You are on page 1of 38

Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh

dũng-Kiểm toán42a
LỜI MỞ ĐẦU
Để đáp ứng nhu cầu đổi mới cơ chế quản lý kinh tế tàI chính nhằm nâng cao chất
lượng quản lý kinh tế trong nền kinh tế quốc dân ,vấn đề kiểm tra kiểm soát chất lượng
làm lành mạnh hoá các thông tin tàI chính trong nền kinh tế quốc dânlà một nhu cầu cấp
thiết. Giúp cho nền kinh tế thị trường có thể đứng vững và có thể phát triển toàn diện về
mọi mặt.Nó đIũu tiết nền kinh tế đI đúng hướng và hạn chế được những khủng hoảng
có thể xảy ra trong nền kinh tế thị trường.chính vì vậy mà kiểm toán ra đời như một sự
tất yếu.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế đang phát triển, sự
ra đời của các doanh nghiệp trẻ và đày triển vọng khiến cho sự canh tranh giữa các
doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt. Các doanh nghiệp cần mở rộng sản xuất kinh
doanh, đầu tư mới máy móc, trang thiết bị hiện đại cho sản xuất…do vậy doanh nghiệp
cần phải huy động vốn từ các nhà đầu tư bên ngoài. Các nhà đầu tư cần có những tài
liệu tin cậy để có sự đầu tư đúng đắn, ngoài ra; các cơ quan Nhà nước cần thông tin
trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế; người lao động cần thông tin đáng tin cậy về
kết quả kinh doanh, thực hiện chính sách tiền lương…; khách hàng, nhà cung cấp cần
hiểu rõ thực chất kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp để cung cấp hàng
hoá, dịch vụ. Chính vì vậy, kiểm toán nói chung và kiểm toán tài chính ra đời với vai
trò, chức năng xác minh và tư ván không chỉ giúp cho sự quản lý vĩ mô của Nhà nước
mà còn ý nghĩa cho bản thân doanh nghiệp và các đối tượng quan tâm. Nếu như Báo
cáo tài chính chỉ cung cấp và trình bày cho người đọc thực trạng của doanh nghiệp tại
một thời gian nhất định thì kiểm toán các Báo cáo tài chính sẽ gây dựng lòng tin cho
người sử dụng đối với Báo cáo tài chính đó.
Từ đó ta có thể thấy mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán hướng tơí việc tạo ra
mối quan hệ khoa học và nghệ thuật các phương pháp kĩ thuật kiểm toán dùng để xác
minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán.mối liên hệ này xuất phát từ yêu cầu thực
hiện chức năng kiểm toántheo từng đối tượng loại hình cụ thể của kiểm toán .Những
phương pháp kĩ thuật áp dụng rất đa dạng,sử dụng những phưong pháp luận,những
phạm trù chiết học ,kinh tế trính trị vào nghiên cứu.các phương pháp toán học đối chiếu
lôgíc,đối chiếu trực tiếp,kiểm kê ,thực nghiệm và đIều tra…các yếu tố này cần được kết
hợp theo một trình tự khoa học phù hợp với đối tượng cụ thể ở một khách thể xác
định.có nhiều cách kết hợp cụ thể khác nhau và mang lại hiệu quả khác nhau.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như hoạt
động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ. Trong khi đó

1
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy trình cũng như
phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt Nam mới ở giai đoạn
đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và hạn chế về mặt chất lượng. Do
vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của
cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho
thấy kế hoạch kiểm toán được lập đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng
đầu đưa đến sự thành công của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của
các doanh nghiệp.
Đề án môn học”Trình tự tổ chức công tác kiểm toán”được viết trên cơ sở
những bài giảng về kiểm toán.

Đề án gồm 3 phần:

PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán.

PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán.

Phần III: Vận dụng quy trình kiểm toán vào các loại hình kiểm toán

2
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán
1.1Kiểm toán và tổ chức kiểm toán
1.1.1 Tổ chức
Là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống .mức độ liên hệ này
được xác định qua biên độ giao động từ không đến một.ở mức độ
không,các yếu tố trong cùng một hệ thống không tồn tại bấ kì mối liên
hệ nào.khi đó hệ thống rơI vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức.ở độ
một ,ngược lại ,các yếu tố quan hệ chặt chẽ,khoa học và hệ thống hoạt
động ở mức độ tối ưu .
1.1.2 Tổ chức kiểm toán
là kháI niệm bao hàm trình tự kiểm toán.một cuộc kiểm toán chỉ có
thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định
thống nhất giữa chủ thể và khách thểkiểm toán,trong đó chủ thể kiểm
toán được xác định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán vàkết hợp khéo
léo các phương pháp kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ
những cơ sở pháp lý nhất định để thực hiện cuộc kiểm toán,thoả mãn
nhu cầu khách thể kiểm toán và các bên quan tâm.theo đó tổ chức
kiểm toán là một vấn đề cơ bản,có ý nghĩa quyết định sự thành côngvà
tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán.
1.1.3 Trình tự
Là thứ tự diễn ra từ đầu đến cuối của một vấn đề đã được xắp xếp dự
tính từ trứơc lúc xảy ra hiện tượng đó.
1.1.4 Trình tự kiểm toán
Là một quy trình chung với 3 bước cơ bản
- Chuẩn bị kiểm toán
-Thực hành kiểm toán
- Kết thúc kiểm toán
PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán
2.1. Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài
chính.
2.1.1 Qui trình kiểm toán và vai trò của lập kế hoạch kiểm toán trong quy
trình kiểm toán Báo cáo tài chính.

3
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm
toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ có giá trị làm căn cứ cho
kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên Báo cáo
tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn
như sau: lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch
kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán.

Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính

Giai đoạn I
Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm

Giai đoạn II
Thực hiện kế hoạch kiểm toán

Giai đoạn III


Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán

Trong đó lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên
cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng
như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán
đã được quy định rõ trong các Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành, Chuẩn mực
kiểm toán thứ tư trong10 Chuẩn mực Kiểm toán được thừa nhận rộng rãi ( GAAS
) đòi hỏi “ công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu
có, phải được giám sát đúng đắn”. Đoạn hai trong chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam số 300 cũng nêu rõ kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch
kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đã được tiến hành một
cách có hiệu quả.

Như vậy việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của
cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán,
cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã
được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy
đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng.

4
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai trò
quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm
toán. Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau:
Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm
toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về Báo cáo
tài chính, từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu
trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín
nghề nghiệp đối với khách hàng.
Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như
phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các
chuyên gia bên ngoài… Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán
viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các
chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnh tranh cho Công ty kiểm toán
và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài.
Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh xảy ra
những bất đồng đối với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập,
kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực
hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên…
Điều này tránh xảy ra những hiểm lầm đáng tiếc giữa hai bên.
Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thể
kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện,
góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt
chặt hơn mối quan hệ giữa Công ty kiểm toán với khách hàng.

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như
hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ. Trong
khi đó hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy
trình cũng như phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt
Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và
hạn chế về mặt chất lượng. Do vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để
đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm
toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy kế hoạch kiểm toán được lập
đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công
của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các doanh nghiệp.

2.1.2 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán

Để giúp cho việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán được thực
hiện có hiệu quả, các giám đốc kiểm toán và các kiểm toán viên cao cấp thường
lập chiến lược kiểm toán. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Kế

5
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

hoạch kiểm toán, chiến lược kiểm toán được hiểu là định hướng cơ bản cho một
cuộc kiểm toán dựa trên hiểu biết của Công ty kiểm toán về tình hình hoạt động
của khách hàng và trọng tâm của cuộc kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán( bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch
kiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc như sau:

Sơ đồ 2: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán

Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Thu thập thông tin cơ sở

Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và


thực hiện các

Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán

Tìm hiểm hệ thống kiểm soát nội và đánh giá rủi ro kiểm soát

Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình

2.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát

Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 qui định: “ Kế hoạch kiểm toán phải được
lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc
kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và cuộc kiểm toán được hoàn thành
đúng hạn”. Theo đó, việc lập kế hoạch kiểm toán thường được triển khai qua các bước
chi tiết sau.

6
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

2.2.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán

Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và Công ty kiểm toán thu nhận một
khách hàng. Thu nhận khách hàng là một quá trình gồm 2 bước: thứ nhất, phải có sự
liên lạc giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu được
kiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhận
yêu cầu đó hay không. Còn đối với những khách hàng hiện tại, kiểm toán viên phải
quyết định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không? Trên cơ sở đã xác định được đối tượng
khách hàng có thể phục vụ trong tượng lai, Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công
việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp
nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán
và ký hợp đồng kiểm toán.
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán thông qua việc xem xét hệ thống kiểm soát
và xem xét tính liêm chính của ban giám đốc khách hàng thông qua việc phỏng vấn
các kiểm toán viên tiền nhiệm. Từ đó, xác định khả năng có thể kiểm toán được
công ty khách hàng.
- Nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng, để thực hiện việc này kiểm toán
viên có thể phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách hàng hoặc dựa vào kinh nghiệp
của những cuộc kiểm toán trước.
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán: trong quá trình lựa chọn nhân viên kiểm
toán phải chú trọng đến 3 vấn đề:
+ Trong nhóm hay trong đoàn kiểm toán phải có những người có khả năng giám sát
cuộc kiểm toán.
+ Tránh thay đổi kiểm toán viên cho các cuộc kiểm toán đối với một khách hàng
trong nhiều năm.
+ Lựa chọn những kiểm toán viên có kiến thức và kinh nghiệm về nghành nghề
kinh doanh của khách hàng.
- Lập hợp đồng kiểm toán: khi chấp nhận kiểm toán thì công ty kiểm toán lập một hợp
đồng kiểm toán để tránh bất đồng trong hoặc sau cuộc kiểm toán. Hợp đồng kiểm
toán là thoả thuận chính thức giữa Công ty kiểm toán và khách hàng về việc kiểm
toán và thực hiện các dịch vụ có liên quan khác. Về mặt pháp lý hợp đồng kiểm toán
là hợp đồng kinh tế và bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
+ Mục đích và phạm vi kiểm toán.

7
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
+ Trách nhiệm của ban giám đốc công ty khách hàng và công ty kiểm toán.
+ Hình thức thông báo kết quả kiểm toán.
+ thời gian tiến hành, kết thúc và phát hành báo cáo kiểm toán.
+ Căn cứ tính giá phí của cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.
+ Chỉ rõ trách nhiệm của kiểm toán viên và Công ty kiểm toán không liên quan tới
những sai sót do bản chất của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng.
2.2.2 Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch kiểm toán
tổng quát. Trong giai đoạn này, như đã được xác định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam số 300, Lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thu thập hiểu biết nghành nghề,
công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và
các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán. Trong giai đoạn này
kiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đưa ra đánh giá ban đầu
về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để
thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác.
- Tìm hiểu nghành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng. Cụ thể, mỗi
nghành nghề có một hệ thống kế toán riêng và có những nguyên tắc đặc thù. Để tìm
hiểm nghành nghề kinh doanh của công ty khách hàng có thể trao đổi với kiểm toán
viên tiền nhiệm hoặc trực tiếp trao đổi với nhân viên, ban giám đốc của khách hàng.
Ngoài ra kiểm toán viên có thể có được những hiểu biết đó qua việc nghiên cứu các
sách báo, tạp chí chuyên nghành, và ở Việt Nam, kiểm toán viên có thể lấy các
thông tin từ Niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hàng năm.
- Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán thường xuyên. Các
hồ sơ kiểm toán thường xuyên thường chứa đựng rất nhiều thông tin về khách hàng,
về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác. Ngoài ra
đa phần các công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối với
mỗi khách hàng. Hồ sơ này có các bản sao của các tài liệu như: sơ đồ tổ chức bộ
máy, điều lệ công ty, chính sách tài chính, kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm
thấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng. Việc cập
nhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán viên
không chỉ xác định được các quyết định của các nhà quản lý có phù hợp với pháp
luật của Nhà nước, với các chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúp
kiểm toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng
trên các báo cáo tài chính được kiểm toán.

