You are on page 1of 25

Sức mạnh của tinh thần (Phần I)

Bài viết gồm bốn phần mô tả ảnh hưởng của tinh thần tới sức khỏe của con người: nó làm cho chúng ta khỏe mạnh hay
bệnh tật, và đưa ra biện pháp để khai thác khả năng này.

Phần I: Những điều chúng ta có thể học được từ các nhà khoa học và các nhà thần học

Hai khái niệm cốt lõi tách biệt phép chữa đối chứng của Tây y dựa trên phương pháp điều trị bằng Tây dược qua việc
chuẩn đoán so với các phương pháp chữa bệnh cổ truyền chính là: 1) sự chia tách giữa tinh thần với thể xác 2) quan
điểm cho rằng “tự nhiên” có thể được giải thích theo khía cạnh vật chất. Mặt khác, mọi phương thức chữa bệnh cổ
truyền không tuân theo phép chữa đối chứng cho thấy sự liên kết vốn có giữa tinh thần và thể xác. "Bệnh tật" không chỉ
do các yếu tố trên cơ thể con người mà suy nghĩ và cảm xúc cũng là những nguyên nhân gây bệnh. Việc chữa bệnh đòi
hỏi cần phải giải quyết các nhân tố này. Khỏe mạnh không phải chỉ là đơn thuần là có một cơ thể mạnh khỏe.

Ý nghĩ chính là những rung động mạnh, có thể làm chúng ta khỏe mạnh hoặc bệnh tật. Suy nghĩ tiêu cực có thể làm cho
con người bị nhiễm bệnh. Những suy nghĩ tích cực có thể chữa lành bênh tật và thay đổi sống của chúng ta. Các khái
niệm này không bắt nguồn từ lĩnh vực khoa học giả tưởng. Trên thực tế, phần lớn nghiên cứu khoa học đều có nhiều
minh chứng để ủng hộ cho những nguyên tắc này.

Các nhà nghiên cứu thuộc lĩnh vực vật lý và kỹ thuật đã tiến hành các thí nghiệm về những ảnh hưởng sâu sắc của tinh
thần tới thế giới vật chất - suy nghĩ có thể ảnh hưởng đến chúng ta như thế nào [1].

Trong hơn 25 năm, các nhà khoa học thuộc phòng thí nghiệm nghiên cứu Princeton: các hiện tượng bất thường trong kỹ
nghệ thuộc Đại học Princeton (PEAR) đã chứng minh được mối tương quan chặt chẽ giữa ý thức chủ quan của con
người và các hoạt động của máy móc. Họ khám phá ra rằng chỉ qua việc nghĩ trong đầu những con số theo một hướng
nhất định, những người bình thường không qua huấn luyện có thể tác động đến kết quả của các bộ tạo số ngẫu nhiên
làm bằng cơ hay điện tử. Các hiệu ứng này đã được xác nhận là độc lập về không gian và thời gian. Chúng cũng xảy ra
khi bản thân người tác động ở cách xa hàng vạn dặm [2].

Những ý tưởng này có cách đây hàng thiên niên kỷ và có gốc rễ từ nhiều truyền thống phong tục cổ xưa trên thế giới.
Tuy nhiên, y học theo phép chữa đối chứng của Tây y thường bỏ qua những khái niệm này. Hầu hết các bác sĩ không
nghiên cứu vật lý cao cấp khi học đại học hay đại học y khoa.

Các mô hình này ảnh hưởng đáng kể tới sự hiểu biết của chúng ta về thế giới tự nhiên, và các nhà vật lý học trở nên gần
với các nhà triết học hơn. Quan điểm mới về thiên nhiên gần giống với các truyền thống cổ xưa, các phương pháp chữa
bệnh cổ truyền của nhiều nền văn hóa khác nhau trên thế giới cũng như quan điểm thần bí, không theo triết lý Descartes
về cuộc sống.

Y học sử dụng phép chữa vi lượng đồng cân, một phương pháp y học cổ truyền của phương Tây có nguồn gốc lâu đời,
dựa trên quy luật tương đồng, điều trị cho bệnh nhân dựa theo các biểu hiện về tinh thần, tình cảm và thể chất.

Y học cổ đại Trung Hoa và Ayurveda (y học cổ truyền Ấn Độ) đã chỉ ra mối liên hệ giữa các triệu chứng của cơ thể với
trạng thái cảm xúc. Trong y học Trung Hoa thì Tạng Phổi là nơi chứa của tâm u sầu; Tạng Can (gan) là nơi chứa sự
giận dữ và Tạng Thận là nơi chứa của sợ hãi. Trong Y học cổ truyền Ấn Độ, Vata (ứng với tạng người gầy; kết hợp giữa
Ánh Sáng và Gió) liên quan chứng viêm khớp và sự lo lắng; pitta (tạng người vừa phải; kết hợp giữa Lửa và Nước):
ung nhọt và sự giận dữ. Thậm chí chỉ suy nghĩ về sự tách biệt giữa các nhân tố này thì đã là hoang tưởng rồi.

Trong phần II, sự phân tách giữa y học tuân theo phép chữa đối chứng của phương Tây và khái niệm về mối quan hệ
vốn có giữa thể xác và tinh thần sẽ được trình bày chi tiết.

Tài liệu tham khảo:

1. Tiller, WA, Khoa học và những thay đổi của con người: Năng lượng vi quan, ý muốn và nhận thức. Walnut Creek,
CA: Pavior xuất bản; 1997
2. Jahn, RG, và Dunne, BJ, Các giới hạn của thực tại: Vai trò của nhận thức trong thế giới vật chất. New York, NY:
Harcourt Brace; 1997

Tiến sĩ Muehsam là một bác sĩ làm việc tại thành phố New York.

Trước giai đoạn lên ngôi của “đế chế” tân dược với hàng loạt những mời chào về khả năng điều chỉnh các trục trặc trên
cơ thể chúng ta, thì những nhà trị liệu chính là những thầy thuốc ngộ đạo. Voltaire đã mô tả vai trò của người trị liệu
như là những người pha trò giải trí, giúp cho bệnh nhân cảm thấy vui vẻ trong một khoảng thời gian đủ lâu để thiên
nhiên có thể chữa lành bệnh tật. Ngài William Osler, người được coi là một trong những người sáng lập nền y học Tây
phương tuân theo phép chữa đối chứng, cho rằng điều quan trọng là tìm hiểu về người bệnh nhân đang mang bệnh hơn
là về căn bệnh mà họ mắc phải.

Tuy nhiên, y học tuân theo phép chữa đối chứng của phương Tây không thực hiện công việc chữa lành bệnh. Thay vào
đó, nó là một hệ thống “chăm” bệnh. Thật tự nhiên là mô hình y học tuân theo phép chữa đối chứng của phương Tây
làm cho người ta bị bệnh và nó nuôi bệnh. Thật vậy, phương pháp dùng để chữa trị các căn bệnh mãn tính không mang
lại kết quả chữa lành bệnh. Tây dược chỉ đơn thuần là ngăn chặn các triệu chứng, can thiê êp vào cơ chế chữa bệnh tự
nhiên của các cấu trúc hữu cơ trong cơ thể con người. Những người không tin nhưng ủng hộ mô hình y học tự nhiên
của chúng tôi, coi phương pháp chữa trị không thể lý giải này thuộc phạm trù liệu pháp làm yên lòng người bệnh hoặc
có lẽ do một tác nhân nào đó mà chẩn đoán ban đầu không chính xác. Trong thực tế, họ đã bỏ qua “người thầy” chữa
bệnh đầy uy lực, đó chính là trạng thái tinh thần, chủ ý mong muốn và ý thức.

Tất cả những khái niệm cổ xưa, từng bị mai một đi, đang trỗi dậy cùng với sự gia tăng số lượng bệnh nhân luôn bất
hạnh trước bệnh tật và các nhà khoa học tìm kiếm sự thật. Các nhà khoa học này là những dược sĩ, những nhà nghiên
cứu chất độc qua thực nghiệm và những nhà nghiên cứu về miễn dịch học đang tiến hành các thí nghiệm sử dụng liều
thấp để chứng minh tính xác thực của hiện tượng vi lượng đồng cân. Họ cũng chính là những nhà vật lý và kỹ sư được
nói đến trong bài trước. Họ là những nhà cận tâm lý học và nhà nghiên cứu ảnh hưởng của tâm lý lên hệ miễn dịch
đang dâng trọn niềm tin cho khái niệm: ý thức ảnh hưởng vật chất và ý thức ảnh hưởng thân xác con người. Họ là
những nhà trị liệu và nhà nghiên cứu cởi mở, đang tiến hành nghiên cứu về sức mạnh của lời cầu nguyện và các hiện
tượng chữa lành bệnh.

Một số ví dụ về sự ảnh hưởng của tinh thần tới sức khỏe của chúng ta như sau: ý nghĩ tích cực làm giảm lượng đường
trong máu của bệnh nhân tiểu đường, làm giảm các cơn hen, giảm các triệu chứng viêm kết tràng và cải thiện chức
năng miễn dịch ở các bệnh nhân bị nhiễm HIV [1,2]. Không chỉ có những suy nghĩ của chúng ta có thể ảnh hưởng đến
bản thân, mà cũng có thể ảnh hưởng đến người khác. Nhiều nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả lâm sàng của việc cầu
nguyện, đáng chú ý là ảnh hưởng tích cực của việc cầu nguyện tới các bệnh nhân thuộc khoa điều trị chứng tắc nghẽn
động mạch vành [3].

Theo sự hiểu biết của người xưa và khoa học hiện đại thì bên cạnh các khái niệm về mối liên hệ giữa tinh thần và thể
xác là sự tồn tại của một dạng thực thể “nguồn” không thể mô tả, một dạng năng lượng, và sự liên kết – mà có thể bao
trùm tất cả đồng thời ảnh hưởng đến toàn bộ chúng ta. Các tập quán chữa bệnh cổ truyền trên khắp địa cầu đều dựa vào
“nguồn” này làm thể tiếp dẫn để chữa bệnh.

Khi chúng ta có thể thỏa thích say mê công nhận trí tuệ này của người cổ đại, và cũng đồng thời được khích lệ rằng nền
y học bên lề và y học bổ sung ủng hộ các ý tưởng về tâm-thân, thì có nghĩa chúng ta vẫn chưa nắm bắt được phần cốt
lõi. Cho đến khi nào chúng ta có thể nhận ra tâm thức con người có khả năng vượt trội hơn các phân tử cũng như tân
dược, và có thể áp dụng khái niệm này để chữa lành bệnh tật trên cơ thể, lúc đó chúng ta sẽ có thể nhận biết đầy đủ
rằng năng lực chữa bệnh tiềm ẩn nằm trong chính mỗi chúng ta.

Trong phần 3 và 4, chúng ta sẽ thảo luận phương pháp sử dụng hiệu quả sức mạnh của tinh thần trong việc chữa bệnh
và thậm chí tác động đến các hoàn cảnh trong cuộc sống.

Tài liệu tham khảo


1. Talbot, M. Phương thuốc giả dược, Tạp chí The New York Times;

09/01/2000:http://www.nytimes.com/library/magazine/home/20000109mag-talbot7.html.
2. Antoni, MH. Tác nhân tâm lý xã hội gây stress và các hành vi tương tác của bệnh nhân đồng tính nam nhiễm HIV
Int. Rev Psychiatry: 1991; 3:383-399.
3. Astin, JA, Harkness E., Ernst E. Hiệu quả của "chữa bệnh từ xa": xem xét có hệ thống của các thử nghiệm ngẫu
nhiên. Ann Intern Med 2000; 132:903-909.

Tiến sĩ Muehsam là một bác sĩ làm việc tại thành phố New York.

Cảm xúc và sức khỏe của bạn, phần 1

Cảm xúc có thể dẫn đến bệnh tật như thế nào?

Một vài suy nghĩ về việc trị bệnh cảm cúm trong những ngày mùa đông ở thành phố New York. Tôi hy vọng rằng nó sẽ
có ích, và có thể sẽ truyền cảm hứng cho bạn đi tìm cách chữa lành bệnh từ bên trong.

Tất cả những cách chữa trị đều là trị liệu về tinh thần. Nó quả là một “công việc nội bộ.” Đó là lý do tại sao tôi gọi nó
là cách chữa trị từ trong ra ngoài.

Cảm xúc bị kìm nén có thể dẫn tới bệnh tật. Những bệnh tật này biểu hiện như thế nào ở mỗi người là hoàn toàn khác
nhau. Việc bày tỏ cảm xúc có thể chữa lành bệnh. Thậm chí là bệnh ung thư. Thậm chí cả những bệnh mà thuốc Tây
dường như không thể chữa khỏi.

Có lẽ những lời này có vẻ quá tự tin, nhưng chúng đã được ghi chép lại rất cẩn thận bằng các phương tiện nghiên cứu
của khoa học phương Tây, và cũng được tìm thấy trong các cách chữa trị cổ truyền trên toàn thế giới. Các chi tiết đều
vượt quá phạm vi của bài viết này, nhưng chúng có thể được tìm thấy trong loạt bài trước của tôi “Sức mạnh của tinh
thần”.

Tức giận, sợ hãi, và buồn chán: Đây là ba cảm xúc chính có thể dẫn đến các loại bệnh tật. Chúng rất bình thường và
đều là những cảm giác tự nhiên, và tất cả chúng ta đều trải qua như những khía cạnh rất bình thường như vậy của bản
chất con người đáng quý của chúng ta. Nhưng khi những cảm xúc này bị kìm nén không được giải tỏa hay biểu hiện ra
ngoài, chúng có thể tạo ra chấn động tâm sinh lý gây rối loạn tuần hoàn máu.
Sự thiếu cân bằng này có thể biểu hiện qua những triệu chứng tâm sinh lý. Tôi dùng cụm từ ‘tâm sinh lý’ bởi vì những
triệu chứng này có thể biểu hiện qua các hình thức sinh lý hay tâm lý hoặc cả hai. Khi những triệu chứng này nặng lên,
chúng ta sẽ gọi chúng theo Tây Y – một căn bệnh.

