P. 1
41891309-Bao-Cao-MPLS-hiep

41891309-Bao-Cao-MPLS-hiep

|Views: 32|Likes:
Published by Nguyen Dang Khanh

More info:

Published by: Nguyen Dang Khanh on Nov 29, 2010
Copyright:Attribution Non-commercial

Availability:

Read on Scribd mobile: iPhone, iPad and Android.
download as PDF, TXT or read online from Scribd
See more
See less

07/23/2011

pdf

text

original

BÀI 4: CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC MPLS 4.

1 Tổng quan về chuyển mạch nhãn đa giao thức MPLS 4.1.1 MPLS là gì? Chuyển mạch nhãn đa giao thức (MPLS - Multiprotocol Label Switching) là một công nghệ kết hợp những đặc điểm tốt nhất giữa định tuyến lớp 3 (layer 3 routing) và chuyển mạch lớp 2 (layer 2 switching) cho phép chuyển tải các gói rất nhanh trong mạng lõi (core) và định tuyến tốt ở các mạng biên (edge) bằng cách dựa vào nhãn (label). MPLS do IETF đưa ra , cung cấp thiết kế hiệu quả cho việc định tuyến, chuyển tiếp, chuyển mạch cho luồng lưu lượng qua mạch. MPLS thực hiện những chức năng sau: o Định quá trình quản lý lưu lượng luồng của các mạng khác nhau, như luồng giữa các máy, phần cứng khác nhau hoặc thậm chí luồng giữa các ứng dụng khác nhau. o Duy trì sự độc lập của giao thức lớp 2 và lớp 3. o Cung cấp cách thức để ánh xạ các địa chỉ IP thành các nhãn đơn giản có độ dài không đổi được sử dụng bởi các công nghệ chuyển tiếp gói và chuyển mạch gói khác nhau. o Giao diện chung đối với các giao thức định tuyến như RSVP và OSPF. o Hỗ trợ IP, ATM, Frame Relay. Trong MPLS, dữ liệu được chuyển theo LSP. LSP là một chuỗi các nhãn ở mỗi node từ nguồn tới đích. LSP được thiết lập theo chu kì để truyền dữ liệu (controldriven) hoặc dựa trên sự phát hiện có một luồng dữ liệu nào đó (data-driven). Các nhãn, theo giao thức đã được định sẵn sẽ được phân phối sử dụng LDP hoặc RSVP hoặc được “cõng” trên một giao thức định tuyến như BGP và OSFP. Mỗi gói dữ liệu được đóng gói và mang nhãn trong suốt hành trình từ nguồn tới đích. Tốc độ chuyển mạch cao vì nhãn có chiều dài cố định được chèn vào đầu gói hay tế bào và có thể được sử dụng bởi phần cứng để chuyển tiếp gói nhanh chóng giữa các tuyến. 4.1.2 Lợi ích của MPLS MPLS mang lại nhiều lợi ích như : o Kỹ thuật lưu lượng : Cung cấp các khả năng thiết lập đường truyền mà lưu lượng sẽ truyền qua mạng và khả năng thiết lập chất lượng cho các cấp độ

