You are on page 1of 6

Triển vọng ngành hàng cà phê Việt Nam 2010 -

Phần 1
Tin ngành hàng - Cà phê
Thứ năm, 22 Tháng 4 2010 16:32

VIETRADE - Xét về cung: Việt Nam là nước sản xuất cà


phê robusta lớn nhất thế giới với hơn 95% sản lượng là các loại hạt cà phê giá rẻ và chỉ có
khoảng 2-3% sản lượng là các loại cà phê Arabica. Tuy nhiên, theo BMI, tổng sản lượng cà phê
niên vụ 2008 đã giảm đáng kể, đạt khoảng 18,33 triệu bao loại 60 kg giảm 13,9% so với năm
2007 do mưa lớn và sương giá. Tổng sản lượng năm 2009 tăng trưởng 7,3% đạt ở mức 19,67
triệu tấn bất chấp điều kiện khí hậu không thuận lợi tại các tỉnh trồng cà phê lớn như Đắk Lắk,
Lâm Đồng và Đắc Nông.

BMI dự báo năm 2010 sản lượng cà phê của Việt Nam vẫn tiếp tục giảm. Mưa trái mùa khiến cà
phê ra hoa sớm tại rất nhiều khu vực. Sau đó lại là thời kỳ khô hạn kéo dài làm hư hại hạt cà
phê. Hiệp hội Cà phê Ca cao Việt Nam (Vicofa) dự kiến sản lượng năm 2010 sẽ xuống thấp hơn
mức năm 2009. Thu hoạch niên vụ 2009/10 bị ngưng trệ do ảnh hưởng của cơn bão kinh hoàng
Ketsana quét qua Đông Nam Á, và tàn phá miền Trung Việt Nam vào cuối tháng 9 năm 2009.
Cơn bão Ketsana đã trút xuống những trận mưa dữ dội và đã khiến cho một số quả xanh bị rụng,
sản lượng sẽ bị giảm đi nhưng không quá nhiều và mưa lớn cũng không ảnh hưởng nhiều lắm
đến các vùng trồng cà phê chính.

Tiếp đó vụ mùa thu hoạch lại bị gián đoạn do ảnh hưởng của bão Mirinae hồi đầu tháng 11. Đây
chính là nguyên nhân khiến cho BMI hạ mức dự báo sản lượng năm 2010 xuống còn 17,37 triệu
bao (trước đó là 18,20 triệu bao). Mặc dù có những thất bại ngắn hạn và hiện tượng giảm giá,
nhưng xét về trung hạn, triển vọng sản xuất cà phê tại Việt Nam vẫn còn rất tiềm năng. BMI dự
báo sản lượng sẽ tăng 14,5% so với năm 2009 và có thể đạt 22,61 triệu bao trong năm 2014.

Xét về cầu: Năm 2009, theo số liệu cập nhật từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), tiêu thụ cà
phê Việt Nam đã tăng 18,2%/năm tương đương 1,06 triệu bao, cao hơn so với dự báo trước đó
của BMI là 921.300 bao. Mặc dù con số trên khá ấn tượng nhưng tốc độ tăng trưởng tiêu thụ cà
phê năm 2008 và 2009 đã chậm lại do nền kinh tế tăng trưởng chậm và lạm phát cao.
Theo BMI, thu nhập tăng cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh và sự phát triển của các cửa hàng cà
phê kiểu phương Tây ở các khu vực thành phố trung tâm sẽ tác động tích cực tới sức tiêu thụ cà
phê tại Việt Nam. Đến năm 2014, BMI dự báo tốc độ tiêu thụ sẽ tăng 46,2% tương đương 1,56
triệu bao.

Mặc dù sức tiêu thụ có tăng trong những năm gần đây, nhưng năm 2009 sức tiêu thụ nội địa chỉ
đạt hơn 5% sản lượng cà phê của cả nước. Tiêu thụ trong nước chính là động lực hỗ trợ thực sự
cho người nông dân và giảm bớt sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu. Vì thế, các biện pháp
thiết thực từ phía chính phủ và các cơ quan Bộ, ngành sẽ rất cần thiết để thúc đẩy thói quen
uống cà phê của người dân. Bộ NN & PTNT đặt mục tiêu sẽ thúc đẩy sức tiêu thụ trong nước
lên 10-15% sản lượng cà phê quốc gia. Tuy nhiên, BMI lo ngại sẽ khó đạt được mục tiêu này
trong giai đoạn từ nay đến năm 2014.

Bảng 1: Sản lượng và tiêu thụ cà phê tại Việt Nam

2009* 2010** 2011** 2012** 2013** 2014**


1
Sản lượng 19.670 17.366 18.251 19.673 21.093 22.611

(đơn vị: nghìn bao loại 60kg)


Tiêu thụ2 1.064 1.101 1.189 1.292 1.420 1.556

(đơn vị: nghìn bao loại 60kg)

Ghi chú: *: ước tính; **: dự báo; Nguồn: 1USDA, Vicofa, BMI, 2USDA, BMI.

