You are on page 1of 27

Lời Mở Đầu

Ngày nay các doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể đã phát triển nhanh
cả về số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế- xã hội của
đất nước. Cùng với phát triển về số lượng, năng lực của kinh tế tư nhân trong nền
kinh tế cũng tăng lên đáng kể. Đặc biệt, đã xuất hiện nhiều ngành nghề mới, sản
phẩm mới, đáp ứng nhu cầu đời sống xã hội. Vì vậy em đã chọn doanh nghiệp tư
nhân THÁNH TÂM làm nơi thực tập của mình, em mong đóng góp một phần nào
kiến thức đã học tại trường vào công việc được giao của mình và hoàn thành tốt
công việc. Luôn luôn học hỏi, trau dồi kiến thức cũng như kinh nghiệm trong quá
trình làm việc.
Bài báo cáo gồm 3 chương:
Chương I: Giới thiệu khái quát về doanh nghiệp tư nhân Thánh Tâm
Chương II: Công việc được giao tại cơ quan lao động
Chương III: Đánh giá quá trình lao động thực tế.

1
CHƯƠNG I
GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP
TƯ NHÂN THÁNH TÂM

1.LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN:


- Tên doanh nghiệp: Doanh Nghiệp Tư Nhân THÁNH TÂM
- Địa chỉ: 69/2, khu phố 1, Tân Hòa, Biên Hòa-Đồng Nai.
- Điện thọai: 0613981707
- Fax: 0613981707
- Mã số thuế: 3600703994
- Hình thức sở hữu: sở hữu tư nhân
- Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp: dập, cắt, cán sóng các loại tôn, xà gồ,
phôi, thép.
1.1Lịch sử hình thành doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp tư nhân Thánh Tâm được thành lập và đi vào họat động ngày
01/01/2005. Với tổng số vốn ban đầu là bảy tỷ. Chuyên sản xuất, và cung cấp tôn
các loại.
- Doanh nghiệp tư nhân Thánh Tâm hoạt là một pháp nhân kinh doanh theo quy
định của pháp luật Việt Nam: có con dấu riêng, độc lập về tài sản, có tài khoản tại
ngân hàng…trải qua 5 năm hoạt động doanh nghiệp đã được các bạn hàng trong và
ngoài tỉnh biết đến và tin cậy. Hàng năm doanh nghiệp đã hoàn thành một khối
lượng công việc tương đối lớn và đạt chất lượng cao đã góp phần vào việc phát triển
kinh tế - xã hội nói chung và nghành sản xuất vật liệu xây dựng nói riêng.
1.2Nhiệm vụ và chức năng của doanh nghiệp:
- Việc kinh doanh của doanh nghiệp là phải kinh doanh theo đúng ngành nghề đã
đăng ký mà ngành nghề sản xuất kinh doanh chính của doanh nghiệp bao gồm: sản
xuất các sản phẩm tôn như thép mạ kẽm phủ sơn (còn gọi là tôn sơn), thép mạ kẽm
(tôn kẽm), tôn lạnh, thép đen (xà gồ), nhôm mè, thép lá băng….sản phẩm phải đảm
bảo chất lượng tốt để phục vụ cho nhu cầu của khách hàng trong cũng như ngoài
tỉnh Đồng Nai.

2
- Phải kinh doanh theo đúng pháp luật quy định hiện hành đối với doanh nghiệp tư
nhân như:
Điều 141. Doanh nghiệp tư nhân
1. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.
3. Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.
Điều 142. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp
1. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ
doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó
nêu rõ số vốn bằng tiền Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản
khác, đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị
còn lại của mỗi loại tài sản.
2. Toàn bộ vốn và tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo
tài chính của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật.
3. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm
vốn đầu tư của mình vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Việc tăng hoặc
giảm vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán.
Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh
nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh
doanh.
Điều 143. Quản lý doanh nghiệp
1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện
các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.
2. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác quản lý, điều
hành hoạt động kinh doanh. Trường hợp thuê người khác làm Giám đốc quản lý
doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh
doanh và vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
3. Chủ doanh nghiệp tư nhân là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa

3
vụ liên quan trước Trọng tài hoặc Toà án trong các tranh chấp liên quan đến doanh
nghiệp.
4. Chủ doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.
Điều 144. Cho thuê doanh nghiệp
Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền cho thuê toàn bộ doanh nghiệp của mình nhưng
phải báo cáo bằng văn bản kèm theo bản sao hợp đồng cho thuê có công chứng đến
cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế. Trong thời hạn cho thuê, chủ doanh
nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu
doanh nghiệp. Quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu và người thuê đối với hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp được quy định trong hợp đồng cho thuê.
Điều 145. Bán doanh nghiệp
1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền bán doanh nghiệp của mình cho người khác.
Chậm nhất mười lăm ngày trước ngày chuyển giao doanh nghiệp cho người mua,
chủ doanh nghiệp phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan đăng ký kinh doanh.
Thông báo phải nêu rõ tên, trụ sở của doanh nghiệp, tên, địa chỉ của người mua,
tổng số nợ chưa thanh toán của doanh nghiệp, tên, địa chỉ, số nợ và thời hạn thanh
toán cho từng chủ nợ, hợp đồng lao động và các hợp đồng khác đã ký mà chưa thực
hiện xong và cách thức giải quyết các hợp đồng đó.
2. Sau khi bán doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm
về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ
trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thoả thuận khác.
3. Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về
lao động.
4. Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo quy định của Luật
này.
(Trích luật doanh nghiệp số 60/2005/QH11 ngày 29-11-2005 chương V-doanh
nghiệp tư nhân)

4
2.CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ QUY TRÌNH SẢN XUẤT:
2.1Cơ cấu tổ chức:
2.1.1Sơ đồ tổ chức:

Chủ doanh nghiệp

Bộ phận
nhân sự

Bộ phận Bộ phận Bộ phận Bộ phận Lao động


kế toán kinh chuyên chào hàng sản xuất
doanh chở, giao
hàng

Sơ đồ tổ chức của doanh nghiệp rất đơn giản.Vì doanh nghiệp Thánh Tâm là một
doanh nghiệp tư nhân nên sự quản lý hầu hết là do chủ doanh nghiệp. Chủ doanh
nghiệp nắm giữ vai trò như một người quản lý về nhiều mặt, sản xuất, quản lý nhân
viên...Tuy nhiên bộ phận nhân sự cũng kiêm vai trò quản lý nhân viên, giúp giảm
tải bớt công việc cho chủ doanh nghiệp, góp phần quản lý nhân viên tốt hơn và có
hiệu quả hơn.
2.1.2Chức năng nhiệm vụ các phòng ban:
• Chủ doanh nghiệp:
- Là người đứng đầu doanh nghiệp. Vì doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do
một cá nhân làm chủ nên chủ doanh nghiệp có toàn quyền quyết định đối với tất cả
các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà không phải thông qua bất cứ ai và
chủ doanh nghiệp cũng là người chịu trách nhiệm cho toàn bộ các hoạt động kinh

