You are on page 1of 5

Lớp 11CT

Tổ 2

CHIẾU CẦU HIỀN


Ngô Thì Nhậm( Ngô Thời Nhiệm; 1746–1803), tự là Hy Doãn, hiệu là Đạt Hiên, là danh sĩ, nhà văn

đời hậu Lê–Tây Sơn, người có công lớn trong việc giúp triều Tây Sơn đánh lui quân Thanh. Ngô Thì Nhậm

xuất thân gia đình vọng tộc chốn Bắc Hà, là con Ngô Thì Sĩ, người làng Tả Thanh Oai, ngày nay thuộc

huyện Thanh Trì Hà Nội.

Sự Nghiệp

Ngô Thì Nhậm thông minh, học giỏi, sớm có những công trình về lịch sử. Ông thi đỗ giải nguyên
năm 1768, rồi tiến sĩ tam giáp năm 1775. Sau khi đỗ đạt, ông được bổ làm quan ở bộ Hộ dưới

triều Lê–Trịnh, được chúa Trịnh Sâm rất quý mến. Năm 1778 làm Đốc đồng Kinh Bắc và Thái

Nguyên. Khi đó cha ông làm Đốc đồng Lạng Sơn. Cha con đồng triều, nổi tiếng văn chương

trong thiên hạ.

Sau Vụ án năm Canh Tý (1780), ông bị nghi ngờ là người tố giác Trịnh Khải nên phải bỏ trốn về

quê vợ ở Thái Bình lánh nạn.

Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc lần hai, xuống lệnh "cầu hiền" tìm kiếm quan lại của triều cũ.

Danh sĩ Bắc Hà đã đầu quân cho nhà Tây Sơn từ trước đó mới chỉ có Trần Văn Kỉ[2], Ngô Văn

Sở và Đặng Tiến Đông. Tuy vậy, tới thời điểm này thì cả vua Lê lẫn chúa Trịnh đều đã đổ. Ngô

Thì Nhậm và một số thân sĩ Bắc Hà khác như Phan Huy Ích, Bùi Dương Lịch[4]; các tiến sĩ Ninh

Tốn, Nguyễn Thế Lịch, Nguyễn Bá Lan; Đoàn Nguyễn Tuấn (anh rể Nguyễn Du); Vũ Huy

Tấn; Phạm Huy Lượng (tác giả "Tụng tây Hồ phú")...lần lượt ra làm quan cho nhà Tây Sơn. [5]Sử

cũ viết khi được Thì Nhậm, Nguyễn Huệ mừng mà rằng: "Thật là trời để dành ông cho ta vậy",

và phong cho ông chức Tả thị lang bộ Lại, sau lại thăng làm thượng thư bộ Lại-chức vụ cao cấp

nhất trong Lục bộ.

Cuối năm Mậu Thân (1788) do vua Lê Chiêu Thống cầu viện, 29 vạn quân Thanh kéo sang Đại

Việt, với chiêu bài diệt Tây Sơn dựng lại nhà Lê. Ngô Thì Nhậm đã có kế lui binh về giữ phòng

tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh Bình) góp phần làm nên chiến thắng của nhà Tây Sơn.

Năm 1790, vua Quang Trung đã giao cho Ngô Thì Nhậm giữ chức Binh bộ thượng thư. Tuy làm

ở bộ Binh, nhưng Thì Nhậm chính là người chủ trì về các chính sách và giao dịch ngoại giao với

Trung Hoa. Ông là người đứng đầu một trong những sứ bộ ngoại giao sang Trung Hoa.[6]

Sau khi Quang Trung mất, ông không còn được tin dùng, quay về nghiên cứu Phật học.
Sau khi Gia Long tiêu diệt nhà Tây Sơn, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch và một

số viên quan triều Tây Sơn thì bị đánh bằng roi tại Văn Miếu năm 1803. Ngô Thì Nhậm sau trận

đánh đòn, về nhà thì chết.