Sản lượng tăng, Giá trị giảm

Mặc dù trong niên vụ cà phê 2008-2009, Việt Nam vẫn đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu với
sản lượng 1,1 - 1,2 triệu tấn, nhưng về giá trị xuất khẩu lại xếp thứ tư trên thế giới. Theo Bộ NN
& PTNT với giá xuất khẩu cà phê thế giới giảm và chất lượng cà phê không cao thì kim ngạch
xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong năm 2009 mặc dù tăng với tốc độ 15,8%/năm tương
đương 18,85 triệu bao, nhưng vẫn giảm 20% so với năm 2008. Vicofa cho biết do ảnh hưởng
của thời tiết mưa nhiều nên hạt đen nhiều (chỉ riêng hạt cà phê đen đã chiếm 15% sản lượng thu
hoạch cà phê của cả nước), ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm khiến giá giảm. Mặc dù trong
năm 2009, Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách mới nhằm thúc đẩy việc tái cơ cấu lại cây cà
phê, nhưng phần lớn người nông dân vẫn còn đầu tư và mở rộng diện tích sản xuất cây trồng
hiện có.

Từ cuối năm 2008 đến nay, giá cà phê luôn biến động thất thường, có lúc tăng lên 1.600 - 1.700
USD/tấn rồi rơi xuống 1.200 USD/tấn (giá FOB tại cảng Tp.HCM), gây khó khăn cho các
doanh nghiệp xuất khẩu. Tháng 9 năm 2009, Vicofa đã công bố kế hoạch mua 3,33 triệu bao cà
phê để tăng giá và hỗ trợ thu mua tạm trữ cà phê cho nông dân. Biện pháp này có thể đẩy giá
tăng trong ngắn hạn nhưng xét về lâu về dài người nông dân vẫn phải gánh chịu những thiệt hại
do những biến động của giá cà phê thế giới.

Tại cuộc họp về thu mua tạm trữ cà phê, VICOFA đã đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên
quan xem xét có chính sách ưu đãi vốn vay để doanh nghiệp có thể mua và ký gửi cho bà con
khoảng 200.000 tấn cà phê nhân mỗi năm, chọn thời điểm thích hợp bán ra để điều tiết thị
trường. Kiến nghị này đã được các Bộ NN & PTNT, Bộ Công Thương, Bộ Tài chính đồng tình.
Vấn đề hiện nay là phải chọn được doanh nghiệp có đủ năng lực và uy tín để đứng ra triển khai
thu mua tạm trữ cho người nông dân. (Còn tiếp)
Triển vọng ngành hàng cà phê Việt Nam 2010 - Phần 2
Tin ngành hàng - Cà phê
Thứ hai, 26 Tháng 4 2010 09:02
VIETRADE - Các biện pháp Bộ NN & PTNT cũng đang tập trung vào việc nâng cao
chất lượng cà phê của Việt Nam và đã đề ra một kế hoạch nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng ở
các khu vực trồng cà phê - cũng như đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại, kỹ thuật
canh tác mới và đầu tư dây chuyền sản xuất - có thể đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế.

Theo báo cáo của Bloomberg, tháng 9 năm 2009, Tổng công ty Cà phê Việt Nam cho biết
sẽ được đầu tư 2,5 tỷ đồng (tương đương 140 triệu đô la Mỹ) để trồng mới và thanh lý
những khu vực cà phê già cỗi. Thay thế những cây già cỗi, trong đó có cây nhiều hơn 20
năm, sẽ nâng cao năng suất trong dài hạn và nâng cao sức đề kháng của cây trồng với
bệnh. Bộ NN & PTNT cũng cho biết Bộ sẽ đưa ra các biện pháp nhằm ngăn chặn sự phát
triển tự phát trong việc mở rộng diện tích vùng trồng cà phê đến năm 2010 và thay vào đó
là tập trung vào nâng cao sản lượng và đầu tư vào cây mới.

VICOFA cũng khuyến khích sự phát triển của các cơ sở chế biến cà phê tại Việt Nam.
Điều này sẽ giúp nâng cao chuỗi giá trị của ngành cà phê và kim ngạch xuất khẩu. Công
ty cà-phê Trung Nguyên đã chính thức làm khởi công xây dựng nhà máy chế biến cà-phê
hiện đại tại TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk). Nhà máy chế biến cà phê Trung Nguyên được
đầu tư với tổng số vốn đầu tư hơn 40 triệu USD, xây dựng trên diện tích 27.000m2 và
được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn một, sẽ đầu tư gần 20 triệu USD cho công tác xây
dựng cơ sở hạ tầng, các hệ thống vận hành cơ bản. Giai đoạn 2, sẽ tiếp tục đầu tư toàn bộ
nguốn vốn đầu tư còn lại cho việc mua sắm các hệ thống trang thiết bị vận hành, máy móc
công nghệ theo tiêu chuẩn hiện đại nhất thế giới, đồng thời xây dựng mở rộng nhà máy
thêm 50.000m2. Dự kiến công suất thiết kế nhà máy đạt hơn 60.000 tấn cà phê chế biến
mỗi năm và theo kế hoạch, sau 18 tháng nhà máy sẽ được hoàn tất, đưa vào hoạt động vận
hành chính thức. Với quan điểm, cần phải nhanh chóng hoàn thiện và nâng cao về công
nghệ kỹ thuật hiện đại để làm nền tảng cơ sở cho ra đời nhiều chủng loại sản phẩm cà phê
đạt chất lượng và tiêu chuẩn quốc tế, Trung Nguyên hết sức chú trọng khâu nghiên cứu,
chọn lọc công nghệ chế biến cà phê hiện đại từ các quốc gia hàng đầu về công nghệ như
Đức, Đan Mạch, Ý và kết hợp với các nhà tư vấn hàng đầu quốc tế để chọn ra những công
nghệ tối ưu nhất.

