You are on page 1of 30

Tiểu luận tài chính tiền tệ

LỜI NÓI ĐẦU

Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay
của nền kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế
thị trường hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu được lợi
nhuận cao và đứng vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các
doanh nghiệp phải nhanh chóng để tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền
kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề
nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi cộm ấy là lạm phát.
Lạm phát như một căn bệnh của nền kinh tế thị trường, nó là một vấn đề hết
sức phức tạp đòi hỏi sự đầu tư lớn về thời gian trí tuệ mới có thể mong muốn
đạt được kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc của các nhà
doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ. Lạm phát ảnh hưởng toàn
bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao động ở
nước ta hiện nay, chống lạm phát giữ vững nền kinh tế phát triển ổn định,
cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, nâng
cao đời sống nhân dân.
Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã được nhiều người quan
tâm, nghiên cứu và đề xuất các phương án khác. Đã từ lâu tiền giấy xuất
hiện và chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm
phát. Nét đặc trưng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả
của hầu hết các hàng hóa đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng
giảm nhanh.
Nhìn lại lịch sử lạm phát, từ cuối thế kỷ 19 đến cuối thế kỷ 20 ở nước
ta lạm phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài mà nguồn gốc của nó là do hậu
quả nặng nề của chiến tranh, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài. Lạm phát đã
phá vỡ toàn bộ nền kinh tế, phương hại đến tất cả các mối quan hệ kinh tế
trong nền kinh tế- xã hội.
Bài viết này với đề tài: “ Lạm phát ở Việt Nam”
Xuất phát từ vấn đề nghiên cứu lạm phát là cần thiết, cấp bách, đặc
biệt thấy được tầm quan trọng của lạm phát. Vì vậy, với lực lượng kiến thức
còn hạn chế, em thiết nghĩ nghiên cứu đề tài này cũng là một phương pháp
để hiểu nó một cách thấu đáo hơn, sâu sắc hơn

A3 - TCQTB - K46 1
Tiểu luận tài chính tiền tệ

NỘI DUNG
CHƯƠNG I : LÝ LUẬN CHUNG VỀ LẠM PHÁT

I/ Định nghĩa lạm phát


Lạm phát là vấn đề không mấy xa lạ, hầu hết quảng đại quần chúng
đều có thể chứng kiến hay trải qua thời kỳ lạm phát ở những mức độ khác
nhau. Nhưng hiểu chính xác lạm phát là gì không phải dễ. Ngay cả các nhà
kinh tế học cũng có rất nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa lạm phát.
- Quan niệm cổ điển cho rằng “Lạm phát là phát hành tiền vượt quá
số lượng tiền cần thiết trong lưu thông”. Tuy nhiên định nghĩa này không
giải thích được hiện tượng lạm phát chi phí đẩy (xuất hiện trên thế giới từ
những năm 70 hoặc ở Việt nam năm 2005) do loại lạm phát này vẫn có thể
xảy ra trong khi cung tiền tăng ổnđịnh. Nếu chỉ coi là lạm phát khi sự tăng
giá là kết quả của việc tăng mạnh cung tiền thì sẽ dẫn đến coi thường các
nguy cơ lạm phát có thể xảy ra.
- Một quan điểm phổ biến khác cho rằng: Lạm phát là hiện tượng tăng
lên của mức giá chung (mức giá bình quân, mức giá tổng hợp) theo thời
gian. Tuy nhiên không phải mọi sự tăng lên của mức giá đều đáng lo ngại.
Nếu giá cả chỉ tăng tạm thời,trong ngắn hạn, chẳng hạn như dịp gần Tết
Nguyên đán ở Việt nam, sau đó lại giảm xuống thì đó là kết quả của những
biến động cung cầu tạm thời, nhiều khi có tác dụng tích cực hơn là tiêu cực
tới nền kinh tế. Những trường hợp như vậy mà đã coi là lạm phát thì sẽ dẫn
đến sự cường điệu hoá nguy cơ lạm phát.
- Các nhà kinh tế học theo trường phái trọng tiền hiện đại, đứng đầu là
Milton Friedman đã định nghĩa “lạm phát là hiện tượng giá cả tăng nhanh
và liên tục trong một thời gian dài”. Theo trường phái này, sự tăng lên của
mức giá chung mới chỉ phản ánh hình thức biểu hiện của lạm phát, bản chất
của lạm phát được thể hiện ở tính chất của sự tăng giá đó: đó là sự tăng giá
với tốc độ cao và kéo dài. Chính sự tăng giá cao và liên tục từ thời gian này
đến thời gian khác mới tạo ra những tác động đặc thù của lạm phát. Cũng vì
vậy, cái gọi là tỷ lệ tăng giá hàng tháng mà chúng ta có thể nghe trên đài,
báo hay vô tuyến chỉ cho biết mức giá cả đã thay đổi bao nhiêu phần trăm so
với tháng trước chứ chưa được coi là biểu hiện của lạm phát. Đó có thể chỉ
là sự thay đổi xảy ra duy nhất một lần hoặc chỉ là tạm thời chứ không kéo

A3 - TCQTB - K46 2
Tiểu luận tài chính tiền tệ

dài. Chỉ khi nào tỷ lệ tăng giá vẫn duy trì cao trong thời gian dài thì mới
được coi là biểu hiện của lạm phát cao.
Định nghĩa này cũng được các nhà kinh tế học theo trường phái
Keynes ủng hộ. Định nghĩa này cũng đặc biệt thích hợp với các nhà điều
hành chính sách tiền tệ vì Ngân hàng trung ương chỉ có thể điều chỉnh giá cả
trong dài hạn chứ không thể điều chỉnh trong ngắn hạn. Những cố gắng điều
chỉnh giá cả trong ngắn hạn thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ sẽ
chỉ làm cho diễn biến giá cả thêm phức tạp.
II/ Phân loại lạm phát

1) Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm
phát dưới 10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tương
đối. Trong thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thường, đời sống của
người lao động ổn định. Sự ổn định đó được biểu hiện: giả cá tăng lên chậm,
lãi suất tiền gửi không cao, không xảy ra với tình trạng mua bán và tích trữ
hàng hóa với số lượng lớn…
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho người lao động chỉ
trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoản
thu nhập ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu tư cho sản xuất, kinh doanh.
2) Lạm phát phi mã: lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tương đối nhanh
với tỷ lệ 2 hoặc 3 con số một năm. Ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cả
chung tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế, các hợp đồng
được chỉ số hóa. Lúc này người dân tích trữ hàng hóa, vàng bạc, bất động
sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường. Loại này khi
đã trở nên vững chắc sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
3) Siêu lạm phát : xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao
vượt xa lạm phát phi mã, nó như một căn bệnh chết người, tốc độ lưu thông
tiền tệ tăng kinh khủng, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế
bị giảm mạnh, tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác,
các yếu tố thị trường biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng
rối loạn. Tuy nhiên, siêu lạm phát rất ít khi xảy ra.
Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nước đang phát
triển thường diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phức tạp và
trầm trọng hơn. Vì vậy các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại.
Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dưới 50%
một năm ; siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200%
một năm.

A3 - TCQTB - K46 3
Tiểu luận tài chính tiền tệ

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG LẠM PHÁT Ở


VIỆT NAM HIỆN NAY

I/ Lịch sử của lạm phát ở Việt Nam

Câu chuyện lạm phát ở Việt Nam không phải là mới. Đã từng có thời
kỳ tỉ lệ lạm phát lên đến 3 chữ số
Đổi tiền và lạm phát năm 1986 gọi là lạm phát năm 1986 vì đó là năm
có tỉ lệ tăng cao nhất, nhưng lạm phát thực sự đã xuất hiện từ nhiều năm
trước đó. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) từ 1981-1985 lần lượt tăng là: 70%,
95%, 50%, 65% và 92%. Chỉ có điều lúc đó không ai thừa nhận có lạm phát
trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, không ai dám đưa vấn đề ra để phân tích,
bàn luận công khai. Không có giải pháp tổng thể nào được đưa ra trong một
thời gian dài cho đến khi xảy ra cuộc đổi tiền vào năm 1985.Có lẽ có quan
niệm cho rằng đổi tiền sẽ khôi phục lại giá trị đồng bạc Việt Nam và lạm
phát sẽ chấm dứt nên mới có qui định “Sức mua của đồng tiền mới bằng 10
lần sức mua của đồng tiền cũ” (Quyết định 01/HĐBT-TĐ ngày 13/9/1985).
Nhưng sau đổi tiền, CPI năm 1985 tăng đến 92%, năm 1986 lên tới 775%,
nền kinh tế bước vào thời kỳ lạm phát dữ dội với tỉ lệ tăng 3 chữ số kéo dài
trong 2 năm tiếp theo. Phải đến cuối năm 1988 và qua năm 1989, nhiều biện
pháp về tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát mới được đưa ra. Một trong những
quyết định quan trọng ghi nhận được lúc đó là việc lần đầu tiên mạnh tay nới
lỏng tỷ giá USD/VND vào cuối năm 1988 và tiếp tục cơ chế linh hoạt đến
năm 1991, trước khi bước vào giai đoạn đóng băng tỷ giá từ năm 1992.
Trước tháng 12/1988, tỷ giá do ngân hàng Vietcombank công bố thường
thấp hơn thị trường tự do hàng chục lần. Các công ty xuất khẩu lẩn tránh
việc đưa ngoại tệ vào ngân hàng bằng cách nhập khẩu hàng hóa quay vòng.
Vào tháng 12/1987, Vietcombank công bố tỷ giá ngoại tệ là 3.000
đồng/USD. Đây là bước tăng vọt so với tỷ giá 368,2 đồng công bố từ đầu
năm, tuy vẫn còn thấp hơn mức giá 4.300 đồng ở thị trường tự do. Trong các
tháng tiếp theo, tỷ giá được điều chỉnh với biên độ chênh lệch khoảng 10%
so với giá thị trường. Sự thay đổi tỉ giá đã có tác động rất mạnh đến cán cân
thương mại. Nếu chỉ xét trong khu vực giao dịch bằng USD, xuất khẩu trong
giai đoạn từ 1989 đến 1992 bình quân tăng 50% mỗi năm. Tỉ lệ nhập siêu so
với xuất khẩu đã lập tức giảm mạnh từ 47,6% trong năm 1986 xuống gần
như cân bằng vào năm 1989 và thậm chí đã có xuất siêu vào năm 1990.

A3 - TCQTB - K46 4
Tiểu luận tài chính tiền tệ

Đến cơn sốt tín dụng đầu thập kỷ 1990. Năm 1989, với cơ chế rất
thoáng trong việc thành lập quỹ tín dụng, hàng loạt quỹ tín dụng ra đời để
huy động vốn, cho vay lòng vòng, sau một thời gian thì đổ bể. Lãi suất tiết
kiệm năm 1989 cực kỳ cao, có lúc lên đến hơn 12%/tháng cùng với cơ chế
rất thoáng. Lãi suất cho vay đầu năm 1989 là 10,5%/tháng, cuối năm giảm
xuống còn xấp xỉ 4%/tháng và duy trì ở mức trên dưới 3%/tháng trong các
năm từ 90 đến 92. Tình hình kinh tế xã hội vào lúc đó cũng còn hết sức gay
gắt, mặc dù lạm phát đã giảm mạnh so các năm 86-88. Tỷ giá VND/USD
tăng vọt lên trên 13.000 VND/USD trong tháng cuối năm 1991, giảm đột
ngột còn 11.000 VND/USD đến năm 1992, sau đó và được neo giữ ở mức
thấp trong suốt nhiều năm từ 1992 đến 1996 trong khoảng từ 10.500 đến
11.000 VND/USD.
Tình trạng lỗ lãi, nợ nần mà không có cơ chế phá sản làm cho hàng
loạt công ty đang hoạt động hết sức khốn đốn. Chính phủ đã ra quyết định
lập Ban thanh toán công nợ quốc gia để thanh toán chéo nhưng kết quả
không đáng kể. Nội lực của nền kinh tế bị thương tổn nghiêm trọng. Tăng
trưởng kinh tế của VN từ 1992 đến 1996 đạt đến 9% năm, nhưng từ 1997 thì
giảm dần. Một số báo cáo cho rằng do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế
châu Á. Đó là cách lý giải mà ngay từ lúc đó cũng không có sức thuyết phục.
Dấu ấn của chính sách tỷ giá, tiền tệ các năm đó lớn hơn là ảnh hưởng từ
cuộc khủng hoảng kinh tế khu vực. Chính là cơ chế cứng nhắc cùng với tỷ
giá đồng nội tệ cao đã làm mất đi cơ hội của đất nước khi mà dòng FDI thế
giới đang hướng mạnh vào.