8
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Tham quan nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc của công ty khách hàng. Công việc
này cung cấp cho kiểm toán viên một bức tranh tổng thể về hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty khách hàng, về sản phẩm tồn kho, dây truyền công nghệ, cách
phân công công tác, phong cách quản lý điều hành của ban giám đốc.
- Nhận diện các bên hữu quan: phải được thực hiện ngay trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán, thông qua phỏng vấn ban giám đốc, xem sổ theo dõi cổ đông, các bên
tham gia góp vốn, hoặc sổ theo dõi khách hàng. Từ đó dự đoán các vấn đề có thể
phát sinh để hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp hơn.
- Dự kiến nhu cầu đối với các chuyên gia bên ngoài: kiểm toán viên phải đánh giá khả
năng chuyên môn, mục đích, phạm vi công việc của họ, cũng như việc sử dụng tài
liệu của các chuyên gia bên ngoài cho các mục tiêu kiểm toán.Ngoài ra, còn phải
xem xét mối quan hệ giữa các chuyên gia bên ngoài với khách hàng hoặc các yếu tố
có thể ảnh hưởng tới tính khách quan của chuyên gia đó.

2.2.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho kiểm toán viên hiểu được về
các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập các thông tin về nghĩa
vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình mang
tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin này
được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban giám đốc khách hàng bao gồm các loại
sau:
- Giấy phép thành lập và điều lệ thành lập của công ty khách hàng. Việc nghiên cứu
những giấy tờ này giúp cho kiểm toán viên hiểu được quá trình hình thành, mục tiêu
hoạt động và những lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị.
- Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, biên bản thanh tra, kiểm tra của năm hiện
hành hoặc một vài năm trước. Các báo cáo trên cung cấp về thực trạng tài chính, kết
quả hoạt động kinh doanh và dự kiến về phương án kiểm tra thông qua các biên bản
kiểm tra, thanh tra trước.
- Biên bản họp của hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc. Thông qua
việc nghiên cứu các biên bản này kiểm toán viên sẽ xác định được những yếu tố ảnh
hưởng tới thông tin trên báo cáo tài chính.

9
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng: Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán việc
xem xét sơ bộ các hợp đồng đó giúp cho kiểm toán viên hình dung được những khía
cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị.

2.2.4 Thực hiện các thủ tục phân tích

Theo Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành các thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cả
các cuộc kiểm toán và chúng thường được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc
kiểm toán.
Thủ tục phân tích, theo định nghĩa của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, “là việc
phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng
biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác
hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”. Các thủ tục phân tích được sử dụng
trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán hướng tới các mục tiêu sau:
- Thu thập hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và những biến đổi quan trọng
trong hoạt động kế toán, sản xuất kinh doanh của khách hàng sau lần kiểm toán
trước.
- Tăng cường sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của khách
hàng và giúp kiểm toán viên xác định các vấn đề nghi vấn đối với khả năng hoạt
động kinh doanh liên tục của công ty khách hàng.
Nhận xét: qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm
toán giúp cho kiểm toán viên xác định được nội dung cần thiết trong cuộc kiểm toán
báo cáo tài chính. Mức độ, phạm vi thực hiện các thủ tục phân tích tại các đơn vị khách
hàng khác nhau thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp trong hoạt động
kinh doanh của đơn vị khách hàng.
Các thủ tục phân tích :
- Phân tích ngang: dựa trên cơ sở so sánh trị số của cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài
chính giữa các kỳ khác nhau. VD: so sánh số liệu kỳ này với kỳ trước, số liệu thực tế
với dự toán hoặc ước đoán của kiểm toán viên, so sánh dữ kiện của công ty khách
hàng với dữ kiện của nghành.
- Phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của các
chỉ tiêu và các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính. VD: Tỷ xuất thanh toán
nhanh, tỷ xuất tự tài trợ…

10
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

2.2.5 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro

Nếu ở các bước trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập được các thông tin mang tính
khách quan về khách hàng thì ở bước này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các thông tin đã
thu thập được để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp.

2.2.6 Đánh giá mức trọng yếu

- Khái niệm: trọng yếu là khái niềm dùng để chỉ tầm cỡ và bản chất các sai phạm của
các thông tin tài chính, hoặc đơn lẻ hoặc theo nhóm.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá mức trọng
yếu để ước tính mức độ sai sót trên báo cáo tài chính có thể chấp nhận từ đó xác
định nội dung và trình tự thực hiện các thử nghiệm kiểm toán.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra ước tính ban
đầu về tính trọng yếu và phân bổ các ước tính ban đầu đó cho các khoản mục.
+ Ước tính ban đầu về mức trọng yếu: mức ước tính ban đầu về tính trọng yếu là giá trị
tối đa mà kiểm toán viên tin rằng tại giá trị tối đa đó các báo cáo tài chính có thể bị sai
nhưng không ảnh hưởng đến các quyết định của những người sử dụng thông tin tài
chính, hay nói cách khác là mức sai sót có thể chấp nhận được đối với báo cáo tài chính.
Ý nghĩa: việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kế
hoạch để thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và thích hợp. Cụ thể, nếu
kiểm toán viên ước lượng mức trọng yếu càng thấp thì độ chính xác của các số liệu trên
các báo cáo tài chính càng cao và do đó số lượng bằng chứng cần thu thập càng nhiều
và ngược lại.
Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là một việc mang tính chất xét đoán nghề
nghiệp, nên các mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là không cố định, mà có thể
thay đổi trong quá trình kiểm toán nếu kiểm toán viên nhận thấy rằng mức ước lượng
ban đầu là quá cao hoặc quá thấp hoặc chỉ tiêu chọn làm gốc thay đổi trong quá trình
kiểm toán.
Các yếu tố ảnh hưởng tới việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:
Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một khái niệm tuyệt đối, nó được
xác định gắn liền với quy mô của công ty khách hàng. Một sai sót với một quy mô
nhất định có thể là trọng yếu đối với một công ty nhỏ nhưng lại là không trọng yếu
đối với một công ty lớn hơn. Do vậy, việc xác định một giá trị cụ thể ( bằng tiền)

11
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
trong việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho mọi khách hàng là điều không
thể có.
Yếu tố định lượng của tính trọng yếu : kiểm toán viên sử dụng các bảng hướng dẫn
của công ty kiểm toán trong việc xác định ban đầu về tính trọng yếu. Trong đó, thu
nhập thuần trước thuế, tài sản lưu động, tổng tài sản… thường được chọn làm chỉ
tiêu làm gốc.
Yếu tố định tính của tính trọng yếu: Trong thực tế để đánh giá một sai sót có phải là
trọng yếu hay không thì kiểm toán viên không chỉ đánh giá về mặt giá trị mà còn
phải đánh giá về mặt bản chất của sai sót đó, trong đó có một số sai sót luôn được
coi là trọng yếu bất kể quy mô lớn hay nhỏ.
VD1: Các gian lận thường được xem là hệ trọng hơn các sai sót với cùng một quy
mô tiền tệ.
VD2: Các sai sót có quy mô nhỏ nhưng lại gây tác động dây chuyền làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến các thông tin trên báo cáo tài chính. Các sai phạm lặp đi lặp lại.
VD3: Các sai phạm liên quan đế thu nhập thì luôn được coi là trọng yếu.
Tóm lại: mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là công việc mang tính xét đoán
nghề nghiệp dựa trên các hướng dẫn của công ty kiểm toán. Mức độ trọng yếu được
xác định ban đầu có ảnh hưởng tới quy mô của cuộc kiểm toán, ảnh hưởng đến việc
thiết kế các thủ tục kiểm toán cần thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.

+ Phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục:
Sau khi kiểm toán viên có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thì kiểm toán
viên cần phân bổ mức trọng yếu này cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính, đó
chính là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục. Mục đích của việc
phân bổ này nhằm giúp kiểm toán viên xác định được số lượng bằng chứng kiểm
toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí thấp nhất, mà
vẫn đảm bảo được tổng hợp các sai sót trên báo cáo tài chính không vượt quá ước
lượng ban đầu về tính trọng yếu.
Do hầu hết các thủ tục kiểm toán thường tập trung vào các tài khoản trên bảng cân
đối kế toán nên việc phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thường được
tiến hành đối với bảng cân đối kế toán. Việc phân bổ được thực hiện theo cả hai
chiều hướng mà các sai phạm có thể xảy ra là khai khống và khai thiếu.
Cơ sở để tiến hành phân bổ: dựa vào bản chất của các khoản mục, đánh giá về rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của kiểm toán viên và chi phí kiểm toán

12
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
cho từng khoản mục. Trong thực tế khả năng xảy ra sai sót cũng như chi phí kiểm
toán cho từng khoản mục thường khó dự đoán trước, cho nên sự phân bổ ban đầu
ước lượng về mức trọng yếu thường mang tính chủ quan đòi xét đoán nghề nghiệp
của kiểm toán viên.