Câu ứng đối nổi tiếng

Tương truyền Ngô Thì Nhậm và Đặng Trần Thường có quen biết với nhau.

Lúc Ngô Thì Nhậm được vua Quang Trung trọng dụng thì Đặng Trần Thường đến xin Nhậm tiến

cử. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Nhậm thét bảo Thường:

Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh, giúp vua cai trị nước. Còn muốn vào

luồn ra cúi thì đi nơi khác.

Đặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi vào Nam theo Nguyễn Phúc Ánh.

Sau khi nhà Tây Sơn mất, các võ tướng và một số quan văn bị giải về Hà Nội để bị xử phạt

đánh bằng roi ở Văn Miếu, trong số đó có Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm. Chủ trì cuộc

phạt đánh đòn đó là Đặng Trần Thường.

Vốn có thù riêng, Đặng Trần Thường kiêu hãnh ra vế câu đối cho Ngô Thì Nhậm:

Ai công hầu, ai khanh tướng, vòng trần ai, ai dễ biết ai

Ngô Thì Nhậm khảng khái đáp:

Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế thời phải thế

Có thuyết nói rằng, nguyên câu đối lại của Ngô Thì Nhậm là:

Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, dù thời thế, thế nào cũng thế

hoặc là:

Thế Chiến Quốc, thế Xuân Thu, gặp thời thế, thế nào vẫn thế

Đặng Trần Thường bắt ông phải sửa lại như câu nói "thế đành theo

thế" (hay thế thời theo thế hoặc là thế thì phải thế). Ngô Thì Nhậm

không nói lại. Thường tức giận sai người dùng roi tẩm thuốc độc

đánh ông.

Sau trận đòn về nhà, Phan Huy Ích không bị đánh bằng thuốc độc

nên còn sống. Còn Ngô Thì Nhậm bị thuốc độc ngấm vào tạng phủ,

biết mình không qua khỏi, trước khi qua đời ông có làm bài thơ gửi

tặng Đặng Trần Thường như sau:

Ai tai Đặng Trần Thường


Chân như yến xử đường

Vị Ương cung cố sự

Diệc nhĩ thị thu trường

Nghĩa là: Thương thay Đặng Trần Thường. Nay

quyền thế lắm đấy, nhưng khác nào như chim

yến làm tổ trong cái nhà sắp cháy, rồi sẽ khốn

đến nơi. Giống như Hàn Tín giúp Hán Cao tổ, rồi

bị Cao tổ giết ở cung Vị Ương. Kết cục của

ngươi rồi cũng thế đó.

Tạm dịch:

Thương thay Đặng Trần Thường

Tổ yến nhà xử đường

Vị Ương cung chuyện cũ

Tránh sao kiếp tai ương?

Quả nhiên sau này bài thơ

ứng nghiệm, Thường bị

Gia Long xử tử.

Hoàn cảnh ra đời của bài chiếu


Năm 1788, vua Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ lên
ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung rồi đem quân ra Bắc quét sạch 20 vạn giặc Thanh cùng
bọn tay sai bán nước. Lê Chiêu Thống và tàn quân chạy theo Tôn Sĩ Nghị, triều Lê sụp đổ.
Trước sự kiện trên, một số bề tôi của nhà Lê hoặc mang nặng tư tưởng trung quân lỗi thời,
hoặc sợ hãi vì chưa hiểu triều đại mới nên có người đã bỏ trốn, hoặc đi ở ẩn, hoặc tự tử,…
Quang Trung giao cho Ngô thì Nhậm thay mình viết Chiếu cầu hiền kêu gọi những người tài
đức ra giúp nước an dân.

Văn bản thể hiện rõ sự khát khao cầu hiền của nhà vua trẻ tài đức, qua đó ta thấy được
Ngô Thì Nhậm thật là uyên bác, cao tay trong việc dùng văn bản, thay mặt nhà vua chiêu hiền
đãi sĩ. Ông xứng đáng là người được vua Quang Trung tin cậy.