. Miền MPLS ( MPLS Domain) Miền MPLS là một tập hợp các nút mạng thực hiện hoạt động định tuyến và chuyển tiếp MPLS. Một miền MPLS thường được quản lý và điều khiển bởi một nhà quản trị. o Tuyến hiện : Một đặc điểm chính của MPLS là sự hỗ trợ của nó đối với các tuyến hiện.Các đường chuyển mạch nhãn được định tuyến sẵn hiệu quả hơn so với tuỳ chọn tuyến nguồn trong IP.1.2. Bằng việc sử dụng MPLS. 4. Ví dụ cùng một thành phần chuyển tiếp cũng có thể được sử dụng khi đang thực hiện chuyển mạnh nhãn với IP cũng như IPX.dịch vụ (CoS) và chất lượng dịch vụ (QoS) khác nhau. MPLS là sự phát triển chủ yếu trong các công nghệ Internet mà hỗ trợ việc bổ sung các khả năng cần thiết cho mạng IP ngày nay.2 Miền MPLS và Các thành phần trong MPLS 4. phần lớn các nhà điều hành mạng cung cấp mô hình chồng lấn mà ATM được sử dụng tại lớp 2 và IP được sử dụng tại lớp 3. o Hỗ trợ đa liên kết và đa giao thức : Thành phần chuyển tiếp chuyển mạch nhãn là không xác định với một lớp mạng cụ thể. Chuyển mạch nhãn cũng có thể hoạt động ảo trên mọi giao thức liên kết dữ liệu thông qua ATM. các nhà điều hành mạng có thể mang chức năng của mặt điều khiển ATM vào lớp 3. o Cung cấp IP dựa trên các mạng riêng ảo : Bằng việc sử dụng MPLS. các nhà cung cấp dịch vụ có thể cung cấp đường hầm IP đi qua mạng của họ mà không cần thiết mã hoá hay các ứng dụng đầu cuối-người sử dụng. o Loại bỏ cấu hình đa lớp : Thông thường. do đó sẽ làm đơn giản hóa mạng và việc quản lý mạng. Chúng cũng có thể cung cấp một vài chức năng cần thiết cho kĩ thuật lưu lượng.

Hình 1 : Miền MPLS Miền MPLS được chia thành 2 phần: phần mạng lõi (Core) và phần mạng biên (Edge). còn nếu là nút cuối cùng thì nó được gọi là LER lối ra (egress-LER).2.2. Các nút ở phần mạng lõi được gọi là Transit-LSR hay Core-LSR (gọi tắt là LSR). rồi sau đó chuyển tiếp gói tin này đến trạm kế tiếp. Các nút ở biên được gọi là router biên nhãn LER (Label Edge Router). Các nút thuộc miền MPLS được gọi là router chuyển mạch nhãn LSR (Label Switch Router). Nếu một LER là nút đầu tiên trên đường đi của một gói xuyên qua miền MPLS thì nó được gọi là LER lối vào (ingress-LER). 4. LSR có nhiệm vụ là nhận gói tin chuyển đổi nhãn (Label swapping).2. . Nếu gói tin nhận có nhãn thì LER sẽ gỡ nhãn ra và đưa gói tin vào mạng IP truyền thống. Nếu gói tin nhận vào là gói IP truyền thống thì LER sẽ gán nhãn vào gói tin và chuyển tiếp vào mạng lõi MPLS. do vậy một LER có thể là ingress-LER vừa là egressLER tùy theo các luồng lưu lượng đang xét. Lưu ý là các thuật ngữ này được áp dụng tùy theo chiều của luồng lưu lượng trong mạng. Các thành phần của MPLS 4.2. LSRs và LERs Thiết bị trong giao thức MPLS có thể được phân loại thành LERs và LSRs : Một LSR(Label Switching Router) là một thiết bị định tuyến tốc độ cao trong lõi của mạng MPLS tham gia vào quá trình thiết lập LSP sử dụng giao thức thích hợp và chuyển mạch tốc cao luồng dữ liệu dựa trên con đường đã được thiết lập.1.