Thâm hụt thương mại do tỷ giá và cũng được giải


quyết bởi tỷ giá

Kết quả kỳ diệu của cơ chế tỷ giá năm 1997. Đồng nội tệ đã bị đánh giá

A3 - TCQTB - K46 5
Tiểu luận tài chính tiền tệ

cao cùng với tỷ giá bị cố định cứng trong khoảng thời gian dài từ 1992 đến
1996 đã thúc đẩy nhập khẩu ồ ạt. Do vậy, thâm hụt thương mại liên tục tăng
để lên đến đỉnh cao hơn 45% vào năm 1995. Năm 1997, lần đầu tiên cơ chế
xơ cứng của tỷ giá được điều chỉnh và kết quả thật kỳ diệu. Liên tục trong 4
năm thâm hụt thương mại giảm mạnh để chỉ còn -1% vào năm 2000. Các
năm 1999-2000 chỉ số giá chỉ tăng 0,1% và -0,6%. Tăng trưởng của GDP
cũng thấp: 4,8% năm 1999 và 6,7% năm 2000. Giải pháp được đưa ra lúc
này là kích cầu tăng trưởng thông qua gia tăng chi tiêu công và đầu tư của
các doanh nghiệp nhà nước. Chi tiêu của Nhà nước (so với GDP) đã tăng từ
5% năm 2000 lên trên 8% từ sau năm 2005. Tỉ lệ vốn đầu tư/GDP cũng tăng
lên đến 34% năm 2000 và đến 40% từ năm 2004 đến nay (2007). Từ đây các
nhân tố lạm phát được nuôi dưỡng.

Tốc độ tăng trưởng GDP thống kê qua các năm và


ước tính cho 2008

Đến hôm nay lạm phát quay trở lại. Năm 2004 đã xuất hiện những dấu
hiệu của cuộc lạm phát mới và được xác nhận lại vào năm 2005 nhưng đã
không có những giải pháp thoả đáng. Thậm chí đến giữa năm 2007 dấu hiệu
trở nên rõ ràng hơn thì một lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước vẫn tuyên bố
mạnh mẽ “lạm phát không thể đến mức hai con số”. Nếu nhìn lại trong vòng
3 thập kỷ qua, tính chu kỳ của nền kinh tế bộc lộ rõ hơn: cứ 10 năm lặp lại
một lần. Suy thoái diễn ra vào các năm x7, x8 sau khi đạt được đỉnh tăng
trưởng trong các năm x4, x5, x6. Tuy nhiên, đến nay liệu chúng ta đã có đủ
kinh nghiệm để không bị cuốn theo chu kỳ? Kiểm chứng về chính sách từ
lạm phát và hậu lạm phát năm 86 đến nay, cho thấy những lúc khó khăn nhất
thì có nhiều tiếng nói và có sự lắng nghe hơn, xuất hiện những cải cách
mạnh mẽ. Nhưng vào những lúc nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao
dần thì nhiều quyết định được đưa ra rất bất ngờ, ít được tham vấn, tiếng nói

A3 - TCQTB - K46 6
Tiểu luận tài chính tiền tệ

đóng góp cũng ít xuất hiện. Phải chăng đây là căn bệnh cố hữu không thể
vượt qua?
II/Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam khi xảy ra lạm
phát

Cuộc chiến chống lạm phát của nền kinh tế Việt Nam giúp phát hiện
hai vấn đề: Một về cơ cấu và một về điều hành kinh tế vĩ mô.
Về cơ cấu, nền kinh tế của chúng ta đang đối mặt với một vấn đề
nghiêm trọng về sung dụng tài nguyên. Sung dụng tài nguyên không hiệu
quả đã làm lãng phí đồng vốn, lãng phí nhân lực, lãng phí tài nguyên thiên
nhiên trong một thời gian dài. Hệ số ICOR cao (4,5) cho thấy nền kinh tế
Việt Nam là một trong những nền kinh tế có đầu tư kém hiệu quả nhất trong
khu vực, và có năng lực cạnh tranh rất thấp. Những hệ quả tiếp theo của nó
càng ngày càng lộ rõ như thâm hụt cán cân thương mại ngày càng nghiêm
trọng (chỉ riêng năm tháng đầu năm 2008, con số này đã lên đến 14,4 tỉ
USD), khiếm hụt ngân sách luôn được duy trì ở mức 5% GDP trong nhiều
năm, và kết quả tất nhiên của nó là tốc độ lạm phát của nền kinh tế ngày
càng gia tăng (theo một ước lượng đáng tin cậy, nếu loại trừ tác động tăng
giá của thị trường thế giới như giá dầu và giá lương thực, tốc độ lạm phát do
tác động nội tại của nền kinh tế mà chủ yếu xuất phát từ vấn đề sử dụng tài
nguyên không hiệu quả, đã lên đến từ 8- 10%/năm). Tuy nhiên, giải quyết
vấn đề cơ cấu là một việc làm lâu dài, đòi hỏi một quyết tâm chính trị rất
cao. Bài toán về cơ cấu là bài toán không thể có lời giải một sớm một chiều,
nhưng đó là một bài toán phải kiên trì giải quyết ngay từ bây giờ, vì rằng đó
là bài toán sinh tử, quyết định tương lai phát triển và cường thịnh hay không
của nền kinh tế Việt Nam.
Về điều hành kinh tế vĩ mô, chúng ta đang gặp phải các vấn đề trong
chính sách ngân sách và chính sách tiền tệ. Nếu mục tiêu của chính sách
ngân sách vẫn là duy trì một mức khiếm hụt lên đến 5%/GDP tiếp tục trong
thời gian dài, những nỗ lực kiểm soát lạm phát nhằm ổn định kinh tế vĩ mô
sẽ rất khó thành công. Mục tiêu cân bằng ngân sách cần phải là một mục tiêu
được hướng tới kể từ bây giờ. Những nỗ lực chống lạm phát trước hết phải
được thể hiện bởi một quyết tâm từ phía Chính phủ, cụ thể hóa bởi các hành
động tiết kiệm ngân sách: tinh giản bộ máy hành chính, tiết kiệm công chi,
giảm đầu tư công. Tất cả những điều đó sẽ giúp cho việc sung dụng tài
nguyên quốc gia trở nên hiệu quả hơn, đồng thời khuyến khích phát triển
đầu tư tư nhân trong và ngoài nước ngay trong các lĩnh vực cần nguồn vốn
lớn như xây dựng cơ sở hạ tầng. Một ngân sách cân bằng sẽ có tác dụng tích

A3 - TCQTB - K46 7
Tiểu luận tài chính tiền tệ

cực hai mặt: giảm thiểu tốc độ lạm phát và tăng cường hiệu quả của việc
sung dụng tài nguyên.
Về chính sách tiền tệ, chúng ta đang lúng túng giải quyết bài toán lãi
suất và tỷ giá. Sự lúng túng này đang gây khó khăn cho hệ thống ngân hàng
và các doanh nghiệp. Điều đáng quan tâm hơn là nó làm xói mòn niềm tin và
tâm lý lạc quan đã có trước đây của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Một
năm trước đây, kỳ vọng lạc quan đã là động lực thúc đẩy đầu tư và sự tăng
trưởng của các thị trường: thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị
trường bất động sản, thị trường chứng khoán. Tâm lý lạc quan thái quá có
thể tạo ra sự tăng trưởng bong bóng của một số thị trường nhưng một thái độ
lạc quan vẫn luôn luôn cần thiết để duy trì không những sự tăng trưởng kinh
tế mà cả sự ổn định.

III/ Nguyên nhân gây lạm phát ở Việt Nam

Lạm phát bên cạnh việc làm méo mó giá cả, nó còn làm sói mòn tiết
kiệm và không khuyến khích đầu tư, hạn chế tăng trưởng kinh tế, gây ra
những bất ổn chính trị và xã hội. Chính vì vậy, lạm phát được xem như một
căn bệnh nguy hiểm buộc chính phủ các nước phải kiềm chế nó bằng mọi
giải pháp. Do vậy, lạm phát đã có xu hướng giảm từ cuối những năm của
thập kỷ 80 trở lại đây, nhất là đối với những nền kinh tế mới nổi (xem bảng
sau):

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lạm phát gia tăng: Như sự
biến động bất thường về giá cả của một số mặt hàng nhiên liệu, lương thực,
thực phẩm do những cú sốc tiêu cực của cung - ví dụ như sự bất ổn chính trị
trên thế giới vừa qua làm tăng giá dầu, hoặc cú sốc đột biến của cầu - ví dụ
như nhu cầu thép tăng đột ngột của Trung Quốc v.v, còn có những nguyên
nhân từ yếu tố tiền tệ. Trường phái tiền tệ mà điển hình là Milton Friedman
đã nhận định rằng “lạm phát là một hiện tượng tiền tệ “. Nhận định này được
rút ra trên cơ sở các chứng cứ thực nghiệm nghiên cứu về sự tăng trưởng
tiền tệ kéo dài gắn với sự gia tăng lạm phát (lạm phát và sự tăng trưởng tiền
tệ tại Mỹ la tinh 1980-1990 và siêu lạm phát ở Đức 1921-1923 v.v). Bên
cạnh đó, những phân tích quan điểm lạm phát của trường phái Keynes cho
thấy rằng, sự gia tăng lạm phát có thể xuất phát do những cú sốc về cung
hoặc cầu, nhưng nếu cung tiền không tăng theo hay không thay đổi thì chỉ
trong một thời gian ngắn, kết quả ròng của cú sốc cung (cầu) sẽ làm dịch