2.2.7 Đánh giá rủi ro

Trên cơ sở mức trọng yếu và phân bổ mức trọng yếu thì kiểm toán viên cần đánh giá
khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trên toàn bộ báo cáo tài chính cũng như trên từng
khoản mục để phục vụ cho việc thiết kế các thủ tục kiểm toán và xây dựng chương trình
kiểm toán phù hợp. Công việc này được gọi là đánh giá rủi ro kiểm toán để lập kế hoạch
kiểm toán.
Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thường phải xác định một
mức rủi ro kiểm toán mong muốn, mức rủi ro này được xác định phụ thuộc vào hai yếu
tố:
- Mức độ mà theo đó người sử dụng thông tin tài chính bên ngoài tin tưởng báo cáo
tài chính. Cụ thể, nếu mức độ tin tưởng này càng cao thì kiểm toán viên cho rằng
người sử dụng thông tin tài chính bên ngoài đặt nhiều niềm tin vào báo cáo tài chính
và theo đó mức độ tác hại trên phạm vi toàn xã hội sẽ càng lớn nếu như có một sai
sót không được phát hiện trên báo cáo tài chính, trong trường hợp này kiểm toán
viên phải xác định một mức rủi ro mong muốn thấp và qua đó tăng số lượng các
bằng chứng kiểm toán phải thu thập, tăng độ chính xác trong các kết luận đưa ra của
mình.
- Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán được
phát hành. Nếu khả năng này càng cao thì kiểm toán viên phải xác định một mức rủi
ro mong muốn thấp hơn trường hợp khách hàng không gặp khó khăn về tài chính.
Khi đó kiểm toán viên cần xác định rủi ro mong muốn ở mức độ thấp, từ đó tăng số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập, điều này sẽ làm cho chi phí kiểm toán
tăng lên nhưng giảm thiểu được các vụ kiện mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán
sẽ gặp phải trong tương lai.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng: được thực hiện dựa vào các yếu tố:
- Báo cáo công việc kinh doanh của khách hàng
- Tính liêm chính của ban giám đốc
- Hợp đồng kiểm toán lần đầu hay hợp đồng kiểm toán đã ra hạn

13
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Các nghiệp vụ kt bất thường
- Các ước tính kế toán
- Quy mô của các số dư trên các tài khoản
Đánh giá rủi ro kiểm soát : liên quan đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ, rủi
ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá trên toàn bộ báo cáo tài chính, cũng như đối
với các khoản mục trên báo cáo tài chính.
Đánh giá rủi ro phát hiện: được xác định từ 3 loại rủi ro trên, xảy ra do các nhân tố :
- Kiểm toán viên thực hiện các bước kiểm toán không thích hợp do kế hoạch kiểm
toán chi tiết không được chú trọng hoặc do không áp dụng quy trình hợp lý cho từng
phần hành.
- Kiểm toán viên có phát hiện được các bằng chứng nhưng không nhận thức được các
sai sót cũng như ảnh hưởng của nó tới báo cáo tài chính.
- Hoàn toàn không phát hiện được sự sai sót do có sự thông đồng.

2.2.8 Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro
kiểm soát.
Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát là
một phần việc hết sức quan trọng mà kiểm toán viên phải thực hiện trong một cuộc
kiểm toán, vấn đề này được quy định trong nhóm chuẩn mực đối với công việc tại chỗ ở
điều thứ 2 trong 10 Chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận rộng rãi( GASS): “Kiểm toán
viên phải có một sự hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm soát nội bộ để lập kế hoạch kiểm
toán và để xác định bản chất, thời gian và phạm vi của các cuộc khảo sát phải thực
hiện” . Và điều này cũng được quy định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 400,
Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ: “ Kiểm toán viên phải có đủ hiểu biết về hệ thống
kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng để lập kế hoạch kiểm toán và xây dựng
cách tiếp cận kiểm toán có hiệu quả”.
Trong các bước tiếp theo của giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, dựa vào các yếu tố xác
định trong kế hoạch kiểm toán tổng quát, kiểm toán viên sẽ thiết kế các thủ tục kiểm
toán chi tiết và soạn thảo chương trình kiểm toán.

2.2.9 Thiết kế chương trình kiểm toán


2.2.9.1 Chương trình kiểm toán
Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cần thực
hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các kiểm toán viên cũng như

14
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập. Trọng tâm của
chương trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoản mục
hay bộ phận được kiểm toán.
Chương trình kiểm toán được thiết kế phù hợp sẽ đem lại nhiều lợi ích:
Sắp xếp một cách có kế hoạch các công việc và nhân lực, đảm bảo sự phối hợp giữa
các kiểm toán viên cũng như hướng dẫn chi tiết cho các kiểm toán viên trong quá
trình kiểm toán.
Đây là phương tiện để chủ nhiệm kiểm toán (người phụ trách kiểm toán) quản lý,
giám sát cuộc kiểm toán thông qua việc xác định các bước công việc được thực hiện.
Bằng chứng để chứng minh các thủ tục kiểm toán đã thực hiện. Thông thường sau
khi hoàn thành một cuộc kiểm toán, kiểm toán viên ký tên hoặc ký tắt lên chương
trình kiểm toán liền với thủ tục kiểm toán vừa hoàn thành.

2.2.9.2 Qui trình thiết kế chương trình kiểm toán

Chương trình kiểm toán của hầu hết các cuộc kiểm toán được thiết kế thành 3 phần:
trắc nghiệm công việc, trắc nghiệm phân tích và trắc nghiệm trực tiếp các số dư. Mỗi
phần được chia nhỏ thành các chu kỳ nghiệp vụ và các khoản mục trên Báo các tài
chính.
2.2.9.3 Thiết kế các trắc nghiệm công việc:
- Các thủ tục kiểm toán: Việc thiết kế các thủ tục kiểm toán của trắc nghiệm công việc
thường tuân theo phương pháp luận với 4 bước sau:
Cụ thể hoá các mục tiêu kiểm soát nội bộ cho các khoản mục đang được khảo sát.
Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù mà có tác dụng làm giảm rủi ro kiểm soát
của từng mục tiêu kiểm soát nội bộ.
Thiết kế các thử nghiệm kiểm soát đối với từng quá trình kiểm soát đặc thù nói trên.
Thiết kế các trắc nghiệm công việc theo từng mục tiêu kiểm soát nội bộ có xét đến
nhược điểm của hệ thống kiểm soát nội bộ và kết quả ước tính của thử nghiệm kiểm
soát.
- Quy mô mẫu chọn: Trong trắc nghiệm công việc, để xác minh quy mô mẫu chọn
người ta thường dùng phương pháp chọn mẫu thuộc tính được sử dụng để ước tính
tỷ lệ của phần tử trong một tổng thể có chứa một đặc điểm hoặc thuộc tính được
quan tâm.

15
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Khoản mục được chọn: sau khi xác định quy mô mẫu chọn, kiểm toán viên phải xác
định các phần tử cá biệt mang tính đại diện cao cho tổng thể.
- Thời gian thực hiện: các trắc nghiệm công việc thường được tiến hành vào thời điểm
giữa năm( nếu hợp đồng kiểm toán dài hạn) hoặc vào thời điểm kết thúc năm.
2.2.10 Thiết kế các trắc nghiệm phân tích
Các trắc nghiệm phân tích được thiết kế để đánh giá tính hợp lý chung của các số dư
tài khoản đang được kiểm toán. Trên cơ sở kết quả của việc thực hiện các trắc nghiệm
phân tích đó, kiểm toán viên sẽ quyết định mở rộng hay thu hẹp các trắc nghiệm trực
tiếp số dư. Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán, qui trình phân tích còn bao
hàm những thủ tục phân tích chi tiết đối với số dư các tài khoản và được thực hiện qua
các bước sau:
Xác định số dư tài khoản và sai sót tiềm tàng cần được kiểm tra.
Tính toán giá trị ước tính của tài khoản cần được kiểm tra.
Xác định giá trị chênh lệch có thể chấp nhận được.
Kiểm tra số chênh lệch trọng yếu.
Đánh giá kết quả kiểm tra.
2.2.11 Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư

Sơ đồ 3: Phương pháp luận thiết kế các khảo sát chi tiết số dư

Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro đối với khoản mục kiểm toán

Đánh giá rủi ro kiểm soát với chu kỳ kiểm toán được thực

Thiết kế và dự đoán kết quả các trắc nghiệm công việc


và trắc nghiệm phân tích

Thiết kế các trắc nghiệm trực tiếp số dư của khoản mục được
xét để thoả mãn các mục tiêu kiểm toán đặc thù: Các thủ tục
kiểm toán quy mô mẫu chọn khoản mục được chọn

16
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Chương trình kiểm toán được thiết kế ngay trong giai đoạn đầu của cuộc kiểm toán
và có thể cần phải sửa đổi do hoàn cảnh thay đổi. Việc thay đổi chương trình kiểm toán
ban đầu không phải là điều bất thường vì việc dự kiến trước tất cả các tình huống xảy ra
là rất khó khăn. Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, lập kế hoạch kiểm
toán, kế hoạch kiểm toán và chương trình kiểm toán sẽ được sửa đổi, bổ xung nếu cần
trong quá trình kiểm toán nếu có những thay đổi về tình huống hoặc do những kết quả
ngoài dự đoán của các thủ tục kiểm toán. Nguyên nhân dẫn đến việc phải có những sửa
đổi đáng kể trong kế hoạch kiểm toán hoặc chương trình kiểm toán cần phải được ghi rõ
trong hồ sơ kiểm toán.
Trong thực tế, chương trình kiểm toán có thể được soạn thảo trong giai đoạn thực
hiện kiểm toán hoặc không cần soạn thảo mà sử dụng chương trình kiểm toán mẫu của
công ty kiểm toán phù hợp với điều kiện thực tế.

2.3. Thực hiện kế hoạch kiểm toán

2.3.1 Khái quát quá trình thực hiện kế hoạch kiểm toán

Thực hiện kế hoạch kiểm toán là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm
toán thích ứng với đối tượng kiểm toán cụ thể để thu thập bằng chứng kiểm toán. Đó là
quá trình triển khai một cách chủ động và tích cực các kế hoạch, chương trình kiểm toán
nhằm đưa ra những ý kiến xác thực về mức độ trung thực và hợp lý của Báo cáo tài
chính trên cơ sở những bằng chứng kiểm toán đầy đủ và tin cậy. Như vậy, thực hiện kế
hoạch kiểm không chỉ là quá trình triển khai một cách máy móc kế hoạch đã vạch ra,
cũng không phải là quá trình thu thập một cách thụ động các bằng chứng kiểm toán theo
định hướng trong kế hoạch kiểm toán hoặc tràn lan theo diễn biến của thực tiễn. Trái
lại, đó là một quá trình chủ động thực hiện các kế hoạch và chương trình kiểm toán kết
hợp với khả năng của kiểm toán viên để có được những kết luận xác đáng về mức độ
trung thực và hợp lý của Báo cáo tài chính. Hơn nữa, để có được những kết luận cùng
những bằng chứng này, quá trình xác minh không chỉ dừng ở những thông tin trên Báo
cáo tài chính mà quan trọng hơn là cả những thông tin cơ sở đã được tổng hợp vào Báo
cáo này thông qua “công nghệ kiểm toán” với những thủ tục kiểm toán cụ thể.
Sơ đồ 4: Sự kết hợp các trắc nghiệm trong thủ tục kiểm tra chi tiết

Thủ tục kiểm Trắc nghiệm độ Trắc nghiệm


tra chi tiết vững chãi trong trực tiếp số dư
17
trắc nghiệm công
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

Để hiểu rõ quá trình thực hiện các trắc nghiệm này chúng ta sẽ lần lượt nghiên cứu
việc thực hiện các thủ tục kiểm toán và vận dụng chúng trong các loại nghiệp vụ.
2.3.2 Thực hiện thủ tục kiểm soát
Thủ tục kiểm soát chỉ được thực hiện sau khi tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ với
đánh giá ban đầu là khách thể kiểm toán có hệ thống kiếm soát nội bộ hoạt động có hiệu
lực. Khi đó, thủ tục kiểm soát được triển khai nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán
về thiết kế và về hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ. Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam số 500 quy định: “Thử nghiệm kiểm soát( kiểm tra hệ thống kiểm soát) là việc
kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu
hiệu của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ”.
Cụ thể, các bằng chứng kiểm toán phải minh chứng được:
- Thiết kế các hoạt động kiểm soát cụ thể của khách thể kiểm toán thích hợp để ngăn
ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai phạm trọng yếu.
- Hoạt động kiểm soát đã được triển khai theo đúng yêu cầu của thiết kế trong thực tế.
Bằng chứng về sự vận hành hữu hiệu này liên quan đến cách thức áp dụng các hoạt
động kiểm soát về tính nhất quán trong quá trình áp dụng và đối tượng áp dụng
những hoạt động đó.
Các cách thức hay phương pháp cụ thể được áp dụng trong kiểm tra hệ thống kiểm soát
nội bộ bao gồm:
- Điều tra: bao gồm quan sát thực địa và xác minh thực tế kể cả chữ ký trên các chứng
từ hoặc báo cáo kế toán.
- Phỏng vấn: là cách thức đưa ra những câu hỏi và thu thập những câu trả lời của các
nhân viên của khách thể kiểm toán để hiểu rõ về những nhân viên này và xác nhận
họ đã thực hiện các hoạt động kiểm soát.
- Thực hiện lại:được hiểu đơn giản là phép lặp lại hoạt động của một nhân viên đã làm
để xác nhận mức độ thực hiện trách nhiệm của họ với công việc được giao.
- Kiểm tra từ đầu đến cuối: là sự kết hợp giữa kỹ thuật phỏng vấn, điều tra và quan sát
theo trật tự diễn biến qua từng chi tiết của nghiệp vụ cụ thể đã được ghi lại trong sổ
cái.

