gần

bề mặt có sinh ra sai số. Loại chuyển động này có thể được đo bằng tín hiệu quang và vì thế có thể bù lại khi phân tích đo dòng. Kỹ thuật đo Euler khác gồm việc xác định góc nghiêng của sợi dây chủ yếu được biết là trượt. Đây là sự hữu ích cho việc đo vận tốc dòng gần bề mặt, nhưng lực kéo tăng theo độ sâu, nó có thể cho sai lầm trong việc xác định dòng theo độ sâu. Đo vận tốc âm có thể được sử dụng để xác định vận tốc Euler bằng 2 cách khác nhau. Cách thứ nhất, đo vận tốc âm theo thời gian giữa 2 ống nghe dưới nước A và B. Hệ thống này sẽ chỉ đo vận tốc dòng trong hướng của sóng âm, và vì thế 2 cặp ống nghe này dược đặt vuông góc để đo thành phần dòng theo phương ngang. Munk và Wunsch (1983) đã đề xuất, kỹ thuật được dùng đo vận tốc dòng trung bình theo phương ngang trên các quy mô lưu vực đại dương bằng việc sử dụng máy phát vô tuyến ở đáy trong kênh SOFAR tại độ sâu 100m. vì thế sẽ ko áp dụng vào, nói 1 cách nghiêm ngặt. ADCP = pp đo dòng bằng phản hồi âm trở nên dùng phổ biến cho việc xác định dòng trong đại dương. ADCP có thể được treo trên thân tàu hay vật nổi. Sóng âm bị phát xạ bởi ADCP là do phản hồi âm bởi các phần tử trong thiết bị cột nước. Chuyển động tương đối của các phân tử là nguyên nhân Doppler thay đổi tần số giữa phát xạ và phản hồi âm. Thành phần vận tốc của nước, v là: v =

c∆F ; F0

∆F là tần số biến đổi và F0 là tần số âm phát xạ.
Đo dòng tới độ sâu khoảng 300m, với 8m theo phương thẳng đứng tại bề mặt. Trong vùng nước nông, ADCP có thể đo tới đáy, vì thế các dòng tuyệt đối đáng tin cậy. Trong hàng hải cần chính xác vùng nước sâu, cung cấp bởi hệ thống định vị toàn cầu (GPS), được xác định dòng một cácch tuyệt đối. Trong khí quyển, pp Euler gồm máy ghi áp suất gió (pressure anemograph). Thiết bị đo khác nhau giữa áp suất động học hướng về (facing) phía gió và áp suất tĩnh (static). Khác biệt áp suất là

1 ρ Av 2 2

, với ρ A là mật độ của khối khí và v là vận tốc gió. Kỹ thuật này rất chính xác và nhạy với dao động nhanh trong gió. Có thể đo dao động lên tới 1000Hz và hữu ích riêng trong đo xoáy rối. Có thể sử dụng, in situ, trên cột buồm hay từ khí cầu. Thành phần theo phương ngang của dòng có thể đo bằng 2 thiết bị vuông góc nhau. Đo rối chính xác trong rối quy mô nhỏ, đặc biệt trong lớp biên, 1 số kỹ thuật có thể được áp dụng. Kể cả máy ghi gió nóng, nó nhạy với dao động của gió, và âm của