gồm các ràng buộc FEC-tới-nhãn. 4. Một khi một gói được xếp vào một FEC đã có hay mới. nghĩa là chỉ gắn liền với chặng giữa các LSR. khi gói vào mạng.3 Nhãn Một nhãn. Tất cả các gói trong một nhóm được đối xử như nhau trên tuyến cho tới đích.2. Ngược lại so với chuyển tiếp của gói IP. thì nhãn sẽ được gán cho gói.2. định danh lớp 2. Các gói được chuyển dựa trên giá trị nhãn. Giá trị nhãn được lấy từ lớp liên kết dữ liệu. cuộc hành trình của gói qua mạng đường trục sẽ dựa trên chuyển mạch nhãn. Bộ định tuyến nhận được sẽ kiểm tra nội dung nhãn của gói để xác định chặng kế tiếp. Nhãn được mang hoặc đóng gói ở tiêu đề lớp 2 của gói. sử dụng giao thức báo hiệu nhãn ở đầu vào và phân phối lưu lượng trở lại mạng truy cập ở đầu ra. như DLCI trong trường hợp mạng Frame Relay hay VPIs/VCIs trong trường hợp mạng ATM có thể được sử dụng trực tiếp như nhãn. Các FEC dựa trên yêu cầu dịch vụđối với một tập các gói cho sẵn. 4.Một LER(Label Edge Router) là một thiết bị hoạt động ở biên của mạng truy cập và mạng MPLS. dạng đơn giản nhất. Bảng này gọi là bảng cơ sở dữ liệu nhãn (LIB). Với lớp liên kết dữ liệu ( như Frame Relay hay ATM). Frame Relay. Mỗi LSR xây dựng một bảng để xác định một gói được chuyển tiếp như thế nào. Gán nhãn có thể được quyết định dựa trên cơ sở tiêu chuẩn chuyển tiếp như: o Định tuyến đơn hướng o Công nghệ điều khiển lưu lượng (TE-Traffic Engineering) o Multicast . LER đóng vai trò rất quan trọng trong việc gán và bỏ nhãn khi các luồng lưu lượng vào và tồn tại trong mạng MPLS.2. Ethenet) và chuyển những luồng lưu lượng này tới mạng MPLS sau khi thiết lập các LSP. Nhãn được ràng buộc tới một FEC theo một vài sự kiện hoặc một vài cách thức chỉ ra sự cần thiết đối với sự ràng buộc.2 Lớp chuyển tiếp tương đương FEC (Forwarding Equivalence Class) FEC là biểu diễn một nhóm các gói chia sẻ những yêu cầu như nhau về việc truyền tải. trong MPLS việc gán một nhãn nhất định cho một FEC nhất định chỉđược thực hiện một lần. phân biệt con đường một gói sẽ đi. LER hỗ trợ nhiều cổng (port) nối tới các mạng không tương đồng ( như ATM.2. Giá trị của nhãn chỉ có giá trị địa phương.Những sự kiện có thể là ràng buộc datadriven hay ràng buộc control-driven. Khi một gói được gán nhãn .

o Chất lượng dịch vụ (QoS) Hình 2 : Định dạng chung của nhãn MPLS Tạo nhãn : Có một vài phương pháp để tạo nhãn: o Phương pháp dựa trên giao thức ( topology-base method) sử dụng quá trình của các giao thức định tuyến ( như OSPF và BGP). IETF đã định nghĩa một giao thức mới gọi là giao thức phân phối nhãn (LDP) để thực hiện báo hiệu và quản lý không gian nhãn. Mở rộng dựa trên cơ sở giao thức LDP có thể hỗ trợ thực hiện định tuyến dựa trên các yêu cầu QoS và CoS. trong khi phương pháp dựa trên lưu lượng là ví dụ của ràng buộc data-driven. o Phương pháp dựa trên yêu cầu (Request-base method) sử dụng quá trình yêu cầu dựa trên điều khiển lưu lượng. như BGP đã được nâng cao để có thể “cõng” thông tin nhãn trong nội dung của giao thức. Phương pháp dựa trên giao thức và dựa trên yêu cầu là ví dụ của ràng buộc nhãn control-driven. o Phương pháp dựa trên lưu lượng (Traffic-base method) sử dụng một gói để kích hoạt sự gán và phân phối nhãn. RSVP cũng đã được mở rộng để hỗ trợ chuyển giao nhãn. Phân phối nhãn : Kiến trúc MPLS không giao chỉ một phương pháp báo hiệu cho việc phân phối nhãn. Không gian nhãn : Nhãn được sử dụng bởi một LSR cho ràng buộc nhãn-FEC có thể được phân chia như sau: . Sự mở rộng này tạo ra giao thức CR-LDP. Các giao thức định tuyến đang tồn tại.

