You are on page 1of 5

DỰ ÁN ODA

(Nguồn BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ – Chương trình nâng cao năng lực toàn diện quản lý ODA)

1. Khái niệm về dự án ODA

• Dự án là một tập hợp các hoạt động có liên quan đến nhau nhằm đạt được một
hoặc một số mục tiêu xác định, được thực hiện trên địa bàn cụ thể, trong khoảng
thời gian xác định, dựa trên những nguồn lực xác định. Sản phẩm chuyển giao do
dự án tạo ra là hạng mục cuối cùng của dự án. Dự án có thể được chia ra thành
những nhiệm vụ nhỏ hơn, được phối hợp với nhau nhằm đạt được mục tiêu của dự
án. Một số ví dụ về dự án như: làm đường, xây bệnh viện, cải cách sgk…(khái niệm
dự án khác)

• Dự án bao gồm những dự án đầu tư & dự án hỗ trợ kỳ thuật

- Dự án đầu tư là dự án tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất
định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao
chất lượng cuỷa sản phẩm, dịch vụ được thực hiện trên địa bàn cụ thể, trong
khoảng thời gian xác định

- Dự án hỗ trợ kỳ thuật là dự án có mục tiêu hỗ trợ phát triển năng lực & thể chế hoặc
cung cấp các yếu tố đầu vào kỹ thuật để chuẩn bị, thực hiện các chương trình, dự
án thông qua các hoạt động cung cấp chuyên gia, đào tạo, hỗ trợ trang thiết bị, tư
liệu và tài liệu, tham quan khảo sát, hội thảo

• Các dự án hỗ trợ phát triển chính thức (ODA 'Official Development Assistance')
được hiểu là các dự án thuộc khuôn khổ hợp tác phát triển giữa Chính phủ nước
CHXHCN việt nam và nhà tài trợ (được xếp vào khoản mục đầu tư nào fpi)


• Giải thích các đặc điểm của dự án ODA

 Nguồn vốn: toàn bộ hoặc 1 phần nguồn vốn ODA là do các tổ chức, chính phủ
nước ngoài, các tổ chức song phương tài trợ. Cơ chế tài chính trong nước đối với
việc sử dụng ODA là cấp phát, cho vay (toàn bộ/một phần) từ ngần sách nhà nước
(ví dụ). các dự án ODA thường có vốn đối ứng (vốn đối ứng là gì) là khoản đóng góp
của phía VN bằng hiện vật và giá trị để chuẩn bị và thực hiện các chương trình dự
án (có thể dưới dạng tiền được cấp từ ngân sách hoặc nhân lực, cơ sở vật chất).
Nguồn vốn là điểm khác biệt lớn nhất giữa dự án ODA và các dự án khác; kèm theo
nó là các yêu cầu, quy định, cơ sở pháp lý về quản lý và thực hiện của nhà đầu tư &
nhà tài trợ.

 Tính tạm thời: tính tạm thời có nghĩa là các dự án ODA có khởi điểm & kết thúc
xác định. Dự án không phải là loại công việc hàng ngày, thường tiếp diễn, lặp đi lặp
lại theo quy trình có sẵn. Dự án có thể thực hiện trong một thời gian ngắn hoặc có
thể kéo dài trong nhiều năm(ví dụ). Về mặt nhân sự, dự án ko có nhân công cố định,
họ chỉ gắn bó với dự án trong một khoảng thời gian nhất định (1 phần hoặc toàn bộ
thời gian thực hiện dự án). Khi dự án kết thúc, các cán bộ dự án có thể phải chuyển
sang/tìm kiếm 1 cv mới/hợp đồng mới.

 Duy nhất: mặc dù có thể có những mục đích tương tự, nhưng mỗi dự án ODA
phải đối mặt với những vấn đề về môi trường, nguồn lực và những khó khăn khác
nhau. Hơn thế nữa, ở một mức độ nhất định, mỗi dự án đem lại các sản phẩm, dịch
vụ “duy nhất”, không giống hoàn toàn với bất kỳ dự án nào khác. Ví dụ như đều với
mục đích xây nhà nhưng các dự án có sự khác biệt về chủ đầu tư, thiết kế, địa điểm
…Khi sử dung kinh nghiệm trong việc lập kế hoạch các dự án tương tự nhau, cần
phải hiểu rõ các đặc trưng riêng của mỗi dự án. Hơn thế nữa cần phải phân tích thật
kỹ lưỡng cũng như có kế hoạch chi tiết trước khi bắt đầu thực hiện.