Cảm xúc bị kìm nén

Những cảm xúc bị kìm nén này từ đâu ra? Nó phụ thuộc vào thế giới quan của bạn.

Đầu tiên, đó có thể là những tổn thương mà chúng ta từng trải qua trong cuộc sống. Thường xuyên hơn, trong thời thơ
ấu, điều này xảy ra khi chúng ta mất đi trạng thái tuyệt vời của sự vô thức, rồi bắt đầu nhận thức, thích nghi và nhạy
cảm đối với những điều xảy ra xung quanh chúng ta. Chúng ta có thể trải qua sự đau đớn về tinh thần, và một cách đối
phó tự nhiên là tự bảo vệ mình và cất giấu những cảm xúc vào nội tâm.

Một lý do khác cho những cảm xúc bị kìm nén là những gì đã trải qua từ tiền kiếp.
Nếu khái niệm này khó được chấp nhận, tôi mong bạn dẹp sự nghi ngờ qua một bên
và tiếp tục đọc. Rất nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học nổi tiếng đã ủng hộ cho
tính xác thực của hiện tượng này. Một lần nữa, các chi tiết này vượt quá phạm vi ở
đây, nhưng xin hãy viết thư cho tôi nếu bạn muốn biết thêm chi tiết.

Những gì đã trải qua ở tiền kiếp, điều gây tổn thương và không được hàn gắn trong
những kiếp luân hồi trước đây, có thể theo chúng ta khi chúng ta hiện diện trong
kiếp này. Điều thú vị là, đây là một quan điểm chung của hầu hết các phương pháp
chữa bệnh truyền thống trên thế giới. Các phương pháp chữa bệnh truyền thống này
đều ứng dụng những hiểu biết về sức khỏe và cách điều trị bệnh tật của họ.

Tuần tới: Phần 2, Giải tỏa cảm xúc như thế nào để có thể chữa lành bệnh

Tiến sĩ Muehsam là một bác sĩ, nhạc sĩ, và nhà văn sống tại thành phố New York.
Địa chỉ email của bà là transformationalmedicine@gmail.com

Đọc bản gốc tiếng Anh tại đây.

Giải tỏa cảm xúc như thế nào để có thể trị bệnh?

Như tôi đã trình bày trong phần 1 thì việc chữa bệnh hoàn toàn chuyên biệt và phụ thuộc vào cơ thể từng người. Chúng
ta có thể bắt đầu ở bất cứ cấp độ nào trên thân-tâm của chúng ta. Có thể bắt đầu với nhục thể: cơ thể bên ngoài, hoặc
chúng ta có thể bắt đầu với tâm thể: thể mang trạng thái tình cảm tinh thần. Tuy nhiên thực sự không có một sự khác
biệt nào giữa hai thể trên.

Theo khuôn mẫu của Tây y, tất nhiên sẽ dễ dàng và thuận tiện hơn khi trước tiên nghiên cứu cơ thể con người, các triệu
chứng lâm sàng hay là căn bệnh. Tập trung vào cơ thể con người có thể là điểm khởi đầu cho việc chữa bệnh và các
biến chuyển tại nhiều cấp độ sau đó. Tuy nhiên, trừ khi chúng ta xác định được nguồn gốc của các cảm xúc tinh thần
cũng như mối liên hệ giữa chúng thì chúng ta không thể chữa trị hoàn toàn cho dù là ở mức độ nào đi chăng nữa.

Suy nghĩ của chúng ta, các loại cảm xúc tinh thần và các triệu chứng lâm sàng có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chi
tiết xin xem thêm trong một loạt bài trước đây của tôi “Sức mạnh của tinh thần”. Quan sát này đã được ghi lại một cách
cụ thể bởi các thiết bị nghiên cứu khoa học của Tây phương và cũng được tìm thấy trong hệ thống lý thuyết thuộc các
trường phái trị liệu cổ truyền trên thế giới.

Quen thuộc nhất tại các nước phương Tây phải kể đến hệ thống y học cổ truyền của Trung Quốc (Trung Y) và Y học cổ
truyền của Ấn độ hay còn gọi là Ayurveda, hai hệ thống này đã tìm được chổ đứng trong nền y học hiện đại nơi đấy.
Các hệ thống này đã xác lập các mối liên hệ giữa những triệu chứng lâm sàng và các trạng thái tinh thần. Trong y học
Trung Hoa thì Tạng Phổi là nơi chứa của tâm u sầu; Tạng Can (gan) là nơi chứa sự giận dữ và Tạng Thận là nơi chứa
của sợ hãi. Trong Y học cổ truyền Ấn Độ, Vata (kết hợp giữa Ánh Sáng và Gió) liên quan chứng viêm khớp và sự lo
lắng; pitta (kết hợp giữa Lửa và Nước): ung nhọt và sự giận dữ. Khi bạn lo lắng về tình trạng sức khỏe của bạn thì việc
tìm hiểu những mối liên hệ này tỏ ra rất có ích.

Có rất rất nhiều cách để chữa bệnh, tôi chỉ nêu tóm tắt ngắn gọn một vài trong số đó

Một vài phương pháp mang tính “bị động”, trong khi một số khác lại có tính “chủ động”. Phương pháp bị động là các
phương pháp mà bạn không chủ động, chẳng hạn như châm cứu hay mát-xa. Phương pháp chủ động là phương pháp tự
bạn có thể thực hiện được, hoàn toàn dựa vào bạn như pranayama hay chính là các bài luyện thở. Những phương pháp
chủ động có thể thực sự mang lại những chuyển biến cho bạn, còn các phương pháp bị động thì cũng có tác dụng tốt.
Đôi khi cũng rất cần có những thể nghiệm nâng cao trạng thái thân-tâm mà không cần tổn hao quá nhiều sức lực.

Hô hấp và thực phẩm

Hơi thở chính là động lực và sinh khí cho hai thể thân-tâm của chúng ta. Khoa học phương Tây cũng đã ghi nhận mối
quan hệ giữa hô hấp với sức khỏe thể chất cũng như sức khỏe tinh thần. Thật thú vị chính điều này lại là nguyên lý vốn
sẵn có của các phương pháp trị bệnh cổ truyền trên thế giới. Theo y học truyền thống Trung Hoa và Ayurveda thì khí và
prana được coi là nguồn sinh lực của con người. Nếu không có hô hấp thì chúng ta sẽ không thể tồn tại.

Làm tổn hại tới hoạt động hô hấp có thể gây ra bệnh tật, hô hấp tích cực có thể trị bệnh. Học được cách hô hấp tự nhiên
cũng như các phương pháp thở đặc biệt có thể tác động tới thân-tâm chúng ta, trạng thái cảm xúc của chúng ta, và đó
có thể chính là con đường trị liệu tâm pháp.

Thức ăn cũng là một loại thuốc đối với thân và tâm. Mọi loại thực phẩm đều ảnh hưởng đến trạng thái cảm xúc của
chúng ta. Những ảnh hưởng này đối với từng người là khác biệt. Hippocrates vốn được biết đến như là cha đẻ của nền y
học phương Tây đã viết ra những quan điểm cho rằng “thực phẩm phải vừa là thuốc vừa là thức ăn của bạn” và dạy
rằng “quan trọng hơn cả là nên biết về người bệnh nhân đang mắc bệnh hơn là biết về căn bệnh mà người bệnh mắc
phải”

Những liệu pháp cụ thể

Bất kỳ một liệu pháp điều trị nào đều ảnh hưởng đến cơ thể và tinh thần của con người vì vậy mới hình thành thuật ngữ
“thân-tâm”. Điều này cũng đúng trong y học phương Tây. Có rất nhiều phương pháp, công cụ, kỹ thuật và hệ thống.
Những phương pháp được liệt kê dưới đây chưa phải là là tất cả, mà chỉ mang tính chất tham khảo.

Kỹ thuật năng lượng y học; kỹ thuật tâm lý năng lượng, các liệu pháp trên thân người như Rolfing; điều trị Ayurvedic
và vật lý trị liệu; những phương pháp y học cổ truyền Trung Hoa bao gồm châm cứu, các phương pháp trị liệu dùng tay
như chỉnh hình cột sống, thuật nắn xương, liệu pháp cộng hưởng như tinh dầu hoa; liệu pháp thảo mộc; vi lượng đồng
cân; các phương pháp chữa trị bằng yoga; liệu pháp tiền căn, luyện thở, liệu pháp tự sự sáng tạo, liệu pháp nhật trình
(viết hàng ngày); liệu pháp dịch cân (chữa trị tìm sự cân bằng qua vận động). Một số phương pháp cần có người hướng
dẫn còn một số khác thì bạn có thể tự thực hiện được.

Một vài gợi ý sau cùng cho bạn đó là hãy nhẹ nhàng và kiên nhẫn với chính mình. Người thầy chữa bệnh tuyệt vời nhất
nằm ngay trong chính bạn, chứ không phải trong phòng khám của các bác sỹ hay do khả năng của bất kỳ kỹ thuật hay
hệ thống nào. Chữa bệnh là một hành trình khám phá và phát triển, một hành trình sẽ chỉ và luôn mang lại cho con
người tâm trạng tốt hơn

Trong thời gian sắp tới tôi sẽ chia sẻ một vài kinh nghiệm của bản thân mình trong việc đẩy lùi bệnh tật, những kinh
nghiệm này đã dạy tôi về cách chữa bệnh và tôi cũng sẽ đề cập kỹ hơn về một số phương pháp tiếp cận được đề cập đến
ở trên.

Xem thêm phần 1: Cảm xúc có thể dẫn đến bệnh tật như thế nào
Trang nhà > Khoa học - Science > Tâm lý học - Psychology > Học ngoại ngữ bằng... “thiền”

Học ngoại ngữ bằng... “thiền”


Thứ Năm 26, Tháng Ba 2009, do ĐT

Trước khi đến gặp ông, tôi đã đọc khá nhiều thông tin về ông, về những phương pháp đổi mới giáo dục, cơ mà vẫn e
ngại không “đủ vốn” trò chuyện cùng ông... Tìm đến A17 tập thể Đồng Xa, người dân quanh vùng chỉ vòng vèo, đi mãi
chẳng biết đâu mà lần... Nhưng khi hỏi địa chỉ của “ông giáo Thiền”, ai cũng nhiệt tình chỉ dẫn. Lên đến tầng 4, một cụ
bà nhường đường cho tôi. Sau lời cảm ơn và cẩn thận hỏi thăm GS Lê Khánh Bằng, tôi nhận được một nụ cười hiền:
Đấy là ông nhà tôi...

Cụ ông cao dong dỏng, khuôn mặt quắc thước ra mở cửa... GS Bằng là đây! Ông chẳng có vẻ gì của một người đã
ngoài 80 tuổi, vui vẻ, nhanh nhẹn. Ông bảo: "Chúng ta trò chuyện 20 phút thôi nhé. Chiều nay tôi có lớp...”.

Giáo sư “thiền”

Năm 2003, dân học ngoại ngữ và cánh sắp đi du học truyền nhau một phương pháp học rất lạ, “thiền” để học ngoại
ngữ, và kết quả thì ngoài sức tưởng tượng. Nhiều người sau 1-2 tháng “luyện” theo phương pháp này đã tiến bộ trông
thấy; một số giỏi đến mức có thể giao tiếp như người bản địa.

Hồi ấy tôi không tin và xem đó là một loại thông tin... vỉa hè. Tuy nhiên khi tiếp xúc với GS Lê Khánh Bằng, tôi “ngộ”
ra một điều: Sức óc con người thật vô hạn, và con người có thể làm được cả những điều tưởng như... vô lý nhất. GS
Bằng cho biết, từ những năm 1980, ông và nhiều đồng nghiệp đã nghiên cứu phương pháp “thiền”.

Gọi là “thiền” cho nó... dân tộc, chứ thực chất đó là một phương pháp tập trung suy nghĩ, tư duy không cho tạp niệm
xen vào trong quá trình học tập, giúp ý chí sáng suốt, thanh thản, phát huy cao độ nội lực của con người. Cũng theo GS
Bằng, cùng với sự lấn lướt của văn hóa nghe nhìn, giới trẻ hiện nay thường mất tập trung, dễ bị lệ thuộc vào các
phương tiện kỹ thuật hiện đại, lười suy nghĩ và ghi nhớ kém.

Rất nhiều cử nhân, thạc sỹ chuyên ngành ngoại ngữ hẳn hoi nhưng khi giao tiếp, nghiên cứu khoa học có sử dụng ngoại
ngữ đều rất yếu... Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy nhiều năm vẫn theo giáo trình, nặng về ngữ pháp mà ít gắn với
thực tế cuộc sống, chưa nhiều tình huống vận dụng trao đổi ngôn ngữ với chính người bản địa.
Từ kinh nghiệm bản thân, học và giao tiếp tốt 6 ngoại ngữ và quá trình thử nghiệm trên nhiều đối tượng, học sinh tiểu
học, THPT đến sinh viên, người cao tuổi, GS Bằng cho rằng: Việc nhiều người “mất” khả năng giao tiếp, sử dụng ngoại
ngữ là do người đó chưa tạo nên vùng ngoại ngữ trong vỏ não.

Khi trẻ em học ngoại ngữ, trung khu ngoại ngữ được hình thành hài hòa trên vùng trung khu tiếng mẹ đẻ, song với
người lớn tuổi học ngoại ngữ, 2 trung khu này tách biệt nhau.

Do đó việc khắc ghi lên vỏ não một vùng ngoại ngữ đòi hỏi quá trình tự học tập, đều đặn 1-2 giờ/ngày, lúc học chỉ được
nghĩ và nói bằng ngoại ngữ để chủ động ức chế trung khu tiếng mẹ đẻ... Cách học đó sẽ tạo vùng ngoại ngữ trong vỏ
não chỉ sau 5-6 buổi, mỗi buổi cách nhau 1 tuần.