18
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Kiểm tra ngược lại: theo thời gian là biện pháp kiểm tra một nghiệp vụ từ sổ cái
ngược lại đến thời điểm phát sinh nghiệp vụ đó.
Sau khi thực hiện các biên pháp kỹ thuật chủ yếu, cần lưu hồ sơ và xem xét ảnh
hưởng của những phát hiện qua kiểm tra đến lựa chọn các phép thử với mỗi hoạt động
kiểm tra, cần lưu trữ vào hồ sơ các tài liệu chủ yếu như: tính chất, thời gian và phạm vi
của các biện pháp kiểm soát nội bộ và những phát hiện của kiểm toán viên. Nếu phát
hiện qua kiểm tra trùng với đánh giá ban đầu trong kế hoạch kiểm toán thì các thủ tục
kiểm toán cơ bản được giữ nguyên theo kế hoạch. Trong trường hợp ngược lại cần thực
hiện theo các phương án khác. Chẳng hạn, có thể tiếp tục thảo luận với khách hàng để
xác định các hoạt động tương ứng để có thể cung cấp cùng một bảo đảm hoặc có thể áp
dụng các thủ tục kiểm toán chi tiết số liệu để thu nhận bằng chứng cho bảo đảm trên.
Sau kiểm tra bổ xung trên, nếu bảo đảm này không có cơ sở thì cần thay đổi lại đánh giá
hệ thống kiểm soát nội bộ trong kế hoạch và mở rộng phạm vi của các thử nghiệm cơ
bản kể cả thủ tục phân tích và kiểm tra chi tiết.

2.3.3 Thực hiện thủ tục phân tích


Các giai đoạn chủ yếu thực hiện thủ tục phân tích:
- Phát triển một mô hình: kết hợp với các biến tài chính và hoạt động. Khi phát triển
một mô hình, chúng ta xác định các biến tài chính hoặc hoạt động và mối quan hệ
giữa chúng. chẳng hạn, chi phí về tiền lương có thể là sản phẩm của các biến số như:
số lượng nhân viên và mức tiền lương bình quân hoặc số lượng sản phẩm và đơn giá
tiền lương hoặc tỷ lệ tiền lương và tổng chi phí hay doanh thu…Khi kết hợp được
những biến độc lập có liên quan, mô hình sẽ cho ta nhiều thông tin hơn và vì vậy dự
đoán sẽ chính xác hơn. Ngược lại, nếu mô hình và dự đoán đơn giản hoá quá nhiều
cũng đồng nghĩa với đơn giản hoá các phép so sánh và mức hạn của bằng chứng
kiểm toán. Để có thể tăng tính chính xác cho các dự đoán bằng cách phát triển mô
hình theo hướng chi tiết hoá dữ liệu, thậm chí chi tiết hoá thành nhiều mô hình nhỏ
hơn.
- Xem xét tính độc lập và tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ: tính độc lập và
tin cậy của dữ liệu tài chính và nghiệp vụ sử dụng trong mô hình có ảnh hưởng trực
tiếp đến tính chính xác của dự đoán và tới bằng chứng kiểm toán thu được từ thủ tục
phân tích.

19
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ: dựa theo mô hình và trên cơ sở dữ liệu
độc lập và tin cậy có thể so sánh ước tính này với giá trị ghi sổ. Phép so sánh này
cần chú ý tới những xu hướng sau:
Tính thường xuyên của việc đánh giá mối quan hệ đang được nghiên cứu.
Tính biến động tất yếu và biến động bất thường.
- Phân tích nguyên nhân chênh lệch: chênh lệch phát sinh có thể do số dư tài khoản
hay loại nghiệp vụ được kiểm toán chứa đựng sai sót nhưng có thể chênh lệch được
hình thành từ chính ước tính trong phân tích.
- Xem xét những phát hiện qua kiểm toán: bằng chứng kiểm toán thu nhận được từ
thủ tục phân tích cần được đánh giá do phát hiện qua kiểm toán không chỉ bao gồm
những sai sót trong tài khoản mà cả những quan sát hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ
thống thông tin và những vấn đề khác.

2.3.4 Thực hiện các thủ tục kiểm tra chi tiết

Kiểm tra chi tiết là việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật cụ thể của trắc nghiệm tin cậy
thuộc trắc nghiêm công việc và trắc nghiệm trực tiếp số dư để kiểm toán từng khoản
mục hoặc nghiệp vụ tạo nên số dư trên khoản mục hay loại nghiệp vụ. Quá trình kiểm
tra chi tiết bao gồm 4 bước cơ bản:
2.3.5 Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết: bước này bao gồm những công việc chủ yếu
như:
- Xác định mục tiêu của các biện pháp kỹ thuật: mục tiêu này có thể:
Thu thập bằng chứng kiểm toán về sai phạm trọng yếu trong các cơ sở dẫn liệu
thuộc các mục tiêu kiểm toán.
Ước tính giá trị chênh lệch kiểm toán đối với những cơ sở dẫn liệu của Báo cáo tài
chính đang chứa đựng khả năng có sai phạm trọng yếu.
- Lựa chọn các khoản mục trong tổng thể: bao gồm cả xác định số lượng các khoản
mục và chọn mẫu khoản mục để kiểm toán. Xác định mẫu chọn cụ thể phải căn cứ
vào tình hình thực tế của khách thể kiểm toán và kinh nghiệm của kiểm toán viên.
Với loại hình nghiệp vụ, xác định mẫu chọn cần chú ý tới thời điểm chọn mẫu để
bảo đảm tính đại diện của mẫu chọn.
2.3.6 Lựa chọn các khoản mục để kiểm tra chi tiết
Có thể áp dụng các biện pháp kiểm tra chi tiết với từng khoản mục trong tổng số hoặc
với nhóm các khoản mục. Nếu áp dụng các biện pháp kiểm tra chi tiết không phải với

20
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
tất cả các khoản mục trong một tài khoản thì phải chấp nhận mức độ không chắc chắn
của bằng chứng kiểm toán thu được. Điều này có thể chấp nhận được vì những lý do
sau:
- Trong kiểm toán cần thu nhận những bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục chứ
không phải là bằng chứng kiểm toán có tính kết luận.
- Có thể kết hợp bằng chứng kiểm toán từ nhiều nguồn.
- Chi phí kiểm tra tất cả các khoản mục là không kinh tế.
Khi không lựa chọn tất cả các khoản mục từ một tài khoản thì chúng ta có thể lựa chọn
một số khoản mục dựa trên cơ sở chọn điển hình những khoản mục chính chính hoặc
chọn mẫu đại diện hoặc kết hợp cả hai phương pháp.
2.3.7 Lựa chọn khoản mục chính
Các khoản mục chính là những khoản mục mà dựa trên đánh giá, kinh nghiệm và sự
hiểu biết về tình hình kinh doanh của khách hàng, kiểm toán viên thấy chúng là khoản
mục không phát sinh thông thường, không dự đoán trước được hay dễ có sai phạm. Để
lựa chọn được những khoản mục chính cần đọc những chứng từ tài liệu.
Bảng số1: cơ sở và thủ tục lựa chọn các khoản mục chính
Cơ sở lựa chọn khoản mục Ví dụ về thủ tục tương ứng áp dụng
Thiếu số thứ trong dãy số liên tục Đọc danh mục hoá đơn bán hàng để tìm
ra những số thứ tự bị khuyết
Trùng lắp số thứ tự trong dãy số liên tục Đọc hồ sơ nhân viên để tìm ra những hồ
sơ có 2 bản của cùng một nhân viên
trong một thời kỳ nào đó
Giá trị lớn (hoặc bé ) hơn một giá trị cụ Đọc lướt danh mục hàng tồn kho để phát
thể hiện những dòng có giá trị âm
v.v… v.v…

2.3.8 Thực hiện các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết trên các khoản mục đã
chọn
Trên cơ sở các khoản mục đã chọn, cần thực hiện các biện pháp kỹ thuật để kiểm tra
chi tiết. Có thể áp dụng các kỹ thuật kiểm toán thích hợp đối với mỗi khoản mục lựa
chọn để tiến hành kiểm tra chi tiết nhằm xác định khả năng tồn tại những chênh lệch
đến mức đòi hỏi điều tra và theo dõi. Trong các biện pháp kỹ thuật kiểm tra chi tiết xác
nhận và kiểm tra thực tế là những kỹ thuật thường được áp dụng rộng rãi trong kiểm
toán báo cáo tài chính và cần được thực hiện trên cơ sở xác định.