A3 - TCQTB - K46 8
Tiểu luận tài chính tiền tệ

chuyển cả đường tổng cung lẫn đường tổng cầu và đưa mức giá về mức ban
đầu. Do vậy những cú sốc về cung (cầu) không phải là nguồn gốc của lạm
phát cao (nhưng là nguồn gốc làm tăng mức giá trong ngắn hạn).
Trong các nguyên nhân dẫn đến lạm phát do yếu tố tiền tệ, theo
tổng kết của IMF thường xuất phát từ chính sách tài khóa và chính sách tiền
tệ (CSTT): Sự thâm hụt ngân sách kéo dài được bù đắp bằng việc in tiền,
và/hoặc sự chi tiêu quá mức và thất thoát lớn trong xây dựng cơ bản của
chính phủ sẽ là nguyên nhân gây ra lạm phát, hoặc CSTT quá nới lỏng, dẫn
tới tăng cung tiền, tăng đầu tư tín dụng quá mức v.v. cũng là nguyên nhân
gây lạm phát. Do vậy, để kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu luôn đòi hỏi sự
phối hợp rất chặt chẽ trong điều hành CSTT và chính sách tài khóa.
Xét trong giác độ điều hành CSTT để kiểm soát lạm phát (lạm phát
được coi là mục tiêu cuối cùng của CSTT), tùy điều kiện kinh tế, mức độ
phát triển của thị trường tiền tệ, khả năng điều tiết tiền tệ của Ngân hàng
Trung ương (NHTW) mà NHTW các nước sử dụng các công cụ khác nhau
để kiểm soát lạm phát. Thực tế hiện nay cho thấy, đối với những nước phát
triển, là những nước có thị trường tiền tệ, thị trường vốn phát triển, đặc biệt
là những nước theo đuổi khuôn khổ CSTT hướng tới mục tiêu lạm phát
(Inflation targeting), NHTW thường không quan tâm đến sự gia tăng của
cung tiền (Money supply-M2), mà chỉ quan tâm đến sự thay đổi của lãi suất
có ảnh hưởng như thế nào đến sự gia tăng lạm phát, qua đó họ điều chỉnh lãi
suất chỉ đạo của NHTW nhằm đạt được lạm phát mục tiêu. Nhưng đối với
những nước đang phát triển, thị trường tài chính phát triển ở mức độ thấp,
thì việc kiểm soát lạm phát thường thực hiện thông qua việc kiểm soát cung
tiền.
Đứng trên giác độ cung tiền là nhân tố tác động làm gia tăng lạm
phát, thì để kiểm soát được cung tiền cần kiểm soát được những nhân tố làm
tăng cung tiền. Xét về mặt lý thuyết M2=k.MB (tiền cung ứng của NHTW),
có nghĩa là M2 tăng lên khi NHTW phát hành tiền cho nền kinh tế và/ hoặc
hệ số tạo tiền tăng lên. Nói một cách cụ thể hơn (qua bảng cân đối tiền tệ
toàn ngành), khi MB tăng lên sẽ làm tăng và/hoặc tín dụng nền kinh tế, tài
sản có ngoại tệ, cho vay chính phủ ròng, qua đó làm tăng M2. Đối với nền
kinh tế bị đôla hoá, M2 tăng lên ngoài nhân tố do MB tăng lên, còn do
nguồn ngoại tệ huy động trong dân tăng hoặc dòng vốn đầu tư nước ngoài
vào nhiều. Do vậy, đối với nền kinh tế đôla hoá, NHTW kiểm soát M2 sẽ
gặp nhiều khó khăn hơn nhiều so với nền kinh tế không bị đôla hoá.
Tình hình giá cả và lạm phát ở Việt Nam thời gian qua, đặc biệt là
những biến động bất thường trong năm 2004 đẩy chỉ số giá hàng tiêu dùng
(CPI) lên 9,5% (trong khi chỉ số này của năm 2003 là 3%), vượt xa con số
5% theo kế hoạch đề ra, đã buộc công luận phải lên tiếng. Để giải tỏa những

A3 - TCQTB - K46 9
Tiểu luận tài chính tiền tệ

bức xúc của dân chúng và các nhà sản xuất kinh doanh, đã có nhiều buổi tọa
đàm, cuộc hội thảo được tổ chức và được các phương tiện thông tin đại
chúng loan tải. Qua đó đã toát ra nhiều vấn đề còn tranh cãi về quan điểm về
lạm phát, nguyên nhân của lạm phát, cách tính chỉ số lạm phát, các giải pháp
nhằm khắc phục lạm phát. Dưới đây là các nguyên nhân lạm phát ở Việt
Nam hiện nay.

Lạm phát là một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô có vị trí quan trọng hàng đầu trong
điều hành chính sách của mỗi một quốc gia. Đây cũng là một ttrong hai mục
tiêu mà Ngân hàng Trung ương các nước đều hướng tới. Khái niệm chung
về lạm phát được khoa học kinh tế đưa ra là sự tăng giá chung theo thời
gian, khi đó mặt bằng chung về giá cả hàng tiêu dùng trên thị trường tăng
lên. Còn lạm phát tiền tệ hoặc lạm phát giá cả được gọi theo cách nhìn nhận
ở góc độ nguyên nhân của lạm phát. Theo lý thuyết kinh tế học hiện đại, lạm
phát do ba nguyên nhân: cầu kéo, chi phí đẩy và quá thừa mức tiền cung ứng
trong lưu thông. Tuy nhiên trong thực tế, lạm phát gia tăng còn do một số
nguyên nhân nữa, thí dụ: Tâm lý của dân chúng, sự mất cân đối trong cơ cấu
đầu tư...
Lạm phát tiền tệ được hiểu là mức tiền cung ứng cho lưu thông vượt
quá mức cần thiết, biểu hiện là sự mất giá của đồng bản tệ.
Lạm phát giá cả được hiểu là giá cả hàng hóa và dịch vụ nói chung
tăng lên do cầu lớn hơn cung (cầu kéo), hoặc do chi phí sản xuất hàng hóa
và dịch vụ tăng lên (chi phí đẩy).
Trong thực tế hai loại lạm phát nói trên ít khi xảy ra cùng một lúc, mà
thường hoặc là lạm phát giá cả, hoặc là lạm phát tiền tệ.
Nguyên nhân lạm phát ở Việt Nam hiện nay
Trên cơ sở nghiên cứu về biến động của giá cả và lạm phát ở Việt Nam,
chúng tôi cho rằng lạm phát ở Việt Nam thời gian qua (đặc biệt là năm
2004) là do những nguyên nhân sau:
1. Về phương pháp tính
Phương pháp tính chỉ số CPI của các nước khác với Việt Nam. Một là,
các nước thường loại trừ giá lương thực, dầu mỏ ra khi tính toán...; Hai là,
giá đó là giá giao dịch mua buôn, bán buôn trên thị trường hàng hóa của các
nhà kinh doanh, còn giá bán lẻ cho người tiêu dùng đối với nhiều mặt hàng
thì vẫn ổn định; Ba là, các mặt hàng đó chiếm tỷ trọng nhỏ trong các nhóm
hàng hóa và dịch vụ tính CPI.
Ở Việt Nam theo phương pháp tính CPI hiện nay, giá cả của nhóm hàng
lương thực, thực phẩm chiếm quyền số lớn nhất, tới 47,9% trong rổ hàng
hóa tính CPI. Trong các năm trước đây, mặc dù nhiều nhóm mặt hàng khác
có biến động tăng đáng kể, nhưng nhóm mặt hàng lương thực, thực phẩm,

A3 - TCQTB - K46 10
Tiểu luận tài chính tiền tệ

nhất là giá lúa gạo, giá cao su, cà phê, hạt điều, thịt lợn, rau hoa quả biến
động thất thường. Trong các năm 1991, 1993, 1994, 1998, ... giá lương thực
và thực phẩm tăng rất cao, kèm theo đó là chỉ số giá chung cũng tăng cao.
Ngược lại, trong các năm 1997, 1999, 2000, ... các mặt hàng lương thực,
thực phẩm có giá bán giảm thấp, khó tiêu thụ, nên đã làm cho CPI ở mức rất
thấp, thậm chí là âm. Nhưng năm 2004 nhóm mặt hàng này đã tăng tới 15%;
trong đó giá lương thực tăng 12,5% và giá thực phẩm tăng 16,8%, đã tác
động mạnh làm gia tăng cao chỉ số CPI nói chung. Do đó nếu loại bớt được
sự tăng giá đột biến gây những cú sốc trong tính toán, thì rõ ràng chỉ số lạm
phát không cao như đã công bố.
2. Điều tiết vĩ mô kém
Một thực tế cần phải thừa nhận là điều tiết vĩ mô của chúng ta trước
những biến động bất thường cả từ trong và ngoài nước để nhằm bình ổn thị
trường trong nước là còn nhiều bất cập. Thí dụ, đến khi giá thuốc tân dược
leo thang hàng ngày và được bán ở mức rất cao, gây rối loạn thị trường
thuốc chữa bệnh, lúc đó chúng ta mới nghĩ đến vấn đề dự trữ quốc gia về
thuốc tân dược; Các quyết định quản lý được đưa ra để điều tiết thị trường
thường là chậm trễ, vì thế hiệu quả điều tiết kém. Thí dụ: việc điều chỉnh
giảm thuế thép, phôi thép mặc dầu được kiến nghị từ tháng 1/2004 nhưng
đến tháng 3/2004 mới được thực hiện, vào lúc này giá phôi thép đã tăng lên
480-500 USD/tấn và giá thép xây dựng đã tăng lên tới 500-520 USD/tấn. Do
vậy các doanh nghiệp khi nhập khẩu tại thời điểm này khó có khả năng cạnh
tranh với các doanh nghiệp đã nhập phôi thép trước đó; Tình trạng độc
quyền, đầu cơ trục lợi vẫn còn phổ biến dẫn đến thao túng, gây rối loạn thị
trường; Cũng do quản lý kém đã dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí
trong đầu tư xây dựng cơ bản là rất lớn. Hệ lụy tất yếu của những tình trạng
trên là thị trường trong nước thêm rối loạn; Khi chỉ số lạm phát gia tăng
nhanh chóng trong những tháng đầu năm 2004, mặc dù tổng phương tiện
thanh toán trong nền kinh tế là phù hợp với các chỉ số kinh tế vĩ mô (sẽ được
phân tích ở phần dưới đây), nhưng dưới sức ép của dư luận, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam lại thực hiện một chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm mức
cung ứng tiền tệ. Như vậy Ngân hàng Nhà nước đã khắc phục bất hợp lý này
bằng một bất hợp lý khác. Hệ quả của nó là đẩy lãi suất lên cao, tăng chi phí
đầu tư, hạn chế đầu tư, kìm hãm sản xuất và tăng thất nghiệp.

3. Cung ứng tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước


Tổng phương tiện thanh toán, bao gồm tiền mặt trong lưu thông, tiền gửi
tại ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng (nội và ngoại tệ). Nhân tố này
về nguyên lý là thường tác động có độ trễ, tức là tổng phương tiện thanh
toán tăng lên trong kỳ này, thì ảnh hưởng của nó phát sinh ở kỳ sau, trong

