You are on page 1of 37

Mã Lai (Malaysia) một quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến (constitutional

monarchy) nằm ở Ðông Nam Châu Á. Nam giáp với Thái Lan, Bắc giáp với Singapore,
là một thành viên của khối thịnh Vượng Chung (Commonwealth of Nations), thủ đô và
cũng là thành phố lớn nhất Mã lai là Kuala Lumpur. Diện tích: 329.750 km2. Dân số:
17.890.000 người. Mật độ dân cư: 54,2 người/km2. Dân số dưới 15 tuổi: 36,2%. Tuổi thọ
trung bình: 70,1 tuổi. Tử suất trẻ em: 22%. Học sinh từ 12-17 tuổi: 70%. Nguyên thủ
quốc gia: quốc vương Azlan Muhibuđin Shah. Thu nhập bình quân đầu người: 2.420 đô
la. Ðơn vị tiền tệ: Ringgit. Ngôn ngữ thông dụng: tiếng Mã Lai, tiếng Hoa, tiếng Ấn và
tiếng Anh. Giành lại nền độc lập từ năm 1957, Mã Lai có được vị trí nằm ở ngã tư đường
giao thông quốc tế.

Dân số đa phần là người Mã Lai rất đa tạp (khoảng 62%). Người Hoa (khoảng 30% dân
số) nắm về ưu thế kinh tế. Ngoài ta còn có người Ấn, Nam Dương, Thái Lan... sống trong
quốc gia này. Người theo đạo Hồi, chiếm đa phần trong dân số, ít được ưu đãi trong lĩnh
vực kinh tế nhưng lại nắm giữ độc quyền về chính trị. Mã lai có nhiều tài nguyên thiên
nhiên như thiếc, cao su, dầu hỏa, rừng. Trong ba thập niên qua, Mã lai đã hướng theo con
đường công nghiệp hóa năng động, ưu tiên cho ngành xuất khẩu, và có mức độ đầu tư
của nước ngoài cao nhất so với các quốc gia láng giềng.

Tôn giáo chính của Mã Lai là Hồi Giáo (Islam) và Phật giáo (Buddhism), những tôn giáo
nhỏ khác là Khổng giáo, Lão giáo, Ấn Ðộ giáo và Ky Tô giáo.

1. Thời kỳ đầu của Phật giáo tại Mã Lai

Tầm ảnh hưởng của nền văn minh Ấn Ðộ đã vượt qua biên giới để đến với vùng Ðông
Nam châu Á. Nhu cầu thương mại lúc ấy là động lực chính làm chiếc cầu nối giữa các
nền văn hóa và tôn giáo lại với nhau. Mặt khác, Ấn Ðộ thành lập một số Chính quyền
Thực dân ở bán đảo Mã Lai vào khoảng 5 thế kỷ đầu của Tây lịch. Phật Giáo nhờ thế mà
được truyền vào Mã Lai trong thời điểm ấy. Có nhiều bằng chứng cho thấy điều này hoàn
toàn hợp lý qua những địa danh của Mã Lai bắt nguồn từ nguyên ngữ Pali như Niddesa
và Milindapanha.

Phật Giáo được truyền vào Mã Lai vào khoảng đầu thế kỷ thứ 3 Tây lịch. Nhiều sách sử
đã ghi nhận rằng các nhà sư Sona và Uttara đã đến miền Ðông Nam châu Á theo sau kỳ
đại hội kết tập Kinh điển lần thứ 3 tại Ấn Ðộ vào năm 325 trước Tây lịch ( sau Phật Niết
bàn 218 năm. Ðại hội lần này do Hoàng đế A Dục đề xướng và bảo trợ.) Một tài liệu của
Phật Giáo Tây Tạng cũng đề cập đến ngài Dharmapala đã đến đảo Malay vào thời điểm
này. Và theo hồi ký của Ngài Pháp Hiển (Fa-Hsien, 337-422), một nhà chiêm bái người
Trung Hoa, từng du học sang Ấn (khoảng thời gian: 399-414 Tây lịch), trên đường hồi
hương bằng đường biển, ngài có ghé ngang trung tâm văn hóa Java ( Indonesia) , Tích
Lan và Mã Lai trước khi ngài trở về Trung Hoa vào năm 414 Tây lịch. Trong dịp này,
ngài Pháp Hiển đã có ghé thăm và nghỉ lại một ngôi chùa ở tỉnh Milindapanha, thuộc
miền Bắc mã Lai.
Từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 13 Tây lịch, Java và Sri Vijava đều nằm dưới sự kiểm soát
của triều đại hùng mạnh Sailendra. Những vị vua của triều đại này đã cho xây nhiều công
trình kiến trúc Phật Giáo vĩ đại như vườn Tháp nổi tiếng thế giới Borobodur ở Trung tâm
Java. Pháp sư Nghĩa Tịnh (I-Tsing, 635-713 một nhà phiên dịch Kinh điển, chiếm bái của
Phật Giáo Trung Hoa khác, cũng mô tả rằng vào năm 671 Tây lịch thủ đô Sti Vijayan ở
Bukit Seguntang được xem là một trung tâm văn hóa Phật Giáo quan trọng, với hơn một
ngàn tăng sĩ đang tu học tại đây. Sau khi triều đại Sri Vijaya sụp đổ, Phật Giáo vẫn tiếp
tục truyền vào Mã Lai.

2. Những bằng chứng lịch sử và khảo cổ

Những nhà khảo cổ tìm thấy những bằng chứng của thời kỳ đầu này qua những tác phẩm
điêu khắc Phật Giáo tại Mã lai. Tuy nhiên những bằng chứng lịch sử có thể tìm thấy trong
văn học Trung hoa rằng Phật Giáo đã được thiết lập tại Mã Lai vào thế kỷ thứ 6 Tây lịch.
Theo biên niên sử Trung Hoa ghi nhận rằng Hoàng đế của Mã Lai đã gởi một phái đoàn
ngọai giao đến Trung Hoa vào những năm 527, 530 và 536 Tây lịch với những món quà
bao gồm xá lợi Phật (relics), tranh ảnh Phật Giáo, và vài lá Bồ Ðề. Tài liệu này cũng xác
nhận rằng những thành viên trong đoàn ngoại giao này có tên là Tan-Tan, Chip-Tu và Fo-
Lo-An. Và tại nơi đây, hàng năm lễ Phật Ðản được tổ chức vào ngày trăng tròn tháng sáu
với những đám rước và lễ nhạc và pháp danh của vị Thầy chủ trì cuộc lễ lúc ấy là Tỳ
kheo Pi-ch’iu.

Ngành thương mại của Trung hoa bắt đầu tiếp xúc với Ðông Nam châu Á vào khoảng
đầu thế kỷ thứ 3 TL, khi triều đại nhà Võ (Wu) gởi một phái đoàn đến Ðông Nam châu Á
để tìm hiểu tình hình chính trị và thương mại ở vùng này. Từ đó, thị trường của Trung
Hoa đã trở thành quan trọng đối với vùng Ðông Nam châu Á này, và phần lớn các thương
gia thời bấy giờ đều là Phật tử, nên Phật Giáo đã chẳng bao lâu đã truyền đến và phát
triển mạnh tại các quốc gia trong khu vực.

Các cuộc khai quật ở tỉnh Kedak và Penang ( Mã Lai), các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều
tàn tích về các ngôi chùa, tháp và tượng Phật còn sót lại ở đó. Tại hai nơi này, vào
khoảng đầu thế kỷ thứ 4 hay 5 TL đã có những bia đá khắc Kinh Phật bằng tiếng
Sanskrit. Một trong những bia đá quý báu này được tìm thấy dưới một ngôi nhà đổ nát ở
tỉnh Kedah.

Một di vật quan trọng khác được thấy là một bia bằng đất sét ở Kedak với ba bài kệ chữ
Sanskrit khắc vào thế kỷ thứ 6 TL và hai bức tượng Quan Thế Âm Bồ tát cũng được tìm
thấy ở tại địa danh này.

Những tác phẩm điêu khắc Phật Giáo vào thế kỷ thứ 4 TL đều được tìm thấy ở nơi khác
của bán đảo Malaysia, đặc biệt là Cheruk Tekun và tỉnh Wellesley. Những hình Phật và
những di vật khác cũng được tìm thấy ở Kuala Selinsing, Kinta Valley, Tanjung
Rambutan, Bidor and Sungei Siput và Perak.

Trong khi đó, một bằng chứng lịch sử khác vào năm 1006 TL cũng được ghi nhận, Vua
Kataka ở Kedak đã xây dựng một ngôi chùa ở Negapatam. Vua Rajaraja đệ nhất đã ban
hành những đạo luật miễn thuế cho chùa chiền. Những ngôi chùa cổ cũng đã được khai
quật ở phía đông bờ biển Mã Lai. Dù có một số nơi bây giờ thuộc về phần đất của Thái
Lan. Nhiều tượng Phật bằng đồng và đá từ thế kỷ thứ 13 TL cũng được khám phá trong
vùng này. Theo biên niên sử Trung Hoa, cho thấy rằng Phật Giáo đã truyền vào vùng
P'an P'an này vào thế kỷ thứ 6 TL và kéo dài đến 700 năm sau.

Còn rất nhiều di vật khảo cổ được tìm thấy vào đầu những năm 1900, trong khoảng thời
gian Thực dân Anh xâm chiếm Mã Lai, một số khác cũng được khám phá vào những năm
1970 ở Kedah. Trong khi đó có nhiều dấu tích của chùa chiền cũng được tìm thấy ở thung
lũng Bujang, điều này cung cấp thêm nhiều dữ kiện cho sự có mặt của Phật Giáo ở Mã
Lai từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ thứ 14 TL. Hiện tại tất cả những di sản khảo cổ này được
bảo trì và trưng bày tại Viện bảo tàng quốc gia ở tỉnh Bukit Batu Pahat mà mọi du khách
đều có thể đến viếng thăm.

3. Phật giáo tại Mã Lai - Thời kỳ suy tàn

Phật giáo đã suy yếu dần theo sau sự tấn công của Hồi giáo vào Mã Lai ở thế kỷ thứ 14
TL của người Ả Rập và thương gia Ấn Ðộ. Ðầu thế kỷ thứ 15, một vị vua Mã Lai dựng
Kinh đô ở Malacca, vốn là tín đồ của Ấn Ðộ giáo, đã cải đạo theo Hồi giáo và vì thế mà
đạo này có cơ hội để truyền bá rộng khắp trên toàn bán đảo Mã Lai. Lúc bấy giờ Phật
Giáo lui dần về ngoại ô và sau đó chỉ còn để lại bóng dáng của mình trên nền văn học,
trong truyện cổ tích, huyền thoại và địa danh của đất nước Mã Lai.

4. Phật giáo tại Mã Lai - Thời kỳ phục hưng

Sau 300 năm tàn lụi, Phật Giáo Mã Lai lại phục hồi theo sau làn sóng di dân của người
Trung Hoa đến Mã Lai vào thế kỷ thứ 17. Tuy nhiên, sự phục hưng này được xác định rõ
ràng nhất là vào thế kỷ thứ 19 khi di dân người Hoa đổ xô qua Mã Lai. Phật Giáo ở thời
kỳ này mang sắc thái tổng hòa: Tam giáo đồng nguyên, Phật (phần lớn theo tông phái
Tịnh Ðộ/Pure Land), Lão (Taoism) và Khổng giáo (Confucianism), để đem lại niềm an
lạc và lợi ích tâm linh cho người tín đồ.

Theo thống kê của chính phủ Mã Lai vào năm 1991, có tất cả 3,2 triệu tín đồ theo Ðạo
Phật và 0,9 triệu người theo Ðạo Lão và Ðạo Khổng trong tổng số 17.6 triệu người Mã
Lai. Con số này đã minh chứng rằng Phật Giáo đã thực sự hồi sinh và phát triển mạnh
trên quốc gia này.

5. Phật giáo Bắc Tông tại Mã Lai

Một số chùa Bắc Tông được xây dựng rất sớm tại Penang. Chùa Kuan Imm Teng xây
dựng vào khoảng đầu những năm 1800, chùa Cheng Hoom Teng xây dựng rất sớm ở
Malacca vào khoảng thời điểm ấy. Hai ngôi chùa này hiện nay là những ngôi chùa cổ
nhất ở Mã Lai, tuy nhiên những nơi này chỉ được xem là danh lam để du khách viếng
thăm hơn là nơi để đến nghiên cứu và tu học Phật Pháp.
Năm 1887, Pháp sư Miao Lian đến Penang từ Fuchow, Trung Hoa và bắt đầu xây dựng
chùa Tịnh Ðộ (Kek Lok/ Sukhavati). Ngôi chùa được thiết kế tổng hợp theo lối kiến trúc
Phật Giáo Thái Lan, Miến Ðiện và Trung Hoa. Ngôi chùa này đã chính thức khánh thành
vào năm 1905 và nó được xem là một trong những ngôi chùa lớn nhất của vùng Ðông
Nam châu Á. Từ thập niên tám mươi đến nay, chùa Tịnh Ðộ là tụ điểm an cư tu học của
đông đảo Tăng Ni Bắc Tông của Mã Lai. Hiện tại chùa cũng đang được mở rộng thêm và
cũng được xem là nơi thu hút khách du lịch.

Hội Phật giáo Penang (The Penang Buddhist Association) được thành lập năm 1925 với
mục đích truyền bá lời Phật dạy. Ngôi chùa của Hội này được xây dựng trên đường
Anson và hoàn thành năm 1931. Hội này đã trở thành một tổ chức hoằng Pháp sớm nhất
tại xứ sở này. Thời gian đầu, hội này đã gặp sự chống phá của truyền thống mê tín địa
phương lâu đời tại Mã Lai này. Nhưng sau đó do nỗ lực hoạt động, nên Hội đã cảm hóa
được quần chúng và đưa họ trở về với ánh sáng của Chánh Pháp.

Năm 1955, Hội Thanh Niên Phật Tử Penang ra đời (Youth Circle of the Penang Buddhist
Association) dưới sự khởi xướng và lãnh đạo của một tăng sĩ người Mỹ, ngài Venerable
Sumangalo, người đến Mã Lai vào năm 1955 và có những chương trình hoạt động hoằng
Pháp đổi mới, như mở trường Phật Pháp Chủ Nhật (Dharma Sunday School) cho thanh
thiếu niên, thành lập Hội Liên Hữu Phật Giáo Mã Lai (Malaysian Buddhist Youth
Fellowship) cho mọi giới Phật tử có thể tham dự tu học. Năm 1956, Thượng tọa
Sumangalo đã viếng thăm Úc châu, và ngài đã nhanh chóng thu hút thính giả qua các
buổi giảng giáo lý ở Melbourne và Sydney trong nhiều tuần lễ. Sau đó ngài trở lại Mã Lai
làm việc cho đến ngày viên tịch vào năm 1963.