5
doanh. Chủ doanh nghiệp cũng làm nhiệm vụ như một người quản lý và nhiều lúc
cũng kiêm luôn những nhiệm vụ như nhân viên kinh doanh, nhân viên nhân sự….
- Ngoài ra chủ doanh nghiệp có nghĩa vụ phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp
theo pháp luật quy định, tuy nhiên chủ doanh nghiệp không phải đóng thuế thu nhập
cá nhân (nếu không có phát sinh các khoản thu nhập khác ngoài hoạt động kinh
doanh) theo biểu quyết của quốc hội nhằm khuyến khích người dân trực tiếp đầu tư
vốn vào sản xuất kinh doanh, thành lập doanh nghiệp mới.
• Bộ phận nhân sự:
- Trước hết nhân viên nhân sự có nhiệm vụ tổng hợp nhu cầu tuyển dụng của
doanh nghiệp, đăng tuyển, tiếp nhận, sàng lọc và tổ chức phỏng vấn, lựa chọn ứng
viên phù hợp.
- Lập danh sách, chuẩn bị hồ sơ, hợp đồng lao động cho các ứng viên đã trúng
tuyển.
- Hướng dẫn, giới thiệu cho nhân viên mới về nội quy, quy định của doanh nghiệp.
- Theo dõi, quản lý hồ sơ của nhân viên, các hợp đồng lao động, các quyết định
thôi việc, nghỉ việc. Thực hiện tính toán lương, đăng ký vắng, đăng ký ca làm việc
theo mỗi ngày, xét thưởng, phạt, nâng lương cho nhân viên.
- Theo dõi, quản lý nhân viên sản xuất, nhân viên bán hàng.
• Bộ phận tài chính, kế tóan:
- Lập chứng từ, kiểm kê, bảo quản, lưu trữ các chứng từ kế toán của doanh nghiệp
theo đúng qui định.
- Thực hiện việc chi trả các vấn đề tài chính như mua dụng cụ văn phòng, dụng cụ
vệ sinh… tính toán và chi trả tiền lương, các khoản phụ cấp và các chế độ khác cho
nhân viên theo đúng hợp đồng lao động.
- Kiểm kê tiền hằng ngày theo quy định của doanh nghiệp.
- Thực hiện báo cáo đúng quy định, kiểm kê thường xuyên theo yêu cầu của chủ
doanh nghiệp.
• Bộ phận kinh doanh:
- Làm nhiệm vụ như một lễ tân văn phòng, giao tiếp với khách hàng đến với doanh
nghiệp hoặc trực điện thoại.

6
- Tư vấn khách hàng về các loại sản phẩm của doanh nghiệp, để khách hàng có thể
đưa ra lựa chọn tối ưu nhất.
- Ghi hóa đơn và giao hàng cho khách hàng.
• Bộ phận chào hàng:
- Quảng cáo, phát tờ rơi...để thu hút sự chú ý, quan tâm của khách hàng đang có
tiềm năng, cũng như mở rộng thị trường kinh doanh.
- Chào hàng qua điện thoại.
• Bộ phận chuyên chở, giao hàng:
- Có nhiệm vụ chuyên chở hàng hóa đến địa điểm đã quy định cho khách hàng.
Thu tiền tại nơi giao hàng (nếu khách hàng chưa thanh toán), đưa tiền thanh toán về
cho người bán hàng.
2.1.3 Tình hình nhân sự:
Trong một doanh nghiệp, nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất quyết định
các nguồn lực khác như vốn, cơ sở vật chất kĩ thuật,… Do vậy quản lý và sử dụng
lao động là công việc có vị trí quan trọng đối với mọi doanh nghiệp. Việc nghiên
cứu và phân tích quá trình quản lý, sử dụng lao động trong doanh nghiệp là hết sức
cần thiết. DNTN Thánh Tâm cũng đã chú trọng đến vấn đề này trong thời gian qua,
hằng năm doanh nghiệp luôn có bản theo dõi về lao động trong đó chỉ rõ về tổng số
lao động, trình độ lao động.
 Bảng thống kê trình độ của nhân viên tại công ty.
ĐVT:người
Trình độ chuyên môn Số lượng
Đại học 5
Cao đẳng 12
Trung cấp 23
12/12 60
Dưới 12 35
tổng cộng 135

2.2Quy trình sản xuất:


2.2.1Sơ đồ quy trình sản xuất

7
Tôn, thép
cuộn

Máy cán
Máy xả Thành
sóng Cắt, dập
cuộn phẩm

Sơ đồ quy trình sản xuất tôn bằng máy cán sóng và máy dập
Nguồn: bộ phận sản xuất
Nguyên
vật liệu

Máy xả Máy cán Thành


Cắt, dập
cuộn xà gồ xà gồ phẩm

Sơ đồ quy trình sản xuất xà gồ bằng máy cán xà gồ


Nguồn: bộ phận sản xuất

2.2.2Diễn giải quy trình sản xuất trải qua các giai đoạn là:
• Sản xuất tôn
- Tôn, thép cuộn được đưa qua máy dỡ cuộn, xả cuộn tự động (là bộ phận phụ đi
kèm máy cán tôn nhằm giúp lăn xả cuộn tôn với tốc độ phù hợp với tốc độ máy cán
tôn, hoặc dùng để sửa chữa những cuộn tôn bị méo do quá trình vận chuyển).
- Sau đó dựa theo yêu cầu về mẫu mã, quy cách của đơn đặt hàng mà đưa nguyên
vật liệu qua máy cán sóng thích hợp như tôn 5 sóng, 9 sóng, 11 sóng, sóng tròn,
sóng vuông, sóng ngói…Hiện tại doanh nghiệp có các loại máy cán sóng là cán 9
sóng, 11 sóng, 11 sóng vuông, sóng ngói, máy cán tôn hai tầng…tốc độ cán trung
bình dao động từ 12-18m/phút, tuy nhiên tốc độ cán còn phụ thuộc vào bước dập
(độ dài tôn ngắn thì cán nhanh hơn) và độ dày cán từ 0,3-0,8mm.