A3 - TCQTB - K46 11
Tiểu luận tài chính tiền tệ

ngắn hạn là 6 tháng, trung và dài hạn thường là từ 1 năm trở lên. Trong 14
năm qua, mức tăng tổng phương tiện thanh toán bình quân 23%-26%/năm,
phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế và không thấy tác động rõ rệt về lạm
phát, cũng như giảm phát. Năm 1999 tổng phương tiện thanh toán tăng cao
nhất, tới 39,25%, nhưng các năm 1999, 2000 và 2001 tốc độ tăng chỉ số CPI
ở mức thấp, thậm chí năm 2000 còn giảm 0,6%. Các năm 1994, 1995, 1998,
chỉ số CPI tăng cao, nhưng các năm đó và năm trước đó tốc độ tăng tổng
phương tiện thanh toán vẫn ở mức trung bình nhiều năm. Năm 1998, tổng
phương tiện thanh toán tăng thấp nhất, chỉ có 20,33%, nhưng CPI lại tăng tới
9,2%. Trong 6 tháng đầu năm nay tổng phương tiện thanh toán tăng 7,26%,
thấp hơn mức tăng cùng kỳ năm 2003 là 8,28%. Song chỉ số tăng giá trong 6
tháng đầu năm 2004 đã là 7,2%. Còn trong năm 2004, tổng phương tiện
thanh toán, tốc độ tăng trưởng vốn huy động và tăng dư nợ cho vay, ... đều
thấp hơn mức cùng kỳ năm ngoái, nhưng CPI đã là 9,5%. Tất nhiên như đã
nói ở trên là có độ trễ về mặt thời gian, thường từ 6 tháng đến 1 năm.
Như vậy có thể khẳng định, lạm phát ở Việt Nam trong hơn 14 năm
qua nói chung và năm 2004 nói riêng không phải là lạm phát tiền tệ.
4. Do cầu kéo
Trong những năm qua, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hàng
hóa và dịch vụ trên thị trường trong nước dồi dào, đa dạng và phong phú. Do
đó hầu như không có tình trạng khan hiếm hàng hóa trên thị trường dẫn tới
tăng giá một hay một số mặt hàng nào đó. Song trong năm 2004, do ảnh
hưởng của dịch cúm gia cầm xẩy ra trên diện rộng và kéo dài, đã làm giảm
mạnh nguồn cung sản phẩm gia cầm, trong khi nhu cầu thực phẩm tiếp tục
tăng lên, làm cho giá cả mặt hàng gia cầm nói riêng tăng đột biến. Đồng thời
nhu cầu của người tiêu dùng được chuyển sang các mặt hàng thực phẩm
khác nên đã làm cho nhóm hàng thực phẩm nói chung tăng cao, tới 16,8%
trong 9 tháng đầu năm 2004. Mặt khác, do biến động mạnh của bất động sản
từ cuối năm 1999, do vậy nhu cầu xây dựng tăng cao, dẫn đến giá cả của vật
liệu xây dựng, sắt thép, các mặt hàng trang trí nội thất đồng lọat tăng lên.
Một diễn biến khác cũng xét từ nhân tố cầu kéo, có thể thấy do giá xuất
khẩu gạo của Việt Nam được cải thiện và khối lượng gạo xuất khẩu tăng, thị
trường xuất khẩu thủy sản ổn định và được mở rộng. Do đó giá của các mặt
hàng lương thực, thủy hải sản tăng lên.
5. Do chi phí đẩy
Nhân tố này chủ yếu là do giá cả các mặt hàng mà Việt Nam nhập khẩu
trên thị trường thế giới tăng lên, tập trung là giá xăng dầu, phôi thép, nguyên
liệu nhựa, phân đạm Urê, bột giấy, thuốc chữa bệnh, vật phẩm y tế..., làm
cho giá bán lẻ trong nước cũng tăng lên. Chỉ riêng mặt hàng xăng dầu trong
năm 2004 đã được điều chỉnh tăng 4 lần. Tình hình đó làm cho chi phí của

A3 - TCQTB - K46 12
Tiểu luận tài chính tiền tệ

một loạt lĩnh vực tăng lên, nhất là giao thông vận tải. Giá cước vận chuyển
hàng không tăng 8%, vận tải đường sắt tăng 10% nhằm thực hiện chính sách
hòa đồng giá vé giữa người Việt Nam và người nước ngoài, ... Bên cạnh đó
chi phí xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu, ... của người nông dân cũng tăng
cao. Giá sắt thép tăng làm cho ngành xây dựng và cơ khí chế tạo tăng chi
phí. Nguyên liệu nhựa và bột giấy tăng... cũng làm cho chi phí của một loạt
ngành sản xuất và một loạt sản phẩm phải tăng giá bán lên.
Đặc biệt là sự biến động lớn của thị trường bất động sản từ năm 1999 đến
nay, hệ lụy của nó là vô cùng lớn. Đáng nhẽ các nguồn tiền nhãn rỗi trong
nền kinh tế đặc biệt là trong dân cư phải được tập trung để đầu tư phát triển
sản xuất thì nay mọi người lại dồn hết tiền để kinh doanh bất động sản gây
rối loạn thị trường này, đẩy giá bất động sản tăng hàng chục lần. Do vậy giá
thuê mặt bằng để sản xuất, thuê cửa hàng để kinh doanh cũng tăng lên tương
ứng, đẩy chi phí sản xuất lên cao.
6. Do tâm lý dân chúng
Khi thị trường bất động sản ở Việt Nam đang rối loạn, giá cả một số mặt
hàng đang leo thang hàng ngày, gây tâm lý bất ổn trong dân chúng thì tiếp
đó (đầu năm 2004) Bộ Nội vụ công bố dự kiến tăng lương mới (thực tế tăng
từ 1/10/2004) đã kích thích tâm lý tăng tiêu dùng của dân chúng, làm cho giá
cả các mặt hàng tiêu dùng tăng nhanh từ đầu năm (thông thường là tăng vào
cuối năm). Mặt khác khi dân chúng đang lo sợ sự sụt giá của đồng tiền Việt
Nam thì NHNN Việt Nam lại phát hành thêm loại tiền mệnh giá 100.000
đồng mới vào lưu thông (gấp đôi mệnh giá lớn nhất trước đó). Vào cuối năm
2003, NHNN Việt Nam lại đưa tiếp loại tiền polyme mới với các mệnh giá
50.000, 500.000, 100.000 vào lưu thông. Đặc biệt là đồng tiền với mệnh giá
500.000 (lớn gấp 10 lần so với đồng tiền có mệnh giá lớn nhất trước đó) đã
tiếp tục tác động xấu đến tâm lý của dân chúng. Dân chúng cho rằng NHNN
Việt Nam đang đưa thêm vào lưu thông một khối lượng tiền rất lớn và vì vậy
giá trị đồng tiền Việt Nam sẽ giảm mạnh. Do đó dân chúng càng có xu
hướng chuyển từ tài sản tiền tệ VNĐ sang các tài sản tài chính khác và càng
khuyến khích tâm lý tiêu dùng. Kết quả là giá cả các mặt hàng trong nền
kinh tế tiếp tục gia tăng.
Như vậy qua nghiên cứu về diễn biến chỉ số tăng giá hàng tiêu dùng nói
chung và diễn biến lạm phát nói riêng trong hơn 14 năm qua, cũng như riêng
năm 2004 có thể khẳng định, lạm phát ở nứơc ta là lạm phát giá cả. Nguyên
nhân chủ yếu là do chi phí đẩy, quản lý vĩ mô kém, có một yếu tố nhỏ là cầu
kéo và yếu tố tâm lý dân chúng.

A3 - TCQTB - K46 13
Tiểu luận tài chính tiền tệ

CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP CHO TÌNH HÌNH


LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chính phủ nhất trí điều chỉnh mục tiêu chống lạm phát và mức
tăng trưởng trong năm 2008 thích hợp trong tình hình mới và nêu 5 giải
pháp cần tập trung chỉ đạo và điều hành nhằm kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội và duy trì tiềm năng tăng trưởng của
nền kinh tế.

I/ Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng

Chính phủ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng theo nguyên
tắc thị trường một cách chặt chẽ, chủ động và linh hoạt, bảo đảm mục tiêu
chống lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm huy động các nguồn vốn
phục vụ phát triển kinh tế.
Thời gian gần đây báo chí liên tục đưa tin về việc Ngân hàng Nhà
nước thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, NHTM tăng lãi suất tiền gửi, siết
chặt cho vay... với mục tiêu chung là kìm chế lạm phát, ổn định kinh tế. Tuy
nhiên cái giá phải trả cho việc thực hiện những chính sách này không rẻ chút
nào. Bài viết của PGS-TS Trần Ngọc Thơ - ThS Hồ Quốc Tuấn đăng trên
Thời báo Kinh Tế Sài Gòn dưới đây trao đổi về những cái giá mà kinh tế
Việt Nam phải trả khi thực hiện mục tiêu kìm chế lạm phát.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) vừa đưa ra quyết định 346/QĐ-
NHNN về việc phát hành tín phiếu NHNN bằng tiền đồng dưới hình thức
bắt buộc đối với các tổ chức tín dụng. Đây rõ ràng là một biện pháp nằm
trong gói giải pháp thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát của Chính phủ, bên
cạnh các bài thuốc tăng dự trữ bắt buộc, điều chỉnh các loại lãi suất cơ bản,
lãi suất tái cấp vốn... đã được tiến hành.
Trong điều kiện nền kinh tế thế giới đang rơi vào tình trạng lạm phát
cao và đứng trước nguy cơ suy thoái toàn cầu, ngân hàng trung ương nhiều
nước phải đứng giữa lựa chọn khó khăn là tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát
hay giảm lãi suất để kích thích kinh tế, NHNN đã lựa chọn quan điểm thắt
chặt tiền tệ. Nhìn vào động thái của các nước trên thế giới về chính sách lãi
suất và rộng hơn là chính sách tiền tệ, chúng ta có thể thấy rằng Việt Nam
đang đi theo hướng đi của những nước đang có tốc độ tăng trưởng tương đối
ổn định như Hàn Quốc, Trung Quốc và Úc là ưu tiên chống lạm phát chứ
không đi theo con đường cắt giảm lãi suất của Mỹ hay vài nước ASEAN
khác như Thái Lan, Phillipines và Indonesia là chấp nhận lạm phát để chống
suy thoái .

A3 - TCQTB - K46 14
Tiểu luận tài chính tiền tệ

Nguyên nhân NHNN quyết liệt chống lạm phát cũng không khó hiểu.
Từ năm ngoái, áp lực từ phía dư luận về vấn đề lạm phát đã không nhỏ, và
nhiều ý kiến đã đề nghị hy sinh tăng trưởng chống lạm phát. Mặt khác, trong
các tháng đầu năm, tỷ lệ lạm phát đã tăng hơn 14% so với cùng kỳ năm
ngoái, đạt 2,38% trong tháng 1; đồng thời hậu quả của các đợt rét đậm ở
miền Bắc và dịch cúm gia cầm bùng phát đang tạo áp lực tăng giá không
nhỏ trong các tháng tiếp theo. Như vậy, chống lạm phát bằng mọi giá gần
như là mục tiêu mà Chính phủ đang ưu tiên nhất. Vậy những hệ quả của việc
thắt chặt tiền tệ để chống lạm phát là gì?
Thắt chặt tiền tệ sẽ “tiếp thêm năng lượng” cho cuộc đua tăng lãi suất
Ngay từ tháng 1-2008, tình hình vốn tiền đồng của các ngân hàng thương
mại đã căng thẳng, ngay từ đầu năm mới, lãi suất liên ngân hàng đã có lúc
lên đến 25%. Nhiều ngân hàng đã liên tục điều chỉnh lãi suất theo hướng
tăng lên, có nơi điều chỉnh biểu lãi suất 2-3 lần trong một tháng. Như vậy,
quyết định rút tiền ra khỏi lưu thông bằng tín phiếu sẽ tiếp thêm năng lượng
cho cuộc đua tăng lãi suất của ngân hàng. Nhìn ở một khía cạnh nào đó,
cuộc đua này sẽ khiến nhiều người bắt đầu quan tâm trở lại với việc đem tiền
đi gửi ngân hàng vì lãi suất tiền đồng tăng cao trong khi thị trường chứng
khoán đầu năm không có tín hiệu tốt còn thị trường bất động sản thì đang bị
đánh giá là quá nóng và bị cơ quan quản lý “theo dõi” quá kỹ. Tuy nhiên,
nếu lãi suất huy động của ngân hàng tăng thì lãi suất đầu ra khó mà đứng
yên. Như vậy, chi phí vay mượn cho sản xuất kinh doanh sẽ tăng lên. Ở đây
có hai tình huống có thể xảy ra. Một là doanh nghiệp chuyển hết phần chi
phí tăng thêm này vào giá bán và như vậy, giá cả không những không giảm
mà tăng thêm, khiến mục tiêu giảm lạm phát bằng thắt chặt tiền tệ không thể
thực hiện. Việc doanh nghiệp có thể chuyển chi phí vay mượn vào giá cả
hay không phụ thuộc vào kỳ vọng lạm phát của người dân và khả năng có
các nguồn hàng thay thế trên thị trường. Với quyết tâm chống lạm phát của
Nhà nước và việc nền kinh tế chúng ta đang mở cửa tự do thương mại sau
WTO, khả năng xảy ra tình huống này không lớn. Tuy nhiên, không vì thế
mà ta có thể xem thường, không giám sát kỹ các khâu trong quá trình lưu
thông hàng hóa, tránh tình trạng hàng rẻ mà doanh nghiệp vẫn thích bán giá
mắc vì người dân vẫn đang trong tình trạng lo sợ tăng giá.
Còn trong tình huống thứ hai, đó là chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên,
mà doanh nghiệp không thể chuyển phần chi phí này vào giá bán thì họ sẽ
chịu nhiều khó khăn, có thể dẫn đến thua lỗ, và giảm quy mô kinh doanh.
Điều này tạo áp lực lên tăng trưởng và việc làm.
Tạo áp lực lên tăng trưởng và việc là:
Trong tình hình các nhà phân tích và tổ chức quốc tế đều điều chỉnh
dự báo tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế chủ chốt như Mỹ, Nhật, châu