một LSR ràng buộc một nhãn tới một FEC nào đó khi và chỉ khi nó là router phía biên vào hay nó nhận một ràng buộc nhãn với FEC từ LSR chặng tiếp theo. Nhãn được cấp phát từ một quỹ chung. Kết hợp nhãn : Luồng đầu vào của lưu lượng từ các giao diện khác nhau có thể được kết hợp lại với nhau và thực hiện chuyển mạch dựa trên một nhãn chung nếu nó được truyền qua mạng tới cùng đích cuối cùng. Không có hai nhãn trên hai giao diện khác nhau có cung giá trị. Để chuyển tiếp gói có nhãn.4 Giao thức phân phối nhãn (LDP) LDP là một giao thức mới cho việc phân phối thông tin ràng buộc nhãn tới các LSR trong mạng MPLS. 4. tạo các LSP. Những quỹ nhãn được định nghĩa cho mỗi giao diện. Điều khiển nhãn : MPLS định nghĩa các mode cho việc phân phối nhãn tới các LSR bên cạnh o Độc lập (Independent) : Trong mode này. FEC mới được nhận ra khi nào tuyến mới trở nên xác định đối với router. các LSR có thể thực hiện việc kết hợp VP và VC. Nếu mạng truyền tải lớp dưới là mạng ATM. Mode này được khuyến cáo dùng cho ATM-LSR. o Per interface : Phạm vi của nhãn kết hợp với giao diện. Nó được sử dụng để ánh xạ các FEC tới nhãn. LSR kiểm tra nhãn trên đỉnh ngăn xếp và dùng ánh xạ ILM (Incoming Label Map) để ánh xạ nhãn này tới một mục chuyển tiếp nhãn NHLFE (Next Hop Label Forwarding Entry). .o Per platform : Giá trị nhãn là độc nhất qua toàn bộ LSR. Hoán đổi nhãn (Label Swapping) Hoán đổi nhãn là cách dùng các thủ tục để chuyển tiếp gói. Sử dụng thông tin trong NHLFE. o Thứ tự (Ordered) : Trong mode này.2. Giá trị nhãn ở các giao diện khác nhau có thể giống nhau. một LSR nhận một FEC nào đó và quyết định ràng buộc một nhãn tới một FEC độc lập với với sự phân phối ràng buộc.2. và các nhãn được cung cấp ở những giao diện đó được cấp phát từ những quỹ tách biệt. LSR xác định ra nơi để chuyển tiếp gói và thực hiện một tác vụ trên ngăn xếp nhãn. Rồi nó mã hoá ngăn xếp nhãn mới vào gói và chuyển gói đi.

các gói có thể theo những con đường khác nhau thậm chí qua điểm gốc của chúng và điểm đích cuối cùng là như nhau. duy trì. Tại C.Các phiên LDP được thiết lập giữa các LDP ngang hàng trong mạng MPLS (không nhất thiết kề nhau). và xoá ánh xạ nhãn cho các FEC. . gán cho gói tin một nhãn mới là 9 và tiếp tục được đưa đến bộ định tuyến D.(Hình 3). 4. Một chú ý quan trọng là điều khiển lưu lượng không nhất thiết phải chọn con đường ngắn nhất giữa hai thiết bị. kết thúc phiên giữa các LDP ngang hàng o Advertisement message : Tạo. Có thể với hai luồng tải các gói dữ liệu. Một kết quả quan trọng của quá trình này là tránh được tắc nghẽn ở bất kì tuyến nào. Các LDP ngang hàng trao đổi các loại thông báo LDP sau : o Discovery message : Thông báo và duy trì sự có mặt của một LSR trong mạng o Session message : Thiết lập. Nó thay giá trị nhãn mới là 3 và chuyển tiếp tới router C.2. việc kiểm tra cũng tương tự như ở B và sẽ hoán đổi nhãn. tận dụng toàn bộ khả năng của mạng bằng cách cố gắng tạo một sự đồng đều hoặc phân bố thông lượng lưu lượng khác nhau qua mạng. Bộ định tuyến B dựa vào bảng hoán đổi nhãn để kiểm tra nhãn của gói tin.3 Hoạt động của MPLS Gói tin IP khi đi từ ngoài mạng vào trong miền MPLS được bộ định tuyến (router) A đóng vai trò là một LER ngõ vào sẽ gán nhãn có giá trị là 6 cho gói IP rồi chuyển tiếp đến bộ định tuyến B. 4. thay đổi. o Notification message : Cung cấp thông tin tham khảo và thông tin báo hiệu lỗi.5 Kĩ thuật điều khiển lưu lượng Kĩ thuật điều khiển lưu lượng là một quá trình nâng cao.2. Theo cách này các phân đoạn mạng ít sử dụng hay ít biết tới có thể được sử dụng và có thể cung cấp các dịch vụ khác nhau.