Mặc dù Hội Phật Giáo Penang thuộc trường phái Bắc Tông, nhưng hội luôn cung thỉnh
nhiều tăng sĩ Nam Tông đến để hoằng Pháp như cố trưởng lão K. Gunaratana Maha
Nayaka, Hòa thượng P. Pemaratana Maha Nayaka từ Tích Lan.

Một vị nữ tu Bắc tông, sư cô Fang Lian, xây dựng Ni Viện Phor Thay vào năm 1936. Sư
cô đã có những hoạt động tích cực như xây dựng một trung tâm nuôi trẻ mồ côi, một
trường Tiểu học và một trường Trung học, chương học có kèm môn Phật Pháp. Cả ba
trường này hàng năm thu nhận hơn 3000 học sinh đến ghi danh để học.

Năm 1950, 14 thành viên của Hội Phật giáo Penang đã đến tham dự Ðại hội khoáng đại
của Hội Liên Hữu Phật giáo Thế giới (The World Fellowship of Buddhists / WFB) nhóm
tại Colombo, Tích Lan. Theo sau kỳ đại hội này, Phật tử ở Mã Lai đã thành lập một chi
nhánh trung tâm của WFB tại Penang vào năm 1951.

Tiếp đó, Giáo Hội Phật Giáo Mã Lai (The Malaysian Buddhist Association / MBA) được
thành lập vào ngày 19 tháng 4 năm 1959, với sự hợp mặt của hầu hết các chùa chiền
người Mã Lai và người Hoa. Vị chủ tịch Giáo hội đầu tiên là Hòa Thượng Chuk Mor.
Giáo hội đã thành lập một Học viện Phật giáo (Buddhist Institute) để đào tạo tăng ni và
mở một trường Phật học miễn phí dành cho người lớn tuổi. Trường dạy nhiều ngôn ngữ
khác nhau như tiếng Mã Lai, tiếng Hoa và Anh văn.
Hòa thượng Chuk Mor là một Pháp sư rất nổi tiếng ở Mã Lai, Ngài sinh ngày 13 tháng 8
năm 1913 tại Trung Hoa. Ngài xuất gia năm 12 tuổi (1924) và đến hoằng Pháp tại Mã Lai
vào tháng 5 năm 1954. Vào tháng 7 năm 1962, Ngài đã xây dựng Thiền Ðường Tam Trí
(Triple Wisdom Hall) để dạy thiền cho Phật tử Mã Lai. Một trong những đệ tử của Hòa
thượng là Ðại Ðức Sik Chi Chern, là người kế thừa sự nghiệp của Bổn sư và cũng là Chủ
Tịch Hội Thanh Niên Phật Tử Mã Lai (Young Buddhist Association of Malaysia /
YBAM) trong hai nhiệm kỳ từ 1990 đến 1996.

Vị chủ tịch thứ hai của MBA là Hòa thượng Kim Beng, viện chủ chùa Cheng Hoon Teng
ở Malacca, cũng là Pháp sư giảng dạy Phật Pháp nổi tiếng ở Mã Lai. Chính phủ Mã Lai
đã trao tặng Ngài giải thưởng Jasa Setia Mahkota để biểu dương cho sự đóng góp và làm
lớn mạnh nền văn hóa Phật giáo tại xứ sở này.

Vị Chủ tịch hiện nay (2000) của MBA là Hòa Thượng Negri Sembilan. Ngài cũng là một
Pháp sư nổi tiếng ở Mã Lai, ngài vốn được xem là một vị Thầy thuốc bắc lừng danh tại
Mã Lai.

Ngôi chùa chính của trường phái Bắc Tông ở thủ đô Kuala Lumpur là chùa Kuan Imm
Teng do Ðại đức Keng Aun, đây là ngôi chùa Tàu lớn nhất ở thủ đô.

Trong những năm gần đây, các Pháp sư của Hội Phật Quang Sơn (Fo Kuang Shan) cũng
đến hoằng Pháp tại Mã Lai, đặc biệt là Hòa Thượng Tinh Vân đến dự lễ khánh thành
Chùa Phật Quang (Buddha’s Light Vihara) vào năm 1998. Trong dịp này, một đảng phái
chính trị người Hoa (đảng này là liên minh với Thủ tướng đương nhiệm, Tiến sĩ Mahathir
Mohamed) đã cung thỉnh HT. Tinh Vân thuyết pháp cho quần chúng Phật tử. Ðây là lần
đầu tiên chính quyền Mã Lai đã tham gia và đóng góp thiết thực cho sinh hoạt Phật Giáo
có ý nghĩa nhất tại quốc gia này.

Mặt khác, cố Hòa thượng Tuyên Hóa (Hsuan-Hua, 1908-1995) và nhiều đệ tử người Hoa
và Mỹ của Ngài cũng từng đến hoằng Pháp tại Mã Lai vào hai thập niên tám mươi và
chín mươi. Những hoạt động thuyết giảng này đã làm cho Phật giáo tại Mã Lai lớn mạnh
nhiều hơn trong những năm gần đây.

Một sự ảnh hưởng Bắc tông khác đến từ Ðài Loan là Hiệp Hội Từ Thiện Phật Giáo Từ Tế
(Buddhist Tzu Chi Merit Society) do Ni sư Chứng Nghiêm thành lập ở Taiwan vào năm
1966. Tại Mã Lai, Hội có trụ sở chính ở Kuala Lumpur và có những hoạt động từ thiện xã
hội từ năm 1990. Hiện nay hội đã có thêm nhiều chi nhánh khác ở Penang, Melaka và
Ipoh.

6. Phật giáo Nam Tông tại Mã Lai

Nếu như phần lớn người Trung Hoa theo Bắc Tông Phật Giáo, thì ngược lại, người Thái
Lan, Miến Ðiện và Tích Lan lại theo Nam Tông Phật Giáo. Cộng đồng người Thái Lan
tập trung ở Perlis, Kedah và Kelantan. Ước lượng có khoảng 200 ngôi chùa Thái Lan
nằm về các tỉnh này của miền Bắc Mã Lai. Các chùa Thái cũng thu hút nhiều người Hoa
để chiêm bái và tu học.
Ngôi chùa cổ nhất của Nam Tông tại Mã Lai là chùa Candaram ở Green Lane, Penang,
hiện nay chùa này đổi sang làm Trung Tâm Thiền Phật Giáo Mã Lai (Malaysian Buddhist
Meditation Centre), chùa được xây dựng vào năm 1918. Ðầu thập niên 1970, Thượng tọa
Abhidhammapalanana, một tăng sĩ trí thức Thái Lan đã đến trụ trì ngôi chùa này và ngài
bắt đầu dạy về Thiền quán niệm và luận Abhidhamma cho Phật tử Mã Lai. Các buổi
thuyết giảng của ngài đã thu hút giới trẻ Mã Lai, cả học sinh Trung học và sinh viên đại
học đều đến tham dự. Hiện nay sự nghiệp hoằng Pháp này được đệ tử của ngài thừa kế là
Ðại đức Sujivo, một tăng sĩ Mã Lai. Một tu sĩ Thái Lan khác có công truyền bá Phật Giáo
tại Mã Lai là Thượng tọa Silananda, trụ trì chùa Pin Wang ở Penang ( chùa này xây dựng
năm 1889) ngài cũng thành lập trường Phật Pháp Chủ nhật và dạy thiền hằng tuần cho
Phật tử trong địa phương.

So với người Thái Lan, cộng đồng người Miến và Tích Lan thì nhỏ hơn. Người Miến
Ðiện phần lớn ở tỉnh Penang và ngôi chùa sinh hoạt chính của họ là Dhammikarama, xây
dựng 1828, đây là ngôi chùa duy nhất của người Miến tại xứ sở này. Chùa do Ðại đức U
Pannavamsa trụ trì, ngài là người làu thông về luận Tạng và Thiền quán niệm, ngài cũng
cho mở trường Phật Pháp chủ nhật để phổ biến giáo lý. Nhiều tăng sĩ Miến khác cũng có
công truyền bá lời Phật dạy ởủ Mã Lai là các Ðại đức Dhammabanchanvud, Mahasi
Sayadaw, Sayadaw U Pandita, Sayadaw U Janaka, các ngài đến Mã lai vào cuối những
năm 1980 và thành lập nhiều Trung Tâm Thiền Học ở Johor, Perak, Malacca, Petaling
Jaya và Selangor.

Sự đóng góp chính cho Phật Giáo Nam Tông ở Mã Lai phải nói là đến từ phía các Tăng sĩ
người Tích Lan. Phần lớn họ đều nói tiếng Anh và được đào tạo trong môi trường Phật
học chính quy tại quê nhà. Các chùa Tích Lan tập trung ở tỉnh Penang, Taiping, và hai
chùa lớn khác ở thủ đô Kuala Lumpur, những ngôi chùa này đều có số 1ượng lớn tín đồ
người bản xứ nói tiếng Anh đến tham học.

Ngôi chùa chính của Phật Giáo Tích Lan là Mahindarama ở đường Kampar, Penang, do
Hòa thượng A. Pemaratana xây dựng vào năm 1918. Ngôi chùa đã một thời nổi tiếng là
trung tâm tu học dưới sự dẫn dắt của Trưởng lão K. Gunaratana Maha Nayaka Thera
(1933-1964). Là một pháp sư hùng biện, ngài Gunaratana đã tổ chức nhiều khóa tu học
và thuyết giảng cho Phật tử địa phương cũng như đi diễn giảng trên khắp xứ Mã Lai. Sau
khi ngài viên tịch, Hòa thượng P. Pemaratana Maha Nayaka Thera đã kế thừa sự nghiệp
hoằng Pháp tại ngôi chùa này.

Một trong những tăng sĩ Tích Lan thành công nhất trong sự nghiệp hoằng Pháp tại Mã
Lai là Ðại lão Hòa thượng K. Sri Dhammananda Maha Nayaka Thera, sự xuất hiện của
ngài đã làm cho Phật Giáo tại xứ sở này lật qua một trang sử mới. Ngài Dhammananda
sinh năm 1919 và đến Mã Lai vào ngày 2 tháng giêng năm 1952. Ngài thành lập ngay
một Hiệp Hội Truyền Bá Chánh Pháp (Buddhist Missionary Society) vào năm 1963 và tổ
chức thuyết giảng, hội thảo Phật Pháp trên toàn quốc. Bên cạnh đó, ngài viết và xuất bản
nhiều tác phẩm Phật học quan trọng để phổ biến giáo lý. Trong thời gian đầu, các tác
phẩm của ngài đặc biệt tập trung nhắm đến sự loại bỏ những quan niệm sai lầm về Phật
Giáo và đưa ra một đường hướng tu tập rõ ràng để giúp cải cách đời sống tâm linh của
người Phật tử xứ sở này. Các tác phẩm đáng chú ý của ngài như "Người Phật Tử phải tin
gì ?" (What Buddhists believe); "Làm thế nào để sống khỏi sợ hải và lo lâu" (How to live
without fear and worry); "Hạnh Phúc lứa đôi" (A happy married life); "Thiền Ðịnh , con
đường duy nhất" (Meditation, the Only way); "Kho báu của Chánh Pháp" (Treasures of
the Dhamma)... đã nhanh chong thu hút mọi giới Phật tử và đến nay những tác phẩm này
đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.

Một trong những đệ tử xuất gia của HT. Dhammananda, là Thượng tọa Mahinda, người
có khả năng kế thừa sự nghiệp to lớn của Bổn sư.

7. Phật Giáo Nhật Bản ở Mã Lai

Phật giáo Nhật Bản (Thiền tông và Pháp Hoa tông) được giới thiệu ở Mã Lai vào đầu
những năm 1960 bởi các thương gia người Nhật đến làm việc tại Mã Lai, hoặc do một số
tổ chức của người Mã Lai sang Nhật du học rồi về nước thành lập. Thập niên tám mươi,
chính quyền Mã Lai với chính sách "Hướng về Phương Ðông" (Look East Policy) Nhật
Bản là một trong những quốc gia để họ hướng về học hỏi. Về công nghiệp hóa, hệ thống
quản lý, đạo đức nghề nghiệp và những thứ khác mà Nhật Bản đã thành công, trong đó
Phật Giáo Nhật Bản là một trong những chủ đề để Mã Lai nghiên cứu và học hỏi. Ngày
nay Tông Pháp Hoa đều có chi nhánh ở các thành phố lớn của Mã Lai, bao gồm Kuala
Lumpur, Penang, Ipoh, Malacca và Kuantan.

8. Phật Giáo Tây Tạng ở Mã Lai

Phật Giáo Tây Tạng được giới thiệu ở Mã Lai trễ nhất nhưng lại được đại đa số quần
chúng biết đến theo sau các sự kiện: giải thưởng Nobel Hòa Bình của Ðức Dalai Lama
vào năm 1989; tác phẩm "Tạng Thư Sống Chết" (Tibetan Book of Living and Dying) của
Lama Sogyal Rinpoche; Phong trào giải phóng cho Tây Tạng do các ca sĩ, diễn viên nổi
tiếng của Hollywood khởi xướng, hai cuốn phim "Bảy năm ở Tây Tạng" và "KunDun"...
đã làm khuấy động và thu hút mọi giới Phật tử hay những tín đồ đạo khác ở Mã Lai đều
chú ý đến Phật Giáo Tây Tạng.

Tuy nhiên trước đó, vào tháng 12 năm 1980, Lạt ma Gwalya Karmapa đã đến hoằng
Pháp tại Mã lai. Sự xuất hiện của ngài đã đánh dấu chính thức của sự truyền nhập của
Phật Giáo Tây Tạng vào Mã Lai. Từ đó đến nay đã có nhiều Lạt ma Tây Tạng đến thuyết
Pháp và nhiều Trung tâm tu học đã xây dựng rải rác ở khắp Mã Lai.

9. Một số Tổ chức Phật giáo tại Mã Lai

* Hội Thanh Niên Phật Tử Mã Lai (the Young Buddhist Association of Malaysia/
YBAM): Hội được thành lập vào 1970, kết quả từ sự thống nhất của 243 tổ chức thanh
niên Phật tử trên toàn quốc với tổng số hội viên là 3000. Tổ chức này đã có các sinh hoạt
như giảng dạy Phật Pháp, cắm trại tu học, và đóng góp cho các hoạt động từ thiện xã hội.
Hội này hàng năm đã kết hợp với Giáo Hội Phật Giáo Mã Lai tổ chức kỳ thi Phật Pháp
cho Phật tử trên toàn quốc. Hội YBAM cũng từng nhận được giải thưởng Hội đoàn thanh
niên xuất sắc của Mã Lai. Hội cũng có những phương cách để tạo ngân quỹ cho tổ chức
như mở nhà hàng cơm chay và trung tâm dạy điện toán..... Số tiền thu được dùng để xây
dựng tổ chức, cúng dường Tăng Ni, cấp học bổng và các công tác từ thiện xã hội khác.

