You are on page 1of 8

Tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam:

 Chủ nghĩa yêu nước và ý chí bất khuất đấu tranh để dựng nước và giữ nước;
 Tinh thần nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái;
 Truyền thống lạc quan, yêu đời;
 Cần cù, dũng cảm, thông minh, sáng tạo.
ề vấn đề dân tộc
 Độc lập, tự do là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của các dân tộc.
"Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều có quyền bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền
sống, quyền sung sướng và quyền tự do". - Hồ Chí Minh
Ngày 19 tháng 6 năm 1919, thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Hồ Chí Minh đã mang
tới Hội nghị Hòa bình Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm để kêu gọi
lãnh đạo các nước Đồng Minh áp dụng các lí tưởng của Tổng thống Hoa Kì Woodrow Wilson cho
các lãnh thổ thuộc địa của Pháp ở Đông Nam Á, trao tận tay tổng thống Pháp và các đoàn đại
biểu đến dự hội nghị[5].
 Chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc là một động lực to lớn của đất nước.
 Kết hợp nhuần nhuyễn dân tộc với giai cấp, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ
nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế.
[sửa]Về cách mạng giải phóng dân tộc
 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường của cách mạng vô
sản.
"Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường của cách mạng vô sản,
tức là phải theo đường lối Mác-Lênin" - Hồ Chí Minh.
 Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải do đảng của giai cấp công nhân lãnh
đạo.
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (九龍, Kowloon) thuộc Hương Cảng, Hồ Chí Minh thống
nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là "Đảng Cộng
sản Đông Dương", rồi đổi thành "Đảng Lao Động Việt Nam" và nay là "Đảng Cộng sản Việt
Nam").
 Lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc bao gồm toàn dân tộc.
"Cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến toàn dân, vũ trang toàn dân" - Hồ Chí Minh
 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng
giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
Luận cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa nêu ở Đại hội VI
Quốc tế cộng sản (1928): "chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc địa khi
giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến"
Nhưng ngay từ Đại hội V, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ : "vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc
biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh
của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa".
"Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có
thể giành thắng lợi trước" - Hồ Chí Minh.
 Cách mạng giải phóng dân tộc phải được thực hiện bằng con đường cách mạng bạo lực.
"Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và dân tộc, cần dùng bạo lực cách
mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền" - Hồ Chí
Minh.
[sửa]Về Chủ nghĩa xã hội
 Đó là một chế độ chính trị do nhân dân làm chủ.
 Chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát
triển của khoa học - kĩ thuật.
 Chủ nghĩa xã hội là chế độ không còn người bóc lột người.
 Chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa, đạo đức.[6]
"Mục đích của chủ nghĩa xã hội là gì? Nói một cách đơn giản và dễ hiểu là: không ngừng nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động" [7]
"Mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân"[7]
"Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được
đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục tập quán không tốt
dần dần được xóa bỏ...Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày
càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội" [7]
b. Tư tưởng Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển những giá trị truyền thống tốt đẹp của
dân tộc:
Trải qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã hun đúc, tạo lập cho dân ta một
nền văn hoá phong phú, đa dạng và thống nhất bền vững với những giá trị truyền thống tốt đẹp,
cao quý, trong đó chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nấc thang cao nhất của văn hoá Việt Nam.
Đây là tài sản có giá trị nhất trong hành trang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là cơ sở xuất phát,
là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người, là động lực giúp Người vượt
qua mọi gian nan thử thách, hiểm nguy. Đây là nguồn gốc, là một cơ sở quan trọng để hình
thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh.
c. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.
Hồ Chí Minh đã tiếp thu có chọn lọc những yếu tố tích cực của văn hoá phương Đông trong
Nho giáo và Phật giáo, như lòng vị tha, tư tưởng từ bi bác ái, tình yêu thương con người; triết lý
hành đạo giúp đời, tu thân dưỡng tính, truyền thống hiếu học…
Tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, dân chủ và phong cách dân chủ, nhân quyền của văn
hoá phương Tây…
Như vậy, trên con đường hoạt động cách mạng Người đã làm giàu trí tuệ của mình bằng trí
tuệ của thời đại: Đông, Tây, kim, cổ…, vừa thu hái, vừa gạn lọc, suy nghĩ và lựa chọn, kế thừa,
vận dụng, phát triển góp phần làm phong phú, tạo nên tư tưởng của Người.
Khi nói khái niệm tư tưởng là nói đến một hệ thống quan điểm, lý luận mang giá trị như một học
thuyết được xây dựng trên một thế giới quan và phương pháp luận nhất quán, đại biểu cho ý chí,
nguyện vọng của một giai cấp, một dân tộc, phù hợp với nhu cầu tiến hóa của thực tiễn nhất
định, trở lại chỉ đạo và cải tạo thực tiễn đó.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đọc trước Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ IX viết: "Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng
tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu văn hoá nhân loại..."
Tư tưởng HCM được hình thành từ 4 nguồn gốc:
- Chủ nghĩa yêu nước, văn hoá truyền thống VN
- Tinh hoa văn hóa nhân loại
- Chủ nghĩa Mác – Lênin
- Nhân cách Hồ Chí Minh