gió. Tuy nhiên, điều quan trọng là dữ liệu sy-nốp dành cho dự báo thời tiết, sự thật kỹ thuật Euler bị giới hạn quan trắc bề mặt. Trên bề mặt TĐ đo gió theo phương ngang phụ thuộc vào sử dụng kỹ thuật Larrange; hầu hết sử dụng rộng quan trắc (tracking) bằng bóng thám không và radar, máy kinh vĩ (theodolite) hay vệ tinh. Trong suốt Thế Chiến thứ 2, khi bóng thám không trở nên quan trọng cho việc đo gió ở đỉng tầng đối lưu của quân đội, các trạm thám không có thể nổi được thả từ trạm thời tiết và được theo bởi kinh vĩ. Những người quan trắc có thể tính tốc độ nổi lên của bóng tại bề mặt và bằng thời gian chính xác, vì vậy chứa tọa độ x,y,z của bóng tại thời gian bất kỳ. Quá trình hoạt động này có thể đem lại sự nguy hiểm cho người quan trắc, but là giới hạn bởi độ cao của mây, và cho rằng tốc độ đi lên là hằng. Hệ thống quan trắc bằng radar cho loại, sự nâng lên và góc phương vị (azimuth), và đoạn đi cong của bóng là dấu vết thời tiết trong suốt toàn bộ độ cao và bên dưới của tầng đối lưu. Sự đi lên của quả bóng ko xác định rõ, pp đo Larrange chính xác vì quả bóng là mẫu khác với khối khí khi nó di chuyển lên xuyên trong khí quyển. Hơn nữa, vì cấu trúc khí quyển, quả bóng ko thể di chuyển chính xác với vận tốc thẳng đứng của khối khí tại bất kỳ mực.(p175) 2. Quy mô của chuyển động trong khí quyển và đại dương. F6.4 cho thấy 4 chuỗi khác biệt về thời gian của việc đo tốc độ gió bằng máy ghi gió. Chuỗi 1 cho thấy dao động của vận tốc trong chu kỳ 1 phút, chuỗi thứ 2, giá trị trung bình 1 phút trong chu kỳ 1h, chuỗi thứ 3, giá trị trung bình 1h trong chu kỳ 4 ngày, chuỗi thứ giá trị trung bình 1 ngày trong chu kỳ 1 năm. Kết luận chính ở đây có thể vẽ được từ 4 chuỗi time, các dao động trong tốc độ gió xảy ra trên toàn dải quy mô time, từ vài giây đến vài năm. Các nhà khí tượng hay hải dương học có thể nhận thức dao động và độ lớn của chúng. Một cách khác để có thể chuyển các dao động thời gian thành phổ tầ số theo thời gian được minh họa F6.5. Những phâ tích này được xem như tổng của hàm sin và cos với dải tần só riêng biệt. sử dụng pp phân tích Fourier. Hình 6.5 dạng phổ tần đơn giản mặc dù có những dao động lớn. Trong khí quyển phổ ở đây là đỉnh của dao động với chu kỳ 1’ với xuất hiện của cơn gió mạnh bởi quá trình đối lưu. Ở đây có xu hướng năng lượng dao động trong 1 ngày nguyên nhân do biến đổi thường xuyên của gió, trong khi giữa chu kỳ 1’ và 1 ngày thì năng lượng dao động nhỏ. Chu kỳ lớn hơn 1 day, có sự gia tăng đột ngột và 1 giá trị max xảy ra tại chu kỳ vài ngày. Đây là do quy mô biến đổi Sy-nốp của khí quyển. Chuyển chuỗi time sang phổ tần số, như vậy, nó có thể giúp hiểu được quy mô chuyển động khác time trong kq. F6.6 cho thấy phổ tần số từ phân tích dòng ở độ sâu 2000m nước. Đây là bằng chứng rất khác từ phổ kq, có 2 giá trị đỉnh xác định. 1 đỉnh

xuất hiện từ bán nhật triều (semi-diurnal) và 1 đỉnh khác là do dao động quán tính, nhưng đặc biệt hàm theo vĩ độ và sự quay của TĐ. Đó là chu kỳ T, bởi T =

π (6.6); Ω sin φ

là tốc độ quay của TĐ và

là vĩ độ.