* Các tổ chức in ấn và phát hànhh kinh sách Phật giáo (Dharma publications): Một số
Hội đoàn Phật Giáo Mã Lai nổi bật trong việc in ấn và phát hành kinh sách Phật Giáo
bằng tiếng Trung Hoa, tiếng Anh như Hiệp Hội Truyền Bá Chánh Pháp; Tổ chức thu
sang băng Trí Tuệ (Wisdom Audio Visual) ở Kuala Lumpur; và Giáo Hội PH Mã Lai ở
Penang..v.v...đều tổ chức in và ấn tống miễn phí rất nhiều Kinh, sách, truyện Phật Giáo
để phát không cho người đọc, không những cho Phật tử ở Mã Lai và còn gởi đi ấn tống
cho các trung tâm Phật Giáo có liên hệ trên khắp thế giới.

10. Kết Luận

Mặc dù Hồi giáo là quốc giáo nhưng con số tín đồ Phật giáo đã gia tăng ở Mã Lai trong
những thập niên qua. Phật tử Mã Lai luôn yêu chuộng hòa bình và tinh tấn thực hành đạo
Pháp. Cũng giống như Việt Nam, Phật Giáo Mã Lai là một hình ảnh tổng hòa giữa các
trường phái Nam và Bắc Tông, Thiền tông và Kim cang tông đều sinh hoạt hài hòa trong
niềm tương kính để đem lại ánh sáng và bình yên cho xứ sở.

Rất nhiều chùa chiền do Phật tử Mã Lai đứng ra xây dựng trong vòng hai mươi năm qua.
Nhiều người Mã lai đã phát tâm xuất gia tu học và trở thành những nhà hành đạo và
truyền đạo cho đất nước. Nhiều hội đoàn thanh niên, Phật tử trẻ tuổi đã và đang tìm về
với ánh sáng của Chánh Pháp qua các khóa học Trường Phật Pháp ngày chủ nhật ở thủ đô
Kuala Lumpur và nhiều thành phố khác. Rõ ràng họ thích thú khám phá ra cái đẹp trong
lời Phật dạy hơn là dựa theo truyền thống tín ngưỡng mà cha mẹ hay ông bà từng tin
theo.

Tương lai của Phật Giáo Mã Lai tương đối rất sáng sủa với tầng lớp, thế hệ trẻ của Mã
Lai đang hướng về Chánh Pháp, nhất là xuyên qua lãnh vực giáo dục và từ thiệm xã hội.
Nguyện cầu cho Phật Giáo Mã Lai đầy đủ tiềm lực, phương tiện và thuận duyên để chuẩn
bị bước vào thiên niên kỷ mới với đầy niềm tin và hy vọng trong sứ mệnh mang hạnh
phúc đến cho cuộc đời./.

-oOo-

Thiên chúa giáo tại Malaysia


Từ Wikipedia tiếng Việt
Bước tới: chuyển hướng , tìm kiếm
Kitô giáo của Quốc gia

Thiên chúa giáo tại Malaysia là


một tôn giáo thiểu số thực hiện bởi
9,1% dân số (2000 điều tra dân
số), hầu hết sống ở Đông Malaysia
. [1] Các chính giáo phái tại Châu Phi [show]
Malaysia bao gồm Anh giáo , Algeria • Angola • Benin • Botswana •
Baptist , Brethrens , giáo phái nhà Burkina Faso • Burundi • Cameroon • Cape
thờ không , độc lập nhà thờ Tân Verde • Chad • Comoros • Côte d'Ivoire •
Đặc Sủng , Lutheran , Methodist , D. Rep. Congo • Djibouti • Ai Cập •
Presbyterian và người Công giáo Eritrea • Ethiopia • Gabon •
La Mã . [2] Ghana • Guinea-Bissau • Kenya •
Lesotho • Liberia • Libya •
Nội dung Madagascar • Mali • Mauritania •
Mauritius • Maroc • Mozambique •
Namibia • Niger • Nigeria •
[hide]
Somalia • Sudan • Tanzania
Châu Á [show]
• 1 An phác thảo lịch sử của Kitô giáo tại Malaysia
Bangladesh • Bhutan •
• 2 tòa nhà Giáo Hội
Brunei • Miến • Campuchia •
• 3 Truyền bá Phúc âm
Trung Quốc • Georgia •
• 4 Văn học
Hồng Kông • Ấn Độ •
• 5 Âm nhạc
Indonesia • Nhật Bản • Kazakhstan •
• 6 phim
Hàn Quốc • Lào • Malaysia •
• 7 Hoạt động
Maldives • Mông Cổ • Myanmar •
• 8 ngày lễ
Nepal • Bắc Triều Tiên • Pakistan •
o 8,1 Giáng sinh
Philippines • Nga • Singapore •
o 8,2 Good Friday
Hàn Quốc • Sri Lanka • Đài Loan •
o Ngày độc lập 8,3 / Malaysia Ngày ăn chay
Tajikistan • Thái Lan • Turkmenistan •
• 9 Nhân khẩu học của tín đồ
Uzbekistan • Việt Nam
o 9,1 Bằng cách dân tộc
Châu Âu [show]
o 9,2 Bằng cách nhà nước và lãnh thổ
Abkhazia • Albania • Áo •
o 9,3 Bằng cách thành thị-nông thôn tầng lớp nhân dân
Azerbaijan • Belarus • Bỉ •
• 10 Xem thêm Bosnia & Herzegovina • Bulgaria •
• 11 Tài liệu tham khảo Đan Mạch • Phần Lan •
Pháp • Đức • Hy Lạp •
• 12 Liên kết ngoài Iceland • Ireland • Ý •
Jersey • Kosovo • Lithuania •
[ sửa ] Một phác Luxembourg • Macedonia • Hà Lan •
Na Uy • Malta • Moldova •
thảo lịch sử của Kitô Montenegro • Ba Lan • Bồ Đào Nha • Romania •
giáo tại Malaysia Nga • Thổ Nhĩ Kỳ • Ukraine • Vương quốc Anh
Bắc Mỹ [show]
Christian đầu hiện diện tại các Antigua & Barbuda • Belize • Canada •
quần đảo Mã Lai có thể được truy Costa Rica • Cuba • Cộng hoà Dominicana •
nguồn từ Nestorians từ sớm nhất El Salvador • Guatemala • Mexico •
[3]
là vào thế kỷ thứ 7 và đến Ba Nicaragua • Panama • Hoa Kỳ
Nam Mỹ [show]
Brazil • Chile • Colombia •
Ecuador • Guyana • Paraguay • Peru
Trung Đông [show]
Afghanistan • Armenia • Bahrain •
Tư và thương nhân Nestorian tại Malacca trước khi chinh phục Bồ Đào Nha năm 1511. [4]
Người Anh đã mua Penang năm 1786, và trong 1795 đã qua Malacca, vốn đã bị chinh
phục bởi người Hà Lan trong năm 1641. Linh mục Công Giáo từ Thái Lan thành lập các
chủng viện chính ở Penang năm 1810. Các LMS đã có trụ sở tại Malacca và Penang từ
năm 1815, nhưng hầu hết Tin Lành nhiệm vụ sụp đổ sau khi 1842 khi nó trở thành có thể
vào Trung Quốc. lãnh đạo Công giáo vẫn còn, nhưng đã được phân chia giữa Bồ Đào
Nha và Pháp. Mở huynh Bộ có từ năm 1860 và Methodist từ năm 1885. Trưởng Lão lớn
thông qua các nhà thờ của Trung Quốc trong Johore và người nước ngoài hội ở Penang,
Ipoh và Kuala Lumpur . Sứ mệnh Sengoi người dân bản địa bắt đầu vào năm 1932.
Pentecostalism trở thành một ảnh hưởng lớn hơn thông qua các phong trào Tân Đặc Sủng
của những năm 1970, nhưng Bắc Mỹ và Tích Lan Pentecostal truyền giáo đã được hoạt
động từ năm 1935. [5]

Di cư là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của giáo hội. Trong Sabah , các đoàn
Basel bắt đầu công việc giữa các di dân Hakka Trung Quốc vào năm 1882, nhiều người
đã được Thiên chúa giáo. Tamil người di cư đến Malaya bao gồm Công giáo, Lutheran,
Anh giáo, và Methodist. Di cư tăng lên sau khi các cuộc nổi dậy Boxer , đặc biệt để
Sitiawan và Sibu , vẫn mạnh mẽ của Trung Quốc Methodist trung tâm. Mar Thoma và
Chính thống giáo Syria Giáo Hội đã được thành lập vào những năm 1930 sau di cư từ
Kerala bờ biển của Ấn Độ.

Trong Sarawak sự cai trị của Rajah Brooke bao gồm hỗ trợ cho một bộ Anh giáo từ 1847
và người Công giáo sau này được thừa nhận. [6] Năm 1928 Úc Borneo Evangelical
Mission [7] đã bắt đầu làm việc với các nguồn lực khiêm tốn mà vẫn kết quả bản địa nhà
thờ lớn nhất tại Malaysia ngày hôm nay , các Sidang Injil Borneo ( tiếng Anh : Borneo
Giáo Hội Tin Lành).

Các Zion Lutheran Church ở Brickfields , Kuala Lumpur , được thành lập vào năm 1924.

Chiến tranh Thế giới II đã thấy việc loại bỏ các nước ngoài lãnh đạo và con đường
hướng tới một nhà thờ bản địa đã được thiết lập rõ ràng hơn. Các Hội đồng Kitô giáo Mã
Lai (MCC), được thành lập vào năm 1948, các nhóm nhiệm vụ phối hợp trong quá trình
khẩn cấp Mã Lai. Trung Quốc di chuyển vào "Làng mới" đã được phục vụ bởi các nhà
truyền giáo , đôi khi xuất Trung Quốc, người đã làm việc cùng với các Kitô hữu địa
phương trong công tác xã hội và y tế. Tuy nhiên sau khi độc lập năm 1957, nhiều nhà thờ
được overdependent về người nước ngoài. Trong những năm 1970 nhà thờ phát triển kết
cấu độc lập của Singapore cũng như các hỗ trợ ở nước ngoài. Gần đây tăng trưởng trong
các nhà thờ độc lập là một dấu hiệu của một mong muốn thiết lập một Cơ Đốc sắc
Malaysia. [5]

Christian cam kết với giáo dục đã được mạnh mẽ thông qua Anh giáo, Công giáo và
Methodist trường học, nay là một phần của hệ thống giáo dục của chính phủ. mối quan
tâm xã hội được thể hiện qua công tác y tế, và các tổ chức như CARE Malaysia. The
Salvation Army và YMCA / YWCAs đóng góp đặc biệt.

Từ năm 1983 các quốc gia Tin Lành Christian Fellowship (NECF) đã cung cấp một tập
trung cho giáo đoàn truyền giáo và độc lập. Liên đoàn Thiên chúa giáo của Malaysia kết
hợp với Hội đồng Kitô giáo của Malaysia (trước đây là MCC), Công giáo La Mã, và các
NECF được thành lập vào năm 1986. Hội đồng Sabah của Giáo Hội và Hiệp hội các nhà
thờ của Sarawak chức năng thực hiện tương tự ở Đông Malaysia.

Malaysia là một bối cảnh đa tôn giáo nơi mà mối bận tâm thần học phương Tây không
phải luôn luôn có liên quan. Lay lãnh đạo đã phát triển mạnh ở các nhà thờ. Mặc dù có
nhiều thách thức và kinh tế thông qua việc thay đổi hoàn cảnh chính trị, như Malaysia
chính nó, các nhà thờ đang bắt đầu thấy rằng họ có một đóng góp để thực hiện trên một
sân khấu lớn hơn. [8]

[ sửa ] Giáo trình

St John's Cathedral ở Kuala Lumpur

Nhà thờ được phép ở Malaysia, mặc dù có những hạn chế xây dựng nhà thờ mới thông
qua luật quy hoạch phân biệt đối xử. Không có nhà thờ từ trước đã bị đóng cửa bởi chính
phủ và không có giáo đoàn thường trực đã được giải tán. Tuy nhiên, rất khó để xây dựng
nhà thờ mới. Ví dụ, phải mất hơn hai mươi năm đối với chính quyền địa phương tại Shah
Alam để cho phép một nhà thờ được xây dựng ở đó, với một điều kiện bổ sung mà các
nhà thờ phải trông giống như một nhà máy sản xuất và không xuất hiện một nhà thờ
truyền thống. Hầu hết thời gian, nhà thờ mới được bắt đầu vào một cách bí mật như các
doanh nghiệp thông thường trong các cửa hàng, đặc biệt là ở các thành phố lớn như
Kuala Lumpur .
[ sửa ] Truyền bá Phúc âm

Nhà thờ chính tòa Thánh Tâm ở Kota Kinabalu , Sabah

St Anne của Giáo Hội ở Bukit Mertajam , Penang đã thu hút nhiều người trong đó là
ngày lễ

Sự tự do để thực hành và truyền bá tôn giáo được đảm bảo theo Điều 11 của Hiến pháp
của Malaysia và điều này thường được tôn trọng. Hiến pháp cho phép tuy nhiên những
hạn chế của công tác tuyên truyền của các tôn giáo khác ngoài đạo Hồi đối với cộng đồng
Hồi giáo và sự không rõ ràng của các quy định này đã dẫn đến một số vấn đề. [9] [10]

Nó đã được các thực hành của giáo hội tại Malaysia để không tích cực proselytize với
cộng đồng Hồi giáo. Christian văn học được yêu cầu của pháp luật để thực hiện một chú
thích "cho không chỉ người Hồi giáo". Điều 11 (4) của Hiến pháp Liên bang của
Malaysia cho phép các tiểu bang để cấm việc tuyên truyền của các tôn giáo khác để
người Hồi giáo, và nhất (với ngoại lệ của Penang, Sabah, Sarawak và các vùng lãnh thổ
liên bang) đã làm như vậy. Trong khi không có hạn chế pháp lý thực tế và người Hồi
giáo từ bỏ đức tin của họ trong lợi của đức tin khác, trong thực tế rất ít người Hồi giáo
thực sự chuyển đổi. Điều này một phần do thực tế nó là vô cùng khó khăn đối với người
Hồi giáo để chuyển đổi, như có tác động nghiêm trọng theo luật Hồi giáo, và bởi vì Hồi
giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong cộng đồng người Mã Lai trong nhiều thế kỷ, do
đó kết quả vào tín đồ rất mạnh. Xem thêm Tình trạng tự do tôn giáo tại Malaysia .

Tuy nhiên, trường hợp trong đó một người Hồi giáo sẽ chấp nhận đức tin Kitô giáo mà
không khai báo / bội đạo của mình một cách công khai. Trong thực tế, họ đang thực hành
Kitô hữu, nhưng về mặt pháp lý Hồi giáo. Áp lực gia đình, và sợ mất, con của một người
vợ / chồng thường là một ngăn chặn đủ để ngăn chặn để lại Hồi giáo [9] .