8
- Sau khi tôn qua giai đoạn cán sóng thì tiếp theo là dập hoặc cắt, dựa theo yêu cầu
về độ dài tôn của khách hàng mà dập hoặc cắt để hoàn thành sản phẩm.
- Với sự đa dạng về máy móc, doanh nghiệp đã đem lại cho người tiêu dùng nhiều
mẫu mã, kích thước để chọn lựa hơn. Góp phần đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi
khách hàng đồng thời mở rộng thị trường kinh doanh.
• Sản xuất xà gồ
- Ưu điểm của đòn tay thép (xà gồ) so với đòn tay gỗ là: chiều dài tùy ý, chất
lượng đồng đều, thẳng, ít bị biến dạng khi thời thiết thay đổi. Vì thế xà gồ thép đen
đang rất được ưu chuộng.
- Quy trình sản xuất xà gồ tương tự như quy trình sản xuất tôn. Nguyên vật liệu
sau khi qua máy xả cuộn (tốc độ xả cuộn phù hợp với máy cán) thì được đưa qua
máy cán xà gồ. Hiện doanh nghiệp có hai loại máy cán xà gồ, máy cán xà gồ C và
máy cán xà gồ Z. Khác với máy cán tôn, mỗi máy cán xà gồ C có thể tạo ra nhiều
loại sản phẩm xà gồ khác nhau, vận tốc cán trung bình từ 8-12m/phút. Đối với máy
cán xà gồ Z, thì có thể tạo ra được tất cả các kích thước xà gồ khác nhau, vận tốc
cán từ 8-12m/phút. Xà gồ được sản xuất với chiều dài cùng kích thước và vị trí các
lỗ đột theo yêu cầu thiết kế của khách hàng. Với 2 loại máy này thì doanh nghiệp
mang đến nhiều sự lựa chọn hơn cho khách hàng.

3.TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP


TRONG HAI NĂM:

9
3.1 MẶT HÀNG KINH DOANH:
Thống kê mặt hàng kinh doanh của công ty qua 2 năm,theo bảng sau:
ĐVT: (tỷ đồng)

STT MẶT HÀNG NĂM 2008 NĂM 2009

TỈ TỈ
GIÁ TRỊ TRỌNG GIÁ TRỊ TRỌNG
(%) (%)

1 Tôn 8,9 36,4% 11,13 40,8%

2 Xà gồ 5,97 24,42% 6,46 27,34%

3 Phôi 2,591 10,6% 3,24 11,87%

4 Thép 6,987 28,58% 6,452 19,99%

TỔNG 24,448 100% 27,282 100%


Nguồn:phòng kế toán

Nhận xét:
• Mặt hàng tôn năm 2009 tăng hơn so năm 2008 là 2,23 tỉ tương tứng tăng
12,51%. Là mặt hàng có doanh thu cao nhất và cũng chính là ngành hàng chủ
lực của công ty đạt 8,9 tỉ chiếm 36,4,1% trong tổng doanh thu của năm 2008
và đạt 11,13 tỉ chiếm 40,8% trong tổng doanh thu năm 2009.Nguyên nhân do
mặt hàng tôn là mặt hàng có ngay từ khi công ty thành lập nên các công nhân
trong công ty làm mặt hàng này với tay nghề chuyên môn cao,được ưa
chuộng rất nhiều trên thị trường bởi chất lượng và kiểu dáng
• Mặt hàng xà gồ năm 2009 tăng hơn so với năm 2008 là 0,49 tỉ tương ứng
tăng 8,2%.
• Mặt hàng phôi năm 2009 tăng hơn so với năm 2008 là 0,649 tỉ tương ứng
tăng 25,04%.
• Mặt hàng thép năm 2009 giảm hơn so với năm 2008 là 0,535 tỉ tương ứng
giảm 8,29%.Nguyên nhân làm doanh thu thép công ty giảm là do trên thị
trường thép nhập khẩu được nhập ồ ạt,làm giá thép giảm.

10
3.2 THỊ TRƯỜNG KINH DOANH:
Thống kê thị trường kinh doanh (chính) của công ty qua 2 năm, theo bảng sau:
ĐVT: (tỉ đồng)

NĂM 2008 NĂM 2009

STT THỊ TRƯỜNG TỶ TỶ


GIÁ TRỊ TRỌNG GIÁ TRỊ TRỌNG
(%) (%)

1 Đồng Nai 10,12 41,33% 11,65 42,7%

2 Bình Dương 8,06 33,18% 9,075 33,26%

3 Bình Phước 4,398 17,96% 4,69 20,12%

Các tỉnh miền


4 1,87 7,62% 1,867 3,92%
Tây

TỔNG 24,448 100% 27,282 100%


Nguồn: phòng kế toán
Nhận xét:
• Thị trường tại tỉnh Đồng Nai năm 2009 tăng hơn năm 2008 là 1,53 tỉ đồng
tương ứng tăng 15,12%.
• Thị trường tại tỉnh Bình Dương năm 2009 tăng hơn năm 2008 là 1,015 tỉ
đồng tương ứng tăng 12,6%.
• Thị trường tại tỉnh Bình Phước năm 2009 tăng hơn năm 2008 là 0,292 tỉ
đồng tương ứng tăng 6,64%.
• Thị trường tại các tỉnh miền tây năm 2009 giảm nhẹ so năm 2008 là 0,003 tỉ
đồng tương ứng tăng 0,16%.
Nguyên nhân làm 2 thị trường Đồng Nai và Bình Dương có doanh thu cao nhất
có do nhiều khu công nghiệp nên hay xây dựng nhà máy,xí nghiệp,cư dân 2 tỉnh
này đông,mức lương cao hơn
3.3 KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH:
Tình hình kinh doanh công ty qua 2 năm,theo bảng sau
ĐVT: (tỉ đồng )

STT THỊ TRƯỜNG NĂM 2008 NĂM 2009 2009/2008

11
TỈ
GIÁ TRỊ TRỌNG
(%)

1 DOANH THU 24,448 27,282 2,834 11,59%

2 CHI PHÍ 18,87 20,675 1,805 9,57%

3 LỢI NHUẬN 5,578 6,607 1,029 18,45%


Nguồn:Phòng kế toán
Nhận xét:
 Nhìn chung tất cả chỉ tiêu kinh doanh của năm 2009 đều tăng so năm
2008,cụ thể:
• Doanh thu năm 2009 tăng hơn so với năm 2008 là 2,834 tỉ tương ứng tăng
11,59%.
• Chi phí năm 2009 tăng hơn so với năm 2008 là 1,805 tỉ tương ứng tăng
9,57%.
• Lợi nhuận năm 2009 tăng hơn so với năm 2008 là 1,029 tỉ tương ứng tăng
18,45%.
 Tóm lại,mặc dù có rất nhiều đối thủ cạnh tranh hàng Việt cũng như hàng
nhập khẩu nhưng công ty vẫn cố gắng ổn định giá cả trên thị trường,không
tăng giá hàng loạt các sản phẩm.Và cùng với sự nỗ lực của tất cả nhân viên
công ty luôn giữ vững ổn định doanh thu và lợi nhuận tăng của năm sau so
với năm trước,luôn cố gắng đạt hoàn thành mục tiêu,kế hoạch đề ra.