GS Bằng đưa cho tôi tập sách mà ông tâm huyết viết ra, có thể đây là một trong những phương pháp dạy, học hiệu quả
và hấp dẫn nhất thế giới... Ông nhớ lại: Năm 1986, tôi được trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ mời dạy một lớp tiếng
Bồ Đào Nha cho giáo viên để đi làm chuyên gia giáo dục ở Angola.

Tôi đã yêu cầu người học phải suy nghĩ bằng ngoại ngữ. Lúc đó, một số học viên từng là giáo viên ngoại ngữ cho rằng
học để suy nghĩ được bằng ngoại ngữ là một điều rất đúng, rất tốt nhưng không thể thực hiện được.

Từ đó tôi tập trung nghiên cứu vấn đề này và đã thử nghiệm, vận dụng nhiều phương pháp hiện đại kết hợp với các
phương pháp cổ truyền, đặc biệt với phương pháp thiền. “Thiền” không đồng nghĩa với tôn giáo, ai cũng có thể sử dụng
nếu biết kết hợp tác dụng của “thiền” với tư duy của trí não và áp dụng trong dạy và học ngoại ngữ.

Năm 1995, tôi bắt đầu mở lớp “thiền” học tiếng Anh, Pháp cho một số người có nhu cầu; ở đây phải nói chính xác, tôi
không chỉ truyền bá kiến thức mà chủ yếu là dạy cách học, cách tư duy, cách tạo nên vùng ngoại ngữ trong vỏ não.

Phương pháp dạy của tôi là giúp người học có mục đích, học cho mình, biết hệ thống hóa những kiến thức đã học rồi tổ
chức theo trật tự logic và ứng dụng vào cuộc sống, làm lợi cho cuộc sống từ chính những kiến thức đó.

Tôi muốn người học phải tự suy nghĩ bằng ngoại ngữ ở trong đầu, sau đó bật nói thành phản xạ chứ không phải ấp
úng... Quá trình thử nghiệm đến năm 2009 với 32 khóa học, trên 500 người đã thành công cùng tôi. “Thiền” đã giúp
chúng tôi đạt kết quả cao trong học tập không chỉ với học ngoại ngữ mà ở nhiều bộ môn chuyên ngành khác. Tôi chợt ồ
lên.

Một chuyện quá bất ngờ, tựa như điều cao siêu đã, đang tồn tại trong đời sống văn hóa Việt vậy. Đấy có thể là nguyên
nhân tạo ra những hoài nghi xung quanh mục đích, hiệu quả phương pháp học của GS Bằng?

Và tất nhiên để có được sự tin cậy, ông đã nghiên cứu rất nhiều phương pháp giảng dạy tiên tiến trên thế giới, vận dụng
những kiến thức văn hóa dân gian, từ đó đưa ra chứng luận, viết nhiều sách và có những buổi thuyết trình trước các nhà
khoa học nhằm làm sáng tỏ hơn phương pháp dạy của mình.

Mọi thứ trở thành “Chuyện thường ngày ở khu tập thể” khi GS Bằng vẫn thường xuyên dạy học, ai nghèo thì miễn phí,
cốt người đó hiếu học và quyết tâm học để có ích cho xã hội.

Không ngưng nghỉ tư duy

GS Lê Khánh Bằng sinh ra trong một gia đình danh giá ở Hương Sơn, Hà Tĩnh, cha ông từng làm đến Tham tri Bộ Lễ
trong triều đình nhà Nguyễn. Có lẽ vậy mà ngay từ nhỏ, ông đã được chọn học ở Quốc học Huế.

Ông bảo: "Từ nhỏ tôi theo học hệ cổ điển, được học tiếng Pháp, Anh, La tinh và thế hệ anh em hồi đó học rất giỏi. Năm
17 tuổi tôi tham gia tiền khởi nghĩa, sau đó đi bộ đội, là cán bộ tuyên truyền Mặt trận Huế, bộ đội thông tin liên lạc
Liên khu 4. Năm 1948 tôi được cử đi học chuyên khoa Huỳnh Thúc Kháng, ban Văn học, và gắn cuộc đời với sự
nghiệp giáo dục cũng như dành tâm huyết cho công cuộc đổi mới, cải cách giáo dục."
Từ hồi đó, GS Bằng đã nhận thấy nhiều hạn chế của phương pháp giáo dục truyền thống “thầy là trung tâm” và đã cùng
một số GS đầu ngành nghiên cứu, đề xuất những phương pháp cải tiến, đổi mới trong giảng dạy nhằm đem đến hiệu
quả giáo dục cao.

Tuy nhiên, như tôi hỏi ông: Tại sao đến giờ, sau 40-50 năm, mọi chuyện vẫn... dậm chân tại chỗ? Ông bảo, âu cũng bởi
sự ngại thay đổi của nhiều cấp quản lý giáo dục cũng như thói quen của học sinh, chỉ nghe, học một cách thụ động, dập
khuôn...

Nguyên là tổ trưởng bộ môn Lý luận dạy học, khoa Tâm lý giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội, chủ nhiệm đề tài cấp
Nhà nước “Cải tiến phương pháp giảng dạy trong các trường Đại học và Cao đẳng”, ông cho biết: Cách dạy cũ là
truyền đạt thông điệp, truyền thụ tri thức một chiều cho học sinh hoàn toàn đi ngược với những thành tựu tâm lý học và
giáo dục học.

Ngày nay, người ta học không chỉ để thừa hành, học máy móc bằng nghe, nhìn mà học bằng cách làm, kỹ năng ứng
dụng thực tế. Vì thế quan điểm “lấy học sinh là trung tâm” có thể sẽ làm khó chịu, gây phản ứng, song đó là con đường
ngắn nhất, hiệu quả nhất. Giáo dục phải là Quốc sách.

Chúng ta đã cải tiến phương pháp giảng dạy, cải cách SGK nhưng cái gốc cơ bản là thay đổi lề lối thi cử thì lại e sợ.
Đổi mới thi cử dẫn đến nâng cao chất lượng dạy và học trong nhà trường. Sẽ không còn chuyện giáo viên nặng về
thuyết trình, giảng giải, thầy nói, trò ghi một cách thụ động.

Không còn chuyện giáo viên ngại đổi mới phương pháp giảng dạy vì bị cho là “lập dị” mà sẽ ở vai trò then chốt, đúng
vị trí là người hướng dẫn học sinh tự tìm hiểu, sáng tạo. Và tất nhiên sẽ không còn chuyện học sinh khi ra đời, không có
kiến thức, không biết làm việc...

Có lẽ vì niềm tin thế mà dù đã ở tuổi xưa nay hiếm, GS Bằng vẫn không ngừng nghỉ nghiên cứu rất nhiều tài liệu quốc
tế, đúc rút kinh nghiệm và đưa ra nhiều phương pháp dạy và học độc đáo, hiệu quả. Ông vẫn không dừng việc viết
sách, nói ra những điều được cho là hạn chế tư duy sáng tạo và phát triển của học sinh và đề xuất nhiều ý kiến xác đáng
cho ngành giáo dục.

Ông bảo: Đã đến lúc người dạy phải tính đến nhu cầu, nguyện vọng của người học, đến những đặc điểm tâm sinh lý và
cấu trúc tư duy của từng người. Coi trọng việc phát huy cao độ tính tích cực và nội lực của người học, tổ chức cho học
sinh hoạt động độc lập và theo nhóm (thảo luận, làm thí nghiệm, quan sát vật mẫu, phân tích số liệu...).

Từ đó, học sinh vừa tự nắm vững các tri thức, kỹ năng mới, đồng thời được rèn luyện về phương pháp tự học, được tập
luyện phương pháp nghiên cứu, sáng tạo.

GS Lê Khánh Bằng khép cửa và lui vào căn phòng nhỏ đơn sơ, tiếp tục công việc còn dang dở. Hình như hôm nay ông
có lớp ở Trung tâm phát triển tự học, hay lớp cao học về phương pháp dạy và học trong trường đại học...

Tôi biết, ông vẫn đau đáu một nỗi, làm sao có thể dạy HS-SV phương pháp học không mất nhiều thời gian mà vẫn hiệu
quả, để các em có nhiều thời gian giải trí, vui chơi, phát triển bản thân một cách toàn diện. Dường như GS Bằng chưa
muốn nghỉ ngơi. Ông vẫn muốn góp sức mình, được ngày nào tốt ngày ấy, như lời ông nói, cho cuộc sống này.

Hà Bảo Lâm (ANTĐ

5 bước chuyển vào trong (thư giãn và tập trung tư tưởng cao độ), đọc to 3-5 lần đúng trọng âm và ngữ điệu để tạo nên
một khu vực hưng phấn mạnh; đọc to vừa, đúng ngữ điệu, tốc độ nhanh dần 3-5 lần; đọc mấp máy môi có âm thanh và
ngữ điệu nhỏ 3-5 lần, tốc độ nhanh nhất; đọc trong óc, môi không mấp máy nhưng vẫn phải cảm thấy âm thanh và ngữ
điệu cho đến khi thuộc, tốc độ ngày càng cao; đọc trong óc nhiều lần để hằn sâu vào trong vỏ não theo trình tự: nhẩm
đọc trong óc từ từ sau đó tăng dần lên đến mức nhanh nhất...
5 bước chuyển ra ngoài (đọc trong óc; đọc mấp máy môi; đọc to vừa, tốc độ nhanh và rất nhanh; đọc to đúng trọng
âm, đúng ngữ điệu với tốc độ nhanh nhất không sai sót; tập trung tư tưởng cao độ, viết ra giấy với tốc độ nhanh nhất,
tối thiểu 2 dòng/phút hoặc trình bày thật lưu loát, diễn cảm)...

Vấn đề cần trình bày sẽ được nghe, nói, đọc, viết ra trong óc vài lần, tạo nên một chuỗi các yếu tố tư duy, khi bạn
động đến một mắt xích nào đó thì cả chuỗi đó sẽ bật ra ngay lập tức. Đó chính là “đột phá một điểm, khai thông toàn
diện”.

Văn hóa ảnh hưởng đến hoạt động của não bộ


Thứ Sáu 4, Tháng Bảy 2008, do Nam Hy Hoàng Phong

Các nhà khoa học Mỹ cho biết con người thuộc những nền văn hóa khác nhau sử dụng các vùng não bộ khác biệt để
giải quyết cùng một nhiệm vụ trực giác cơ bản. Nhóm tác giả công bố này gồm: giáo sư John Gabrieli và Trey Hedden
thuộc Viện nghiên cứu não bộ McGovern - Học viện công nghệ Massachussets (MIT); Sarah Ketay và Arthur Aron -
Đại học Stony Brook, New York; Hazel Rose Markus - Đại học Stanford. Nghiên cứu được tài trợ bởi Viện sức khỏe
quốc gia - Hoa Kỳ và tiến hành bởi Viện McGovern thuộc MIT.

Hoạt động não bộ của người Đông Á và người Mỹ khi họ đưa ra những phán đoán tuyệt đối và tương đối. Mũi tên chỉ
vào những vùng não bị lôi cuốn vào giải quyết những nhiệm này. Người Mỹ hoạt động não bộ nhiều hơn khi xử lý
những phán đoán tương đối so với phán đoán tuyệt đối bởi đó là những nhiệm vụ ít quen thuộc nên khó hơn cho não
bộ. Mẫu đối diện thuộc về người Đông Á. (Nguồn: http://web.mit.edu)

Từ lâu, tâm lý học đã chỉ ra rằng văn hóa Mỹ dựa trên giá trị cá nhân và nhấn mạnh tính tự chủ trong từng hoàn cảnh,
trong khi văn hóa Đông Á nhấn mạnh tính tập thể và phụ thuộc lẫn nhau trong hành vi. Dựa trên nghiên cứu hành vi,
các nhà khoa học nhận thấy khác biệt văn hóa gây tác động lên trí nhớ và thậm chí cả nhận thức. Điều này có tương
ứng với các kiểu hoạt động của não bộ hay không?

Thí nghiệm được tiến hành với 10 người Đông Á mới đến Mỹ và 10 người Mỹ bản địa, họ phải đưa ra những phán
đoán nhanh về trực giác trong khi máy quét cộng hưởng từ (fMRI) ghi lại toàn bộ hoạt động não bộ - công nghệ cho
phép vẽ ra bản đồ mọi thay đổi của luồng máu trong não bộ tương ứng với các hoạt động trí óc.

Những người tham gia thí nghiệm được xem chuỗi những đường kích thích là các biểu đồ (mỗi biểu đồ gồm một đường
thẳng nằm bên trong một hình vuông) và được yêu cầu so sánh đường kích thích bất kỳ với đường xuất hiện trước.
Trong một thử nghiệm, họ phán đoán rằng các đường thẳng có cùng độ dài bất chấp chu vi hình vuông (một phán đoán
tuyệt đối đến từ những cá nhân không thích những bối cảnh tự chủ). Trong một kết quả khác, những người tham gia đã
không do dự khi cho rằng những đường thẳng có cùng một tỷ lệ với hình vuông mà không thèm đếm xỉa tới độ lớn
tuyệt đối (một phán đoán tương đối đến từ những cá nhân phụ thuộc lẫn nhau).

Theo những nghiên cứu hành vi trước đây đối với những thí nghiệm tương tự, người Mỹ có những phán đoán tuyệt đối
chính xác hơn, trong khi người Đông Á chính xác hơn trong những phán đoán tương đối. Trong thí nghiệm này, những
nhiệm vụ quá dễ dàng nên hai nhóm có sự biểu hiện không khác nhau.