a. Chủ nghĩa yêu nước, văn hoá truyền thống VN


- Lòng yêu nước và chủ nghĩa yêu nước được hình thành từ rất sớm và trở thành một tính chất
của mọi người dân Việt và đây là một yếu tố quan trọng nhất để Nguyễn Tất Thành đi vào con
đường cách mạng (Lòng yêu nước là cái vốn có của người dân Việt. Vấn đề đặt ra là Đảng phải
khơi gợi).
- Cho đến nay, mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam kể cả thắng lợi công cuộc đổi mới đều có
cội nguồn từ lòng yêu nước, với học thuyết được du nhập vào Việt Nam đều phải thông qua lòng
yêu nước và chủ nghĩa yêu nước của người dân Việt.
- Truyền thống đoàn kết, đoàn kết là sự gắn bó hợp tác với nhau để tạo nên sức mạnh. Truyền
thống đoàn kết được hình thành cùng với sự hình thành của dân tộc Việt và cũng là cội nguồn
của sức mạnh dân tộc Việt. Có 4 hình thức đoàn kết cơ bản:
+ Đoàn kết gia đình
+ Đoàn kết trong cộng đồng và dòng họ
+ Đoàn kết trong cộng đồng làng xã.
+ Đoàn kết quốc gia dân tộc thể hiện ở chỗ: Có tính nội dung, có văn hóa chung và có ngày giỗ
tổ chung (10/3. âm lịch)
- Truyền thống nhân văn nhân ái quý trọng con người, hướng con người vào làm điều thiện,
đồng thời xử lý tinh tế các mối quan hệ, gia đình, vợ chồng, anh em, họ hàng và đề cao tình
nghĩa, quy tắc ứng xử trong xã hội. Do đó người Việt sống tình cảm hơn, nhân nghĩa hơn, thông
minh hơn.
- Trong lối sống của người Việt: giản dị, khiêm nhường, cởi mở và đặc biệt không cực đoan, cố
chấp. Vì vậy có thể tiếp thu những cái hay, cái tốt, cái đẹp của dân tộc khác.
- Truyền thống văn hiến: Văn hiến là sự kết hợp nhuần nhuyễn của 3 yếu tố sau đây. Tri thức,
đạo đức, cái đẹp.
- Dân tộc Việt có khả năng học, hiếu học, coi trọng sự học, luôn luôn tôn vinh những người học
cao, đỗ đạt.
b. Tinh hoa nhân loại:
- Tinh hoa văn hoá phương Đông: Người tiếp thu Đạo phật và Nho giáo
+ HCM ra đời trong 1 gia đình Nho giáo nên Người đã tiếp thu những quan điểm tốt đẹp của Nho
giáo. Người đánh giá rất cao Khổng Tử. Ngày 19/5/1966, Người đến thăm Khổng Tử, khắc chữ
lên bia đá: “Khổng Tử là người thầy vĩ đại nhất của nhân loại”.
+ Người dùng rất nhiều những khái niệm, phạm trù nho giáo như: “Vì lợi ích mười năm trồng cây,
vì lợi ích trăm năm trồng người” (Thập niên thụ mộc, bách niên thụ nhân)
+ Người đánh giá rất cao tư tưởng bình đẳng của nhà Phật: “Ta là Phật đã thành còn chúng sinh
là Phật sẽ thành”
-Trong tinh hoa văn hóa phương Tây.
+ HCM đã nghiên cứu tiếp thu TT văn hoá dân chủ và CM của CM Pháp, CM Mỹ, trong đó có
Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp và Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ.
+ Người đánh giá rất cao về chúa Jêsu. Người tiếp thu những tư tưởng của những nhà khai sáng
Pháp.
c. Chủ nghĩa Mác-Lênin
-Chủ nghĩa Mác-Lênin là nguồn gốc lý luận trực tiếp, quyết định bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân
dân Việt Nam, không những là cái “cẩm nang” thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam mà còn
là mặt trời soi sáng đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ
nghĩa cộng sản”
Đối với chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã nắm vững cái cốt lõi, linh hồn sống của nó, là
phương pháp biện chứng duy vật, học tập, lập trường quan điểm, phương pháp biện chứng của
chủ nghĩa Mác-Lênin để giải quyết các vấn đề thực tiễn của cách mạng Việt Nam.
Các tác phẩm, bài viêt của Hồ Chí Minh phản ánh bản chất tư tưởng cách mạng của Người theo
thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Là yếu tố quan trọng nhất, quyết định việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
d. Những phẩm chất cá nhân riêng của Hồ Chí Minh
- Hồ Chí Minh có một tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo cùng với một đầu óc phê phán tinh tường
sáng suốt trong việc tìm hiểu tinh hoa tư tưởng văn hoá cách mạng trong nước và trên thế giới.
- Sự khổ công rèn luyện học tập để chiếm lĩnh những tri thức phong phú của thời đại và với kinh
nghiệm đấu tranh trong phong trào giải phóng dân tộc và phong trào công nhân quốc tế để tiếp
cận với chủ nghĩa Mác Lênin một cách khoa học.
- Có một tâm hồn của nhà yêu nước chân chính, một chiến sĩ cộng sản nhiệt thành và một trái
tim yêu nước thương nòi, yêu thương những người cùng khổ, sãn sàng chịu đựng hi sinh cao
nhất vì độc lập của tổ quốc, vì hạnh phúc của đồng bào.
Kết luận: Tóm lại, TTHCM là sản phẩm của sự tổng hoà và phát triển biện chứng TT văn hoá
truyền thống của dân tộc, tinh hoa TT văn hoá của phương Đông và phương Tây với chủ nghĩa
M-L làm nền tảng, cùng với thực tiễn của dân tộc và thời đại qua sự tiếp biến và phát triển của
HCM - một con người có tư duy sáng tạo, có PP biện chứng, có nhân cách, phẩm chất CM cao
đẹp tạo nên. TTHCM là TT VN hiện đại
Ý nghĩa đối với việc học tập tư tưởng HCM đối với thanh niên:

+ Việc học tập tư tưởng HCM là một nhiệm vụ quan trong của đàng và nhà nước ta về thanh
niên trong thời kì đổi mới. GIúp cho thanh niên phát huy được tinh thần yêu nước, luôn đặt lợi ích
của đát nước lên hang đầu, tư thưởng HCM giáo dục mỗi thanh niên phải tháy được nhiệm vụ
học tập là nhiệm vự quan trọng, luôn xây dựng một lực lường thanh niên trong thời đại đổi mới
để xây dựng và phát triển đất nước. Luôn chống lại bênh quan lieu than nhũng, chống chủ nghĩa
cá nhân, phải sửa đổi lề lối làm việc đưa những thanh niên có tài vào lãnh đạo đất nước.
+ Tư tưởng HCM là tư tưởng lớn nhưng lại rất giản dị, chân thực, luôn luôn lo cho nước cho dân.
Tất cả mọi ngành nghề, lĩnh vực sinh thời Bác đều có những hướng dẫn cụ thể, đơn giản, xúc
tích nhưng lại rất sâu sắc, tất cả cũng chỉ vì nước vì dân. Học tập tư tưởng của Bác là phải lĩnh
hội được cái tinh thần đó, chứ không phải là làm dập khuôn theo những công việc mà Bác đã
làm vì mỗi hành động phải phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể. Hoàn cảnh ngày nay đã khác
trước vì thế hành động cũng phải thay đổi, nhưng bản chất vẫn phải là hành động vì nước vì
dân. Đó cũng chính là tư tưởng "Dĩ bất biến ứng vạn biến" của Bác
TưtưởngHồChíMinhvềvănhóavàvấnđềbảotồnbảnsắcvănhóadântộc
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề về văn hoá luôn có một vị trí quan trọng. Những
quan điểm của Người về văn hoá là kim chỉ nam để Đảng ta hoạch định chính sách,
sách lược phát triển văn hoá qua các giai đoạn xây dựng đất nước. Những quan điểm
và hoạt động văn hoá của Người đã góp phần vào sự tiến bộ và phát triển nền văn
minh của nhân loại. Công lao to lớn này đã được đánh giá trong Nghị quyết của
UNESCO về kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người: “Sự đóng góp của Chủ tịch Hồ
Chí Minh trong các lĩnh vực văn hoá, giáo dục, nghệ thuật là kết tinh truyền thống
hàng ngàn năm của nhân dân Việt Nam, và những tư tưởng của Người là hiện thân
của các dân tộc, tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Người là vị anh
hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, và là nhà văn hoá kiệt xuất”[1].