Những lợi ích hiển thị trong đức tin Kitô giáo hoặc thực hành đức tin khác không được
coi là tôn giáo chính thống của cơ quan nhà nước thường được gửi hoặc bởi cảnh sát hoặc
trung tâm các thành viên gia đình của họ với nhà nước tài trợ phục hồi chức năng Faith (
Mã Lai : Pusat Pemulihan Akidah), nơi chúng được tư vấn để vẫn trung thành với Hồi
giáo và một số tiểu bang có quy định về hình phạt theo phương Shariah pháp luật cho bội
đạo từ Hồi giáo [10] [11] .

[ sửa ] Văn học


Là một đất nước Hồi giáo chính thức, ý kiến vào việc Indonesia ngôn ngữ Kinh Thánh,
và Mã Lai , ngôn ngữ Kinh Thánh, cả hai được biết đến với tên al-kitab, nên bị cấm,
được phân cực. [12] Từ kết xuất của Chúa 'trong bản dịch tiếng Anh được đưa ra ở Mã Lai
là "Tuhan 'trong khi từ' Thượng Đế 'trong tiếng Anh được dịch là' Allah '. Đó là tuyên bố
rằng không có bản dịch từ tiếng Do Thái gần gốc từ cả tiếng Ả Rập và tiếng Do Thái từ
Thiên Chúa đến từ cùng một gốc Do Thái. vật liệu khác Christian trong ngôn ngữ Mã
Lai đã bị cấm tại thời điểm khác nhau vì lý do tương tự. Tuy nhiên, Thủ tướng Chính
phủ làm rõ vào tháng Tư năm 2005 không có lệnh cấm cuốn Kinh Thánh được dịch sang
Mã Lai, nhưng họ phải được đóng dấu với từ chối trách nhiệm "Không phải cho người
Hồi giáo". [13]

Kinh Thánh có tên là BUP Kudus Iban cũng cấm sử dụng hạn Taala Allah cho Thiên
Chúa. Cuối cùng nó đã được giải thích cho chính phủ là không có khác so sánh dài trong
Iban. Như vậy lệnh cấm đã không được thực thi hơn nữa nhưng nó đã không chính thức
bãi bỏ. Lệnh cấm được dỡ bỏ sau đó chỉ để sử dụng cho người Iban, sau khi cuộc biểu
tình từ các nhà lãnh đạo Kitô giáo.

[ sửa ] Âm nhạc
Có nhiều nhạc sĩ Thiên chúa giáo ở Malaysia, nhưng thị trường vẫn còn tươi và không
phổ biến rộng rãi. Một mạng lưới được gọi là nhạc sĩ Malaysia Christian mạng [14] , đã
được thành lập để thúc đẩy các nhạc cảnh Kitô giáo Malaysia.
MCSN cũng được dành riêng cho việc thúc đẩy các bài hát ca ngợi và tôn thờ được viết
bởi nhạc sĩ Malaysia Thiên chúa giáo. radio trực tuyến của chúng tôi trên
www.soundclick.com sẽ phục vụ như một công cụ cho mục đích này, nơi mà người nghe
từ tất cả qua Malaysia, và ở nước ngoài, sẽ có thể nghe nhạc được viết và sản xuất tại địa
phương. Cả hai nhạc sĩ thành lập, cũng như các nhạc sĩ trẻ và tham vọng, sẽ có một cơ
hội để có âm nhạc của họ nghe. Thông qua đài phát thanh trực tuyến, nó là hy vọng của
chúng ta rằng cộng đồng Thiên chúa giáo tại Malaysia sẽ được nhận thức của các bài hát
mà Thiên Chúa đã ban phước cho Malaysia với thông qua các nhạc sĩ, ông đã đặt ở giữa
chúng ta.

[ sửa ] Phim
Mel Gibson là 2004 bộ phim The Passion của Chúa Kitô đã nhìn thấy một bản phát hành
bị giới hạn ở Malaysia. Chính thức, bộ phim đã được mở cho các Giáo chỉ. Khán giả đã
chán nản vì vé đã không được thực hiện bởi các cơ quan hộp thông thường. các nhóm
Kitô giáo như Tin Lành Cơ Đốc Học bổng Quốc gia được sắp xếp đặt khối rạp chiếu
phim và vé phân phối cho các nhà thờ khác nhau. An chạy ban đầu của tháng hai đã
được mở rộng, làm cho nó xuất hiện nghi ngờ rằng Kitô hữu chỉ được xem các bộ phim.

[ sửa ] Hoạt động


chế độ thực tế của các tôn thờ như phụng vụ được sử dụng và các bài giảng không chủ
động kiểm duyệt hoặc kiểm soát của chính phủ. Thường xuyên giám sát việc thờ phượng
của HTX bí mật nào xảy ra.

Nó đã được báo cáo rằng một số trường công sở và các trường đại học đã không chính
thức bị cấm hoạt động trong khuôn viên trường Thiên chúa giáo, chẳng hạn như Christian
Fellowship (CF). CF trong các trường học bị ảnh hưởng có kể từ khi được chuyển đến
nhà để tiếp tục hoạt động. [ xác minh cần thiết ]

[ sửa ] Ngày lễ
[ sửa ] Giáng sinh

Giáng sinh là ngày lễ công cộng tại Malaysia, mặc dù phần lớn các lễ kỷ niệm nào là
thương mại trong tự nhiên và không có công khai âm bội tôn giáo. Thỉnh thoảng, các
nhóm hoạt động giáo làm mua advertorials báo về Giáng sinh hay Phục Sinh , nhưng điều
này chủ yếu chỉ được cho phép trong ngôn ngữ tiếng Anh và cho phép báo chí không
được đưa ra hàng năm. Các advertorials chính họ là báo cáo thường gián tiếp.

Năm 2004 chính phủ đã tổ chức lễ Giáng sinh cấp quốc gia, nhưng được cho là đã áp đặt
một lệnh cấm không chính thức trên tất cả các biểu tượng tôn giáo Thiên chúa giáo và các
bài thánh ca mà cụ thể đề cập đến Chúa Giêsu Kitô. [15] Các sự kiện được phối hợp tổ
chức các, Nghệ thuật Bộ Văn hóa Di sản, chính phủ bang Selangor và Liên đoàn Thiên
chúa giáo của Malaysia (CFM). Nó đã được báo cáo trước là vua của Selangor và vợ của
ông, Thủ tướng Chính phủ cũng như các bộ trưởng nội các loại sẽ được tham dự, và rằng
sự kiện này sẽ được truyền hình.

OC Lim, một cựu luật sư biến dòng Tên linh mục và giám đốc của Trung tâm Nghiên
cứu Công Giáo (còn trợ lý giáo xứ linh mục của St Francis Xavier của Giáo hội) đã nộp
đơn khiếu nại chính thức. Ông cũng nói rằng "Để loại trừ (như) bài hát mừng và sử dụng
(Giáng sinh) để đạt được chính là thái quá, gây tai tiếng và phạm thánh." Ông cũng cho
biết: "Để gọi nó là một sự kiện văn hóa (như là hợp lý bởi các chính trị gia Cơ đốc giáo
chính trị gia nhiều hơn là những người Thiên chúa giáo) là để Chúa Giêsu hạ xuống một
nhà hiền triết văn hóa như Khổng Tử."

Tổng thư ký quản lý rừng cộng Rev Tiến sĩ Hermen Shastri nói rằng chính phủ muốn
"không có gì là xúc phạm đạo Hồi" trong nhà mở.

Nghệ thuật, Văn hoá và Di sản Tiến sĩ Rais Yatim Bộ trưởng sau đó đã phủ nhận rằng
bất kỳ lệnh cấm này đã được "ban hành chính thức hoặc không chính thức". Ông cũng
nói thêm rằng đó là "không có gì sai trong bài hát chẳng hạn như ' Silent Night "và"
Merry Christmas "" khi họ là "những bài hát vui mừng cho lễ hội."

Lee Min Choon, pháp lý cố vấn cho quản lý rừng cộng và các quốc gia Tin Lành
Christian Fellowship ban hành một tuyên bố mà nói: "Nó có nghĩa là giáo hội có thể ăn
mừng Giáng sinh như họ đã làm tất cả cùng. Nếu không, rất ý nghĩa của nhân sẽ bị mất."
"Bây giờ, mọi người nên chính phủ tại văn bản của nó và ăn mừng Giáng sinh theo cách
mà họ thường ăn mừng và bày tỏ đức tin tôn giáo của họ."

[ sửa ] Thứ sáu Tuần Thánh

Thứ Sáu Tuần Thánh không phải là một ngày lễ liên bang, nhưng là một ngày lễ công
cộng nhà nước tại Sabah , nơi Kitô hữu chiếm một thiểu số đáng kể, và cũng ở Sarawak ,
nơi Thiên Chúa giáo là tôn giáo lớn nhất, cả nước đã được cấp một số mức độ tự trị lớn
hơn các tiểu bang khác trong Liên đoàn , vì chúng được coi là chính thể ngang bằng với
Malaysia khi họ sáp nhập với nó và Singapore để tạo thành Malaysia.

Tuy nhiên, không có bằng chứng rằng điều này phản đối thần học đóng vai trò nào trong
không bao gồm Thứ Sáu Tuần Thánh là một kỳ nghỉ. Ngược lại, Good Friday có lẽ
không phải là một ngày lễ công cộng bởi vì, như một toàn bộ trong liên bang, các Kitô
hữu chiếm một thiểu số nhỏ - 9,1% theo điều tra dân số năm 2000. Hai tôn giáo thiểu số
đáng kể tại Malaysia, Phật tử và người Ấn giáo , cũng nhận được chỉ là một ngày lễ của
liên bang mỗi - Wesak Day và Deepavali tương ứng. Deepavali Tuy nhiên, không phải là
ngày lễ liên bang ở bang Sarawak.

[ sửa ] Ngày độc lập / Malaysia Ngày ăn chay


Malaysia Kitô hữu đôi khi giữ ăn chay
kết thúc vào Ngày độc lập hoặc
Malaysia ngày và cầu nguyện cho người
Hồi giáo. Một số lời giải thích đã được
đưa ra để làm như vậy bao gồm một
mong muốn thể hiện lòng yêu nước,
thúc đẩy hòa hợp tôn giáo, và kỷ niệm
tự do tôn giáo. Từ năm 2000 các quốc
gia Tin Lành Christian Fellowship, với
2.800 thành viên nhà thờ, đã tổ chức ăn
chay này và họ đang được tiến hành sự
kiện như năm 2010. Tất cả ăn chay
trước đây đã kết thúc vào Ngày độc lập
nhưng nhanh năm 2010 là tiếp
Christianity in Malaysia
From Wikipedia, the free encyclopedia
Jump to: navigation , search
Christianity by Country

Christianity in Malaysia is a
minority religion practised by 9.1% of
the population (2000 census), most
living in East Malaysia . [ 1 ] The major
Christian denominations in Malaysia Africa [show]
include the Anglicans , Baptists , Algeria • Angola • Benin • Botswana •
Brethrens , non-denominational Burkina Faso • Burundi • Cameroon • Cape
churches , independent Charismatic Verde • Chad • Comoros • Côte d'Ivoire •
churches , Lutherans , Methodists , D.Rep. of Congo • Djibouti • Egypt •
Presbyterian and Roman Catholics . Eritrea • Ethiopia • Gabon •
[2]
Ghana • Guinea-Bissau • Kenya •
Lesotho • Liberia • Libya •
Contents Madagascar • Mali • Mauritania •
Mauritius • Morocco • Mozambique •
Namibia • Niger • Nigeria •
[hide]
Somalia • Sudan • Tanzania
Asia [show]
• 1 An outline history of Christianity in Malaysia
Bangladesh • Bhutan •
• 2 Church buildings
Brunei • Burma • Cambodia •
• 3 Evangelism
China • Georgia •
• 4 Literature
Hong Kong • India •
• 5 Music
Indonesia • Japan • Kazakhstan •
• 6 Movies
Korea • Laos • Malaysia •
• 7 Activities
Maldives • Mongolia • Myanmar •
• 8 Holidays
Nepal • North Korea • Pakistan •
o 8.1 Christmas
Philippines • Russia • Singapore •
o 8.2 Good Friday
South Korea • Sri Lanka • Taiwan •
o 8.3 Independence Day/Malaysia Day fasting
Tajikistan • Thailand • Turkmenistan •
• 9 Demographics of adherents
Uzbekistan • Vietnam
o 9.1 By ethnicity
Europe [show]
o 9.2 By state & territory
Abkhazia • Albania • Austria •
o 9.3 By urban-rural strata
Azerbaijan • Belarus • Belgium •
• 10 See also Bosnia & Herzegovina • Bulgaria •
• 11 References Denmark • Finland •
France • Germany • Greece •
• 12 External links Iceland • Ireland • Italy •
Jersey • Kosovo • Lithuania •
[ edit ] An outline Luxembourg • Macedonia • Netherlands •
Norway • Malta • Moldova •
history of Christianity Montenegro • Poland • Portugal • Romania •
in Malaysia Russia • Turkey • Ukraine • United Kingdom
North America [show]
Early Christian presence in the Malay Antigua & Barbuda • Belize • Canada •
archipelago may be traced to Costa Rica • Cuba • Dominican Republic •
Nestorians from as early as the 7th El Salvador • Guatemala • Mexico •
[3]
century and to Persian and Nicaragua • Panama • United States
South America [show]
Brazil • Chile • Colombia •
Ecuador • Guyana • Paraguay • Peru
Middle East [show]
Afghanistan • Armenia • Bahrain •
Nestorian traders in Malacca prior to the Portuguese conquest in 1511. [ 4 ] The British
acquired Penang in 1786, and in 1795 took over Malacca, which had been conquered by
the Dutch in 1641. Catholic priests from Thailand established the Major Seminary in
Penang in 1810. The LMS was based in Malacca and Penang from 1815, but most
Protestant missions collapsed after 1842 when it became possible to enter China.
Catholic leadership remained, but was divided between Portuguese and French. Open
Brethren ministry dates from 1860 and Methodist from 1885. Presbyterianism grew
through Chinese churches in Johore and expatriate congregations in Penang, Ipoh and
Kuala Lumpur . Mission to Sengoi indigenous people began in 1932. Pentecostalism
became a larger influence through the Charismatic Movement of the 1970s, but North
American and Ceylonese Pentecostal missionaries had been active from 1935. [ 5 ]

Migration was an important factor in church growth. In Sabah , the Basel Mission began
work among migrant Hakka Chinese in 1882, many of whom were Christian. Tamil
migrants to Malaya included Catholics, Lutherans, Anglicans, and Methodists. Migration
increased after the Boxer Rebellion , particularly to Sitiawan and Sibu , still strong
Chinese Methodist centres. Mar Thoma and Syrian Orthodox Churches were established
in the 1930s following migration from the Kerala Coast of India.

