You are on page 1of 4

CIO CHUC DANH, MOI TRONG HE THONG CO QUAN QUAN LI

VA DOANH NGHIEP
Chief Information Officer (CIO) là một chức danh mới có trên thế giới từ năm 1994 trở lại đây. Mỹ,
Canada, Australia là những quốc gia sớm có CIO và hệ thống CIO ở những nước này được coi là
tương đối chuẩn mực. Một số nước ở châu Á như Trung Quốc, Thái Lan, Hàn Quốc,Singapore,
Malaysia đều có hệ thống CIO. Mặc dù mới triển khai từ năm 1996-1997 đến nay, nhưng hệ thống này
đã phát huy được vai trò định hướng phát triển công nghệ thông tin. Với nhiều nước đã công nghiệp
hoá, CIO là một chức danh mới nhất bổ sung vào đội ngũ quản lý cao cấp của doanh nghiệp.

Có một thực tế là, thuật ngữ "Chief Information Officer" chưa được dịch và định chuẩn thật đúng
nghĩa sang tiếng Việt. Đã từng có những đề xuất đặt tên cho CIO như: giám đốc thông tin, phụ trách
thông tin, chủ sự thông tin, đồng sự thông tin... Tuy nhiên theo nhiều đại biểu, CIO thực chất là một
tên gọi cho một vị trí công tác, một chức danh công chức lĩnh vực công nghệ, có vị trí quan trọng
trong bộ máy lãnh đạo các bộ, ngành và doanh nghiệp.

Tổ chức ngạch, bậc công chức CIO ở nhiều nước được thực hiện ở cả 3 cấp: cấp trung ương, CIO do
một phó thủ tướng phụ trách; cấp bộ, tỉnh, thành phố do một phó thường trực chuyên trách; cấp dưới
bộ và các doanh nghiệp lớn do một phó giám đốc thứ nhất phụ trách..

Mặc dù là một chức danh tương đối mới, nhưng CIO có vai trò rất quan trọng và quyền lực của CIO
rất lớn. Ở nhiều nước công nghiệp, số lượng CIO ở các doanh nghiệp đang tăng lên nhanh chóng trong
thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, cùng với bước chuyển biến khi quản lý thông tin đã từ tầm các hoạt
động tác nghiệp của doanh nghiệp sang tầm quản lý chiến lược sản xuất kinh doanh.

Theo mô hình của các tổ chức nước ngoài, CIO là điểm chốt giữa 2 loại quan hệ: đối nội và đối ngoại.
Trong mối quan hệ đối nội, CIO được xác định như một người làm trung gian giữa 4 vị trí quan trọng
nhất, đó là giám đốc điều hành, giám đốc tài chính, các cổ động và những người sử dụng hệ thống
thông tin. Trong mối quan hệ đối ngoại, CIO có trách nhiệm làm thông suốt thông tin với khách hàng,
các công ty bạn, với ngân hàng và công ty mẹ.

Để đảm đương được những nhiệm vụ quan trọng, CIO cần đáp ứng nhiều tiêu chuẩn. Những tiêu
chuẩn quan trọng nhất là, như mọi nhà quản lý CIO phải có đẩy đủ phẩm chất của nhà lãnh đạo: khả
năng nhìn xa trông rộng; dũng cảm, tự tin, sáng suốt khi ra quyết định; nắm vững mục tiêu, nguyên tác
khi tiến hành công việc. CIO còn phải nắm vững các công nghệ có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp
phát triển; hiều biết về công việc kinh doanh; có khả năng giao tiếp tốt; có năng lực quản lý và năng
lực thực hiện những đổi thay mang lại lợi ích cho doanh nghiệp; có hiểu biết sâu rộng và kinh nghiệm
về ngành công nghiệp đặc thù; có khả năng tập hợp, phát triển và duy trì đội ngũ nhà chuyên môn có
trình độ cao.

Tại mỗi quốc gia trên thế giới, các ngành hữu quan cần đi đến thống nhất chủ trương xây dựng ngành
công chức lãnh đạo quản lý thông tin và công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính và chức
danh CIO trong các doanh nghiệp. Cần xác định đây là một trong những điểmHài hòa giữa nghiệp
vụ và công nghệ

TGVT B: Được biết ông là một trong 10 CIO tiêu biểu năm 2009 do IDG bình chọn,
với số điểm cao nhất. Ông đã nỗ lực thế nào để đạt được sự tin tưởng cao như thế?