Thể loại: Chiếu


Là một thể văn thư nhà vua dùng để ban bố mệnh lệnh cho thần dân.
Công văn hành chính thời xưa gồm hai loại: một loại do cấp dưới đệ trình lên nhà vua hoặc
triều đình ( tấu, chương, biểu, sớ, khải,…), một loại do nhà vua truyền xuống cho bề tôi ( chiếu,
mệnh, lệnh, chế, dụ, cáo, …)

- Chiếu nói chung, chiếu cầu hiền nói riêng thuộc loại văn nghị luận chính trị - xã hội. Mặc
dù chiếu thuộc loại công văn nhà nước, lệnh cho thần dân thực hiện, nhưng ở đây, đối tượng
của bài chiếu là các bậc hiền tài, hơn nữa đây là cầu, tức là vua Quang Trung cầu, chứ không
phải là lệnh.

Kết cấu của “ Chiếu cầu hiền”


Chiếu cầu hiền là một tác phẩm chính luận có kết cấu chặt chẽ, lập luận chắc chắn, lí lẽ
sắc bén. Bài chiếu chia làm 3 phần:

- Phần 1: (đoạn 1 sgk ): cơ sở lí luận của “chiếu cầu hiền” ( mượn lời Khổng Tử, viện ý trời
làm cơ sở cho việc cầu hiền)

- Phần 2 (đoạn 2a và 2b ): tình hình thực tiễn và khao khát cầu hiền của nhà vua.

- Phần 3: ( đoạn 3 ): Hướng sử dụng người hiền tài và lời kêu gọi người tài trong thiên hạ ra
giúp dân giúp nước.

II.Phân tích

1.Cơ sở lí luận của “Chiếu cầu hiền”


Đoạn mở đầu tạo ra một tiền đề vững chắc, thuyết phục để cầu hiền.

- Mượn ý của Khổng Tử trong sách luận ngữ: Lấy đức mà cai trị đất nước, giống như sao
Bắc Đẩu giữ đúng vị trí của mình, các ngôi sao khác sẽ về chầu.

Tác giả vừa tôn vinh bậc thánh hiền của đạo Nho ( như sao sáng), vừa khẳng định với hiền
sĩ khắp nơi rằng triều đại mới là một triều đại dùng đức để cai trị đất nước.

- Mượn ý trời, xem việc người hiền tài về chầu thiền tử là lẽ đương nhiên, hợp quy luật. Nếu
người hiền tài tự giấu mình là trái ý trời. ( Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà
không được đời dùng thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy).

Ngô Thì Nhậm thật cao tay, ông mượn lời thánh hiền và ý trời để tạo ra một cơ sở lí luận
chắc chắn cho việc cầu hiền cảu triều đình. Vừa tôn vinh người hiền tài lại vừa tôn vinh hoàng
đế ( ví vua Quang Trung với ngôi Bắc Thần, gọi ông là thiên tử) đã tạo ra một sự tin cậy cho
những người hiền chưa hiểu rõ thời cuộc.

2.Tình hình thực tiễn và khao khát cầu hiền của vua Quang
Trung
- Khi thời thế suy vi, nhiều biến cố, tất yếu kẻ sĩ trong thiên hạ phải tìm chỗ ẩn mình.

+ Tác giả dùng nhiều hình ảnh gợi cảm để chỉ tình trạng thất thế loạn lạc của kẻ sĩ (ẩn
trong ngòi khe, kiêng dè không dám lên tiếng, gõ mõ canh cửa, ra biển vào sông, chết đuối
trên cạn,…)nhấn mạnh lối sống uổng phí tài năng, không xứng danh là người hiền tài.( biện
pháp kích tướng)

+ Thái độ khẩn khoản của nhà vua ( nay trẫm đang lắng nghe, ngày đêm mong mỏi,…),
hàng loạt câu hỏi ( hay trẫm ít đức…?Hay đang thời đổ nát…?) có tác dụng kêu gọi sự hợp tác
của các hiền tài.