4.CÁC QUY ĐỊNH CHUNG VỀ PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY, VỆ SINH


CÔNG NGHIỆP, MÔI TRƯỜNG…
4.1Quy định của công ty và bộ phận:

12
- Trong hoạt động PCCC lấy phòng ngừa là chính, phải tích cực và chủ động
phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất các vụ cháy xảy ra và thiệt hại do cháy gây
ra.
- Phải chuẩn bị sẵn sàng phương tiện và các điều kiện khác để khi có cháy xảy ra
thì có thể chữa cháy kịp thời, có hiệu quả như trang bị thiết bị chữa cháy.
- Kiểm tra bảo quản, bảo trì các phương tiện chữa cháy, các phương tiện chữa cháy
phải để ở nơi thuận tiện, dễ thấy, dễ lấy khi có trường hợp cần đến.
- Thường xuyên kiểm tra hệ thống điện, phát hiện và sửa chữa kịp thời các trường
hợp hỏng hóc về điện.
- Không để nước tiếp xúc với dây điện, nguồn điện.
- Quản lý chặt chẽ và sử dụng an toàn các chất cháy, chất nổ, nguồn lửa, nguồn
nhiệt, thiết bị và dụng cụ sinh lửa, sinh nhiệt, chất sinh lửa, sinh nhiệt, bảo đảm các
điều kiện an toàn về phòng cháy.
- Thường xuyên, định kỳ kiểm tra phát hiện các sơ hở, thiếu sót về phòng cháy và
có biện pháp khắc phục kịp thời.
- Cách ly thiết bị công nghệ có nguy hiểm cháy ra xa những thiết bị khác, cách ly
chất cháy với nguồn nhiệt.
- Không được mang các vật dụng dễ cháy nổ hay chất gây ô nhiễm vào nơi làm
việc.
- Cấm hút thuốc trong khu vực nhà xưởng để tránh cháy nổ.
- Trước khi ra về phải kiểm tra nơi làm việc và tắt hết các thiết bị điện, nước…
- Các khu vực làm việc phải được dọn dẹp sạch sẽ, quét rác, lau bụi bẩn khoảng 2
đến 3 lần. Vứt rác đúng nơi quy định. Các thùng rác phải được thu gom ngay khi
đầy hoặc thu gom theo ngày.
- Nhà vệ sinh phải được lau chùi sạch sẽ. Sau khi sử dụng nước ở nhà vệ sinh thì
phải khóa lại cẩn thận.
4.2Quy định tại công đoạn sinh viên làm việc:
- Đi làm đúng giờ sáng từ 7h30-11h30. chiều từ 1h-5h
- Không có quy định đối với việc mặc đồng phục nhưng khi đi làm thì ăn mặc
lịch sự.
- Không ăn uống, hút thuốc, xả rác, khạc nhổ làm mất vệ sinh nơi làm việc.

13
- Phải giữ gìn vệ sinh sạch sẽ và gọn gàng nơi làm việc của mình.
- Phải bảo quản tốt các thiết bị, dụng cụ được cung cấp để làm việc.
- Có thái độ lịch sự với khách hàng.
- Khi nghỉ thì phải xin phép trước một ngày.

5. THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA CÔNG TY TRONG THỜI GIAN


QUA:
5.1 Thuận lợi:
Trong quá trình hoạt động doanh nghiệp có những thuận lợi như:
- Đơn hàng tăng lên do doanh nghiệp có thế mạnh về sản xuất, chất lượng sản
xuất, sản phẩm tốt và giao hàng đúng ngày, đúng thời hạn thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng.
- Có vị trí tương đối tốt, thuận lợi việc cho việc giao dịch buôn bán và chuyên chở
hàng hóa đến với khách hàng.
- Đồng Nai và Bình Dương hiện nay là hai tỉnh có các khu công nghiệp lớn, các
trường đại học lớn, thu hút nhiều người khắp nơi đến đầu tư, buôn bán, làm ăn, học
hành nên nhu cầu về nhà ở là rất lớn vì vậy nhu cầu về vật liệu xây dựng cũng theo
đó ngày càng tăng để phục vụ việc xây dựng, xây dựng nhà riêng cũng như các
công trình khác như nhà liên kế, nhà trọ cho công nhân, sinh viên tỉnh lẻ, căn hộ cho
người có thu nhập thấp, các nhà xưởng, kho bãi…do đó đơn đặt hàng đã tăng lên.
- Doanh nghiệp có một đội ngũ lao động lành nghề, kỹ thuật, chuyên môn nghề
nghiiệp khá tốt…tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.
5.2 Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên thì doanh nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn
như:
- Có nhiều sự cạnh tranh từ nhiều doanh nghiệp khác, nhất là các doanh nghiệp,
công ty cùng ngành sản xuất kinh doanh.
- Gía cả nguyên vật liệu đột ngột tăng cao, trong khi đã nhận đơn đặt hàng làm dẫn
đến việc giảm lợi nhuận.