Tuy nhiên, máy quét cộng hưởng từ đã chỉ ra nét khác nhau trong vùng não bộ hoạt động giữa hai nhóm khi họ đưa ra
phán đoán. Đặc thù của Người Mỹ là khó đưa ra những quyết định tương đối dẫn đến những hoạt động phức tạp của
não bộ khi giải quyết những phần việc đòi hỏi sự chú ý tinh thần cao. Não bộ của họ cho thấy có rất ít hoạt động ở vùng
này khi đưa ra những phán đoán tuyệt đối vốn quen thuộc với văn hóa Mỹ. Những người Đông Á có xu hướng ngược
lại, hệ thống chú ý của não bộ bị lôi kéo nhiều vào những phán đoán tuyệt đối hơn những phán đoán tương đối.

Giáo sư Hedden, người lãnh đạo những công trình nghiên cứu tại Viện McGovern nói: "Chúng tôi rất ngạc nhiên về
những khác nhau lớn giữa hai nhóm văn hóa và cơ chế ràng buộc hệ thống chú ý của não bộ được lan rộng tương
xứng khi những phán đoán nằm ngoài vùng văn hóa".

Các nhà nghiên cứu cũng cho biết, ở những cá nhân gần gũi về văn hóa xuất hiện những hiệu ứng lớn hơn, họ ưa thích
những câu hỏi và giá trị trong những quan hệ xã hội. Thí dụ như một cá nhân có chịu trách nhiệm hay không về những
thất bại của một thành viên trong gia đình, phản ánh sự can dự của yếu tố văn hóa. Trong cả hai nhóm, não bộ hoạt
động mạnh mẽ hơn khi ghi nhận những kích thích phù hợp với văn hóa.

Những khác nhau này xuất hiện như thế nào? "Mọi người sử dụng cùng một cơ chế chú ý cho nhiều hoạt động nhận
thức phức tạp nhưng họ được dạy bảo để sử dụng nó trong những cách khác nhau, đó chính là nhiệm vụ của
văn hóa". Gabrieli nói: "Thật hấp dẫn khi xem xét cách mà não bộ phản hồi những hình vẽ đơn giản, một trong những
hướng có thể tiên đoán, đó là cách mà cá nhân suy nghĩ về những mối quan hệ tự chủ hay phụ thuộc trong xã hội".

Nam Hy Hoàng Phong chuyển ngữ

Tác giả: Cathryn M. Delude, McGovern Institute

Bài đưa lên mạng ngày 11/1/2008. Nguồn tin: MIT News

Trang nhà > Khoa học - Science > Tâm lý học - Psychology > Hiệu ứng tâm lý Rosenthal

Hiệu ứng tâm lý Rosenthal


Chủ Nhật 27, Tháng Tư 2008, do Huy Duong

Nhà tâm lý học Mỹ kiệt xuất Robert Rosenthal có lần đến nghiên cứu việc giảng dạy ở một trường tiểu học nọ. Một
hôm ông tuyên bố với lãnh đạo nhà trường là ông sẽ làm một cuộc “Trắc nghiệm xu thế phát triển trong tương lai”.
Rồi ông đưa cho hiệu trưởng và các giáo viên liên quan một bản danh sách “Những học sinh có triển vọng học giỏi
nhất” và nói với giọng tán thưởng cứ như thật về các em học sinh có tên trong bản danh sách đó. Ông dặn họ giữ kín
chuyện này, nhằm tránh ảnh hưởng tới tính chính xác của kết quả trắc nghiệm.
Kỳ thực Rosenthal chỉ tung ra một “Lời dối trá có tính quyền uy” mà thôi, vì các học sinh trong danh sách ấy đều do
ông tùy tiện nhặt ra mà không qua sự lựa chọn nào cả.

Tám tháng sau, chuyện thần kỳ xuất hiện: tất cả các học sinh trong danh sách của Rosenthal đều có tiến bộ rõ rệt trong
học tập, đạt thành tích xuất sắc trên tất cả các mặt.

Thành công của Rosenthal là ở chỗ các kết luận có tính quyền uy của ông đã khiến cho các em học sinh tự nhận thấy
mình là người giỏi giang xuất chúng, qua đó chúng vô cùng phấn khởi và tự tin; trong học tập xuất hiện phong trào sôi
nổi ganh đua, thúc đẩy các em phát huy tiềm năng của mình, ai cũng cố giành phần thắng.

“Bản chất của giáo dục là khích lệ, cổ vũ, thức tỉnh” – ai đó từng nói như vậy. Người nào biết cách cổ vũ và khích lệ
học sinh thì người đó sẽ thành công. Rosenthal chẳng qua cũng chỉ làm đúng như thế mà thôi, nhưng vì ông là nhân vật
có quyền uy trong giới học thuật nên lời nói của ông có sức nặng hơn người, do đó tạo ra hiệu quả người ta gọi là
“Hiệu ứng Rosenthal” hoặc hiệu ứng Pygmalion [1]. Hiệu ứng nói trên thông thường được gọi là “Hiệu ứng do mong
mỏi của thày giáo” (teacher-expectancy effect), khi đó các học sinh học tốt hơn trước đơn giản chỉ vì chúng thấy mình
được thày cô mong đợi làm như thế.

Robert Rosenthal là giáo sư của hai trường đại học California và Harvard, từng được tặng rất nhiều giải thưởng cao
quý. Năm 1968/1992, ông cùng với Lenore Jacobson tiến hành các thực nghiệm phát hiện hiệu ứng trên.

Nguyên Hải

Chú thích

[1] Theo thần thoại Hy Lạp, Pygmalion là vua đảo Síp (Cyprus), giỏi điêu khắc, yêu mê mệt bức tượng thiếu nữ do
chính mình tạc ra. Thấy thế, nữ thần tình yêu Aphrodite đã thổi hồn cho bức tượng sống dậy để hai người thành vợ
chồng. (NH)

Tại sao con người có cảm xúc tiêu cực?


Thứ Năm 24, Tháng Tư 2008, do Khoa hoc

Cả tuần qua bạn chìm ngập trong các loại cảm xúc hỗn độn. Bạn buồn, bạn giận dữ, bạn vui, bạn lo lắng... Cuối mỗi
ngày, bạn mệt mỏi cả về thể xác và tinh thần vì những thứ diễn ra trong đầu. Nhà tâm lý theo thuyết tiến hóa Randolph
Nesse (Đại học Michigan, Mỹ) cho rằng thực tế đó là sự thích nghi có chọn lọc của tự nhiên để đối phó với từng tình
huống cụ thể.

Thật dễ để hiểu khi ta có cảm xúc tích cực. Con người hạnh phúc sẽ có cuộc sống hạnh phúc hơn và tạo nên những đôi
hạnh phúc hơn. Những cảm xúc tích cực khác như tình yêu và sự gắn kết còn thiết yếu để nuôi dạy con cái.

Nhưng tình cảm luôn đi trọn gói, bạn phải đón nhận cái tốt cùng cái xấu, tình yêu phải đi cùng với thù ghét và hạnh
phúc luôn song hành với buồn bã.

Nhà tâm lý tiến hóa Randolph Nesse tại Đại học Michigan, Mỹ, cho rằng những cảm xúc đơn lẻ đó thực tế là sự thích
nghi có chọn lọc của tự nhiên để đối phó với từng tình huống cụ thể.

Nesse gọi cảm xúc như một phần mềm của trí óc. Khi đối mặt với tình huống buồn, bộ não sẽ đưa tới chương trình
buồn bã để ứng phó, và khi tình hình tốt đẹp hơn, bộ não sẽ nhảy sang chương trình vui vẻ.

Với Nesse, nó không hẳn chỉ liên quan đến từng cảm xúc hay từng từng huống, bởi rất nhiều cảm xúc có hiệu ứng tâm
sinh lý tương tự nhau. Khi đối mặt với một tình huống, các cảm giác của chúng ta trỗi lên, và bất cứ cảm xúc nào cũng
có thể khiến cơ thể cảnh giác, tự vệ, thay đổi mô hình hay động cơ hành động. Điều quan trọng không phải là tên của
cảm xúc mà là cơ thể và trí óc làm gì với nó.
Điều cốt yếu là qua thời gian tiến hóa, những cảm xúc này đã giúp con người sống sót, thúc đẩy họ phối giống và nuôi
dưỡng con cái. Những cảm xúc này đã gắn sâu vào trong não, cho dù chúng ta có thích hay không.

Và bởi loài người về cơ bản là động vật có tính xã hội, chúng ta có những cảm xúc xã hội gắn sâu vào bản chất. Chúng
ta là động vật nên ở một nghĩa sâu xa nào đó chúng ta cần phải dựa vào nhau để sống sót. Vì vậy, con người không chỉ
có tình cảm cá nhân, chúng ta có những cảm xúc bị tác động bởi hành vi và cảm xúc của người khác.

"Nếu bạn định làm gì đó khiến người khác giận dữ, bạn sẽ cảm thấy tội lỗi", Nesse nói. Đó là lý do vì sao chúng ta có
thể tin tưởng người khác và cũng có thể cảm thấy bị phản bội.

Thực tế là nếu không có những cảm xúc xã hội phức tạp đó, con người sẽ vẫn lẩn sâu trong các khu rừng, sống đơn độc
trên các cành cây. Và theo Nesse, mọi cảm xúc đều tốt, theo nghĩa tiến hóa. Chúng có mặt để giúp đỡ chúng ta, mang
lại hy vọng. Kể cả khi chìm trong buồn bã thì bạn vẫn biết rằng niềm vui vẫn le lói đâu đó. Và chúng ta chỉ nhận ra
hạnh phúc khi đã trải qua đau khổ.

Lợi ích của lãng quên


The advantages of amnesia

Thứ Hai 7, Tháng Tư 2008, do Nam Hy Hoàng Phong

Stuart Parkin, nhà vật lý học đang làm việc tại IBM đang thực hiện cải tiến bộ truy xuất ngẫu nhiên với tên gọi "Bộ
nhớ truy xuất ngẫu nhiên dạng từ tính" (MRAM) cho phép lưu trữ dữ liệu theo hàm lũy thừa trên những đơn vị nhỏ
nhất của ổ cứng. Công nghệ này sẽ được thương mại hóa trong một vài năm tới, đó là đóng góp gần đây nhất để tiến tới
sự lưu giữ vĩnh cửu và trợ giúp trí nhớ con người.

Từ Internet đến iPod, công nghệ đang hỗ trợ những tiến bộ mau lẹ về khả năng ghi nhớ. Hiện tượng từ trở khổng lồ
(giải Nobel vật lý 2007) sẽ dẫn đến các ổ cứng có khả năng lưu trữ vượt ngưỡng terabyte. Năng lượng của con người
khi đó không phải dùng để nhớ, mà là dùng để quên. Giờ đây, xã hội cần những phương thức mới để lãng quên, con
người có khả năng lãng quên và cần cố gắng giữ lại sự lãng quên cho mình.

Trong khi khả năng lưu trữ số đã đạt đến ngưỡng vô bờ bến, một vài nhà tư tưởng lo ngại về những hậu quả không
lường trước được của công nghệ lưu giữ ký ức. Chắc chắn người khổng lồ Google đang cất giữ thông tin của hàng triệu
người dùng, trong hàng chục những trung tâm bí mật trên thế giới, bao gồm cả những bức ảnh kỷ niệm và lưu trữ cho
hậu thế hàng triệu trang mạng không còn tồn tại nữa, đủ để bất kỳ ai cũng phải thôi lo lắng. Hình thái của ký ức là bất
biến và có thể được tiếp cận từ bất kỳ đâu đó. Theo đà phát triển, các học giả đang đặt ra vấn đề - có lẽ đây là câu hỏi
xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại - chúng ta cần tìm kiếm những cách thức để lãng quên.
"Chúng ta có một hệ thống để lãng quên mọi thứ dễ dàng và buộc phải tiêu tốn năng lượng để ghi nhớ", Viktor Mayer-
Schönberger, phó giáo sư chính sách công tại Trường quản lý hành chính Kennedy thuộc Đại học Havard nói. "Giờ đây
chúng ta chuyển sang một hệ thống ghi nhớ mọi thứ và buộc phải tiêu tốn năng lượng để lãng quên. Đó là phép biến
đổi nghiệt ngã".

Jorge Luis Borges đã hình dung hoàn hảo về những rủi ro của trí nhớ trong câu chuyện nổi tiếng "Funes, người cường
ức", kể về một người đàn ông có khả năng lưu giữ ký ức không giới hạn và đã bị tê liệt vì điều đó. Có lẽ không chỉ có
Borges đề cập đến điều này, tuy nhiên có thể tưởng tượng về khả năng tích lũy và lưu trữ ký ức của các dạng thức kỹ
thuật số - điều này đang có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của mỗi cá nhân, thí dụ như những hành động vô
ý nhất thời có thể được lưu trữ trong những hồ sơ của máy tính. "Bất cứ công việc nào được thực hiện trực tuyến trên
mạng đều tồn tại khả năng được lưu trữ mãi mãi", Coye Cheshire, giáo sư trợ giảng tại Trường thông tin thuộc Đại học
Berkeley - California nói. "Xóa bỏ bất cứ điều gì bạn muốn như yêu cầu Google gỡ bỏ một tấm hình bất tiện, nhưng nó
vẫn được ghi lại, lưu trữ ở đâu đó".

Có thể tính toán rõ ràng chi phí cá nhân phải tiêu tốn nhưng thật khó để tính hết tổn thất to lớn cho cả xã hội. "Điều mà
nhiều người quên đi - không tồn tại trò chơi chữ ở đây - đó là quên đi sự tồn tại của ổ cứng máy tính", Mayer-
Schönberger nói. "Dựa trên kinh nghiệm và xã hội học thì chúng ta không khó khăn để khai thác khả năng lãng quên
hoặc đặt mọi thứ ở một ngữ cảnh tạm thời, bởi lãng quên là một đặc điểm sinh học của con người".