Tiêu thụ trong nước thấp nhưng có xu hướng tăng

Hiệp hội Cà phê- Ca cao Việt Nam cho biết, nước ta mỗi năm sản xuất trên 1 tấn cà phê
nhân, là quốc gia có sản lượng cà phê lớn đứng thứ 2 trên thế giới chỉ sau Braxin. Thế
nhưng, về tiêu thụ cà phê trong nước, nước ta còn quá thấp. Cụ thể, mỗi năm, cả nước chỉ
tiêu dùng 938.000 bao (bao 60 kg) tương đương 56.000 tấn, chiếm chưa đến 6% trong
tổng sản lượng cà phê hàng năm.

Quý II năm 2009, VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NÔNG
NGHIỆP NÔNG THÔN đã tiến hành nghiên cứu tiêu thụ cà phê trong nước tại hai thành
phố lớn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả điều tra từ 540 gia đình, 60 người
uống cà phê tại quán và 40 quán cà phê tại Hà Nội và Tp.HCM cho thấy tiêu thụ cà phê
tại cả hai thành phố đều tăng về số lượng và giá trị. Một trong những nguyên nhân chính
đó là sự nổi lên của rất nhiều quán cà phê kiểu phương Tây và thói quen thưởng thích
ngày càng tăng của người dân đối với các loại cà phê chất lượng cao.

Khảo sát này cho thấy khách hàng ở độ tuổi thanh niên và vị thành niên có mức tăng tiêu
thụ cà phê nhanh nhất, cả về cà phê bột và cà phê hòa tan. Nhóm thanh niên và trung niên
có mức độ tiêu dùng cà phê cao nhất. Nhóm tuổi già tăng mức tiêu thụ rất ít và chỉ tăng
lượng tiêu thụ cà phê bột.

Xét về ngành nghề, những người làm việc nhiều về trí óc và có kỹ năng chuyên môn, kỹ
thuật viên tiêu thụ cà phê nhiều nhất. Mức tiêu thụ cũng tăng mạnh ở lao động giản đơn.
Miền Nam có lượng tiêu thụ cao gấp 4 - 5 lần so với miền Bắc và miền Trung. Khảo sát ở
hai thành phố lớn cho thấy, năm 2008, bình quân một gia đình ở Tp.HCM tiêu dùng 6,1
kg cà phê/năm, cao gấp 3 lần so với ở Hà Nội. Tại Tp.HCM, cà phê được uống tại quán
nhiều hơn. Ngược lại, Hà Nội uống tại nhà nhiều hơn và có một nhóm đáng kể uống ở văn
phòng.

Bảng 2: Sản lượng và tiêu thụ cà phê tại Việt Nam

2005 2006 2007 2008 2009* 2010**


Sản lượng 14.500 13.666 19.500 18.333 19.670 17.366

(đơn vị: nghìn bao loại 60kg)


Tiêu thụ 618 687 858 900 1064 1101

(đơn vị: nghìn bao loại 60kg)

Ghi chú: *: ước tính; **: dự báo; Nguồn: USDA, Vicofa, BMI,.

Thách thức

Sự phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu nên cà phê Việt Nam, theo dự báo của BMI, sẽ
biến động theo cầu và giá cả cà phê robusta thế giới. Từ năm 1989 đến năm 2004, những
năm khủng hoảng của ngành cà phê, giá cà phê luôn ở mức rất thấp khiến cho các nhà sản
xuất phải chịu rất nhiều thua lỗ do chi phí sản xuất cao hơn giá bán. Có một số lo ngại
rằng việc sản xuất các loại cà phê giá rẻ sẽ lại một lần nữa gây ra làn sóng giảm giá, từ đó
tạo ra nhiều rào cản hơn cho nhà xuất trong việc mở rộng hoạt động sản xuất.

Những thách thức mà ngành cà phê Việt Nam đang phải đối mặt trong tương lai gần bao
gồm: Diện tích cà phê đang trở nên già cỗi; Phần lớn diện tích cà phê trồng không đúng
quy cách; Chăm sóc không đúng kỹ thuật; Nguồn cây giống không đảm bảo; Việc sản
xuất cà phê còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ.

Trong tình hình chung đó, cần phải có những giải pháp hữu hiệu nhằm khắc phục một
cách nhanh chóng những bất cập trên trong ngành cà phê Việt Nam hiện nay, lúc đó
chúng ta mới mong ngành cà phê Việt Nam có thể phát triển một cách ổn định và bền
vững.