In Sarawak the rule of Rajah Brooke included support for an Anglican ministry from
1847 and Catholics were later admitted. [ 6 ] In 1928 the Australian Borneo Evangelical
Mission [ 7 ] began work with modest resources which nevertheless resulted in the largest
indigenous church in Malaysia today, the Sidang Injil Borneo ( English : Borneo
Evangelical Church ).

The Lutheran Zion Church in Brickfields , Kuala Lumpur , established in 1924.

World War II saw the removal of expatriate leadership and a path towards an indigenous
church was more clearly set. The Malayan Christian Council (MCC), founded in 1948,
coordinated mission groups during the Malayan Emergency. Chinese relocated into 'New
Villages' were served by missionaries , sometimes ex-China, who worked alongside local
Christians in social and medical work. However after independence in 1957, many
churches were overdependent on expatriates. In the 1970s churches developed structures
independent of Singapore as well as of overseas support. Recent growth in independent
churches is another sign of a desire to establish a Malaysian Christian identity. [ 5 ]
Christian commitment to education has been strong through Anglican, Catholic and
Methodist schools, now part of the government education system. Social concern is
expressed through medical work, and organisations such as Malaysian CARE. The
Salvation Army and YMCA /YWCAs make distinctive contributions.

Since 1983 the National Evangelical Christian Fellowship (NECF) has provided a focus
for evangelical and independent congregations. The Christian Federation of Malaysia
incorporating the Christian Council of Malaysia (formerly MCC), Roman Catholics, and
the NECF was formed in 1986. The Sabah Council of Churches and Association of
Churches of Sarawak fulfil similar functions in East Malaysia.

Malaysia is a multi-religious context where Western theological preoccupations are not


always relevant. Lay leadership has developed strongly in most churches. Although
there are many challenges through changing political and economic circumstances, like
Malaysia itself, the churches are beginning to see that they have a contribution to make
on a larger stage. [ 8 ]

[ edit ] Church buildings

St. John's Cathedral in Kuala Lumpur

Churches are allowed in Malaysia, though there are restrictions on construction of new
churches through discriminatory zoning laws. No pre-existing churches have been closed
down by the government and no standing congregations have been disbanded. However,
it is difficult to build new churches. For instance, it took more than twenty years for the
local authority in Shah Alam to allow a church to be built there, with an additional
condition that the church must look like a factory and not a more conventional church
appearance. Most of the time, new churches are started in a clandestine manner as
ordinary businesses in shops, especially in major cities like Kuala Lumpur .

[ edit ] Evangelism
Sacred Heart Cathedral in Kota Kinabalu , Sabah

St. Anne's Church in Bukit Mertajam , Penang attracts many people during it's feast day

The freedom to practice and propagate religion is guaranteed under the Article 11 of the
Constitution of Malaysia and this is generally respected. The Constitution however
allows for the restriction of the propagation of religions other than Islam to the Muslim
community and the ambiguity of these provisions has resulted in some problems. [ 9 ] [ 10 ]

It has been the practice of the church in Malaysia to not actively proselytize to the
Muslim community. Christian literature are required by law to carry a caption "for non-
Muslims only". Article 11(4) of the Federal Constitution of Malaysia allows the states to
prohibit the propagation of other religions to Muslims, and most (with the exception of
Penang, Sabah, Sarawak and the Federal Territories) have done so. While there is no
actual legal restraint against Muslims renouncing their faith in favor of another faith, in
practice very few Muslims actually convert. This is partly due to the fact it is extremely
difficult for Muslims to convert, as there are serious implications under Islamic law, and
because Islam has played a major role in the Malay community for centuries, thus
resulting into very strong adherents. See also Status of religious freedom in Malaysia .

There are, however, cases in which a Muslim will adopt the Christian faith without
declaring his/her apostasy openly. In effect, they are practising Christians, but legally
Muslims. Family pressure, and fear of losing one's spouse or children is usually a
sufficient deterrent to prevent leaving Islam [ 9 ] .

Those showing interest in the Christian faith or other faith practices not considered
orthodox by state religious authorities are usually sent either by the police or their family
members to state funded Faith Rehabilitation Centres ( Malay : Pusat Pemulihan
Akidah ) where they are counseled to remain faithful to Islam and some states have
provisions for penalties under their respective Shariah legislations for apostasy from
Islam [ 10 ] [ 11 ] .

[ edit ] Literature
As an officially Islamic country, opinions on whether the Indonesian -language Bible
and Malay -language Bible, both known by the name al-kitab , should be banned, are
polarised. [ 12 ] The word rendered 'Lord' in English translations is given in Malay as
'Tuhan' while the word 'God' in English is translated as 'Allah'. It was claimed that there
is no closer translation from the original Hebrew since both Arabic and the Hebrew word
for God come from the same Semitic root. Other Christian materials in the Malay
language have been banned at various times for similar reason. However, the Prime
Minister clarified in April 2005 that there was no ban on Bibles translated into Malay, but
they must be stamped with the disclaimer "Not for Muslims". [ 13 ]

The Iban Bible named Bup Kudus was also banned for using the term Allah Taala for
God. Eventually it was explained to the government that there was no other comparable
term in Iban. As such the ban was not enforced further but it was neither officially
repealed. The ban was later lifted only for Iban people usage, after protests from the
Christian leaders.

[ edit ] Music
There are many Christian Songwriters in Malaysia, but the market is still fresh and not
widespread. A network called the Malaysian Christian Songwriters Network [ 14 ] , has
been set up to promote the Malaysian Christian music scene.

MCSN is also dedicated to promoting praise and worship songs written by Malaysian
Christian Songwriters. Our online radio on www.soundclick.com will serve as a tool for
this purpose, where listeners from all across Malaysia, and abroad, will be able to listen
to the music written and produced locally. Both established songwriters, as well as
young and aspiring songwriters, will have an opportunity to have their music heard.
Through this online radio, it is our hope that the Christian community in Malaysia will be
made aware of the songs that God has blessed Malaysia with through the songwriters he
has put in our midst.

[ edit ] Movies
Mel Gibson 's 2004 film The Passion of The Christ saw a restricted release in Malaysia.
Officially, the movie was open to Christians only. Attendance was discouraged since
tickets were not carried by the usual box offices. Christian groups such as the National
Evangelical Christian Fellowship arranged block bookings of cinemas and distributed
tickets to various churches. An initial run of two-months was extended, making it appear
doubtful that only Christians viewed the film.

[ edit ] Activities
Actual modes of worship such as the liturgy used and the sermons are not actively
censored or controlled by the government. Occasional surveillance of worship by
clandestine operatives does occur.

It has been reported that several public secondary schools and universities have
unofficially banned on-campus Christian activities, such as Christian Fellowship (CF).
CFs in affected schools have since been relocated to homes in order to continue
functioning. [ verification needed ]

[ edit ] Holidays
[ edit ] Christmas

Christmas is a public holiday in Malaysia, though much of the public celebration is


commercial in nature and has no overt religious overtones. Occasionally, Christian
activist groups do buy newspaper advertorials on Christmas or Easter , but this is largely
only allowed in English-language newspapers and permission is not given every year.
The advertorials themselves are usually indirect statements.

In 2004 the government organised a national-level Christmas celebration but allegedly


imposed an unofficial ban on all Christian religious symbols and hymns that specifically
mention Jesus Christ. [ 15 ] The event was jointly organised by the Arts, Culture and
Heritage ministry, the government of the state of Selangor and the Christian Federation of
Malaysia (CFM). It was reported in advance that the Sultan of Selangor and his consort,
the Prime Minister as well as assorted cabinet ministers would be in attendance, and that
the event would be televised.

OC Lim, a former lawyer turned Jesuit priest and director of the Catholic Research
Centre (also assistant parish priest of St Francis Xavier 's Church) has lodged a formal
complaint. He has also stated that "To exclude (such) carols and to use (Christmas) for
political gain is outrageous, scandalous and sacrilegious." He also said "To call it a
cultural event (as rationalised by Christian politicians who are more politician than
Christian) is to downgrade Jesus to a cultural sage such as Confucius."

CFM general secretary Rev Dr Hermen Shastri stated that the government wanted
"nothing that insults Islam" during the open house.

Arts, Culture and Heritage Minister Dr Rais Yatim later denied that any such ban had
been "issued officially or unofficially". He also added that there is "nothing wrong in
singing songs such as ' Silent Night ' and ' Merry Christmas '" as they are "joyous songs
for the festival."

Lee Min Choon, legal adviser to the CFM and the National Evangelical Christian
Fellowship issued a statement which said "It means that churches can celebrate Christmas
as they have been doing all along. Otherwise, the very meaning of the occasion will be
lost." "Now, everybody should take the government at its word and celebrate Christmas
the way they normally celebrate and express their religious faith."

[ edit ] Good Friday

Good Friday is not a federal public holiday, but is a state public holiday in Sabah where
Christians constitute a significant minority, and also in Sarawak where Christianity is the
largest religion; both states were granted some level of greater autonomy than other states
in the Federation, as they were considered polities on par with Malaya when they merged
with it and Singapore to form Malaysia.

However, there is no evidence that this theological objection plays any role in the non-
inclusion of Good Friday as a holiday. On the contrary, Good Friday is probably not a
public holiday because, as a whole in the federation, Christians constitutes a slight
minority - 9.1% according to the 2000 Census. The other two significant religious
minorities in Malaysia, Buddhists and Hindus , also receive just one federal public
holiday each — Wesak Day and Deepavali respectively. Deepavali however, is not
federal holiday in the state of Sarawak.

[ edit ] Independence Day/Malaysia Day fasting

Malaysian Christians sometimes hold fasts ending on Independence Day or Malaysia


Day and pray for Muslims. A number of explanations have been given for doing so
including a desire to show patriotism, promoting religious harmony, and celebrating
freedom of religion. Since 2000 the National Evangelical Christian Fellowship, with
2,800 member churches, has organized these fasts and they are ongoing event as of 2010.
All previous fasts have ended on Independence Day but the 2010 fast is followed by
Malaysia Day and thus for the first time coincided with Ramadan. [ 16 ]

[ edit ] Demographics of adherents


[ edit ] By ethnicity

The 2000 Population and Housing Census Report gives the following statistics [ 17 ] :

Other
Bumiputra Chinese Indian Non citizens
ethnicities
1,258,741
546,422 (25.8%) 129,368 (6.1%) 36,679 (1.7%) 146,778 (6.9%)
(59.4%)
% of Total % of Total % of Total % of Total % of Total Non
Bumiputra Chinese Indian other ethnicities citizens
8.9% 9.6% 7.7% 13.6% 10.6%

[ edit ] By state & territory

The 2000 Population and Housing Census Report gives the following statistics
(excluding non citizens) [ 17 ] :

State Adherents % of Population


Johor 54,920 2.0%
Kedah 12,569 0.8%
Kelantan 2,575 0.2%
Melaka 22,392 3.7%
Negeri Sembilan 22,405 2.7%
Pahang 14,749 1.2%
Perak 61,175 3.1%
Perlis 992 0.5%
Penang 44,323 3.6%
Sabah 691,096 28%
Sarawak 852,198 42.4%
Selangor (including Federal Territory of
166,018 4.2%
Putrajaya )
Terengganu 2,641 0.3%
Federal Territory Adherents % of Population
Kuala Lumpur 71,819 5.5%
Labuan 8,933 12.6%

[ edit ] By urban-rural strata

The 2000 Population and Housing Census Report indicates that approximately 11.5% of
the rural population and 7.6% of the urban population are adherents to Christianity
making Christians the 2nd largest and 4th largest faith community in their respective
population strata
theo là Malaysia ngày và như vậy lần đầu
tiên trùng với lễ Ramadan. [16] Thiên
chúa giáo tại Malaysia
Thiên chúa giáo tại Malaysia là một tôn giáo thiểu số thực hiện bởi 9,1% dân số (2000 điều tra
dân số), hầu hết sống ở Đông Malaysia trích dẫn thông cáo báo chí | title = Dân số phân bố và đặc điểm nhân
khẩu học cơ bản Báo cáo - Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2000 | nhà xuất bản = cục Thống kê, Malaysia | Ngày = 2001/11/06 |
Các
url = http://www.statistics.gov.my/ Anh / frameset_census.php]? file = pressdemo | kiểu = | accessdate = 2008/07/27.
chính Christian tên gọi của năm Malaysia bao gồm Anh giáo , Baptist , Brethrens , phi giáo
phái nhà thờ , nhà thờ Tân Đặc Sủng độc lập , Lutheran , Methodist s, Trưởng Lão và Công
giáo La Mã trích dẫn web | url = http://www.operationworld.org/country/malc/owtext.html | title = hoạt động thế giới: Malaysia |
accessdate = 2008/07/26 | làm việc = hoạt động thế giới | nhà xuất bản = WEC quốc tế | ngày = ].

Một phác thảo lịch sử của Kitô giáo tại Malaysia

Christian đầu hiện diện trong Quần đảo Mã Lai có thể được truy nguồn từ Nestorians từ sớm
nhất là vào thế kỷ thứ 7 trích dẫn tiếng | cuối = | đầu = | tác giả = Hermen Shastri | authorlink = | đồng tác giả = | biên tập
= M. Kamal Hassan & Ghazali Bin Basri | tiếng = Wikipedia tiếng Việt của Malaysia | title = Kitô giáo | url =
http://www.encyclopedia.com.my/volume10/history.html | accessdate = 2008/07/26 | ấn bản = 1 bản | ngày = | năm = 2005 |
và Ba Tư và
publisher = Editions Didier Millet | khối lượng = 10 | vị trí = Kuala Lumpur | id = | doi = | các trang = | b =]
thương nhân Nestorian tại Malacca trước khi chinh phục Bồ Đào Nha năm 1511 [trích dẫn tạp chí |
title = Các Thương nhân của Pearl. Các sàn và hoạt động truyền giáo của Ba Tư và Thiên chúa giáo tiếng Armenia ở Đông Nam
Á | tạp chí = Thang Tư-Nahrain | Ngày = 1969 - 1970 | đầu tiên = Colless | cuối = Brian E. | đồng tác giả = | khối lượng = IX | phát
Người Anh có được Penang năm
hành = | các trang = 102-121 | id = | url = | kiểu = | accessdate = 2008/07/23].
1786, và năm 1795 đã qua Malacca, vốn đã bị chinh phục bởi người Hà Lan trong năm 1641.
Linh mục Công Giáo từ Thái Lan thành lập chính Seminary Penang vào năm 1810. Các LMS
đã có trụ sở tại Malacca và Penang từ năm 1815, nhưng hầu hết Tin Lành nhiệm vụ sụp đổ sau
khi 1842 khi nó trở thành có thể vào Trung Quốc. Lãnh đạo Công giáo vẫn còn, nhưng đã được
phân chia gi ?a B ? Đào Nha và Pháp. Mở ANH EM Bộ có từ năm 1860 và Methodist từ năm
1885. Trưởng Lão tăng trưởng thông qua các nhà thờ của Trung Quốc trong Johore và người
nước ngoài hội ở Penang, Ipoh và Kuala Lumpur . Sứ mệnh Sengoi người dân bản địa bắt
đầu vào năm 1932. Pentecostalism đã trở thành một ảnh hưởng lớn hơn thông qua các phong
trào Tân Đặc Sủng của những năm 1970, nhưng Bắc Mỹ và Tích Lan truyền giáo Ngũ Tuần đã
hoạt động từ năm 1935 trích dẫn sách | cuối = Hunt | đầu tiên = Robert | authorlink = | đồng tác giả = Lee Kam Hing,
John Roxborogh | title = Thiên chúa giáo tại Malaysia - Một lịch sử giáo phái | nhà xuất bản = Pelanduk Ấn phẩm | năm = 1992 | vị
trí = Kuala Lumpur | các trang = | url = | doi = | id = | ISBN 9789679784077 =].