Với tầm vóc của một danh nhân văn hoá thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho
chúng ta một di sản tư tưởng vô cùng quý báu về mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực
văn hoá. Việc tìm hiểu những quan điểm về văn hoá và vấn đề gìn giữ, bảo tồn bản
sắc văn hoá dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh giúp chúng ta có cơ sở lý luận và kinh
nghiệm thực tiễn để thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng nền văn hoá Việt
Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong công cuộc đổi mới hôm nay.

Mang trong mình truyền thống văn hoá phương Đông lại được tiếp thu những tinh
hoa của các nền văn minh trên thế giới, Hồ Chí Minh đã đúc kết quan điểm của mình
về văn hoá trong nhận định: “ý nghĩa của văn hoá: vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích
của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt
cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra. Nhằm thích ứng với những
nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[2]

Quan điểm trên của Hồ Chủ tịch đã khái quát được nội dung rộng nhất của phạm trù
văn hoá. Nó không chỉ bao hàm hoạt động tinh thần của con người mà còn cả những
hoạt động vật chất mà trong đó chứa đựng, phản ánh tác động của tư duy đến kết
quả của hoạt động. Đồng thời chỉ ra nguồn gốc động lực sâu xa của văn hoá đó là
nhu cầu sinh tồn của con người với tư cách là chủ thể hoạt động của đời sống xã hội
– một hoạt động khác hẳn với hoạt động sinh tồn bầy đàn của các loài động vật.
Theo ý nghĩa này, chất văn hoá được hàm chứa trong mọi lĩnh vực hoạt động kể cả
hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất cùng với các giá trị vật chất và tinh thần
mà con người tạo ra trong hoạt động của mình.

Đây chính là nội dung quan điểm về văn hoá của chủ nghĩa Mác-Lênin mà Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã lĩnh hội được trong quá trình hoạt động cách mạng phong phú của
mình. Học thuyết Mác-Lênin về văn hoá được dựa trên những nguyên tắc cơ bản của
chủ nghĩa duy vật lịch sử về các hình thái kinh tế – xã hội như những giai đoạn phát
triển tuần tự của xã hội loài người, về mối quan hệ tương hỗ giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất. Theo đó văn hoá là tính đặc thù của xã hội, thể hiện mức độ
phát triển lịch sử mà con người đạt được. Văn hoá là biểu hiện sự thống nhất của tự
nhiên và xã hội, là đặc tính về khả năng và sức sáng tạo của con người, nó bao hàm
trong mình không chỉ những giá trị cụ thể như máy móc, công cụ kỹ thuật, kết quả
nhận thức, các tác phẩm nghệ thuật, các chuẩn mực pháp quyền, đạo đức.v.v…mà
còn cả sức mạnh chủ quan của con người và những khả năng trong hoạt động như tri
thức, sự khéo léo, thói quen nghề nghiệp, mức độ phát triển của khả năng cảm thụ
thẩm mỹ, thế giới quan, phương thức và hình thức giao tiếp của con người trong xã
hội.
Từ quan điểm khái quát “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt
cùng với biểu hiện của nó mà loài nggười đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu
cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” của Hồ Chí Minh, ta thấy văn hoá bao hàm
hai lĩnh vực là văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần tương ứng với hai hình thức sản
xuất của xã hội loài người là sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần. Văn hoá vật
chất biểu hiện lĩnh vực hoạt động vật chất và toàn bộ kết quả của hoạt động này,
bao gồm: công cụ lao động, nhà ở và những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng
ngày như ăn, mặc, đi lại, thông tin, giao lưu.v.v…Văn hoá tinh thần được phản ánh
trong hoạt động ý thức, hoạt động sản xuất tinh thần, cùng với toàn bộ kết quả của
nó như: hoạt động nhận thức, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật, giáo dục đào tạo, tôn
giáo tín ngưỡng.v.v…Việc phân định hai lĩnh vực văn hoá trên đây chỉ là tương đối vì
mỗi kết quả của những hoạt động này đều hàm chứa trong mình nó cả hai giá trị, giá
trị vật chất và giá trị tinh thần.

Nhìn từ góc độ triết học ta thấy phạm trù văn hoá trong quan điểm của Hồ Chí Minh
bao hàm: ý thức xã hội với các hình thái và cấp độ tâm lý, hệ tư tưởng của nó như
khoa học, chính trị, pháp quyền, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo và Tồn tại xã hội –
một bộ phận của tự nhiên đã in trên mình dấu ấn hoạt động có ý thức của con người
trong quá trình sinh tồn và phục vụ cho nhu cầu sinh tồn đó của con người.