14
- Chỉ sử dụng hệ thống tài chính kế toán cho mục đích báo cáo thuế, chưa xem hệ
thống trên là một công cụ rất hiệu quả, có thể giúp hiểu biết về cấu thành giá, phân
tích tài chính hoặc cho việc kiểm soát nội bộ…

6.PHƯƠNG HƯỚNG TRONG THỜI GIAN TỚI CỦA DOANH NGHIỆP:


- Khắc phục những yếu điểm của việc kinh doanh hiện tại như không đáp ứng kịp
nhu cầu khách hàng trong những lúc cao điểm…gia tăng lợi nhuận và đồng thời mở
rộng thị trường.
- Có một chiến lược kinh doanh phù hợp để có thể tồn tại vững vàng hơn, đồng
thời phát triển những dịch vụ cộng thêm.
- Khẳng định thương hiệu riêng dù là thương hiệu cá nhân, vì thương hiệu cá nhân
cũng là một phần quan trọng trong việc hoạt động kinh doanh lớn cũng như nhỏ.
- Luôn mang đến cho khách hàng những sản phẩm chất lượng cao cùng dịch vụ
chăm sóc khách hàng hoàn hảo.
- Vì khách hàng luôn hướng đến việc thỏa mãn tối đa các nhu cầu chưa được đáp
ứng của họ theo cách tối ưu và giá thấp nhất có thể nên phải chứng minh cho khách
hàng thấy rằng nhu cầu của họ được đáp ứng nhanh chóng và tốt hơn nếu họ mua
sản phẩm hay dịch vụ của doanh nghiệp mình thay vì của các doanh nghiệp khác.
- Xây dựng lòng tin nơi khách hàng tiềm năng đồng thời tăng doanh số bán hàng.
Để tiến gần hơn đến việc bán hàng thành công, cần phải đưa ra những thông tin, dữ
liệu chứng minh cho khách hàng tiềm năng thấy rằng họ không phải là người đầu
tiên sử dụng sản phẩm mà đã có rất nhiều người hài lòng khi chọn sản phẩm này.
Một trong những kỹ năng thuyết phục tối ưu nhất hiện nay là “bằng chứng xã hội”.
Hầu hết mọi người đều bị ảnh hưởng bởi những gì người khác đã làm hay đang làm.
Mọi người không ngần ngại bỏ tiền ra mua một sản phẩm hay dịch vụ khi biết rằng
những người khác đã từng mua và rất hài lòng về sản phẩm hay dịch vụ .

CHƯƠNG II
CÔNG VIỆC ĐƯỢC GIAO TẠI CƠ QUAN LAO ĐỘNG

15
1. TÊN CÔNG VIỆC:
Công việc ở bộ phận kinh doanh:
Tuần đầu em được giao công việc ở phòng nhân sự, nhưng do chủ doanh nghiệp
nhận thấy bộ phận kinh doanh đang cần thêm người nên sang tuần thứ hai em được
giao làm việc như nhân viên kinh doanh. Công việc kinh doanh bao gồm:
- Đại diện, tiếp xúc với các khách hàng tới mua hàng, đặt hàng.
- Trực điện thoại, tư vấn khách hàng qua điện thoại nếu khách hàng có nhu cầu.
- Ghi hóa đơn, xuất hóa đơn, nhận tiền thanh toán hóa đơn, yêu cầu xuất hàng,
giao hàng cho khách hàng.

2. MÔ TẢ CÔNG VIỆC:
2.1. Quy trình công việc:

Tư vấn cho
khách hàng

Ghi hóa đơn


bán lẻ

Nhận tiền
Xuất hóa
thanh toán Xuất hàng Giao hàng
đơn bán lẻ
hóa đơn

2.2. Diễn giải quy trình:


- Khi khách hàng đến mua hàng thì tiếp xúc với khách hàng, tư vấn, giới thiệu cho
khách hàng những tính năng của các loại tôn, xà gồ…làm ở bộ phận bán hàng nên
em phải tìm hiểu để biết các loại tôn, tính năng, giá cả…của các mặt hàng mà doanh
nghiệp đang kinh doanh để có thể giải đáp những thắc mắc của khách hàng.
- Điển hình như giới thiệu về tôn lạnh: tôn lạnh rất dày do đó nhiệt sẽ không truyền
hết hoàn toàn xuống phần không khí bên dưới tấm tôn, làm cho không khí bên dưới

16
tấm tôn vẫn không bị nóng lên. Thêm một yếu tố nữa là tôn lạnh không được cấu
tạo hoàn toàn bởi kim loại như những loại tôn bình thường nên nhiệt cũng khó
truyền qua lớp tôn. Tôn lạnh có giá khoảng từ 62.500-65.000đ/m2.
- Hoặc về tôn kẽm như: với một lớp kẽm mỏng được phủ lên trên bề mặt kim loại
bằng quá trình nhúng nóng, các sản phẩm tôn mạ kẽm được bảo vệ cách ly khỏi môi
trường xung quanh để chống rỉ sét, bảo đảm độ bền cho kim loại nền. Tôn mạ kẽm
có nhiều ứng dụng như tôn lợp mái, kho hàng, nhà xưởng. Sản phẩm 7 sóng vuông
thường có bề rộng 0.82m, sản phẩm 9 sóng vuông thì có bề rộng 1.07m, sản phẩm
12 sóng tròn thì có bề rộng 1.10m. Hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng tôn mạ
kẽm bông thường và bông nhỏ để sản xuất tôn. Đối với tôn mạ kẽm bông nhỏ thì bề
mặt rất lâu xuống màu nên được ưu chuộng nhiều hơn. Tôn kẽm sẽ được cắt theo
quy cách yêu cầu của khách hàng, cung cấp cho các công trình lớn nhỏ như dân
dụng, công nghiệp…
- Sau khi bộ phận kế toán tộng hợp, tính toán ra giá thành sản phẩm thì lập bảng
báo giá, cập nhập giá thay đổi… Để kịp thời giải đáp cho khách hàng hoặc cung cấp
cho khách hàng bảng báo giá.
- Đưa khách hàng đi tham quan các sản phẩm nếu họ có yêu cầu.
- Nếu khách hàng chưa quyết định có mua sản phẩm của doanh nghiệp hay không
thì tiếp tục tư vấn và cho khách hàng số điện thoại để tiện việc liên lạc khi họ có
nhu cầu mua hàng hóa của doanh nghiệp.
- Khi khách hàng có nhu cầu mua hàng rồi thì viết hóa đơn bán hàng (1 xấp giấy
ghi hóa đơn gồm 100 tờ, nếu trong khi ghi chép có sai xót thì xé tờ hóa đơn đó ra,
giữ lại và báo cho trưởng bộ phận để ghi nhận lại, sau đó mới ghi hóa đơn khác cho
khách hàng), nhận tiền thanh toán hóa đơn, thối tiền (đầu mỗi ngày làm việc nhân
viên bán hàng được cấp cho 500.000đ tiền lẻ để thối tiền cho khách), xuất hóa đơn,
đưa tới kho hàng, yêu cầu xuất hàng (quản kho sẽ ký vào hóa đơn, xác nhận đã xuất
hàng) và giao hàng.
- Đối với dơn đặt hàng có số lượng lớn thì nhận đơn đặt hàng và đưa cho chủ
doanh nghiệp kiểm tra để sắp xếp việc sản xuất.
- Sau khi chủ doanh nghiệp đã kiểm tra và ký duyệt thì đưa đơn hàng đến bộ phận
sản xuất để sản xuất theo đơn hàng, trong trường hợp có nhiều đơn hàng cùng lúc