Di cư là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển của giáo hội. Trong Sabah , Các Basel
Mission bắt đầu công việc giữa các di dân Hakka Trung Quốc năm 1882, nhiều người đã được
Thiên chúa giáo. Tamil người di cư đến Malaya bao gồm Công giáo, Lutheran, Anh giáo, và
Methodist. Di cư tăng lên sau Boxer Rebellion , Đặc biệt Sitiawan và Sibu , Vẫn mạnh mẽ
của Trung Quốc Methodist trung tâm. Mar Thoma và Chính Thống Syria Giáo Hội đã được
thành lập vào những năm 1930 sau di cư từ Kerala Bờ biển của Ấn Độ.

Trong Sarawak các quy định của Rajah Brooke bao gồm hỗ trợ cho một bộ Anh giáo từ 1847
và người Công giáo sau này được thừa nhận [trích dẫn sách | cuối = Saunders | đầu tiên = Graham | authorlink = |
đồng tác giả = | tiêu đề = Giám mục và Brookes: Anh giáo Nhiệm vụ và các Raj Brooke ở Sarawak, 1848-1941 | nhà xuất bản
Oxford University Press = | năm = 1991 | vị trí = Melbourne, Victoria | các trang = | url = | doi = | id = | ISBN = 9780195885668].
Năm 1928 Úc Borneo Evangelical Mission [Lees, Shirley, 'say trước khi Dawn', Giao diện kiểu,
ISBN 085363128X] bắt đầu làm việc với các nguồn lực khiêm tốn mà vẫn kết quả bản địa nhà
thờ lớn nhất tại Malaysia ngày hôm nay, Sidang Injil Borneo (_en. Borneo Giáo Hội Tin Lành).
Chiến tranh Thế giới II thấy việc loại bỏ các nước ngoài lãnh đạo và con đường hướng tới một
nhà thờ bản địa đã được thiết lập rõ ràng hơn. Các Hội đồng Kitô giáo Mã Lai (MCC), được
thành lập vào năm 1948, các nhóm nhiệm vụ phối hợp trong quá trình khẩn cấp Mã Lai. Trung
Quốc di chuyển vào "Làng mới" đã được phục vụ bởi truyền giáo , Đôi khi xuất Trung Quốc,
người đã làm việc cùng với các Kitô hữu địa phương trong công tác xã hội và y tế. Tuy nhiên
sau khi độc lập năm 1957, nhiều nhà thờ được overdependent về người nước ngoài. Trong
những năm 1970 nhà thờ phát triển kết cấu độc lập Singapore cũng như các hỗ trợ ở nước
ngoài. Gần đây tăng trưởng trong các nhà thờ độc lập là một dấu hiệu của sự mong muốn thiết
lập một bản sắc Thiên chúa giáo Malaysia .

Christian cam kết với giáo dục đã được mạnh mẽ thông qua Anh giáo, Công giáo và Methodist
trường học, nay là một phần của hệ thống giáo dục của chính phủ. mối quan tâm xã hội được
thể hiện qua công tác y tế, và các tổ chức như CARE Malaysia. The Salvation Army và YMCA
/ YWCAs đóng góp đặc biệt.

Từ năm 1983 các quốc gia Tin Lành Christian Fellowship (NECF) đã cung cấp một tập trung cho
giáo đoàn truyền giáo và độc lập. Liên đoàn Thiên chúa giáo của Malaysia kết hợp với Hội đồng
Kitô giáo của Malaysia (trước đây là MCC), Công giáo La Mã, và các NECF được thành lập vào
năm 1986. Hội đồng Sabah của Giáo Hội và Hiệp hội các nhà thờ của Sarawak chức năng thực
hiện tương tự ở Đông Malaysia.

Malaysia là một bối cảnh đa tôn giáo nơi mà mối bận tâm thần học phương Tây không phải luôn
luôn có liên quan. Lay lãnh đạo đã phát triển mạnh ở các nhà thờ. Mặc dù có nhiều thách thức
và kinh tế thông qua việc thay đổi hoàn cảnh chính trị, như Malaysia chính nó, các nhà thờ đang
bắt đầu thấy rằng họ có một đóng góp để thực hiện trên một sân khấu lớn hơn [Trích dẫn | đầu tiên =
Hồ | cuối = Daniel | đồng tác giả = | đóng góp = Malaysia | title = Giáo Hội tại Châu Á hôm nay: Thách thức và cơ hội | tổng biên
tập đầu tiên = Athyal | biên tập cuối = Saphir P. | coeditors = | nhà xuất bản = Á Lausanne Ủy ban Thế giới Truyền giáo | diễn = |
các trang = 266-298 | Ngày = | năm = 1996 | id = | đóng góp-url = | kiểu = | accessdate = 2008/07/26].

Giáo Hội công trình

Nhà thờ được phép ở Malaysia, mặc dù có những hạn chế xây dựng nhà thờ mới thông qua luật
quy hoạch phân biệt đối xử. Không có nhà thờ từ trước đã bị đóng cửa bởi chính phủ và không
có giáo đoàn thường trực đã được giải tán. Tuy nhiên, rất khó để xây dựng nhà thờ mới. Ví dụ,
phải mất hơn hai mươi năm đối với chính quyền địa phương trong Shah Alam để cho phép một
nhà thờ được xây dựng ở đó, với một điều kiện bổ sung mà các nhà thờ phải trông giống như
một nhà máy sản xuất và không phải là một nhà thờ xuất hiện nhiều hơn thông thường. Hầu hết
thời gian, nhà thờ mới được bắt đầu vào một cách bí mật như các doanh nghiệp thông thường
trong các cửa hàng, đặc biệt là ở các thành phố lớn như Kuala Lumpur .

̉ phúc âm
Chủ nghia

Sự tự do để thực hành và truyền bá tôn giáo được đảm bảo theo Điều 11 của Hiến pháp của
Malaysia và điều này thường được tôn trọng. Hiến pháp cho phép tuy nhiên những hạn chế của
công tác tuyên truyền của các tôn giáo khác ngoài đạo Hồi đối với cộng đồng Hồi giáo và sự
không rõ ràng của các quy định này đã dẫn đến một số vấn đề trích dẫn tin tức | đầu = | cuối = | đồng tác
giả = | tiêu đề = chuyển đổi Malay để Kitô giáo "không thể từ bỏ đạo Hồi" | Ngày = 2005/09/11 | nhà xuất bản = AsiaNews CF | url
= http://www.asianews.it/view |. 4157 php? l = en & nghệ thuật = công việc = AsiaNews | các trang = | accessdate = 2008/07/26]
trích dẫn sách | cuối = | đầu = | authorlink = | đồng tác giả = | tiêu đề = Làm Quyền Thing: Hướng dẫn thực hành về vấn đề pháp
lý cho Giáo Hội tại Malaysia | nhà xuất bản = Kairos Trung tâm Nghiên cứu | năm = 2004 | vị trí = Petaling Jaya | các trang = 35-
46; Phụ lục 1, Phụ lục 2 | url = http://people.fas.harvard.edu/ ~ hoongng / files / Làm 20RightThing% 20Online.pdf% | doi = | id = |
ISBN = 98395064 | format = PDF ].

Truyền bá Phúc âm cho cộng đồng Hồi giáo

Nó đã được các thực hành của giáo hội tại Malaysia để không tích cực proselytize với cộng
đồng Hồi giáo, mặc dù có cố gắng tồn tại bằng cách truyền giáo nước ngoài, thường là bí mật,
để làm như vậy thực tế | Ngày = tháng Bảy 2008. Christian văn học được yêu cầu của pháp luật để thực
hiện một chú thích "cho không chỉ người Hồi giáo". Điều 11 (4) của Hiến pháp Liên bang của
Malaysia rõ ràng nghiêm cấm việc tuyên truyền của bất kỳ tôn giáo khác ngoài đạo Hồi để người
Hồi giáo. Trong khi không có hạn chế pháp lý thực tế và người Hồi giáo từ bỏ đức tin của họ
trong lợi của đức tin khác, trong thực tế rất ít người Hồi giáo thực sự chuyển đổi. Điều này một
phần do thực tế nó là vô cùng khó khăn đối với người Hồi giáo để chuyển đổi, như có tác động
nghiêm trọng pháp luật và Hồi giáo đóng một vai trò quan trọng trong cộng đồng người Mã Lai
trong nhiều thế kỷ như vậy, kết quả vào tín đồ rất mạnh. Xem thêm Tình trạng tự do tôn giáo tại
Malaysia .

Tuy nhiên, trường hợp trong đó một người Hồi giáo sẽ chấp nhận đức tin Kitô giáo mà không
khai báo / bội đạo của mình một cách công khai. Trong thực tế, họ đang thực hành Kitô hữu,
nhưng thực tế một cách hợp pháp người Hồi giáo | Ngày = Tháng 7 năm 2008. Áp lực gia đình, và sợ
mất vợ / chồng, con của một người thường là một răn đe đủ để ngăn chặn để lại Hồi giáo .

Những lợi ích hiển thị trong đức tin Kitô giáo hoặc thực hành đức tin khác không được coi là tôn
giáo chính thống của cơ quan nhà nước thường được gửi hoặc bởi cảnh sát hoặc thành viên gia
đình của họ với nhà nước tài trợ "Đức tin phục hồi chức năng trung tâm" (_ms. Pusat Pemulihan Akidah),
nơi chúng được tư vấn để duy trì trung thành với đạo Hồi và một số tiểu bang có quy định về
hình phạt theo tương ứng Shariah pháp luật cho bội đạo từ Hồi giáo [trích dẫn tin tức | đầu = | cuối = |
đồng tác giả = | tiêu đề = Akidah: Ajaran Sesat | Ngày = | nhà xuất bản = trưởng Cục của Bộ trưởng Bộ, Sabah Chính phủ Nhà
nước | url = http://www.sabah.edu. my/cwm010/ajaransesat.htm | làm việc = Nota Tingkatan 5 | các trang = | accessdate =
2008/07/26 | ngôn ngữ = Malay] .

Văn chương

Là một đất nước Hồi giáo chính thức, ý kiến vào việc Indonesia ngôn ngữ Kinh Thánh, và Mã Lai
, ngôn ngữ Kinh Thánh, cả hai được biết đến với tên "al-kitab", nên bị cấm, được phân cực.
[[Http://www.asianews.it/index.php?art=3144&l=en MALAYSIA Không có Thánh Kinh bằng tiếng địa phương - Châu Á Tin tức]]
Từ kết xuất của Chúa 'trong bản dịch tiếng Anh được đưa ra trong tiếng Mã Lai là "Tuhan' trong
khi từ 'Thượng Đế' trong tiếng Anh được dịch là 'Allah'. Đó là tuyên bố rằng không có bản dịch
từ tiếng Do Thái gần gốc từ cả tiếng Ả Rập và tiếng Do Thái từ Thiên Chúa đến từ cùng một gốc
Do Thái. vật liệu khác Christian trong ngôn ngữ Mã Lai đã bị cấm tại thời điểm khác nhau vì lý
do tương tự. Tuy nhiên, Thủ tướng Chính phủ làm rõ vào tháng Tư năm 2005 không có lệnh
cấm cuốn Kinh Thánh được dịch sang Mã Lai, nhưng họ phải được đóng dấu với từ chối trách
nhiệm "Không phải cho người Hồi giáo". [[Http://www.speroforum.com/site/article.asp?id=1334 Bahasa Malaysia
thánh kinh không cho người Hồi giáo | Spero News]]

Kinh Thánh Iban tên là "búp Kudus" cũng đã bị cấm sử dụng thuật ngữ "Allah Taala" cho Thiên
Chúa. Cuối cùng nó đã được giải thích cho chính phủ là không có khác so sánh dài trong Iban.
Như vậy lệnh cấm đã không được thực thi hơn nữa nhưng nó đã không chính thức bãi bỏ. Lệnh
cấm được dỡ bỏ sau đó chỉ để sử dụng cho người Iban, sau khi cuộc biểu tình từ các nhà lãnh
đạo Kitô giáo.

Âm nhạc
Có nhiều nhạc sĩ Thiên chúa giáo ở Malaysia, nhưng thị trường vẫn còn tươi và không phổ biến
rộng rãi. Một mạng lưới được gọi là Malaysia nhạc sĩ Christian Network [[Http://www.m-csn.com/]], đã
được thành lập để thúc đẩy các nhạc cảnh Kitô giáo Malaysia.

MCSN cũng được dành riêng cho việc thúc đẩy các bài hát ca ngợi và tôn thờ được viết bởi
nhạc sĩ Malaysia Thiên chúa giáo. radio trực tuyến của chúng tôi trên www.soundclick.com sẽ
phục vụ như một công cụ cho mục đích này, nơi mà người nghe từ tất cả qua Malaysia, và ở
nước ngoài, sẽ có thể nghe nhạc được viết và sản xuất tại địa phương. Cả hai nhạc sĩ thành
lập, cũng như các nhạc sĩ trẻ và tham vọng, sẽ có một cơ hội để có âm nhạc của họ nghe.
Thông qua đài phát thanh trực tuyến, nó là hy vọng của chúng ta rằng cộng đồng Thiên chúa
giáo tại Malaysia sẽ được nhận thức của các bài hát mà Thiên Chúa đã ban phước cho Malaysia
với thông qua các nhạc sĩ, ông đã đặt ở giữa chúng ta.