4
Ông Đặng Đức Mai: Tôi không nhận mình là một CIO giỏi vì thực tế CIO đúng tầm và
đúng nghĩa của từ này tại Việt Nam không nhiều. Phần lớn những chức danh CIO mà
chúng ta thường gọi là do tự tôn nhau lên. Ở nước ta chưa có một chức danh rõ ràng về
CIO nên dễ nhầm lẫn giữa chức danh giám đốc CNTT và người lãnh đạo về thông tin
(CIO).

Với tôi, để làm được vai trò lãnh đạo về mặt thông tin thì người CIO phải nắm chắc được
cả nghiệp vụ lẫn công nghệ và phải làm sao hài hòa được cả hai nhiệm vụ này. Đối với
nhiều CIO được đào tạo bài bản về
CNTT thì khó khăn của họ là phần kiến
thức về các quy trình chuyên môn
nghiệp vụ của ngành. Ngược lại, CIO đi
lên từ chuyên môn nghiệp vụ ngành lại
phải mày mò học hỏi thêm các kiến thức
về công nghệ.

Với cá nhân ông, khó khăn ở cương vị


CIO là gì ?

Tôi làm trong lĩnh vực tài chính nhưng


lại được đào tạo chuyên môn về CNTT. Ông Đặng Đức Mai
Đây là một điểm khó. Trải qua 26 năm gắn bó với ngành tài chính tôi đã tự học hỏi rất
nhiều để có thể nắm bắt được các quy trình nghiệp vụ của ngành. Tuy nhiên nhiều kiến
thức tự học do cóp nhặt nên nhiều khi không hiểu hết gốc rễ của nó.

Người CIO nắm vững về các nghiệp vụ sẽ thuận lợi hơn người chỉ am hiểu về công nghệ.
Ở nước ngoài, người lãnh đạo thông tin thường giữ cấp phó hoặc phó tổng giám đốc và
thường là người rất giỏi các quy trình chuyên môn nghiệp vụ. Ở Việt Nam thì khác, bản
thân giám đốc CNTT đa phần là người giỏi về công nghệ nhưng ít người giỏi cả công
nghệ lẫn nghiệp vụ. Theo tôi chúng ta hơi khiên cưỡng khi gọi giám đốc CNTT là CIO.
Bản thân giám đốc CNTT thì chức trách giao cho anh chỉ là quản lý, điều hành trong lĩnh
vực được giao. Giám đốc CNTT chưa đủ quyền để điều hành nghiệp vụ. Vì vậy, khi ứng
dụng CNTT vào các khâu nghiệp vụ, nhiều khi phải đi “xin” hoặc “mời” người ta sử
dụng. Với tâm lý ngại thay đổi của nhiều đơn vị nghiệp vụ thì khả năng ứng dụng thành
công là rất khó.

Hướng đến giải pháp quản trị doanh nghiệp thông minh

Bộ Tài chính được xem là “siêu bộ” vì có nhiều hệ thống thông tin lớn của các bộ
phận Thuế, Kho bạc, Hải quan, Chứng khoán… nhưng khả năng trao đổi thông tin
giữa các đơn vị rất hạn chế. Với vai trò CIO của Bộ Tài chính, ông giải bài toán này
như thế nào để Bộ Tài chính có thể trở thành một “siêu bộ” thông minh?

Đây là một nhận xét đúng. Ở Bộ Tài chính, mỗi bộ phận đều phát triển rất mạnh như
Tổng cục Thuế, Kho bạc, Ủy ban Chứng khoán, Tổng cục Hải quan… Kho cơ sở dữ liệu
(CSDL) của mỗi đơn vị này đều rất đồ sộ và luôn phát sinh hàng ngày. Thậm chí một hệ

5
thống CSDL về thuế có thể còn lớn hơn CSDL của nhiều bộ, ngành khác. Chính vì thế,
việc tích hợp các hệ thống này là một bài toán rất khó khăn. Khó khăn này cũng là một
nét đặc thù của Bộ Tài chính do việc ứng dụng CNTT vào các quy trình nghiệp vụ ở bộ
thường được tiến hành trước các đơn vị khác. Thời điểm trước đó, do chưa có một quy
hoạch tổng thể về ứng dụng CNTT vào quản lý, điều hành nên mỗi đơn vị đều xây dựng
một hệ thống riêng, khác nhau.