Trong một bài báo gần đây có tên "Những khoảng trống hữu ích: Nghệ thuật lãng quên trong kỷ nguyên máy tính",
Mayer-Schönberger đưa ra tiên đoán về cái giá mà nhân loại phải trả cho viễn cảnh của kỷ nguyên không lãng quên.
Một điều chắc chắn là mọi bình luận trực tuyến và những giao dịch trên mạng đang được lưu trữ ở đâu đó, không bao
giờ bị quên lãng, chúng có thể lấp liếm dư luận xã hội hay hành vi công dân bằng những cách không thể biết được. Đó
là một mâu thuẫn, bởi việc đánh giá những thông tin riêng tư - từ một tài khoản thư điện tử cá nhân như một dữ liệu
nhạy cảm là vô cùng khó khăn với một máy chủ lưu trữ xa xôi.

Theo bài báo này, Mayer-Schönberger cũng đưa ra một lý lẽ gây tranh cãi rằng, chúng ta có thể - và nên tái tập luyện
khả năng lãng quên của chính mình. Ông ủng hộ việc lưu trữ "dữ liệu sinh thái" (data ecology) dựa trên việc kết hợp
những điều luật và phần mềm để đưa ra một thời điểm hết hạn chắc chắn cho việc lưu trữ những dữ liệu nhạy cảm trên
máy tính. Các hệ thống máy truy tìm, hãng bán hàng trực tuyến, hãng điện thoại di động, dịch vụ quay phim giám sát -
tất cả phải được đặt dưới nghĩa vụ chung là chắc chắn xóa sạch mọi dữ liệu sau một khoảng thời gian nhất định.

Tất nhiên, những quy định như vậy tồn tại một lỗ hổng: Nếu dữ liệu có thể sao chép thì chúng sẽ tồn tại mãi mãi.
Mayer-Schönberger nói: "Giải pháp của tôi không dựa trên nền tảng công nghệ hoàn hảo". Và: "Cái mà tôi muốn mọi
người quan tâm đến là thời gian sống của thông tin bao quanh chúng ta, đó là ý thức đến tầm quan trọng của trạng
thái tỉnh táo cho con người nhờ những thông tin bị quên lãng".

Mayer-Schönberger không phải là học giả đầu tiên đề cập đến sự lãng quên. Một thập kỷ trước, hai nhà xã hội học
Donald MacKenzie và Graham Spinardi đã gợi ý một xã hội lãng quên về sức mạnh và cách chế tạo vũ khí hạt nhân.
Thông tin kỹ thuật để chế tạo ra chúng không được loại trừ sẽ ngụ ý rằng những hiểu biết (tồn tại trong con người dưới
dạng lời nói, phương trình, biểu đồ) có thể dẫn đến nhiều phá hủy và chết chóc, có khi chúng sẽ tiêu diệt con người và
cả nhân loại.

Có những cách để quên, tuy nhiên, điều đó thuộc về đề tài đạo đức. Chúng ta có thể quên đi sức mạnh của vũ khí hạt
nhân nhưng chúng ta có thể quên cả những cách thực hành y học và các công nghệ khác. Điều đầu tiên đó là phải có
một thỏa hiệp cân bằng giữa cái "nên quên" và những điều "phải nhớ", Cheshire nói.

Hệ thống lãng quên có thể là một kết hợp đáng sợ giữa những ước nguyện nóng bỏng với những thanh trừng văn hóa
đầy độc đoán. Nhưng Mayer-Schönberger đưa ra một đề xuất rất đặc biệt, gần như không tưởng: giảm tính đại chúng
và tăng tính riêng tư trên thế giới Web. Dữ liệu sinh thái - người dùng Internet được phép khước từ các điều khoản sử
dụng kèm theo mỗi cú nhấp chuột hay hành động tìm kiếm của họ - mọi hành động bên trong thế giới web phải được
riêng tư hóa, không được ghi lại, và bất cứ điều gì khác.
"Người dùng Internet đang sử dụng một dịch vụ dựa trên nền tảng đòi hỏi rất nhiều hoạt động thu thập và lưu trữ dữ
liệu người dùng", Dan Visel - thành viên của Viện Future of the Book (New York) nói. Mùa hè này, Google, Microsoft,
Yahoo, và Ask.com đã phải chịu sức ép từ người dùng, yêu cầu thực hiện các kế hoạch xóa bỏ các địa chỉ IP và cookies
sau một khoảng thời gian chắc chắn. Xa hơn, họ yêu cầu phải được cung cấp một công cụ tẩy xóa, đảm bảo chắc chắn
rằng mọi cú nhấp chuột của người dùng không được ghi lại dấu vết. Điều đó trái ngược với việc các công ty này thường
lưu trữ giữ liệu từ 13 tháng đến 2 năm hoặc suốt cuộc đời máy điện toán.

Tiến sỹ Danah Boyd tại Trung tâm nghiên cứu Berkman về Internet và xã hội thuộc khoa luật Havard nói: giải pháp
phải không chống lại khả năng tồn tại khắp của ký ức mà thích ứng với điều này. "Việc can thiệp đến cấu trúc Internet
sẽ dẫn đến một cuộc đối đầu". Boyd nói: "Mọi người, đặc biệt là những người trẻ đang tiến đến đầu mút của cơ chế
thoái thác bất cứ can thiệp nào từ chính quyền hoặc vào phần chính yêu của công nghệ".

Alessandro Acquisti, trợ lý giáo sư ngành công nghệ thông tin và chính sách công tại trường Heinz thuộc Đại học
Carnegie Mellon lưu ý đến tính tích lũy của ký ức số. Vấn đề vượt qua việc tái ghi nhớ liên quan đến chính nó. "Chi
phí tải và lưu trữ thông tin số đang ngày càng giảm, nhờ những công nghệ khai thác dữ liệu mà chi phí phân loại
thông tin cũng giảm theo. Nhưng một câu hỏi lớn được đặt ra là hai mức chi phí này có giảm tỷ lệ với nhau không?",
Acquisti nói. "Nếu thông tin không được phân loại, điều này vẫn đang tồn tại, điều cơ bản là bảo vệ để chống lại quá
tải thông tin".

"Và chúng ta đang trở lại con đường lãng quên, đó là cách mà cha ông chúng ta đã làm", Alessandro Acquisti nói.

Nam Hy Hoàng Phong dịch

(theo "The advantages of amnesia, Jessica" - Boston Globe)

Cần phát triển cảm xúc ở trẻ em


Thứ Tư 12, Tháng Chín 2007, do ĐT

(Xem thêm: ĐIỀU KỲ DIỆU CỦA CẢM XÚC VÀ TRÍ TUỆ)

Trẻ thiếu xúc cảm dễ bị thất bại

Nhiều bậc bố mẹ tin rằng với chỉ số thông minh (Intelligence Quotient - IQ) cao, con mình sẽ thành đạt trong học
đường và cả trong tương lai. Thực ra, chỉ số cảm xúc (Emotion Quotient - EQ) cũng là yếu tố rất quan trọng trong sự
phát triển vì thiếu cảm xúc thì các năng khiếu của trẻ có thể bị thui chột.

"Giữa trái tim và khối óc có một mối liên hệ, biểu hiện của nó chính là chỉ số xúc cảm, tức EQ" - Tiến sĩ tâm lý Nguyễn
Công Khanh, giảng viên Đại học Quốc gia Hà Nội, cho biết. Cảm xúc chi phối mạnh mẽ hành động của con người, từ
đó ảnh hưởng đến kết quả của nó. Trên thực tế không có quyết định nào của con người là thuần lý trí, luôn luôn có vai
trò của cảm xúc trong đó. Chẳng hạn, nếu được "sếp’ giao cho một việc mà bạn không muốn làm, bạn dễ làm một cách
miễn cưỡng cho xong rồi không đoái hoài gì đến nó nữa. Nhưng nếu đó là một công việc bạn yêu thích, bạn sẽ dồn hết
tâm sức cho nó nên kết quả thường rất tốt, và khi làm xong bạn cảm thấy mãn nguyện.

EQ cao được thể hiện ở tính kiên định, biết lắng nghe người khác và thấu hiểu họ, dũng cảm, linh hoạt; còn người EQ
thấp thường hay trách mắng người khác, hay chấp vặt, độc đoán, hồ nghi, chê trách, cản trở người khác... Nhờ khả năng
thấu cảm, người có EQ cao thường dễ hòa nhập với mọi người, biết cư xử sao cho được cộng đồng chấp nhận và dễ
thành công hơn.

Đối với trẻ em, EQ càng quan trọng trong quá trình phát triển của nó. Thiếu bạn bè, sống thu mình, khó hòa nhập là
một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thất bại học đường. Nhiều khi chỉ vì tính thích gây hấn, hay không
thích chia sẻ cái mình có với bạn bè mà trẻ bị bạn trong lớp tẩy chay, từ đó việc học cũng sút đi. Trong tương lai, những
trẻ EQ thấp cũng khó tạo ra các mối quan hệ tốt để phát triển sự nghiệp. Tình trạng thiếu xúc cảm còn có thể dẫn đến
những chuyện tồi tệ hơn, chẳng hạn như phạm tội. Các vụ hành hạ người khác hay giết người hàng loạt là dẫn chứng
của sự vô cảm.

Theo tiến sĩ Nguyễn Công Khanh, ở nước Anh từng xảy ra một vụ hai đứa trẻ 8-9 tuổi gây ra cái chết của một em bé.
Hai trẻ này gặp em bé gần một siêu thị liền bắt đến một nơi vắng vẻ để hành hạ, sau đó trói vào đường ray cho xe lửa
chạy qua. Sau đó, các nhà điều tra phát hiện các hung thủ sống trong trại trẻ mồ côi. Chúng vẫn quen bắt các con vật về
"chơi", vặn chân, bẻ tay và thích thú với những tiếng kêu đau đớn của con vật. Các nhà tâm lý giải thích, do không
được sống trong môi trường xúc cảm nên những trẻ này không có khả năng thấu hiểu cảm giác của người khác. Chứng
kiến sự đau đớn quằn quại, trong khi trẻ khác thấy kinh sợ thì chúng lại sung sướng thích thú.

Tình trạng không thấu cảm này cũng gặp ở nhiều đứa trẻ có hoàn cảnh bất hạnh như mồ côi, gia đình đổ vỡ, bị bỏ rơi...
Do không nhạy với tình cảm của người khác, trẻ có thể làm họ đau khổ mà không thấy hối hận hay cắn rứt. Do đó,
nguy cơ phạm tội sẽ cao.

Làm sao để tăng chỉ số EQ?

Cha mẹ cần nghe con nói để hiểu điều nó đang cảm nhận, và chia sẻ với nó. Chẳng hạn, trẻ buồn vì bạn dành nhiều thời
gian cho em nó, hãy bảo: "Mẹ cũng biết cảm giác khi em mình được đi chơi với bố mẹ ở công viên còn bản thân thì
không". Như vậy, trẻ vừa cảm thấy được chia sẻ vừa hiểu rằng ai cũng trải qua cảm xúc này và đã vượt qua.

Nên giúp trẻ gọi tên cảm xúc của mình, xây dựng cho nó vốn từ vựng cảm xúc như buồn, vui, giận, lo sợ... Có thể cho
trẻ xem nhiều bức ảnh diễn tả các trạng thái cảm xúc khác nhau và giải thích. Nếu trẻ thất vọng vì mất đồ chơi, đừng
bảo nó là "không sao đâu, đừng khóc" mà hãy tận dụng cơ hội này dạy trẻ về các khái niệm về xúc cảm. Có thể hỏi:
“Con buồn, đúng không?", và khơi gợi: "Hôm trước bạn Tí mất đồ chơi, bạn Tí cũng buồn như thế nhỉ?". Hãy hỏi nó có
thích đồ chơi ấy không, tại sao, như vậy con bạn sẽ bộc lộ, miêu tả được cảm xúc của nó dưới nhiều góc độ hơn.

Mặt khác, nên để trẻ quan sát cảm xúc của người xung quanh, chẳng hạn như "Hôm qua bà nội vui lắm, bà cười nhiều.
Tại sao bà vui? Vì cu Tí biết nhường đồ chơi cho em..." hoặc: "Cô Ba đang giận đấy, cô cau mặt và không bế nựng cu
Tí nữa. Tại sao cô giận nhỉ? Vì cu Tí nghịch làm vỡ lọ hoa của cô mà không xin lỗi. Cô giận, Tí có buồn không?". Như
vậy, trẻ không chỉ nhận biết cảm xúc của người khác mà còn hiểu nguồn gốc những cảm xúc đó, cũng như ảnh hưởng
của cảm xúc đó đến mọi người. Từ đó, trẻ sẽ biết điều chỉnh cảm xúc, hành vi của mình - một khả năng rất cần thiết để
thành công trong cuộc sống.

Tiến sĩ Khanh khuyên rằng, với trẻ dưới 6 tuổi, cần hạn chế tối đa sự trừng phạt (nhưng phải chỉ ra lỗi) và hào phóng,
thậm chí không giới hạn lời khen, miễn là khen có lý. Với trẻ nhỏ, đừng lạm dụng lời giáo huấn vì sự nhận thức của trẻ
bắt nguồn từ những hành vi cụ thể, sau đó mới dần dần rút ra quy luật điều nào nên điều nào không. Chẳng hạn, mỗi
lần trẻ la hét do không bằng lòng, mọi người có thể thỏa thuận giả vờ cùng ôm đầu kêu: "Đau đầu quá" và ai bỏ về
phòng nấy, không đoái hoài gì đến trẻ. Sau một số lần như vậy, trẻ sẽ hiểu hành vi trên không đem lại "lợi lộc" gì và
chấm dứt. Hoặc có thể lén quay phim cảnh này và khi trẻ đã bình tĩnh thì phát lại cho cả nhà xem. Trẻ sẽ biết hành vi
này không đúng, nó xấu hổ và sẽ tự điều chỉnh dần. Khi trẻ đang lên "cơn hư", mọi lời dạy dỗ hay quát mắng sẽ không
đem lại hiệu quả.