Phim

Mel Gibson Của bộ phim, Niềm đam mê của Christ The được hạn chế 2004 . Chính thức, bộ
phim đã được mở cho các Giáo chỉ. Khán giả đã chán nản vì vé đã không được thực hiện bởi
các cơ quan hộp thông thường. các nhóm Kitô giáo như Tin Lành Cơ Đốc Học bổng Quốc gia
được sắp xếp đặt khối rạp chiếu phim và vé phân phối cho các nhà thờ khác nhau. An chạy ban
đầu của tháng hai đã được mở rộng, làm cho nó xuất hiện nghi ngờ rằng Kitô hữu chỉ được xem
các bộ phim.

Hoạt động

chế độ thực tế của các tôn thờ như phụng vụ được sử dụng và các bài giảng không chủ động
kiểm duyệt hoặc kiểm soát của chính phủ. Thường xuyên giám sát việc thờ phượng của HTX bí
mật nào xảy ra.

Nó đã được báo cáo rằng một số trường công sở và các trường đại học đã không chính thức bị
cấm hoạt động trong khuôn viên trường Thiên chúa giáo, chẳng hạn như Christian Fellowship
(CF). CF trong các trường học bị ảnh hưởng có kể từ khi được chuyển đến nhà để tiếp tục hoạt
động |. Xác minh ngu ồn date = tháng 7 năm 2007

Christian ngày lễ tôn giáo

Giáng sinh

Giáng sinh là một ngày lễ công cộng tại Malaysia, tuy nhiên, phần lớn các lễ kỷ niệm nào là
thương mại trong tự nhiên và không có công khai âm bội tôn giáo. Thỉnh thoảng, các nhóm hoạt
động mua advertorials Christian làm báo trên Giáng sinh hoặc Lễ Phục Sinh nhưng điều này
phần lớn chỉ được cho phép trên các tờ báo tiếng Anh và không được cho phép mỗi năm. Các
advertorials chính họ là báo cáo thường gián tiếp.

Năm 2004 chính phủ tổ chức một lễ Giáng sinh cấp quốc gia, nhưng được cho là đã áp đặt một
lệnh cấm không chính thức trên tất cả các biểu tượng tôn giáo Thiên chúa giáo và các bài thánh
ca mà cụ thể đề cập đến Chúa Giêsu Kitô. [Trích dẫn web | url = http://www.malaysiakini.com/news/32072 | title =
Rev Lim: Loại trừ bài hát mừng với tên Chúa Giêsu là tai tiếng | nhà xuất bản = Mkini Dotcom Sdn Bhd | Ngày = 2004/12/11 |
Sự kiện này được phối hợp tổ chức nghệ thuật, Bộ Văn hóa và Di sản, chính
accessdate = 2008/06/28]
phủ của tiểu bang Selangor và Liên đoàn Thiên chúa giáo của Malaysia (CFM). Nó đã được báo
cáo rằng Sultan của Selangor và vợ của ông, Thủ tướng Chính phủ cũng như các bộ trưởng nội
các loại sẽ được tham dự. Nó cũng sẽ được truyền hình trên TV trong một quốc gia đa số Hồi
giáo.

OC Lim, một cựu luật sư quay Người hay mưu đồ linh mục và giám đốc của Trung tâm Nghiên
cứu Công Giáo (còn trợ lý giáo xứ linh mục St Francis Xavier Của Giáo hội) đã nộp đơn khiếu
nại chính thức. Ông cũng nói rằng "Để loại trừ (như) bài hát mừng và sử dụng (Giáng sinh) để
̣ thánh." Ông cũng cho biết: "Để gọi nó là một
đạt được chính là thái quá, gây tai tiếng và pham
sự kiện văn hóa (như là hợp lý bởi các chính trị gia Cơ đốc giáo chính trị gia nhiều hơn là những
người Thiên chúa giáo) là để Chúa Giêsu hạ xuống một nhà hiền triết văn hóa như Khổng Tử."

Tổng thư ký quản lý rừng cộng Rev Tiến sĩ Hermen Shastri nói rằng chính phủ muốn "không có
gì là xúc phạm đạo Hồi" trong nhà mở.

Nghệ thuật, Văn hoá và Di sản Tiến sĩ Rais Yatim Bộ trưởng sau đó đã phủ nhận rằng bất kỳ
lệnh cấm này đã được "ban hành chính thức hoặc không chính thức". Ông cũng nói thêm rằng
đó là "không có gì sai trong bài hát chẳng hạn như Silent Night và Merry Christmas" vì họ là
"những bài hát vui mừng cho lễ hội."

Lee Min Choon, pháp lý cố vấn cho quản lý rừng cộng và các quốc gia Tin Lành Christian
Fellowship ban hành một tuyên bố mà nói: "Nó có nghĩa là giáo hội có thể ăn mừng Giáng sinh
như họ đã làm tất cả cùng. Nếu không, rất ý nghĩa của nhân sẽ bị mất." "Bây giờ, mọi người nên
chính phủ tại văn bản của nó và ăn mừng Giáng sinh theo cách mà họ thường ăn mừng và bày
tỏ đức tin tôn giáo của họ."

Good Friday

Good Friday không phải là một ngày lễ liên bang, nhưng là một ngày lễ nhà nước công cộng
Sabah và Sarawak nơi Kitô hữu chiếm một thiểu số đáng kể, cả hai nước đã được cấp một số
mức độ tự trị lớn hơn các tiểu bang khác trong Liên đoàn, khi họ được xem là chính thể ngang
bằng với Malaysia khi họ sáp nhập với nó và Singapore mẫu Malaysia.

Tuy nhiên, không có bằng chứng rằng điều này phản đối thần học đóng vai trò nào trong không
bao gồm Thứ Sáu Tuần Thánh là một kỳ nghỉ. Ngược lại, Good Friday có lẽ không phải là một
ngày lễ công cộng bởi vì, như một toàn bộ trong liên bang, các Kitô hữu chiếm một thiểu số nhỏ -
9,1% theo điều tra dân số năm 2000. Hai tôn giáo thiểu số đáng kể tại Malaysia, Phật tử và
người Ấn giáo , cũng nhận được chỉ là một ngày lễ của liên bang mỗi - Wesak Day và Deepavali
tương ứng. Deepavali Tuy nhiên, không phải là ngày lễ của liên bang tại các bang Sabah và
Sarawak.

Nhân khẩu học của tín đồ

Bởi dân tộc

Dân số năm 2000 và Báo cáo điều tra dân số nhà ở cho các thống kê sau đây trích dẫn sách | title =
Tổng Báo cáo của Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2000 | cuối = | đầu = | authorlink = | đồng tác giả = cục Thống kê, Malaysia |
năm = 2005 | publisher = cục Thống kê, Malaysia | vị trí = Putrajaya | ISBN = 9839044265 | các trang = | url =]:

Bởi nhà nước và lãnh thổ

Dân số năm 2000 và Báo cáo điều tra dân số nhà ở cho các thống kê sau đây (không bao gồm
người nước ngoài) :
By-nông thôn tầng lớp nhân dân đô thị

Dân số năm 2000 và Báo cáo điều tra dân số nhà ở chỉ có khoảng 11,5% dân số nông thôn và
7,6% dân số đô thị là tín đồ Thiên chúa giáo làm Kitô hữu lớn nhất và thứ 4 của cộng đồng đức
tin 2 lớn nhất trong tầng lớp dân cư của mình .

Christianity in Malaysia
Christianity in Malaysia is a minority religion practised by 9.1% of the population (2000
census), most living in East Malaysia cite press release |title=Population Distribution and Basic Demographic
Characteristics Report - Population & Housing Census 2000 |publisher=Department of Statistics, Malaysia |date=2001-11-06 |
url=http://www.statistics.gov.my/english/frameset_census.php?file=pressdemo |format= |accessdate=2008-07-27 ] . The
major Christian denomination s in Malaysia include the Anglicans , Baptists , Brethrens , non-
denominational churches , independent Charismatic churches , Lutherans , Methodist s,
Presbyterian and Roman Catholics cite web |url=http://www.operationworld.org/country/malc/owtext.html |
title=Operation World: Malaysia |accessdate=2008-07-26 |work=Operation World |publisher=WEC International |date= ] .

An outline history of Christianity in Malaysia

Early Christian presence in the Malay archipelago may be traced to Nestorians from as early as
the 7th century cite encyclopedia |last= |first= |author=Hermen Shastri |authorlink= |coauthors= |editor=M. Kamal Hassan &
Ghazali Bin Basri |encyclopedia=Encyclopedia of Malaysia |title=Christianity |
url=http://www.encyclopedia.com.my/volume10/history.html |accessdate=2008-07-26 |edition=1st edition |date= |year=2005 |
] and to Persian and
publisher=Editions Didier Millet |volume=10 |location=Kuala Lumpur |id= |doi= |pages= |quote=
Nestorian traders in Malacca prior to the Portuguese conquest in 1511 [ cite journal|title=The Traders of
the Pearl. The Mercantile and Missionary Activities of Persian and Armenian Christians in South East-Asia|journal=Abr-Nahrain|
date=1969 - 1970|first=Colless|last=Brian E.|coauthors=|volume=IX|issue=|pages=102-121|id= |url=|format=|accessdate=2008-
07-23] . The British acquired Penang in 1786, and in 1795 took over Malacca, which had been
conquered by the Dutch in 1641. Catholic priests from Thailand established the Major Seminary
in Penang in 1810. The LMS was based in Malacca and Penang from 1815, but most
Protestant missions collapsed after 1842 when it became possible to enter China. Catholic
leadership remained, but was divided between Portuguese and French. Open Brethren ministry
dates from 1860 and Methodist from 1885. Presbyterianism grew through Chinese churches in
Johore and expatriate congregations in Penang, Ipoh and Kuala Lumpur . Mission to Sengoi
indigenous people began in 1932. Pentecostalism became a larger influence through the
Charismatic Movement of the 1970s, but North American and Ceylonese Pentecostal
missionaries had been active from 1935 cite book | last = Hunt | first = Robert | authorlink = | coauthors = Lee Kam
Hing, John Roxborogh | title = Christianity in Malaysia - A Denominational History | publisher = Pelanduk Publications | year =
1992 | location = Kuala Lumpur | pages = | url = | doi = | id = | isbn = 9789679784077 ].

Migration was an important factor in church growth. In Sabah , the Basel Mission began work
among migrant Hakka Chinese in 1882, many of whom were Christian. Tamil migrants to
Malaya included Catholics, Lutherans, Anglicans, and Methodists. Migration increased after the
Boxer Rebellion , particularly to Sitiawan and Sibu , still strong Chinese Methodist centres.
Mar Thoma and Syrian Orthodox Churches were established in the 1930s following migration
from the Kerala Coast of India.

In Sarawak the rule of Rajah Brooke included support for an Anglican ministry from 1847 and
Catholics were later admitted [ cite book | last = Saunders | first = Graham | authorlink = | coauthors = | title = Bishops
and Brookes: Anglican Mission and the Brooke Raj in Sarawak, 1848-1941 | publisher = Oxford University Press | year = 1991 |
location = Melbourne, Victoria | pages = | url = | doi = | id = | isbn = 9780195885668 ] . In 1928 the Australian Borneo
Evangelical Mission [ Lees, Shirley, 'Drunk before Dawn', OMF, ISBN 085363128X ] began work
with modest resources which nevertheless resulted in the largest indigenous church in Malaysia
today, the Sidang Injil Borneo ( _en. Borneo Evangelical Church ).
World War II saw the removal of expatriate leadership and a path towards an indigenous church
was more clearly set. The Malayan Christian Council (MCC), founded in 1948, coordinated
mission groups during the Malayan Emergency. Chinese relocated into 'New Villages' were
served by missionaries , sometimes ex-China, who worked alongside local Christians in social
and medical work. However after independence in 1957, many churches were overdependent on
expatriates. In the 1970s churches developed structures independent of Singapore as well as of
overseas support. Recent growth in independent churches is another sign of a desire to establish
a Malaysian Christian identity .

Christian commitment to education has been strong through Anglican, Catholic and Methodist
schools, now part of the government education system. Social concern is expressed through
medical work, and organisations such as Malaysian CARE. The Salvation Army and YMCA
/YWCAs make distinctive contributions.

Since 1983 the National Evangelical Christian Fellowship (NECF) has provided a focus for
evangelical and independent congregations. The Christian Federation of Malaysia incorporating
the Christian Council of Malaysia (formerly MCC), Roman Catholics, and the NECF was formed
in 1986. The Sabah Council of Churches and Association of Churches of Sarawak fulfil similar
functions in East Malaysia.

Malaysia is a multi-religious context where Western theological preoccupations are not always
relevant. Lay leadership has developed strongly in most churches. Although there are many
challenges through changing political and economic circumstances, like Malaysia itself, the
churches are beginning to see that they have a contribution to make on a larger stage [ Citation|
first=Ho | last=Daniel| coauthors=| contribution=Malaysia| title=Church in Asia Today: Challenges and Opportunities| editor-
first=Athyal| editor-last=Saphir P.| coeditors=| publisher=Asia Lausanne Committee for World Evangelization| place=| pages=266-
298| date=| year=1996| id= | contribution-url=| format=| accessdate=2008-07-26 ].

Church buildings

Churches are allowed in Malaysia, though there are restrictions on construction of new churches
through discriminatory zoning laws. No pre-existing churches have been closed down by the
government and no standing congregations have been disbanded. However, it is difficult to build
new churches. For instance, it took more than twenty years for the local authority in Shah Alam
to allow a church to be built there, with an additional condition that the church must look like a
factory and not a more conventional church appearance. Most of the time, new churches are
started in a clandestine manner as ordinary businesses in shops, especially in major cities like
Kuala Lumpur .

Evangelism

The freedom to practice and propagate religion is guaranteed under the Article 11 of the
Constitution of Malaysia and this is generally respected. The Constitution however allows for the
restriction of the propagation of religions other than Islam to the Muslim community and the
ambiguity of these provisions has resulted in some problems cite news | first= | last= | coauthors= |
title=Malay converts to Christianity "cannot renounce Islam" | date=2005-09-11 | publisher=AsiaNews CF | url
=http://www.asianews.it/view.php?l=en&art=4157 | work =AsiaNews | pages = | accessdate = 2008-07-26 ] cite book | last = |
first = | authorlink = | coauthors = | title = Doing The Right Thing: A Practical Guide on Legal Matters for Churches in Malaysia |
publisher = Kairos Research Centre | year = 2004 | location = Petaling Jaya | pages = 35-46; Appendix 1, Appendix 2 | url =
http://people.fas.harvard.edu/~hoongng/files/Doing%20RightThing%20Online.pdf | doi = | id = | isbn = 98395064 |format=PDF ].

Evangelism to the Muslim community

It has been the practice of the church in Malaysia to not actively proselytize to the Muslim
community, though there exist attempts by foreign missionaries, usually covertly, to do so fact|
date=July 2008 . Christian literature are required by law to carry a caption "for non-Muslims only".
Article 11(4) of the Federal Constitution of Malaysia expressly prohibits the propagation of any
religion other than Islam to Muslims. While there is no actual legal restraint against Muslims
renouncing their faith in favor of another faith, in practice very few Muslims actually convert. This
is partly due to the fact it is extremely difficult for Muslims to convert, as there are serious legal
implications and Islam plays a major role in the Malay community for centuries thus resulting into
very strong adherents. See also Status of religious freedom in Malaysia .