17
thì đơn hàng nào đặt trước thì giao trước, hoặc đơn hàng yêu cầu giao gấp thì giao
trước…và ghi vào sổ theo dõi đơn đặt hàng (tên khách hàng, số điện thoại, ngày đặt
hàng, ngày yêu cầu giao hàng, địa điểm giao hàng, đã thanh toán tiền hay chưa,
phương thức thanh toán…) Nếu khách hàng chưa thanh toán tiền khi đặt hàng thì sẽ
nhận tiền thanh toán khi hàng hóa đã được vận chuyển đến nơi quy định. Nhân viên
chuyên chở sẽ nhận tiền, khách hàng ký tên vào hóa đơn thanh toán, và đưa tiền về
doanh nghiệp. Sau đó người bán hàng nhận tiền thanh toán và hóa đơn đã có chữ ký
của khách hàng (đã nhận hàng) từ dịch vụ chuyên chở, và đánh dấu vào sổ theo dõi
đơn hàng, hàng hóa đã được giao và hóa đơn đã được thanh toán.
- Phải giữ tất cả các hóa đơn, đơn đặt hàng, chứng từ liên quan.
- Cuối ngày làm việc thì kê tiền (kê tiền hóa đơn và tiền lẻ), kiểm tra, cộng tiền các
hóa đơn để cuối cùng tổng tiền mặt thanh toán phải bằng tổng tiền khách hàng đã
thanh toán được ghi trên hóa đơn và phải dư ra 500.000đ tiền lẻ đầu ngày được giao
3. KIẾN THỨC, CHUYÊN MÔN CẦN ĐỂ LÀM VIỆC:
- Tin học: giúp em nhập các dữ liệu, hóa đơn, liên lạc với khách hàng qua email…
- Bên cạnh những môn học chuyên nghành thì một số kỹ năng thường ngày như xử
lý tình huống, giao tiếp tốt…cũng rất quan trọng. Quan trọng và cần thiết vì giao
tiếp tốt sẽ tạo các mối quan hệ tốt với khách hàng. Phát triển và duy trì mối quan hệ
bền vững với khách hàng sẽ giúp doanh nghiệp có niềm tin nơi khách hàng và việc
bán hàng sẽ trở nên thuận lợi hơn.
- Kỹ năng lắng nghe cũng quan trọng không kém, kỹ năng này nghe tưởng chừng
như đơn giản nhưng lại là thành phần quan trọng tạo nên quan hệ tốt đẹp giữa người
bán hàng và khách hàng.
- Đoán biết được nhu cầu của khách hàng. Nếu biết được tâm lý và nhu cầu của
khách hàng thì chúng ta sẽ có thể giới thiệu ra những sản phẩm làm vừa lòng họ.
Ngược lại, công việc sẽ không đạt kết quả gì nếu không đánh trúng vào tâm lý của
khách hàng.
- Trong quá trình làm việc tại doanh nghiệp không tránh khỏi những sai lầm, thiếu
xót…vì vậy em mong muốn sẽ tiếp tục trao dồi một số kỹ năng cần thiết như trên
như kỹ năng giao tiếp, tư vấn khách hàng…để có thể xử lý các tình huống phát sinh
trong công việc được tốt hơn.

18
4. MỐI QUAN HỆ ĐỐI VỚI CÁC BỘ PHẬN, LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG
VIỆC ĐƯỢC GIAO TRONG DOANH NGHIỆP:
- Bộ phận sản xuất: theo dõi về tiến độ sản xuất, số lượng thành phẩm để xuất
hàng, giao hàng cho khách hàng theo hóa đơn dặt hàng đúng thời gian.
- Bộ phận kế toán: sau khi xuất hóa đơn, nhận tiền thanh toán hóa đơn xong thì giữ
tiền và hóa đơn, cuối ngày kiểm tra lại tiền và hóa đơn để đưa cho kế toán.
- Bộ phận bán hàng: vì bản thân em làm ở bộ phận bán hàng nên phải luôn học hỏi
từ những anh, chị đồng nghiệp khác.

CHƯƠNG III
ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH LAO ĐỘNG THỰC TẾ

19
1. NHẬN XÉT:
- Qua quá trình lao động thực tế em nhận thấy rằng công việc được giao tại doanh
nghiệp đã tạo điều kiện cho em vận dụng những kiến thức đã học tại trường vào
công việc của mình. Người ta thường nói “học đi đôi với hành” hay “trăm hay
không bằng tay quen”, vì thế học thôi chưa đủ phải biết thực hành, ứng dụng những
gì mình học vào thực tế. Nhờ được tham gia lao động thực tế em đã rút ra một số
bài học, kinh nghiệm nho nhỏ cho bản thân mà nếu chỉ ngồi trên ghế nhà trường thì
em không thể nào có được. Đồng thời nhờ sự hỗ trợ, giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của
các anh chị đồng nghiệp mà em đã hoàn thành công việc được giao tốt hơn, góp
phần thuận lợi để hoàn thành bài báo cáo thực tập này.
1.1. Nghề nghiệp bản thân:
- Qua quá trình tham gia lao động thực tế tại doanh nghiệp em đã học hỏi được
nhiều điều như quy trình sản xuất, quy trình làm việc thực tế, những nhiệm vụ, chức
năng của từng bộ phận, phòng ban…
- Trước đây em rất rụt rè, nhút nhát nhưng công việc được giao tại doanh nghiệp
đã giúp em mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp, linh hoạt và nhanh nhẹn hơn,
“nghề dạy nghề” là vậy.
- Giúp em có thêm một số kinh nghiệm về bán hàng.
1.2. Mối quan hệ giữa cá nhân, đồng nghiệp, tổ, bộ phận và doanh
nghiệp, công ty nơi tham gia công việc:
- Trong quá trình lao động thực tế nếu không có sự giúp đỡ của các anh chị đồng
nghiệp cùng bộ phận thì em sẽ không thể hiểu cặn kẽ những công việc phải làm và
phải làm như thế nào, giúp đỡ em trong việc giải đáp những thắc mắc của khách
hàng, giải quyết những rắc rối trong công việc cũng như những vấn đề phát sinh từ
phía khách hàng. Sự nhắc nhở của chị trưởng bộ phận đã giúp em hoàn thành tốt
việc ghi chép sổ sách, hóa đơn, đơn hàng, kiểm hóa đơn, kê tiền thanh toán để cuối
ngày quyết toán tiền cho bộ phận kế toán…
- Phải luôn học hỏi từ những người có kinh nghiệm, các đồng nghiệp. Tuy nhiên
không phải lúc nào cũng hỏi hay thắc mắc, tự bản thân phải quan sát, lắng nghe để
tự tìm hiểu, điều đó cũng rất quan trọng, vì mỗi người đều có công việc riêng,