A3 - TCQTB - K46 15
Tiểu luận tài chính tiền tệ

Âu và các người khổng lồ mới nổi ở châu Á như Trung Quốc và Ấn Độ theo
hướng giảm đi, chúng ta dễ dàng nhận ra kinh tế toàn cầu đang đi chậm lại
và đã ở trong vòng xoáy suy giảm tăng trưởng (có lẽ còn hơi sớm để dùng từ
suy thoái kéo dài). Trước tình hình như vậy, quyết định thắt chặt tiền tệ, như
đã bàn ở trên, sẽ tạo áp lực tăng lãi suất ngân hàng, tăng chi phí vay mượn
cho sản xuất kinh doanh trong tình hình nền kinh tế cần nhiều vốn để phát
triển (hệ số ICOR của nền kinh tế còn quá cao nên để duy trì tăng trưởng thì
phải đổ nhiều vốn vào), có thể là sự sụt giảm đáng kể trong tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế. Trung Quốc sau khi thực hiện nhiều biện pháp thắt chặt tiền tệ đã bị
điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng từ hai con số còn 9,6%, còn tăng trưởng
Việt Nam sau khi thắt chặt tiền tệ sẽ bị ảnh hưởng ra sao? Mà tăng trưởng
không cao thì sẽ tạo sức ép lên việc làm và thu nhập của người dân. Đây
cũng là vấn đề xã hội không nhỏ.
Trở ngại cho thu hút vốn gián tiếp
Trong điều kiện thị trường chứng khoán đầu năm 2008 vẫn chưa mấy khởi
sắc, liên tục các quy định thắt chặt tiền tệ sẽ tạo ra cảm giác cho nhà đầu tư
là NHNN đang “hy sinh thị trường chứng khoán” để chống lạm phát. Điều
này có khả năng sẽ làm xói mòn hơn nữa niềm tin của nhà đầu tư vào triển
vọng của thị trường này trong năm nay. Với một thị trường được xây dựng
trên niềm tin, niềm tin bị sụt giảm thì thị trường khó mà phát triển khỏe
mạnh, sẽ không tạo ra tỷ suất sinh lợi cao nữa. Mà thị trường không tạo ra tỷ
suất sinh lợi cao thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ không còn cảm thấy thị trường
Việt Nam hấp dẫn nữa. Chúng ta không nên chủ quan cho rằng nếu thị
trường chứng khoán giảm giá về mức hấp dẫn thì nhà đầu tư nước ngoài sẽ
thích tham gia vào Việt Nam nhiều hơn. Một số nghiên cứu trong các năm
2000, 2001 ở các nước đang phát triển cho thấy các nhà đầu tư nước ngoài là
những người mua bán dựa trên kết quả tốt đẹp (positive feedback trader),
nghĩa là tham gia vào một thị trường khi nó tạo ra tỷ suất sinh lợi hấp dẫn
trong quá khứ, và thoát khỏi nó khi nó tạo ra tỷ suất sinh lợi không cao.
Nhìn lại quá trình vốn nước ngoài đổ vào thị trường chứng khoán nước ta, rõ
ràng vốn đổ vào nhiều trong những năm gần đây khi chúng ta trở thành
“ngôi sao đang lên”, còn trước đó, trong những năm trước 2002, nhiều quỹ
đầu tư đã rời khỏi Việt Nam sau những giai đoạn thị trường rơi vào trạng
thái trầm lắng. Đó là chúng ta chưa tính đến yếu tố cơ bản là nếu kinh tế suy
giảm tăng trưởng, chi phí vay mượn của doanh nghiệp tăng cao, thì liệu cái
nhìn của nhà đầu tư nước ngoài đối với triển vọng dài hạn của chúng ta sẽ bị
bào mòn ít nhiều.
Đồng Việt Nam sẽ tiếp tục lên giá
Lãi suất tiền đồng (VND) được đẩy lên cao trong tình hình lãi suất đô la Mỹ
(USD) trên thế giới đang giảm sẽ tạo áp lực giảm giá lên đồng USD so với

A3 - TCQTB - K46 16
Tiểu luận tài chính tiền tệ

VND. Cho dù lãi suất USD trong nước hiện khá cao so với thế giới, nhưng
tính ra vẫn thấp hơn lãi suất VND khá nhiều, và tốc độ tăng lãi suất VND
trong thời gian sắp tới nhiều khả năng sẽ nhanh hơn nhiều do mức độ căng
thẳng vốn tiền đồng đã đến mức báo động ở nhiều ngân hàng. Áp lực tăng
giá VND chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ cho xuất khẩu, vốn đang
đứng trước nguy cơ bị ảnh hưởng xấu từ tình hình suy thoái ở nhiều nước
phát triển. Đứng trước tình hình này, có thể NHNN sẽ tiếp tục bị buộc phải
mua USD vào, và như vậy lại tăng cung tiền ra nền kinh tế. Rồi để trung hòa
lượng cung tiền tăng lên này, NHNN sẽ lại phải tiếp tục phát hành tín phiếu,
trái phiếu? Vậy chúng ta đang đi vào một vòng luẩn quẩn? Đó là chưa kể
chúng ta cần để ý đến bài học của Trung Quốc trong bài toán “trung hòa”
này: mua ngoại tệ vào trong lúc lãi suất ngoại tệ thấp, còn phải bán trái
phiếu, tín phiếu với lãi suất “hợp lý”, thì kết quả là khoảng chênh lệch lãi
suất là âm, khiến NHNN bị “lỗ nặng”. Với điều kiện hiện tại, khi mà khoảng
hở lãi suất USD-VND đã trở nên quá lớn, liệu NHNN có đủ khả năng đứng
vững trước sức ép phải bù đắp khoảng lỗ do chính sách “trung hòa” này?
Đánh giá chung
Từ những đánh giá trên, chúng ta có thể nhận ra rằng thực hiện thắt chặt tiền
tệ cũng đồng nghĩa với chấp nhận rủi ro suy giảm tăng trưởng, đồng tiền
tăng giá, thị trường vốn phát triển chậm lại và bỏ lỡ cơ hội thu hút vốn đầu
tư gián tiếp. Chấp nhận một rủi ro lớn như vậy, sẵn sàng trả giá không nhỏ,
chỉ là vì chúng ta muốn kiềm chế lạm phát, để tăng trưởng thực sự mang lại
lợi ích cho đại bộ phận người dân. Tuy nhiên, phân tích chính sách này,
chúng ta sẽ nhận thấy có những rủi ro có thể khiến nó không mang lại lợi ích
thật sự mà chỉ mang tính ngắn hạn và không toàn vẹn. Trong bài viết tiếp
theo, chúng tôi sẽ đề cập đến những điều kiện để đảm bảo chính sách hiện
tại mang lại hiệu quả và đề xuất một số giải pháp đột phá.

II/ Giảm thâm hụt ngân sách nhà nước

Hai là tăng thu gắn liền với thắt chặt, tiết kiệm chi tiêu, nâng cao hiệu
quả sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, hạn chế bội chi ngân sách. Thủ
tướng yêu cầu hệ thống chính trị phải gương mẫu thực hiện tiết kiệm 10%
chi thường xuyên; cắt giảm các khoản chi chưa thật cần thiết; thực hiện các
biện pháp tiết kiệm xăng, dầu; rà soát và giảm các hạng mục, công trình
chưa thật bức thiết, đồng thời kêu gọi nhân dân thực hành tiết kiệm tiêu
dùng.
Giảm thâm hụt ngân sách để khôi phục sự ổn định vĩ mô

A3 - TCQTB - K46 17
Tiểu luận tài chính tiền tệ

Thông điệp của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/3/2008 về việc phấn đấu
kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng
trưởng bền vững có nhắc tới một câu nói nổi tiếng của Milton Friedman -
Nobel kinh tế năm 1976 - rằng mặc dù do nhiều nguyên nhân, nhưng “lạm
phát luôn có nguyên nhân tiền tệ”. Nếu như Milton Friedman đã đúng khi
cho rằng lạm phát ở đâu và khi nào cũng xuất phát từ những nguyên nhân
tiền tệ, thì một câu hỏi tự nhiên tiếp theo sẽ là tại sao một chính phủ lại chấp
nhận chính sách tiền tệ gây ra lạm phát - một trong những điều tối kỵ nhất
của điều hành vĩ mô.
Thâm hụt ngân sách, lạm phát và mất cân đối vĩ mô
Nhìn vào những nước đã từng trải qua lạm phát cao sẽ thấy rằng,
lạm phát ở những nước này thường là hệ quả của việc in tiền nhằm tài trợ
cho thâm hụt ngân sách. Như vậy, thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu
dẫn tới việc nhà nước buộc phải phát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và
điều này đến lượt nó dẫn tới lạm phát. Từ góc độ này nhìn lại nền kinh tế
Việt Nam, mặc dù Luật Ngân sách 1993 không cho phép nhà nước in tiền để
tài trợ thâm hụt ngân sách, nhưng với lượng tiền đồng trong lưu thông lớn
như hiện nay (khoảng 16% GDP) thì chỉ cần duy trì tốc độ in thêm tiền đúng
bằng tốc độ tăng trưởng kinh tế (giả sử là 8%) thì nhà nước cũng đã có thêm
được 1,3% GDP để tài trợ cho thâm hụt ngân sách (chưa kể đến “thuế lạm
phát” cao ở Việt Nam trong mấy năm qua).
Bên cạnh một số nguyên nhân khách quan khác, thì lạm phát ở Việt
Nam còn do đầu tư công và nền hành chính công - dịch vụ công của chúng
ta quá kém hiệu quả. Chính sự kém hiệu quả này, đến lượt mình, lại làm cho
tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng, và “vòng xoáy đi
xuống” của kinh tế vĩ mô sẽ lại tiếp diễn. Cũng cần nhấn mạnh thêm là
“dòng xoáy đi xuống” này một khi đã được khởi động thì rất khó dừng lại
chứ đừng nói tới khả năng đổi chiều. Vì vậy, nhóm giải pháp thứ hai của
Thủ tướng yêu cầu “cắt giảm đầu tư công và chi phí thường xuyên của các
cơ quan sử dụng ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp
nhà nước, cố gắng giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách” cần phải được thực hiện
một cách triệt để và nhất quán. Nếu không giảm được thâm hụt ngân sách thì
nhóm giải pháp thứ nhất - thắt chặt tiền tệ - sẽ bị vô hiệu hóa đáng kể, và vì
vậy không thể đạt được mục tiêu mong muốn là kiềm chế lạm phát.
Dưới đây sẽ thảo luận thêm một số vấn đề liên quan đến tình trạng
thâm hụt ngân sách ở Việt Nam, sau đó bình luận một số biện pháp nhằm
thắt chặt chi tiêu công của Chính phủ, và cuối cùng trình bày một số khuyến
nghị về chính sách.
Tại sao cần giảm thâm hụt ngân sách?