 “Phát triển và chi tiết hóa” liên tục: Đặc tính này đi kèm với tính tạm thời và duy
nhất của một dự án ODA. Trong suốt quá trình thực hiện dự án, ở mỗi bước thực
hiện cần có sự phát triển và liên tục được cụ thể hóa ở mức độ cao hơn, kỹ lưỡng,
công phu hơn. Ví dụ như:

- Mục đích ban đầu đặt ra của dự án “đảm bảo an ninh lương thực và nước
sạch cho những người nông dân nghèo ở tỉnh X” có thể được cụ thể hóa là
“ưu tiên tập trung nâng cao năng suất, sản lượng lương thực và tiếp thị và
tiếp đến cung cấp nguồn nước sạch cho người dân”khi nhóm thự chiện dự
án, phát triển các hiểu biết của mình về mục đích, phạm vi, sản phẩm của dự
án.

- Một dự án có mục đích “xây dựng nàh máy chế biến thức ăn gia súc” sẽ
được bắt đầu bằng xem xét quy trình kỹ thuật của việc chế biến thức ăn gia
súc. Đây là cơ sở của việc thiết kế các phân xưởng chế biễn để xác định
được các đặc điểm phục vụ cho thiết kễ kỹ thuật cho mỗi phân xưởng. Tiếp
đó các bản vẽ chi tiết sẽ được tiến hành, thông qua, làm cơ sở cho việc thực
hiện, kiểm soát quá trình xây dựng nhà máy. Sản phẩm sẽ được thông qua
trên cơ sở các bản thiết kế và những điều chỉnh khi vận hành thử.

• Giới hạn: mỗi dự án ODA được thực hiện trong một khoảng thời gian nguồn lực
và kinh phí nhất định. Các nhà quản lý cần phải liên tục cân bằng về nhu cầu, tài
chính, nguồn lực và lịch trình để hoàn thành dự án, đảm bảo yêu cầu của nhà
đầu tư và nhà tài trợ.

2. Vòng đời của dự án

a) Mô tả

• Dự án được coi như là một chuỗi các hoat động hay quy trình có mục đích. Khi
sắp xếp một cách liên tục theo các giai đoạn xác định, chũng được biết đến như
một vòng đời (chu trình) của một dự án. Mỗi giai đoạn của dự án được đánh dấu
bằng sự kết thúc của một hoặc vài kết quả công việc.

• Trong thực hành có nhiều cách thức xác định các giai đoạn trong vòng đời của
dự án, phụ thuộc vào quy chế quản lý & sử dụng ODA của mỗi quốc gia/tổ chức.

• Vòng đời dự án cung cấp khung và “ngôn ngữ” chung cho việc thực hiện dự án,
làm cho công việc dự án rõ ràng và dễ dự đoán hơn, cũng như thời điểm đưa ra
quyết định, mốc rõ ràng hơn. Hoạt động của cán bộ liên quan tới quản lý dự án luôn
gắn liền với dòng đời của dự án.

• Những kết quả công việc của giai đoạn trước thường được thông qua trước khi
công việc của giai đoạn tiếp theo bắt đầu, đôi khi là được bắt đầu cùng lúc trước khi
các rủi ro đã được xác định và chấp nhận. sự nối tiếp của các giai đoạn thường bao
gồm một vài dạng chuyển giao công nghệ, sản phẩm hoặc trao tay.

• Mỗi giai đoạn của vòng đời dự án có thể được chia ra thành nhiều giai đoạn
hay quy trình phụ, chi tiết hơn với mục đích nâng cao khả năng kiểm soát
quá trình quản lý (hình 2). Một số công việc được hoàn thành hay các mốc
(ví dụ như hoàn thành lập kế hoạch dự án) đánh dấu ranh giới giữa các giai
đoạn phụ. Đây là cơ sở cho việc xem xét, đánh giá tiến độ dự án.
b) Sự cần thiết của việc xác định vòng đời dự án

• Thiết lập khung cơ sở để phát triển tiến trình thực hiện dự án

• Cung cấp tiếp cận hệ thống trong quản lý dự án

• Cung cấp “ngôn ngữ” chung cho quá trình quản lý dự án

• Góp phần nâng cao hệ thống thông tin, phối hợp và kiểm soát.