20
không phải lúc nào cũng có thể sẵn sàng trả lời, giải đáp hay giúp đỡ cho mình
được, vì vậy tự tìm hiểu cũng rất quan trọng.
- Trong thời gian đi học em cũng đã đi làm việc bán thời gian vì vậy em nghĩ xây
dựng mối quan hệ tốt với đồng nghiệp là rất quan trọng. Làm việc cùng phòng, sinh
hoạt cùng cơ quan, tổ chức thì khó tránh khỏi những va chạm với đồng nghiệp. Nếu
công việc hợp với em, mức lương cao… nhưng mối quan hệ với đồng nghiệp không
tốt thì sẽ cảm thấy chán nản và dễ dẫn đến việc bỏ việc, trên thực tế em thấy đã có
nhiều trường hợp nhân viên phải tự xin nghỉ làm vì quan hệ lao động không tốt.
Quan trọng là luôn vui vẻ, hòa đồng với tất cả mọi người xung quanh, khi có căng
thằng hay hiềm khích thì nên nhường nhịn và tìm cách hòa giải những hiểu lầm để
tìm lại sự vui vẻ, hòa đồng trong tập thể. Khả năng hoà hợp với mọi người không
chỉ giúp cho công việc trôi chảy hơn mà sự nghiệp của bản thân cũng được cải
thiện. Ngoài ra, các công ty luôn tìm kiếm các cá nhân có thể hợp tác thành công
với đồng nghiệp, kể cả những người khó tính nhất. Do đó, “tâm đầu ý hợp” với
đồng nghiệp thì cơ hội nghề nghiệp sẽ được mở rộng hơn.
1.3. Về lao động. PCCC, vệ sinh môi trường:
- Hầu hết các nhân viên luôn tuân thủ quy định làm việc tại doanh nghiệp, không
đi trễ, về sớm, không nói chuyện nhiều trong quá trình làm việc để không ảnh
hưởng đến năng suất, tiến độ sản xuất. Doanh nghiệp có đội ngũ lao động trẻ chiếm
đa số nên tạo môi trường năng động trong quá trình làm việc. Tuy nhiên thỉnh
thoảng cũng có một số trường hợp như nhân viên đánh bài, nhậu nhẹt trong giờ nghỉ
trưa mà không nghỉ ngơi dẫn đến làm việc mệt mỏi, chậm chạp trong ca chiều, hoặc
bỏ luôn ca chiều, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất…
- Vấn đề phòng cháy chữa cháy là vấn đề rất được quan tâm, với phương châm
“phòng cháy hơn chữa cháy”, doanh nghiệp luôn chuẩn bị sẵn sàng phương tiện và
các điều kiện khác để có thể chữa cháy kịp thời và có hiệu quả, vì một khi cháy xảy
ra thì rất khó khắc phục hậu quả, kèm theo đó là thiệt hại về tài sản cũng như thiệt
hại về con người là rất lớn.
- Nhân viên của doanh nghiệp có ý thức trách nhiệm về giữ gìn vệ sinh chung, bảo
vệ môi trường làm việc được thoáng mát, sạch sẽ. Nhất là khu vực tiếp khách phải
luôn sạch sẽ, gọn gàng ngăn nắp.

21
2. KẾT QUẢ THU HOẠCH TRONG QUÁ TRÌNH THAM GIA LAO
ĐỘNG:
2.1. Thu hoạch:
- Qua thời gian lao động thực tế em đã tìm hiểu được về quy trình sản xuất, làm
việc của các phòng ban, các vấn đề phát sinh có thể gặp phải trong công việc, cách
giải quyết…
- Luôn có tinh thần học hỏi, cầu tiến.
- Nếu có thắc mắc gì thì mạnh dạn hỏi.
- Quan sát cũng là một cách học hỏi rất hay và hiệu quả. Chiu khó để ý, quan sát
các đồng nghiệp làm việc, cách thức họ làm việc như thế nào, cách giải quyết các
vấn đề phát sinh…để rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân.
- Quá trình đi lao động thực tế còn giúp em hiểu biết nhiều hơn về cách thức xã
giao ngoài xã hội mà khi còn đi học môi trường chỉ gói gọn trong trường lớp, bạn
bè, thầy cô và gia đình. Cách thức xã giao ngoài xã hội khác với cách thức nói
chuyện thường ngày với bạn bè hay gia đình rất nhiều. vì chuyên ngành em học là
quản trị kinh doanh nên yếu tố giao tiếp tốt, quan hệ rộng là rất quan trọng.
- Công việc bán hàng cũng giúp em vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, giúp
em phát huy được khả năng ngoại ngữ của mình, điều mà khi học ở trường hầu như
em không thể thực hiện được vì không có môi trường giao tiếp tiếng anh, thêm nữa
còn giúp em có động lực tự học hỏi để hỗ trợ cho công việc, giúp em không quên đi
những kiến thức đã học.
- Những kinh nghiệm trong việc bán hàng. Cụ thể như: tư vấn cho khách hàng
nhưng không tỏ thái độ nài ép vì khách hàng luôn muốn tự do chọn lựa sản phẩm
nào thích hợp với mình nhất. Một người bán hàng với tính cách thoải mái, gần gũi
thì dễ dàng tạo thiện cảm và kết giao bạn bè với những người chưa quen biết ở bất
cứ nơi nào họ đến. Chính sự gần gũi đó sẽ tạo nên điều kiện thuận lợi cho việc bán
hàng cũng như kinh doanh. Vì thực tế nếu chúng ta đến một nơi nào đó như trung
tâm anh văn, trung tâm vi tính để đăng ký học nhưng nhân viên có thái độ lầm lì,
không chịu mở miệng trả lời bất cứ câu hỏi nào…thì điều đó khiến cho chúng ta
khó chịu, mất cảm tình và lần sau nhất định không muốn tới đó nữa…