"Không phải lời giáo huấn, mà chính sự trải nghiệm sẽ có tác dụng với trí tuệ cảm xúc của trẻ" - tiến sĩ Khanh nói. Một
người cha đã tìm mọi cách khuyên con trai mình đừng lại gần ống bô xe máy, nhưng mỗi lần ông đi làm về thì cậu con
3 tuổi đều sán lại bố, phía có ống bô xe máy. Ông nghĩ ra một cách, cầm theo con búp bê nhựa và làm như vô tình áp
chân nó vào ống bô xe. Chân búp bê bị chảy một vệt, nó được chìa cho cậu bé xem kèm theo lời thuyết minh của bố:
"Búp bê bị chạm vào ống bô nên bỏng chân, da rách cả rồi. Nó đau rát lắm". Cậu bé rất sợ vì hiểu được bằng trực giác
bỏng bô nghĩa là thế nào, từ đó cậu tránh xa nó.

Cũng bằng trò chơi búp bê, bố mẹ có thể dạy trẻ nhiều điều nữa về cảm xúc. Tùy từng trường hợp cụ thể, người làm
cha mẹ sẽ biết nên nói với con như thế nào. Điều quan trọng là để dạy con về trí tuệ xúc cảm, bố mẹ không thể là người
"vô cảm". Bạn phải cho trẻ được tắm mình vào môi trường cảm xúc, bạn nhất thiết phải dành thời gian cho con.

(Theo VNE)
Sức ỳ của thanh niên
Thứ Tư 20, Tháng Sáu 2007, do NCC

Bốn năm công tác phong trào Đoàn và Hội, kỷ niệm đáng nhớ nhất của tôi là mùa hè tình nguyện nhiều duyên nợ và kỷ
niệm xanh màu chè Đại Từ, Thái Nguyên. Phải qua một cuộc tranh luận nảy lửa ở lớp, người nọ bảo vệ người kia, tôi
mới có mặt ở nơi ấy.

Từ tư duy

Qua cuộc tranh luận trên lớp ấy, tôi mới thấy sự khốc liệt của sức ỳ tư duy thế hệ trẻ. Thường chúng tôi tranh giành
những điều tưởng chừng như thăng tiến cho ngày mai lập nghiệp, để rồi đánh mất những thời khắc sôi động quý giá của
tuổi trẻ, của thời sinh viên.

Sức ỳ đó thể hiện ở tác phong đợi trong câu chuyện phong trào. Không có sự độc lập tư duy và độc lập hành động trong
hoạt động xã hội.

Cần ĐỢI rất nhiều chỉ đạo hướng dẫn của Đoàn cấp trên, của cấp uỷ mới thực sự triển khai được công việc phong trào.

Sức ỳ còn thể hiện ở sự hướng ngoại một cách dè dặt và thiếu hiểu biết. Tôi đã tổ chức một buổi nói chuyện chuyên đề
với Ngài Tham tán Văn hoá Đại sứ quán Mỹ về “Bầu cử Tổng thống Mỹ” với thính giả là sinh viên Khoa Luật không
dưới 150 người (đầy ắp một giảng đường lớn).

Thế nhưng số người thực sự tới Phòng Tư liệu của Đại sứ quán Mỹ không vượt qua con số 10.

Phần vì sinh viên Khoa Luật nói riêng và sinh viên ta nói chung chưa thực sự thạo Tiếng Anh chuyên ngành mình đang
học. Phần vì chúng ta ngại va chạm đặc biệt là sự va chạm về tư duy. Điều này thật đáng sợ.

Bên cạnh đó, còn là sức ỳ của cơ chế kinh phí hoạt động Đoàn Hội bị bó cứng vào chỉ tiêu của cấp uỷ, cấp trên, sự chỉ
đạo nhiều khi không có kinh nghiệm thực tế về phong trào thanh niên.

Đến hành động

Việc hoạt động cầm chừng, hoạt động lấy lệ, hoạt động theo chỉ tiêu là có thật. Các hoạt động của Đoàn hay Hội cũng
chỉ bó quanh câu chuyện đàn ca hát nhảy là chính, chưa thực sự đi sâu vào bản chất và nhu cầu thực sự của thanh niên.

Cái thanh niên cần là tri thức và công việc. Phong trào Đoàn Hội chưa thực sự chạm tới tầng vỉa quan trọng này của
sinh viên, thanh niên.

Thời sinh viên, tuổi thanh niên vui vẻ là đáng quý, thời gian là đáng trân trọng. Nhưng quý hơn cả là tri thức học
đường, tri thức cuộc sống lĩnh hội được.

Điều đó thì phong trào thanh niên, Đoàn Hội chưa thực sự phát huy tận cùng sức sáng tạo của người trẻ.

Giải pháp

Tôi mạn phép đưa ra mấy chữ sau cho phong trào Đoàn Hội và thanh niên nói chung ĐỘC LẬP- TỰ CHỦ- SÁNG
TẠO.

Độc lập là độc lập trong việc kêu gọi kinh phí. Tự chủ trong câu chuyện hoạt động, sáng tạo là kêu gọi sự đóng góp
nhiệt tình của tất cả những người trẻ.
Nếu các bạn có xem bộ phim “The girl next door” (Cô bạn hàng xóm) của điện ảnh Mỹ, các bạn sẽ thấy nhân vật
Michael Kidman (Chủ tịch Hội học sinh một trường cấp 3) tự quyên góp gần 30.000 $ làm học bổng cho một học sinh
người Cambodia để sang Mỹ học. Người Mỹ làm phong trào rất thực dụng và kinh tế như thế.

Những mong một mùa Đại hội thành công và có nhiều đổi mới cùng với cánh sóng WTO vỗ ngoài thềm biển nước nhà.

Hàn Sỹ Huy

Hàn Sĩ Huy (1983) Sinh ra trong một gia đình sớm được cách ly khỏi nông thôn Hưng Yên những năm 80. Hắn đã dần
hiểu được cuộc sống nơi thị thành Hà Nội những năm ấy và thời gian gần đây, chính vì thế hắn có đôi dòng để viết về
hắn...

Gã sinh tại Đống Đa, Hà Nội, tên thật là Phạm Quang Huy. Thích viết văn làm thơ đăng báo. Thành tích : Giải Nhì
báo Thanh Niên cuộc thi “Độc giả bình luận 2006”. Châm ngôn của gã là : NOTHING IS EVERYTHING (1998) và
TƯ DUY LẠI TƯ DUY (2000). Những mong đóng góp phần nhỏ bé vào công cuộc kiến thiết đất nước, xây dựng xã hội.
Gã là người thích đọc và sưu tầm sách, muốn tìm thật nhiều sách Luật có giá trị của các học giả Sài Gòn trước năm
1975. Các sách cổ quý hiếm về văn hóa,lịch sử Việt Nam. Từng học lớp 10 chuyên Sinh tại Trường Hà Nội -
Amsterdam, THPT Trần Hưng Đạo, ESTIH. Hiện đang học tại Khoa Luật, ĐH Quốc Gia Hà Nội.

Ta thét vang trời một tiếng vang /mong cho gió cuốn vụt lên ngàn /phai nhạt chi mà HẬN GIANG SAN’’ NHƯ THẾ
THÔI, LIỆU THƠ CỦA HẮN ĐÃ BUỒN CHƯA NHỈ?

"Bệnh sĩ"
Thứ Ba 19, Tháng Sáu 2007, do ĐT

Hình tượng biểu đạt hơn cả cho căn bệnh này chính là hình ảnh chiếc xe @ Tàu chễm chệ trên thửa ruộng còn chủ nhân
đang gò lưng chạy sau đít con trâu.

Trong khi giá xăng dầu leo thang, thế giới còn phải tiết kiệm, nông dân ta thi nhau chạy đua vũ trang mua xe, mua ti vi
màn hình phẳng, mua máy giặt các loại.

Mua xe chỉ để chạy rông giữa đường, mua ti vi để xem cho sướng cái mắt, cho hơn cái tivi thằng Tèo xóm Đoài.

Trong khi đó, thời gian nông nhàn rông dài, không chịu đi làm, không chịu bỏ thì giờ rỗi đi học nghề, nghĩ đến chuyện
làm giàu.

Miệng thì nói bệnh sĩ chết trước bệnh tim nhưng mắt thì lim dim cưỡi @ Tàu đi thăm ruộng.

Triết lý chết vinh còn hơn sống nhục nghe chừng không hợp với tôi. Đâu cũng thế, sự sống của con người là quan trọng
nhất.

Của mình đã quan trọng, của con mình, bố mẹ mình, vợ yêu của mình, càng quan trọng hơn.

Vinh quang đi kèm với sự sống thì hay hơn nhiều. Chứ chết đi còn biết gì nữa. Coi thường mạng sống của mình nên tai
nạn giao thông nhiều cũng vì lẽ ấy.

Bệnh sĩ khác rất nhiều với câu chuyện biết giữ sĩ diện, có lòng tự trọng. Bệnh sĩ là một dạng ảo tưởng về quyền lực, về
vị trí xã hội.

Điều này phản ánh nhận thức không đầy đủ về thực tế xã hội, niềm tin văn hoá đang bao quanh. Cốt lõi là niềm tin đặt
không đúng chỗ, thước đo văn hoá sai lệch.
Tự trọng nghĩa là hiểu mình đang đứng nơi đâu trên cõi đời này, tiếng nói của mình có trọng lượng hay là không, do đó
có nên nói hay là không.

Tôi từng chứng kiến nhiều người rất thích răn dạy con cháu trong khi mình lại là một người không xứng đáng nói
những điều ấy. Niềm tự trọng được xác lập khi ta hiểu rõ mình là ai và hành xử có văn hoá với vị tri đó.

Tôi từng sống trong gia đình có đạo và thấy họ sống chân thành. Phải chăng khi niềm tin văn hoá được xác lập, con
người ta sống thật với chính mình hơn?

Hàn Sĩ Huy (theo ThoibaoViet)

TIẾP CẬN HÀNH VI


Thứ Ba 24, Tháng Tư 2007, do ĐT

J. Watson (1878-1958)

Thuyết hành vi cổ điển

Tiếp cận hành vi là một trong những cố gắng rất lớn của tâm lí học thế giới đầu thế kỉ XX, nhằm khắc phục tính chủ
quan trong nghiên cứu các hiện tượng tâm lí người thời đó. Kết quả đã hình thành một trường phái có ảnh hưởng mạnh
mẽ đến sự phát triển của tâm lí học Mỹ và thế giới thế kỷ XX, mà đại biểu xuất sắc là các nhà tâm lí học kiệt xuất: J.
Watson (1878 – 1958), E. Tolmen (1886 – 1959), E.L. Toocđai (1874 – 1949), B.Ph. Skinnơ (1904 – 1990)… Các nhà
tâm lí học theo hướng tiếp cận hành vi phủ nhận việc nghiên cứu ý thức con người.

Theo họ, ý thức không đóng vai trò gì trong việc điều chỉnh hoạt động của con người và tâm lí học không thể nghiên
cứu nó bằng phương pháp khách quan. Vì vậy, tâm lí học chỉ nghiên cứu hành vi con người mà thôi. Tâm lí (của cả
người và động vật) chỉ là các dạng hành vi khác nhau. Hành vi là tập hợp các phản ứng của cơ thể đáp lại các kích thích
từ môi trường bên ngoài. Nhiệm vụ của nhà tâm lí học là mô tả và lượng hoá các hành vi đó, đúng như nó diễn ra trong
tình huống xác định. Phương pháp của nhà tâm lí học là quan sát khách quan và thực nghiệm các phản ứng của cơ thể
khi có tác nhân kích thích, nhằm mục đích xác định tương quan giữa kích thích và phản ứng.

Hầu hết các thực nghiệm của trường phái hành vi được thực hiện trên động vật (chuột, chim bồ câu…), sau đó, các kết
quả này được ứng dụng trên con người. Cơ sở sinh lí thần kinh được quan tâm trong các thực nghiệm là phản xạ có
điều kiện. Cơ chế hình thành các hành vi là sự mò mẫm của chủ thể, theo nguyên tắc”thử và sai”, qua nhiều lần, cho tới
khi xác lập được các phản ứng phù hợp, luyện tập và củng cố nó.

Các nhà hành vi chủ nghĩa coi nhẹ tính tích cực của chủ thể, đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo ra
các phản ứng. Vì vậy, nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành vi trí tuệ (cho cả động vật và con người) được quy
về việc nghiên cứu tạo ra môi trường các kích thích, được sắp xếp theo logic cho phép hình thành các phản ứng mong
muốn, tức là quá trình “điều kiện hoá hành vi”.

Theo các nhà tâm lí học hành vi, hành vi trí tuệ (của cả người và động vật) là các phản ứng có hiệu quả mà cá thể (chủ
thể) học được, nhằm đáp lại các kích thích của môi trường sống. Trong các công trình của J. Watson, hành vi trí tuệ
được đồng nhất với ngôn ngữ bên trong.

Từ đó, ông chia tư duy thành 3 dạng: thứ nhất, là các thói quen, kĩ xảo ngôn ngữ đơn giản (đọc 1 đoạn thơ hay đoạn
văn ngắn mà không làm thay đổi trật tự từ); dạng thứ hai giải quyết các nhiệm vụ tuy không mới, nhưng ít gặp và phải
có hành vi ngôn ngữ kèm theo (nhớ lại một đoạn thơ hay một sự kiện đã thoảng qua trong kí ức); dạng thứ ba: giải
quyết các nhiệm vụ mới; buộc cơ thể lâm vào hoàn cảnh phức tạp, đòi hỏi phải giải quyết bằng ngôn ngữ trước khi thực
hiện một hành động cụ thể.
Như vậy, vấn đề học tập và kĩ xảo đạt được là trung tâm của tâm lí học hành vi. Theo các nhà hành vi, tư duy giống như
kĩ xảo, nó được hình thành theo cơ chế phản xạ và luyện tập chúng.