Mỗi một hình thái kinh tế – xã hội được phản ánh bởi một nền văn hoá tinh thần như
một giá trị lịch sử. Cùng với sự thay đổi của hình thái kinh tế – xã hội, cũng diễn ra
sự chuyển hoá nền văn hoá của xã hội đó. Đây không phải là sự đứt đoạn trong quá
trình phát triển của nền văn hoá, khước từ mọi di sản và truyền thống của nền văn
hoá cũ. Mỗi một nền văn hoá mới luôn kế thừa những thành tựu của nền văn hoá
trước đó đồng thời được bổ sung những yếu tố mới phù hợp với những quan hệ và
đặc điểm của hình thái kinh tế – xã hội mới. Trong tiến trình này quan điểm về văn
hoá của chủ nghĩa mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ tính đa dạng
văn hoá của các dân tộc, chống lại quan điểm độc tôn của bất kỳ nền văn hoá nào.

Cũng xuất phát từ quan điểm cho rằng sự phát triển của văn hoá gắn liền với sự phát
triển của các hình thái kinh tế – xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nhìn thấy ngoài tính chất toàn nhân loại, còn có đặc thù của mỗi giai đoạn
phát triển lịch sử là phải phản ánh ý thức hệ tư tưởng của giai cấp cầm quyền trong
xã hội ở giai đoạn ấy.

Vận dụng nguyên lý trên đây của chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cuộc cách mạng
giải phóng dân tộc và định hướng đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, để hình
thành những yếu tố mới của văn hoá dân tộc phải phù hợp với giai đoạn phát triển
lịch sử mới của xã hội Việt Nam. Hồ Chí Minh đã chủ trương năm điểm cơ bản: “Xây
dựng tâm lý: tinh thần độc lập tự cường; xây dựng luân lý: biết hy sinh, làm lợi cho
quần chúng; xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân
trong xã hội; xây dựng chính trị: dân quyền; xây dựng kinh tế”[3].Đây là năm điểm
quan trọng để xây dựng một nền văn hoá mới mà Hồ Chí Minh đã tiên liệu ngay khi
còn phải sống trong gông xiềng của nhà tù Tưởng Giới Thạch.

Mặc dù hiểu và khái quát văn hoá như một phạm trù rộng bao hàm cả lĩnh vực hoạt
động vật chất và tinh thần của xã hội, nhưng trong các bài viết của mình, Chủ tịch
Hồ Chí Minh thường đề cập đến văn hoá với nghĩa hẹp của nó là phản ánh những
hoạt động tinh thần cùng các giá trị mà hoạt động này tạo ra. Ngay với nghĩa hẹp,
thì văn hoá cũng có vai trò quan trọng và không thể thiếu được đối với cuộc sống của
con người, nó đứng ngang hàng với các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội loài người
như chính trị, kinh tế, xã hội. Hồ Chí Minh cho rằng văn hoá nói chung, chủ nghĩa
Mác-Lênin nói riêng đóng vai trò quan trọng, tạo bước nhảy vọt triệt để trong tư duy,
hành động của con người và các dân tộc bị áp bức. Nhìn từ góc độ này, Chủ tịch Hồ
Chí Minh khẳng định rằng, chính ánh sáng văn hoá của chủ nghĩa Mác-Lênin là một
động lực quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với cuộc đời hoạt động cách mạng
của Người. Đến lượt mình Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem ánh sáng văn hoá mới đó của
chủ nghĩa Mác-Lênin soi đường cho dân tộc ta và các dân tộc bị áp bức khác trong
cuộc cách mạng giải phòng mình – Con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa
xã hội.
Ngay từ khi còn hoạt động ở Pháp, nhìn thấy ánh sáng văn hoá mới của chủ nghĩa
Mác-Lênin, Hồ Chí Minh kịch liệt lên án chính sách ngu dân của chủ nghĩa thực dân
đối với các dân tộc thuộc địa, vạch trần tâm địa xấu xa, bỉ ổi của Đơvila – kẻ âm
mưu: “Đối với dân bản xứ, thì ta phải giữ họ vĩnh viễn trong vòng nô lệ”[4]bằng rượu
cồn và thuốc phiện. Người viết: “Chúng tôi thiết tưởng rằng, những người Pháp thông
minh và chân thực biết rõ tính ưu việt của mình ở bất cứ nơi nào mình sống, thì
không cần phải sống giữa những người bản xứ vĩnh viễn bị khoá mồm, bịt miệng và
bị xỏ mũi, mới có thể giữ được tính ưu việt”[5]. Để thay thế văn hoá nô dịch của chủ
nghĩa thực dân bằng một nền văn hoá mới cách mạng, ngay sau khi vừa giành được
độc lập, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị mở ngay chiến dịch chống nạn dốt.Theo Người
một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, Người coi dốt nát cũng là một thứ giặc, xem đói
nghèo cũng như những tập tục lạc hậu cũng là một loại kẻ thù. Người khẳng định
văn hoá là tinh hoa của dân tộc, văn hoá phải góp phần khẳng định vị thế của một
dân tộc.

Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt
Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những mục tiêu cơ bản mà cách mạng Việt Nam
cần phải đạt được trong lĩnh vực văn hoá là: “Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc
địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hoá đế quốc, đồng thời phát triển những truyền
thống tốt đẹp của văn hoá dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hoá tiến bộ thế
giới để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam có tính dân tộc, khoa học và đại
chúng”[6].

Chủ trương trên đây thể hiện rõ ràng quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giá trị
văn hoá dân tộc. Người cho rằng: “Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin bao nhiêu
thì càng phải coi trọng những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cha ông bấy
nhiêu”[7]. Người đòi hỏi phải biết giữu gìn vốn văn hoá quý báu của dân tộc, khôi
phục những yếu tố tích cực trong kho tàng văn hoá dân tộc, loại bỏ những yếu tố
tiêu cực trong đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân. Đây là quan điểm bảo tồn
bản sắc văn hoá dân tộc có chọn lọc của Hồ Chí Minh.

Tư tưởng bảo tồn vốn quý văn hoá dân tộc được thể hiện trong sắc lệnh về bảo tồn
tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam ký ngày 23/11/1945, tức là ngay sau khi Nhà
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mới ra đời. Trong đó quy định rõ nhiệm vụ và
quyền hạn của Đông phương Bắc cổ học viện. Hồ Chí Minh rất quan tâm đến những
di sản văn hoá dân tộc. Đối với người những làn điệu dân ca, những áng thơ cổ là
một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần. Tư tưởng về bảo tồn văn hoá dân
tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không phủ nhận sự tác động, ảnh hưởng lẫn nhau của
văn hoá các dân tộc mà ngược lại, khẳng định sự giao hoà giữa các nền văn hoá của
các dân tộc khác nhau lại thúc đẩy sự phát triển văn hoá của mỗi dân tộc, làm cho
nó hoàn thiện hơn, phong phú hơn. Người cho rằng: “Văn hoá Việt Nam ảnh hưởng
lẫn nhau của văn hoá Đông phương và Tây phương chung đúc lại…Tây phương hay
Đông phương có cái gì tốt ta phải học lấy để phải tạo ra một nền văn hoá Việt Nam.
Nghĩa là lấy kinh nghiệm tốt của văn hoá xưa và văn hoá nay trau dồi cho văn hoá
Việt Nam thật có tinh thần thuần tuý Việt Nam đề hợp với tinh thần dân chủ”[8].

Với hơn ba mươi năm bôn ba ở các nước khắp năm châu, Hồ Chí Minh là người am
hiểu các trào lưu nghệ thuật trên thế giới, nhận dạng chính xác và đánh giá đúng
từng nền văn hoá của nhân loại. Vì vậy Người kêu gọi phải học cái hay trong từng
nền văn hoá của mỗi dân tộc trên thế giới. Vì thế mà ở đâu cũng vậy, với phong cách
ung dung của một nhân sĩ phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể đàm luận hết
sức chi tiết, cụ thể về các danh nhân tiêu biểu của từng nền văn hoá của các dân tộc
khác nhau trên thế giới. Người khâm phục nền văn hoá phát triển của các dân tộc
khác, không kể đó là những dân tộc mà chế độ chính trị của họ đang là kẻ thù xâm
lược của nhân dân Việt Nam. Nhà báo Mỹ đã nhận xét: “Cụ Hồ Chí Minh là một con
người yêu mến văn hoá Pháp trong khi chống thực dân Pháp. Một con người biết coi
trọng những truyền thống cách mạng Mỹ, khi Mỹ phá hoại đất nước cụ”[9].

Quan điểm văn hoá của Hồ Chí Minh chống lại mọi biểu hiện kỳ thị, độc tôn về văn
hoá. Đúc kết trong kho tàng tri thức của mình tinh hoa văn hoá đông, tây, kim, cổ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra chủ trương kế thừa truyền thống tốt đẹp của văn hoá dân
tộc phải đi đôi với việc học tập và tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá nhân loại.
Những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về văn hoá là kim chỉ nam cho chúng
ta trong việc xây dựng một nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trên cơ
sở đó có thể hội nhập và giao lưu với các nền văn hoá khác trên thế giới, cùng nhau
phát triển.