21
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Xác nhận:xác nhận số dư và những nghiệp vụ bằng một nguồn bên ngoài thường cung
cấp bằng chứng kiểm toán có tính thuyết phục. Xác nhận thường là một thủ tục kiểm
toán có hiệu quả vì thủ tục này có thể xác nhận được thời điểm bắt đầu của nghiệp vụ và
những hoạt động xử lý nghiệp vụ đó. Về loại xác nhận, tuỳ theo loại câu hỏi và câu trả
lời tương ứng, có thể áp dụng các loại xác nhận khác nhau: xác nhận mở, xác nhận
đóng, xác nhận chủ động, những thủ tục kiểm toán thay thế, và xác nhận thụ động.
Kiểm tra thực tế: kiểm tra thực tế được ứng dụng rộng rãi trong kiểm toán tài sản nói
chung và đặc biệt trong kiểm toán hàng tồn kho.
2.3.9 Đánh giá kết quả kiểm tra chi tiết
Cần đánh giá những bằng chứng kiểm toán đã thu thập được từ quá trình kiểm tra chi
tiết. Những phát hiện bao gồm các sai sót không chỉ về tài khoản mà còn về chức năng
hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống thông tin và có thể về tính khách
quan của ban giám đốc, và năng lực của đội ngũ nhân viên. Nếu sau kiểm tra xác đinh
có chênh lệch kiểm toán thì phải điều tra về tính chất và nguyên nhân, cân nhắc tính
trọng yếu của chênh lệch kiểm toán này trong cơ sở dẫn liệu Báo cáo tài chính về một
mục tiêu kiểm toán. Cũng cân nhắc ảnh hưởng của chênh lệch này đối với tình hình
kinh doanh của khách hàng.
2.3.10 xử lý chênh lệch kiểm toán
Xử lý chênh lệch kiểm toán tuỳ thuộc vào loại chênh lệch kiểm toán, nguyên nhân
của những chênh lệch và cả những thủ tục tiến hành khi phát hiện trong quá trình kiểm
toán cho thấy có sai sót.
Các loại chênh lệch kiểm toán: cần được phân loại theo kỳ quyết toán chênh lệch của
năm trước và chênh lệch của năm nay.
Điều tra tính chất và nguyên nhân của những chênh lệch kiểm toán cần được thực
hiện với một mức độ hoài nghi nghề nghiệp thích hợp. Theo đó, chênh lệch kiểm toán
trước hết được phân loại theo tính chất của vi phạm cố ý hoặc sai sót vô tình.
Những thủ tục tiến hành khi phát hiện dấu hiệu vi phạm tuỳ thuộc vào mức độ ảnh
hưởng tiềm tàng của nó tới báo cáo tài chính.
Báo cáo về những chênh lệch kiểm toán: cần được thực hiện ngay lập tức cho Ban
giám đốc và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh có thể thông tin cho Hội đồng quản trị trong
những trường hợp sau đây:
- Phát hiện ra sai sót trọng yếu trong Báo cáo tài chính.
- Phát hiện ra một điểm yếu quan trọng hoặc một khía cạnh cần phải báo cáo về hệ
thống kiểm soát nội bộ.

22
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Phát hiện ra sai phạm cố ý.
- Tin rằng có tồn tại sai phạm thậm chí có ảnh hưởng không trọng yếu đối với Báo
cáo tài chính.
Với những chênh lệch kiểm toán không được sửa đổi cần lập một tóm tắt tính trọng
yếu của những chênh lệch này và xét khả năng ảnh hưởng của chúng đến Báo cáo tài
chính.
2.4 Kết thúc kế hoạch kiểm toán
2.4.1 Xem xét các khoản nợ ngoài dự kiến:
Trong thực tế, có những sự kiện phát sinh trong năm có thể dẫn đến một khoản
công nợ hay thiệt hại mà cho đến thời điểm khoá sổ vẫn chưa thể xác định liệu có thể
chắc chắn xảy ra hay không, và số tiền cụ thể là bao nhiêu?
Ví dụ: Mọt khách hàng kiện đơn vị trong năm, đòi hỏi đơn vị phải bồi thường một
khoản tiền lớn. Đến cuối năm sự kiện vẫn chưa kết thúc nên chưa thể kết luận chắc chắn
rằng liệu đơn vị có phải bồi thường không và nếu có là bao nhiêu?
Những khoản công nợ hay thiệt hại đó được gọi là công nợ ngoài dự kiến hay còn
gọi là các khoản còn mập mờ. Đó là các nghĩa vụ có thể có do một sự kiện đã xảy ra tạo
nên; và việc nghĩa vụ này có thực sự có hay không, và số tiền cụ thể là bao nhiêu thì
còn tuỳ thuộc vào một số sự kiện trong tương lai. Nói cách đây là những thiệt hại có thể
chắc chắn xảy ra, hay có thể xảy ra, hay là rất khó xảy ra, sự mập mờ đó chủ yếu là do
tuỳ thuộc ở các sự kiện tương lai. Các chuẩn mực kế toán thường yêu cầu khai báo các
khoản công nợ ngoài dự kiến trọng yếu trên Báo cáo tài chính dưới dạng chú thích.
2.4.1.1 Các loại công nợ ngoài dự kiến thường có:
- Các vụ kiện chưa xét xử hoặc đang đe doạ về trách nhiệm pháp lý đối với sản
phẩm, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp v.v…
- Các sự tranh chấp về thuế với cơ quan thuế.
- Các bảo lãnh công nợ của người khác v.v…
- Các cam kết thường có mối quan hệ gần gũi với công nợ ngoài dự kiến. Ví dụ
như các cam kết mua hàng với giá cố định… là những hợp đồng cam kết duy trì những
điều kiện mà bất chấp những biến động tương lai. Do đó các cam kết sẽ trở thành thiệt
hại nếu xảy ra các biến đổi không thuận lợi, chẳng hạn giá cả tăng sẽ làm cam kết bán
hàng với giá cố dịnh trở thành thiệt hại. Các cam kết có thể được khai báo riêng, hoặc
kết hợp để khai báo cùng với các công nợ ngoài dự kiến trên Báo cáo tài chính.

2.4.1.2 Một số thủ tục kiểm toán để phát hiện các khoản công nợ ngoài dự kiến của
đơn vị:

23
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Các thủ tục kiểm toán thích hợp cho việc khảo sát các khoản nợ ngoài không được
xác dịnh rõ ràng như các thủ tục trong các lĩnh vực kiểm toán khác vì mục tiêu chủ yếu
ở giai đoạn đầu của các khảo sát là xác định sự hiện diện của các khoản nợ ngoài dự
kiến, và khi kiểm toán viên nhận thấy có các khoản nợ ngoài ý muốn tồn tại thì việc
đánh giá tính trọng yếu của chúng và sự công khai quy định có thể được giải quyết một
cách thoả đáng. Sau đây là một số thủ tục thường được sử dụng để tìm các khoản nợ
ngoài dự kiến:
- Trao đổi với người quản lý đơn vị về khả năng có thể có các khoản công nợ
ngoài dự kiến chưa được khai báo. Kiểm toán viên cần trình bày rõ cho người quản lý
biết về các khoản công nợ ngoài dự kiến nào cần phải khai báo trên Báo cáo tài chính.
Thủ tục phỏng vấn này chỉ hữu ích nếu người quản lý đơn vị không có chủ định giấu
các khoản công nợ này. Cuối cùng, kiểm toán viên sẽ yêu cầu người quản lý đơn vị
cung cấp một thư giải trình xác định đã khai báo đầy đủ các khoản công nợ ngoài dự
kiến mà đơn vị đã biết.
- Gửi thư yêu cầu luật sư, hay tư vấn pháp lý của đơn vị cung cấp thư xác nhận,
trong đó:
+ Mô tả nội dung các vụ kiện hoặc bất đồng về thuế
+ Đánh giá hậu quả,
+ Đánh giá khả năng thiệt hại.
- Xem xét các biên bản họp hội đồng quản trị để biết được các hợp đồng, các vụ
kiện quan trọng v.v…
Sau cùng, kiểm toán viên cần đánh giá tầm quan trọng của các khoản công nợ
ngoài dự kiến và nội dung cần thiết khai báo trên Báo cáo tài chính. Nếu khả năng xảy
ra của các khoản công nợ này đã rõ, và sai số tiền thiệt hại có thể ước tính gần đúng, nó
cần được ghi nhận vào sổ kế toán như một khoản công nợ thực sự. Nếu khả năng xảy ra
của các khoản công nợ này là hiếm, hoặc khoản công nợ không trọng yếu, lúc đó việc
khai báo trên Báo cáo tài chính sẽ là không cần thiết. Việc đánh giá của kiểm toán viên
phải được tiến hành một cách độc lập chứ không phải dựa vào ý kiến của đơn vị.
2.4.1.3 Xem xét sự kiện xảy ra sau ngày khoá sổ kế toán:
Phần lớn công việc quan trọng của một cuộc kiểm toán được tiến hành sau ngày
kết thúc niên độ. Riêng từ ngày kết thúc niên độ cho đến hoàn thành Báo cáo kiểm toán,
có thể xảy ra những sự kiện có ảnh hưởng đến việc đánh giá hoặc khai báo trên Báo cáo
tài chính. Do đó, kiểm toán viên còn có trách nhiệm xem xét các sự kiện xảy ra trong
thời gian này, tức là những sự kiện hay nghiệp vụ xảy ra sau ngày khoá sổ kế toán cho
đến trước ngày hoàn thành kiểm toán và phát hành Báo cáo kiểm toán.
Công việc xem xét sự kiện xảy ra sau ngày khoá sổ kế toán thường được kiểm toán
viên tiến hành vào cuối cuộc kiểm tra.

24
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Có hai loại sự kiện xảy ra sau ngày khoá sổ kế toán cần được quan tâm bởi những
là quản lý đơn vị và kiểm toán viên là: các sự kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến Báo cáo
tài chính và đòi hỏi phải điều chỉnh lại Báo cáo tài chính; và các sự kiện không ảnh
hưởng đến Báo cáo tài chính nhưng cần phải khai báo trên Báo cáo tài chính.
2.4.1.4.Các sự kiện có ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính và đòi hỏi phải
điều chỉnh lại Báo cáo tài chính:
Những sự kiện hay nghiệp vụ này cung cấp những bằng chứng bổ sung về sự việc
đã xảy ra trước ngày kết thúc niên độ, và chúng ảnh hưởng đến các đánh giá trong quá
trình trình bày Báo cáo tài chính. Các chuẩn mực kế toán thường yêu cầu điều chỉnh
các Báo cáo tài chính tuỳ theo sự đánh giá về ảnh hưởng của các bằng chứng bổ sung về
các sự kiện sau ngày khoá sổ .
Ví dụ: một khách hàng của đơn vị bị phá sản trong một thời gian ngắn sau ngày
kết thúc niên độ, và đang lúc cuộc kiểm toán được tiến hành.
Đây là một khách hàng có số dư rất lớn trong khoản phải thu của đơn vị và được
đánh giá là tốt, hoàn toàn có khả năng thu hồi. Việc phá sản của khách hàng đó khiến
kiểm toán viên phải yêu cầu đơn vị gia tăng khoản dự phòng nợ khó đòi vào ngày 31/12
cho phù hợp. Bởi việc phá sản này chứng tỏ tình hình tài chính của khách hàng đã suy
yếu trước ngày 31/12, và dơn vị đã sai lầm khi đánh giá khoản phải thu này là tốt và có
khả năng thu hồi. Trong trường hợp này, chính bằng chứng có được sau ngày khoá sổ
được dùng để điều chỉnh lại việc đánh giá khoản phải thu có được vào ngày kết thúc
niên độ.
Dưới đây là một số sự kiện xảy ra sau ngày khoá sổ thuộc loại này:
- Kết quả xét xử một vụ kiện sau ngày khoá sổ cho thấy số tiền đơn vị bị bồi
thường là trọng yếu. Mặc dù vụ kiện đã được khai báo trên Báo cáo tài chính như một
khoản công nợ ngoài dự kiến, nhưng bây giờ đã có đủ bằng chứng để xác định khoản
thiệt hại này một cách chính xác. Do đó cần phải đưa nó vào số liệu kế toán cứ không
thể khai báo dưới dạng chú thích được.
- Một số sec của khách hàng đã ghi vào tồn quỹ của đơn vị ngày 31/12, đầu năm
sau khi nộp ngân hàng mới phát hiện là không có khả năng thanh toán. Nếu số tiền trên
sec là trọng yếu, cần phải điều chỉnh lại tồn quỹ ngày 31/12 và loại trừ các séc không có
khả năng thu tiền.
- Một tài sản cố định không sử dụng được nhượng bán với một giá thấp hơn giá
được hạch toán trên sổ sách. Trường hợp này chỉ cần điều chỉnh lại giá tài sản cố định
này trên báo cáo tài chính vì giá hạch toán trên sổ sách không chính xác v.v…
2.4.2.Các sự kiện không ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo tài chính nhưng cân fphải
khai báo trên thuyết minh báo cáo tài chính:

25
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Các sự kiện này chỉ thực sự phát sinh sau ngày kết thúc niên độ, nên không phải
điều chỉnh lại số liệu trên Báo cáo tài chính. Tuy nhiên, vì tính chất quan trọng của nó
nên cần phải khai báo trên thuyết minh Báo cáo tài chính để tránh sự hiểu lầm khi sử
dụng Báo cáo tài chính .
Ví dụ: Sau ngày kết thúc niên độ, một trận hoả hoạn đã xảy ra và thiieu huỷ phần
lớn nhà xưởng, thiết bị của đơn vị, trong trường hợp này, giá trị của nhà xưởng, thiết bị
trên báo cáo tài chính không thể điều chỉnh giảm vì nó thực sự còn tốt cho đến cuối
năm. Tuy nhiên những người sử dụng báo cáo tài chính có thể bị ngộ nhận nếu họ
không được cho biết rằng hầu hết các tài sản đó không còn khả năng sử dụng nữa.
Dưới đây là một số sự kiện xảy ra sau ngày khoá sổ thuộc loại này:
- Sự hợp nhất với một công ty đang cạnh tranh với đơn vị.
- Sự phát hành trái phiếu hay cổ phần.
- Sự sụt giảm giá thị trường của hàng tồn kho vì Nhà nước cấm bán loại sản
phẩm đó từ thời điểm X…
2.4.3.Các thủ tục kiểm toán :
Các thủ tục kiểm toán có thể áp dụng để xem xét các sự kiện xảy ra sau ngày khoá
sổ có thể chia làm hai loại: Loại thứ nhất bao gồm các thủ tục kiểm tra số dư cuối
nămcủa các tài khoản, và loại thứ hai là các thủ tục chuyên dùng để phát hiện các sự
kiện sau ngày khoá sổ .
Loại thứ nhất thường là các thủ tục kiểm tra chung quanh thời điểm khoá sổ và các
thử nghiệm đánh giá. Dó chính là các thử nghiệm cơ bản được tiến hành khi kiểm toán
các khoản mục trên Báo cáo tài chính. Bên cạnh việc cung cấp các bằng chứng về sự
chuẩn xác của các số liệu này, nó còn cho thấy nhiều sự kiện xảy ra sau thời điểm khoá
sổ. Ví dụ khi kiểm tra khả năng thu hồi nợ của các khoản phải thu, kiểm toán viên sẽ
phải xem xét việc thu hồi các khoản nợ được ghi trên Báo cáo tài chính sẽ tiến hành thế
nào sau thời điểm khoá sổ.
Loại thứ hai đựơc thiết kế để tìm các thông tin về các sự kiện xảy ra sau ngày khoá
sổ để tiến hành các điều chỉnh, hoặc bổ sung các thuyết minh trên Báo cáo tài chính.
Các biện pháp cần thực hiện nhằm thẩm tra về các sự kiện tiếp theo bao gồm những nội
dung sau:
a) Đọc các biên bản họp Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, các
biên bản kiểm toán nội bộ sau ngày lập bảng cân đối kế toán, và chú ý thẩm tra các vấn
đề đã được thảo luận tài đại hội mà biên bản chưa ghi.
b) Đọc và so sánh các bản Báo cáo tài chính định kỳ gần nhất của doanh nghiệp,
cũng như các văn bản cần thiết khác, chẳng hạn như các báo cáo về ngân sách, dự đoán
lưu chuyển tiền tệ, và các báo cáo quản lý có liên quan khác.

26
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
c) Thẩm tra hoặc đánh giá các phiếu thẩm tra viết hoặc vấn đáp của bộ phận tư
vấn pháp lý của doanh nghiệp về các vấn đề đang còn tranh chấp.
d) Soát xét lại các biện pháp mà các nhà quản lý đã thiết lập để khẳng định rằng
các sự kiện tiếp sau quan trọng đã được xác định. Hỏi lại các nhà quản lý xem các sự
kiện đã được công bố trên Báo cáo tài chính hay chưa? kiểm toán viên có thể hỏi các
nhà quản lý doanh nghiệp về các vấn đề sau:
+ Có phát hành cổ phiếu hoặc giấy nợ hay không?
+ Có sự xáo trộn, hoặc có ý định xáo trộn về tổ chức hay không (phân chia, giải thể,
sát nhập các bộ phận…)?
+ Có dự kiến bán hay đã bán tài sản hoặc một bộ phận của doanh nghiệp hay
không?
+Tài sản của doanh nghiệp có bị tổn thất hay không (do hoả hoạn, bị thiếu hụt, bị
mất cắp…)?
+ Có sự điều chỉnh bất thường nào, hoặc có ý định điều chỉnh Báo cáo tài chính sau
ngày lập bảng cân đối kế toán hay không?
+ Các nhà quản lý doanh nghiệp có nhận thức được những sự kiệnđã xảy ra, hoặc
sẽ xảy ra làm nảy sinh các vấn đề cần phải xem xét trong Báo cáo tài chính hay không?
Ví dụ như các sự kiện có tính chất vi phạm khái niệm hoạt động liên tục…
Nếu xét thấy các sự kiện tiếp theo có ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo tài chính,
thì kiểm toán viên phải áp dụng bổ sung những biện pháp kiểm tra để xác định xem các
sự kiện đó có được công bố trong báo cáo tài chính hay không? Kiểm toán viên có thể
yêu cầu cung cấp thư giải trình xác định đã khai báo các sự kiện trọng yếu.
Nếu kiểm toán viên nhận thấy cần phải điều chỉnh Báo cáo tài chính hay công bố,
nhưng các nhà quản lý doanh nghiệp không chịu thực hiện, thì hành động của kiểm toán
viên tuỳ thuộc vào nội dung Báo cáo kiểm toán mà kiểm toán viên sẽ đưa cho khách
hàng… ở đây kiểm toán viên cần chú ý về trách nhiệm pháp lý của mình, và cần tham
khảo ý kiến của luật sư.

2.4.4.Xem xét tính hoạt động liên tục của doanh nghiệp:
Khi lên kế hoạch kiểm toán , khi thực hiện các thủ tục kiểm toán, cũng như khi
đánh giá và thông báo kết luận của mình, chuyên gia kiểm toán luôn phải đánh giá xem
liệu tính liên tục của hoạt động kinh doanh khi lập Báo cáo tài chính có đứng vững
không, hay đơn vị không thể duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
Để hiểu rõ vấn đề này, ta phải xem xét các dấu hiệu xem doanh nghiệp có khả
năng sắp phải chấm dứt mọi hoạt động hay phải thu hẹp quy mô hoạt động hay không?
Các dấu hiệu về tài chính:
Giá trị thuần hoặc vốn lưu động âm.

27
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Các khoản vay dài hạn đến hạn trả mà không có triển vọng gia hạn hoặc trả nợ,
hoặc chỉ sử dụng các khoản tín dụng ngắn hạn để tài trợ cho các khoản tài sản
dài hạn.
Các tỉ suất tài chính cho dấu hiệu xấu.
Lỗ kinh doanh lớn.
Chậm trả hoặc không phân phối cổ tức.
Không thể trả các chủ nợ đúng thời hạn.
Khó khăn trong việc dấp ứng các điều kiện của hợp đồng vay.
Người cung cấp tín dụng từ chối cấp tín dụng trong trường hợp không thanh
toán khoản nợ cũ.
Không thể tìm được nguồn tài trợ để phát triển các sản phẩm mới hoặc các
khoản đầu tư mấu chốt khác…
Dấu hiệu về hoạt động của đơn vị:
* Thành viên quan trọng của ban giám đốc từ chức mà không có người thay thế.
Mất một thị trường quan trọng, một cơ sở sử dụng biển hiệu hay cơ sở thuê nhãn
hiệu thương mại quan trọng, hoặc mất một nhà cung cấp chính.
Rối loạn trong công ty hay thiếu những nguyên vật liệu quan trọng.
Các dấu hiệu khác
Không tuân thủ các nghĩa vụ về vốn pháp định hay các quy định ghi trong điều
lệ khác.
Những vụ kiện các đang diễn ra có thể có kết cục rất xấu đến sự tồn tại của
doanh nghiệp.
Những thay đổi của luật pháp hay trong quyết định của Chính phủ…
Trong trường hợp nghi ngờ về tính liên tục hoạt động kinh doanh, kiểm toán viên
phải thu thập các bằng chứng đủ và thích hợp để đảm bảo một cách thoả đáng khả năng
tiếp tục hoạt động kinh doanh trong một tương lai gần của đơn vị.
Các thủ tục kiểm toán nhằm thu thập các bằng chứng về tính liên tục hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:
+ Phân tích và trao đổi với ban giám đốc về những nhu cầu ngân quỹ của đơn vị, về
các kết quả mong đợi và các khoản dự trù khác.
+ Xem xét các sự kiện sau ngày kết toán để xác định những yếu tố có thể tác động
tới tính liên tục của hoạt đông kinh doanh.
+ Phân tích và trao đổi về các Báo cáo tài chính giữa kỳ cuối cùng.
+ Xem xét các điều kiện và nghĩa vụ của hợp đồng vay để tìm ra tất cả những điều
kiện không được đơn vị tuân thủ.
+ Đọc các biên bản họp đại hội cổ đông, hội đồng quản trị và các uỷ ban quan trọng
để tìm ra việc nhắc tới những khó khăn tài chính nào đó.