A3 - TCQTB - K46 18
Tiểu luận tài chính tiền tệ

Thâm hụt ngân sách ở Việt Nam hiện nay đã tới mức đáng báo
động. Theo số liệu chính thức, thâm hụt ngân sách của nước ta hiện nay là
5% GDP (bao gồm cả tiền trả nợ gốc và không bao gồm các khoản chi ngoài
dự toán). Thế nhưng theo ước tính của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)
thì thâm hụt ngân sách của Việt Nam - theo cách tính quốc tế, không bao
gồm tiền trả nợ gốc nhưng bao gồm các khoản chi ngoài dự toán - lên tới 7%
GDP (Hình 1). Không những thế, thâm hụt ngân sách của Việt Nam trong
mấy năm trở lại đây luôn được duy trì ở mức cao, và đặc biệt tăng mạnh
trong năm 2007. Việc gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ có thể dẫn đến giảm
tiết kiệm nội địa, giảm đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân tài
khoản vãng lai. Ở Việt Nam, mặc dù thâm hụt ngân sách tăng đột biến trong
năm 2007chưa làm suy giảm tiết kiệm nội địa và đầu tư tư nhân nhưng nó đã
làm tăng mức thâm hụt tài khoản vãng lai, từ -0,5% năm 2006 lên tới -8%
năm 2007. Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối
với năng lực điều hành vĩ mô của chính phủ. Nó cũng làm tăng mức lạm
phát kỳ vọng của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ
trước sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt. Tóm lại, thâm hụt
ngân sách cao kéo dài sẽ đe dọa sự ổn định vĩ mô, và do vậy, khả năng duy
trì tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế.
Các biện pháp giảm thâm hụt ngân sách của Chính phủ
Vì được đặt trong bối cảnh chống lạm phát nên chính sách ngân sách
(hay chính sách tài khóa) của Chính phủ trong thời gian qua chỉ hướng đến
mục đích giảm chi tiêu công (gồm đầu tư công và chi thường xuyên) và qua
đó giảm tổng cầu. Cụ thể là Chính phủ chỉ thị: (i) Cắt giảm nguồn đầu tư từ
ngân sách và tín dụng nhà nước; (ii) Rà soát và cắt bỏ các hạng mục đầu tư
kém hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN); (iii) Cắt giảm chi
thường xuyên của bộ máy nhà nước các cấp.
Tổng đầu tư của Nhà nước (từ ngân sách, tín dụng nhà nước và thông
qua DNNN) luôn chiếm trên dưới 50% tổng đầu tư của toàn xã hội (Hình 2).
Vì vậy, không nghi ngờ gì, nếu Nhà nước có thể cắt giảm một số khoản đầu
tư kém hiệu quả và có thứ tự ưu tiên thấp thì sức ép gia tăng lạm phát chắc
chắn sẽ nhẹ đi. Cũng tương tự như vậy, lạm phát cũng sẽ được kiềm chế bớt
nếu các cơ quan nhà nước có thể cắt giảm chi thường xuyên (chiếm 56%
tổng chi ngân sách năm 2007). Mặc dù chính sách cắt giảm chi tiêu công là
hoàn toàn đúng đắn, song hiệu lực của những biện pháp cụ thể đến đâu thì
còn chưa chắc chắn vì ít nhất có bốn lý do :
Thứ nhất, việc cắt giảm, thậm chí giãn tiến độ đầu tư công không hề
dễ dàng, nhất là khi những dự án này đã được các cơ quan lập pháp các cấp
quyết định; đã được đưa vào quy hoạch của các bộ, ngành, địa phương; đã

A3 - TCQTB - K46 19
Tiểu luận tài chính tiền tệ

được triển khai; và nhất là khi chúng gắn với lợi ích thiết thân của những cơ
quan liên quan đến dự án.
Thứ hai, Nhà nước hầu như không thể kiểm soát các khoản đầu tư
của các DNNN, một mặt là do chính sách phân cấp trong quản lý đầu tư, và
mặt khác là do một số tập đoàn lớn đã tự thành lập ngân hàng riêng.
Thứ ba, với tốc độ lạm phát như hiện nay thì chỉ cần giữ được tổng
mức đầu tư công theo đúng dự toán cũng đã được coi là một thành tích đáng
kể.
Thứ tư, kinh nghiệm quốc tế cho thấy rằng vì việc giảm chi thường
xuyên rất khó khăn nên đây thường là hạng mục cuối cùng nằm trong danh
sách cắt giảm. Hơn thế, với thực tế ở Việt Nam thì phạm vi chi thường
xuyên có thể cắt giảm không nhiều. Đầu tiên là phải trừ đi quỹ lương (chiếm
khoảng 2/3 tổng chi thường xuyên), sau đó phải trừ đi các khoản phụ cấp có
tính chất lương, chi chính sách chế độ, tiền đóng niêm liễn cho các tổ chức
quốc tế, các khoản chi thường xuyên đã được thực hiện v.v… Theo ước
lượng của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì nếu làm thật quyết liệt thì
sẽ giảm được khoảng 3.000 tỉ đồng chi hội họp và mua sắm xe - tức là giảm
được khoảng 0,8% tổng chi ngân sách.
Giảm thâm hụt ngân sách bằng cơ chế quản lý đầu tư công
Chính sách giảm tổng cầu thông qua thắt chặt chi tiêu công là đúng
đắn, cần thiết nhưng chưa đủ. Nỗ lực giảm chi tiêu công của Chính phủ chỉ
thực sự có hiệu lực nếu như Chính phủ đồng thời có cơ chế để đảm bảo
những khoản đầu tư còn lại có hiệu quả. Đầu tiên là phải có cơ chế quản lý
đầu tư công sao cho những dự án kém hiệu quả (như chương trình 5 triệu tấn
đường hay đánh bắt xa bờ) bị loại bỏ ngay từ đầu. Sau đó, phải đảm bảo dự
án được tiến hành đúng tiến độ và không bị thất thoát, lãng phí (như dự án
112 và các dự án đầu tư xây dựng cơ bản - được ước lượng là thất thoát
trung bình 30%). Một trong những biện pháp có thể được sử dụng để cải
thiện cơ chế quản lý đầu tư công là thành lập một hội đồng thẩm định đầu tư
công độc lập. Một nguyên nhân quan trọng của tình trạng thất thoát, lãng phí
trong đầu tư công là do quá trình ra quyết định đầu tư của chính quyền địa
phương và các bộ ngành chủ quản chịu ảnh hưởng của các nhóm lợi ích và
do vậy thiếu khách quan. Vì vậy, nhiệm vụ của ủy ban độc lập này là đánh
giá, thẩm định một cách toàn diện và khách quan các dự án có quy mô vượt
quá một quy mô đầu tư nhất định nào đó. Kết luận của Hội đồng thẩm định
này sau đó được công bố rộng rãi. Tương tự như vậy, báo cáo kiểm toán các
DNNN và dự án đầu tư công lớn cũng phải được công khai.
Để thu hẹp thâm hụt ngân sách thì song song với việc giảm chi
tiêu, Chính phủ cũng cần cải thiện các nguồn thu ngân sách, tránh tình trạng
ngân sách phụ thuộc quá nhiều (tới hơn 40%) vào các nguồn thu không bền

A3 - TCQTB - K46 20
Tiểu luận tài chính tiền tệ

vững từ dầu mỏ và thuế nhập khẩu như hiện nay. Cải cách thuế, đặc biệt là
thuế thu nhập cá nhân (hiện chiếm 2% tổng ngân sách của Việt Nam trong
khi con số này ở các nền kinh tế hiện đại đều lớn hơn 20%) và thuế bất động
sản. Thật bất công và kém hiệu quả khi nhiều người sau một đêm trở thành
triệu phú nhờ vào việc Nhà nước đầu tư cơ sở hạ tầng (CSHT) tại nơi họ có
bất động sản, trong khi lại không phải đóng góp gì cho ngân sách nhà nước.
Áp dụng thuế bất động sản đúng đắn là một cách đảm bảo sự bền vững cho
ngân sách nhà nước, đồng thời giúp Nhà nước thực hiện được các chương
trình đầu tư CSHT vì quốc kế dân sinh.
Những khó khăn hiện tại của nền kinh tế Việt Nam bắt nguồn từ những
bất cập trong chính sách phát triển dài hạn. Chủ trương tăng trưởng nhờ vào
số lượng thông qua đầu tư ồ ạt, dựa vào khu vực nhà nước vốn kém hiệu
quả, đồng thời thiếu sự phối hợp đồng bộ trong điều hành vĩ mô đã đưa nền
kinh tế Việt Nam từ bối cảnh sau khi gia nhập WTO vô cùng thuận lợi đến
tình trạng lạm phát và bất ổn vĩ mô như hiện nay. Vẫn còn may là những khó
khăn của Việt Nam hiện nay hoàn toàn có thể giải quyết được nếu Chính
phủ có quyết tâm mạnh mẽ và chính sách đúng đắn, trong đó kỷ luật tài khóa
là điều kiện quan trọng nhất. Thắt chặt và nâng cao hiệu quả của chi tiêu
công, đặc biệt là áp đặt kỷ luật nghiêm ngặt đối với hoạt động đầu tư của các
tập đoàn nhà nước là điều kiện tiên quyết để có thể khôi phục lại cân bằng vĩ
mô và gia tăng hiệu quả, tính ổn định và đà tăng trưởng cho nền kinh tế.
Tình trạng kinh tế vĩ mô của Việt Nam thay đổi đột biến từ năm 2004

Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2


Tăng cung 25.5 17.6 24.9 29.5 29.7 3
tiền ( M2, %
thay đổi
Tín dụng ( % 21.5 22.2 28.4 41.6 31.7 2
thay đổi )
Tổng đầu tư 31.2 33.2 35.4 35.6 38.9 4
xã hội ( %
GDP )
Thâm hụt ngân -4.7 -4.5 -3.3 -4.3 -4.9 -5
sách nhà nước
( % GDP)
Chỉ số giá tiêu 0.8 4.0 3.0 9.4 8.4 6
dùng ( %CPI)

A3 - TCQTB - K46 21
Tiểu luận tài chính tiền tệ

III/ Cân đối cung cầu trong nền kinh tế

Ba là Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành phải chịu trách nhiệm đảm
bảo cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống và sản xuất
như xăng, dầu, gạo, thuốc, xi măng, sắt, thép, phân bón... gắn liền với kiểm
soát chặt chẽ giá cả. Khẳng định không tăng giá bán than cho ngành điện,
không tăng giá điện và giá xăng dầu. Nhà nước tiếp tục bù lỗ cho các mặt
hàng này nhằm ổn định giá.

Lãnh đạo các Bộ, ngành cho biết, Chính phủ tiếp tục thực hiện không tăng
giá với nhiều mặt hàng từ nay đến cuối năm. Cùng đó, nhiều biện pháp sẽ
được áp dụng để đảm bảo cung cầu, không biến động giá của những mặt
hàng quan trọng.

Nguồn xăng dầu không thiếu

Tại buổi họp báo sau phiên họp thường kì của Chính phủ, chiều 2/7,
Thứ trưởng Bộ Tài chính Trần Xuân Hà cho biết, Chính phủ chỉ đạo tiếp tục
giữ ổn định giá cả các mặt hàng thiết yếu.