There are, however, cases in which a Muslim will adopt the Christian faith without declaring
his/her apostasy openly. In effect, they are practising Christians, but legally Muslims fact|date=July
2008 . Family pressure, and fear of losing one's spouse or children is usually a sufficient deterrent
to prevent leaving Islam .

Those showing interest in the Christian faith or other faith practices not considered orthodox by
state religious authorities are usually sent either by the police or their family members to state
funded "Faith Rehabilitation Centres" ( _ms. Pusat Pemulihan Akidah ) where they are counseled to
remain faithful to Islam and some states have provisions for penalties under their respective
Shariah legislations for apostasy from Islam [ cite news | first= | last= | coauthors= | title=Akidah: Ajaran Sesat |
date= | publisher=Chief Minister's Department, Sabah State Government | url
=http://www.sabah.edu.my/cwm010/ajaransesat.htm | work =Nota Tingkatan 5 | pages = | accessdate = 2008-07-26 | language =
Malay ] .

Literature

As an officially Islamic country, opinions on whether the Indonesian -language Bible and Malay
-language Bible, both known by the name "al-kitab", should be banned, are polarised. [ [
http://www.asianews.it/index.php?art=3144&l=en MALAYSIA No Bible in local languages - Asia News ] ] The word
rendered 'Lord' in English translations is given in Malay as 'Tuhan' while the word 'God' in English
is translated as 'Allah'. It was claimed that there is no closer translation from the original Hebrew
since both Arabic and the Hebrew word for God come from the same Semitic root. Other
Christian materials in the Malay language have been banned at various times for similar reason.
However, the Prime Minister clarified in April 2005 that there was no ban on Bibles translated into
Malay, but they must be stamped with the disclaimer "Not for Muslims". [ [
http://www.speroforum.com/site/article.asp?id=1334 Bahasa Malaysia bibles not for Muslims | Spero News ] ]

The Iban Bible named "Bup Kudus" was also banned for using the term "Allah Taala" for God.
Eventually it was explained to the government that there was no other comparable term in Iban.
As such the ban was not enforced further but it was neither officially repealed. The ban was later
lifted only for Iban people usage, after protests from the Christian leaders.

Music
There are many Christian Songwriters in Malaysia, but the market is still fresh and not
widespread. A network called the Malaysian Christian Songwriters Network [ [ http://www.m-csn.com/
] ] , has been set up to promote the Malaysian Christian music scene.

MCSN is also dedicated to promoting praise and worship songs written by Malaysian Christian
Songwriters. Our online radio on www.soundclick.com will serve as a tool for this purpose, where
listeners from all across Malaysia, and abroad, will be able to listen to the music written and
produced locally. Both established songwriters, as well as young and aspiring songwriters, will
have an opportunity to have their music heard. Through this online radio, it is our hope that the
Christian community in Malaysia will be made aware of the songs that God has blessed Malaysia
with through the songwriters he has put in our midst.

Movies

Mel Gibson 's movie, The Passion of The Christ was restricted in 2004 . Officially, the movie
was open to Christians only. Attendance was discouraged since tickets were not carried by the
usual box offices. Christian groups such as the National Evangelical Christian Fellowship
arranged block bookings of cinemas and distributed tickets to various churches. An initial run of
two-months was extended, making it appear doubtful that only Christians viewed the film.

Activities

Actual modes of worship such as the liturgy used and the sermons are not actively censored or
controlled by the government. Occasional surveillance of worship by clandestine operatives does
occur.

It has been reported that several public secondary schools and universities have unofficially
banned on-campus Christian activities, such as Christian Fellowship (CF). CFs in affected
schools have since been relocated to homes in order to continue functioning. Verify source|date=July
2007

Christian religious holidays

Christmas

Christmas is a public holiday in Malaysia, however, much of the public celebration is commercial
in nature and has no overt religious overtones. Occasionally, Christian activist groups do buy
newspaper advertorials on Christmas or Easter but this is largely only allowed in English
newspapers and permission is not given every year. The advertorials themselves are usually
indirect statements.

In 2004 the government organised a national-level Christmas celebration but allegedly imposed
an unofficial ban on all Christian religious symbols and hymns that specifically mention Jesus
Christ. [ cite web | url=http://www.malaysiakini.com/news/32072 | title=Rev Lim: Excluding carols with Jesus' name is
scandalous | publisher=Mkini Dotcom Sdn Bhd | date=2004-12-11 | accessdate=2008-06-28 ] The event was jointly
organised by the Arts, Culture and Heritage ministry, the government of the state of Selangor and
the Christian Federation of Malaysia (CFM). It has been reported that the Sultan of Selangor and
his consort, the Prime Minister as well as assorted cabinet ministers will be in attendance. It will
also be televised on TV in a majority Muslim country.
OC Lim, a former lawyer turned Jesuit priest and director of the Catholic Research Centre (also
assistant parish priest of St Francis Xavier 's Church) has lodged a formal complaint. He has
also stated that "To exclude (such) carols and to use (Christmas) for political gain is outrageous,
scandalous and sacrilegious." He also said "To call it a cultural event (as rationalised by
Christian politicians who are more politician than Christian) is to downgrade Jesus to a cultural
sage such as Confucius."

CFM general secretary Rev Dr Hermen Shastri stated that the government wanted "nothing that
insults Islam" during the open house.

Arts, Culture and Heritage Minister Dr Rais Yatim later denied that any such ban had been
"issued officially or unofficially". He also added that there is "nothing wrong in singing songs such
as Silent Night and Merry Christmas" as they are "joyous songs for the festival."

Lee Min Choon, legal adviser to the CFM and the National Evangelical Christian Fellowship
issued a statement which said "It means that churches can celebrate Christmas as they have
been doing all along. Otherwise, the very meaning of the occasion will be lost." "Now, everybody
should take the government at its word and celebrate Christmas the way they normally celebrate
and express their religious faith."

Good Friday

Good Friday is not a federal public holiday, but is a state public holiday in Sabah and Sarawak
where Christians constitute a significant minority; both states were granted some level of greater
autonomy than other states in the Federation, as they were considered polities on par with
Malaya when they merged with it and Singapore to form Malaysia.

However, there is no evidence that this theological objection plays any role in the non-inclusion
of Good Friday as a holiday. On the contrary, Good Friday is probably not a public holiday
because, as a whole in the federation, Christians constitutes a slight minority - 9.1% according to
the 2000 Census. The other two significant religious minorities in Malaysia, Buddhists and
Hindus , also receive just one federal public holiday each — Wesak Day and Deepavali
respectively. Deepavali however, is not federal holiday in the states of Sabah and Sarawak.

Demographics of adherents

By ethnicity

The 2000 Population and Housing Census Report gives the following statistics cite book |title=General
Report of the Population and Housing Census 2000 |last= |first= |authorlink= |coauthors=Department of Statistics, Malaysia |
year=2005 |publisher=Department of Statistics, Malaysia |location=Putrajaya |isbn=9839044265 |pages= |url= ]:

By state & territory

The 2000 Population and Housing Census Report gives the following statistics (excluding non
citizens) :

By urban-rural strata
The 2000 Population and Housing Census Report indicates that approximately 11.5% of the rural
population and 7.6% of the urban population are adherents to Christianity making Christians the
2nd largest and 4th largest faith community in their respective population strata .

ee also

* Persecution of Christians
* Status of religious freedom in Malaysia

Ấn Độ giáo ở Malaysia
Malaysia có một trong các quần thể dân tộc lớn nhất Ấn Độ ở bên ngoài Ấn Độ, với
1.790.000 người Ấn Độ ước tính có nguồn gốc trong nước. Con số này chiếm khoảng 7,1
phần trăm của tổng dân số của Malaysia đó là khoảng 25.300.000. Một phần áp đảo của
Ấn Độ tại Malaysia, khoảng 89 phần trăm, là người Ấn giáo. Ấn Độ giáo được áp dụng
rộng rãi tại Malaysia, nơi tự do tôn giáo được tôn trọng trong hiến pháp liên bang, và thêm
vào đa văn hóa trong một quốc gia đã trở thành một mô hình cho sự khoan dung tôn giáo
và chung sống hòa bình bất chấp những thách thức để hòa hợp này trong những năm gần
đây.

Trong khi Hindu rễ trong nước trở lại thế kỷ thứ 2, con cháu của các vương quốc Hindu
đầu trong nước gần như không tồn tại, có chuyển đổi sang đạo Hồi. Hầu hết những người
Ấn Độ tại Malaysia hôm nay đã mang lại là người lao động giao kèo do người Anh làm
việc trong các đồn điền cọ dầu và cao su trên toàn quốc từ thế kỷ 19 và 20. Một phần
đáng kể của những người lao động đến từ các tiểu bang phía nam Ấn Độ Tamil Nadu, và
chia sẻ ngôn ngữ và văn hóa của người Tamil. Có những nhóm nhỏ hơn của Malayalis và
Telugus trong nước là tốt, cùng với nguồn gốc Tamil của Sri Lanka cũng đang áp đảo
những người Ấn giáo.

di cư nhỏ hơn của người Ấn Độ theo hình thức công nhân lành nghề đã xảy ra trong
những năm gần đây. Ngoài ra còn có một cộng đồng rất nhỏ của xứ Ấn Độ, được gọi là
Chitty, các con cháu của thương nhân Tamil người di cư trước khi 1500 AD, và phụ nữ
Trung Quốc và Mã Lai là người. Thực hành Ấn Độ giáo, nhưng nói tiếng Mã Lai, số họ
chỉ có khoảng 2.000 ngày hôm nay. Các số liệu thống kê mới nhất nơi số người Ấn giáo
ở Malaysia ngày hôm nay vào khoảng 1.6 triệu.

Các tính năng của Ấn Độ giáo Malaysia


Người lao động từ Ấn Độ mang theo văn hóa ngôn ngữ, họ và quan trọng nhất, các tôn
giáo - Ấn Độ giáo. Theo nguyên tắc của Ấn Độ là một ngôi làng mà không có một ngôi
chùa được coi là không phù hợp để ở, những người định cư xây dựng đền thờ trong các
đồn điền và bất động sản mà họ đã làm việc nhập Nhiều người trong số những ngôi chùa
này tiếp tục tồn tại ngày hôm nay và có hơn một thế kỷ. đền đô thị cũng đã được xây
dựng vào đầu thế kỷ 20 do các thương gia và thương nhân những người đã sống trong
thành phố. Xác định với Ấn Độ giáo và thờ cúng là khía cạnh quan trọng của văn hóa Ấn
Độ, Malaysia và Ấn Độ đã có mối liên quan đến tôn giáo của họ.

Ấn Độ giáo tại Malaysia nói chung tương tự như Ấn Độ giáo ở Ấn Độ, mặc dù khía cạnh
nào đó được khuếch đại, trong khi những người khác đang đóng xuống. Chúa Muruga,
các Tamil tinh hoa thần, có lẽ là phổ biến nhất của các vị thần Hindu ở Malaysia, với
Ganesha, Shiva và Amman cũng thờ với số lượng lớn. Các chi nhánh Shaivite của Ấn Độ
giáo là chiếm ưu thế ở Malaysia, mặc dù Vaishnavism cũng có một đại diện quan trọng
đặc biệt với sự hồi sinh gần đây của phong trào Hare Krishna trong nước.

Làng vị thần, tín ngưỡng dân gian và sự hy sinh động vật cũng có tính năng quan trọng
của Ấn Độ giáo ở Malaysia. Mặc dù có sự gia tăng chủ đạo, Vedantic thực hành Hindu,
vị thần cấp thấp hơn như Madurai Veeran, Sangili Karuppan và các vị thần làng khác
được thờ rộng rãi ở Malaysia. Động vật hy sinh được thực hành trong các đền thờ dành
riêng cho các vị thần nhỏ hơn vì họ thường bị cấm trong các đền thờ dành riêng cho các vị
thần Vedantic.

Lễ hội Hindu ở Malaysia

lễ hội Hindu như Thaipusam và Deepavali được quan sát trong một quy mô lớn trên toàn
quốc, và là ngày nghỉ lễ ở Malaysia. Thaipusam, dành riêng cho Chúa Muruga, được tổ
chức hàng năm vào tháng Giêng hay tháng Hai trong các đền thờ trên đỉnh đồi và vẽ rất
đông tín hữu. Các lễ hội nổi tiếng nhất được tổ chức tại Batu Caves tại Kuala Lumpur, vẽ
một một triệu người ước tính hàng năm cũng như hàng chục ngàn du khách từ khắp nơi
trên thế giới. Thannir Malai ở Penang cũng rất phổ biến cho Thaipusam lễ kỷ niệm của
mình.

Deepavali, tuy nhiên, xác định là các lễ hội Ấn giáo chính tại Malaysia. Trong một thực
tế duy nhất của Malaysia, nhà mở được tổ chức trong các ngày lễ Deepavali, nơi mà mọi
người thuộc các chủng tộc khác nhau tham Hindu nhà để chia sẻ trong lễ kỷ niệm cũng
như thực phẩm hương vị của Ấn Độ và đồ ngọt. Các lễ hội Hindu như Thái Pongal và
Navaratri được quan sát với sự nhiệt tình tương tự nhưng ở quy mô nhỏ hơn.

<Trước Tiếp theo>

Lịch sử Mamandram
Bakcground của Mamandram Malaysia Hindu Pháp

Malaysia Hindu Pháp Mamadram (MHDM) được thành lập vào năm 1982 với các phước
lành của Đức Thánh Jagatguru Sri của ông Kanchi Kamakoti Sankaracharya Peedam Sri
Jayendra Saraswathy Swamigal. Tổ chức này được thành lập bởi 7 thành viên sáng lập
bao gồm Trung tá (ret) K. Sathaya và Trung tá (ret) Raju Arunasalam. Tổng thống đầu
tiên được Nyanasiriyar của Pháp Mamandram Bhooshanam, Sanga Ratna, Sankarathasar
Arutselvar Trung tá (ret) K. Sathaya KMN, AMN, PSC.

Phó Giáo sư Tiến sĩ NS Rajendran của Đại học Pendidikan Sultan Indris (UPSI),
Tanjung Malim, Perak đã được Chủ tịch Malaysia Hindu Pháp Mamandram từ tháng năm
2001. MHDM bạc của Năm Thánh kỷ niệm trong năm 2007 để đánh dấu 25 năm phục
vụ cho cộng đồng Hindu ở Malaysia. Malaysia Hindu Mamandram Pháp hiện có 35 chi
nhánh hoạt động trên khắp Malaysia, tổ chức thành sáu bộ phận dựa trên vị trí địa lý.