28
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
+ Hỏi thông tin từ các luật sư về các vụ kiện cáo hay tranh chấp.
+ Xác minh tính hiện hữu, tính hợp pháp và việc áp dụng những thoả thuận ký với
một bên liên quan hay một bên thứ ba về việc đảm bảo hỗ trợ tài chính, đánh giá khả
năng tài chính của bên này để có thể cung cấp các nguồn vốn bổ sung.
+ Xem xét các tình hình đơn vị về các đơn đặt hàng miễn phí.
Khi thấy có vấn đề về tính liên tục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thì tuỳ
theo mức độ kiểm toán viên sẽ có những giải trình cần thiết.
2.4.5.Thư giải trình của ban giám đốc khách hàng:
Kiểm toán viên phải thu thập được các giải trình cần thiết của ban giám đốc đơn
vị:
- Sự thừa nhận của ban giám đốc về trách nhiệm lập báo cáo tài chính :
Chuyên gia kiểm toán phải thu thập được các bằng chứng rằng ban giám đốc thừa
nhận trách nhiệm của mình đối với việc lập và trình bày trung thực Báo cáo tài chính,
phù hợp với một chuẩn mực kế toán xác định và đã thông qua Báo cáo tài chính được
lập theo tiêu chuẩn trên. Kiểm toán viên có thể được đảm bảo về sự thừa nhận trách
nhiệm này và về việc thông qua Báo cáo tài chính bằng cách xem xét các biên bản họp
hội đồng quản trị hoặc cơ quan tương đương bằng cách yêu cầu các văn bản giải trình
của ban Giám đốc hoặc bản sao các Báo cáo tài chính đã được ký.
- Sử dụng các giải trình của ban giám đốc như một bằng chứng kiểm toán:
+ Chuyên gia kiểm toán phải thu thập các giải trình bằng văn bản của các nhà quản
lý doanh nghiệp về những vấn đề trọng yếu đối với các Báo cáo tài chính khi thiếu các
bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp khác. Để tránh mọi sự hiểu lầm giữa chuyên
gia kiểm toán và ban giám đốc, các giải trình bằng miệng nên được ban Giám đốc xác
nhận lại bằng văn bản.
+ Các giải trình yêu cầu ban Giám đốc cung cấp chỉ có thể giới hạn trong các vấn
đề được coi là có ảnh hưởng nghiêm trọng tới Báo cáo tài chính, nếu xét riêng biệt hoặc
tổng hợp. Khi xét thấy cần thiết đối với một ssó khoản mục nhất định, kiểm toán viên
có thể trình bày với ban Giám đốc quan niệm ciủa mình về tính trọng yếu.
+ Trong quá trình kiểm toán, Ban giám đốc có thể gửi nhiều bản giải trình cho
kiểm toán viên, hoặc do tự nguyện hoặc do trả lời các câu hỏi, yêu cầu cụ thể. Khi các
giả trình này có liên quan đến các vấn đề trọng yếu của Báo cáo tài chính thì kiểm toán
viên phải:
tìm kiếm thu thập bằng chứng kiểm toán có tính chất củng cố các giải trình này
từ các nguồn trong và ngoài doanh nghiệp;
Đánh giá xem các giải trình của các nhà quản lý doanh nghiệp có hợp lý và nhất
quán với các bằng chứng kiểm toán khác đã thu thập được hay không, kể cả các
giải trình khác ; và

29
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Cân nhắc xem người lập thư giải trình có biết rõ vấn đề được giải trình hay
không.
+ Giải trình của ban giám đốc không thể thay thế cho các bằng chứng kiểm toán
khác mà kiểm toán viên có khả năng có được.Ví dụ như giải trình của các nhà quản lý
doanh nghiệp về nguyên giá của một tài sản không thể thay thế cho bằng chứng kiểm
toán về nguyên giá tài sản đó mà thông thương kiểm toán viên sẽ phải tiến hành thu
thâpf mới có được. Nếu kiểm toán viên không thể thu thập các bằng chứng kiểm toán
đầy đủ và thích hợp về một vấn đề có hoặc có thể có ảnh hưởng trọng yếu tới các báo
cáo tài chính, trong khi việc thu thập các bằng chứng đó thường là có thể thực hiện
được, thì điều này tạo nên sự giới hạn về phạm vi kiểm toán, ngay cả khi kiểm toán
viên đã nhận được bản giải trình của ban giám đốc về vấn đề đó.
+ Trong những trường hợp nhất định, giải trình của ban giám đốc có thể là bằng
chứng duy nhất có khả năng thu thập được.
+ Nếu giải trình của ban giám đốc mâu thuẫn với các bằng chứng kiểm toán thì
kiểm toán viên phải điều tra xác minh tình hình cụ thể và nếu thấy cần thì xác minh lại
độ tin cậy của các bản giải trình khác của ban giám đốc.
- Lưu vào hồ sơ các giải trình của ban giám đốc:
+ Thồng thường, kiểm toán viên lưu vào trong hồ sơ làm việc của mình bằng
chứng các giải trình của ban giám đốc dưới hình thức tóm tắt các lần thảo luận miệng
hoặc các bản giải trình viết của họ.
+ Giải trình viết là bằng chứng kiểm toán có giá trị hơn giải trình bằng miệng và
có thể theo các hình thuức dưới đây:
Thư giải trình của nhà quản lý
Thư của kiểm toán viên nêu lên những hiểu biết chính của chuyên gia kiểm toán
về các giải trình của ban giám đốc và được ban giám đốc xác nhận là đúng;
Các biên bản họp hội đồng quản trị hoặc cơ quan tương đương, hoặc một bản
sao Báo cáo tài chính đã được ký.
- Biện pháp xử lý khi ban giám đốc từ chối cung cấp thư giải trình: Nếu ban
Giám đốc từ chối cung cấp giải trình mà kiểm toán viên cho là cần thiết thì điều này sẽ
làm hạn chế phạm vi kiểm toán và kiểm toán viên phải đưa ra báo cáo dạng chấp nhận
từng phần hoặc không thể cho ý kiến. Trong những trường hợp như vậy, kiểm toán viên
phải đánh giá độ tin cậy của các giải trình khác của ban Giám đốc trong quá trình kiểm
toán và cân nhắc xem việc từ chối này có thể có những ảnh hưởng khác không tới Báo
cáo kiểm toán.
2.4.6. Tổng hợp kết quả kiểm toán:
Trước khi lập Báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên cần phải đánh giá tổng quát về
các kết quả thu thập được. Công việc này nhằm soát xét lại toàn bộ quá trình kiểm toán,

30
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
kết quả thu được và cân nhắc các cơ sở để đưa ra ý kiến về Báo cáo tài chính. Để đạt
được mục đích này, kiểm toán viên thường tiến hành các thủ tục sau:
2.4.6.1.Áp dụng các thủ tục phân tích:
Áp dụng các thủ tục phân tích để đánh giá tính đồng bộ và xác thực của các thông
tin tài chính thu thập được, nhất là số liệu kiểm toán của các khoản mục trên Báo cáo tài
chính. Mọi diễn biến bất thường của các thông tin này so với số liệuđơn vị, số liệu kế
hoạch, số liệu năm trước, số liệu bình quân trong ngành, các thông tin tài chính khác, và
các thông tin khong có tính chất tài chính, đều cần được giải thích thấu đáo. Thủ tục này
giúp kiểm toán viên xác định được những bộ phận cần phải thu thập thêm bằng chứng
kiểm toán để làm vững thêm ý kiến của kiểm toán viên. Đòng thời nó hạn chế những
thiếu sót, tính phiến diện của các thủ tục kiểm toán áp dụng cho từng bộ phận riêng lẻ.
2.4.6.2.Đánh giá sự đầy đủ của bằng chứng:
Là công việc của kiểm toán viên chính để đảm bảo rằng mọi khía cạnh quan trọng
của cuộc kiểm toán đã được kiểm tra và đánh giá đầy đủ. Để thực hiện mục tiêu này,
cần kiểm tra lại chương trình kiểm toán để xem mọi bộ phận của nó đã được hoàn tất
đúng đắn và lập hồ sơ kiểm toán đầy đủ không? Kiểm toán viên cũng cần xem xét
chương trình kiểm toán đã điều chỉnh và các thủ tục kiểm toán đã được thực hiện với
các vấn đề phát hiện được trong quá trình kiểm toán. Ví dụ những sai sót quan trọng
phát hiện được trong khâu tiêu thụ, chương trình kiểm toán doanh thu có được điều
chỉnh thích hợp không?

2.4.6.3.Đánh giá tổng hợp các sai sót phát hiện được:
Để có thể đưa ra ý kiến chấp nhận toàn bộ, kiểm toán viên cần khẳng định rủi ro
kiểm toán, hay khả năng xảy ra sai sót trọng yếu trong Báo cáo tài chính ở mức độ thấp.
Do đó kiểm toán viên cần đánh giá tổng hợp các sai sót phát hiện được trước khi hình
thành Báo cáo kiểm toán.
Trước tiên kiểm toán viên cần đánh giá tổng hợp các sai sót khôngtrọng yếu phát
hiện được trong quá trình kiểm toán.
Trong quá trình thực hiện các thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên cần tìm thấy
những sai sót trong số liệu kế toán của đơn vị. Đối với những sai sót trọng yếu, kiểm
toán viên lập ra các bút toán điều chỉnh ngay trong quá trình kiểm toán khoản mục có
sai sót đó. Các sai sót còn lại sẽ không dựoc lập bút toán điều chỉnh. Tuy các sai sót này
sẽ không trọng yếu nếu xét riêng từng sai sót nhưng có thể sẽ trở nên trọng yếu khi kết
hợp lại với nhau. Vì vậy kiểm toán viên cần đánh giá tổng hợp về các sai sót chưa được
điều chỉnh này, để xem khi tích luỹ lại thì chúng có trở nên trọng yếu hay không? Để
làm được điều này, kiểm toán viên cần ghi lại các sai sót chưa được điều chỉnh này
trong lúc kiểm tra các khoản mục. Đến khi chuẩn bị hoàn thành kiểm toán, kiểm toán