Các học thuyết hành vi mới

Sự phát triển tiếp theo của hướng tiếp cận hành vi sau J. Watson đã dẫn đến phân hoá trường phái tâm lí học này thành
3 nhánh: 1. Tâm lí học hành vi bảo thủ, trung thành với các luận điểm ban đầu, có tính cơ giới về hành vi trí tuệ con
người của J. Watson (Thuyết kích thích - phản ứng: S – R), đại biểu là Skinnơ; 2. Tâm lí học hành vi mới, có ý đồ
nghiên cứu cả các yếu tố trung gian của chủ thể trong sơ đồ S - R, yếu tố đó chính là quá trình nhận thức (Thuyết S –
S), đại biểu là E.Tolmen; 3. Tâm lí học hành vi chủ quan (Thuyết “TOTE” - chữ đầu của các từ tiếng Anh. T: Test, O:
Operate; T: Test, E: Exit, tức là thuyết thử - thao tác - thử - thoát ra). Đại diện thuyết TOTE là O. Milơ, Galanter,
Priham. Sự khác nhau giữa các thuyết trên tập trung vào 3 điểm sau:

Thứ nhất, nhân tố phát động 1 hành vi. Thuyết hành vi cổ điển cho rằng các phản ứng bên ngoài là nhân tố phát động
hành vi của con người và con vật. Theo TOTE, nhân tố phát động hành vi của con người và con vật là quá trình ở trung
ương thần kinh, trí nhớ, tâm thế, sự mong đợi…

Thứ hai, kết quả học tập. Thuyết (S – R) quan niệm kết quả học tập là kĩ xảo (trật tự nào đó của các cử động). Còn theo
thuyết (S – S), kết quả học tập là “các cấu trúc nhận thức” (hay là sự phản ánh một tình huống nào đó).

Thứ ba: phương pháp ứng xử. Thuyết (S – R) cho rằng phương thức thích ứng là “thử và sai”, còn theo thuyết (S – S),
tính chất và thành công của các hành vi phụ thuộc vào cấu trúc của tình huống khách quan quy định. Vì vậy, tổ chức
(cấu trúc) tình huống quy định sự hoạt hoá của cá thể, nó quy định sự nắm bắt các quan hệ bản chất của tình huống.
Ngược lại, thuyết TOTE, đề cao hình ảnh, kế hoạch của các phản ứng. Nói các khác, theo TOTE, những kinh nghiệm,
tri thức đã có về hành vi, sự chỉ dẫn quá trình tiến hành hành vi đó sẽ quy định chất lượng của hành vi ứng xử.

Ngày nay, nhiều luận điểm của các nhà nghiên cứu trí tuệ theo hướng tiếp cận hành vi không còn phù hợp với sự phát
triển của tâm lí học hiện đại. Tuy nhiên công lao không thể phủ nhận của các tiếp cận này là đã đưa tính chặt chẽ khoa
học, khách quan vào việc nghiên cứu trí tuệ con người. Rõ ràng là, muốn nghiên cứu khách quan tâm lí cá nhân phải
nghiên cứu hành vi của nó.

Muốn huấn luyện 1 chức năng tâm lí nào đó phải đưa chủ thể vào trong các điều kiện xác định, tức là phải tường minh
hoá nội dung dạy học theo một quy trình chặt chẽ để qua đó có thể quan sát và kiểm soát được quá trình hình thành các
hành vi tâm lí của người học. Tuy nhiên, sự cực đoan hoá yếu tố môi trường kích thích, coi nhẹ vai trò chủ thể người
học sẽ dẫn đến sự "định mệnh xã hội” trong dạy học và phát triển.

Trích: Tâm lý học trí tuệ - Phan Trọng Ngọ (Chủ biên)

Tiếp cận sinh học


Thứ Hai 23, Tháng Tư 2007, do Khoa hoc

Thực ra, cách tiếp cận hành vi cũng bắt nguồn từ hướng tiếp cận sinh học. Tức là chịu ảnh hưởng của thuyết tiến hoá
hành vi cá thể, thu được do tập nhiễm và sự phức tạp hoá các hành vi bản năng của cá thể. Tuy vậy, tâm lý học hành vi
mới chủ yếu khai thác quan hệ tương tác giữa hành vi với các kích thích của môi trường. Ngoài ra, còn nhiều công trình
cũng tiếp cận tâm lý từ góc độ sinh học, nhưng khai thác khía cạnh khác.Trong số đó có các công trình nghiên cứu cơ
sở sinh lí thàn kinh của hoạt động trí tuệ, vai trò của yếu tố bẩm sinh và sự di truyền của trí tuệ, trí thông minh. Theo
hướng này, có 3 lĩnh vực được quan tâm nhiều:

1. Nghiên cứu cơ sở sinh lý thần kinh trí tuệ

Trong lĩnh vực này, trước hết phải đặc biệt quan tâm tới các nghiên cứu về phản xạ và về quy luật hoạt động thần kinh
cấp cao của các nhà sinh lý học Nga do I.P.Pavlov lĩnh xướng. Kết quả nghiên cứu sự hình thành và dập tắt các phản xạ
có điều kiện, các quy luật hoạt động thần kinh cấp cao ở người ta là cơ sở sinh lý thần kinh của hoạt động trí tuệ. Các
công trình của K.X.Lesli (nhà sinh lý học Mỹ, 1890 – 1958), của K.Gônđơstêin (nhà tâm lý học và sinh lý học Đức
1878 - 1965), và của nhiều nhà tâm sinh – lý học cùng xu hướng đã hình thành các lý thuyết về định khu chức năng tâm
lý não bộ. Việc làm tổn thương các vùng thần kinh trên não bộ sẽ dẫn đến làm mất hoặc rối loạn khả năng tiến hành các
hành động tâm lý , trí tuệ tương ứng.

2. Nghiên cứu vai trò và sự phát triển của các hành vi bản năng và tự tạo trong hoạt động tâm trí của người và
động vật

Việc nghiêng về các cơ chế dấu ấn của nhà sinh lý học Mỹ R.Lorenz đã cho thấy ảnh hưởng của dấu ấn ban đầu đối với
các hành vi tiếp theo. Kết quả nghiên cứu này không chỉ được vận dụng trong quá trình triển khai các thao tác trí tuệ
của cá nhân mà còn có ý nghĩa lớn trong ứng xử xã hội của họ. Một trong những lĩnh vực đang được chú ý nhiều của
tập tính học về con người hiện nay là nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn hoá, xã hội riêng với phương thức tư
duy, giải quyết các bài toán trí tuệ của các thành viên sống và hoạt động trong nền văn hoá đó. Ngày càng có nhiều
công trình nghiên cứu vai trò “tiềm ẩn” của các yếu tố văn hoá đối với đời sống tâm lý của mỗi cá nhân.

3. Nghiên cứu vai trò của yếu tố di truyền trí tuệ giữa các thế hệ

Điểm xuất phát của hướng tiếp cận này là từ các khám phá về vai trò của gen trong việc bảo tồn và di truyền các tính
trạng cơ thể. Nhiều nhà khoa học đã đặt ra và cố gắng đi tìm câu trả lời cho vấn đề di truyền trí thông minh. Ngay từ
năm 1869, nhà tâm lý học và nhân chủng học người Anh Ph.Galton (1822-1911) đã cho phát hành cuốn “Thuyết ưu
sinh học” (Eugenics), nhấn mạnh yếu tố di truyền trí thông minh. Những thập niên sau đó, thuyết di truyền trí năng
được phổ biến tràn lan và được nhiều nhà tâm lý học phụ hoạ. Chẳng hạn nhà tâm lý học người Anh Cyril Burt (1966)
khẳng định trí năng của con người 80% là do di truyền, 20% là do mội trường. Còn A.Jensen (1969) cho rằng tỉ lệ đó là
60% và 40%. Nhà tâm lý học Mỹ Jensks (1972) đưa ra số liệu 45% là do di truyền, 35% do môi trường và 20% còn lại
do sư tương tác giữa 2 yếu tố. Trong những năm 1975, ở Mỹ đã hình thành trường phái sinh học – xã hội do E.Wilson
khởi xướng, với luận điểm cho rằng có sự cạnh tranh trong xã hội người, nên chỉ có ai có sức mạnh mới có cơ may bảo
tồn và chuyển giao gen cho đời sau. Luận điểm này lại một lần nữa ủng hộ học thuyết ưu sinh học – xã hội về trí tuệ,
đẫn đến phân biệt chủng tộc, đẳng cấp về trí tuệ, một học thuyết đang tồn tại và bị lên án ở Mỹ từ trước đến nay.

Trích: Tâm lý học trí tuệ - Phan Trọng Ngọ (Chủ biên)

Học trong lúc mơ ngủ


Thứ Bảy 26, Tháng Năm 2007, do ĐT

Giả sử bạn có rất nhiều thông tin và muốn kết hợp chúng với nhau sao cho có ý nghĩa thì đây sẽ là một gợi ý của các
nhà tâm lý học thuộc trường Y Harvard dành cho bạn – hãy ngủ mơ về nó.

Một số nhóm nghiên cứu đã phát hiện ra rằng giấc ngủ hỗ trợ việc học, nó giúp bạn ghi nhớ được các thông tin. Vài
năm trước, Matthew Walker và những đồng nghiệp của ông tại Harvard đã phát hiện ra rằng, một giấc ngủ đêm ngon có
thể nâng cao những kỹ năng vận động, ví dụ như chơi một đoạn nhạc, đi xe đạp hay ném một quả bóng theo cách mà
bạn muốn.

Ông Walker, một chuyên gia về giấc ngủ tại Trung tâm Y học Beth Israel Deaconess liên kết với Harvard nói, “Nhưng
việc ghi nhớ rất nhiều thông tin không phải là chức năng chính hay duy nhất của bộ nhớ. Chìa khóa để giải quyết các
vấn đề và kích thích các ý tưởng mới bao gồm cả việc làm thế nào để sắp xếp các thông tin vào một bức tranh tống thể,
một điều mà trước đây chúng ta chưa từng biết tới”.

Walker cho rằng công việc tạo ra một bức tranh thông tin tổng hợp ấy được thực hiện tốt nhất khi ngủ, ít nhất là với
mục đích củng cố lại thông tin. Ông đã cùng với Jeffrey Ellenbogen, một chuyên gia thần kinh học chuyên nghiên cứu
về giấc ngủ tại Bệnh viện Brigham và Phụ nữ (một đơn vị liên kết với trường Y Harvard), cùng một số đồng nghiệp
khác, thử nghiệm ý tưởng của mình.
Những người thực hiện thí nghiệm đã tạo ra một số bức tranh thử nghiệm mà 56 người tham gia thí nghiệm, bao gồm
cả nam và nữ, có thể chưa từng thấy. Chúng có hình bầu dục và có những hình vẽ đầy màu sắc và trừu tượng. Những
bức tranh này nhanh chóng được các nhà khoa học và thực nghiệm biết tới như là "những quả trứng Fabergé”.

Những người tham gia, tuổi từ 18 đến 30, đầu tiên được cho xem một tổ hợp 5 cặp trứng. Các hình đều được đánh số
theo một trật tự logic, mà đối tượng thí nghiệm phải tìm ra trật tự đó. Ví dụ, hình A phải đứng trước hình B, hình B
trước hình C, hình C trước hình D,…. Mối liên kết giữa các hình được giấu không cho biết trước và những người tham
gia khớp các hình với nhau một cách nhất định theo một chuỗi tưởng tượng.

Những người tham gia thí nghiệm sau đó được cho biết là họ sẽ được kiểm tra trí nhớ về từng bức hình, nhưng vẫn
không được biết về hệ thống hay cách sắp xếp bí mật của các vật ấy. Sau đó họ được chia thành 3 nhóm, nhóm thứ nhất
sẽ được kiểm tra sau 20 phút, nhóm thứ hai sau 12 tiếng và nhóm thứ ba có 24 tiếng để nghiền ngẫm về các hình vẽ và
mối liên hệ giữa chúng. Một nửa số người trong nhóm 12 tiếng đã ngủ trước khi kiểm tra còn số còn lại thì không.

Walker và Ellenbogen gọi những kết quả thử nghiệm là "thực sự ấn tượng": những người ngủ ngon thể hiện tốt nhất
trong khi những nguời thuộc nhóm 20 phút thể hiện tồi nhất.

Kiến thức mở rộng khi ngủ

Nhóm 20 phút không thể nhận ra được bức tranh tổng thể, A trước B, B trước C, C trước D…. Họ không thể nhận ra
bức tranh tổng thể và nhầm lẫn thứ tự giữa các tranh. Ông Walker cho biết, “Những người xử lý thông tin lúc ngủ có
thể tạo nên bước nhảy vọt trong đánh giá suy luận so với những người khác nhờ việc để cho bộ não mình có thời gian
nghiền ngẫm các thông tin một cách vô thức".

“Những kết quả của chúng tôi cho thấy, rõ ràng giấc ngủ tham gia một cách tích cực vào quá trình nhận thức các ký ức
của chúng ta”. Bà Ellenbogen nói thêm: “Có vẻ như kiến thức của chúng ta mở rộng theo thời gian và thông qua giấc
ngủ”.

Walker mạnh dạn cho rằng “Có lẽ đây là vai trò chính của giấc ngủ".

Nếu đúng vậy, thay vì cố nhồi nhét thông tin suốt đêm, việc đi ngủ sẽ không chỉ giúp các sinh viên trước kỳ kiểm tra
mà còn giúp bất kỳ ai trong chúng ta giải quyết đống thông tin gần như bị quá tải. Điều đó mang lại triển vọng về việc
có thể tự mình tập luyện để trở thành một người có khả năng học trong lúc ngủ. Bạn có thể tập cho mình, ví dụ như
ngồi thiền trong một khoảng thời gian ngắn vào bất kỳ lúc nào, mà không phải đợi tới giấc ngủ đêm không?

“Chúng tôi rất quan tâm đến việc theo đuổi thiền định như là một trạng thái khác của bộ não có thể sử dụng để xử lý
thông tin", Walker nói và cho biết, các nghiên cứu khác tại Harvard về trạng thái mơ mộng đã chỉ ra rằng có thể đó
không chỉ là suy nghĩ vẩn vơ vô ích mà là quá trình xử lý thông tin rất hữu ích.