Xu hướng chung của văn hoá nhân loại trong tương lai là kết hợp hài hoà nền văn
minh khoa học công nghiệp phương tây với tinh hoa văn hoá nhân bản phương đông.
Cả hai ưu thế này đã được đúc kết trong nhân cách vĩ đại và tư tưởng sâu rộng về
văn hoá Hồ Chí Minh. Đúng như cảm nhận của nhà thơ Xô – Viết Ôxip Mandenxtam
khi tiếp xúc với Người cuối năm 1923: “Từ Nguyễn ái Quốc đã toả ra một nền văn
hoá, không phải văn hoá Châu Âu, mà có lẽ là văn hoá của tương lai”[10].

Ý thứ 2:
Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là vấn đề sống còn của mỗi quốc
gia, là vấn đề tồn tại hay không tồn tại của từng dân tộc.

Bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là tài sản vô giá; là linh hồn của dân tộc
được hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với bao biến cố
thăng trầm của lịch sử; được viết lên bằng máu, nước mắt và mồ hôi của cả
dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy nó là biểu tượng của sự trường tồn, là cầu nối
giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc.

Dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đặc trưng
tiêu biểu, khí phách và tâm hồn dân tộc được thể hiện rõ nhất qua bản sắc văn hóa
dân tộc. Dân tộc, quốc gia nào nếu không biết kế thừa, tiếp thu tinh hoa văn hóa
nhân loại, làm giảm di sản văn hóa dân tộc mình thì chắc chắn sẽ bị tụt hậu, bởi văn
hóa không chỉ là mục tiêu, mà còn là động lực của sự phát triển xã hội. Nhưng tiếp
thu nền văn hóa tiên tiến, mang tính thời đại phải trên cơ sở kế thừa, bảo tồn và
khai thác truyền thống đạo đức, tập quán, lòng tự hào dân tộc. Nền văn hóa dân tộc
là nguồn vốn quý báu, thiêng liêng của một dân tộc.

Hồ Chí Minh, nhà văn hóa kiệt xuất - danh nhân văn hóa thế giới, Người đã cống hiến
trọn đời mình cho nhân dân Việt Nam và cho nhân loại, là điểm hội tụ những giá trị
cao đẹp nhất trong lịch sử hàng ngàn năm văn hiến - văn minh của dân tộc Việt
Nam; là biểu tượng cao đẹp nhất của văn hóa Việt Nam trong thời đại mới, là điển
hình của sự kết hợp hài hòa giữa đạo lý của dân tộc với tinh hoa của nhiều dòng văn
hóa Đông - Tây. Đã nhận thức rất rõ mối quan hệ giữa dân tộc và bản sắc dân tộc.
Người chỉ rõ: ''mỗi dân tộc phải chăm lo đặc tính của mình trong nghệ thuật'', phải
''chú ý phát huy cốt cách dân tộc''. Và Người nhắc nhở cần phải tránh 2 thái độ: tiếp
thu một cách máy móc hoặc phủ định hoàn toàn ''vốn cũ, Hơn ai hết, Hồ Chí Minh là
người luôn gạn đục khơi trong trong tiếp thu truyền thống văn hóa, trong xây dựng
thuần phong mỹ tục của dân tộc. Người hiểu rất rõ ở Việt Nam đình, chùa, miếu mạo
thường thờ phụng các bậc hiền nhân, anh hùng dân tộc có công với dân với nước và
nơi đó đã trở thành vùng đất thiêng liêng, tôn nghiêm trong lòng mỗi người dân Việt
Nam. Đồng thời đó cũng là những danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử văn hóa, là
điểm tựa tinh thần lâu bền không gì thay thế được ở các làng quê Việt Nam. Ngay từ
năm l945, dù bề bộn với việc chống thù trong giặc ngoài, xây dựng chính quyền non
trẻ, Người cũng đã nhanh chóng ban hành sắc lệnh về việc ''Bảo tồn cổ tích trên toàn
cõi Việt Nam''; rồi chỉ đạo khôi phục ''vốn cũ''. Tuy nhiên trong khôi phục vốn cũ
Người căn dặn kỹ lưỡng: ''nói là khôi phục ''vốn cũ'', thì nên khơi phục cái gì tốt, còn
cái gì không tốt thì phải loại dần ra'', ''cần xây dựng và phát triển thuần phong mĩ
tục'', chống ''đồng bóng, rước xách thần thánh''.