Mới đây, Bộ Tài chính triển khai Đề án Hệ thống thông tin tài chính tích hợp nhằm trao
đổi thông tin giữa các ngành Thuế, Hải quan, Kho bạc… lại với nhau. Tuy nhiên, do khối
lượng CSDL quá lớn nên đề án này cũng đang có nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Bên
cạnh đó, chúng tôi cũng đang triển khai một dự án về trao đổi thông tin giữa các ngành
này trên phạm vi cả nước. Hiện tại, việc kết nối trao đổi thông tin đã được thực hiện tại
30 tỉnh thành, dự kiến năm tới sẽ kết nối toàn bộ 60 tỉnh thành trong cả nước. Hệ thống
trao đổi thông tin này sẽ giảm bớt được nhiều phần công việc vì các ngành sẽ dùng chung
một CSDL, chứng từ gốc khi tổ chức, doanh nghiệp đến làm việc sẽ không phải kê khai,
nhập lại số liệu.

Ở quy mô lớn hơn, Bộ Tài chính cũng là đầu mối triển khai đề án tích hợp trao đổi thông
tin giữa các hệ thống nói trên thành một kho dữ liệu chung. Bộ sẽ xây dựng 1 kho CSDL
được kết nối với các kho CSDL của các đơn vị khác. Kho CSDL của Bộ đóng vai trò như
là “tổng kho”, còn các đơn vị bên dưới sẽ xây dựng từng kho CSDL riêng, gọi là kho dữ
liệu chuyên đề. Kho CSDL của Bộ đóng vai trò là kho CSDL thứ cấp được cập nhật từ
các kho CSDL chuyên đề. Kho CSDL này phục vụ cho việc tập hợp, phân tích, thống kê,
dự báo và hoạch định chiến lược. Đặc biệt nó là tiền đề để áp dụng các giải pháp báo cáo
thông minh (Business Intelligence - BI) phục vụ công tác lãnh đạo, điều hành – những
thông tin hữu ích phục vụ cho hoạch định chính sách.

Kho CSDL hiện đã sẵn sàng nhưng việc đưa giải pháp ứng dụng BI chỉ mới ở mức đề án,
tư vấn và thử nghiệm. Cái khó khi triển khai BI là làm thế nào để đáp ứng tối đa nhu cầu
của người lãnh đạo trong khi người lãnh đạo cấp cao lại thường ít nói ra những yêu cầu
đó. Vì vậy, CIO cần phải tìm hiểu hết quy trình nguyên tắc nghiệp vụ để chuẩn hóa dữ
liệu và xây dựng hệ thống siêu dữ liệu (meta-data) nhằm đưa ra được những báo cáo
nhanh nhất và hữu ích nhất. Đây chính là lời giải mà CIO cùng các bộ phận khác phải
làm để Bộ Tài chính trở thành một “siêu bộ” thông minh.

Yếu tố nào giúp CIO khẳng định vai trò của mình trong khi chưa có một chức
danh chính thức cho vị trí này tại Việt Nam, thưa ông ?
Tôi may mắn đã có 26 năm làm việc liên tục trong lĩnh vực CNTT, trong đó có 18
năm ở vị trí Giám đốc CNTT (CIO Kho bạc Nhà nước 14 năm, CIO Bộ Tài chính 4
năm). Trong quá trình làm việc đã trải qua nhiều dự án lớn trong ngành, vì thế tôi
đã tích lũy được kho kinh nghiệm cực kỳ quý báu trong việc chỉ đạo CNTT. Cụ thể
hơn, đó là tập trung vào xây dựng tầm nhìn, chiến lược tổng thể trong đó gắn kết
được mục tiêu tổ chức và mục tiêu ứng dụng CNTT. Phẩm chất không thể thiếu của
một nhà lãnh đạo CNTT là có tư duy chiến lược và lập kế hoạch; am hiểu quy trình
nghiệp vụ, quy trình quản lý Nhà nước; có kiến thức chuyên môn vững về công

6
nghệ, có nhiều kinh nghiệm trong quản lý dự án lớn, có năng lực lãnh đạo và tập
hợp quần chúng.
quan trọng nhất để phát triển công nghệ thông tin. Đồng thời, về mặt quản lý Nhà nước, Chính phủ
cần kiện toàn xây dựng thống nhất hệ thống cơ quan quản lý về công nghệ thông tin. Mỗi bộ, ngành có
một đơn vị trực thuộc làm công tác thông tin và quy định một tên đặt chung trong cả nước đối với đơn
vị trực thuộc này. Về chế độ đãi ngộ với CIO nên tham khảo kinh nghiệm của nhiều nước có nền kinh
tế phát triển, thông thường CIO có mức lương lớn gấp hai hoặc ba lần so với mức lương của người giữ
chức vụ tương đương ngang cấp.