Trong đó, nước sạch, điện, vận tải công cộng sẽ không tăng giá từ nay đến
cuối năm. Các mặt hàng khác được điều chỉnh giá sẽ thực hiện điều chỉnh ở
mức hợp lí. Riêng với mặt hàng xăng dầu, Bộ Tài chính phối hợp với Bộ
Công Thương trình Chính phủ lộ trình điều chỉnh giá bán theo mục tiêu bảo
đảm chống lạm phát, phù hợp với khả năng bù lỗ, đồng thời thực hiện hỗ trợ
các đối tượng chính sách. Các công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối trong
những tháng qua vẫn lỗ và hiện đã được tạm ứng 95% số lỗ này. Đến thời
điểm hiện tại, Chính phủ đã bù lỗ 11.000 tỉ đồng cho các doanh nghiệp kinh
doanh của lĩnh vực xăng dầu.Cho dù giá xăng dầu tăng cao, Chính phủ vẫn
chỉ đạo nhập khẩu đủ đảm bảo nhu cầu sản xuất trong nước và nhu cầu sử
dụng của người dân. Trong 6 tháng đầu năm nay, nước ta đã nhập tăng hơn
so với 2007 gần 300.000 tấn xăng dầu. Chính Phủ khẳng định, từ nay đến
cuối năm “nguồn xăng dầu không thiếu và nguồn ngoại tệ phục vụ nhập
khẩu mặt hàng này cũng không thiếu”.Về xuất, nhập khẩu than, năm 2008,
nước ta xuất khẩu khoảng 20 - 22 triệu tấn than, giảm hơn khá nhiều so với
năm 2007 (32 triệu tấn). Ngoài ra, 6 tháng đầu năm, các doanh nghiệp đã
nhập khẩu phôi thép về nhiều gấp đôi năm ngoái, với giá 750 - 800 USD/tấn.
Tuy nhiên, phôi thép nhập về không bán được, vẫn nằm ở cảng, trong khi
giá mặt hàng này đã tăng gần 200 USD/tấn nên các doanh nghiệp đã xuất ra

A3 - TCQTB - K46 22
Tiểu luận tài chính tiền tệ

bên ngoài. Trước tình hình thép tăng giá, Bộ Công thương sẽ có biện pháp
hạn chế xuất khẩu phôi thép nhằm bình ổn thị trường trong nước. Riêng
muối, do thời tiết bất lợi, chi phí đầu vào tăng nên giá muối bị đẩy lên hơn
so với năm 2007. Chính phủ đã cho xuất 30.000 tấn từ trong kho dự trữ cung
cấp cho thị trường. Tuy nhiên, theo tính toán, năm nay nhu cầu trong nước
khoảng 1,3 triệu tấn, trong khi lượng muối thu hoạch được cộng với lượng
muối trong kho chỉ đạt khoảng 1 triệu tấn. Chính vì vậy, 6 tháng cuối năm sẽ
phải nhập khẩu thêm khoảng 100 - 150.000 tấn. Liên quan đến kiểm soát giá
cả, đại diện Bộ Tài chính thông báo, trong sáu tháng qua, các cơ quan thuế
và hải quan khi kiểm tra chống buôn lậu và gian lận thương mại đã xử lý
6.012 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách nhà nước trên 221 tỷ đồng.

Về tỉ giá hối đoái, Phó Thống đốc Ngân hàng nhà nước, Nguyễn Đồng
Tiến nhìn nhận, sau một tuần ngân hàng thực hiện điều chỉnh biên độ, tỉ giá
hối tại thị trường tự do đã giảm dần. Ngân hàng cũng đã có những kiểm tra,
kiểm soát hoạt động mua bán ngoại tệ, không để vượt quá biên độ cho phép.

Chính phủ đánh giá, chỉ số giá tiêu dùng, nhập siêu trong 3 tháng gần
đây đã có những chuyển biến tích cực. Thị trường chứng khoán có những
dấu hiệu tốt hơn, hệ thống ngân hàng ổn định hơn và không có khả năng đổ
vỡ, chỉ số giá tiêu dùng khả quan (tháng 6 là 2,14%, thấp nhất trong 6
tháng) nhưng chưa vững chắc, tình hình còn diễn biến khó lường.

Tăng trưởng GDP đạt 6,5% là khá thấp so với những năm gần đây,
nhưng vẫn cao hơn các nước trong khu vực. Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo,
tiếp tục đẩy mạnh sản xuất kinh doanh để duy trì tăng trưởng. Phấn đấu với
tinh thần cao nhất để giải quyết vốn cho các doanh nghiệp, nhất là vốn lưu
động.

Thủ tướng cũng chỉ đạo các Bộ ngành tích cực, chủ động hơn nữa
trong việc tháo gỡ khó khăn. Đặc biệt, các Bộ trưởng phải chịu trách nhiệm
trước Chính phủ về hoạt động của các tập đoàn, Tổng công ty thuộc bộ mình
quản lí.

IV/ Ổn định giá cả thị trường

Bốn là Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, chính quyền các địa phương,
hiệp hội các ngành hàng tăng cường các biện pháp quản lý thị trường giá cả,
tổ chức tốt thương mại trong nước, kêu gọi các doanh nghiệp có trách nhiệm
với đất nước không đầu cơ trục lợi và tăng giá các mặt hàng. Chính phủ đã

A3 - TCQTB - K46 23
Tiểu luận tài chính tiền tệ

xác định nguyên tắc ưu tiên là từ nay đến cuối năm kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô, tạo đà cho những năm tiếp theo, đảm bảo an sinh xã hội.
Và trong việc ổn định giá các mặt hàng thiết yếu, Thủ tướng đã chỉ đạo, với
mặt hàng xăng dầu, trong bất cứ thời điểm nào, địa điểm nào cũng phải đảm
bảo nguồn cung tổng thể. Trong trường hợp có diễn biến bất thường, Chính
phủ sẽ nghiên cứu biện pháp hợp lý để giải quyết. Điều này cho thấy Chính
phủ luôn xác định ưu tiên chống lạm phát là mục tiêu hàng đầu, nhất là đối
với xăng dầu – mặt hàng thiết yếu hàng đầu của nền kinh tế.
Giá tiêu dùng tháng 6/2008 tăng 2,14% so với tháng trước, và là tháng
có mức tăng thấp nhất trong 6 tháng đầu năm nay. Nhập siêu trong những
tháng gần đây đã giảm nhanh từ mức 3,2 tỷ USD trong tháng 3, xuống mức
1,3 tỷ USD trong tháng 6.
Với mặt hàng than, Bộ Tài chính đang nghiên cứu xây dựng phương
án và lộ trình chặt chẽ về giá than trong thời gian tới, trong đó, quy định giá
bán than cho từng hộ tiêu thụ lớn. Ông Hoàng Thọ Xuân – Vụ trưởng Vụ
chính sách thị trường trong nước - Bộ Công thương cho biết: Bộ Tài chính
và Bộ Công thương đang nghiên cứu một phương án và lộ trình hết sức chặt
chẽ trong thời gian tới.
Điện giữ giá ổn định từ nay đến hết năm thì giá than bán cho điện
cũng phải ổn định. Đó là điều đương nhiên. Còn than bán cho sản xuất xi
măng, cho sản xuất phân bón, và ngành sản xuất giấy cũng đang được Bộ
Tài chính tính toán xây dựng lộ trình, bước đi cho phù hợp với điều kiện
hiện nay, trên cơ sở kiềm chế tăng giá tiêu dùng và chống lạm phát là mục
tiêu hàng đầu.
Theo dự báo, giá vật liệu xây dựng trong tháng 7 này sẽ tương đối ổn
định do nguồn cung dồi dào. Riêng đối với xi măng, Bộ Xây dựng đã họp
bàn với các doanh nghiệp, với Hiệp hội xi măng quy định thống nhất cách
quản lý giá bán trên thị trường. Vụ trưởng Vụ quản lý vật liệu xây dựng –
Bộ Xây dựng, ông Nguyễn Quang Cung, cho biết: để tăng cường nguồn
cung cho thị trường, trong tháng 7 này, sẽ tiếp tục đưa các dự án xi măng
xây dựng mới vào hoạt động, đảm bảo nguồn cung ổn định cho thị trường.
Theo ông Cung, điều quan trọng nhất là phải đảm bảo nguồn cung ổn
định. Trong tháng 7 này, sẽ tiếp tục đưa nhà máy xi măng sông Gianh vào
hoạt động. Lượng xi măng do nhà máy này sản xuất sẽ được đưa vào thị
trường phía Nam. Còn về các biện pháp để quản lý thị trường vật liệu xây
dựng, các doanh nghiệp trong ngành đang phối hợp chặt chẽ giữa nhà máy
sản xuất và hệ thống phân phối. Phải công khai giá bán, bán hàng có niêm
yết giá, làm cơ sở cho quản lý thị trường dễ dàng kiểm tra. Các đại lý bán
hàng vượt giá thỏa thuận sẽ bị cảnh cáo, hoặc không tiếp tục ký hợp đồng

A3 - TCQTB - K46 24
Tiểu luận tài chính tiền tệ

bán hàng cho nhà máy. Mục tiêu cuối cùng là hài hòa lợi ích của sản xuất,
nhà phân phối và lợi ích người tiêu dùng.
Còn với mặt hàng thép, trước đề nghị mới đây của Hiệp hội Thép Việt
Nam về điều chỉnh tăng giá bán thép xây dựng trước việc giá phôi thép trên
thị trường thế giới tăng cao, quan điểm của Chính phủ là chưa ủng hộ việc
tăng giá thép. Trong bối cảnh giá cả tăng mạnh và Nhà nước chủ trương tiếp
tục kiềm chế lạm phát thì các nhà sản xuất thép cần tính toán giảm chi phí
giá thành như thế nào, cắt giảm chi phí sản xuất ra sao, mới có thể quyết
định có cho phép tăng giá hay không.
Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất phân bón đang tiếp tục thực hiện
nhiều biện pháp để ổn định thị trường phân bón. Ông Phan Đình Đức – Tổng
giám đốc Tổng công ty phân đạm và hóa chất dầu khí cho biết: Đa phần các
loại phân bón đều tăng từ 100- 300%, nhưng riêng phân đạm chỉ tăng 75%.
Chính vì có sản lượng chiếm khoảng 40% thị phần và chính sách giá của
Đạm phú Mỹ nên giá đạm của thị trường không tăng nhiều như các loại phân
nhập khẩu khác.
Về những biện pháp bình ổn giá năm nay của Đạm Phú Mỹ, theo ông
Phan Đình Đức: “Chúng tôi xây dựng hệ thống phân phối trực tiếp qua 4
công ty tại miền Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ, miền Trung, Tây Nguyên và
miền Bắc. Hệ thống phân phối này sẽ giúp đưa sản phẩm đến tay bà con
nông dân trong thời gian ngắn nhất, tránh việc mua bán lòng vòng, mua đi
bán lại làm tăng giá, đội giá. Về lâu dài, chúng tôi đang tích cực tìm kiếm
các nguồn nhiên liệu, nguyên liệu đầu vào như các mỏ khí ở nước ngoài để
đầu tư ra nước ngoài, xây dựng nhà máy phân bón và hóa chất ở nước
ngoài”.
Cùng với các giải pháp từ Chính phủ, sự nỗ lực của các doanh nghiệp
trong bình ổn giá, nhất là với các mặt hàng thiết yếu, sẽ góp phần thực hiện
tốt mục tiêu kiềm chế lạm phát, phát triển kinh tế bền vững

V/ Đẩy mạnh xuất khẩu để nhập siêu


Năm là tìm mọi cách đẩy mạnh xuất khẩu để giảm nhập siêu. Thủ
tướng nhấn mạnh, không có xuất khẩu thì không có tăng trưởng nên tập
trung đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh như thuỷ sản,
dệt may và da giầy... Chính phủ sẽ kiểm soát quyết liệt nhập siêu bằng cả
biện pháp thị trường và hành chính vì lợi ích của nhân dân và đất nước. Bộ
Công thương nghiên cứu hạn chế nhập siêu các mặt hàng không thiết yếu
như ô tô nguyên chiếc, phụ tùng xe máy... phấn đấu kiểm soát nhập siêu
trong năm 2008 tương đương năm ngoái, tiến tới cân bằng cán cân thương
mại./