Đối với các chu kỳ dài phổ này ko cho thấy rõ đỉnh, nhưng cho thấy sự thay đổi lớn. Đề nghị ch thấy có sự biến đổi trong cố chế (mechanism) nguyên nhân là do biến đổi theo time của tần số thấp trong đd. Biến đổi theo time chỉ 1 vài chiều (hướng) trong việc phân tích các chuyển động. Tương đương về mặt không gian là số sóng phổ (phổ sóng = wavenumber spectrum), số sóng đảo ngược với chiều dài sóng. Trong trường hợp này, khác với vô hạn, xác định rõ giới hạn phổ mà được định nghĩa bởi kích thước vùng đd và kq của TĐ. F6.7 giải thích (chứng tỏ) phổ tần số sóng của gió thu được từ phân tích dòng kq quy mô lớn. Nó cho thấy phần lớn của biến đổi là trên quy mô rất dài, đỉnh năng lượng sóng có từ 5 – 8 chu trình quanh Bắc bán cầu. Số sóng nhỏ nhất (1 - 4) là sóng Rossby, và chúng liên hợp với sự phân bố của lục địa và đd, và bề mặt địa hình. Số sóng cao hơn riêng giữa 8 đến 10, liên quan đến hình thế thời tiết Sy-nốp, có quy mô không gian đến vài ngàn km. Lúc số sóng cao (tức độ dài sóng ngắn), năng lượng phổ giảm nhanh chỉ ra rằng trong hệ quy mô lớn là mạnh mẽ, là dòng vượt trội trong kq. Sau đó, ko đúng trong vùng vịnh đd có sự mạnh vượt trội quy mô ko gian liên wan đến hoàn lưu quy mô vừa có độ dài sóng khoảng 100km. 3. Chuyển động độc lập với time. a. Chuyển động của kq độc lập với time Các chuyển động độc lập time xảy ra dựa trên biến đổi cả ko gian lẫn time. Quy mô lớn của chuyển động thành lập/ hình thành chủ yếu năng lượng và hiện tượng quy mô time dài trong kq. F6.8, đường đi cong của đẳng mức của bóng thám không tại 15kPa (độ cao xấp xỉ 15km) được quan sát trên chu kỳ 23 ngày. Nếu dòng là đới hoàn toàn (purely zonal) và hằng theo time, vòng tròn đồng tâm sẽ cho thấy trước đường đi của quả bóng là tương tự đối với mỗi chu vi, but, thay vì có thể xem biến đổi theo ko gian và time là được quan trắc. Trên chu vi cuối của bán cầu có 2 sự đi lệch (excursion) lớn trên Nam Mỹ và Đông ĐTD nơi đây ko có sự biểu hiện như ở chu vi trước. Sự trệch hướng từ chuyển động tròn nguyên nhân là do sóng Rossby. Sự lặp số sóng Rossby này ở các dòng quanh cực có thể biến đổi từ 1 or 2 đến nhiều hơn như 6 - 7 sóng. Nếu chúng là sóng sin, phổ như là 1 cho thấy trong F6.7 chỉ ra số sóng. Ví dụ, 1 số sóng của 1 dòng sẽ là sóng đơn xung quanh bán cầu, trong khi số sóng của 4 dòng sẽ chỉ ra 4 vòng lặp xung quanh bán cầu. Trục ở giữa sóng thường liên wan đến đường dòng và ko giống với đường dòng của khí hậu cận nhiệt với tốc độ gió trung bình là 30m/s, bên trên là