Walker nói, ông thích ý tưởng coi thiền như một trạng thái "khi mà những loại thông tin khác nhau trộn lẫn lại như món
cocktail trong bộ não, đó chính là một cách khác để chuẩn bị cho những tổng kết và ý tưởng mới. Nếu điều này là đúng
thì nó sẽ mở ra triển vọng thú vị về việc sử dụng tối đa bộ não của chúng ta để giải quyết các vấn đề và học hỏi”.

Tuy nhiên, tất cả những gì bạn cần làm là thư giãn đầu mình trên gối và để bộ não thực hiện phần còn lại.

Vai trò của giấc mơ

Đồng thời trong lúc chờ đợi, Walker và nhóm nghiên cứu của ông sẽ cố gắng tìm ra đáp án cho những câu hỏi đã được
nêu ra cho tới giờ. Ví dụ như, chính xác thì điều gì diễn ra trong trong bộ não khi nó trộn lẫn các sự kiện với nhau theo
những cách mới?

Nghiên cứu tập trung vào một vùng nhỏ cong hình “S” rất kỳ lạ ở sâu trong bộ não, được gọi là đồi hải mã
(hippocampus). Hầu hết các nhà thần kinh học đều coi đây là kho lưu giữ những thông tin mới. Walker tin rằng trong
lúc ngủ, đồi hải mã thực hiện một cuộc trao đổi với phần não bộ chính chịu trách nhiệm suy nghĩ và sắp xếp thông tin.
Bộ phận vẫn được gọi là vỏ não này nằm ở đỉnh trước của não người.

Walker tưởng tượng rằng trong suốt quá trình trao đổi của “các kỳ liệu pháp tâm lý” trên, đồi hải mã cho qua những
thông tin mới để sau đó chúng rơi vào những đại dương ký ức trong vỏ não. Ông nói một cách văn hoa: “Thông tin mới
lay động qua những thông tin cũ, trôi bồng bềnh trên biển những trải nghiệm trong quá khứ của chúng ta”. “Quá trình
này tạo nên những kết nối mới, những mạng lưới liên kết mới, dẫn tới những ý tưởng mới, những bức tranh tổng thể mà
ta chưa từng thấy trước đó”.

Walker khẳng định rằng, những nghiên cứu tìm ra cách thức hoạt động của đồi hải mã sẽ dẫn đến hiểu biết rõ hơn về
mức độ hoạt động của nó. Đặc biệt có thể giải đáp được câu hỏi bộ não có thể chứa được tới bao nhiêu “quả trứng”
thông tin mà vẫn có thể tạo ra những cách suy nghĩ mới?

Cuối cùng, nghiên cứu này sẽ dẫn đến việc nội soi cắt lớp não để ghi lại được những hình ảnh bộ não ở thời điểm và vị
trí mà các ký ức mới được tạo ra và tìm ra nguyên nhân tại sao có khi chúng lại không được tạo ra. Ký ức mờ nhạt dần
theo tuổi tác như thế nào? Tại sao rất nhiều ký ức lại bị mất đi như trong trường hợp của những bệnh nhân Althemer?

Việc mơ có thể đóng một vai trò nào đó trong tất cả những hiện tượng trên. Các nghiên cứu khác đã chỉ ra các ký ức
dường như được củng cố trong cả hai giai đoạn ngủ không mơ lúc đầu buổi đêm, cũng như giai đoạn ngủ mơ thường
diễn ra muộn hơn. Điều này có liên quan gì tới những cuộc trao đổi giữa đồi hải mã và vỏ não? Có ý tưởng cho rằng
những ký ức mới ra khỏi đồi hải mã và đi vào vỏ não trong suốt giai đoạn ngủ không mơ lúc đầu buổi đêm. Khi những
ký ức mới và cũ gặp nhau, chúng hòa trộn vào nhau theo những cách lạ lùng mới mẻ mà ta vẫn gọi là những giấc mơ.

“Đây có phải là cơ sở của sự sáng tạo, là nơi mà những sự kiện loé lên trong đầu bạn bất chợt tạo nên những ý tưởng
lớn mới lạ?” là câu hỏi mà Walker đặt ra. “Đây sẽ là những suy đoán thú vị để ta vừa ngủ vừa nghĩ”.

Thùy Chung (theo Harvard News Office), 24/5/2007

Lập trình thần kinh-ngôn ngữ học


Chủ Nhật 18, Tháng Ba 2007, do Khoa hoc

Một phương pháp phát triển tâm lý cá thể nhằm cải thiện nhanh chóng năng lực truyền thông của cá thể đó.

Lập trình thần kinh-ngôn ngữ học (LTN) ra đời ở Mỹ vào khoảng thập niên 1970 dựa trên sự quan sát và mô hình hóa
từ công trình của các bác sĩ tâm lý, chủ yếu là nhóm Milton Erickson, Virginia Satir và Fritz Perls.

LTN là một tập hợp các mô hình và biện pháp nhằm cải thiện nhanh chóng năng lực truyền thông giữa các cá thể nhưng
lại hướng tới việc hình thành nền tảng của các chuyên đề dành cho doanh nghiệp. Nội dung thuyết giảng bao gồm một
số khái niệm về phương pháp chi phối khách hàng (dành cho người tiếp thị), chẩn đoán khả năng và hành xử cá nhân
(dành cho người tuyển chọn nhân viên), cách hùng biện lôi cuốn và dễ hiểu (dành cho người quản lý), cũng như cách
nói sắp đặt[1] và thôi miên khán giả (dành cho người làm quan hệ công chúng). Tên của LTN được chọn để gợi nhớ tới
tin học, thần kinh học và ngôn ngữ học là những từ ngữ thời thượng hồi ấy. Thực chất đó là một môn phái của tâm lý
học thực hành.

LTN có phải là khoa học?

Theo tên gọi thì LTN có vẻ như dựa vào môn THẦN KINH-NGÔN NGỮ HỌC (xem định nghĩa ở dưới), tuy nhiên
Lilienfeld và tập thể (2003), Levelt (1995), Drenth (2003), Williams (2000) và AFIS (Hội Thông tin khoa học Pháp)[2]
đều coi LTN không phải là khoa học. Bản thân các tác giả của LTN cũng né tránh câu hỏi trên: "Chúng tôi không phải
là các nhà tâm lý học, thần học hoặc lý thuyết gia. Chúng tôi không có ý định nêu bản chất "thật sự" của sự vật, mà điều
đó chúng tôi cũng không quan tâm. Chức năng của mô hình là đi đến một miêu tả hữu ích. Chúng tôi không có gì đưa
cho các bạn ngoài những công cụ thực tiễn" (Richard Bandler và John Grinder: Frogs Into Princes - Real People Press
1979).

THẦN KINH-NGÔN NGỮ HỌC: bộ môn khoa học kết hợp tri thức của cả thần kinh học lẫn ngôn ngữ học để nghiên
cứu và phục hồi những kĩ năng và thói quen ngôn ngữ đã bị suy yếu (hoặc bị phá vỡ) ở những người bệnh, tức là
nghiên cứu các bình diện tâm lí - ngôn ngữ học của bệnh suy yếu ngôn ngữ.

Vai trò của LTN

« Quan sát » các năng lực và "tự cung cấp" các năng lực;
« Giải mã » các năng lực;
« Thử nghiệm» các năng lực nhằm tạo ra những mô hình hiệu quả.

Tiếp theo các « mô hình » này sẽ tạo nên cơ sở hỗ trợ cho một quá trình tiến bộ nở rộ.

Mục đích của các mô hình

tự nhận biết được bản thân;


tiếp cận được các tài nguyên hiện thời và quá khứ (đã được đối tượng thu lượm);
tạo ra các tài nguyên mới;
chuyển dịch vị trí của một tài nguyên từ bối cảnh này (vd. cá nhân) sang bối cảnh khác (vd. chuyên nghiệp).

Sự nối khớp của quá trình

xuất phát từ một « trạng thái hiện thời »;


tiến tới một « trạng thái mong muốn »;
bằng cách sử dụng các « tài nguyên » quá khứ , hiện thời và tương lai (tưởng tượng) của đối tượng;
bằng cách sử dụng những kỹ thuật kế thừa từ các nhà chẩn trị Mỹ (như Milton Erickson...)

Tâm thần, tự kỷ và trầm cảm


Thứ Bảy 17, Tháng Ba 2007, do ĐT

Tâm thần (tiếng Anh: psychism) là một danh từ hoặc tính từ được dùng trong 3 trường hợp sau:

Hiện tượng tâm lý tinh thần (ý thức hoặc vô thức), gắn với thân thể nhưng không phải là thân thể,

Tâm thể (vô thức, thú tính, bệnh hoạn...),

Tâm trạng hoang tưởng, phi lý.

Tự kỷ (tiếng Anh: autism) là một bệnh rối loạn phát triển của hệ thần kinh, biểu hiện rối loạn tâm thần. Những trẻ em
bị tự kỷ thường thiếu hay chậm phát triển về khả năng thiết lập quan hệ truyền thông trong tập thể, không sử dụng được
ngôn ngữ trong sinh hoạt xã hội, không thông hiểu hình ảnh ký hiệu và không biết chơi các trò chơi cần đến trí tưởng
tượng. Bệnh này thường biểu hiện trước 3 tuổi.

Hội chứng trầm cảm (tiếng Anh: depression) là loại rối loạn khí sắc thường gặp trong tâm thần học. Có thể xảy ra ở
nhiều lứa tuổi nhưng phổ biến nhất ở khoảng 18-45 tuổi, phụ nữ nhiều gấp đôi nam giới.

Hội chứng này có tỷ lệ cao ở những người ly thân, ly dị, thất nghiệp.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO: bệnh trầm cảm mỗi năm cướp đi trung bình 850 000 mạng người, năm 2002, trầm
cảm xếp hạng 2 trong số những căn bệnh phổ biến toàn cầu với 121 triệu bệnh nhân, nhưng chỉ khoảng 25 % trong số
đó được điều trị kịp thời và đúng phương pháp.

Nguy cơ tự sát ở người bị trầm cảm

Trầm cảm là nguyên nhân của hơn 50% những trường hợp tự sát.

Thống kê cho thấy tuy nam giới ít bị trầm cảm hơn, nhưng khi rơi vào trầm cảm, xu hướng tự sát lại cao hơn.

Những bệnh nhân trầm cảm tự sát đa số thuộc vào hai nhóm sau:

Nam giới, trên 50 tuổi, sống ở nông thôn.

Nữ giới, trẻ tuổi, sống ở thành thị.

Ý đồ tự sát nhiều hơn gấp 10-12 lần so với hành vi tự sát.

Nguy cơ tập trung vào những bệnh nhân có tiền căn là bản thân hoặc gia đình tự sát, trầm cảm, nghiện rượu, cũng như
ở những người sống cô lập với xã hội.

Tự sát có thể xảy ra bất ngờ hoặc được chuẩn bị trước, dấu kín hoặc có thông báo.

Các nguyên nhân gây trầm cảm:

Trầm cảm nội sinh (còn gọi là trầm cảm chưa rõ nguyên nhân): nhiều giả thuyết cho là do di truyền, miễn dịch, môi
trường sống và yếu tố xã hội... nhưng chưa có giả thuyết nào thuyết phục rõ rệt.

Trầm cảm do stress: chẳng hạn như khi mất việc làm, mâu thuẫn trong gia đình, con cái hư hỏng, bị trù dập ở nơi làm
việc, làm ăn thua lỗ, bị phá sản hoặc có người thân chết đột ngột...

Trầm cảm do các bệnh thực tổn như: sau chấn thương sọ não, sau tai biến mạch máu não hoặc xơ vữa động mạch não,
các bệnh nan y như ung thư, lao, phong...

Biểu hiện:

Áo quần lôi thôi, vệ sinh thân thể kém, cử chỉ chậm chạp hoặc nóng nảy, giọng nói trầm, đơn điệu, tâm sự buồn bã...

Âu lo thường xuyên cùng với sự sợ hãi lan rộng không rõ nguyên do.

Rối loạn chức năng sinh dục: giảm hoặc mất ham muốn tình dục ở cả hai phái, có thể yếu hoặc mất chức năng cương
ở nam giới và lãnh cảm ở phụ nữ.

Có cảm giác do dự, không chắc chắn, đòi hỏi cao với người khác và với chính mình, dễ bị tổn thương, khó thay đổi
những thói quen cũ dù không còn phù hợp, luôn ở tình trạng mệt mỏi, ủ rủ và căng thẳng, rất dễ tức giận và nổi nóng,
không có hứng thú làm bất cứ chuyện gì.

Luôn có ý nghĩ tiêu cực về bản thân và người khác, tuyệt vọng không còn lối thoát, không còn niềm tin vào bản thân
và tương lai.

Ngoài ra còn có các biểu hiện thân thể khác đi kèm như kém ăn, mất cảm giác ngon miêng, mất ngủ, tăng hay giảm
trọng lượng một cách lạ lùng, thường có cảm giác đau nhức nhiều vùng ở cơ thể, điển hình là cảm giác tức ngực.
Người mắc bệnh nặng còn gặp khó khăn hay không thể thực hiện những việc bình thường như đi ra ngoài, đi chợ hay
đi học, gặp gỡ bạn bè, thăm người thân, tiếp xúc với người khác, đặt biệt là với người khác giới.

Các biểu hiện này có thể gặp ở người khỏe mạnh, bình thường khi gặp chuyện sốc hay buồn bực, vì vậy rất khó có thể
phân biệt được đâu là tâm trạng nhất thời và khi nào thì đã mắc phải bệnh.

Điều trị:

Sử dụng thuốc, liệu pháp tâm lý và sốc điện, nhưng trong đó dùng thuốc là phổ biến nhất.

Xem: Phân loại bệnh tật quốc tế và những vấn đề liên quan đến sức khỏe, International Statistical Classification of
Diseases and Related Health Problems, phiên bản 10 năm 2005 (ICD-10)