- Thời bình, nước đã có vua, non sông đã có chủ, thay mặt vua, tác giả đưa ra một số công
việc bề bộn: công việc vừa mới mở ra, kỉ cương nơi triều chính, công việc ngoài biên cương,
dân còn nhọc nhằn, đức hoá của nhà vua chưa kịp nhuần thấm, một cái cột không thể đỡ nổi
một cái nhà,…kể muôn sự khó khăn nhằm tac động vào trách nhiệm của hiền sĩ với non sông
đất nước. Những người có tâm đức sẽ không thờ ơ trước tình cảnh này. Kết đoạn, tác giả cũng
đưa ra một loạt câu hỏi: huống nay trên dãi đất văn hiến rộng lớn này, há trong đó không có
lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao?

=>

+ Cả hai đoạn đều có chung một cấu trúc: kể, liệt kê thực trạng để tìm cách khơi gợi, kích
động những người hiền tài có lòng tự trọng, có trách nhiệm. Từ đó kết đoạn là những câu hỏi tu
từ xoáy sâu, nhấn mạnh, khích lệ họ đừng chần chừ, ngần ngại nữa, nhanh đưa sức ra giúp dân
trị nước.

+ Giọng điệu linh hoạt, khi mạnh mẽ ( gợi cái tầm thường trong cuộc sống ẩn dật), khi thì
lắng lại, khiêm nhường, thành tâm; khi thì khích lệ, cổ vũ người hiền ra giúp chính quyền buổi
đầu…

3. Hướng sử dụng người hiền tài và lời kêu gọi người tài trong
thiên hạ ra giúp dân, giúp nước.
- Để đánh tan những phân vân của nhiều hền tài còn nhiều e ngại do chưa hiểu triều đại
mới, nhà vua đưa ra hướng sử dụng người hiền tài thật rõ ràng, rộng mở và độ lượng. Đưa ra
nhiều biện pháp cụ thể.

- Đối với người có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, lời nói noà dùng được thì cất nhắc,
không kể thứ bậc, không dùng thì gác lại, không bắt tội.

- Đối với người có nghề hay nghiệp giỏi, cho phép quan văn, quan võ tiến cử, tuỳ tài sử
dụng.

- Đối với những người tài năng còn bị che kín thì dâng sớ tự tiến cử…

Người hiền theo quan niệm của Quang Trung thật toàn diện, không chỉ hướng tới những
người giỏi chữ nghĩa mà còn hướng tới những người có tay nghề giỏi. Ông còn khuyến khích
người tài tự tiến cử.

-Quan điểm về người hiền tài của nhà vua thât tiến bộ, hiện đại, hợp lòng dân, tạo con
đường rộng mở cho người tài ra phò vua trị nước.

- Những lời kêu gọi cuối tác phẩm như một lời hiệu triệu mạnh mẽ, khơi dậy, làm nức lòng
kẻ hiền tài bốn bể. Cái lí của triều đình đưa ra là không còn gì thuận lợi hơn nữa ( trời trong
sáng, đất thanh bình) cho người tài đức xuất hiện.Thời cơ đã đến cho những ai muốn làm nên
nghiệp lớn ( gặp hội gió mây )

III.Tổng kết
Bài chiếu không chỉ cho chúng ta thấy tư tưởng tiến bộ của vua Quang Trung trong việc sử
dụng người hiền tài mà còn cho thấy cái tài trong nghệ thuật viết chiếu của Ngô Thì Nhậm. Lời
lẽ trong bài vừa có cái trang trọng, cao sang, trí tuệ của kẻ bề trên, lại vừa có cái thành tâm,
khiêm nhường, của người có đức đang cầu hiền tài. Bài chiếu là một văn bản chính luận đặc
sắc của nần văn học trung đại Việt Nam.