Với Hồ Chí Minh, việc bảo vệ, gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc là rất cần thiết, là việc
phải làm, nên làm, nhưng quan trọng hơn lại là việc biết vận dụng và phát triển
những bản sắc ấy vào cuộc sống. Đó chính là cách tốt nhất để bảo vệ và gìn giữ bản
sắc văn hóa dân tộc. Ở Hồ Chí Minh luôn có sự gắn bó chặt chẽ giữa truyền thống và
hiện đại. Theo Người, mọi hiện đại, tiên tiến đều bắt nguồn từ truyền thống tết đẹp.
Từ tầm nhìn của một nhà văn hóa lớn. Người luôn nhắc nhở mọi người, nhất là cán
bộ, đảng viên phải biết quý trọng vốn cổ dân tộc, ''dân ta phải biết sử ta, cho tường
gốc tích nước nhà Việt Nam''.

Trước xu thế toàn cầu hóa của thế giới hiện nay, không một quốc gia nào có thể phát
triển trong sự tách biệt với thế giới. Hội nhập kinh tế, giao lưu về văn hớa giữa các
nước đang diễn ra hết sức sôi động. Nhưng nếu không cớ một bản lĩnh vững vàng,
một chiến lược phát triển đúng đắn thì việc giao lưu đó sẽ dẫn đến nguy cơ đánh mất
bản sắc văn hóa dân tộc. Để mở rộng giao lưu, hội nhập mà không đánh mất bản sắc
của mình, chúng ta phải trở về với Tư tưởng Hồ Chí Minh: Bảo vệ bản sắc văn hóa
dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, những phải lấy bản sắc văn hóa dân tộc
làm nền tảng, làm bản lĩnh. Nền tảng có vững chắc, bản lĩnh có vững vàng mới tiếp
thu được tinh hoa văn hóa nhân loại một cách đúng đắn, mới chủ động, tự tin hội
nhập và làm giàu thêm, sáng lên đặc trưng văn hóa dân tộc.

Giữ gìn và phat huy bản sắc dân tộc ta trong thời đại đổi mới ngày nay như thế nào ?
để giữ gìn, kế thừa, phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, chúng ta cần đẩy mạnh hơn nữa việc
xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thực sự coi đó vừa là mục
tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa dân tộc là một chỉnh thể đồ sộ, phong
phú bao gồm tri thức, tư tưởng, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục, tập quán,
truyền thống… nó vừa là “trầm tích” của tình cảm và ý thức dân tộc trong quá khứ, vừa là kết tinh
của tinh thần thời đại và định hướng giá trị của dân tộc. Mỗi dân tộc có cách giữ gìn bản sắc văn
hóa dân tộc của mình. Cần phải có thái độ biện chứng “gạn đục, khơi trong” những giá trị văn
hóa dân tộc. Văn hóa luôn là hệ thống mở, những giá trị đích thực tiêu biểu cho cốt cách, phẩm
chất dân tộc Việt Nam cần phải được bồi đắp nội dung mới cho phù hợp với thời đại, những mặt
hạn chế cần phải được khắc phục, đổi thay. Những giá trị bên ngoài đã được “Việt Nam hoá”,
được các thế hệ con người Việt Nam thâu lượm, chọn lọc biến “cái của người”, thành “cái của ta”
cũng là văn hóa dân tộc. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải do dân tộc ta sản sinh ra, nó là kết
tinh văn hóa nhân loại đã được dân tộc ta tiếp thu và trở thành điều cốt lõi của nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, càng cần phải kiên định hơn nữa trong bối cảnh mới.

Các giá trị tốt đẹp của xã hội và con người Việt Nam là sản phẩm của lịch sử dựng nước và giữ
nước suốt mấy ngàn năm của dân tộc và là bản chất của quá trình lịch sử ấy. Các thế hệ ông
cha đã sản sinh ra những giá trị văn hóa dân tộc; kế thừa, phát huy và phát triển là công việc của
con cháu, của thế hệ hôm nay. Trên tinh thần ấy, cần phải quán triệt sâu sắc những định hướng
mà Đại hội X của Đảng đã chỉ ra về kế thừa, phát huy và phát triển giá trị văn hóa trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế: “Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệ
và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh
tế quốc tế. Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt là lý
tưởng sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam”(4).

vấn đề phát huy văn hóa dân tộc, nguồn sức mạnh nội sinh của đất nước trong quá trình hội
nhập. Vào WTO, chúng ta vừa có điều kiện để phát huy văn hóa dân tộc, vừa phải có trách
nhiệm hơn, có ý thức cao hơn trong việc tôn vinh những giá trị văn hóa dân tộc. Xây dựng nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
trong điều kiện mới của sự mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế. Giữ gìn bản sắc văn hóa dân
tộc là để đến với thế giới một cách tốt hơn, học tập chỗ mạnh của các nền văn hóa khác một
cách tốt hơn, tiếp thu văn hóa nhân loại, thông qua tính dân tộc để thâu lượm, sàng lọc tính thời
đại, tính thế giới.