Đường đi từ bộ định tuyến A đến bộ định tuyến D được gọi là đường chuyển mạch nhãn LSP (Label Switched Path). Vì vậy tốc độ xử lý trong miền MPLS sẽ nhanh hơn nhiều so với định tuyến IP truyền thống. so sánh trong bảng và chuyển tiếp. Với kiểu làm việc này thì các LSR trung gian như bộ định tuyến B và C sẽ không phải thực hiện kiểm tra toàn bộ phần đầu (header) IP của gói tin mà nó chỉ việc kiểm tra các giá trị của nhãn.Hình 3:Hoạt động của MPLS Bộ định tuyến D đóng vai trò LER ngõ ra sẽ kiểm tra trong bảng hoán đổi nhãn và gỡ bỏ nhãn 9 ra khỏi gói tin rồi định tuyến gói IP một cách bình thường đi ra khỏi miền MPLS. Hình 4.Hoán đổi nhãn .

Các lớp với miêu tả trong hình hộp với đường nét đứt có thể thực hiện bằng phần cứng tạo nên hoạt động nhanh và hiệu quả.4 Kiến trúc hệ thống giao thức MPLS Thành phần MPLS lõi có thể chia thành các phần sau: o Giao thức định tuyến lớp mạng (IP) o Biên chuyển tiếp lớp mạng o Chuyển mạch dựa trên nhãn mạng lõi o Độ chi tiết và lược đồ nhãn o Giao thức báo hiệu cho phân phối nhãn o Điều khiển lưu lượng o Khả năng tương thích với các loại chuyển tiếp lớp 2 khác nhau (ATM. Với MPLS.v… Module LDP tận dụng giao thức điều khiển truyền tin (TCP) để đảm bảo quá trình truyền dữ liệu điều khiển từ một LSR đến LSR khác trong suốt một phiên. Trong trường hợp này. Phụ thuộc vào môi trường hoạt động.. . các giao thức định tuyến có thể là OSPF. BGP. điều này được thực hiện bởi các LER. Frame Relay. Phương thức định tuyến có thể là bất kỳ một trong các giao thức phổ biến. PPP) Hình 5 miêu tả các giao thức có thể sử dụng trong hoạt động MPLS. v. hay PNNI của ATM. LDP sử dụng giao thức UDP trong suốt giai đoạn vận hành tìm kiếm của nó. Điều này được thực hiện thông qua một trao đổi các gói tin IP Fwd là phương thức chuyển tuyến lớp IP để tìm đường tiếp theo bằng cách khớp địa chỉ dài nhất trong bảng của chúng. LSR cố gắng xác định các phần tử lân cận và đồng thời báo hiệu sự có mặt của chúng trong mạng. LDP cũng duy trì LIB.4. MPLS Fwd là phương thức chuyển tiếp để kết nối một nhãn với một cổng lối ra cho các gói tin.

cho phép triển khai một cách dễ dàng + MPLS tăng chức năng mạng bởi vì nó cho phép việc định tuyến bởi chuyển mạch ở tốc độđường dây • Hỗ trợ QoS và CoS với các dịch vụ khác nhau + MPLS sử dụng thiết lập tuyến có điều khiển lưu lượng và giúp đạt được các mức dịch vụ đảm bảo + MPLS kết hợp thiết lập tuyến ràng buộc và lập tuyến hiện • Hỗ trợ sự linh hoạt của mạng + MPLS có thểđược sử dụng để tránh vấn đề chồng phủ N2 kết hợp với mạng lưới IP-ATM • Tích hợp IP và ATM vào mạng + MPLS cung cấp cầu nối giữa mạng truy cập IP và lõi ATM + MPLS có thể sử dụng lại các chuyển mạch cứng/ router có sẵn của ATM.Hình 5 : Hệ thống giao thức MPLS 4.5 Các ứng dụng của MPLS MPLS quan tâm một cách có hiệu quản các đòi hỏi của mạng đường trục ngày nay bằng cách cung cấp giải pháp chuẩn cơ sở thực hiện những mục đích sau: • Cải thiện chức năng chuyển tiếp gói trong mạng : MPLS tăng cường và đơn giản hoá chuyển tiếp gói qua router sử dụng mô hình chuyển mạch lớp 2 + MPLS đơn giản. kết hợp một cách có hiệu quả hai mạng riêng biệt • Xây dựng khả năng vận hành liên mạng .