31
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
viên sẽ tiến hành đánh giá tổng hợp ảnh hưởng của chúng đến Báo cáo tài chính. Một
công cụ thường được dùng trong trường hợp này là Biểu các sai sót chưa được điều
chỉnh.
Sau đó, kiểm toán viên cần đánh giá tổng hợp các sai sót dự kiến của toàn Báo cáo
tài chính, vì khi áp dụng kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán, kiểm toán viên không xác định
được sai sót thực sự của khoản mục (tổng thể) mà chỉ dựa vào kết quả mẫu để ước tính
sai sót của khoản mục, gọi là sai sót dự kiến. Sai sót dự kiến sẽ được so sánh với mức
sai sót có thể bỏ qua để quyết định xem có thể chấp nhận khoản mục đó hay không?
Cuối cùng, kiểm toán viên cần tổng hợp toàn bộ sai sót dự kiến của các khoản mục để
xem xét chúng có vượt mức trong yếu của Báo cáo tài chính hay không, và kết hợp với
ảnh hưởng của các sai sót chưa được điều chỉnh. Nếu sai sót tổng hợp này vượt mức
trọng yếu hoặc xấp xỉ mức trọng yếu, kiểm toán viên không đưa ra Báo cáo kiểm toán
chấp nhận toàn bộ. Trong trường hợp này, kiểm toán viên sẽ yêu cầu đơn vị điều chỉnh
lại các sai sót chưa được điều chỉnh, hoặc tiến hành thêm các thủ tục kiểm toán bổ
sung… Hoặc đưa ra một báo cáo không chấp nhận, hoặc chấp nhận có loại trừ Báo cáo
tài chính của đơn vị.
2.4.6.4.Rà soát lại hồ sơ kiểm toán:
Vào giai đoạn hoàn thành kiểm toán, việc kiểm tra để rà soát lại hồ sơ kiểm toán là
một điều cần thiết vì:
- Để đánh giá công việc của kiểm toán viên phụ, vì tuy đây là những người đảm
nhiệm một khối lượng công việc rất lớn trong một cuộc kiểm toán, được đào tạo đầy đủ
nhưng họ thường thiếu kinh nghiệm, điều này làm hạn chế khả năng xét đoán nghề
nghiệp của họ, nhất là trong từng tình huống phức tạp.
- Đảm bảo sự tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán.
- Khắc phục những thiên lệch trong xét đoán của kiểm toán viên, vì trong những
cuộc kiểm toán lớn và kéo dài, kiểm toán viên phải giải quyết nhiều vấn đề phức tạp,
nên đễ dẫn đến thiếu cái nhìn đúng đắn và toàn diện.
Việc rà soát lại hồ sơ kiểm toán thường được tiến hành vào thời điểm kết thúc giai
đoạn thực hiện kiểm toán. Thường việc này được tiến hành qua các cấp: Kiểm toán viên
chính kiểm tra hồ sơ kiểm toán của kiểm toán viên phụ thực hiện; chủ nhiệm kiểm tra
công việc của kiểm toán viên chính và một số điểm chính trong hồ sơ kiểm toán của
kiểm toán viên phụ; cuối cùng chủ phần hùn- người sẽ ký tên trên Báo cáo kiểm toán –
phải kiểm tra toàn bộ hồ sơ kiểm toán lần cuối, tuy nhiên lần kiểm tra này thường tập
trung vào công việc của các chủ nhiệm.
Trong những cuộc kiểm toán lớn, có thể có một cuộc kiểm tra toàn bộ hồ sơ kiểm
toán do một kiểm toán viên hoàn toàn độc lập với cuộc kiểm toán đó tiến hành, người
kiểm tra sẽ đóng vai trò phản biện để bảo đảm chất lượng của cuộc kiểm toán. Đoàn

32
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
kiểm tra thực hiện hợp đồng kiểm toán đó phải bảo vệ các bằng chứng thu thập được và
các kết luận đạt được trong qua trình kiểm toán.
2.4.6.5.Kiểm tra các khai báo trên báo cáo tài chính:
Kiểm toán viên có trách nhiệm kiểm tra xem báo cáo tài chính có được lập phù
hợp với các chế độ kế toán thích hợp được áp dụng nhất quán hoặc nếu các thay đổi thì
những thay đổi về chếđộ kế toán này có được trình bày thích hợp hay không;
Thông tin thích hợp có được thuyết minh, được phân loại và miêu tả phù hợp với
các chế độ kế toán có thể chấp nhận được và nếu có thể phù hợp với các yêu cầu pháp
luật hay không;
Thông tin trong báo cáo tài chính có khớp với sự hiểu biết của kiểm toán viên về
tình hình kinh doanh của khách hàng hay không
Cần thực hiên những thủ tục tục phân tích như so sánh tỉ suất và xu hướng trong
Báo cáo tài chính với những tỉ suất và xu hướng theo ước tính của kiểm toán viên. Nên
cân nhắc xenm liệu dựa vào bằng chứng kiểm toán thu thập được và dựa vào sự hiểu
biết mà kiểm toán viên tích luỹ được về khách hàng;
Kiểm toán viên có thu nhận, minh chứng và giải thích được về những vấn đề bất
thường hoặc nằm ngoài ước tính hoặc về mối quan hệ trong Báo cáo tài chính;
Báo cáo năm nay có vẻ hợp lý so với Báo cáo tài chính năm ngoái hay không;
Trên góc độ của một người hợp lý khi sử dụng Báo cáo tài chính thì Báo cáo tài
chính có nghĩa hay không.
Kết quả của các thủ tục phân tích có thể giúp kiểm toán viên gợi ý ra những thay
đổi đối với việc trình bày hoặc thuyết minh, đặt thêm câu hỏi, thực hiện các thủ tục
kiểm toán khác hoặc sửa đổi ý kiến của kiểm toán viên.
2.4.6.6.Xem xét các thông tin khác trong báo cáo của đơn vị:
Trong các công ty lớn, Báo cáo tài chính và Báo cáo kiểm toán thường được phát
hành trong báo cáo năm để cung cấp cho các cổ đông. Trong báo cáo năm bao gồm cả
một số thông tin khác ngoài Báo cáo tài chính, ví dụ như Báo cáo của ban giám đốc, các
giải trình về hoạt động của công ty… Các Chuẩn mực thường yêu cầu kiểm toán viên
độc lập có trách nhiệm đọc để đảm bảo các thông tin khác vẫn thống nhất với các Báo
cáo tài chính. Nếu phát hiện được một sự không nhất quán một cách trọng yếu, kiểm
toán viên cần yêu cầu đơn vị điều chỉnh lại các thông tin này. Nếu đơn vị từ chối, kiểm
toán viên có thể sửa lại Báo cáo kiểm toán để diễn đạt sự thiếu nhất quán này, hoặc
không cho phép đơn vị sử dụng Báo cáo kiểm toán, hoặc thậm chí rút lui khỏi hợp đồng
kiểm toán đó.
2.4.7. Lập báo cáo kiểm toán:
Trừ khi có lý do để đưa ra một ý kiến chấp nhận từng phần, nếu không ta có thể
đưa ra ý kiến chấp nhận toàn phần khi:

33
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Các báo cáo tài chính được lập phù hợp với các chế độ kế toán có thể chấp
nhận, được áp dụng nhất quán hoặc nếu có sự thay đổi, những thay đổi kế về kế
toán được trình bày một cách phù hợp.
- Thông tin thích hợp được thuyết minh, phân loại và mô tả phù hợp với các chế
độ kế toán được chấp nhận và các đòi hỏi về mặt pháp lý, nếu có thể;
- Thông tin trong các báo cáo tài chính phù hợp với các hiểu biết của kiểm toán
viên về tình hình kinh doanh của khách hàng.
Sau đây là những lý do đối với việc đưa ra một ý kiến chấp nhận từng phần hoặc ý
kiến trái ngược hoặc từ chối không đưa ra ý kiến:
- Có sự giới hạn trong phạm vi công tác kiểm toán;
- Kiểm toán viên bất đồng với ban quản lý về các báo cáo tài chính
Bất cứ khi nào đưa ra một ý kiến kiểm toán ngoài ý kiến chấp nhận toàn bộ ra,
cũng phải mô tả một cách rõ ràng toàn bộ các lý do trong báo cáo kiểm toán và một
phần định lượng những ảnh hưởng có thể lên các Báo cáo tài chính, trừ khi không thể
thực hiện được. Tốt hơn là thông tin này nên được trình bày trong một đoạn riêng biệt,
trước khi kiểm toán viên đưa ra ý kiến hoặc từ chối không đưa ra ý kiến. Thông tin này
cũng tham chiếu tới phần đề cập sâu hơn về lý do này trong ghi chú Báo cáo tài chính.
2.4.7.1. Ảnh hưởng của phạm vi công việc kiểm toán đối với ý kiến kiểm toán:
Trong một số tình huống, nếu như phạm vi của cuộc kiểm toán bị giới hạn, cần cố
gắng thực hiện một thủ tục kiểm toán thay thế hợp lý để thu thập các bằng chứng kiểm
toán thích hợp và đầy đủ nhằm hỗ trợ cho một ý kiến chấp nhận toàn bộ.
Ví dụ: Theo kế hoach làm việc thì kiểm toán viên không có khả năng đến tham dự
cuộc kiểm kê kho của khách hàng, các ghi chép của khách hàng có thể là không đầy đủ,
không thể thực hiện một thủ tục kiểm toán mà kiểm toán viên cho cần phải có.
Khi cho rằng giới hạn về phạm vi cuộc kiểm toán không cho phép đưa ra một ý
kiến chấp nhận toàn bộ, thì phải nêu ra giới hạn đó trong báo cáo kiểm toán. Trong Báo
cáo kiểm toán chỉ ra rằng ý kiến chấp nhận từng phần được đưa ra liên quan đến những
điều chỉnh mà nếu không có hạn chế về phạm vi kiểm toán thì những điều chỉnh này đã
được phát hiện và xử lý.
Có thể từ chối không đưa ra ý kiến kiểm toán khi ảnh hưởng của việc bị giới hạn
trong phạm vi kiểm toán quan trọng đến mức không thể đưa ra được bất kỳ ý kiến nào
về báo cáo tài chính đó.
Đôi khi giớ hạn về phạm vi kiểm toán có thể do khách hàng đặt ra, ví dụ, khi các
điều khoản trong hợp đồng kiểm toán quy định rằng sẽ không thực hiện một thủ tục
kiểm toán mà theo kiểm toán viên là cần thiết. Có thể không thực hiện thường xuyên
các hợp đồng kiểm toán khi những giới hạn dự kiến là những giới hạn buộc kiểm toán

34
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
viên phải đưa ra ý kiến từ chối hoặc ảnh hưởng đến trách nhiệm có tính luật định của
kiểm toán viên.
2.4.7.2. Ảnh hưởng của sự bất đồng với ban quản lý đối với ý kiến kiểm toán:
Có thể bất đồng với ban quản lý về:
- Khả năng chấp nhận các chế độ kế toán được áp dụng;
- Phương pháp áp dụng các chế độ kế toán đó, bao gồm cả các phần diễn giải trong
báo cáo tài chính;
Các báo cáo tài chính phải tuân thủ các quy định có liên quan và các yêu cầu mang
tính luật định.
Kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp từng phần khi kiểm toán viên kết luận rằng có
một sai sót trọng yếu trong các báo cáo tài chính do các điều kiện mà kiểm toán viên
không thống nhất được với ban quản lý. Kiểm toán viên đưa ra ý kiến chấp nhận từng
phần dưới hình thức "ngoại trừ ảnh hưởng" của sự bất đồng.
Kiểm toán viên đưa ra ý kiến trái ngược khi ảnh hưởng của sự bất đồng quan trọng
và tác động nhiềutới báo cáo tài chính đến nỗi mà kiểm toán viên phải kết luận rằng
việc đưa ra báo cáo chấp nhận từng phần là không đủ để diễn giải tính chất không đầy
đủ và sai lạc của báo cáo tài chính

35
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

PHẦN KẾT LUẬN

Trên đây em đã trình bày các nội dung trình tự công tác kiểm toán.Qua thời gian
thực hiện đề án môn học này, em đã phần nào hiểu rõ và sâu sắc hơn về công tác tổ
chức kiểm toán, bổ sung những kiến thức còn thiếu hụt của mình. Tuy nhiên, do thời
gian thực hiện ngắn, trình độ hiểu biết và khả năng lý luận còn hạn chế nên bài viết của
em không thể tránh khỏi những sai sót. Qua bài viết này, em rất mong sự đánh giá và
góp ý của thầy giáo, cô giáo và các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin
trân thành cảm ơn Giáo sư.ts Nguyễn quang Quynh đã hướng dẫn giúp đỡ em hoàn
thành đề án môn học này.

Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2002


Sinh viên thực hiện

KHỔNG MINH DŨNG

36
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

37
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a

38