22
2.2. Những việc chưa làm được:
- Vì lần đầu làm công việc bán hàng nên em hơi lúng túng vì không biết phải làm
gì, làm việc không nhanh chóng, hiệu quả. Kiến thức chuyên ngành về quản trị hầu
như không được áp dụng vào thực tế việc làm em được giao. Thiếu kỹ năng về thực
tế nên em có phần tiếp thu chậm.
- Ngoài ra công việc bán hàng còn đòi hỏi kỹ năng giao tiếp mà em lại rất hay ngại
ngùng nên thời gian đầu em làm việc không tốt. Luôn phải nhờ đến sự giúp đỡ của
các anh, chị đồng nghiệp khác.
2.3. Sự hỗ trợ của giáo viên đối với sinh viên trong quá trình lao động
thực tế
- Trong quá trình lao động thực tế em đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của thầy
Hòa, phụ trách sinh viên lao động thực tế. Nơi em thực tập đầu tiên là tại siêu thị
Coopmart, làm thu ngân. Nhưng sau đó do một số vấn đề em đã xin chuyển sang
doanh nghiệp tư nhân Thánh Tâm và đã được thầy Hòa chấp nhận cũng như giúp đỡ
em. Nhờ sự giúp đỡ của thầy em đã có nơi tham gia lao động thực tế phù hợp tạo
điều kiện thuận lợi để em làm báo cáo sau này. Cũng nhờ sự giúp đỡ của cô Phạm
Tuyết Minh, đã giúp em sửa lỗi sai, hướng dẫn các chi tiết cần thiết để em có thể
hoàn thành bài báo cáo được tốt hơn.

3. KIẾN NGHỊ:
3.1 CƠ QUAN LAO ĐỘNG:
Qua thời gian tham gia lao động thực tế tại doanh nghiệp tư nhân Thánh Tâm em có
một số kiến nghị như sau:
- Doanh nghiệp nên lắp hệ thống điều hòa ở phòng tiếp khách tạo cảm giác thoải
mái, dễ chịu cho khách hàng.
- Luôn chú trọng đến vấn đề vệ sinh và sự ngăn nắp, gọn gàng nơi làm việc.

3.2 VỚI KHOA/ TRƯỜNG:


Qua thời gian học tập tại trường đại học Lạc Hồng em có một số kiến nghị như
sau:

23
- Nhà trường nên đưa vào những môn học thiết thực hơn còn một số môn
không thật sự cần thiết thì nên giảm tải bớt như vậy sinh viên sẽ có hứng thú học
hơn, tự nguyện học hơn là bắt buộc phải học nhưng cuối cùng học xong, thi
xong thì không nhớ gì. Một lần em có tham gia “Ngày hội việc làm” của Trung
Tâm Giới Thiệu Việc Làm tỉnh Đồng Nai, ở đó có rất nhiều doanh nghiệp tuyển
lao động tại chỗ, phỏng vấn tại chỗ, em đến để có thể học hỏi kinh nghiệm khi đi
phỏng vấn, những câu hỏi thường gặp khi đi phỏng vấn…và thật tình cờ em đã
nghe một nhà tuyển dụng ở Bình Dương nói với một người xin lao động rằng
sinh viên trường Lạc Hồng rất yếu về kỹ năng làm việc, kỹ năng giao tiếp…Và
em đã có ý nghĩ rằng đi học cũng chỉ để làm việc vì vậy em nghĩ tại sao không
có những môn học như kỹ năng giao tiếp, đàm thoại…kèm theo đó là những
buổi thảo luận sôi nổi giữa các sinh viên, còn giáo viên sẽ là người hướng dẫn.
Vì khi em đi thực tập em thấy các môn chuyên nghành em đã học hầu như chưa
thấy được áp dụng vào thực tế công việc em được giao.
- Nên có những buổi tham quan công ty, nhà xưởng…cho sinh viên trong thời
gian đi học, kèm theo đó nên có người hướng dẫn, dẫn dắt sinh viên để giúp sinh
viên có những ý thức cụ thể và làm quen dần với môi trường làm việc sau này
đồng thời giúp ích cho việc học tập. Hoặc có thể cho sinh viên thực tập nhiều
đợt trong các tháng hè để rút ngắn thời gian học tập.
Qua thời gian tham gia lao động thực tế thì em có một số kiến nghị sau:
- Nhà trường nên tìm hiểu kỹ về công ty sẽ gửi sinh viên vào thực tập như môi
trường làm việc và nhất là công việc sinh viên được giao tại nơi thực tập. Em
thấy rằng khi đi làm việc thì mình luôn bị cấp trên sai bảo làm rất nhiều những
việc lặt vặt không tên, điều đó không có gì sai trái vì dù là nhân viên chính thức
thì cũng như vậy, nhưng nếu chỉ làm những việc lặt vặt thì sinh viên sẽ chẳng
tiếp thu được gì nhiều, trong khi tiêu chí của lao động thực tế là làm việc và học
hỏi từ công việc giúp cho sinh viên có thể vững bước trên con đường đi làm sau
này. Nên có thỏa thuận về thời gian làm việc hợp lý cho sinh viên vì dù là năm
cuối nhưng cũng có những bạn phải đi học buổi tối như học lại, học anh văn, vi
tính…thêm làm báo cáo thực tập mà việc xin số liệu không phải dễ dàng làm
sinh viên rất mệt mỏi và dễ dẫn đến chán nản.

24
- Nhà trường nên linh động giải quyết một số trường hợp chuyển chỗ thực tập
(sau tháng đầu) vì không phải trong tháng đầu thực tập thì tất cả sinh viên sẽ
thấy hết những bất tiện của mình.
- Luôn cập nhật những thông tin mới nhất về học tập cũng như các vấn đề liên
quan đến lao động thực tế để tất cả các sinh viên đều có thể nắm được thông tin.

Lời kết

25
Với nhịp độ phát triển kinh tế nước ta như hiện nay,đời sống của người dân đã
được thay đổi.Bây giờ cuộc sống không còn là ăn no, mặc ấm, không còn câu “ăn
nhiều ở bao nhiêu”mà phải là ăn ngon, mặc đẹp, đúng mốt,nhà cao cửa rộng vì vậy
kinh doanh tôn thép phục vụ việc xây dựng là loại hình kinh doanh đúng đắn phù
hợp với xu thế trong thời buổi kinh tế hiện nay.
Qua thời gian thực tế và học tập công việc tại công ty cùng với những kiến thức
lí thuyết đã học tại trường đã giúp em có được một hành trang có thể bước vào môi
trường làm việc chính thức.Và bài báo cáo này chính là kết quả của sự học tập và
trải nghiệm thực tế đó.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn đến giáo viên hướng dẫn cô Phạm Tuyết
Minh,ban điều hành và các anh chị nhân viên trong bộ phận kinh doanh của DNTN
Thánh Tâm đã giúp em hoàn thành bài báo cáo này .

26
27