6 Mô phỏng mạng MPLS trên NS2 Bài 1: Mô phỏng mạng IP không hỗ trợ MPLS .. nghĩa là có khả năng đáp ứng bất cứ loại dịch vụ nào: thoại. 4. data.+ MPLS là một giải pháp chuẩn mà có thểđạt được sự hợp lực giữa mạng IP và ATM + MPLS làm cho IP dễ dàng kết hợp qua SONET tích hợp chuyển mạch quang + MPLS giúp xây dựng các mạng VPN mềm dẻo với khả năng điều khiển lưu lượng. video. • Hiện nay xu hướng phát triển của MPLS là ATOM (Any traffic Over MPLS). fax.

5Mb. Do không có biện pháp xử lý nên 2 luồng tranh băng thông và tốc độ truyền không được cải thiện.9Mb sau đó luồng 2 xuất phát tại 2. Lập tức xảy ra tranh chấp băng thông luồng 1 giảm xuống 0. Kết luận: Mạng sử dụng lãng phí BW . băng thông lúc này tăng cao khoảng 0.0s.Nội dung mô phỏng: cho luồng 1 xuất phát trước tại 0.5s.

5s. Bài 3: Mô phỏng hoạt động lấn chiếm(PREEMPTION) trong miền MPLS .Bài 2: Mô phỏng định tuyến rằng buộc trong MPLS Nội dung mô phỏng: luồng 1 xuất phát trước tại 0. Do định tuyến ràng buộc trong MPLS mà 3 luồng trên không dẫn đến tranh chấp.Tốc độ truyền tải vẫn đạt ở mức cao của cả 3 luồng.Đây chính là ưu điểm hơn so với mạng IP mà không hỗ trợ MPLS. Kết luận: Nhờ có sự định tuyến ràng buộc trong miền MPLS mà đã khắc phục được sự tranh chấp của 3 luồng. sau đó là luồng 2 xuất phát tại 1s và luồng 3 xuất phát tại 1.5s.

.Nội dung mô phỏng: luồng 1 xuất phát trước. luồng 2 sau. Kết luận: Khi luồng 1 bị luồng 2 lấn chiếm sẽ giảm tốc độ đáng kể. nhưng do độ ưu tiên luồng 2 cao hơn nên luồng 2 lấn chiếm băng thông của luồng 1 và truyền xong trước luồng 1.

Bài 4:Mô phỏng khôi phục đường truyền bằng định tuyến toàn cục (Mô hình Makam) .

0s đến 3.5s sau đó đã được kết nối lại. Kết luận: có thể khôi phục sự cố đứt đường truyền bằng định tuyến toàn cục. tại một thời điểm bị đứt tại nút 2-nút 5 từ 2. Bài 7: Mô phỏng khôi phục đường theo cơ chế SIMPLE-DYNAMIC Nội dung mô phỏng: luồng truyền từ nút 1 đến nút 10.Cơ chế này có ưu điểm là chỉ cần một đường dự phòng cho mọi sự cố trên đường làm việc và chỉ cần một LSR có chức năng làm PSL. Kết luận: có thể khôi phục sự cố đứt đường truyền bằng cơ chế SIMPLE-DYNAMIC . tại một thời điểm bị đứt tại nút 5-nút7. và dữ liệu sẽ được chuyển đi theo đường dự phòng.Nội dung mô phỏng: luồng truyền từ nút 1 đến nút 10.

You're Reading a Free Preview

Download
scribd
/*********** DO NOT ALTER ANYTHING BELOW THIS LINE ! ************/ var s_code=s.t();if(s_code)document.write(s_code)//-->