A3 - TCQTB - K46 25
Tiểu luận tài chính tiền tệ

Trong đó, 11 tỷ USD là con số nhập siêu trong bốn tháng đầu năm,
chiếm 60% tổng kim ngạch xuất khẩu. Do đó, Thủ tướng yêu cầu phải đẩy
mạnh xuất khẩu, tránh mất cân bằng cán cân thanh toán. Ngoài ra, Thủ
tướng cũng chỉ đạo Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn tập trung quản lý chặt việc kiểm soát giá các mặt hàng xăng, dầu, lương
thực, thực phẩm. “Bộ Công thương kiểm soát chặt chẽ tình hình giá cả tại
các địa phương, Bộ Công an phối hợp với các cơ quan xử lý nghiêm các
trường hợp đầu cơ, nâng giá trục lợi” - Thủ tướng nhấn mạnh. Bộ trưởng
cho rằng, đẩy mạnh xuất khẩu là một trong những biện pháp trước nhất để
giảm nhập siêu. Cùng với các mặt hàng truyền thống, doanh nghiệp trong
nước cần đẩy mạnh sản xuất các mặt hàng có tiềm năng như nông sản thực
phẩm, khoáng sản; tập trung xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, có thể mang
lại nguồn thu lớn như dệt may, giày da, đồ gỗ, điện-điện tử, nông-thủy sản,
nhất là các sản phẩm công nghệ cao. Bên cạnh đó, phát triển ngành công
nghiệp hỗ trợ để sản xuất các loại máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu để hạn
chế nhập khẩu. Bộ trưởng cho biết, đến khoảng năm 2015, với việc đưa vào
các nhà máy lọc dầu; các nhà máy sản xuất phôi thép ở cả ba miền; nhà máy
phân đạm ở Cà Mau, Ninh Bình và kế hoạch sản xuất 1 tỷ mét vải của ngành
dệt may sẽ cải đáng kể việc phụ thuộc nhập khẩu các sản phẩm trên từ nước
ngoài. Bộ trưởng thấy cần thiết phải sớm xây dựng các biện pháp, rào cản kỹ
thuật áp dụng cho các ngành, các sản phẩm phù hợp với quy định của WTO,
các hiệp định mà Việt Namđã ký kết để bảo vệ các sản phẩm trong nước.
Theo Bộ trưởng, mặc dù vậy, bức tranh xuất khẩu chung vẫn có những điểm
sáng với việc nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ lực tiếp tục đà tăng trưởng tốt,
tới hơn 20% so với cùng kỳ năm ngoái. "Đây là kết quả quan trọng, đặc biệt
có ý nghĩa sau 1 năm Việt Nam gia nhập WTO”, Bộ trưởng nhấn
mạnh./.(TTXVN)

VI/Chính sách tỷ giá hối đoái và biện pháp thu hút USD
trong việc giảm lạm phát

Các công cụ lãi suất và nghiệp vụ thị trường mở đã không thành


công và gây nên nhiều biến động khó lường. Lạm phát cần phải có một
phương thuốc mới để điều trị phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay. Và tỷ
giá hối đoái là công cụ mà chúng ta cần phải xem xét tới để thay đổi sau một
thời gian dài phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. Theo phân tích của IMF, một
trong những lí do khiến lạm phát ở Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan được
duy trì ở mức tương đối thấp là nằm ở chính sách tỷ giá hối đoái. Việt
Nam đã cố gắng duy trì một đồng tiền yếu trong những năm trước đây để hỗ

A3 - TCQTB - K46 26
Tiểu luận tài chính tiền tệ

trợ cho xuất khẩu, phục vụ cho quá trình tăng trưởng kinh tế của đất nước
nhưng nếu tiếp tục duy trì chính sách này trong khi tình hình kinh tế đã thay
đổi liệu có còn phù hợp. Việc cố gắng “giữ chân” tỷ giá hối đoái trong giai
đoạn lạm phát ở mức cao hiện nay dường như trở thành một bài toán khó tìm
lời giải với quá trình điều tiết nền kinh tế. Nói vậy thì việc giảm tỷ giá hối
đoái theo sát với thị trường hơn liệu có thể có tác động tích cực đối với nền
kinh tế hiện nay?
Cần nhớ rằng, khi tỷ giá giảm thì cái lợi đầu tiên là chúng ta sẽ nhập
khẩu nguyên, nhiên liệu với giá rẻ hơn, dẫn đến chi phí sản xuất trong nước
giảm làm cho giá cả hàng hóa trong nước giảm.
Cái lợi thứ hai là xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng cũng sẽ làm tăng
tổng cung cho nền kinh tế trong nước. Tác động gộp của các yếu tố này có
thể làm giảm lạm phát .
Nhưng có một hệ quả kèm theo là khi đó người dân sẽ không nắm
giữ USD, do VND đang tăng giá nên họ sẽ chuyển đổi USD sang nắm giữ
VND. Các ngân hàng sẽ phải tăng lượng VND để đáp ứng nhu cầu chuyển
đổi USD của người dân trong khi nhu cầu VND của chính ngân hàng vẫn
chưa được giải quyết đầy đủ. Việc này trước hết sẽ gây bất ổn trong tâm lý
thị trường vốn đã không thực sự ổn định, kế đến là ảnh hưởng đến tính thanh
khoản của ngân hàng cùng với áp lực tăng lượng cung tiền trong lưu thông.
Nhự vậy, điều chỉnh tỷ giá hối đoái không thôi là chưa đủ. Chúng ta
cần phải thúc đẩy các kênh đầu tư để thu hút lượng USD nhằm giảm bớt tác
dụng phụ của chính sách tỷ giá hối đoái. Xét trong tình hình kinh tế như hiện
nay, thị trường chứng khoán chưa có tín hiệu khởi sắc tốt; kinh doanh bất
động sản đang được kiềm chế dần; lạm phát tăng cao khó có thể đo lường
được khiến đồng tiền trở nên mất giá, ngay cả các ngân hàng cũng huy động
vốn với lãi suất ngắn hạn cao hơn dài hạn (trước khi Ngân Hàng Trung
Ương qui định mức lãi suất trần 12%) để phòng ngừa rủi ro; trong khi giá
vàng đang tăng gần như liên tục. Nhà đầu tư sẽ chọn kênh đầu tư nào? Nhiều
người đã nhìn thấy rằng mua vàng tích trữ sẽ là một kênh đầu tư an toàn
hơn. Do đó, khi giảm tỷ giá hối đoái các ngân hàng cần mở thêm dịch vụ
mua vàng trực tiếp bằng USD đối với các nhà đầu tư trong nước, giảm chi
phí, nhanh chóng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho để thu hút lượng USD
trong dân chúng, giảm bớt nhu cầu VND, điều này sẽ làm giảm bớt áp lực
lạm phát và tính bất ổn cho nền kinh tế. Mặt khác, lượng USD mà các ngân
hàng mua vào cũng sẽ có được đầu ra do nhu cầu USD của các doanh nghiệp
để nhập khẩu hàng hóa, nguyên, vật liệu. Lượng USD trong lưu thông sẽ
giảm, Ngân Hàng Trung Ương sẽ không lo lắng vì phải bỏ VND ra để mua
USD nữa.

A3 - TCQTB - K46 27
Tiểu luận tài chính tiền tệ

Để giải quyết vấn đề lạm phát, một trong những hướng mà Ngân
Hàng Trung Ương có thể tham khảo là để tỷ giá hối đoái giảm theo xu
hướng thực tế của thị trường nhưng ở một chừng mực nào có giới hạn, để
không ảnh hưởng quá lớn đến cán cân thương mại. Chúng ta phải biết trong
giai đoạn này, mục tiêu trước mắt của chúng ta là gì. Luôn luôn có sự đánh
đổi giữa lợi ích và thiệt hại trong các chính sách vĩ mô nhưng với tình trạng
lạm phát cao trong bối cảnh hiện nay.

Chúng tôi cho rằng các biện pháp trên là thích hợp, lợi ích chúng ta
nhận được là giảm lạm phát và chi phí sản xuất, giảm lượng USD quá nhiều
mà nền kinh tế chưa thể hấp thụ hết, ổn định tâm lý của người dân và bảo
đảm tính thanh khoản của ngân hàng trong khi chỉ phải trả một khoản thiệt
hại cho thâm hụt cán cân thương mại hay giảm tốc độ tăng trưởng. Như vậy,
nền kinh tế vẫn còn lời?

A3 - TCQTB - K46 28
Tiểu luận tài chính tiền tệ

KẾT LUẬN
Chúng ta nhận thức rằng quá trình đấu tranh chống lạm phát không đơn
giản ngày một ngày hai. Nó là căn bệnh kinh niên nhưng việc xóa bỏ lạm
phát hoàn toàn thì cái giả phải trả không tương xứng với lợi ích đem lại.
Tình hình diễn biến lạm phát và khắc phục nó tại Việt Nam rất phức tạp.
Lạm phát đã hoành hành công khái khi Việt Nam tiến hành cải cách kinh tế
xã hội, xóa bỏ bao cấp, quan liêu. Sự cải cách không đồng bộ giữa giá cả và
quản lý kinh tế dẫn đến khủng hoảng trầm trọng.
Thành công trong cuộc chống lạm phát 1989 đưa nước ta vượt lên
chính là sự đổi mới trong nhận thức quản lý kinh tế của Đảng và nhà nước
ta. Kinh tế ổn định đã làm tiền đề cơ sở cho sự thành công của các thành tựu
trong lĩnh vực giáo dục, khoa học, chính trị… những thành tựu to lớn mà
chúng ta đạt được trong công cuộc chống lạm phát cũng không vì thế mà
chúng ta chủ quan, nới lỏng.
Lạm phát luôn rình rập và đe dọa chúng ta bất cứ lúc nào. Chính vì vậy
Đảng và nhà nước cần phải luôn thận trọng trong mỗi bước đi của mình để
đảm bảo cho nền kinh tế nước ta phát triển vững mạnh làm nền tảng để phát
triên khoa học, giáo dục, đuổi kịp sự phát triển của các nước trong khu vực
nói riêng và các nước trên thế giới nói chung. Điều này không chỉ của riêng
ai mà một phần không nhỏ dành cho các nhà doanh nghiệp trẻ góp phần làm
rạng danh đất nước trong nhiều năm tới này.
Lạm phát đang là vấn đề nổi cộm trong lý thuyết Tài chính- Tiền tệ. Em
đã cố gắng tới mức cao nhất hoàn thành đề án trong khả năng của mình. Bài
viết này chỉ là những thu nhặt bước đầu mang tính chất cơ sở cho việc phát
triển nhận thức sau này.
Em hy vọng đây là cách tiếp cận có hiệu quả trong quá trình tìm hiểu
nền kinh tế nói chung và lạm phát nói riêng

A3 - TCQTB - K46 29
Tiểu luận tài chính tiền tệ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.Giáo trình Tài Chính- Tiền Tệ Ngân Hàng -PGS Nguyễn Văn Tiến
2.Tiền Tệ Ngân Hàng và thị trường Tài Chính – Mishkin.
3.Các trang web:
http://saga.vn/
http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=4&news_ID=665
7463
http://taichinhvietnam.com/taichinhvietnam/modules.php?name=News
&file=article&sid=13788
http://www.hochiminhcity.gov.vn/left/tin_tuc/hoat_dong_dieu_hanh/2
008/07/mlnews.2008-07-23.3850781209

A3 - TCQTB - K46 30