100m/s có thể x.ra. Quan sát và dự báo là quan trọng ưu tiên. Các số sóng thấp xu hướng di chuyển chậm so với bề mặt TĐ, với dòng quanh cực di chuyển về phía Đông. Đôi khi, thành phần sóng Rossby có lẽ trở nên tĩnh trong vài ngày, thậm chí vài tuần, sau đó được biết đến như “dòng đóng”. Sóng này nhìn chung là do bất ổn định của dòng mạnh quanh cực, nó phát triển trên quy mô time vài ngày. Tuy nhiên sóng này có thể tăng (enhance) bởi dãy núi lớn như dãy Andes hay Rocky Mountains, và bởi sự trái ngược nhiệt giữa đd và lục địa. Ghi nhận với đường nhánh sóng Rossby là wen thuộc, xoáy thuận và xoáy nghịch quy mô Sy-nốp với quy mô độ dài từ 1000-3000km, và quy mô time từ 1-5 ngày. Điển hình với 20-25 xoáy thuận và xoáy nghịch ở phần thấp của kq (i.e dưới 5km) ở BBC tại bất kỳ time nào. Nhằm hướng tới số xoáy thuận và xoáy nghịch lớn hơn, nhưng sau đó có khuynh hướng lớn quy mô phương ngang. Ngoại nhiệt đới và ở vĩ độ trung bình,hoàn lưu gió trong xoáy thuận thường mạnh xoáy nghịch. Vị trí của các xoáy thuận và xoáy nghịch ko phải là ngẫu nhiên đối với dòng kk bên trên. Xoáy thuận hình thành ở bờ phía Đông của vùng áp suất thấp (trough) của sóng Rossby, trong khi đó xoáy nghịch nhìn chung trong khoảng vị trí xuôi dòng của vùng áp suất cao (ridge). Với trạng thái dòng tĩnh hay “đóng”, xoáy thuận và xoáy nghịch sẽ phát triển và suy yếu (decay) lặp đi lặp lại trên vùng giống nhau, vì kết quả trong vùng liên tục là thời tiết “tốt” hay “xấu”. Áp suất bề mặt của xoáy nghịch nhìn chung trong 102-105 kPa, trong khi xoáy thuận ngoại nhiệt đới nằm trong dải 93-101 kPa. Cả áp suất cao nhất và thấp nhất có khuynh hướng xảy ra trên bán cầu lạnh. Chuyển động thẳng đứng trong hệ thống sy-nốp giữa 1 và 10cm/s. Với xoáy thuận ngoại nhiệt đới là hệ front mà có dải bề rộng từ 50 -200km. vùng front này xu hướng xoắn ốc từ tâm xoáy thuận và kéo dài đến hàng ngàn km, đều nhau. Vùng front là biên phân biệt khối kk, có kết hợp với grdient nhiệt độ lớn, đặc biệt là vào mùa đông. Nhiệt độ thường thay đổi từ 5 – 100C, but thỉnh thoảng, trên vùng nhiệt độ thay đổi đến 200C. Các vùng front này hoạt động mạnh, và chúng liên wan đến chuyển động lên trên và tiếp tục tạo mưa. Chuyển động lên mạnh nhất trong vùng xoáy thuận ngoại nhiệt đới liên wan đến hệ front này và đạt tới giá trị 0.5m/s trong front mạnh. Quy mô quan trọng tiếp theo trong chuyển động kq là quy mô vừa, bao gồm sự thay đổi của các hiện tượng từ mây tầng thấp hơn, sấm chớp và hoàn lưu gió gió biển đến hệ lớn hơn như dòng gió mạnh (squall), dải mưa. Nhóm hiện tượng này hình thành có quy mô 1-10km và quy mô time theo từng giờ, trong khi sau đó đạt tới kích thước 100km và tiếp tục tăng từng ngày. Dòng gió mạnh thường liên wan đến sấm chớp mạnh, gió bão, và thường ở vĩ độ nhiệt đới. Dãy mưa là vùng mưa lớn tồn tại, và lan truyền đến hệ thống front lớn vĩ độ trung bình. Xoáy thuận nhiệt

đới, bão là hệ thống lớn quy đến độ mạnh của gió đến 50m/s quy mô vừa có thể biến đổi từ biển tới hơn 10m/s trong cường

mô vừa, với đường kính 100km, liên wan và mưa lớn. Vận tốc thẳng đứng trong hệ 1m/s trong xoáy thuận hay hoàn lưu gió độ bão lớn.

Hệ thống quy mô nhỏ, kích thước nhỏ hơn 1km, ko kéo dài hơn vài phút. Đa số các hiện tượng hung tợn trong quy mô nhỏ là vòi rồng, với đường kính nhỏ hơn ½ km, có thể đạt được hoàn lưu vận tốc giữa 50-100 m/s. Vận tốc thẳng đứng kéo dài giống nhau về độ lớn. Vòi rồng là dạng mây hình phễu hình thành trên biển. Chúng thường yếu hơn lốc. Cả vòi rồng và lốc tạo thành xoáy thuận mà nó lấy được từ hoàn lưu mây có sấm chớp. Gió lốc trong quy mô nhỏ, gồm bụi với tốc độ gió 10m/s trong cột cao rộng 10m và cao khoảng 100m, tồn tại trong vài phút.Chúng được hình thành trên lớp bề mặt khi gió mạnh hơn và bề mặt trở nên nóng hơn. Gradient nhiệt độ gần bề mặt trở nên lớn, hay đoạn nhiệt cao, và lớp bề mặt trở nên bất ổn định. Gia tốc hướng lên mạnh trong sự phát triển kỳ lạ của gió xoáy. Các hiện tượng khác trong quy mô nhỏ gồm hoàn lưu của mây tích (cumulus) và chuyển động xoáy địa phương xung quanh tòa nhà và vật cản. Các hiện tượng xa hơn gồm các chuyển động quy mô siêu nhỏ (microscale) liên wan đến các quá trình sắc tán năng lượng động học thành năng lượng nhiệt bởi độ nhớt. b. Chuyển động của đd độc lập với time

4. Hoàn lưu khí hậu và mùa.